Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Phú Yên

--- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Bị Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Gồm Những Ai
  • Thời Hạn Được Coi Là Chưa Bị Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Khi Có Hành Vi Xử Lý Rác Thải Không Đúng Quy Định
  • Mức Xử Phạt Đối Với Hành Vi Chuyển Chất Thải Rắn Cho Đơn Vị Không Có Chức Năng Xử Lý
  • Hình Thức Xử Lý Kỷ Luật Theo Quy Định Của Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Thứ Ba, 25/08/2020 17:11 CH

    Trang thông tin điện tử VKSND tỉnh tiếp tục giới thiệu một số nội dung Quy chế kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (Quy chế) được ban hành kèm theo Quyết định số 299/QĐ-VKSTC ngày 19/8/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao.

    1. Khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án cùng cấp, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức (sau đây viết tắt là công chức) phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát.

    2. Công chức kiểm sát chặt chẽ các vấn đề sau đây:

    a) Thẩm quyền thụ lý của Tòa án theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014;

    b) Thời hạn và đối tượng Tòa án phải gửi thông báo thụ lý theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh số 09/2014;

    c) Nội dung của văn bản thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh số 09/2014;

    d) Hình thức của Thông báo thụ lý theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 04/2015).

    3. Trường hợp phát hiện việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án có vi phạm thì công chức tập hợp, báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình thực hiện quyền kiến nghị theo quy định tại Quy chế này.

    Hồ sơ kiểm sát được lập, sắp xếp, đóng dấu bút lục, thống kê tài liệu theo Hướng dẫn số 28/HD-VKSTC ngày 19/10/2018 của VKSND tối cao về lập hồ sơ kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính; vụ việc kinh doanh, thương mại; lao động; phá sản; xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

    1. Sau khi nhận được Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án, công chức kiểm sát các nội dung sau:

    a) Thời hạn Thẩm phán ban hành quyết định là 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh số 09/2014;

    b) Nội dung của quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014;

    c) Hình thức của quyết định theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015;

    d) Thời hạn gửi, đối tượng Tòa án phải gửi quyết định theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014.

    2. Trường hợp phát hiện Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án có vi phạm thì công chức tập hợp, báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình thực hiện quyền kiến nghị theo quy định tại Điều 5 Quy chế này.

    Tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp về các nội dung sau:

    1. Thời hạn Tòa án phải mở phiên họp là 07 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở phiên họp theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014.

    2. Thành phần, tư cách pháp lý của người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp theo khoản 2 Điều 16, Điều 17 Pháp lệnh số 09/2014.

    3. Việc quyết định thay đổi người tiến hành phiên họp nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 10 Pháp lệnh số 09/2014.

    4. Căn cứ tạm dừng phiên họp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014.

    5. Việc tuân theo pháp luật về trình tự, thủ tục tại phiên họp theo quy định tại Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014; Điều 6 Nghị quyết số 04/2015.

    1. Sau khi những người tham gia phiên họp kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về các nội dung sau:

    a) Việc tuân theo pháp luật của người tiến hành và người tham gia thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

    b) Tính có căn cứ và hợp pháp đối với việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

    c) Quan điểm của Viện kiểm sát về việc áp dụng, không áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

    2. Việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp được thực hiện theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014 và Điều 7 Nghị quyết số 04/2015.

    3. Văn bản phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên họp. Sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên hoàn thiện nội dung văn bản phát biểu để gửi cho Tòa án và lưu vào hồ sơ kiểm sát.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Tại Tand: Các Đối Tượng Cần Được Áp Dụng Có Số Lượng Tương Đối Lớn
  • Các Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Khác
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Khác
  • Nguyên Tắc Khi Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Tại Tòa Án
  • Rút Kinh Nghiệm Một Số Dạng Vi Phạm Trong Việc Xem Xét, Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Tại Tòa Án Nhân Dân
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Gia Lai

    --- Bài mới hơn ---

  • Vksnd Quận Liên Chiểu: Kiến Nghị Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật Về Hành Vi Lừa Đảo Qua Mạng Xã Hội
  • Kiến Nghị Giải Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Trộm Cắp Tài Sản
  • Vksnd Tỉnh Nghệ An Tăng Cường Kiến Nghị Phòng Ngừa Tội Phạm
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Và Tệ Nạn Xã Hội
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng Ngừa, Đấu Tranh Với Tội Phạm Trộm Cắp Tài Sản Ở Địa Bàn Nông Thôn
  • Thứ sáu – 12/04/2019 08:14

    Qua công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp thời gian qua, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Gia Lai đã ban hành 68 Kiến nghị đối với các cơ quan, tổ chức hữu quan về các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm, góp phần làm tốt công tác phòng, chống tội phạm, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội tại địa phương.

    Nội dung kiến nghị tập trung làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh vi phạm pháp luật và tội phạm có nguyên nhân từ thiếu sót, sơ hở trong quản lý kinh tế, xã hội để tham mưu cấp ủy Đảng, kiến nghị với chính quyền và cơ quan hữu quan các giải pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm, các lĩnh vực như: Lĩnh vực quản lý đất đai; quản lý thu, chi và sử dụng các loại quỹ, phí, lệ phí nộp vào ngân sách nhà nước; quản lý và bảo vệ rừng; quản lý hộ khẩu, hộ tịch, đăng ký khai sinh; công tác phòng, chống ma túy; phòng ngừa tai nạn giao thông; tội phạm xâm hại trẻ em, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng; tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên và người đồng bào dân tộc thiểu số; giải pháp hạn chế tình trạng ly hôn, phòng, chống bạo lực gia đình; việc quản lý kinh doanh dịch vụ nhà trọ, nhà nghỉ,… Các đơn vị có văn bản kiến nghị điển hình đạt hiệu quả cao như:

    nắm vững cơ sở pháp lý, vai trò, trách nhiệm và quyền năng của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm

    Viện trưởng Viện KSND huyện Đak Đoa và Kông Chro đã quán triệt và chỉ đạo Kiểm sát viên, Kiểm tra viên các bộ phận nghiệp vụ phải nắm vững, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm: , đây là hoạt động nhằm góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. , Là một trong những nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân thông qua việc thực hiện quyền Kiến nghị được quy định tại Khoản 2, Điều 5 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “……nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm….”. Ngoài ra, còn được quy định tại Khoản 7 Điều 15 và Khoản 2, Điều 17 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; Khoản 8, Điều 166; Điểm b, Khoản 1, Điều 237 và Khoản 7, Điều 267 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022. , Nâng cao vị thế của ngành Kiểm sát nhân dân trước cấp ủy Đảng và các cấp chính quyền ở địa phương, tạo thuận lợi để Ngành thực hiện tốt hơn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

    về quy trình thực hiện gồm có 03 bước như sau:

    Xác định nguồn để phát hiện vi phạm, sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý kinh tế và xã hội, gồm 02 nguồn cơ bản:

    Nguồn tổng quát: Qua thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự cụ thể về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội phạm về chức vụ, tội phạm về trật tự an toàn xã hội…Trọng tâm là những vụ án điển hình tại địa phương, được đông đảo dư luận quần chúng quan tâm, theo dõi hoặc những vụ án có khách thể tội phạm ảnh hưởng lớn đến lợi ích chung của cộng đồng dân cư tại địa phương…

    Nguồn trọng tâm: Qua việc đánh giá khách quan, toàn diện về động cơ, mục đích, phương thức và thủ đoạn phạm tội. Từ đó, xác định nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm hoặc vi phạm pháp luật và những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý kinh tế, xã hội của cơ quan hữu quan.

    Xây dựng và ban hành văn bản kiến nghị: Kiểm sát viên dự thảo văn bản kiến nghị, báo cáo xin ý kiến Phó Viện trưởng phụ trách, đề xuất Viện trưởng xem xét, quyết định. Trường hợp cần thiết có thể đưa ra tập thể Lãnh đạo đơn vị để bàn và quyết định nhằm tranh thủ tối đa trí tuệ của tập thể.

    Quá trình thực hiện cần lưu ý, trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát cần có sự trao đổi, thống nhất nhận thức về pháp luật với cơ quan, tổ chức hữu quan gắn với việc thực hiện chủ trương của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương trong công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của văn bản kiến nghị./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Nghị Giải Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Trộm Cắp Tài Sản Trên Địa Bàn Huyện Sông Lô
  • Bvpl: Kiến Nghị Giải Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Trộm Cắp Tài Sản
  • Bvpl: Kiến Nghị Giải Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Trộm Cắp Tài Sản Trên Địa Bàn Huyện Sông Lô
  • Sin Súi Hồ: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng Chống Tội Phạm
  • Một Số Khó Khăn Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Phòng, Chống Tội Phạm Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Viện Kiểm Sát Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • 1.3. Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Những Hiểu Biết Cơ Bản Về Viện Kiểm Sát
  • Chức Năng, Quyền Hạn, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Khi Kiểm Sát Điều Tra Vụ Án Hình Sự
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Lễ Tân Khách Sạn
  • Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh), Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện) và các Viện kiểm sát quân sự các cấp (bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu) và Viện kiểm sát quân sự khu vực).

    Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

    Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:

    – Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội;

    – Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.

    Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

    Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm:

    – Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật;

    – Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ;

    – Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh;

    – Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Ý Nghĩa Ba Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Văn Học Nghệ Thuật Và Chức Năng
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì?
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm Mỹ. Anh (Chị) Hiểu Gì Về Ba Chức Năng Đó? Phân Tích Một Tác Phẩm Tr
  • Chức Năng Của Văn Học
  • Cơ Cấu, Tổ Chức Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Bộ Máy:
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam Qua Các Thời Kỳ (Từ 1960 Đến 2022)
  • Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Ngành Kiểm Sát Nhân Dân (26/7/1960
  • Chưa Thống Nhất Bổ Sung Chức Năng Giám Định Tư Pháp Cho Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Và Cán Bộ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trung Quốc
  • Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân (điều 40)

    Gồm:

    1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

    3. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh).

    4. Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện).

    5. Viện kiểm sát quân sự các cấp.

    Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp (điều 41)

    1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao.

    3. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình.

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (điều 42)

    1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có:

    a) Ủy ban kiểm sát;

    b) Văn phòng;

    c) Cơ quan điều tra;

    d) Các cục, vụ, viện và tương đương;

    đ) Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, các cơ quan báo chí và các đơn vị sự nghiệp công lập khác;

    e) Viện kiểm sát quân sự trung ương.

    2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Thủ trưởng, các Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; công chức khác, viên chức và người lao động khác.

    Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao (điều 43)

    1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có:

    a) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    b) Các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    c) Một số Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết địnhtheo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    a) Chương trình, kế hoạch công tác của ngành Kiểm sát nhân dân;

    b) Dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước;

    c) Bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    d) Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Ủy ban thường vụ Quốc hội về những ý kiến của Viện trưởng không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm gửi Thủ tướng Chính phủ;

    đ) Xét tuyển người đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao đủ điều kiện dự thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp;

    e) Đề nghị Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuyển chọn, xem xét việc miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Xem xét, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    3. Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền tại khoản 2 Điều này. Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng.

    II. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (điều 44)

    1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có:

    a) Ủy ban kiểm sát;

    b) Văn phòng;

    c) Các viện và tương đương.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.

    Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (điều 45)

    1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có:

    a) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

    b) Các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

    c) Một số Kiểm sát viên.

    2. Số lượng thành viên Ủy ban kiểm sát, các Kiểm sát viên quy định tại điểm c khoản 1 Điều này do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

    a) Việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, chỉ thị, thông tư và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    b) Báo cáo tổng kết công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

    c) Xét tuyển người đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đủ điều kiện dự thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp;

    d) Xem xét, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

    4. Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền tại khoản 3 Điều này. Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    III. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (điều 46)

    1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có:

    a) Ủy ban kiểm sát;

    b) Văn phòng;

    c) Các phòng và tương đương.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.

    Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (điều 47)

    1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có:

    a) Viện trưởng;

    b) Các Phó Viện trưởng;

    c) Một số Kiểm sát viên.

    2. Số lượng thành viên Ủy ban kiểm sát, các Kiểm sát viên quy định tại điểm c khoản 1 Điều này do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.

    a) Việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, chỉ thị, thông tư và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

    b) Báo cáo tổng kết công tác với Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp;

    c) Xét tuyển người đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện đủ điều kiện dự thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp;

    d) Xem xét, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    4. Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền tại khoản 3 Điều này. Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    IV. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (điều 48)

    1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có văn phòng và các phòng; những nơi chưa đủ điều kiện thành lập phòng thì có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.

    (Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014)

    Cẩm nang pháp luật do các luật sư biên soạn, là tài sản trí tuệ của công ty luật hợp danh Ecolaw, có ý nghĩa và chỉ sử dụng cho mục đích tham khảo. Do pháp luật Việt Nam thường xuyên thay đổi, bổ sung, nên có thể trong một số trường hợp, tại thời điểm quý vị đọc, nội dung bài viết sẽ không còn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật, bổ sung khi có sự thay đổi của pháp luật, nhưng không bảo đảm kịp thời và đầy đủ hết.

    Lưu ý: Bài viết trên thuộc lĩnh vực “Tố tụng dân sự, hình sự, hành chính”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát
  • Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Hoạt Động Tố Tụng Dân Sự
  • Giới Thiệu Viện Kiểm Sát Tỉnh Tuyên Quang
  • Mô Hình Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Nhìn Từ Thực Tiễn Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Hiện Nay
  • Ra Mắt Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Tại
  • Mô Hình Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Nhìn Từ Thực Tiễn Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Viện Kiểm Sát Tỉnh Tuyên Quang
  • Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Hoạt Động Tố Tụng Dân Sự
  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát
  • Cơ Cấu, Tổ Chức Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Bộ Máy:
  • Tóm tắt: Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao là mô hình hoàn toàn mới, có vai trò, vị trí rất quan trọng trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và các chủ trương chính sách của Đảng, quy định của pháp luật về việc thành lập, tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao. Từ đó nêu lên thực tiễn, kết quả hoạt động của 03 Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Việt Nam, lấy ví dụ cụ thể từ Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để minh họa, chứng minh và khẳng định tính đúng đắn của mô hình Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao này trong cải cách tư pháp.

    Từ khóa: Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao, hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân

    Abstract: The high-level People’s Procuracy is a all new model with a crucial important role and position in the system of the People’s Procuracies. This article provides the clarifications of the rationale and policies of the Party and the legal provisions on the establishment, organization and operation, functions and mandates of the high-level People’s Procuracy. The article also provides the practical performance and results of three high-level People’s Procuracy in Vietnam, an example of the high-level People’s Procuracy in Da Nang to illustrate, prove and confirm this model of the People’s Supme Procuracy is in the reform of the judiciary.

    Keywords: high-level People’s Procuracy, the system of the People’s Procuracies

    Mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp cao lần đầu tiên được xuất hiện trong hệ thống VKSND kể từ khi có Luật Tổ chức VKSND năm 2014. Do đây là mô hình hoàn toàn mới trong bối cảnh cải cách tư pháp, nên chúng ta rất cần nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận và sơ kết, tổng kết từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của các VKSND cấp cao để củng cố và hoàn thiện mô hình này.

    1. Cơ sở chính trị, pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

    Trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước pháp quyền của chúng ta, hệ thống cơ quan tư pháp có tính độc lập đặc thù, được tổ chức và hoạt động theo một số nguyên tắc đặc trưng cơ bản như nguyên tắc: “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”; Tòa án thực hiện hai cấp xét xử; tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành”; “không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước nào ở địa phương”… Vì vậy, việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phải theo mô hình cấp xét xử, cấp tố tụng, có “địa hạt tư pháp” riêng, hạn chế thấp nhất việc tổ chức theo hệ thống của cơ quan hành chính. VKSND ba cấp trước đây đã tổ chức theo mô hình hoàn toàn gắn với cơ quan hành chính từng tồn tại trong thời gian dài đã bộc lộ nhiều hạn chế và bị chi phối bởi cơ quan hành chính và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương, ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động tố tụng tư pháp. Bên cạnh đó, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng nền tư pháp gần dân hơn, nhất là trong việc giải quyết khiếu kiện, kháng cáo, đề nghị, đơn thư của công dân, cơ quan, tổ chức, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện với hệ thống tư pháp. Do đó mà ngay từ Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2022 (Nghị quyết 49) đã định hướng chiến lược rất quan trọng là: “tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính” và đưa ra mô hình “Tòa Thượng thẩm được tổ chức theo khu vực” (Tòa án nhân dân cấp cao hiện nay). Nghị quyết 49-NQ/TW cũng đã định hướng tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát, đó là “VKSND được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án” …

    Mặc dù mới được thành lập và tiếp nhận nhiệm vụ mới mẻ, rất phức tạp, có tính chuyên môn sâu rộng, song các VKSND cấp cao đã không ngại khó khăn, thiếu thốn về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật, nêu cao tinh thần quyết tâm, tập trung giải quyết được khối lượng rất lớn đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, đều đạt tỷ lệ lên đến trên 50% , mà trước đây theo mô hình cũ còn tồn đọng rất nhiều và tỷ lệ giải quyết chỉ từ 20% đến 25%. Chất lượng công tác thực hành quyền công tố kiểm sát giải quyết án ở giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm không ngừng được nâng lên, bảo đảm sự độc lập, khách quan trong công tác, giảm thiểu đáng kể khối lượng đơn khiếu nại, tố cáo gay gắt, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận với công lý gần hơn, nhanh hơn, thuận lợi hơn. Từ sự thành công này cho thấy, chủ trương cải cách tư pháp trong việc thành lập và đi vào hoạt động của mô hình VKSND cấp cao bước đầu đã thể hiện tính đúng đắn và hiệu quả cao, giải quyết được khối lượng rất lớn công việc, đặc biệt là đơn giám đốc thẩm, tái thẩm khi phân vùng, phân định cụ thể trách nhiệm về cho các VKSND cấp cao, Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao. Vì vậy chủ trương cải cách tư pháp này của Đảng và Nhà nước ta cần tiếp tục được phát huy, tăng cường hơn nữa.

    2.1 Những thuận lợi trong hoạt động của VKSND cấp cao

    Mô hình VKSND cấp cao tạo ra cơ chế độc lập thực sự, bảo đảm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc giải quyết các vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm không bị can thiệp, chi phối bởi yếu tố bên ngoài nào, góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

    Bên cạnh đó, mô hình VKSND cấp cao còn tạo ra môi trường công tác có tính chuyên môn sâu rộng, tạo điều kiện cho đội ngũ kiểm sát viên có điều kiện tiếp xúc, giải quyết nhiều loại án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật ở nhiều cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của nhiều cấp tỉnh, cấp huyện; góp phần nâng cao trình độ, năng lực công tác chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức của ngành kiểm sát.

    2.2 Những khó khăn trong hoạt động của VKSND cấp cao

    Công tác chuyên môn: Công tác thụ lý, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm là công tác mới, rất phức tạp, trong khi đó, nhiều kiểm sát viên trước đây công tác tại VKSND địa phương chưa từng làm công tác này, nên không tránh khỏi những khó khăn, lúng túng ban đầu trong quá trình giải quyết. Bên cạnh đó, khối lượng hồ sơ và đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nhận bàn giao từ VKSND tối cao và các VKSND địa phương rất lớn; cộng thêm khối lượng hồ sơ và đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm mới tiếp nhận theo thẩm quyền rất nhiều gây ra tình trạng quá tải cho đội ngũ kiểm sát viên của VKSND cấp cao.

    Công tác nhân sự: Do tính chất đặc thù của cấp kiểm sát đòi hỏi kiểm sát viên của VKSND cấp cao phải là người có kinh nghiệm, đã từng trải qua nhiều vị trí công tác ở địa phương, qua nhiều khâu công tác từ thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết án hình sự, đến kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, kiểm sát giải quyết án hành chính. Vì vậy, nguồn kiểm sát viên của VKSND cấp cao phải tiếp nhận từ VKSND địa phương, hoặc từ VKSND tối cao đưa về. Trên thực tế, nguồn nhân lực từ VKSND tối cao đưa về còn hạn chế, trong khi đó nguồn từ các VKSND địa phương cũng gặp khó khăn do hiện nay các VKSND địa phương cũng thiếu người, nhất là những công chức có năng lực, kinh nghiệm công tác.

    Điều kiện làm việc: Trụ sở làm việc của các VKSND cấp cao đều tiếp quản từ trụ sở làm việc của các Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm. Các trụ sỏ này vừa đang xuống cấp, vừa không đáp ứng được nhu cầu về diện tích sử dụng gây ra tình trạng quá tải trong việc bố trí phòng làm việc cho cán bộ, công chức của VKSND cấp cao. Ví dụ tại VKSND cấp cao tại Đà Nẵng hiện nay được tiếp quản từ trụ sở Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng chỉ có diện tích 956m 2, được thiết kế cho khoảng 30- 40 người làm việc theo mô hình cũ, trong khi mô hình mới – với khối lượng công việc tăng gấp ba, số lượng định khung biên chế 130 người (hiện nay đã có 68 người) nên nhiều phòng làm việc trở nên chật chội, quá tải.

    3. Kiến nghị các giải pháp củng cố, kiện toàn mô hình Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

    Trên cơ sở khẳng định tính đúng đắn của việc thành lập và hoạt động của mô hình VKSND cấp cao, trong thời gian tới, chung ta cần tiếp tục củng cố và tăng cường mô hình này thông qua những giải pháp cơ bản sau:

    – Đảng và Nhà nước, VKSND tối cao cần sớm tổ chức sơ kết, tổng kết chuyên đề về tổ chức và hoạt động của mô hình VKSND cấp cao. Bên cạnh đó, cần tổ chức nhiều hội thảo khoa học, chuyên đề về vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của mô hình VKSND cấp cao để không ngừng bổ sung và hoàn thiện mô hình này phục vụ cho công cuộc cải cách tư pháp, phát huy được lợi thế tối đa của mô hình độc đáo này trong hệ thống VKSND. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vị trí, vai trò của cấp kiểm sát mới này, làm cho thiết chế này đến gần người dân hơn, làm chỗ dựa tin cậy cho nhân dân; cần có cơ chế động viên, cổ vũ để thu hút lực lượng công chức từ các địa phương về yên tâm công tác; có giải pháp đột phá trong xây dựng hệ thống nhà công vụ với đầy đủ tiện nghi, chất lượng cao, đa dạng cho từng cấp kiểm sát viên và cần có thêm chế độ đãi ngộ thích đáng khác, như quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, về sinh hoạt cuộc sống hàng ngày, hỗ trợ tiền tàu xe, phối hợp chính quyền địa phương ưu tiên giải quyết vấn đề việc làm cho thân nhân của cán bộ, công chức VKSND cấp cao… thì mới thu hút được thêm những kiểm sát viên có năng lực, kinh nghiệm, nhiệt tình công tác.

    – Để góp phần giải quyết bài toán bức xúc về nhân lực, bên cạnh việc tiếp nhận những công chức có kinh nghiệm từ các VKSND khác, cần xây dựng cơ chế tuyển mới một số công chức là những cử nhân kiểm sát, luật tốt nghiệp loại khá, giỏi từ Trường Đại học Kiểm sát, Trường Đại học Luật có uy tín để thực hiện các công việc tương đối đơn giản theo sự hướng dẫn giúp đỡ của kiểm sát viên kinh nghiệm; từng bước đào tạo, phát triển lâu dài lực lượng công chức trẻ này theo định hướng: sau khi được bổ nhiệm kiểm sát viên sơ cấp, kiểm sát viên trung cấp cần tăng cường xuống một số VKSND địa phương để trực tiếp tham gia thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại các phiên tòa hình sự, dân sự, hành chính để làm nguồn tại chỗ cho việc bổ nhiệm kiểm sát viên cao cấp sau này.

    – Tăng cường phối hợp với TAND cấp cao tổ chức nhiều phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp là khâu then chốt, để các kiểm sát viên tham gia học tập, góp ý, phân tích, đánh giá nhằm không ngừng nâng cao chất lượng công tác xét xử, tạo điều kiện cho kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp làm quen với công việc để phát triển làm nguồn bổ nhiệm kiểm sát viên cao cấp.

    – Cuối cùng, để tạo điều kiện tiền đề về cơ sở vật chất, bảo đảm hoạt động của mô hình VKSND cấp cao, Đảng và Nhà nước, VKSND tối cao cần xây dựng cơ chế chính sách ưu tiên đặc biệt cho các VKSND cấp cao về nguồn kinh phí xây dựng trụ sở mới, đầu tư trang thiết bị hiện đại./.

    Thái Văn Đoàn, “VKSND cấp cao tại Đà Nẵng: Hai năm nhìn lại”, Tạp chí Kiểm sát online ngày 19/6/2017 ( http://www.kiemsat.vn/)

    Thái Văn Đoàn, VKSND cấp cao tại Đà Nẵng: Hai năm nhìn lại, Tạp chí Kiểm sát online ngày 19/6/2017. Bổ sung địa chỉ của trang web

    Nguyễn Huy Tiến: Nhìn lại công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm từ ngày thành lập VKSND cấp cao tại Hà Nội, Tạp chí Kiểm sát số 03/2017.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ra Mắt Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Tại
  • Về Câu Nói Của M.gorki: “văn Học Là Nhân Học”
  • Đặc Trưng Của Văn Học
  • Vấn Đề Về Hình Tượng Nhân Vật Trong Văn Học
  • Xây Dựng Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Ra Mắt Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Tại

    --- Bài mới hơn ---

  • Mô Hình Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Nhìn Từ Thực Tiễn Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Hiện Nay
  • Giới Thiệu Viện Kiểm Sát Tỉnh Tuyên Quang
  • Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Hoạt Động Tố Tụng Dân Sự
  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát
  • Cơ Cấu, Tổ Chức Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • (DĐDN) – Ngày 15/6, lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại chúng tôi đã chính thức ra mắt và giới thiệu nhiệm vụ của cơ quan mới này.

    Ban lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại chúng tôi chính thức ra mắt (Ảnh Báo PL)

    Nghị quyết số 953/NQ-UBTVQH13 về thành lập Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

    nêu rõ, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao được thành lập ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại chúng tôi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp cao tại TP.HCM.

    Theo đó, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại chúng tôi được chính thức thành lập từ 1/6/2015 và quyết định bổ nhiệm lãnh đạo cơ quan Viện Kiểm sát này có hiệu lực từ ngày 15/6/2015.

    Ông Nguyễn Văn Quảng được bổ nhiệm làm viện trưởng cùng bốn Viện phó là các ông Võ Văn Thêm, Nguyễn Thanh Sơn, Lê Xuân Hải và Nguyễn Thế Thành.

    Trụ sở viện đóng tại 33 Hàn Thuyên, quận 1, sắp tới tiếp quản thêm trụ sở ở 199 Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình,TP.HCM.

    Theo Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân được tổ chức theo bốn cấp, tương ứng với bốn cấp tòa gồm Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện. Từ 1/6/2015, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao (cấp Viện Kiểm sát mới so với quy định hiện hành) sẽ gánh phần việc thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao và thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.

    Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại chúng tôi (trước là Viện Phúc thẩm 3) sẽ đảm nhiệm quản lý 23 tỉnh khu vực phía nam (từ Ninh Thuận đổ vào, so với Viện Phúc thẩm III thì có thêm tỉnh Đắk Nông nữa); với chức năng, nhiệm vụ chính là thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của TAND cấp cao tại chúng tôi quản lý về hoạt động tố tụng 23 tỉnh thành phía Nam…

    Thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát các vụ án, vụ việc được xây dựng trên cơ sở nền tảng của các viện phúc thẩm cũ nhưng thẩm quyền về mặt tố tụng sẽ rộng hơn. Cụ thể, thẩm quyền giám đốc thẩm và tái thẩm trước đây thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nhưng nay được chuyển về cho Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao; hay thẩm quyền kiến nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện, tỉnh trước đây cũng được chuyển giao cho Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao.

    Về nhân sự, viện sẽ có 210 biên chế (biên chế Viện Phúc thẩm III cũ là 43). Nguồn biên chế này không được tuyển mới mà tăng cường, điều động chuyển đến.

    Về cơ cấu tổ chức, viện sẽ có ủy ban kiểm sát, văn phòng và các viện nghiệp vụ hoặc tương đương. Theo dự tính, viện sẽ có các viện nghiệp vụ chia theo loại án như án kinh tế, chức vụ và tham nhũng; án ma túy, trật tự xã hội; án dân sự, hôn nhân và gia đình; án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và các việc khác… Trong các viện chuyên trách sẽ có các phòng chức năng chuyên sâu như phúc thẩm, giám đốc thẩm, tổng hợp.

    Hiền Vũ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Câu Nói Của M.gorki: “văn Học Là Nhân Học”
  • Đặc Trưng Của Văn Học
  • Vấn Đề Về Hình Tượng Nhân Vật Trong Văn Học
  • Xây Dựng Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Viện Kiểm Sát Nhân Nhân Tỉnh Sóc Trăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Những Biện Pháp Xây Dựng Chi Bộ Trường Tiểu Học Trong Sạch Vững Mạnh
  • Hướng Đến Xây Dựng Chi Bộ Trong Sạch, Vững Mạnh Toàn Diện
  • Xây Dựng Chi Bộ Trong Sạch Vững Mạnh Tiêu Biểu Cách Làm Ở Một Chi Bộ Trong Đơn Vị Quân Đội
  • Xây Dựng Chi Bộ Trong Sạch Vững Mạnh
  • Văn Hóa Công Sở Góp Phần Đáp Ứng Yêu Cầu Của Công Cuộc Cải Cách Hành Chính
  • Kính thưa các đồng chí: – Trần Thị Thanh Thủy, Phó bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh – Đinh Gia Hưng, Bí thư Đảng ủy Viện kiểm sát tỉnh – Chủ trì Hội nghị Kính thưa quý đại biểu! Kính thưa toàn thể hội nghị!

    Lời đầu tiên, thay mặt Chi ủy chi bộ 1, xin kính chúc các đồng chí lãnh đạo và toàn thể các đồng chí dự hội nghị mạnh khỏe, hạnh phúc, sang năm mới lập được nhiều thành tích mới.

    Thưa toàn thể Hội nghị!

    Qua nghe báo cáo tại Hội nghị tổng kết công tác đảng viên năm 2022 của Đảng bộ Viện kiểm sát tỉnh do đồng chí Trầm Thiện Minh – Phó bí thư Đảng ủy vừa thông qua, tôi hoàn toàn thống nhất với nội dung báo cáo.

    Tại Hội nghị hôm nay, được sự cho phép của Ban tổ chức Hội nghị, tôi xin phép được phát biểu một số ý kiến về công tác lãnh đạo xây dựng Chi bộ “Tong sạch, vững mạnh”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, gắn với việc lãnh đạo thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

    Kính thưa toàn thể các đồng chí!

    Chi bộ là nhân tố chính trị lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác của đơn vị; nâng cao sức chiến đấu của cán bộ, đảng viên và quần chúng; xây dựng Đảng bộ, chi bộ và đơn vị vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

    Xác định rõ vai trò to lớn của tổ chức đảng trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, chi bộ 1 đã quyết tâm xây dựng chi bộ đảng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và không ngừng phát triển cả số lượng và chất lượng. Hiện tại chi bộ 1 chúng tôi có 18 đảng viên (đều là đảng viên chính thức). 95% đảng viên có trình độ đại học, gần 40% đảng viên có trình độ cử nhân và cao cấp lý luận chính trị.

    Từ đầu nhiệm kỳ tới nay, chi bộ đã tập trung lãnh đạo 2 phòng trực thuộc chi bộ quản lý đạt được những thành tích đáng khích lệ. Riêng trong năm 2022, chi bộ đạt thành tích chi bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Đảng ủy Viện kiểm sát khen thưởng chi bộ “Trong sạch, vững mạnh” tiêu biểu năm 2022; có 100% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ; trong đó, có 04 đảng viên được khen thưởng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 01 đảng viên đạt thành tích 05 năm liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; có 06 cán bộ, công chức đạt danh hiệu Chiễn sỹ thi đua cơ sở, 01 bằng khen của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và có 01 tập thể cấp phòng thuộc chi bộ quản lý đạt danh hiệu: Cờ thi đua tập thể đơn vị dẫn đầu khối.

    Hàng năm, căn cứ nhiệm vụ của Đảng ủy, của Ngành, chi bộ đã xây dựng chương trình công tác phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế đơn vị; trong đó, tập trung cho công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng gắn với thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; thực hiện tốt Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07-6-2012 của Bộ Chính trị về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; phát huy vai trò của người đứng đầu, của các đồng chí Chi ủy viên, Bí thư chi bộ.

    Công tác xây dựng đảng được coi trọng, chi bộ đã triển khai kịp thời các nghị quyết đại hội đảng các cấp, các nghị quyết và chỉ thị khác của Đảng, Nhà nước và cấp trên. Triển khai thực hiện nghiêm túc việc xây dựng Chương trình công tác phù hợp với tình hình nhiệm vụ của chi bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Chi ủy, đảng viên chi bộ luôn có phẩm chất đạo đức tốt, không có đảng viên vi phạm những điều đảng viên không được làm.

    Chi bộ 1, đạt tiêu chuẩn “Trong sạch, vững mạnh” tiêu biểu năm 2022 Kính thưa toàn thể các đồng chí!

    Để có được những kết quả đáng khích lệ nêu trên, trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, chi bộ chúng tôi luôn quan tâm đặc biệt và chú trọng đúng mức cho công tác xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; trong đó, đã quan tâm phấn đấu thực hiện tốt một số nhiệm vụ công tác trọng tâm như sau:

    Một là, mỗi đảng viên luôn nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống, nâng cao vai trò, tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những hành vi và việc làm của bản thân.

    Hai là, luôn xác định rõ bản thân là một nhân tố góp phần nâng cao chất lượng đảng viên, xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Vì vậy, luôn làm tốt vai trò của người đảng viên trong công tác xây dựng Đảng để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.

    Ba là, ra sức phấn đấu xây dựng mối đoàn kết nội bộ tốt, mỗi đảng viên trong chi bộ là một thực thể không thể tách rời, trong góp ý đấu tranh xây dựng nội bộ luôn thẳng thắn chân tình, cởi mở nhằm giúp nhau cùng tiến bộ.

    Bốn là, trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình các đồng chí chi ủy viên và mỗi đảng viên trong chi bộ luôn xác định nhiệm vụ trọng tâm theo mục tiêu của Ngành là xây dựng đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”. Vì mục tiêu đó, mỗi đảng viên luôn không ngừng học tập nâng cao năng lực nghiệp vụ, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế hiện nay.

    Năm là, trong lãnh đạo học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chi ủy luôn đề ra giải pháp là gương mẫu tiên phong trong mọi việc làm, mọi hành động, không tự mãn với thành tích đạt được, không kêu ca phàn nàn trước khó khăn, thử thách gian nan.

    Tóm lại để phấn đấu xây dựng chi bộ “Trong sạch vững mạnh” tiêu biểu năm 2022, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mỗi đảng viên chúng ta ra sức phấn đấu thực hiên tốt năm vấn đề như đã nêu trên, chi bộ đảng nhất định đạt danh hiệu “Trong sạch vững mạnh” tiêu biểu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

    Trước khi dứt lời, tôi chân thành cảm ơn sự lắng nghe của các đồng chí, một lần nữa xin kính chúc quý đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Trước thềm năm mới 2022 – Xuân Kỷ Hợi, tôi xin kính chúc quý vị đại biểu, các đồng chí đảng viên dự Hội nghị lời chúc mạnh khoẻ, hạnh phúc, an khang và thịnh vượng!

    Chúc hội nghị thành công! Xin trân trọng cảm ơn!

    Trần Thanh Vũ – Bí thư Chi bộ VPTH & CNTT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Chi Bộ Trong Sạch, Vững Mạnh Tiêu Biểu
  • Công Tác Xây Dựng Chi Bộ Trong Sạch Vững Mạnh
  • Xây Dựng Đô Thị Văn Minh
  • Hà Nội:5 Nhóm Giải Pháp Quản Lý Xây Dựng Và Phát Triển Đô Thị Văn Minh, Hiện Đại
  • Hiệu Quả Từ Chương Trình Xây Dựng Nếp Sống Văn Minh Đô Thị
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân, Hay
  • 1. Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Trong Công Tác Kiểm Sát Thi Hành Án Hình Sự.
  • Khi Thực Hiện Chức Năng Kiểm Sát Hoạt Động Tư Pháp, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Có Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Gì?
  • Cơ Quan Nào Đảm Nhiệm Chức Năng Kiểm Sát Chung Của Vks?
  • Cơ Quan Nào Sẽ Đảm Nhận Chức Năng Kiểm Sát Chung?
  • Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, là một trong các cơ quan bảo vệ pháp luật của huyện Đông Hưng, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, thực hiện các nhiệm vụ chính trị địa phương, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

    Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.

    Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc bắt, tạm giữ, tạm giam; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm các hoạt động tư pháp được thực hiện đúng quy định của pháp luật, mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

    4. Thông tin lãnh đạo đơn vị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Bộ Máy Và Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Tiến Trình Cải Cách Tư Pháp
  • Quy Định Về Viện Kiểm Sát Trong Hiến Pháp 2013 Và Cải Cách Tư Pháp
  • Những Điểm Mới Của Hiến Pháp Năm 2013 Quy Định Về Tòa Án Nhân Dân, Viện Kiểm Sát Nhân Dân.
  • Hoàn Thiện Các Quy Định Về Phạm Vi Điều Chỉnh, Chức Năng Nhiệm Vụ, Thẩm Quyền Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Dự Thảo Luật Tổ Chức Nhân Dân Sửa Đổi
  • Một Số Điểm Mới Về Chế Định Viện Kiểm Sát Nhân Dân Theo Hiến Pháp Năm 2013
  • Chức Năng Thực Hiện Quyền Công Tố Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Quát Về Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng, Tổ Chức, Hoạt Động Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam
  • Tiểu Luận Chức Năng Kiểm Soát Của Quản Trị
  • Ví Dụ Cụ Thể Về Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần
  • Công Ty Cổ Phần Có Buộc Phải Có Ban Kiểm Soát Không?
  • Quyết Định 414/tchq/qđ/tccb Năm 2003 Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Cơ Cấu Tổ Chức Và Mối Quan Hệ Công Tác Của Đội Kiểm Soát Hải Quan Trực Thuộc Cục Hải Quan Liên Tỉnh, Thành Phố Do Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Hải Quan Ban Hành
  • Chức năng thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân. Bản chất, nội dung, phạm vi, ý nghĩa công tác thực hành quyền công tố.

    Tại Khoản 1, Điều 107 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy, thực hành quyền công tố là một trong hai chức năng hiến định Viện kiểm sát nhân dân.

    , thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về , kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự (Khoản 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014).

    Trong quá trình tố tụng hình sự, hoạt động thực hành quyền công tố bao gồm:

    – Khởi tố bị can: Để có được quyết định khởi tố bị can, cơ quan công tố phải khởi tố vụ án và điều tra, xác minh.

    – Truy tố bị can ra trước tòa án trên cơ sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh được người phạm tội.

    – Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa bằng cách công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận trước phiên tòa sơ thẩm; nếu vụ án bị hoặc kháng nghị thì có mặt để tham gia xét hỏi và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị trước phiên tòa phúc thẩm.

    Tại Khoản 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 xác định: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố của mình trong những lĩnh vực sau:

    – Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

    – Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm.

    – Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.

    – Điều tra một số loại tội phạm

    – Thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.

    Từ bản chất, nội dung, phạm vị hoạt động thực hành quyền công tố nêu trên có thể thấy công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm:

    – Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

    – Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, , bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật.

    – Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.

    Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6568 hoặc gửi thư về địa chỉ email: [email protected]

    THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

    --- Bài cũ hơn ---

  • #quy Trình Kiểm Soát Chất Lượng (Qc) Chuẩn Cho Cấp Quản Lý
  • Nhiệm Vụ Và Công Việc Của Nhân Viên Qc Trong Nhà Máy
  • Xã Hội Học Đại Cương 2
  • Hành Vi Xã Hội Và Kiểm Soát Xã Hội. Các Hình Thức Và Chức Năng Của Kiểm Soát Xã Hội
  • Trật Tự Xã Hội, Lệch Lạc Xã Hội Và Kiểm Soát Xã Hội
  • 1.3. Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Những Hiểu Biết Cơ Bản Về Viện Kiểm Sát
  • Chức Năng, Quyền Hạn, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Khi Kiểm Sát Điều Tra Vụ Án Hình Sự
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Lễ Tân Khách Sạn
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Các Bộ Phận Trong Khách Sạn
  • Theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013 Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

    Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ở địa phương mình. Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật. Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng những công tác sau đây.

    1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

    2. Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;

    3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;

    4. Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;

    5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân;

    6. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

    Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố. Hoạt động thực hành quyền công tố chỉ diễn ra trong hai giai đoạn của tố tụng hình sự là giai đoạn điều tra các vụ án hình sự và giai đoạn xét xử các vụ án hình sự. Hoạt động công tố được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình tố tụng hình sự nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người không có tội.

    Theo quy định tại Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

    1. Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; Yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;

    2. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật;

    3. Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;

    4. Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật;

    5. Huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra;

    6. Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

    Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

    2. Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm;

    3. Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm.

    Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện thông qua các hoạt động kiểm sát cụ thể như sau:

    công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, bao gồm các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

    , kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, bao gồm các hoạt động: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án và quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật; yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị.

    , kiểm sát việc giải quyết của Tòa án đối với các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, các vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật.

    kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, bao gồm các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Về Ý Nghĩa Ba Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Văn Học Nghệ Thuật Và Chức Năng
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì?
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm Mỹ. Anh (Chị) Hiểu Gì Về Ba Chức Năng Đó? Phân Tích Một Tác Phẩm Tr
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100