Top 6 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Điều Chỉnh Hành Vi Của Pháp Luật Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Sự Điều Chỉnh Hành Vi Con Người Của Pháp Luật Mang Tính

Chủ đề :

Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

CÂU HỎI KHÁC

Một người có lương tâm, có nhu cầu vật chất và tinh thần lành mạnh, luôn thực hiện tốt nghĩa vụ đạo đức đối và những người khác là người có.

Hệ thống các quy tắc chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xã hội là.

Một trong những đặc điểm của tình yêu chân chính là

Đạo đức là cơ sở để xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ, vì sự phát triển của con người là biểu hiện của vai trò nào sau đây?

Một cá nhân thường xuyên làm điều trái với đạo đức mà không cảm thấy xấu hổ, hối hận là kẻ

Cảm xúc vui sướng của con người khi được thỏa mãn nhu cầu là nội dung khái niệm nào?

Đạo đức góp phần hoàn thiện nhân cách con người là biểu hiện vai trò nào sau đây?

Tình yêu là một dạng tình cảm đặc biệt của

Trách nhiệm của cá nhân đối với yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng, xã hội là nội dung khái niệm

Thương người như thể thương thân” là biểu hiện vai trò của đạo đức với

Khi một người biết tôn trọng, bảo vệ danh dự của mình thì người đó được coi là có lòng

Trăm năm bia đá thì mònNghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” là biểu hiện sức mạnh của

Con người cần có lòng tự trọng để bảo vệ

Chuẩn mực đạo đức nào sau đây phù hợp với yêu cầu của chế độ XHCN?

Việc làm nào sau đây trái với chuẩn mực đạo đức xã hội?

Trạng thái cảm giác ăn năn, hối hận, xấu hổ khi vi phạm đạo đức là trạng thái

Câu tục ngữ nào sau đây không phản ánh nội dung về nhân phẩm và danh dự?

Sự điều chỉnh hành vi con người của pháp luật mang tính

Do ghen ghét V được nhiều bạn quý mến, A đã bịa đặt nói xấu bạn trên Facebook. Việc làm này trái với

Các chuẩn mực đạo đức Công, dung, ngôn, hạnh” ngày nay có nhiều quan điểm khác xưa, điều này thể hiện các quy tắc, chuẩn mực đạo đức cũng luôn

Các nền đạo đức xã hội khác nhau luôn bị chi phối bởi quan điểm và lợi ích của

Nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa có kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc và

Câu tục ngữ nào sau đây nói về nhân phẩm?

Hãy so sánh đạo đức và pháp luật trong sự điều chỉnh hành vi của con người. Cho ví dụ minh họa.

Em hãy lấy ví dụ về danh dự của người học sinh? Bản thân em đã làm gì để giữ gìn danh dự của minh?

Khái Niệm Và Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính

Khái niệm luật hành chính, khái niệm đối tượng điều chỉnh của luật hành chính? Pháp luật quy định những đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính như thế nào? Phạm vi điều chỉnh luật hành chính.

Trong hệ thống pháp luật Việt nam, mỗi ngành luật điều chỉnh những quan hệ pháp luật riêng biệt, giúp nhà nước quản lý và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong hệ thống pháp luật đó, Luật hành chính có vai trò quan trọng trong tổ cức bộ máy nhà nước. Tìm hiểu cụ thể về ngành luật này, bài viết sau sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn dưới góc độ khái niệm và đối tượng của Luật hành chính Việt Nam.

Luật hành chính là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thông pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chính những quan hộ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động quản lí hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phái sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước xãy dựng và ổn định chê độ công tác nội bộ của mình, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân thực hiện hoạt động quán lí hành chính đối với các vấn đề cụ thể do pháp luật quy định.

Luật hành chính điều chinh toàn bộ những quan hệ quán lí hành chính nhà nước dược thực hiện bời nhà nước hoặc nhán danh nhà nước và dối tượng điều chính cơ bản cùa Luật hành chính là những quan hệ quản lí hình thành trong quá trình hoạt động chấp hành – điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước, hoạt động quản lí hành chính nhà nước được thực hiện thông qua các quan hệ xã hội được các quy phạm của luật hành chính điều chỉnh. Khái niệm “hoạt động chấp hành và điều hành” có thể được hiểu với nội dung và phạm vi gần như các khái niệm “hoạt động hành pháp”, “hoạt động hành chính – nhà nước” hoặc “hoạt động quản lý nhà nước”.

2. Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính

Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh giữa các chủ thể tham gia hoạt động của nhà nước trong những trường hợp sau:

– Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước.

– Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động xây dựng, tổ chức công tác nội bộ của các cơ quan nhà nước khác (như Tòa án, Viện kiểm sát).

– Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan nhà nước khác hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

3. Phân loại đối tượng điều chỉnh của luật hành chính

a) Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước.

b) Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động xây dựng, tổ chức công tác nội bộ của các cơ quan nhà nước khác.

Người lãnh đạo và một bộ phận công chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước được trao quyền tiến hành hoạt động tổ chức trong giới hạn cơ quan. Hoạt động này còn được gọi là hoạt động tổ chức nội bộ, khác với hoạt động hướng ra bên ngoài. Để cơ quan nhà nước có thể hoàn thành chức nãng, nhiệm vụ của mình, hoạt động quản lí nội bộ cần được tổ chức tốt, đặc biệt là những hoạt động như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức, phối hợp hoạt động giữa các bộ phận của cơ quan, công việc vãn phòng, đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết..

Mỗi cơ quan nhà nước có chức năng cơ bản riêng và để hoàn thành chức năng cơ bản của minh các cơ quan nhà nước phải tiến hành những hoạt động quản lí hành chính nhất định.

c) Những quan hệ xã hội mang tính chất chấp hành và điều hành phát sinh trong hoạt động của các cơ quan nhà nước khác hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

Trong thực trạng quản lí hành chính nhà nước, trong nhiều trường hợp, pháp luật có thế trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành cho các cơ quan nhà nước khác (không phải là cơ quan hành chính nhà nước), các tổ chức hoặc cá nhân. Hoạt động trao quyền được tiến hành trên cơ sở những lí do khác nhau: chính trị. tổ chức, đảm bảo hiệu quả.. Vì vậy, hoạt động quán lí hành chính nhà nước không chi do các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành.

Hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhàn được trao quyền có tất cả những hậu quả pháp lí như hoạt dộng của cơ quan hành chính nhà nước nhưng chỉ trong khi thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành cụ thể được pháp luật quy định. Hoạt động nào cần được phân biệt rõ với hoạt động cơ bán của cơ quan nhà nước được trao quyền (chính cái đó quy định tính chất của cơ quan và của các mối quan hệ). Xem xét vấn đề từ hướng khác cho thấy cơ quan hành chính nhà nước không chỉ thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành mà còn được uỷ quyền lập pháp và tiến hành hoạt động tài phán trong những trường hợp nhất định.

Như trao quyền cho các nhân, tổ chức trong bộ máy nhà nước như: tòa án nhân dân, thẩm phán chủ tọa phiên tòa… Trao quyền cho cá nhân, tổ chức không phải trong bộ máy nhà nước: chỉ huy tàu bay, tàu biển khi rời sân bay, bến cảng…

Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những nhóm quan hệ xã hội xác định, có đặc tính cơ bản giống nhau và do những quy phạm thuộc ngành luật đó điều chỉnh. Do đó mỗi ngành luật khác nhau sẽ có đối tượng điều chỉnh khác nhau và đây chính là tiêu chuẩn chủ yếu để phân biệt các ngành luật với nhau. Để hiểu và phân biệt được Luật hành chính với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam cần phải nắm được khái niệm và đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính.

Chức Năng Của Quốc Hội Theo Pháp Luật Hiện Hành

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 2 MÔN LUẬT HIẾN PHÁP Đề tài: Chức năng của Quốc hội theo pháp luật hiện hành. Sinh viên: NGUYỄN LÂM SƠN Lớp: KT32B – MSSV KT32B016 Hà nội, 28/10/2008 MỤC LỤC Trang PHÂN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 1 Quốc hội là cơ quan duy nhất có chức năng lập hiên, lập pháp. 1 Quốc hội có chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nươc 2 3. Quốc hội có chức năng quy định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước 2 4. Chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. 3 PHẦN KẾT LUẬN 3 Chức năng của Quốc hội theo pháp luật hiện hành. * * * PHẦN MỞ BÀI Trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội chiếm một vị trí đặc biệt. Theo hiến pháp năm 1992 tất cả quyền lực của nhà nước CHXHCN Việt nam đều thuộc về nhân dân (điều 2) nhưng nhân dân không thể trực tiếp, thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước nên phải bầu ra một cơ quan đại biểu để thay mặt mình sử dụng quyền lực nhà nước. Vì vậy các cơ quan này được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có những chức năng quan trọng sau: thứ nhât là chức năng lập hiến, lập pháp, thứ hai: chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, thứ ba: quy định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, thứ tư là thục hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. PHẦN NỘI DUNG 1. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp Sở dĩ Quốc hội có chức năng này là xuất phát từ vị trí tính chất của nó đó là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, vì vậy chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành hiến pháp và luật đó là những văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất, điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất của nước ta. Các quy phạm pháp luật khác do các cơ quan nhà nước khác ban hành không được trái với tinh thần và nội dung của hiến pháp và luật. Khác với ở một số nước tư bản có sự phân biệt giữa quốc hội lập hiến vâ quốc hội lập pháp và giữa chúng có sự độc lập với nhau còn ở nước ta quyền lập hiến và lập pháp đều thuộc về Quốc hội. Quốc hội có quyền làm hiến pháp thì cũng có quyền sửa đồi hiến pháp, Quốc hội có quyền làm luật thì cũng có quyền sửa đồi luật. Để đảm bảo cho hoạt động này của Quốc hội được tiến hành thuận lợi và có hiệu quả pháp luật đã quy định cụ thể các bước chuẩn bị và quy trình thực hiện. Khi nghiên cứu hai bản hiến pháp năm 1980 và năm 1992 về vấn đề Quốc hội ta có thể dễ dàng nhận thấy ở hiến pháp năm 1992 đã quy định Quốc hội có quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đây là điểm mới mà hiến pháp năm 1980 chưa quy định hiến pháp năm 1992 bổ sung quyền này nhằm đảm bảo chức năng lập pháp của Quốc hội có hiệu quả hơn. 2. Quốc hội có chức năng quyết định những vẫn đề quan trọng của đất nước. Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Quốc hội có quyền quyết định những mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội những vẫn đề ” quốc kế dân sinh” những vấn đề về đối nội đối ngoại và vấn đề quốc phòng an ninh của đất nước. Quốc hội quyết định những vẫn đề hệ trọng đối với vận mệnh của đất nước như quyết định vấn đề chiến tranh, hoà bình. Quy dịnh tình trạng khẩn cấp quy định những chính sách dân tộc , tôn giáo, phê chuẩn hoặc bái bỏ các điều ước quốc tế do chủ tịch nước trực tiếp ký, phê chuẩn hoặc bái bỏ các điều ước quốc tế khác hoặc gia nhập theo đề nghị của chủ tịch nước… 3. Quốc hội có chức năng quy định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Quốc hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương. Bộ máy từ trung ương đến dịa phương, từ các cơ quan quyền lực nhà nươc đến các cơ quan quản lý nhà nước, từ cơ quan xét xử đến cơ quan kiểm sát được tổ chức theo mô hình nào, nguyên tắc tổ chức hoạt động ra sao đều do quốc hội xem xét lựa chọn,quyết định tại kỳ họp của mình và được thể hiện trong hiến pháp, luật tổ chức quốc hội, luật tổ chức chính phủ, luật tổ chức toà án nhân dân, luật tổ chức vịên kiểm sát nhân dân, luật tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân. Ngoài việc quy định chung về luật tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Quốc hội còn bầu miễn nhiễm, bãi nhiễm các chức danh quan trọng của nhà nước như chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chánh án toà án nhân dân tối cao, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, phê chuẩn đề nghị của chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiễm, cách chức các chức danh khác như bộ trưởng… Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ của chính phủ, thành lập mới, nhập chia, điều chỉnh địa giới hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành lập,giải tán các đơn vị hành chinh – kinh tế đặc biệt. 4. Chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. Theo chức năng nhiệm vụ của mình giám sát việc thực hiện hiến pháp và pháp luật do nhiều cơ quan nhà nước tiến hành như hội đồng nhân dân, viện kiểm sát nhân dân…nhưng sự giám sát của quốc hôi là sự giám sát cao nhất( giám sát tối cao). Quốc hội thực hiện chức năng này nhằm đảm bảo cho những quy định của hiển pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm minh và thống nhất. Quốc hội giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước ta hoạt động một cách nhịp nhàng, có hiệu quả không chồng chéo,chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, hách dịch cửa quyền. Quốc hội thực hiện chức năng giám sát thông qua việc xem xét báo cáo của chính phủ, toà án nhân dân tối cao, viên kiểm sát nhân đân tối cao; thông qua hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội và hoạt động của bản thân các đại biểu Quốc hội, đặc biệt là hoạt động chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội. KẾT LUẬN Như vậy qua sự phân tích về chức năng của Quốc hội như trên ta thấy Quốc hội là một cơ quan quyền lực nhà nược cao nhất mang chủ quyền nhà nước và chủ quỳên nhân dân. Mọi quyền lực nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội. Mọi công việc quan trọng của đất nước và của nhân dân có ý nghĩa toàn quốc đều do Quốc hội quyết định. Tuy nhiên để thực hiện được thật tốt các chức năng này và thực sự là một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất theo đúng nghĩa của nó và để tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì quốc hội phải có “thực chất” và “thực quyền”./. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Hiến pháp năm 1992. Luật tổ chức Quốc hội 2001. Luật về hoạt động giám sát của Quốc hôi. Quy chế hoạt động của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội. Chương XII – Quốc hội, Giáo trình luật híên pháp Việt nam, trường đại học Luật Hà nội, 2008. Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội, Nxb. CTQG, Hà nội, 2004. Mạng Internet.

Chức Năng Của Giám Đốc Điều Hành

Chesley Irving Barnard (1886 – 1961), là người đã có đóng góp to lớn vào việc nghiên cứu hệ thống tổ chức xã hội. Năm 1938, ông đã viết cuốn “Chức năng của giám đốc điều hành”. Trong cuốn sách này, ông đã đưa ra những quan điểm cơ bản về lý luận tổ chức và quản lý hoàn toàn khác với lý luận tổ chức truyền thống. Những quan điểm đó đã đặt nền móng cho lý luận tổ chức hiện đại phương Tây, có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự phát triển của tư tưởng quản lý phương Tây, đặc biệt là sự phát triển lý luận về tổ chức. Do ông coi các tổ chức xã hội đều là hệ thống xã hội trong mối quan hệ hiệp tác với nhau để nghiên cứu, nên ông đã được oi là người thuộc trường phái hệ thống xã hội.

Ông vạch rõ, bất kỳ người nào cũng có cá tính nhất định. Cá tính nói đây bao gồm những hoạt động của người đó, nhân tố tâm lý, năng lực lựa chọn, mục đích.

Trong thực tế cuộc sống, những hiện tượng hiệp tác đó có ở khắp nơi. Barnard đã trừu tượng hóa sự khác biệt của các hiện tượng hiệp tác cụ thể ấy và đưa ra khái niệm thống nhất về hệ thống hiệp tác. Ông vạch rõ, hệ thống hiệp tác là một thể phức hợp của những yếu tố vật lý, sinh học, cá nhân và xã hội có quan hệ với nhau, là một hệ thống đặc thù được hình thành thông qua sự hiệp tác do nhiều người tiến hành và ít nhất có cùng một mục đích chung. Do đó, hệ thống hiệp tác là một hệ thống do các phân hệ vật lý, sinh học, con người và tổ chức cấu thành.

Barnard cho rằng, thước đo duy nhất để đánh giá hiệu suất của một hệ thống hiệp tác là năng lực sinh tồn của nó, còn năng lực sinh tồn là sự hấp dẫn mà tổ chức có thể đưa ra để thỏa mãn động cơ cá nhân của các thành viên, là khả năng khiến cho tổ chức có thể thực hiện mục tiêu.

Nói cách khác là tổ chức chính thức phải làm cho những thành viên có cống hiến cho tổ chức hoàn toàn hài lòng để đổi mới sức mạnh của họ và ngăn chặn lực ly tâm đối với tổ chức. Nếu không làm được điều đó thì tổ chức khó lòng tiếp tục tồn tại.

Ba yếu tố của hệ thống hiệp tác

Định nghĩa về tổ chức theo Barnard là rất rộng. Đó là một hệ thống hoạt động gồm hai người trở lên, phối hợp với nhau một cách có ý thức. Sự khác biệt giữa các tổ chức chỉ là sự khác nhau về môi trường vật chất và môi trường xã hội, số lượng nhân viên và sự cấu thành nhân viên… Mỗi tổ chức là một hệ thống. Nó phải được đối xử như một thể thống nhất bởi vì mỗi bộ phận của nó đều có mối liên hệ với các bộ phận khác trong hệ thống. Barnard cho rằng, một hệ thống, dù ở cấp bậc nào, cũng bao hàm 3 yếu tổ phổ biến. Đó là ý nguyện hợp tác, mục tiêu chung và trao đổi thông tin.

Ý nguyện hợp tác

Đó là yếu tố đầu tiên, mang tính phổ biến mà tất cả các tổ chức không thể thiếu được. Hàm ý của nó là tự điều khiển mình, giao quyền điều khiển hành vi của cá nhân cho tổ chức và phi cá nhân hóa các hành vi cá nhân.

Tổ chức là do con người hợp thành nhưng cái thật sự cấu thành một tổ chức của hệ thống hiệp tác không phải là con người mà là sự phục vụ, động tác, hoạt động và ảnh hưởng của con người. Do đó, việc bằng lòng phục vụ cho hệ thống hiệp tác là cái không thể thiếu được. Đối với cá nhân, bằng lòng hiệp tác là kết quả cân nhắc giữa sự bằng lòng và không bằng lòng của cá nhân về việc tham gia hệ thống hiệp tác đó, bởi vì khi một cá nhân tham gia hệ thống này mà không tham gia hệ thống khác tức là có một số hy sinh nào đó. Vì vậy, tổ chức cần phải có những hấp dẫn thích đáng về mặt vật chất và xã hội để bù vào sự hy sinh đó.

Mục tiêu chung

Đây là yếu tố thứ hai mang tính phổ biến của hệ thống hiệp tác, là hệ quả tất yếu của ý nguyện hiệp tác. Nếu các thành viên của tổ chức không hiểu rõ mục đích hiệp tác và kết quả hiệp tác thì không thể dẫn đến ý nguyện hiệp tác. Đồng thời, nếu mục tiêu của tổ chức không được các thành viên của nó tiếp thu thì không thể dẫn đến hoạt động hiệp tác tốt. Vì vậy, tiếp thu mục tiêu hợp tác và ý nguyện hiệp tác là hai việc hầu như đồng thời xảy ra.

Sự hiểu biết của các thành viên trong tổ chức về mục tiêu chung của tổ chức gồm có sự hiểu biết mang tính hiệp tác, sự hiểu biết mang tính cá nhân và đó là hai điều khác nhau. Cái thứ nhất có nghĩa là các thành viên của tổ chức từ bỏ lập trường cá nhân và đứng trên lợi ích của tổ chức để lý giải mục tiêu chung của tổ chức một cách khách quan. Cái thứ hai có nghĩa là đứng trên lập trường cá nhân đẻ lý giải mục tiêu của tổ chức. Hai sự lý giải đó thường mâu thuẫn với nhau. Khi mục tiêu của tổ chức tương đối đơn thuần, cụ thể thì khả năng phát sinh mâu thuẫn tương đối ít. Nếu ngược lại thì khả năgn phát sinh mâu thuẫn tương đối nhiều. Do đó, nhiệm vụ quan trọng của giám đốc điều hành trong tổ chức là khắc phục mâu thuẫn giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân, khắc phục mâu thuẫn giữa lý giải mang tính hiệp tác và sự lý giải mang tính cá nhân đối với mục tiêu chung.

Một mục tiêu chỉ có thể được coi là nhân tố của hệ thống khi các thành viên trong hệ thống hiệp tác không cho rằng sự lý giải của họ có sự bất đồng nghiêm trọng. Chỉ khi những người cống hiến cho hệ thống thông tin tin tưởng rằng mục tiêu chung cũng là mục tiêu kiên định của tổ chức thì mục tiêu đó mới có thể trở thành cơ sở của hệ thống hiệp tác. Một trong những chức năng của giám đốc điều hành là làm cho các thành viên của tổ chức tin tưởng vào mục tiêu chung; tiến hành công tác giáo dục để cổ vũ tinh thần công nhân viên, đồng thời làm cho các thành viên của tổ chức cảm thấy, thông qua việc thực hiện mục tiêu của tổ chức, lợi ích cá nhân của họ cũng được thỏa mãn.

Trao đổi thông tin

Mọi hoạt động đều phải dựa vào việc trao đổi thông tin. Hai yếu tố cơ bản kể trên chỉ có thông qua trao đổi thông tin và kết hợp với nhau mới có thể trở thành quá trình của động thái.

Một số nguyên tắc mà Barnard nêu ra:

Các thành viên của tổ chức phải nắm được các kênh trao đổi thông tin và điều quan trọng nhất là làm cho việc sử dụng các kênh liên lạc trở thành thói quen, đồng thời cố gắng đến mức cao nhất để cố định nó. Trọng điểm thông tin có thể là sắp xếp theo chức vụ hoặc theo con người cụ thể nhưng việc sắp xếp theo chức vụ thường được nhấn mạnh hơn.

Yêu cầu mỗi thành viên của tổ chức đều có một kênh liên lạc chính thức, rõ ràng, tức là mỗi thành viên phải có một cấp trên và báo cáo công việc với cấp trên ấy. Mỗi người phải có quan hệ chính thức, rõ ràng với tổ chức.

Tuyến trao đổi thông tin chính thức được thiết lập phải là trực tiếp, giảm bớt tầng nấc nhằm tăng nhanh tốc độ trao đổi thông tin và giảm bớt những sai sót do việc truyền đạt thông tin qua nhiều tầng nấc gây ra.

Khi truyền đạt thông tin, cần sử dụng mỗi tầng nấc của tuyến trao đổi thông tin hoàn chỉnh. Đó là vì, nếu trong quá trình truyền đạt thông tin, bạn vượt qua một số tầng nấc nào đó thì có thể sản sinh những thông tin trái ngược nhau, đồng thời cũng bất lợi cho việc duy trì uy quyền và chức tránh của mỗi tầng nấc.

Khi tổ chức đang thực hiện chức năng của mình, tuyến trao đổi thông tin không được gián đoạn. Nhiều tổ chức quy định, khi một người giữ chức vụ nào đó không thể thực hiện chức quyền hoặc vắng mặt thì người nào tự động tạm quyền.

Lý luận về sự phân công trong tổ chức

Để khác phục những nhân tố không thuận tồn tại trong quan hệ giữa năng lực cá nhân và hoàn cảnh khách quan, người ta phải hiệp tác với nhau thiết lập tổ chức. Biện pháp để phối hợp hoạt động của mọi người trong tổ chức là sự phân công. Do đó, Barnard cho rằng, đứng trên một góc độ nhất định, tổ chức và phân công là hai từ đồng nghĩa. Nếu không có phân công thì không thể thông qua tổ chức để thực hiện mục tiêu hiệp tác.

Cơ sở của sự phân công trong tổ chức

Hoàn cảnh địa lý.

Thời gian làm việc.

Tập đoàn người.

Đối tượng công tác.

Phương pháp làm việc.

Nguyên lý tổng hợp về sự phân công trong tổ chức

Nguyên lý đổi mới sự phân công: Phân công không phải là một việc cố định, bất biến. Nó phải đổi mới khi hoàn cảnh có sự thay đổi. Điều đó có nghĩa là khi hoàn cảnh thay đổi thì cần phải căn cứ vào đòi hỏi của hoàn cảnh để điều chỉnh phương thức phân công và hiệp tác một cách thích đáng. Đây là một điểm quyết định hiệu lực của tổ chức. Nó chứng tỏ rằng, tổ chức phải thông qua sự đổi mới của phân công để đổi mới cơ cấu tổ chức cho thích ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh.

Nguyên lý phân giải mục đích: Là phân giải mục đích tổng thể thành mục đích của các đơn vị theo quan hệ liên kết. Như vậy, sẽ thông qua việc thực hiện mục đích của tổ chức đơn vị để thực hiện mục đích tổng thể của tổ chức. Từ đó có thể thấy, nếu mục đích tách rời sự phân công thì không thể thực hiện. Tổ chức và phân công là hai cái không thể tách rời nhau.

Mặt khác, trong một tổ chức phức hợp, các đơn vị phải tiếp thu mục đích chung, tức là mục đích tổng thể và các mục đích đặc định được phân giải từ mục đích tổng thể, tức là mục đích bộ phận. Đó là vì tổ chức phải thông qua mục đích chung và mục đích bộ phận mới có thể làm cho hoạt động của tổ chức có thể phối hợp và thống nhất với nhau. Nếu các đơn vị không thể tiếp thu mục đích chung và mục đích đặc định của đơn vị do mục đích chung quy định thì sự tồn tại của chúng không có ý nghĩa nữa. Nếu tình hình đó trở thành một xu hướng thì toàn bộ tổ chức sẽ có nguy cơ phân liệt. Do đó, việc bảo vệ mục đích của tổ chức và các mục đích bộ phận là biện pháp cần thiết để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng và sự thống nhất của tổ chức.

TH: T.Giang – SCDRC