10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung

--- Bài mới hơn ---

  • Các Quan Hệ Xã Hội Thuộc Phạm Vi Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính
  • Tiểu Luận Luật Sư Và Nghề Luật Sư
  • Tiểu Luận Bản Chất Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Luận Văn Tiểu Luận Bản Chất Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Hãy Phát Biểu Một Định Nghĩa Về Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nêu Những Đặc Trưng, Chức Năng Và Nhiệm
  • các chức năng của xã hội họ được định hướng để đảm bảo sự tồn tại và tiến bộ của các cá nhân. Một số quan trọng nhất là để đáp ứng nhu cầu cơ bản, giữ gìn trật tự hoặc giáo dục.

    Theo nghĩa đó, xã hội là một hình thức tổ chức trong đó mọi người đồng ý và sắp xếp lối sống của họ và cách họ sẽ quản lý tài nguyên của họ.

    Xã hội là đối tượng nghiên cứu của các nhà xã hội học và là mối quan tâm của nhiều nhà triết học trong suốt lịch sử.

    10 chức năng chính của xã hội

    Trong số các chức năng chính d xã hội có thể được đề cập:

    1. Đáp ứng nhu cầu cơ bản

    Đó là chức năng chính của xã hội; tổ chức mọi người và hành động của họ theo cách mà họ đã đảm bảo thực phẩm, nơi trú ẩn và bảo vệ quan trọng.

    Ở đây cũng vậy, sức khỏe cộng đồng, mặc dù nó thường rơi vào Nhà nước, là nhu cầu chính của những người có tổ chức; đảm bảo vệ sinh để ngăn ngừa sự lây lan của bệnh tật và chăm sóc y tế nếu cần thiết.

    2. Bảo quản trật tự

    Họ trở thành một tổ chức xã hội vì vai trò của họ là đáp ứng nhu cầu cơ bản của mọi người.

    Trật tự cũng đề cập đến các quy tắc, quy tắc hoặc luật hướng dẫn hành vi của con người trong các giai đoạn và tình huống khác nhau của cuộc đời họ từ khi sinh ra cho đến khi chết.

    Một số triết gia đã đề xuất rằng đây là chức năng chính của tổ chức con người trong xã hội: kiểm soát những xung động phi lý và hoang dã của anh ta.

    3. Quản lý giáo dục

    Trong xã hội, các cá nhân có được kiến ​​thức cần thiết để tương tác với các đồng nghiệp của họ, trong trường hợp đầu tiên. Nhưng sau đó, họ cũng được đào tạo để tận dụng tối đa khả năng, tài năng và sở thích của mình.

    Sống trong cộng đồng, cho phép con người hòa nhập với xã hội, khám phá và phát triển tính cách của chính mình bằng cách đưa nó vào hành động trước một con người khác.

    Cộng đồng này cần cung cấp các điều kiện cần thiết để mỗi cá nhân có cơ hội học hỏi từ ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa của nhóm đó, cũng như cách sử dụng các kỹ năng của riêng họ cho sự phát triển và tiến bộ của họ trong nhóm..

    4. Quản lý nền kinh tế

    Phân phối hàng hóa và dịch vụ là một mối quan tâm khác trong một nhóm xã hội.

    Xã hội, với tư cách là một hệ thống, tạo ra và phân phối các hàng hóa và dịch vụ vật chất sẽ được dành riêng để đáp ứng nhu cầu cơ bản và thứ yếu của con người tạo nên nó.

    Phân phối này được đưa ra theo triết lý chính trị xã hội nói rằng xã hội giả định là của riêng mình.

    5. Quản lý điện năng

    Giống như việc phân phối hàng hóa và dịch vụ là một mối quan tâm quan trọng trong xã hội, sự hình thành của các nhân vật và / hoặc các nhóm quyền lực cũng chiếm một phần lớn trong cuộc sống trong xã hội.

    Sự quản lý quyền lực từ các thể chế là điều khiến con người phải đối mặt với các cuộc chiến tranh và tranh chấp trong suốt lịch sử của nó.

    Tùy thuộc vào học thuyết chính trị – xã hội chiếm ưu thế trong một nhóm xã hội cụ thể, quyền lực này sẽ được tập trung tại Nhà nước hoặc phân phối giữa các tổ chức khác nhau tạo nên nhóm đó.

    Trong chức năng này xuất hiện rằng kích thước của con người theo đó vai trò thống trị hoặc phục tùng được thông qua và những căng thẳng nguyên thủy nhất của mong muốn chiếm hữu được giải quyết.

    Trên thực tế, việc phân định lãnh thổ thống trị, đi vào chức năng này vì các giới hạn lãnh thổ sẽ kết thúc là giới hạn quyền tài phán.

    6. Phòng lao động

    Tổ chức trong xã hội cũng cho phép xác định vai trò theo các công việc mà mỗi cá nhân sẽ hoàn thành khi có nhu cầu để đáp ứng.

    Sống trong xã hội làm cho thực tế này rõ ràng và hướng dẫn mọi người hướng tới sự phân phối lực lượng lao động cho phép thực hiện tất cả các nhiệm vụ để cung cấp phúc lợi cho cá nhân.

    7. Quản lý truyền thông

    Đối với con người, nhu cầu thể hiện và giao tiếp là cố hữu, vì vậy trong xã hội, các điều kiện được tạo ra cho nhu cầu đó được thỏa mãn..

    Điều này bao gồm từ ngôn ngữ đến các tuyến giao tiếp (đường phố, cầu nối, v.v.) giữa các thành viên khác nhau của nhóm xã hội, cũng như giữa các nhóm này với các nhóm xã hội khác.

    Nếu trong các xã hội nguyên thủy hay các biểu hiện nghệ thuật như khiêu vũ hay tranh vẽ là những hình thức giao tiếp được sử dụng nhiều nhất, thì ngày nay chúng là công nghệ truyền thông và thông tin (TIC), tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ này.

    Các thành viên của xã hội quan tâm đến việc sử dụng các công cụ truyền thông có sẵn và phát triển ngày càng tinh vi hơn, để đảm bảo tính liên tục của văn hóa của nhóm đó trong các thế hệ sau.

    8. Bảo tồn và truyền tải văn hóa

    Mỗi xã hội phát triển các dạng hành vi phổ biến được truyền giữa các thành viên và các thế hệ sau.

    Đây là một chức năng cần thiết để phân biệt các nhóm xã hội và để duy trì sự đa dạng.

    Văn hóa bị ảnh hưởng bởi các điều kiện hoặc đặc điểm bao quanh nhóm xã hội, có thể là địa lý, lịch sử hoặc chính trị.

    Cách làm việc để tồn tại, được học trong mối quan hệ với những người khác được bồi dưỡng trong xã hội.

    9. Giải trí

    Niềm vui của các thành viên trong một nhóm xã hội cũng là điều cần được xem xét, vì con người cũng cần những giây phút giải trí.

    Sống trong xã hội tạo điều kiện cho cơ sở hạ tầng và công nghệ cần thiết để mọi người có thể tận dụng thời gian rảnh rỗi vì họ thích làm như vậy.

    Độc lập với những ý kiến ​​đa dạng có thể được tạo ra trước mặt này hoặc cách đó để trải nghiệm sự giải trí, các nhóm xã hội tạo ra những không gian đó và cùng với đó góp phần thỏa mãn một nhu cầu khác của con người, cuối cùng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.

    10. Tôn giáo

    Con người trong suốt lịch sử của mình và bất kể vị trí của anh ta, đã thể hiện nhu cầu cấp thiết để trải nghiệm sự tôn giáo của anh ta. Đó là biểu hiện của một mối quan hệ với siêu việt.

    Con người dường như có nhu cầu tin rằng có một thứ gì đó vượt trội hơn mình, một nguồn gốc của Mọi thứ. Dựa trên nhu cầu này, các phản ứng khác nhau đã được xây dựng, sau đó cụ thể hóa thành các biểu hiện tôn giáo khác nhau.

    Sống trong xã hội cho phép chúng ta chia sẻ với người khác kinh nghiệm của một tôn giáo, về sự hiệp thông với một thực thể khác dường như mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.

    Tôn giáo cũng hoạt động như một nhà nguyên tử xã hội, như một hình thức tổ chức trong đó các quy tắc, quy tắc và hình thức giao tiếp rất đặc biệt của các tín đồ được xây dựng trong cùng một giáo điều.

    Tất cả các chức năng này phụ thuộc lẫn nhau và tiến bộ trong sự phức tạp của chúng cho rằng một xã hội càng trưởng thành, càng tinh tế hơn theo cách mà các chức năng đó phải được thực hiện.

    Tài liệu tham khảo

    1. ABC (2005). Các yếu tố của xã hội. Lấy từ: abc.com.py
    2. Tiêu đề, Daniel (2008). Hiểu biết về xã hội. Lấy từ: Hiểu biết.blogspot.com
    3. Bộ Luật, Tư pháp và các vấn đề nghị viện (2010). Phòng Pháp chế và Nghị viện. Lấy từ: bdlaws.minlaw.gov.bd
    4. Pellini, Claudio (s / f). Con người và cuộc sống trong xã hội gia đình, nhà nước và giáo dục. Phục hồi từ: historiaybiografias.com
    5. Spencer, Herbert (2004). Xã hội là gì? Một xã hội là một sinh vật. Tạp chí Nghiên cứu Xã hội học Tây Ban Nha (Reis), Sin mes, 231-243. Lấy từ: redalyc.org
    6. Phòng sinh viên (s / f). Chức năng chính của xã hội đối với cá nhân là gì? Lấy từ: thestudentroom.co.uk
    7. Đại học tự trị của bang Hidalgo (s / f). Xã hội Lấy từ: uaeh.edu.mx
    8. Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ Viện Y tế Quốc gia. Lấy từ: ncbi.nlm.nih.gov.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Môn Học Xã Hội Học Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Xã Hội
  • Hệ Thống Văn Hóa Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Lớp 10 (Chương 2)
  • Giáo Án Tin Học 10
  • Giáo Án Nghề Tin Học 9 Giao An Nghe Tin Chuan Huong2014 2022 Doc
  • Unix Là Gì Và Tại Sao Nó Lại Quan Trọng?
  • Ưu Và Nhược Điểm Của Hệ Điều Hành Unix
  • Nhấn mạnh lại sự khẳng định trước đó của chúng tôi, có lẽ chức năng quan trọng nhất của văn hóa là phục vụ như một bản thiết kế để tạo ra một trật tự tiền định. Chức năng này tương tự như một hệ điều hành của máy vi tính. Không có một hệ điều hành máy vi tính chỉ đơn giản như một cái hộp vô dụng. Không có một văn hóa khả tồn và năng động một hệ thống xã hội sẽ sụp đổ. Như các hệ sống, hệ văn hóa xã hội cần phải có được một hình ảnh về cái chúng phải là. Điều này là cần thiết để tái định vị liên lục các hệ thống dịch chuyển tới gần hơn trật tự tiền định của chúng. Các hệ không chỉ dịch chuyển hướng tới một trật tự tiền định, mà còn ngăn chặn sự ganh tị giữa các cá nhân của hệ. Trừ khi hình ảnh được lưu trữ của chúng bị thay đổi, các hệ thống xã hội tiếp tục nhân bản gần như vô hạn.

    Hình ảnh được chia sẻ, do vậy, đứng ở trung tâm của tiến trình thay đổi. Thành công của bất kỳ hành động nào luôn phụ thuộc vào mức độ mà nó thâm nhập và điều chỉnh “hình ảnh được chia sẻ”. Đó là lý do tại sao việc cố gắng tác động đến sự chuyển đổi xã hội đầy thất vọng. Sự trỗi dậy thắng lợi của những khung khổ cũ về hành vi bất chấp những nỗ lực phối hợp của các tác nhân thay đổi nguồn khởi liên tục của sự thất vọng. Cái dường như tạo ra sự nổi loạn ngoan cường này đến mức không cưỡng lại được là thực tế rằng một tập hợp các nguyên tắc của tổ chức (các chuẩn mực văn hóa) tạo nên hệ thống là gì và hành xử theo cách nó đang ngầm ẩn, và thường được xem như là bất khả xâm phạm.

    Tập con của những chuẩn mực văn hóa ngầm ẩn chịu trách nhiệm tái tạo lại trật tự hiện tồn là cái chúng ta xem như phép ẩn dụ của “trật tự cơ học bậc hai”. Trật tự cơ học bậc hai tương đương với khái niệm về một tập hút trong lý thuyết hỗn độn. Tạo ra một sự thay đổi trong khung khổ hành vi của một hệ thống xã hội, những giả định căn bản của nó cần phải được thách thức. Một tập hợp mới của những lựa chọn thay thế cần được tạo ra và tập hút trong hành động cần được điều chỉnh. Do vậy, làm thế nào sự thay đổi thâm nhập được một hệ thống xã hội?

    Với các hệ mở, entrôpi âm thay đổi không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Chúng luôn nhất quán với cái đã đi vào trước đó cùng với lịch sử và đặc tính của hệ thống. Hiện tượng này, được biết như sự tự tham khảo, là cái tạo điều kiện cho sự thay đổi một cách trật tự hướng tới phức hợp có tổ chức. Sự tự tham khảo và các tiến trình lặp lại cùng với đột biến ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên cùng nhau đã cung cấp một lời giải thích đầy đủ hơn về cái đẹp và kỳ diệu của tiến trình tiến hóa.

    Như đã nói rằng khả năng sống sót quan trọng nhất của chúng ta chỉ có thể bằng việc học tập có tính chất xã hội; khả năng học tập có tính chất xã hội này – văn hóa – có hai chiều kích:

    1. Nhận thức: Tiến trình hiểu biết, ngôn ngữ, ý nghĩa và lập luận.
    2. Tiêu chuẩn viện diễn: Các giá trị, niềm tin và các khế ước xã hội.

    Tự tổ chức, có mục đích, các hệ văn hóa xã hội tự tiến hóa để tồn tại. Chúng không thể thích nghi thụ động với môi trường của mình mà cần phải cùng tiến hóa với chúng. Các hệ cũng có thể thay đổi các quy tắc của sự tương tác khi họ tiến hóa theo thời gian.

    Để sống còn, văn hóa cần phải có khả năng chủ động thích nghi với sự xuất hiện các thực tế. Hành động thích nghi là một tiến trình học tập lặp đi lặp lại của trật tự bậc hai mà nó đòi hỏi quyền tự do đặt với đề với những giả định bất khả xâm phạm. Thật không may, đây chính là những trở ngại chính cho sự phát triển của các hệ văn hóa xã hội được nhận thấy. Các thành viên của nhiều xã hội truyền thống thiếu quyền tự do đặt vấn đề với bất kỳ một trong các chuẩn mực văn hóa bất khả xâm phạm. Thay vì, hầu hết là đối tượng bị đe dọa to lớn bởi các sức mạnh truyền thống. Đặt vấn đề với một thực tiễn bất khả xâm phạm thường bị cho là một sự xúc phạm và có thể bị trừng phạt bởi cái chế trong những hệ thống trên. Nhưng khả năng đặt vấn đề với những giả định bất khả xâm phạm, mà không sợ hậu quả, không chỉ là một quyền cá nhân mà còn là điều tốt cần thiết cho xã hội cần được bảo vệ bằng mọi giá. Đôi khi những quyền lực đáng sợ đưa ra trở ngại rất lớn cho sự phát triển mà bằng bất kỳ giá nào phải trả để xóa bỏ chúng cần là một điều chính đáng. Điều này là rất đúng đắn ngay cả khi cần những sự can thiệp bi thảm của quyền lực bên ngoài, nếu nó đưa đến việc hóa giải những quyền lực đáng sợ khó thay đổi, có thể chứng minh là một điểm bùng phát của sự tiến hóa văn hóa có uy lực (Nhật Bản và Thổ Nhĩ Kỳ cho những ví dụ đáng giá cho tranh luận này).

    Mặt khác, các trật tự hỗn độn, đại diện cho một hình thức dường như ổn định nhưng đã làm nản lòng các hệ thống xã hội, có thể trải qua một sự thay đổi bất ngờ, không định trước. Hiện tượng này được tạo ra khi một sự rối loạn nhỏ tự tác động lên chính mình tạo ra một tác động rất lớn. Sự rối loạn đối với bất kỳ hệ thống nào sẽ bị chống lại khi nó xuất hiện lần đầu, nhưng nếu nó vẫn tồn tại trước hết tạo ra sự kìm nén và cộng hưởng với những sự thất vọng tồn tại trước đó trong hệ thống, một tiến trình lặp đi lặp lại của sự khuyếch đại trệch hướng bắt đầu. Đây là cái mà làm thế nào một đám động thất vọng được thúc đẩy bởi lòng thù ghét và được lãnh đạo bởi những lãnh đạo gia trưởng/có sức lôi cuốn có thể tạo ra một thay đổi phi thường trong cấu trúc của một hệ thống xã hội chưa phát triển. Thật không may, không có sự hình thành của một hình ảnh được chia sẻ toàn diện về một tương lai được kỳ vọng, các cuộc đấu tranh hỗn độn có thể không đưa đến một sự chuyển đổi tới sự tự tiến hóa, tính có mục đích, và một hệ thống văn hóa xã hội. Hiện thực của các hệ văn hóa xã hội đã phát triển cao mà chúng đã phát triển vượt quá mạng lưới an toàn của một văn hóa gia trưởng là sự khác biệt căn bản với những hệ thống mà nó vẫn còn bị mắc kẹt trong những giới hạn của loại hình văn hóa này. Trừ khi các chuẩn mực văn hóa gia trưởng bị thách thức và được điều chỉnh một cách đúng đắn, khung mẫu lặp lại của nguyên tắc độc tài và những tâm thần sẽ tiếp tục xuất hiện. (Cuộc cách mạng Iran và sự sụp đổ của Liên Xô là những bằng chứng mang tính giai thoại nhất hiện nay).

    Sự giải phóng, theo Habermas, diễn ra bất cứ khi nào con người có thể vượt qua những giới hạn quá khứ mà nó bắt nguồn từ những sự biến dạng của ý thức hệ.

    Thật không may, ý thức hệ trong bất kỳ hình thức hay dạng thức nào đã được chứng minh là những trở ngại chính cho sự sống còn của một hệ thống xã hội. Đặc trưng quan trọng và phổ biến của tất cả các hệ tư tưởng là tuyên bố một chân lý tối tượng với một tập hợp những cứu cánh và phương tiện tiền định. Những giả định căn bản không được đặt vấn đề bởi những tín đồ thực sự. Đây là một điều không phù hợp với học tập bậc hai, mà nó đòi hỏi đặt vấn đề với những giả định bất khả xâm phạm và thách thức những tập hợp những giá trị mặc định ẩn ngầm.

    Thật không may, nhiều thế hệ trong thời đại của chúng ta đã chứng kiến nỗi tuyệt vọng các ý thức hệ cạnh tranh đã phát hủy hàng triệu sinh kế và làm suy yếu khả năng sinh tồn của rất nhiều xã hội rực rỡ. Trong phản ứng sau tuyên bố đầy khiêu khích của hai nhà khoa học xã hội hiện đại nhấn mạnh mức độ bận tâm của chúng ta đối với tính chất đe dọa của các hệ tư tưởng.

    Francis Fukuyama, trong một bài báo nổi tiếng xuất bản trên tờ Foreign Affairs (1992) với nhan đề “Sự kết thúc của lịch sử”, đã tuyên bố: “Những gì chúng ta đang chứng kiến không chỉ là sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh mà là sự kết thúc của lịch sử. Thời đại của những trận chiến tư tưởng đã kết thúc. Thế giới giờ sẽ hướng tới một nền kinh tế thị trường toàn cầu và chủ nghĩa tư bản, dân chủ và quyền con người sẽ được lan rộng trên khắp toàn cầu”. Một năm sau, Samuel P. Huntington, trong một bác bỏ sâu rộng trên cùng tờ báo (mùa Hè 1993), đã dự đoán rằng sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh sẽ được tiếp nối bởi “sự va chạm giữa các nền văn minh” giữa những cái được gọi là “Văn minh Hồi giáo” và “Văn minh phương Tây hay Thiên chúa giáo”.

    Không cần phải nói, dự đoán về hành vi phản trực giác của các hệ thống xã hội phức hợp từ một quan điểm ý thức hệ duy nhất là một sự đơn giản hóa quá mức. Theo Kenneth Boulding (1981, tr. 18):

    Tầm nhìn hệ thống của các động thái xã hội thì không thân thiện với bất kỳ cái nhìn nhất nguyên về lịch sử con người mà tìm kiếm cách giải thích nó bởi một nhân tố duy nhất, cho dù điều này là một sự giải thích duy vật như trong trường hợp chủ nghĩa Marx [cổ điển], một cách giải thích hữu thần đơn giản, như trong Kinh thánh Do thái giáo, hay một cách giải thích của thuyết mạt thế theo nghĩa của một kết cục giản đơn. Những lời lẽ đơn giản về cuộc cách mạng cũng cần được xem như một yếu tố phụ mang tính căn bản trong tiến trình tiến hóa liên tục của xã hội và loài người, mặc dầu nó đôi khi quan trọng như một trường hợp đặc biệt trong những hoàn cảnh cụ thể.

    Đối với một nền văn minh tư duy hệ thống là kết quả rõ nét của sự tương tác giữa văn hóa (phần mềm) và công nghệ (phần cứng; hình 3.3). Công nghệ là phổ quát, phát triển nhanh chóng không gì cưỡng lại được, trong khi văn hóa mang tính địa phương, chống lại sự thay đổi với sự ngoan cường. Trong một xã hội mở văn hóa tiến hóa với những tiến bộ công nghệ, nhưng trong các xã hội đóng sự không tương thích giữa công nghệ và văn hóa dẫn đến những cuộc đấu tranh phản động. Vấn đề được khuếch đại bởi thực tế không may mắn rằng một vài nền văn hóa là những người tạo ra công nghệ trong khi một số khác chỉ là những người sử dụng của nó. Các công nghệ được nhập khẩu mà nó cùng tạo ra những thay đổi không mong đợi theo những cách truyền thống của đời sống thường được xem như một “sự xâm lược từ bên ngoài” bởi những lực lượng phản động. Điều này dẫn đến những chiến dịch bổ sung để cô tập và tạo ra tâm lý “chúng ta đối lập với họ”.

    Như Wheatlwy chỉ ra, hình ảnh về trường của một thế giới đi vào một vài phương tiện truyền thông đại chúng hiện thực đã thay thế hình ảnh của Newton về một thế giới phổ biến bởi nhiều phần tử, tồn tại độc lập với nhau. Không gian được sử dụng làm thành phần cơ bản của vũ trụ. Một nguyên tử thì 99.999% là trống rỗng. Nhưng một điều gì đó kỳ lạ đã xảy ra với không gian của thế giới lượng tử. Không còn có khoảng trống đơn độc. Không gian, ở mọi nơi, với tư duy hiện tại được lấp đầy bởi các trường. Vô hình, không thể sờ thấy được, không nghe thấy được, không ngửi thấy được, không mùi các trường không thể tiếp cận được thông qua năm giác quan của chúng ta cũng như thực sư như các phần tử trong chúng. Tham khảo lý thuyết về trường, Wheatley (1994) cũng đã cung cấp những trích dẫn sau từ Rupert Sheldrake, mà nhấn mạnh thông điệp chủ chốt được chứa đựng trong khái niệm về cái đẹp của nó.

    • “Một số điều mà chúng ta biết làm thế nào để thực hiện những điều không đến từ việc học tập chúng ta đạt được, mà từ tri thức được tích lũy trong lĩnh vực hình thái của loài người mà chúng ta đã sử dụng thông tin”.
    • Dân số tổng thể của loài có thể thay đổi hình vi của họ bởi vì nội dung của lĩnh vực đó đã thay đổi, chứ không bởi vì họ đã từng có thời gian cá nhân để học hành vi mới.

    Để tái tạo tương lai bằng cách ảnh hưởng đến hình ảnh được chia sẻ, trường văn hóa, do vậy mang lại một khung mẫu hành vi được kỳ vọng hơn, là những gì thiết kế tương tác thực sự. Chúng sẽ bàn luận thiết kế tương tác này trong một bài sau.

    Dịch và hiệu đính: T.Giang – SCDRC

    Nguồn: Jamshid Gharajedaghi – System thinking: Managing Chaos and Complexity – Elsevier 2011.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiểu Về Hệ Điều Hành Máy Chủ
  • Sơ Lược Về Hệ Điều Hành Mạng
  • Hệ Điều Hành Làm Những Công Việc Gì (Rất Tuyệt) Bai 10 Sua Ppt
  • Tác Dụng Của Phím Chức Năng F1 Tới F12 Trên Windows
  • Tong Hop Cau Hoi Trac Nghiem Hdh
  • Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ban Văn Hóa – Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Điện Tử Của Đảng Ủy Khối Doanh Nghiệp Trung Ương
  • Trọng Trách Của Công Tác Tư Tưởng Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Vai Trò, Trách Nhiệm Của Người Thầy Trong Sự Nghiệp Trồng Người
  • Văn Hóa Du Lịch
  • Một Góc Nhìn Lý Luận
  •                             HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM VIỆT NAM              

                                           HỘI ĐỒNG TOÀN QUỐC

                                       

                                                 QUY CHẾ

    TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

     

    Căn cứ vào Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội Đồng toàn Quốc họ phạm Việt nam đã được thông qua ngày 02/8/2015, tại Đại Hội VII nhiệm kỳ (2015 – 2022).Nay, HĐTQHP Việt Nam ban hành Quy Chế “Tổ chức và hoạt động của Ban Văn hóa – Xã hội” để thống nhất thực hiện.

     

    CHƯƠNG I

                              CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC

                                    CỦA BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

             Điều 1. Chức năng

             Ban Văn hóa – Xã hội là một ban chuyên trách của HĐTQHP Việt Nam  có chức năng giúp HĐTQHP VN duy trì, hướng dẫn, thực hiện các hoạt đông dòng họ thuộc lĩnh vực văn hóa – xã hội, nhằm thống nhất hoạt động trong các cấp hội đồng và trong toàn dòng họ Pham Việt nam.

             Điều 2. Nhiệm vụ

              Ban Văn hóa – Xã hội có những nhiệm vụ sau:

    – Hướng dẫn, kiểm tra, duy trì các hoạt động văn hóa thờ cúng tổ tiên, văn hóa ứng xử , tri ân, sẻ chia, khuyến tài, khuyến đức, khuyến học, trong dòng họ.

    – Xây dựng các chương trình hoạt động trong các lĩnh vực Văn hóa, Văn nghệ, Thể thao để trình HĐTQ HP VN; tổ chức, hứơng dẫn và thực hiện các chương trình đó theo chủ trương và quyết định của HĐTQ HPVN .

    – Trình Chủ tịch HĐTQ HPVN để xét quyết định thành lập, giải thể các  loại hình câu lạc bộ, các tổ chức khác trực thuộc HĐTQHPVN hoạt động trong lĩnh vực Văn hóa – Xã hội; trình Chủ tịch HĐTQ HPVN phê duyệt các Quy chế, Điều lệ hoạt động của các Câu lạc bộ và các tổ chức khác thuộc thẩm quyền của HĐTQ.

    – Tập hợp, lập danh sách đề xuất khen thưởng, tôn vinh những cá nhân, tổ chức có thành tích đóng góp lớn cho dòng họ, cho xã hội; những cá nhân xuất sắc về tài, đức, học tập; danh sách cần tri ân, sẻ chia,… để trình Thường trực HĐTQHPVN xem xét quyết định.

    – Sơ kết, tổng kết hoạt động Văn hóa – Xã hội theo định kỳ, hàng năm để báo cáo Chủ tịch và Thường trực HĐTQHPVN.

           Điều 3. Tổ chức

           Ban Văn hóa – Xã hội có Trưởng ban, các phó ban và các ủy viên tại các Hội đồng họ Phạm địa phương. Ủy viên Ban Văn Hóa – Xã hội là Ủy viên HĐTQHP VN.

     

                                                  CHƯƠNG II

    NHIỆM VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

    Điều 4. Nhiệm vụ của Trưởng Ban

    – Trưởng ban Văn hóa – Xã hội có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cho các phó ban và các ủy viên  thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ban, và thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Chủ tịch HĐTQHPVN giao.

             – Xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác hàng năm, hàng kỳ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của ban, trình Chủ tịch HĐTQHPVN phê duyệt; tổ chức triển khai, thực hiện các chương trình, kế hoạch đó sau khi đã được Thường trực HĐTQ thông qua và Chủ tịch phê duyêt.

    – Chịu trách nhiệm trước Chủ tịch HĐTQHPVN về mọi hoạt động của Ban Văn hóa – Xã hội.

     

     

              Điều 5. Nhiệm vụ thành viên

              – Phó ban là người giúp việc cho Trưởng ban, thay mặt Trưởng ban giải quyết công việc khi được Trưởng ban ủy quyền.

              – Các Ủy viên của Ban VHXH chấp hành sự phân công của Trưởng ban, hoàn thành các phần việc khi được phân công.

    – Tham gia xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động Văn hóa – Xã hội của Ban.

    – Tham dự các hoạt động của đia phương và các Câu lạc bộ, tổ chức khác  khi được Trưởng ban phân công.

     

                                            CHƯƠNG III

    NGUYÊN TẮC  HOẠT ĐỘNG CỦA BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

     

     

    CHƯƠNG IV

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

     

    Điều 8. Quy chế tổ chức hoạt động của Ban Văn hóa – Xã hội là căn cứ để Ban hoạt động và thực hiện nhiệm vụ được Thường trực HĐTQHPVN và Chủ tịch HĐTQ phân công.

    Điều 9.  Trong quá trình thực hiện nếu có điều khoản nào chưa hợp lý Ban Văn hóa – Xã hội sẽ đề xuất sửa đổi, bổ sung trình TTHĐTQHPVN phê duyệt.

     

    Hà nội ngày 22 tháng 8 năm 2022

     

    T/M HỘI ĐỒNG TOÀN QUỐC HPVN

     Chủ tịch

     

    ( Đã ký)

     

                                          TS,  Phạm Vũ Câu                                                                   

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch
  • Phòng Văn Hóa Thông Tin
  • Văn Hóa Văn Nghệ Dân Gian Với Vấn Đề Phát Triển Bền Vững
  • Văn Hoá Dân Gian Và Văn Hoá Dân Tộc
  • Tầm Quan Trọng Của Văn Hoá Doanh Nghiệp Với Tổ Chức Và Cá Nhân
  • Tính Xã Hội Và Tính Văn Hóa Của Tôn Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Bhxh Huyện
  • Vai Trò Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Sự Cần Thiết Và Vai Trò Tất Yếu Khách Quan Của Bhxh
  • Vai Trò Của Chính Sách Bảo Hiểm Xã Hội, Bảo Hiểm Y Tế Đối Với An Sinh Xã Hội Của Đất Nước
  • Vai Trò Của Bhxh Trong Đảm Bảo An Sinh Xã Hội
  • Ngày đăng: 14/11/2015 02:06

    Tín ngưỡng, tôn giáo xuất hiện rất sớm cùng con người, khi chưa có khoa học và triết học. Khi ấy, tínhxã hộivà tính tôn giáo dường như trùng khít với nhau, mọi tập tục, lễ nghi của xã hội cũng chính là những tập tục của tôn giáo.

    Cùng với sự phát triển, khi xã hội bắt đầu phân tầng, tín ngưỡng, tôn giáo cũng biến chuyển theo, từ chỗ là một hiện tượng mang tính xã hội, do nhiều người và nhiều thế hệ tạo nên, xuất hiện các tôn giáo lớn, do một người khởi xướng, khai đạo (Giêsu của Kitô giáo, Thích ca mâu ni của Phật giáo, Môhamét của Hồi giáo… ). Song sự phát triển và phổ biến của các tôn giáo độc thần này cũng có sự kế thừa từ các tín ngưỡng, tôn giáo trước đấy và sự góp sức của nhiều thế hệ đệ tử, tín đồ trung thành. Thêm nữa, nền thần học của nó cũng nhằm giải đáp, phản ánh các hiện tượng thiên nhiên, cuộc sống con người và các thiết chế xã hội. Do vậy, tôn giáo lúc này đã hòa quyện vào mọi hoạt động sống của con người và xã hội, thấm nhiễm và chi phối những hoạt động ấy bằng sắc màu tôn giáo. Tính tôn giáo vàtính xã hội, tínhvăn hóa dường như đan xen, hòa quện lẫn nhau, và có giai đoạn là trùng khít với nhau trong thời Trung cổ.

    Trong xã hội ngày nay, bản tính xã hội của tôn giáo dẫn tới việc nó sẽ tôn giáo hóanhiều hoạt động vốn chỉ mang tính xã hội, tính cá nhân như: ngày quốc khánh, ngày khai làng, lập ấp, hội hè, đình đám, đăng quang, nhậm chức, làm nhà, hạ thủy một con tàu, cưới hỏi, v.v.. Vì muốn tôn nghiêm hóa, long trọng hóa các nghi thức, hoạt động đó, nên người ta đã tôn giáo hóachúng bằng các nghi lễ mang màu sắc tôn giáo. Đặc biệt, ở các nước có tôn giáo là quốc đạo, tínhtôn giáo gần như bao phủ toàn bộ đời sống văn hóa và mọi hoạt động xã hội cũng như cá nhân con người. Con người sống trong “bầu không khí” đậm đặc tínhtôn giáo như vậy, họ sẽ bị “uốn nắn” từ trong tư tưởng đến hành vi, ứng xử, điệu bộ, cách ăn, cách nói và đến cả trang phục, ngoại hình. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa một tín đồ Phật giáo với một tín đồ Hồi giáo không phải chỉ ở y phục họ mang trên người mà là ở cử chỉ, dáng đi, cách ngồi, cách ăn và sắc thái tinh thần. Nguyên nhân của những khác biệt đó chính là do tính tôn giáo, văn hóa tôn giáođem lại. Lễ nghi, tập tục của tôn giáo đã quy định những hành vi cho con người, thực hiện lâu ngày thành thói quen, thành tập tục, thành văn hóa sống, lối sống, nếp sống, triết lý sống của họ.

    Tuy nhiên, tính xã hội, tínhvăn hóa của tôn giáo xem ra đúng với giáo dân thiên về một thứ đạo “tầm thấp – nhập thế”, đến với Chúa, Thánh, Thần, Phật,… để cầu tài, cầu lộc hoặc “xin” cho mình “một chỗ” trên “Thiên đường”, Niết bàn” sau khi chết. Còn với giới tu sỹ, giáo sỹ “bỏ đời” hướng đến thứ tôn giáo “tầm cao – xuất thế”, họ đến với Chúa, Thánh, Thần, Phật để tìm ơn cứu độ, tìm sự linh ứng mầu nhiệm, tìm sự siêu thoát, “giải thoát” khỏi những gì không giống với thế giới mà họ đang sống và khác hẳn với giáo dân. Để đạt tới cái “siêu phàm” đó, họ phải rời xa nhân quần, phải thực hành chay tịnh, ép xác để loại bỏ mọi vương vấn trần tục và những ham muốn bản năng của con người, phải tập trung cao độ để ngộ được Đạo. Thậm chí, phải sống khác người, khác đời: không nơi trú thân, dãi nắng dầm mưa, sống bằng khí và nước… cho tới khi giác ngộ và đạt tới sự “giải thoát”.

    Như vậy, phải chăng, tôn giáo ở “đỉnh cao” và đúng nghĩa của nó lại mất dần tính xã hội, tính văn hóa, tính nhân văn,thậm chí, xa rời khỏi hiện thực, khỏi xã hội trần tục?

    Chính vì lo lắng như vậy, nên trong quá trình phát triển, các tôn giáo đã đặt ra “nhiệm vụ” cần phải thế tục hóa tôn giáo, đưa tôn giáo nhập cuộc vào đời sống xã hội, đời sống nhân sinh.

    Xu hướng thế tục hóa tôn giáo được đẩy mạnh ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với đại biểu là Auguste Comte (1789 – 1857) và Emile Durkheim (1858 – 1917). Auguste Comte cho rằng, mọi sự giải thích thế giới bằng Thiên Chúa đã lỗi thời, đối tượng thờ cúng cần thay đổi cho phù hợp với thời đại và khoa học, phải được thay thế bằng những con người thật (bằng xương bằng thịt), thí dụ như, lấy các nhà khoa học làm giới tăng lữ, các nhà bác học qua đời thành thánh nhân bất tử. Còn E.Durkheim lại nhấn mạnh đến tínhxã hội của tôn giáo, coi xã hội hiện thực mới có sức mạnh tuyệt đối, còn Thiên Chúa hay Thiên đường chẳng qua cũng chỉ là một biểu tượng phỏng chiếu của chính xã hội hiện thực mà thôi.

    Tư tưởng thế tục hóa tôn giáo, nhân hóatôn giáo trên muốn đặt tôn giáo trên nền tảng, cơ sở của lý tính, trần tục và sức mạnh con người chứ không phải ở đối tượng mà tôn giáo gọi là Chúa, Thánh, Thần… Xu hướng thế tục hóa hay nhân hóa tôn giáo này cho thấytínhtôn giáo đang bị suy yếu (tính siêu thực, siêu thoát, tính thiêng bị suy giảm), tính thế tục tăng.

    Cùng với đó, từ vài thế kỷ nay, diễn ra xu hướng chính trị hóa đời sống xã hội và thế tục hóa nhà nước (bắt đầu diễn ra từ châu Âu rồi lan tỏa sang các nước châu Á). Về lý thuyết, chính trị và nhà nước muốn xóa đi tínhxã hội và văn hóa của tôn giáo, muốn xã hội tách rời khỏi tôn giáo, nhà nước tách khỏi nhà thờ, thần quyền khỏi thế quyền, nhà trường không dạy giáo lý, ảnh Chúa không đặt ở công viên và nơi công cộng, đường phố không mang tên thánh, kinh thánh không được đọc nơi công cộng, không cần mang ra để thề khi nhậm chức hay khi xử án, v.v.. Nói chung, muốn coi tôn giáo là việc tư nhân, riêng tư. Cộng thêm đó, bầu không khí tự do cá nhân, cách mạng dân chủ… chính là những tác nhân “từ bên ngoài” cũng làm suy yếu tínhxã hội và tínhvăn hóa của tôn giáo.

    Song, trên thực tế, tính tôn giáo, tính văn hóa của tôn giáo không mấy suy giảm, bởi:

    – Tôn giáo, thánh thần không tự sinh ra mà là kết quả của chính nhu cầu xã hội và nhu cầu của con người và là sản phẩm của con người, nên nó là một thành phẩm của văn hóa và xã hội nên tính xã hội, tính văn hóa của nó là tự thân.

    – Tôn giáo tuy luôn khẳng định tính “siêu việt, vượt trên, siêu nhiên” của mình đối với xã hội thế tục bằng cách thần thánh hóa, thiêng liêng hóa chính mình, song tính thiêng ấy lại không thể tự thân nó thỏa mãn, tự thân nó chiêm nghiệm ở “thế giới bên kia”, mà phải thông qua xã hội thế tục để thể hiện và tạo ra sức hấp dẫn để lôi cuốn ngay chính xã hội thế tục và con người trần tục ở thế gian này chứ không phải ở Thiên đường hay Niết bàn.

    Việc “ép” tôn giáo lìa xa chính trị và xã hội trần thế, biến tôn giáo thành vấn đề riêng tư của mỗi người cũng bởi những giáo lý, giáo luật và lời răn của tôn giáo quá “cố chấp” nên không theo kịp sự thay đổi của thời – thế, và cũng bởi việc hành đạo đã thành nếp nên tôn giáo cũng khó thay đổi để thích ứng với xã hội và con người.

    Việc tách Đạora khỏi Đời, một thời, phải đối phó với phản ứng dữ dội từ phía giáo hội các tôn giáo, nhưng chính các tôn giáo cũng nhận ra rằng, tách Đạokhỏi Đờikhông thể loại bỏ được tínhxã hội và tínhvăn hóa của tôn giáo, thậm chí, làm điều đó lại là cần thiết đối với tôn giáo, vì như vậy, tôn giáo được “giải phóng” khỏi sự “giám hộ, can thiệp” của chính trị và nhà nước để tự trưởng thành, thoát khỏi mọi cám dỗ quyền bính trần thế, hình thành một thứ tôn giáo suy niệm. Thứ tôn giáo đó, tuy không còn trùng khítvới xã hội như thưở trước, nhưng nó lại “dâng hiến” cho thế gian một tôn giáo mang tính siêu phàm, suy niệm và hấp dẫn con người, xã hội hiện đại, ở chính tính siêu phàm khác biệt đó so với các thành phẩm văn hóa khác.

    Lúc này, tính xã hội và tính văn hóa của nó không đi vào bề nổi nữa mà ngày càng sâu lắng hơn, con người thực hành tâm linh, tôn giáo bằng cả sự trải nghiệm, xúc cảm, và lý tính thì tôn giáo, tâm linh càng trở thành một trong những thành tố hấp dẫn, bền chặt không thiếu được trong đời sống con người và xã hội.

    Tuy nhiên, với một cuộc sống quá động, quá thực dụng, thứ tôn giáo hướng đến sự suy niệm,cầunguyệnhay nhập thế hóacũng khó bảo vệ “chỗ đứng” của mình. Nên mấy thập niên trở lại đây, nhiều tân giáo phái, “đạo lạ” xuất hiện và đi “vào đời” bằng cửa ngõ chính trị, kinh tế, bằng các “dịch vụ tôn giáo”, bằng các nghi lễ phong phú đã đạt được ít nhiều thành công. Dù các tân tôn giáo đó có thể suy giảm tính siêu việthay siêu thế, nhưng bù lại, nó “hứa hẹn” về một thứ thiên đường “hạ thấp” vừa bằng mặt đất để con người cảm thấy tự tin và dễ dàng đến được với Chúa hay Thánh, Thần, nên nó vẫn hấp dẫn, thỏa mãn con người hiện đại, con người lý tính, con người năng động ngày nay. Tính xã hội,tínhvăn hóa của nó không kém mấy so với các tôn giáo truyền thống (loại trừ các tà đạo), và nó đã tìm được chỗ đứng trong xã hội và trong đời sống con người.

    Trên thực tế, xã hội thế tục cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sau cơn “nóng giận” muốn loại bỏ ngay tôn giáo, muốn tôn giáo “chết cái chết tự nhiên” của nó, nhưng tôn giáo không chết, lại ngày càng nảy nở, phát triển và thay đổi để thích ứng với xã hội và con người hiện đại. Khoa học phát triển như vũ bão, con người ngày càng hiểu biết, ngày càng thực tế, thực dụng, hiện sinh hơn, nhưng họ vẫn tìm đến với tôn giáo, nhu cầu tâm linh, tôn giáo của họ và những cách biểu đạt, thực hành tôn giáo ngày càng muôn mầu muôn vẻ hơn.

    Phải chăng, khi xã hội xuất hiện xu hướng chống tâm linh hóa, tôn giáo hóa thì đồng thời sẽ sản sinh ra xu hướng chống lý tính hóa,chống xã hội tiêu thụ, xã hội duy tục… Kinh tế phát triển mang lại cho con người sự sẵn sàng tham dự vào hoạt động tôn giáo, nhưng cũng đồng thời mang đến cho họ sự bất ổn, bất an, nảy sinh nhu cầu an định tinh thần ở tôn giáo bằng các cách thức mới mẻ, khác biệt so với trước. Khi con người và xã hội đứng trước nhiều thách đố, nhiều biến động, họ bắt đầu quan tâm đến việc cần thiết phải đeo đuổi các nguyên tắc đạo đức vốn được coi là chuẩn mực, chắc chắn ở tôn giáo mà do chính con người đã xây dựng nên trong quá trình sinh tồn của mình, v.v..

    Hơn thế, cả tư tưởng lẫn tôn giáo đều thuộc về con người, đều là sản phẩm của văn hóa, ra đời nhằm thỏa mãn con người, ít nhất là thỏa mãn nhu cầu giải thích thế giới một cách “huyền ảo” khi năng lực tư duy của họ chưa đạt đến tầm có thể làm sáng tỏ mọi vấn đề của vũ trụ (mà cũng không bao giờ có thể đạt tới được). Tư tưởng và khoa học có thể giúp con người tổ chức cuộc sống, còn tôn giáo là chỗ để con người “trông đợi”, “bấu víu”,”ký thác tinh thần”khi mà cuộc sống của họ trở nên chơi vơi, mong manh. Tôn giáo còn thỏa mãn con người trong trạng thái được “giải thoát mình”, giải tỏa những phiền não trong tâm, những áp lực trong gia đình và cạnh tranh ngoài xã hội, áp lực của hoàn cảnh tự nhiên mà trong một thời gian dài, mọi thể năng và trí năngcủa họ không thể giải quyết được, họ sẽ viện đến sự chỉ dẫn, giúp đỡ của thần linh. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần khẳng định rằng, không phải người nào cũng tìm đến tôn giáo để “thư giãn” và là “cứu cánh” cuối cùng của họ, có những người, vì mất đi trạng thái chủ động về tư duy, mất đi trạng thái làm chủ cuộc đời mình, họ tìm đến tôn giáo như một chốn “dung thân”, như sự “bấu víu” vào nó, hoặc có những cộng đồng người “ẩn mình” hoàn toàn trong đời sống tôn giáo thì đó là một quy luật hoàn toàn tự nhiên.

    Thế nên, chúng ta phải thừa nhận một thực tế rằng, tôn giáo là một bộ phận thiết yếu của thượng tầng xã hội (như triết học, đạo đức, pháp luật,…), và là một bộ phận của phức hợp những yếu tố cũng rất thiết yếu mà trong đó con người sống dù là theo sự sắp xếp của trật tự các quan hệ xã hội. Công năng xã hội, văn hóa của tôn giáo là không chối bỏ được, nên cần nhìn nhận tôn giáo như một thứ “rào cản” chống lại sự hình thành và xâm lấn của những yếu tố phi nhân tính, phản tiến bộ để hướng những chuyển động của đời sống xã hội và cá nhân diễn ra theo chiều tích cực. Và trong cuộc “tìm kiếm” một tập hợp những giá trị, trật tự mới, chúng ta cũng cần lưu ý đến những giá trị, trật tự của tôn giáo, vốn được coi là ổn định và được trải nghiệm, được chấp nhận trong tiến trình hình thành và phát triển của lịch sử – văn hóa nhân loại r

    (1) Đỗ Quang Hưng: “Tôn giáo và tín ngưỡng trong đời sống văn hóa hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 15-1999.

    (2) Dore M. Ludwig: Những con đường tâm linh phương Đông, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 2000.

    (3) Đỗ Quang Hưng: “Hiện tượng tôn giáo mới: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 5-2001.

    (4) Nguyễn Hồng Dương: Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004.

    (5) Viện Thông tin KHXH: Tôn giáo và đời sống hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004.

    (6) John Renard: Tri thức tôn giáo: các vấn nạn và giải đáp, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2005.

    (7) Kendall, Laurel: Bài giảng về các phương pháp tiếp cận nhân học về tôn giáo, nghi lễ, ma thuật,Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội, 2007.

    (8) Văn hóa tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa(kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2009.

    (9) Lê Văn Lợi: Văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam, Nxb Chính trị – Hành chính, Hà Nội, 2012.

    (10) Nguyễn Văn Dũng: Tôn giáo với đời sống chính trị – xã hội ở một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.

    PGS. TS Đỗ Lan Hiền, Viện Nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    Theo lyluanchinhtri.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Tôn Giáo, Tín Ngưỡng Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Theo Tinh Thần Của Đại Hội Xipgs, Ts. Nguyễn Trọng Tuấn
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “vấn Đề Tôn Giáo Và Chính Sách Tôn Giáo”
  • Vai Trò Của Tôn Giáo Trong Xã Hội
  • Về Vai Trò Của Đạo Đức Tôn Giáo Trong Đời Sống Xã Hội
  • Đối Tượng Và Nhiệm Vụ Của Xã Hội Học Đô Thị
  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học (Phạm Ngọc Hiền)
  • Công Tác Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Phát Huy Chức Năng Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Giáo Dục Học Sinh Thông Qua Bảo Tàng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh
  • Văn hóa là tổng thể các giá trị do con người tạo ra, trước hết là những giá trị tinh thần. Trong đó, văn học là một thành tố rất quan trọng của văn hóa. Ở phương Đông, hai khái niệm này rất gần gũi nhau. Khổng Tử đã từng hiểu “Văn” theo nghĩa rộng, đồng nghĩa với yếu tố văn hóa trong con người (I.X.Lixêvích) . Tuy nhiên cũng cần phân biệt rạch ròi hai khái niệm đó để xác định đối tượng nghiên cứu và chức năng riêng của mỗi ngành. Người ta thường nói đến các chức năng của văn học như: nhận thức – dự báo, giáo dục – giao tiếp, thẩm mỹ – giải trí… Đứng từ góc độ nghệ thuật và ở cấp độ hệ thống, nhiều người cho rằng, chức năng bao trùm nhất của văn học là tình cảm – thẩm mỹ. Nhưng nếu đứng từ góc độ văn hóa – xã hội, ta sẽ thấy văn học có một chức năng bao trùm khác, thống nhất nhưng không đồng nhất với các chức năng trên, tạm gọi đó là “chức năng văn hóa” của văn học.

    Chức năng văn hóa của văn học cũng có yếu tố nhận thức nhưng không phải tất cả những gì được phản ánh trong tác phẩm cũng đem đến cho ta những nhận thức về văn hóa. Nhiều đoạn văn tả sự vật hiện tượng trong tự nhiên (được hiểu theo nghĩa đen) hoặc những hành động đơn giản của con người thì thường không thể hiện rõ những yếu tố văn hóa. Thậm chí nếu hiểu văn hóa là những gì tốt đẹp thì những tác phẩm đồi trụy, khiêu dâm, khích động bạo lực… càng thiếu tính văn hóa. Ngay cả trong vô vàn biểu hiện văn hoá ngoài đời, nhà văn cũng chỉ chú trọng tới những giá trị văn hoá tiêu biểu nhất, góp phần định hướng phát triển văn hoá. Chẳng hạn, viết về đề tài nông thôn, cần phải nói đến tính cộng đồng, tình làng nghĩa xóm. Văn học còn là công cụ chuyển tải văn hóa và lưu giữ bóng dáng con người qua các thời đại. Nhiều bộ sử thi cổ đại được coi là các bộ bách khoa toàn thư lưu giữ toàn bộ văn hóa và những giờ phút vàng son trong lịch sử dân tộc. Để nghiên cứu văn hóa, người ta thường tìm đến văn học. Ăngghen đã nhận xét như sau khi đọc xong bộ “Tấn trò đời” của Ban-dắc: “Tôi đã học tập được nhiều hơn là trong tất cả các sách của các nhà sử học, các nhà kinh tế học, các nhà thống kê chuyên nghiệp cộng lại”. Để nghiên cứu những bản sắc văn hóa thuần túy Việt Nam, không gì bằng nghiên cứu văn nghệ dân gian. Mỗi nhà văn hiện đại cũng cần phải có ý thức lưu giữ những giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc. Ngoài ra, trong khi thực hiện chức năng phản ánh văn hóa, nhà văn còn giúp cho người đọc phát triển năng lực nhận thức thế giới bằng tình cảm, cảm tính và trực giác. Người đọc cũng nên rèn luyện khả năng quan sát, khám phá được những giá trị văn hóa ẩn sâu đằng sau những câu chữ và phải có một thái độ nhận thức đúng đắn, chẳng hạn như thái độ tiếp thu có chọn lọc nền văn hóa nước ngoài.

    Văn học còn có tác dụng gợi mở những giá trị văn hóa mới. Nhờ văn học, con người có thể dự báo được tương lai. Tác phẩm “Người mẹ” và “Bài ca chim báo bão” của M.Gooc-ky được coi là những tín hiệu mở đường cho nền văn hóa XHCN. Nhiều phát minh khoa học hiện đại được bắt nguồn từ những ý tưởng trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của J.Véc-nơ… Nhiệm vụ của các nhà văn là hướng tới xây dựng một mô hình văn hóa tốt đẹp hơn trong tương lai.

    Nam Cao đã từng mơ ước viết một tác phẩm “vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người (…) Nó làm cho người gần người hơn”. Tác phẩm văn chương không chỉ nối liền tác giả với bạn đọc mà còn làm cho các bạn đọc xích lại gần nhau hơn. Bạn đọc ở các thời đại khác nhau, các nước khác nhau nhờ giao lưu văn học mà gần gũi với nhau. Trước đây, các tác phẩm văn học Nga – Xô viết đã có tác dụng rất lớn làm cho hai nền văn hóa Nga – Việt gắn bó khăng khít nhau. Và ngày nay cũng vậy, khi có hai nước giao lưu văn hóa, người ta vẫn thường cử các nhà văn qua lại thăm viếng và dịch các tác phẩm của nhau… Như vậy, văn học đã làm nhiệm vụ giao lưu giữa các nền văn hóa.

    Bản chất của văn chương là làm đẹp cho đời… Ngày xưa, ở Trung Quốc, “Văn” được dùng để chỉ những đường nét hoa văn, tức là cái đẹp hình thức của vạn vật. Chữ viết tượng hình và những câu nói đẹp cũng được gọi là Văn. Con người dùng văn chương để tô điểm cho cuộc sống tinh thần của mình, thể hiện bản chất của mình (nhân văn, văn là người). Từ đó, văn chương còn có chức năng phản ánh cái đẹp, sáng tạo cái đẹp và góp phần bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ cho người đọc. Ca dao tục ngữ được coi là kho mỹ từ pháp của dân tộc. Nguyễn Trãi nói: “Thôn ca sơ học tang ma ngữ”. Ngày nay, người ta cũng dùng việc phân tích tác phẩm văn chương để rèn luyện năng lực cảm nhận cái đẹp cho học sinh. Văn chương còn phải biết sáng tạo ra một thế giới đẹp hơn thực. Thôn Vỹ Dạ trong thơ Hàn Mặc Tử đẹp và kỳ ảo hơn thôn Vỹ ở ngoài đời rất nhiều. “Nghệ thuật là con người thêm vào tự nhiên” (Hêghen). Văn chương phải mới mẻ ly kỳ mới có thể thu hút bạn đọc. Một ý tưởng giáo dục lớn lao mà được thể hiện bởi một nghệ thuật kém cỏi thì khó phát huy. Còn nếu chỉ chăm chú cái đẹp hình thức mà không có giá trị về nội dung tư tưởng thì chỉ mua vui cho đời chứ không lay động được trái tim bạn đọc. Sáng tạo ra cái đẹp hài hòa giữa nội dung và hình thức cũng có nghĩa là sáng tạo ra văn hóa.

    Người ta có thể giải trí bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có hình thức đọc sách. Trước khi có các phương tiện thông tin đại chúng bùng nổ, đọc sách là hình thức giải trí cơ bản và bổ ích, nâng cao vốn văn hóa của mọi người. Tuy nhiên ngày nay, trước sự lấn át của văn hóa nghe nhìn, văn học phải tăng cường chú trọng đến một chức năng nữa, đó là góp phần thúc đẩy các loại hình nghệ thuật khác phát triển. Rất nhiều kịch bản điện ảnh – sân khấu được chuyển thể từ truyện ngắn, tiểu thuyết. Nhiều bài thơ được phổ nhạc, nhiều tác phẩm văn học đã gợi ra ý tưởng cho họa sĩ vẽ tranh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình đã phổ biến rộng rãi văn học nghệ thuật tới công chúng. Tức là công chúng vẫn được đọc và nghe văn học không chỉ ở dạng trực tiếp như trước đây mà còn gián tiếp thông qua các ngành nghệ thuật khác nữa.

    Để làm tốt chức năng văn hóa của văn học, đòi hỏi nhà văn cũng phải là một nhà văn hóa, giáo dục. Nhà văn cần có kiến thức sâu rộng, có lương tâm và tài năng nghệ thuật để tạo ra những giá trị văn hóa cao đẹp. Những nhà văn lớn thường là những nhà văn hóa lớn: H.đờ Bandắc, V.Huygô, L.Tônxtôi, M.Gooc-ky, Lỗ Tấn, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh… Và cũn dễ thấy rằng những tác phẩm nghệ thuật lớn cũng có chức năng văn hóa cao. Chẳng hạn, có thể coi tác phẩm “Ô-sin” là tập đại thành giới thiệu với thế giới toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản. Nữ văn sĩ Kiều Hạ Điền Thọ Tử đã mong muốn: “miêu tả cuộc đời Ô-sin để từ đó rút ra những tiêu chuẩn sống cho cuộc sống tương lai” [3]. Tác phẩm còn hấp dẫn ở cốt truyện, vẻ đẹp con người và thiên nhiên Nhật Bản, kể cả tài năng của diễn viên khi chuyển thành phim. Những điều đó đã làm cho “Ô-sin” có sức tác động rất lớn đến tương tư, tình cảm của khán giả truyền hình ở nhiều nước trên thế giới.

    Nói tóm lại, một tác phẩm văn học có giá trị là phải hướng tới xây dựng những giá trị văn hóa tốt đẹp. Văn học nước ta từ xưa vốn đã có tinh thần “Văn dĩ tải đạo”. Ngày nay, những truyền thống tốt đẹp của cha ông cần phải được phát huy lên một tầm cao mới. Nghị quyết của Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ vai trò của văn học đối với văn hóa như sau: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người”. Đó cũng là mục tiêu cao cả mà nhiều nhà văn – nhà văn hóa cần phấn đấu đạt tới.

    PHẠM NGỌC HIỀN

    1. Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc – NXB Giáo dục, H.2000, tr. 40.

    2. Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học-NXB Thanh Niên, TP HCM, 2000.

    3. Lời giới thiệu trong quyển “Ô-sin” – NXB Hà Nội, 1994.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Sở Gd Và Đt Nam Định . Vị Trí Và Chức Năng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Sở Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Lâm Đồng
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Sở Gd & Đt
  • Chức Năng Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Chức Năng Của Nền Văn Hóa Mới
  • Bằng Những Hiểu Biết Về Chức Năng Của Văn Hóa, Anh Chị Hãy Bình Luận Ý Kiến Cho Rằng: ” Văn Hóa Góp Phần Gìn Giữ Tính Người Ở Trong Con Người”?
  • Vai Trò, Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phó Giám Đốc
  • Cfo Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Giám Đốc Tài Chính
  • Nhiệm Vụ, Chức Năng Và Vai Trò Của Giám Đốc Nhà Máy
  • Kết quả

    Chức năng của văn hóa:

    Chúng ta đã đề cập tới sự tác động của văn hóa tổ chức đối với hành vi của nhân viên. Chúng ta cũng cho rằng, văn hóa mạnh sẽ gắn liền với việc giảm tốc độ luân chuyển nhân viên trong tổ chức. Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét lại một cách cẩn thận các chức năng mà văn hóa thực hiện và đánh giá xem liệu văn hóa có phải là một nghĩa vụ, trách nhiệm đối với một tổ chức hay không?

    Văn hóa thực hiện một số chức năng trong phạm vi một tổ chức.

    – Thứ nhất, văn hóa có vai trò xác định ranh giới, nghĩa là, văn hóa tạo ra sự khác biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác.

    – Thứ hai, văn hóa có chức năng lan truyền chủ thể cho các thành viên trong tổ chức. –

    – Thứ ba, văn hóa thúc đẩy phát sinh các cam kết của nhân viên đối với những gì lớn hơn so với lợi ích riêng của cá nhân họ.

    – Thứ tư, văn hóa làm tăng suổn định của hệ thống xã hội. Văn hóa là một chất keo dính, giúp gắn kết tổ chức lại thông qua việc đưa ra các tiêu chuẩn thích hợp để người lao động biết họ cần làm gì và nói gì.

    – Cuối cùng, văn hóa có tác dụng kiểm soát để định hướng và hình thành nên thái độ và hành vi của người lao động. Chức năng cuối cùng này có ý nghĩa đặc biệt đối với chúng ta.

    Xét về định nghĩa, văn hóa được xác định là khó hiểu, là vô hình, mang nhiều ngụ ý, và là điều hiển nhiên. Nhưng mọi tổ chức đều xây dựng và phát triển một tập hợp các giả thuyết, những hiểu biết và các nguyên tắc ngầm để điều chính và kiểm soát các hành vi hàng ngày của người lao động tại nơi làm việc. Chỉ đến khi những nhân viên mới vào làm việc học được các nguyên tắc đó, họ mới được chấp nhận là những thành viên đủ tư cách của tổ chức. Sự vi phạm các nguyên tắc từ phía các nhà quản lý cao cấp và hoặc các nhân viên lành nghề sẽ dẫn đến sự phản đối chung và đòi hỏi sự trừng phạt nặng nề. Sự tuân thủ các nguyên tắc trở thành cơ sở quyết định cho việc xét khen thường và đề bạt.

    Không phải tự nhiên lại có sự trùng hợp ngẫu nhiên rằng nhân viên ở Disneyland và Disney Word ở mọi nơi trên thế giới đều tỏ ra hấp dẫn, lịch sử và thường luôn mỉm cười tươi tắn. Đó là hình ảnh nhân viên mà Disney tìm kiếm.

    Công ty Disney sẽ tuyển lựa những nhân viên có thể giữ được hình ảnh đẹp đẽ như đã nêu trên. Còn những nguyên tắc, quy định chính thức, và các chuẩn mực không chính thức có tác dụng bảo đảm rằng, nhân viên một khi làm việc ở Disney sẽ hành động một cách tương đối thống nhất và theo cách có thể tiên đoán được.

    Chúng ta đang xem xét văn hóa theo một cách không phán xét. Chúng ta không nói rằng văn hóa là tốt hay không tốt, mà chỉ nói rằng văn hóa đang tồn tại. Rất nhiều chức năng của văn hóa mà chúng ta nêu ra ở trên có ích cho cả tổ chức và cho người lao động.

    (quantri.vn biên tập và số hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 3: Chức Năng Và Cấu Trúc Của Văn Hóa
  • Cấu Tạo Của Tế Bào Sinh Vật Nhân Sơ
  • Cấu Tạo Tế Bào Nhân Sơ
  • Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Vùng Ở Tế Bào Nhân Sơ Câu Hỏi 545737
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Các Bộ Phận Khách Sạn
  • Chức Năng Giáo Dục, Xã Hội Hóa Đối Với Trẻ Em Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Cổng Điện Tử Bộ Lao Động
  • Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Gồm 21 Đơn Vị
  • Nâng Cao Vai Trò Giám Sát, Phản Biện, Tập Hợp Quần Chúng Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Tài Liệu – Học Tập – Du Lịch
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì?
  • Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, gia đình có 4 chức năng, trong đó có chức năng “giáo dục, xã hội hóa đối với trẻ em”. Chức năng đó được thể hiện:

    Có thể hiểu xã hội hoá đối với trẻ em là một quá trình bao gồm việc đứa trẻ học tập (được chỉ dẫn) về những cách thức, qui định của gia đình và xã hội để nó có thể tham gia vào các hoạt động đời sống của gia đình và xã hội. Đứa trẻ không thể trưởng thành và phát triển nếu chúng bị tách khỏi gia đình và bị biệt lập với xã hội. Với cách tiếp cận như vậy, thì xã hội hóa đối với trẻ em chính là việc dạy dỗ và trao truyền kỹ năng sống của các thành viên gia đình, họ tộc để đứa trẻ trưởng thành, thích ứng được yêu cầu của đời sống.

    Mỗi gia đình là một nhóm xã hội khác nhau, do vậy quá trình xã hội hoá đối với trẻ em cũng bị chi phối bởi những đặc điểm khác nhau trong nếp sống. Nội dung và các hình thức của lối sống trong mỗi gia đình không phải là bất biến, ngược lại chúng cũng bị tác động và biến đổi theo từng thời đại. Sự biến đổi đó chủ yếu do tác động của các nhân tố kinh tế và văn hoá, trong đó văn hoá là một nhân tố cực kỳ quan trọng làm thay đổi kết quả quá trình xã hội hoá trẻ em trong những gia đình khác nhau.

    Do vậy chức năng “giáo dục, xã hội hóa đối với trẻ em” là một trong những chức năng quan trọng của gia đình, giúp trẻ em có điều kiện và cơ hội phát triển toàn diên./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Trúc Thượng Tầng Là Gì? Đặc Điểm Và Tính Chất
  • Tạo Watermark Cho Tài Liệu Word 2007, 2010
  • Bài 9. Định Dạng Tab
  • Tìm Hiểu Về Chức Năng So Sánh – Compare Trong Word
  • Cách Viết Chữ Vào Hình Vẽ Trong Word
  • Chức Năng Của Nhà Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Văn Hóa, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Nhà Văn Hóa
  • Nhận Diện Chức Năng Nhiệm Vụ Nhà Văn Hóa
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Quản Lý Văn Hóa Và Gia Đình
  • Quản Lý Nhà Văn Hóa Xã, Phường: Vướng Từ Cơ Chế
  • Mô Tả Công Việc, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phụ Bếp Nhà Hàng
  • Chức năng của nhà văn hóa. Sử dụng nhà văn hóa nhằm mục đích kinh doanh là đúng hay sai?

    Chức năng của nhà văn hóa. Sử dụng nhà văn hóa nhằm mục đích kinh doanh là đúng hay sai?

    Xin chào Luật sư, tôi có một câu hỏi cần quý Luật sư tư vấn.Tôi công tác tại UBND thị trấn, hiện tại UBND thị trấn chỗ tôi đang quản lý một khu đất có diện tích khoảng 300 m2. Tại hồ sơ địa chính mục đích sử dụng của khu đất là đất ở do Nhà nước quản lý. Năm 2014, khu đất đã được UBND thị trấn đầu tư xây dựng công trình trên đó, do nguồn vốn đầu tư hạn hẹp nên công trình được xây dựng gồm: Tầng 1 là mặt bằng trống (dự kiến chia ra thành các ô điểm với mục đích cho thuê kinh doanh, sau khi thu hồi được vốn thì sẽ không cho thuê nữa và sử dụng làm sân vui chơi); tầng hai xây dựng Nhà văn hóa khu dân cư, đây là mục đích sử dụng chính của khu đất.

    1. Hiện giờ UBND thị trấn có thẩm quyền cho thuê mặt bằng tầng một để sử dụng vào mục đích kinh doanh không? Nếu được thì thời gian là bao lâu, thủ tục cần phải tiến hành ra sao? (địa phương chúng tôi ko có quỹ đất 5%)

    2. Việc dùng kết hợp hai mục đích sử dụng như vậy có phù hợp với các quy định hiện hành hay không ? Rất mong nhận được hồi đáp sớm từ Luật sư.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

    Do với thông tin anh đưa ra, mục đích chính khu đất là xây dựng nhà văn hóa khu dân cư nên công trình xây dựng trên đất sẽ là nhà văn hóa.

    b) Nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới.

    c) Nơi tổ chức hội họp, học tập cộng đồng và các sinh hoạt khác ở thôn.

    Như vậy, theo quy định của pháp luật được dẫn chiếu ở trên trong các chức năng của nhà văn hóa không có chức năng kinh doanh nên việc tiến hành kết hợp cho thuê mặt bằng trong nhà văn hóa để kinh doanh là hoàn toàn trái quy định của pháp luật.

    THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Mua Hàng
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Hiệu Trưởng Trường Mầm Non Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Bảo Vệ Trường Học
  • ..trường Cao Đẳng Sư Phạm Huế ::..
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Trường Mầm Non, Trường Mẫu Giáo Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Cần Có Văn Hóa Ứng Xử Trên Mạng Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Thực Trạng Về Văn Hóa Ứng Xử Trên Mạng Xã Hội Và Đưa Ra Giải Pháp
  • Mạng Xã Hội, Mặt Tích Cực Và Tiêu Cực, Những Vấn Đề Đặt Ra Cho Công Tác Bảo Đảm An Ninh Trật Tự
  • Sử Dụng Mạng Xã Hội Trong Công Tác Tuyên Truyền, Vận Động Của Tổ Chức Công Đoàn Việt Nam
  • Sử Dụng Mạng Xã Hội Trong Công Tác Tuyên Truyền Vận Động Của Tổ Chức Công Đoàn Việt Nam
  • Những Lợi Ích Và Mối Hiểm Họa Của Mạng Xã Hội
  • Hiện nay, mạng xã hội (MXH) đang là phương tiện truyền thông, giải trí phổ biến, được nhiều người sử dụng và ưa thích. Bên cạnh đa số người dùng có cách sử dụng tích cực, đúng theo quy định của pháp luật, thì nhiều cá nhân lợi dụng MXH để đăng thông tin sai sự thật, hoặc có ứng xử thiếu văn hóa; đòi hỏi cần có những giải pháp chấn chỉnh.

    Theo thống kê, năm 2022, Việt Nam có trên 60% dân số sử dụng MXH thường xuyên. Các MXH có số lượng người dùng nhiều: Facebook, Youtube, Zalo, Instagram, Tiktok, Mocha, Google+, Twiter, Skype, Viber…

    MXH đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta, góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, hướng đến Chính phủ số. Đặc biệt là trong tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp hiện nay, MXH là phương tiện giúp cho mọi người dân trao đổi, chia sẻ thông tin trực tuyến để hạn chế tiếp xúc trực tiếp, nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.

    Một trường hợp được cơ quan chức năng mời làm việc vì đưa tin sai sự thật về dịch COVID-19. Ảnh: NHƯ Ý

    Tuy nhiên, thời gian qua, một bộ phận người dân, nhất là giới trẻ có xu hướng nghiện MXH, mất quá nhiều thời gian cho việc lên MXH, dễ dẫn đến bị cận thị, trầm cảm, ảnh hưởng đến sức khỏe; hoặc chạy theo lối sống ảo, làm giảm tương tác trực tiếp giữa người với người. Người dùng MXH nếu không cảnh giác, thì cũng có thể có nguy cơ bị lộ thông tin cá nhân, bị lừa đảo về kinh tế. Bên cạnh đó, có một thực tế là không ít người lợi dụng MXH để đăng tin giật gân câu view, câu like nhằm mục đích cá nhân, nhưng cũng có khi đem lại những tác hại cho người khác; một số cá nhân còn lợi dụng MXH để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

    Để có văn hóa ứng xử trên MXH, trước tiên mỗi người dân phải tuân thủ đúng các quy định pháp luật: Luật An ninh mạng; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP và Nghị định số 27/2018/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng. Mọi hành vi vi phạm pháp luật khi sử dụng MXH đều bị xử lý nghiêm theo quy định; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử; hoặc có thể bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự.

    Từ đầu năm đến nay, Chánh Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 10 cá nhân đăng thông tin sai sự thật trên MXH, với tổng số tiền phạt là 90 triệu đồng. Các vi phạm chủ yếu là đăng thông tin sai sự thật về tình hình dịch COVID – 19 trên địa bàn tỉnh; cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

    Trong sử dụng MXH, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức cần nêu cao tính gương mẫu trong sử dụng MXH, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo; phải tuân thủ kỷ luật phát ngôn, không sử dụng MXH để khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một chiều, ảnh hưởng đến hoạt động công vụ.

    Mỗi người dân khi xem thông tin trên MXH, cũng cần phải tỉnh táo, phải biết rõ nguồn gốc của thông tin, phân biệt tin thật, tin giả; thường xuyên tiếp cận những thông tin chính thống, bổ ích; không để mình bị sa vào những thông tin thất thiệt, tiêu cực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp ‘chống Độc’ Trong Ứng Xử Trên Mạng Xã Hội
  • Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trên Mạng Xã Hội
  • Những Thách Thức Trong Công Tác Quản Lý Trên Mạng Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Nghị Luận Xã Hội Về Hiện Tượng Nghiện Internet
  • Nghiện Mạng Xã Hội Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp / Nghiện
  • Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trên Mạng Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp ‘chống Độc’ Trong Ứng Xử Trên Mạng Xã Hội
  • Cần Có Văn Hóa Ứng Xử Trên Mạng Xã Hội
  • Nêu Thực Trạng Về Văn Hóa Ứng Xử Trên Mạng Xã Hội Và Đưa Ra Giải Pháp
  • Mạng Xã Hội, Mặt Tích Cực Và Tiêu Cực, Những Vấn Đề Đặt Ra Cho Công Tác Bảo Đảm An Ninh Trật Tự
  • Sử Dụng Mạng Xã Hội Trong Công Tác Tuyên Truyền, Vận Động Của Tổ Chức Công Đoàn Việt Nam
  • Thứ ba, 24 Tháng 12 2022 15:46

    (LLCT) – Hiện nay, mạng xã hội (MXH) đang trở thành công cụ truyền thông, giải trí phổ biến được nhiều người sử dụng nhất hiện nay. Bên cạnh những tiện ích vượt trội, MXH nảy sinh không ít vấn đề, chẳng hạn những biểu hiện lệch chuẩn, ứng xử thiếu văn hóa, hoặc dùng MXH để trục lợi…, gây ra những tác động xấu tới nền tảng và những giá trị đạo đức, văn hóa của dân tộc, đòi hỏi cần có giải pháp chấn chỉnh.

    1. Lợi ích, nguy cơ và văn hóa ứng xử trên mạng xã hội

    MXH là hệ thống những mối quan hệ giữa con người với con người trên nền tảng internet với nhiều mục đích khác nhau, không giới hạn bởi không gian và thời gian. MXH có những tính năng như chat, E-mail, chia sẻ file, hình ảnh, nghe nhạc, xem video, nhắn tin, trò chuyện nhóm, viết blog, chơi game, diễn đàn trực tuyến,…

    Theo Báo cáo Nghiên cứu thói quen sử dụng MXH của người Việt Nam (2018), trung bình 1 ngày, người Việt Nam dành 2,12 giờ để truy cập MXH, riêng với Facebook là 3,55 giờ. Khoảng thời gian từ 18:00 đến 22:00 là thời điểm người dùng thường truy cập nhiều nhất. Mục đích truy cập để kết nối liên lạc (26,8%), xem tin tức (25,7%), giải trí (21,7%), học tập (13,4%), mua sắm online (9,6%), các hoạt động khác (9,6%)(2).

    Với phạm vi tiếp cận rộng rãi, tốc độ lan truyền nhanh và khó kiểm soát, MXH như con dao hai lưỡi, có thể giúp lan tỏa những điều tốt đẹp nhưng cũng dễ bị lợi dụng gây ra nhiều hệ lụy. Người dùng MXH có thể bị xâm phạm đời tư khi đăng nhập tài khoản E-mail, trò chuyện, gửi thư, ảnh hoặc tài liệu; có nguy cơ bị lừa đảo về kinh tế, mất an toàn cho cá nhân và gia đình; dễ bị đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội như trộm cắp, chiếm đoạt tài sản, bắt cóc tống tiền, thậm trí nhiều người thiếu cảnh giác, quá tin vào các mối quan hệ ảo, dẫn tới án mạng thương tâm(3).

    Quá trình sử dụng MXH, nếu người dùng chủ quan sẽ bị mất định hướng, có thể dẫn tới vô tình hoặc cố ý tán phát những thông tin xấu, độc, gây hại cho cộng đồng, thậm chí tiếp tay cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước. Việc tham gia MXH ở mức cao, chiếm quá nhiều thời gian, có thể dẫn đến nguy cơ giảm sút sức khỏe, hiệu quả học tập, công tác và giao tiếp, thậm trí làm rạn nứt quan hệ ngoài đời thực.

    Từ thực tiễn sử dụng mạng xã hội đã hình thành nên văn hóa ứng xử trên mạng. Văn hóa ứng xử trên MXH được hiểu là hệ thống giá trị chi phối nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử của cá nhân, cộng đồng trong các mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và với chính bản thân khi tham gia MXH, phản ánh trình độ phát triển của cá nhân và cộng đồng.

    Văn hóa ứng xử trên MXH bao hàm cả mối quan hệ giữa con người và môi trường xung quanh, biểu hiện ở chỗ mỗi người biết góp phần tuyên truyền trên MXH về bảo vệ môi trường thiên nhiên, tiết kiệm tài nguyên, sống xanh, sạch, đẹp, an toàn, lành mạnh, thân thiện; biết yêu thương, chăm sóc, bảo vệ các loài động vật,… Văn hóa ứng xử trên MXH còn thể hiện trong mối quan hệ với chính bản thân, với các giá trị như sự khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, có chính kiến, lập trường, quan điểm rõ ràng; tinh thần cầu thị, học hỏi, không tự kiêu, tự đại hoặc tâm lý tự ti, thiếu tin vào bản thân,…

    Mối quan hệ trên MXH có phạm vi rộng lớn, đa dạng và khó kiểm soát hơn mối quan hệ trong đời thực. Một cư dân mạng có thể có thiết lập quan hệ bạn bè khắp thế giới, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, không phân biệt chủng tộc, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp,… Một cá nhân có thể tham gia nhiều MXH khác nhau với danh tính được công khai, cũng có thể ẩn danh, thậm trí mạo danh người khác. Có trường hợp một người tham gia một MXH với nhiều tài khoản khác nhau.

    Do tính tương tác trực tiếp, tính tức thời trong giao tiếp nên việc đánh giá cảm xúc, thái độ, hành vi khó chính xác, kể cả những giao tiếp qua hình ảnh như gọi điện bằng Mesenger, Skype, Zalo,… Các cảm xúc thật có thể bị che dấu, không bộc lộ hoặc bộc lộ không đầy đủ, thậm trí bộc lộ trái ngược. Sự giao tiếp bằng ánh mắt, những điệu bộ, cử chỉ thân thiện, tình cảm chân thật khó có thể biểu hiện và tác động như ngoài đời thực.

    Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, trong quan hệ trên MXH, cá nhân thường chứng tỏ rõ ràng chính kiến thái độ của mình, muốn bảo vệ quan điểm của mình với người khác, dẫn đến sự tự trọng gia tăng trong khi sự tự chủ lại giảm. Hành động trên MXH có thể không trùng khớp với hành động ngoài đời thực. Con người thích gây ấn tượng hơn, ít quan tâm đến suy nghĩ của người khác hơn, dễ dãi trong suy nghĩ hoặc có những suy nghĩ, quan điểm quá đà.

    2. Một số biểu hiện tiêu cực trên mạng xã hội ở nước ta hiện nay

    Một thực tế là môi trường MXH đang bị vẩn đục bởi các hành vi giao tiếp, ứng xử chưa văn hóa, cách sử dụng MXH chưa văn minh hoặc lợi dụng các diễn đàn công khai để đả kích, nói xấu, bôi nhọ lẫn nhau. Hiện nay có rất nhiều người, đặc biệt là giới trẻ cho rằng MXH là thế giới ảo, có thể ẩn danh, vì thế họ không chỉ dễ dãi trong cách ứng xử với nhau, mà còn coi MXH như một công cụ để tìm hiểu cuộc sống của người khác và thể hiện cái tôi của mình, hoặc có định kiến với xã hội.

    Kết quả khảo sát của chương trình Nghiên cứu internet và xã hội (VPIS) (2018) cho thấy, các trường hợp phát ngôn gây thù ghét của người sử dụng MXH tại Việt Nam là: nói xấu, phỉ báng (61,7%); vu khống, bịa đặt thông tin (46,6%); kỳ thị dân tộc (37,01%); kỳ thị giới tính (29,03%); kỳ thị khuyết tật (21,76%); kỳ thị tôn giáo (15,09%)(4).

    Một nghịch lý đang diễn ra là hiện nay lối sống lạnh lùng, vô cảm ngoài đời thực, nhưng lại dạt dào cảm xúc trước những gì đăng trên MXH. Rất nhiều những bức ảnh, đoạn clip quay cảnh nam sinh, nữ sinh đánh nhau, các tai nạn giao thông thương tâm, trước ánh mắt tò mò, đầy hiếu kì của người đi đường mà không ai giúp đỡ, trong đó có người ghi hình, thế nhưng khi đăng lên mạng lại nhận được nhiều xót xa, thương cảm. Trong đó có chính những người vô cảm chứng kiến ở đời thực nhưng lại xót xa, thương cảm ở đời sống ảo.

    Ngôn ngữ sử dụng trên MXH hiện nay rất lai căng, đã làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Việc dùng tiếng Việt kết hợp với ngôn ngữ khác (phổ biến là tiếng Anh) có xu hướng tăng lên đáng báo động. Tiếng Việt được dùng theo cách riêng với sự kết hợp “lạ hóa” và khó hiểu. Hiện tượng dùng tiếng lóng, thêm, bớt, thay thế chữ cái, viết chữ hoa tùy tiện, viết sai chính tả rất nhiều trên MXH. Có nhiều trường hợp lệch lạc cả tư tưởng và đạo đức, văn hóa truyền thống. Các biểu hiện lệch chuẩn về đạo đức, văn hóa trên MXH hiện nay diễn ra phổ biến và đã đến mức đáng báo động. Nếu không có các thiết chế hoặc chế tài phù hợp để ngăn chặn thì rất có thể những hiện tượng đó sẽ tiếp tục lan rộng và phát triển thành những hành vi nguy hiểm cho xã hội.

    3. Những giải pháp xây dựng văn hóa ứng xử trên mạng xã hội

    Một là, nâng cao ý thức, rèn luyện hành vi đạo đức, làm cơ sở cho xác định thái độ, hành vi ứng xử văn hóa trên MXH

    Có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa ứng xử của dân tộc, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi giao tiếp trên MXH. Không nên dùng từ ngữ tục tĩu hoặc từ lạ không có trong từ điển tiếng Việt, không nên dùng tiếng lóng, từ viết tắt hoặc ngôn ngữ pha tạp. Phản ứng thận trọng trước các vấn đề nảy sinh trên MXH.

    Luật An ninh mạng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.

    Những quy định của Luật không xâm phạm đến quyền con người, không cản trở tự do ngôn luận, không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của cá nhân, tổ chức như những thông tin trên mạng xã hội, blog, web phản động tuyên truyền, xuyên tạc. Thực hiện đúng Luật nghĩa là bảo vệ chính mình, người thân và gia đình, đồng thời, góp phần bảo vệ an ninh mạng quốc gia.

    Ba là, Nhà nước sớm nghiên cứu ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên MXH, hướng tới xây dựng môi trường mạng lành mạnh, an toàn

    Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV, Nghị quyết của Quốc hội đã chỉ rõ: “Xây dựng và triển khai bộ quy tắc ứng xử trên MXH cho các nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam, hướng tới xây dựng môi trường mạng lành mạnh, an toàn tại Việt Nam”(6).

    Mặc dù việc điều chỉnh hành vi và xử lý những vi phạm của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng đã được quy định cụ thể trong Luật An ninh mạng 2022. Tuy nhiên, vẫn cần thiết ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên MXH, bởi quy tắc ứng xử không đưa ra chế tài xử lý như luật, chỉ đưa ra những chuẩn mực thái độ, hành vi ứng xử, có tác dụng định hướng, điều chỉnh, khuyến khích hoặc khuyến cáo, cảnh báo, nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế tác động tiêu cực, nâng cao văn hóa ứng xử cho người dùng MXH.

    Bốn là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, thầy cô giáo, các bậc phụ huynh; phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức, cơ quan, nhà trường và gia đình trong xây dựng văn hóa ứng xử trên MXH

    Các cơ sở giáo dục đưa nội dung giáo dục an ninh mạng, an toàn thông tin vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học. Thực hiện Đề án “xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2022 – 2025” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tăng cường giáo dục, xây dựng văn hóa ứng xử văn minh, lịch sự, bồi dưỡng các kỹ năng ứng phó với các tình huống trên MXH. Sáng tạo những phong trào tương tự như phong trào “Giờ trái đất”, “Mùa hè xanh”,… Chỉ rõ những trào lưu tiêu cực, phản văn hóa trên MXH và các biện pháp phòng, tránh.

    Năm là, sử dụng các giải pháp về công nghệ hỗ trợ cho xây dựng văn hóa ứng xử trên MXH

    Ngoài việc áp dụng luật, quy tắc ứng xử, chế tài cụ thể, cần sử dụng các giải pháp về công nghệ, chẳng hạn như bảo mật thông tin cá nhân trên mạng, giữ bí mật mật khẩu, đặt chế độ cá nhân hoặc chỉ bạn bè thân thiết và tin cậy mới có thể xem; nghiên cứu sử dụng phần mềm lọc, ngăn chặn thông tin xấu, độc khi mới được đăng tải; nhờ các chuyên gia công nghệ thông tin tư vấn cách sử dụng MXH an toàn. Cơ quan chuyên trách nghiên cứu thành lập bộ phận chuyên tìm kiếm những bài đăng sai sự thật, xúc phạm người khác, những hình ảnh phản cảm, gửi tới nhà cung cấp dịch vụ xuyên quốc gia, các MXH mà người dùng đăng tải và yêu cầu gỡ bỏ.

    Như vậy, MXH thực sự là một bộ phận quan trọng trong “hệ sinh thái mới”, mang đến cho con người những lợi ích không hề nhỏ. Tuy nhiên, việc sử dụng MXH cũng ẩn chứa những mặt trái tạo nên những nguy cơ biến đổi văn hóa nói chung, văn hóa ứng xử trên MXH nói riêng mà giới nghiên cứu, cơ quan hoạch định chính sách và mỗi người cần quan tâm.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2019

    (1) “Việt Nam xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội”, chúng tôi 11-12-2018.

    (2) “Báo cáo Nghiên cứu thói quen sử dụng mạng xã hội của người Việt Nam 2022”, chúng tôi 27-4-2018.

    (3)”Hệ lụy khôn lường từ mối quan hệ tình cảm qua mạng xã hội”, chúng tôi 8-11-2017.

    (4) https://nld.com.vn: “Chuẩn hóa ứng xử trên mạng xã hội”, 23-12-2018.

    (6) https://vietnamnet.vn: “Xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội”, 24-11-2017.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Thách Thức Trong Công Tác Quản Lý Trên Mạng Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Nghị Luận Xã Hội Về Hiện Tượng Nghiện Internet
  • Nghiện Mạng Xã Hội Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp / Nghiện
  • Suy Nghĩ Về Tình Trạng Nghiện Mạng Xã Hội
  • Nghiện Mạng Xã Hội: Những Hệ Lụy Nguy Hiểm!
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100