Top 17 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Của Tuyến Giáp Lớp 8 / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Chức Năng Của Tuyến Giáp Là Gì? / 2023

Tuyến giáp là tuyến hình bướm nhỏ nằm ở phía trước cổ, dưới thanh quản. Tuyến giáp có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của cơ thể. Tuyến giáp sản xuất 3 loại hormone và phóng thích vào máu, giúp tăng tốc độ trao đổi chất của cơ thể và kiểm soát lượng canxi trong máu.

Khi tuyến giáp hoạt động kém hiệu quả hoặc suy yếu sẽ dẫn đến mắc các bệnh tuyến giáp. Bệnh tuyến giáp gồm cường giáp và suy giáp là vấn đề phổ biến gây ra mất cân bằng hormone tuyến giáp trong cơ thể. Bệnh xảy ra khi tuyến giáp trở nên hoạt động quá mức (cường giáp) hoặc hoạt động kém (suy giáp).

Chức năng của tuyến giáp là gì?

Như đã nói ở trên, tuyến giáp giữ chức năng quan trọng đối với sự sống của cơ thể. Tuyến giáp sản xuất 3 loại hormone và phóng thích vào máu, có tác dụng tăng tốc độ trao đổi chất của cơ thể và giúp kiểm soát lượng canxi trong máu. Cụ thể:

Tăng cường quá trình trao đổi chất, kích thích sinh trưởng phát dục.

Kích thích hoạt động của tim, tăng cường sự co bóp.

Tác động chức năng hoạt động tuyến sinh dục và tuyến sữa.

Điều hòa quá trình tạo nhiệt, làm tăng đường huyết.

Kích thích sự phát triển và hoàn thiện hệ thần kinh ngay từ khi còn trong bào thai.

Các bệnh lý tuyến giáp thường gặp

Cường giáp

Nguyên nhân gây cường giáp: Do rối loạn nội tiết (bệnh Basedow) thường gặp ở phụ nữ từ 30 – hơn 50 tuổi; sử dụng quá liều Iod trong quá trình trị bệnh; bệnh bướu cổ đa nhân nhiễm độc; u tuyến độc, viêm tuyến giáp, ăn quá nhiều iot, viêm tuyến yên…

Hầu hết, việc xuất hiện các nguyên nhân gây bệnh nói trên là do chế độ ăn uống thiếu hụt i – ốt, do di truyền bẩm sinh, do rối loạn sinh lý.

Triệu chứng của bệnh cường giáp:

-Cơ thể gầy sút dù ăn uống nhiều và đủ dinh dưỡng

-Tăng huyết áp

-Tây run

-Da ấm và ẩm, đổ nhiều mồ hôi dù trời không nóng nực.

-Mạch nhanh và tăng nhịp tim

-Tuyến giáp phì đại, mắt lồi

Hậu quả của cường giáp: Bị bệnh cường giáp khi mang thai sẽ ảnh hưởng tới cả bà mẹ và thai nhi như sinh non, nguy cơ tiền sản giật, suy tim do tim hoạt động quá sức; thai chết lưu, sẩy thai, thai chậm phát triển, dị tật bẩm sinh.

Biến chứng về tim là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của cường giáp. Biến chứng này, có thể gây ra các tình trạng như: rung nhĩ và suy tim xung huyết.

Nếu không điều trị kịp thời cường giáp có thể dẫn đến xương yếu, dễ gãy. Điều này được gây ra bởi quá nhiều hoocmon tuyến giáp, cản trở khả năng kết hợp canxi vào cơ thể.

Các biến chứng về cường giáp cấp gồm đau tim, khó thở và thậm chí gây ra tình trạng mê sảng, hôn mê.

Suy giáp

Nguyên nhân: Suy giáp là bệnh tự miễn, bị cắt bỏ tuyến giáp, thiếu iod, sử dụng thuốc kháng giáp trạng hoặc do sự thay đổi nội tiết tố.

Triệu chứng: Giảm nhu động ruột, nhịp tim, tuần hoàn, trầm cảm,

Hậu quả của suy tuyến giáp: Phụ nữ mang thai bị suy tuyến giáp có thể bị tiền sản giật, bất thường bánh nhau, chảy máu nhiều sau sinh; trẻ sinh ra bị đần độn, kém phát triển về thể chất, trí tuệ, nhẹ cân…

Để biết thêm thông tin cũng như để được tư vấn trực tiếp về chức năng của tuyến giáp, bạn đọc vui lòng liên hệ Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc theo số điện thoại 024. 383. 55555 hoặc 1900 55 88 92 để được giải đáp.

Thảo Luận:chức Năng Của Hormon Tuyến Giáp / 2023

Chào anh Tiếp, Tôi có hơi thắc mắc một chút về thuật ngữ anh dùng, mong anh giải thích giúp. Theo tôi hiểu thì “mô bào” (histiocyte) là những tế bào của hệ miễn dịch, nói nôm na là tế bào đại thực bào cố định tại mô như tế bào hình sao ở não, tế bào Kuffer tại gan, Langerhans ở dưới da, tế bào bụi ở phế nang…Liệu chữ anh dùng ở đây (để chỉ các tế bào khác trong cơ thể) có gây nhầm lẫn cho người đọc hay không? Xin cảm ơn anh! (Cuối tuần vừa rồi tôi ở Göttingen, có ý tìm gặp anh nhưng rất tiếc là không gặp). Thân mến Vietmed 03:59, ngày 05 tháng 12 năm 2006 (CST)

Chào anh Khôi,

Tôi cũng cân nhắc mãi về cách chuyển ngữ các từ như “issue cell”, “histiocyte” v.v. vì thực tế các tài liệu của ta dùng rất khác nhau.

Tôi dùng “mô bào” để thay thế cho các cụm từ như “tissue cells” , cells of … tissue”…trong đa số tài liệu hiện nay. Nếu dùng đầy đủ phải là “tế bào của các mô…” hay “tế bào thuộc mô…”.v.v. Ở đây tôi học cách rút gọn của nhiều thầy cô đi trước dùng khi giảng bài và cả khi viết sách. Lâu rồi thành quen nên quên mất không viết đầy đủ lần đầu tiên trong bài rồi mở ngoặc ghi cách viết gọn. Tôi sẽ thêm chú thích vào bài viết. Nếu anh hoặc ai đó tìm được cách chuyển ngữ nào hay, chính xác và không gây nhầm lẫn thì ta sẽ đưa vào bài.

Cũng theo cách hiểu của tôi, histiocyte chỉ các macrophage và các dòng tế bào Langerhans (Langerhans cell lineages) (thường có mặt trong các mô liên kết). Nó cũng có tiền tố histio- mang nghĩa mạng lưới (web) và mô (tissue). Có tài liệu cho rằng nó mang giản nghĩa của histo- (tiền tố được dùng thông dụng khi nói về mô). Có lẽ vì thế nên histocyte chỉ được dùng để khi nói về các loại tế bào ở trên! Liệu histio- có mang nghĩa bao trùm để chỉ tất cả các mô không anh Khôi nhỉ? Nếu ta phải chuyển nó sang tiếng Việt thì nên dùng từ nào cho ngắn gọn lại hợp lý?

Mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi và bổ sung của anh. Veterinary

Xin lỗi anh Tiếp vì mấy bữa nay bận quá không vào VLOS,

Trong các từ điển (thông dụng lẫn y khoa), histiocyte được dịch là Mô bào. Anh Tiếp có thể kiểm tra lại điều này dễ dàng. Có lẽ anh không phản đối khi bộ môn Histology được thống nhất gọi trong tiếng Việt là Mô học. Anh cũng có thể dễ dàng kiểm tra trên một số từ điển online là Histology đồng nghĩa với Histiology mặc dù thuật ngữ đầu được sử dụng nhiều hơn.

Cũng như anh, tôi có xem trên một số tài liệu trên mạng, chủ yếu do người Việt ở nước ngoài viết, chữ mô bào được hiểu theo cách tissue cells. Tuy nhiên cái đó ít hơn. Theo tôi hiểu thì tế bào luôn thuộc một mô nào đó nên việc dùng thuật ngữ tisue cells chỉ xuất hiện hãn hữu trong một bối cảnh nhất định nào đó (như trong bài của anh là để phân biệt với tế bào có chức năng nội tiết là tế bào tuyến giáp). Cách hiểu của tôi về các tissue cells ở đây là các tế bào đích mặc dù tế bào đích thực sự là target cells nhưng ở đây là vẫn có thể hiểu như vậy được.

Tôi có một anh bạn là bác sĩ người Hy lạp nên có hỏi về vấn đề này. Anh bảo histio- vốn có nghĩa gốc trong tiếng hy lạp là cột (mast). Nhưng trong quá trình sử dụng thuật ngữ ở các nước khác thì histio- lại được sử dụng đồng nghĩa với histo-.

Chào Vietmed,

Tuyến Giáp Nằm Ở Đâu? Chức Năng Nhiệm Vụ Hormon Tuyến Giáp / 2023

Tuyến giáp được biết đến là một tuyến nội tiết lớn nhất cơ thể, nằm ở phía dưới cổ, ngang hàng với đốt sống cổ 5 đến đốt sống ngực, phía dưới có lớp da và cơ thịt, phía sau giáp khí quản.

Chức năng chính của tuyến giáp là tiết 2 loại hormone Thytoxine (T4) và Triiodothyronine (T3). Đây là 2 loại hormon đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hòa sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể cũng như thúc đẩy sự hoạt động và trưởng thành của mọi loại tế bào. Chúng nhận sự ảnh hưởng điều hòa của hormon TSH từ tuyến yên trên não.

Theo các nhà nghiên cứu, hình ảnh của tuyến giáp có dạng như con bướm bao gồm 2 thùy được nối với nhau bởi eo tuyến giáp. Trọng lượng của tuyến giáp ở mỗi người là khác nhau, thường giao động khoảng từ 10 – 20gr.

Chức năng của hormon tuyến giáp

Trên thực tế, khoảng 90% hormon do tuyến giáp tiết ra là thyroxin và 10% còn lại là triiodothyronine. Tỷ lệ này thường có sự thay đổi trong máu và các mô bào.

Mặc dù tỷ lệ chênh lệch giữa hai loại hormon tuyến tiết ra khá cao, tuy nhiên vai trò của chúng lại tương dương nhau. Cả hai loại hormone này đều làm ảnh hưởng đến việc tăng cường các phản ứng trao đổi chất và kích thích tăng trưởng đối với trẻ nhỏ.

Tăng cường các phản ứng trao đổi chất

Hormon tuyến giáp làm tăng trao đổi chất ở hầu hết các loại mô bào (ngoại trừ ở não, lách, dịch hoàn và phổi). Khi một lượng lớn hormon tuyến giáp được tiết ra sẽ khiến cho tốc độ các phản ứng trao đổi chất trong cơ thể có thể tăng lên từ 60 – 100% so với mức bình thường.

Điều này tác động đến hoạt động của hầu hết các tuyến nội tiết khác như làm tăng tổng hợp protein, tăng vận chuyển ion qua màng tế bào hay tác động đến hệ thống enzyme tế bào và ty thể. Tuy nhiên, hiện nay nhiều cơ chế dẫn đến tác động này vẫn đang trong quá trình nghiên cứu.

Kích thích tăng trưởng đối với trẻ nhỏ

Một trong những vai trò vô cùng quan trọng của hormone tuyến giáp đó là ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cơ thể. Điều này xảy ra rõ ràng nhất trong giai đoạn trẻ còn nhỏ.

Ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ

Theo nghiên cứu của các bác sĩ, những trẻ nhỏ bị thiểu năng tuyến giáp, quá trình phát triển sẽ bị chậm lại, thậm chí ở một số trường hợp là dừng lại hẳn.

Còn với những trẻ bị cường tuyến giáp, nghĩa là tuyến giáp hoạt động quá mức thì sẽ dẫn đến tình trạng phát triển nhanh, trẻ lớn hơn các bạn cùng trang lứa một cách bất thường. Điều này không hề tốt bởi khi trẻ phát triển quá sớm, đĩa sinh trưởng của xương có thể hợp nhất với phần thân xương từ rất sớm và dẫn đến giảm chiều cao ở tuổi trưởng thành.

Gây tác động đến sự phát triển não bộ của trẻ

Hormone tuyến giáp có khả năng tác động gây kích thích bộ não phát triển trong thời kỳ bào thai và trong những năm đầu tiên sau khi trẻ chào đời.

Nếu tuyến giáp của bào thai không tiết ra đủ hormone, bộ não của trẻ sẽ chậm phát triển lại trong suốt thời kỳ bào thai và cả những năm đầu tiêu sau khi chào đời. Và nếu các bậc phụ huynh không kịp thời áp dụng liệu pháp hormone tuyến giáp cho trẻ thì trẻ có thể phải sống trong tình trạng thiểu năng trí tuệ suốt đời.

Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của các nhà khoa học, sự hoạt động của hormon tuyến giáp còn ảnh hưởng đến nhiều cơ chế đặc biệt trong cơ thể như: Quá trình trao đổi carnohydrate, quá trình trao đổi chất béo; mỡ trong máu và trong gan; trao đổi vitamin; tốc độ trao đổi chất; khối lượng cơ thể; hệ tim mạch; hô hấp; tiêu hóa; hệ thần kinh trung ương; chức năng cơ; giấc ngủ; các tuyến nội tiết khác và chức năng sinh dục…

Lời khuyên của bác sĩ về hormone tuyến giáp

Có thể nói rằng hormone tuyến giáp là loại hormone vô cùng quan trọng. Do đó, việc tìm hiểu về loại hormon này sẽ giúp chúng ta ngăn chặn các bệnh lý nguy hiểm ở tuyến giáp có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của bản thân.

Theo các chuyên gia y tế, trong bất cứ trường hợp nào, khi phát hiện những dấu hiệu bất thường ở vị trí tuyến giáp. Chúng ta đều nên tiến hành kiểm tra để có thể nhanh chóng xác định bệnh cũng như áp dụng cách điều trị phù hợp. Đặc biệt, bản thân mỗi người đều nên duy trì thói quen thăm khám sức khỏe định kỳ để có thể phát hiện những thay đổi bất thường của hormon tuyến giáp để có thể tầm soát kịp thời và hiệu quả.

[addtoany]

Rối Loạn Chức Năng Tuyến Giáp / 2023

Sự cân bằng giữa sản xuất tại trung tâm và hoạt động của T3 và T4 ở ngoại biên là cần thiết cho tình trạng bình giáp. Suy giáp thường kết hợp với quá trình giảm sản xuất hormone tuyến giáp, mặc dù tình trạng giới hạn hoạt động của chúng ở ngoại biên có thể xảy ra. Ở các nước kém phát triển, tình trạng thiếu iod có thể giải thích phần lớn nguyên nhân suy giáp. Ở các nước phát triển, nguyên nhân suy giáp chủ yếu do bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto, điều trị quá liều phóng xạ iod hay sau mổ cắt tuyến giáp. Một số nguyên nhân khác, ngày càng nhiều, như dùng thuốc làm giảm chức năng tuyến giáp, đặc biệt là trong trường hợp dùng thuốc chống loạn nhịp tim như amiodarone. Các nguyên nhân hiếm gặp hơn như tình trạng khiếm khuyết tổng hợp hormone tuyến giáp do di truyền, bao gồm khiếm khuyết sản xuất men peroxidase và thyroglobuline. Các rối loạn phát triển tuyến giáp ở trẻ em bao gồm giảm sản hay thiểu sản tuyến giáp. Các rối loạn tại thần kinh trung ương do bệnh lý của tuyến yên hay vùng hạ đồi mà hậu quả là giảm TSH hay TRH. Đề kháng hormone tuyến giáp ở ngoại biên mà nguyên nhân có thể do giảm receptor cũng đã được mô tả.

Bướu giáp cộng đồng (endemic goiter)

Thiếu hụt iod có thể đưa đến một bệnh lý mà ta có thể phòng ngừa được đó là bướu giáp dịch tể, mà trong vài trường hợp có thể đưa đến chứng đần độn cộng đồng. Số lượng bệnh nhân có thể đến 1/3 dân số thế giới, đặc biệt là ở các nước kém phát triển.mà nguyên nhân là do thiếu hụt iod, và khoảng 12 triệu người bị tình trạng đần độn cộng đồng. Các nước Châu Á như Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc là những vùng có số người bị nguy cơ thiếu hụt Iod cao nhất trên thế giới, ít hơn là các nước Châu Âu như Italy, Tây Ban Nha, Hungary, Ba Lan và Nam Tư…Trong các vùng thiếu hụt Iod nặng, triệu chứng lâm sàng của bướu giáp xuất hiện ở độ tuổi rất trẻ. Tần suất tăng đặc biệt cao ở độ tuổi mới lớn hay dậy thì. Tần suất giảm ở độ tuổi trưởng thành; đặc biệt cao ở nữ giới.

Hậu quả của chuyển hóa do thiếu hụt Iod

Thay đổi sinh lý mạn tính do tình trạng thiếu hụt iod ảnh huởng đến một số thay đổi rõ rệt về cơ thể học và chuyển hóa. Sự giảm hấp thu iod lâu ngày có thể dẫn đến giảm sản xuất T3 và T4. Hậu quả là làm tăng từ từ sự thanh thải Iod ở tuyến giáp và giảm tiết ở thận. Do sự giảm sản xuất T3 hay gặp hơn T4 nện làm tăng quá trình chuyển T4 thành T3 ở ngoại vi. Do sự sản xuất T3 và thanh thải các hormone hoạt hóa chuyển hóa có hiệu lực, tình trạng suy giáp lâm sàng có thể tránh khỏi phần lớn các TH mà các xét nghiệm sinh hóa cho thấy giảm T4, tăng TSH và T3 gần ở mức bình thường. Trong các TH nặng, T3 và T4 có thể thấp, TSH cao. Trong tình huống này triệu chứng lâm sàng của suy giáp có thể xảy ra. Cùng với sự thay đổi về sinh lý do thiếu hụt Iod, phì đại tuyến giáp cũng có thể xảy ra. Các nang giáp phì đại, khoảng trống giữa các nang giảm. Khi thiếu hụt Iod nặng hơn, các nang trở nên bất hoạt và bị tràn ngập bởi các chất keo. Một số vùng có hiện tượng tăng sinh hạt và phát triển thành các nhân, một số thành nhân nóng và tự hoạt động, những nang khác thì bất hoạt và trì trệ. Hoại tử, xơ hóa hay xuất huyết có thể xảy ra tạo ra các tổ chức xơ. Tất cả các rối loạn này thường có sự phì đại của tuyến giáp và thường là không đồng nhất.

Suy giáp sau xạ trị

Suy giáp lâm sàng có thể từ quá trình điều trị phóng xạ Iod 131. Phương pháp điều trị này ngày càng phổ biến cho những bệnh nhân cường giáp, trong đó có bệnh Graves. Khoảng 50-70% các TH nhận liều điều trị hơn 10mCi có thể có biểu hiện suy giáp. Đối với những bệnh nhân này, theo dõi chức năng tuyến giáp hằng năm là cần thiết. Xạ trị ngoài trên những bệnh nhân Lymphôm trung thất hay ung thư đầu mặt cổ có thể gây ra suy giáp tiền lâm sàng. Điều đó rất quan trọng đối với những bệnh nhân đã được cắt tuyến giáp trước đó do bệnh lý tuyến giáp lành tính hay ác tính.

Suy giáp sau mổ

Phẫu thuật cắt tuyến giáp cho những bệnh nhân cường giáp hay bệnh Graves cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giáp. Cắt gần hết tuyến giáp hay trọn tuyến giáp có thể dẫn đến suy giáp sau mổ. Khả năng suy giáp vĩnh viễn xảy ra sau mổ phụ thuộc vào kỹ năng của phẫu thuật viên và khối lượng tuyến giáp bị cắt. Khả năng tổn thương thần kinh quặt ngược, hay suy tuyến phó giáp tăng dần với khối lượng tuyến giáp bị cắt. Các yếu tố khác tác động đến tình trạng suy giáp sau mổ bao gồm dùng thuốc kháng giáp, chế độ ăn kiêng iod và sự xâm nhập nang lympho (lymphocytic) ở mô giáp còn lại.

Suy giáp do thuốc Cytokines

Tác động của các cytokines trên viêm tuyến giáp có thể là nguyên nhân sinh bệnh và làm nặng thêm quá trình bệnh lý. Tác động chính xác của các cytokines trên bệnh lý viêm giáp Hashimoto là không rõ. Chỉ biết rằng, dùng interferon-alfa hay interleukin-2 điều trị một số bệnh lý ác tính có thể gây suy giáp và có thể hồi phục khi ngưng thuốc. Đây là điểm quan trọng cho các bệnh nhân viêm giáp Hashimoto và cần khai thác bệnh sử kỹ trên những bệnh nhân này.

Lithium

Điều trị một số rối loạn tâm thần đặc biệt là trầm cảm sợ hãi. Lithium có thể ức chế con đường tạo hormone phụ thuộc chu trình AMP. Suy giáp gặp nhiều trên những bệnh nhân Hashimoto dùng Lithium, mặc dù có thể gặp ở những bệnh nhân bình giáp.

Amiodarone

Điều trị hiệu quả trên những bệnh nhân rối loạn nhịp thất. Thuốc này chứa iod ở mức có thể làm nặng rối loạn chức năng tuyến giáp. Dùng thuốc kéo dài có thể gây viêm tuyến giáp và hậu quả là cường giáp và theo sau là tình trạng suy giáp thoáng qua. Tình trạng viêm giáp này thường kết hợp với tăng interleukine-6 huyết thanh, gợi ý quá trình đáp ứng viêm với cytokine. Rối loạn chức năng tuyến giáp nặng có thể xảy ra trên những bệnh nhân dùng amidarone đặc biệt là những bệnh nhân có tiên căn viêm giáp Hashimoto.

Thuốc kháng giáp

Các thuốc kháng giáp thông thường (carbimazole, methimazole, PTU) đều có thể gây suy giáp. Theo dõi cẩn thận những bệnh nhân dùng các loại này và biết được diễn tiến bệnh do chúng gây ra là bắt buộc khi theo dõi điều trị các bệnh nhân này.

Kháng hormone TG ở mô ngoại vi

Rối loạn có tính chất di truyền : kháng hormone TG ở mô ngoại vi có thể do bất thường receptor TG. Bất thuờng chức năng các receptor này có thể gây ra tình trạng suy giáp lâm sàng với tăng các hormone TG huyết thanh. Hai loại receptor là TR-α và TR-β được qui định trên 2 gen ở nhiễm sắc thể 17 và 3. Đột biến gen TR-β có vẻ như là nguyên nhân của hiện tượng này. TR-α có vẻ như không bị tác động bởi sự đột biến gen này.

Dấu hiệu lâm sàng và chẩn đoán suy giáp

Quá trình phát triển của thai và trẻ sơ sinh được bảo vệ khỏi tình trạng suy giáp nhờ sự thấm qua nhau thai của T4. Sau sinh, sự suy giảm chức năng TG nếu kéo dài có thể ảnh hưởng đến sự phát triển một cách rõ rệt và đôi khi không hồi phục : lớn chậm, chậm phát triển tâm thần, còi cọc. Đây có thể được xem là hội chứng đần độn (cretinism). Trong thời kỳ cuối của tuổi vị thành niên, suy giáp có thể gây ra giảm khả năng trí tuệ nhưng không hẳn là chậm phát triển tâm thần. Các dấu hiệu thực thể như sa trực tràng, chướng bụng hay thoát vị rốn cũng có thể xảy ra. Trong độ tuổi thanh niên, đây là tình trạng suy giáp thanh niên.

Ở độ tuổi trưởng thành, suy giáp tự nhiên thường xảy ra ở phụ nữ (80%) và diễn tiến âm thầm kết hợp với suy giảm chậm và từ từ chức năng. Trong đa số các TH, diễn tiến này gây ra bởi viêm tuyến giáp dạng nang bạch huyết (lymphocystic). Triệu chứng kinh điển là mệt, đau đầu, tăng cân, da khô, lông tóc dòn, và vọp bẻ. Diễn tiến nặng của bệnh có thể biểu hiện bệnh lý tim mạch như cao huyết áp, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi. Chướng bụng và táo bón là triệu chứng nặng của suy giáp. Thiếu máu gặp khoảng 12% TH

Chẩn đoán

Đối với những bn có triệu chứng mệt mỏi, táo bón hay những bất thường về tim mạch, định lượng các hormone TG là cần thiết. Giảm T3 và T4, tăng TSH và cholesterol là các XN kinh điển.

Điều trị

L-thyroxine an toàn và hiệu quả. Liều 100μg đường uống có tác dụng hiệu quả đối với các thay đổi rộng về trọng lượng cơ thể người lớn và chỉ số cơ thể (BMI). Bn suy giáp nặng cần theo dõi sát và bắt đầu tăng liều từ từ do sự nhạy cảm của hormone như là hậu quả của sự thiếu hụt lâu dài của các catecholamines trên cơ tim.

CƯỜNG GIÁP

Hiện tượnng tăng tiết hormone tuyến giáp dẫn đến tăng quá trình chuyển hóa của cơ thể. Tăng tiết TG có thể do sự thay đổi nguyên phát trong TG (bệnh Graves, u giáp nhân độc, toxic adenoma) hay các rối loạn TK trung ương với tăng sản xuất TSH kích thích TG. Phần lớn các nguyên nhân cường giáp là do bất thường nguyên phát. Ngoài ra cường giáp cũng có thể do dùng thuốc hormone TG, thai trứng với tăng tiết human chorionic gonadotropin, hoặc hiếm hơn là do bệnh lý ác tính TG tiết nhiều hormone TG.

1. Bệnh Graves

Phần lớn cường giáp do bệnh Graves (u giáp độc lan tỏa). Bệnh này được một nhà lâm sàng người Ailen mô tả năm 1835- Bs Robert Graves. Đa số bn là phụ nữ từ 20-40. Trong thập niên 60, nguyên bệnh sinh được cho là do tác động lâu dài của kháng thể kích thích TG., và hậu quả là tăng tiết quá mức hormone TG. Gần đây, người ta phát hiện nhiều loại kháng thể kích thích TG gắn kết với receptor TSH ở tế bào nang TG. Globulin miễn dịch kích thích TSH-receptor cùng lúc với các loại globulin miễn dịch khác ức chế TSH trên cùng loại receptor. Mặc dù có 1 vài giả thiết về quá trình kích thích TG của các kháng thể này, vẫn chưa có một sự thống nhất về nguyên nhân sinh bệnh. Vấn đề di truyền cũng có thể. Đã có những trường hợp bệnh Graves trên cặp song sinh cùng trứng hay khác trứng.

Bệnh học

Những bệnh nhân Graves có sự phì đại của TG với hiện tượng tăng sinh mạch máu. U có thể lan tỏa hay không đối xứng, do sự phát triển của một thùy có thể thấy được gây ra sự biến dạng vùng cổ ảnh hưởng đến thẫm mỹ. U có thể đẩy lệch hay chèn ép khí quản.Trên vi phẫu, người ta thấy các nang TG nhỏ với tăng sinh các cột biểu mô. Tăng sản các tế bào này kích thích phân chia nhân nhanh và các tuyến nhú của biểu mô nang TG trong trung tâm các nang TG. Tăng sự lắng đọng lymphoid ở mô cũng thường thấy trên các Bn Graves.

Chẩn đoán

Khối u giáp mềm lan tỏa và các triệu chứng cường giáp gợi ý chẩn đoán. Hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và các XN chức năng TG. T3 và T4 tăng, TSH giảm. Kháng thể tuyến giáp thường tăng. Chẩn đoán hình ảnh có thể cần thiết khi lâm sàng nghi ngờ. Iod phóng xạ 123 cho thấy sự hấp thu lan tỏa của u giáp. Siêu âm hay CT scan vùng cổ dùng để đánh giá các mốc giải phẫu. Tuy nhiên, sự cần thiết của hai phương tiện chẩn đoán hình ảnh trên trước mổ không được hoàn toàn đồng ý.

Điều trị

Khi đã chẩn đoán bệnh Graves, cần nhanh chóng điều trị. Đặc biệt là các bệnh nhân lồi mắt đe dọa đến thị lực. Có 3 pp cơ bản điều trị bệnh Graves : phóng xạ iod, phẫu thuật cắt bướu. và thuốc kháng giáp. Trong thập niên 80, phẫu thuật là pp phổ biến nhất để điều trị. Tuy nhiên, với sự phát triển của Iod phóng xạ và hiệu quả của thuốc kháng giáp đã nâng cao vai trò của điều trị không phẫu thuật, đặc biệt là ở Mỹ. Thật vậy, chỉ có một số ít bn cần phẫu thuật. Do vậy, Bn Graves cần được hướng dẫn kỹ về các lựa chọn pp điều trị, nguy cơ của mỗi pp và tiên lượng thành công.

Đây là pp điều trị được lưa chọn bởi phần lớn các bệnh nhân Graves tại Mỹ. Phần lớn sử dụng nhân Iod 131.Cần điều trị bằng thuốc kháng giáp để đưa về tình trạng bình giáp trước khi ĐT bằng phóng xạ từ 3-4 tuần.Sau đó thuốc điều trị cần chấm dứt để cho phép quá trình hấp thu Iod hoạt động. Một chương trình thử trước điều trị cần thực hiện để tính toán liều chính xác của Iod 131 bằng cách uống liều điển hình là 8-12mCi. Sau khi uống liều từ 10-15mCi, khả năng điều trị khỏi có thể đến 90%. Nếu liều đầu tiên thành công, đa số các Bn có chức năng TG bình thường mà không cần dùng thuốc trong 8-12 tuần. 10-15% bị suy giáp trong 12 tháng, với khả năng 3% tăng sau mỗi năm tiếp theo. Điều quan trọng là theo dõi các Bn sau điều trị Iod 131 bằng các test hormone TG và TSH.Chỉ định lý tưởng cho pp này là các Bn có bướu giáp nhỏ hoạc trung bình hoặc ở những Bn mà thuốc kháng giáp không tác dụng. Chỉ định cho các Bn từ chối phẫu thuật hoặc chống chỉ định phẫu thuật.Ngoài ra còn chỉ định cho nhóm Bn bị tái phát sau mổ hay dùng thuốc. Đồng vị phóng xạ Iod có thể không hiệu quả tốt trên những Bn trẻ, bao gồm cả thanh niên, hay những Bn có bướu giáp to.Chống chỉ định cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú. Hoàn toàn không có chống chỉ định cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Thuận lợi của Iod phóng xạ là tránh phẫu thuật, nguy cơ tổn thương thần kinh quặc ngược, suy giáp sau mổ hay tái phát sau mổ. Bất lợi của PP này là có 10% các TH suy giáp ban đầu và tăng dần về lâu dài, cần ĐT bằng hormone thay thế, và tần suất cao tái phát sau lần ĐT đầu tiên và cần ĐT tiếp Iod 131. Các bất lợi khác là làm nặng thêm tình trạng rối loạn nhịp tim, đặc biệt là ở những Bn lớn tuổi, có khả năng hư thai ở sản phụ,nặng thêm tình trạng mắt, và hiếm hơn là cơn bão giáp có thể đe dọa tính mạng Bn.

Tác động chính của các loại thuốc kháng giáp PTU, methimazole, carbimazole là ức chế sự tổ chức hóa của Iod trong tuyến giáp cũng như ức chế sự gắng kết các phân tử iodotyrosine để tạo ra T3 và T4.Ngoài ra PTU có vẻ còn có tác dụng chống chuyển T4 thành T3 ở ngoại biên. Tác động của T3 và T4 tại ngoại biên trên tuần hoàn và chuyển hóa, do đó thuốc ức chế sự chuyển T4 thành T3 ở ngoại biên có tác dụng kiểm soát được các triệu chứng do cường giáp. Ngoài ra, tác dụng adrenergic ở ngoại biên do cường giáp có thể kiểm soát bằng β-blocker như propanolol. Trong hoàn cảnh cấp, steroid và β-blocker phối hợp làm tăng khả năng kiểm soát các tác dụng của việc tăng T3 và T4 ngoại biên. Điều trị nội khoa các TH độc giáp nặng bằng β-blocker như propanolol, đặc biệt điều trị nhanh nhịp tim.Propylthiouracil, carbimazole, hay methimazole có thể kết hợp và cần theo dõi sát nồng độ T4 và TSH. Nếu sau vài tuần, Bn có biểu hiện suy giáp trên lâm sàng và XN, hormone thay thế cần sử dụng một cách cẩn thận. Thuốc kháng giáp có tác dụng kiểm soát cường giáp nhanh nhưng tỉ lệ tái phát rất cao (50%) sau khi ngừng thuốc 12-18 tháng. Bn cần được theo dõi sát các tác dụng phụ của thuốc, đặc biệt là PTU. Các thuốc này có thể gây các rối loạn huyết học nặng bao gồm giảm bạch cầu hạt, hiếm hơn như thếu máu suy tủy. Các tác dụng phụ khác như sốt, viêm đa khớp, nổi ban đỏ.

Thuận lợi của phẫu thuật cắt tuyến giáp là nhanh chóng đạt hiệu quả điều trị mà không cần thuốc và các tác dụng phụ của thuốc.Khối lượng mô giáp để lại vẫn đang còn tranh cãi. Cắt hết mô giáp đòi hỏi phải thực hiện cắt bướu giáp toàn phần mà nguy cơ cao gây suy giáp, tổn thương thần kinh quặc ngược. Một vài nhóm tác giả cho rằng cắt TG toàn phần là một pp điều trị hiệu quả nhất bởi vì nó giảm hẳn tỉ lệ tái phát.Điều đó có nghĩa là những Bn cường giáp, đặc biệt là có bệnh lý mắt kèm theo, sẽ có thể hết bệnh với cắt toàn phần TG. Lấy tất cả các ổ antigenic có vẻ như là cách giải thích tốt nhất cho quan niêm này. Các pp khác như cắt gần hết ( cắt toàn bộ 1 thùy và chừa lại 1 mép mô giáp ở thùy đối bên) hay cắt bán phần (để lại 2 mép mô giáp ở hai bên thùy).1-2g mô giáp để lại tùy thuộc phẫu thuật viên giúp giảm thiểu nguy cơ tổn thương thần kinh quặc ngược nhưng có nguy cơ tái phát chính trên phần còn lại.Các Bn có chỉ định phẫu thuật bao gồm những Bn thất bại với điều trị bằng iod phóng xạ hay thuốc kháng giáp.Các Bn trẻ tuổi, đặc biệt là thanh thiếu niên, phụ nữ có thai hoặc những Bn có bướu giáp to cần phải phẫu thuật.Bn bị biến dạng cổ do bướu làm mất thẫm mỹ hoặc các TH chèn ép khí quản gây khó chịu cần phải phẫu thuật. Trước mổ cần giải thích cho Bn các nguy cơ bao gồm suy tuyến cận giáp, tổn thương TK quặc ngược cũng như khả năng tái phát nếu thực hiện pp cắt gần hết TG. Trước phẫu thuật, cần điều trị về bình giáp bằng các thuốc kháng giáp và có thể kết hợp với β-blocker. Cần sử dụng dung dịch Lugol trong vòng 7 ngày nhằm làm giảm các mạch máu tăng sinh trong mô giáp. Cần kiểm tra tình trạng bình giáp đối với tất cả các Bn trước mổ. Nếu Bn không được điều trị đúng, có nguy cơ bị cơn bão giáp có thể đe dọa đến tính mạng. Cơn bão giáp biểu hiện bằng nhanh nhịp tim nặng, sốt, lú lẫn, ói đến mất nước và kích thích quá mức adrenergic dẫn đến lơ mơ và hôn mê. Cơn bão giáp xảy ra sau cắt tuyến giáp trên những bn chưa kiểm soát được tình trạng cường giáp. Phương pháp điều trị chống cơn bão giáp tốt nhất là phòng ngưa và chuẩn bị trước mổ. Hơn nữa, các bn khi được gây mê cần được kiểm tra tình trạng cường giáp, mà chưa được chẩn đoán nếu lâm sàng nghi ngờ.. Điều trị cơn bão giáp bao gồm truyền dịch nhanh và nhanh chóng cho thuốc kháng giáp, β-blocker, dung dịch iod và steroid. Trong TH nguy hiểm tính mạcng, có thể thẩm phân phúc mạc hay lọc thận để làm giảm nồng độ T3 và T4.

2. Bướu giáp nhân độc – toxic adenoma

BG nhân độc còn được gọi là bệnh Plummer, đó là 1 nhân giáp nằm trong tuyến giáp lan tỏa mà chức năng họat động độc lập. Bệnh thường xảy ra trên những bệnh nhân có bướu giáp cộng đồng. Những bệnh nhân này thường ở độ tuổi trung bình hay già hơn các Bn Graves. Tuyến giáp Bn này thường to lan tỏa hay kết hợp có bướu thòng trung thất. Triệu chứng cường giáp thường nhẹ, T3 và T4 tăng, TSH giảm. Kháng thể kháng giáp thường giảm. Chẩn đóan dựa vô các triệu chứng lâm sàng và xạ hình I 131 thường cho thấy 1 hay 2 vùng họat động tự động trong khi đó những vùng còn lại họat động yếu. Điều trị bướu giáp nhân độc thường là cắt bỏ vùng độc bằng cách cắt thùy hay cắt gần hết TG, đặc biệt trong TH có triệu chứng báo động. Trong TH bướu giáp nhân đơn độc (adenom), cắt thùy là hiệu quả. Thuốc kháng giáp có thể kiểm sóat TC cường giáp nhưng tái phát cao. Đồng vị phóng xạ Iod không có tác dụng giống như trong bệnh Graves.