Chính Sách Tiền Tệ Trong Nền Kinh Tế Vĩ Mô

--- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Của Thị Trường Chứng Khoán
  • Chức Năng Của Thị Trường Chứng Khoán
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Thị Trường Chứng Khoán
  • Thị Trường Chứng Khoán (Stock Market) Là Gì? Chức Năng Và Phân Loại
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Công Ty Chứng Khoán
  • Chính sách tiền tệ cùng chính sách tài khóa là những chính sách quan trọng nhất của kinh tế vĩ mô. Trong bài viết ngày hôm nay, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về tiền tệ và chính sách tiền tệ. Cơ chế tác động và hiệu quả của chính sách tiền tệ ra sao, và sự khác biệt giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa như thế nào.

    I. Tổng quan về tiền tệ

    1. Tiền được định nghĩa là “bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để đổi lấy hàng hóa hay dịch vụ hoặc sử dụng trong việc trả các món nợ”.

    Tiền là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ. Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (Ví dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.

    Tiền thường được nghiên cứu trong các lý thuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hội học.

    2. Lịch sử phát triển

    – Hóa tệ (tiền tệ hàng hóa): phi kim đến kim loại (vàng, bạc)

    → Tiền giấy: đổi đươc ra vàng đến không đổi được ra vàng (tiền pháp định) → Tiền tín dụng (séc) → Tiền điện tử

    3. Chức năng của tiền:

    → tiền là bất kỳ cái gì mà có thể thực hiện được 3 chức năng nêu trên

    4. Đo lường khối lượng tiền

    (Ở các nước phát triển còn có M3: bao gồm M2 và các loại giấy tờ có giá khác như: cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu…)

    Người ta chia tiền thành M0, M1, M2 dựa trên khả năng thanh khoản (liquidity) của các thành phần tạo nên chúng. Khả năng thanh khoản hay tính hoán đổi của một tài sản đề cập đến mức độ dễ dàng để chuyển tài sản đó thành phương tiện trao đổi trong mua bán, trả nợ (tiền)

    II Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và cung tiền

    NHTM là một loại hình trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ sau đây:

    – Nhận tiền gửi và cho vay (cho vay tiêu dùng, cho vay thương mại, cho vay sản xuất, cho vay đầu tư)

    – Cung cấp các dịch vụ và phương tiện thanh toán

    – Buôn bán, trao đổi ngoại tệ

    2. Lịch sử phát triển của NHTM

    3. Cơ sở tiền tệ và cung tiền

    – Cung tiền (MS – monetary supply)

    trong đó Cu là lượng tiền mặt ngoài hệ thống NH, D là giá trị của các tài khoản tiền gửi trong NH → MS chính là M2

    – Cơ sở tiền tệ (B – monetary base, high powered money/Ho)

    trong đó R là lượng tiền mặt dự trữ của hệ thống NH → B chính là M0: số tiền mà NHTW phát hành

    4. Hoạt động ngân hàng thương mại và quá trình tạo tiền

    Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc dự trữ 100%

    Nếu không có ngân hàng trong nền kinh tế thì cung tiền bằng lượng tiền mặt vì không có tiền gửi. Điều tương tự xảy ra khi NHTM hoạt động theo nguyên tắc dự trữ 100% R = D

    Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc dự trữ một phần và quá trình tạo tiền

    – Ngân hàng dự trữ 10% số tiền gửi

    – Người dân không giữ tiền mặt mà gửi hết vào ngân hàng

    Số lần lượng tiền trong nền kinh tế tăng lên do hoạt động của hệ thống ngân hàng tạo ra từ một đồng mà Ngân hàng trung ương bơm vào lưu thông được gọi là số nhân tiền

    Trong ví dụ ở trên số nhân tiền sẽ bằng 1/tỷ lệ dự trữ = 10, có nghĩa là ban đầu NHTW bơm thêm vào lưu thống 1000 triệu VND thì số lượng cung tiền tăng thêm thực tế (do hoạt động tạo tiền của hệ thống NHTM tạo ra) gấp 10 lần: 10.000 triệu VND

    Xét mối quan hệ giữa MS và B

    Những yếu tố có tác động đến lượng cung tiền trong nền kinh tế

    – Cơ sở tiền tệ (B): cơ sở tiền tệ tăng/giảm thì lượng cung tiền tăng/giảm

    – Số nhân tiền mM:

    • rr: rr bao gồm rrr (tỷ lệ dự trữ bắt buộc) và err (tỷ lệ dự trữ dôi ra); rr tăng/giảm thì mM giảm/tăng
    • cr: cr tăng/giảm thì mM giảm/tăng

    6. Ngân hàng trung ương và các công cụ điều tiết cung tiền

    – Khái niệm: Ngân hàng trung ương là một định chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực tiếp thuộc chính phủ; thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng.

    + Chức năng của ngân hàng quốc gia: ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các ngân hàng (mở tk tiền gửi cho các NHTM, cấp tín dụng cho các NHTM, trung tâm thanh toán bù trừ), ngân hàng của cp (mở tài khoản cho kho bạc, quản lý dự trữ quốc gia, cấp tín dụng cho cp, làm đại diện cho chính phủ).

    + Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng: xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, thanh tra giám sát hoạt động của hệ thống NH (đảm bảo sự ổn định của hệ thống NH, bảo vệ khách hàng).

    – Các công cụ điều tiết cung tiền của NHTW:

    + Nghiệp vụ thị trường mở (open market operation)

    + Tỷ lệ dự trữ bắt buộc (reserve requirement)

    + Lãi suất (tái) chiết khấu (discount rate)/Lãi suất tái cấp vốn (refund rate)

    NHTW không bao giờ có thể kiểm soát được lượng tiền cung ứng một cách hoàn hảo, bởi vì NHTW không thể chi phối trực tiếp mọi nhân tố của số nhân tiền:

    + NHTW không kiểm soát được số lượng tiền mà các hộ gia đình nắm giữ dưới dạng tiền gửi tại các ngân hàng (cr)

    + NHTW cũng không thể kiểm soát được lượng tiền mà các ngân hàng cho vay (err)

    Ngoài ra còn có các công cụ khác trong CSTT: hạn mức tín dụng, khung lãi suất, các công cụ về tỷ giá hối đoái (chế độ quản lý tỷ giá hối đoái, biên độ dao động của tỷ giá hối đoái)…

    III. Thị trường tiền tệ ( theory of liquidity pference – lý thuyết ưa thích thanh khoản của Keynes)

    3 động cơ của việc giữ tiền

    – Động cơ giao dịch (transaction motivation)

    – Động cơ dự phòng (reserve motivation)

    – Động cơ đầu cơ (speculation motivation)

    Lãi suất danh nghĩa với tư cách là chi phí cơ hội của việc giữ tiền. Lãi suất càng cao thì cầu tiền càng giảm, ngược lại lãi suất càng thấp thì cầu tiền càng cao

    Tác động của thu nhập đến cầu tiền

    • Thu nhập càng cao thì cầu tiền càng nhiều tại cùng một mức lãi suất
    • Thu nhập càng thấp thì cầu tiền càng thấp tại cùng một mức lãi suất

    → MD (monetary demand) = kY – hi

    Ngoài thu nhập làm dịch chuyển MD thì còn có các yếu tố khác cũng làm dịch chuyển MD:

    Phân biệt cầu tiền danh nghĩa, cầu tiền thực tế

    MDn (nominal Money Demand), là cầu tiền tính theo mức giá của kỳ nghiên cứu

    MDr (real Money Demand), là cầu tiền tính theo mức giá của kỳ gốc) không đổi.

    • P tăng → MDn tăng nhưng MDr không đổi
    • P giảm → MDn giảm nhưng MDr không đổi

    Đường MS dịch chuyển hoàn toàn do các quyết định về chính sách tiền tệ của NHTW

    Phân biệt cung tiền danh nghĩa cung tiền thực tế

    • Nominal MS được tính bằng số lượng tổng phương tiện thanh toán lưu thông trên thị trường
    • Real MS (MS/P) được tính bằng lượng hàng hóa được sử dụng riêng làm chức năng thanh toán hàng hóa dịch vụ và trả nợ (tiền)

    Cân bằng trên thị trường tiền tệ

    – Thị trường tiền tệ đạt cân bằng tại giao điểm của MS0 với MD0

    – Đường MS0 dịch chuyển khi NHTW thay đổi cung tiền, đường MD0 dịch chuyển khi Y thay đổi

    – Thị trường tiền tệ đạt cân bằng tại giao điểm của MS/P với MDr

    – Đường MS/P dịch chuyển khi NHTW thay đổi cung tiền MS hoặc P thay đổi, đường MDr dịch chuyển khi Y thực tế thay đổi

    + Mô hình với trục tung là lãi suất danh nghĩa: P thay đổi sẽ tác động vào cầu tiền là đường cầu tiền dịch chuyển (P tăng chúng ta cần nhiều tiền hơn để chi tiêu dẫn đến cầu tiền tăng và ngược lại)

    + Mô hình với trục tung là lãi suất thực tế: P thay đổi sẽ tác động vào cung tiền thực tế làm đường cung tiền thực tế dịch chuyển còn cầu tiền thực tế không bị tác động do cầu tiền thực tế lấy theo giá của thời kỳ gốc

    Mở rộng: Cân bằng trong thị trường tài sản (asset market)

    Asset market = monetary asset market(1) + non-monetary assets market(2)

    (1): MD và MS (2): NMD và NMS

    Asset market cân bằng khi (MD+NMD) = (MS+NMS)

    hay (MD – MS) + (NMD – NMS) = 0 (*)

    Nói cách khác khi MD=MS thị trường tài sản tiền tệ cân bằng thì NMD = NMS thị trường tài sản phi tiền tệ cân bằng và đương nhiên tổng thị trường tài sản cân bằng

    3. Mở rộng: Các chỉ tiêu về Tiền tệ trong Hệ thống chỉ tiêu quốc gia

    • Tổng phương tiện thanh toán (M2); tốc độ tăng M2
    • Tỷ lệ M2 so với GDP
    • Số dư huy động vốn của các tổ chức tín dụng
    • Dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng
    • Tốc độ tăng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng
    • Lãi suất (cơ bản, liên ngân hàng, cho vay, huy động)
    • Cán cân thanh toán quốc tế (BOP)
    • Tỷ lệ cán cân vãng lai so với GDP
    • FPI vào Việt Nam và Việt Nam ra nước ngoài
    • Tỷ giá hối đoái VNĐ so với USD liên ngân hàng
    • Dự trữ ngoại tệ của Nhà nước (dự trữ ngoại hối)

    IV Chính sách tiền tệ (Monetary policy)

    Chính sách tiền tệ (CSTT) là những hành động của Ngân hàng trung ương nhằm quản lý cung tiền và lãi suất với mục đích theo đuổi các mục tiêu kinh tế vĩ mô

    • CSTT mở rộng (expansionary monetary policy): là CSTT của NHTW làm tăng cung tiền, giảm lãi suất
    • CSTT thắt chặt (contractionary monetary policy): là CSTT của NHTW làm giảm cung tiền, tăng lãi suất

    – Ổn định giá cả

    – Tỷ lệ thất nghiệp thấp

    – Tăng trưởng kinh tế

    – Ổn định thị trường tiền tệ và giám sát hoạt động của các tổ chức tài chính

    3. Cơ chế tác động của CSTT

    Xét trường hợp CSTT mở rộng

    NHTW tăng cung tiền (MS0→MS1) làm giảm lãi suất (r0→r1)→ tăng đầu tư I (ngoài ra còn làm tăng C,NX) → dịch chuyển AD sang bên phải → sản lượng cân bằng tăng (Y0→Y1)

    Cách thức sử dụng: khi nền kinh tế rơi vào suy thoái

    Phân tích tương tự cho CSTT thắt chặt

    Tuy nhiên các nhà kinh tế học vẫn chưa thống nhất được về 2 vấn đề:

    + hiệu ứng số lượng: sản lượng tăng khi cung tiền thay đổi một lượng nhất định ra sao

    + các kênh qua đó chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế.

    Các kênh truyền tác động

    • Thường có tác động mạnh đến lãi suất ngắn hạn, ít có tác động tới lãi suất dài hạn
    • Phản ứng của các NHTM
    • Phản ứng của các nhà đầu tư (độ trễ của CSTT)
    • Bẫy thanh khoản
    • Kỳ vọng về nền kinh tế thấp khi suy thoái và cao khi nền kinh tế phát triển mở rộng thái quá

    5. Hiệu quả của CSTT: các yếu tố tác động

    Hệ số co dãn của cầu tiền với lãi suất, của cầu tiền với thu nhập: cầu tiền càng ít nhạy cảm với lãi suất, nhạy cảm thu nhập thì CSTT càng hiệu quả.

    Sự nhạy cảm của đầu tư với lãi suất: đầu tư càng nhạy cảm với lãi suất thì CSTT càng hiệu quả

    Giá trị của số nhân chi tiêu: số nhân chi tiêu càng lớn (đường APE dốc – MPC lớn, t nhỏ, MPM nhỏ) thì CSTT càng hiệu quả

    Ví dụ về trường hợp CSTT không hiệu quả

    V. Sự khác nhau giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

    1. Ảnh hưởng đến cơ cấu sản lượng

    + CSTK: tăng G, C trong ngắn hạn (demand side) trong đó G là chủ yếu (có thể thúc đẩy I, NX trong dài hạn nếu G đầu tư cho cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế… – supply side)

    + CSTT: tăng C, I, NX trong ngắn hạn trong đó I là chủ yếu

    2. Hiệu quả chính sách

    + CSTK: hiệu quả hơn CSTT khi nền kt rơi vào suy thoái; không hiệu quả bằng CSTT trong nền kinh tế mở (hiệu ứng lấn át lớn hơn là khi nền kinh tế đóng)

    + CSTT: không hiệu quả bằng CSTK khi nền kt rơi vào suy thoái; hiệu quả hơn CSTK trong nền kinh tế mở (tác động không những đến I, C mà đến cả NX)

    3. Độ trễ của chính sách

    + CSTK: có độ trễ trong (inside lag) lớn hơn CSTT

    + CSTT: có độ trễ ngoài (outside lag) lớn hơn CSTK

    VI. Các thuật ngữ quan trọng

    • Tiền (money), M0 M1 M2
    • Tính thanh khoản (liquidity)
    • Lý thuyết ưa thích thanh khoản (theory of liquidity pference)
    • Cung tiền (monetary supply) cầu tiền (monetary demand)
    • Chính sách tiền tệ (monetary policy) chính sách tiền tệ mở rộng (expansionary monetary policy) chính sách tiền tệ thắt chặt (contractionary monetary policy)

    VII. Mở rộng: Liquidity Trap

    Nếu điều này xảy ra người ta gọi hiện tượng đó là “Bẫy thanh khoản (liquidity trap)”

    Khi nào Liquidity trap xảy ra: về mặt lý thuyết, liquidity trap là trường hợp lãi suất danh nghĩa đã xuống quá thấp (gần zero), cộng với lạm phát âm khiến cash (tiền mặt) trở thành một công cụ tài chính hấp dẫn → mọi cố gắng của ngân hàng trung ương nới lỏng chính sách tiền tệ để kích thích đầu tư và tiêu dùng đều không có tác dụng.

    Hậu quả: Liquidity được bơm thêm vào hệ thống tài chính sẽ nằm yên trong các tài khoản ngân hàng thay vì được đem đi đầu tư. Tệ hại hơn, nhà đầu tư có thể sẽ chuyển số tiền này ra nước ngoài để mua tài sản với lợi tức cao hơn ( carry trades), càng làm chậm quá trình mở rộng tín dụng nhằm kích thích nền kinh tế

    Bài viết có sự tham khảo các nguồn trên Internet, tài liệu giảng dạy Kinh tế Vĩ mô các trường Đại học, các từ ngữ mang tính học thuật cao có phần hơi khó hiểu đối với bạn đọc, do tính chuyên ngành cao. Mong được sự chia sẻ và góp ý của các bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Kinh Tế Vi Mô
  • Đề Cương Môn Học Kinh Tế Vi Mô 2
  • Hn; Stgt Kinh Tế Hàng Hóa, Ql Cạnh Tranh
  • Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Trong Nền Kinh Tế Hàng Hóa, Tiền Tệ Không Có Chức Năng Nào Sau Đây?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Tiền Giấy Không Thực Hiện Được Chức Năng Cất Trữ?
  • Tiền Ảo Và Thách Thức Đối Với Chính Sách Tiền Tệ
  • Tiền Ảo Và Những Khía Cạnh Của Tiền Ảo
  • Việt Nam Không Chấp Nhận Tiền Ảo Là Tiền Tệ
  • Tiền Ảo Và Địa Vị Pháp Lý
  • Câu hỏi:

    Trong nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ không có chức năng nào sau đây?

    1. Ông A là giám đốc, ông S là phó giám đốc, chị M và anh Q là nhân viên, anh D là bảo vệ cùng làm việc tại công ty X. Trong một cuộc họp, chị M nêu ý kiến trái chiều nên đã bị ông A yêu cầu dừng phát biểu. Mặc dù vậy, chị M vẫn kiên quyết trình bày quan điểm của mình. Thấy vậy, ông S ép chị M dừng lại và chỉ đạo anh D đuổi chị ra ngoài. Có mặt trong cuộc họp, anh Q đã dùng điện thoại quay lại toàn bộ sự việc và chia sẻ với nhiều người. Những ai sau đây đã vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân?
    2. Cán bộ sở X là anh A điều khiển xe ô tô của cơ quan đi sai làn đường nhưng được cảnh sát giao thông là anh B bỏ qua lỗi vi phạm. Sau đó, xe ô tô do anh A điều khiển đã va chạm với chị V đang lưu thông ngược đường một chiều khiến chị V bị ngã gãy chân. Nhận được tin báo, chồng chị là anh D tự ý bỏ cuộc họp giao ban tại Ủy ban nhân dân xã và đến hiện trường vụ tai nạn rồi đập vỡ gương xe ô tô của anh A. Những ai sau đây đồng thời phải chịu trách nhiệm kỉ luật và dân sự?
    3. Ông S là giám đốc; anh B, anh D, chị A là nhân viên và chị Q là nhân viên tập sự cùng là việc tại công ty X. Anh D tố cáo việc anh B đe dọa chị A làm chị A đột ngột bỏ việc trốn đi biệt Vì thế, cán bộ cơ quan chức năng đến gặp ông S để xác minh sự việc. Cho rằng anh D cô tình hạ thấp uy tín của mình, ông S đã kí quyết định sa thải anh và phân công chị Q tạm thời đảm nhận phán việt của anh D. Những ai sau đây vi phạm quyền bình đẳng trong lao động?
    4. Chủ một cửa hàng thiết bị y tế là anh A đã nhờ chị N, chủ một đại lí thuốc tân dược, bán giúp một lô thuốc X không rõ nguồn gốc. Vì bị thanh tra liên ngành phát hiện và tịch thu toàn bộ lô thuốc X nên chị N không thanh toán tiền cho anh A và còn khai báo anh A là chủ nhân của lô thuốc đó khiến cho anh A vừa bị mất tiền, vừa bị cán bộ chức năng là ông B xử phạt. Biết sự việc này, chị G chia sẻ lên mạng xã hội. Những ai sau đây không tuân thủ pháp luật?
    5. Bà A là giám đốc, anh D là kế toán và chị B là nhân viên cùng công tác tại sở X. Vì tạm đình chỉ công tác của chị B sau ba lần chị nghỉ việc không có lí do nên bà A bị chị B cùng chồng là anh C liên tục nhắn tin đe dọa, Bức xúc, bà A cùng anh D bịa đặt thông tin chị B bị mất năng lực hành vi dân sự. Sau đó, bà A sử dụng lí do này để kí quyết định buộc thôi việc đối với chị B. Khi chị B yêu cầu anh D đính chính thông tin trên thì anh D đã từ chối đồng thời trì hoãn thanh toán các khoản phụ cấp của chị B. Hành vi của những ai sau đây có thể vừa bị khiếu nại, vừa bị tố cáo?
    6. Qua giới thiệu của anh A, bà C vay được 1 triệu đồng của ông B. Quá hạn trả nợ nhưng bà C chưa thanh toán mà còn tránh mặt anh A và ông B. Vì vậy, ông B mua hàng của chị D, con gái bà C, nhưng không trả 1 triệu đồng để trừ vào khoản nợ mà bà C đã vay. Bức xúc do không đòi được tiền, chị D ném chất thải vào nhà ông B. Những ai sau đây vi phạm pháp luật dân sự?
    7. Giám đốc một công ty tổ chức sự kiện là anh M yêu cầu nhân viên là anh S khống chế và giữ khách hàng là anh Q tại nhQuá hạn trả nợ nhưng bà C chưa thanh toán mà còn tránh mặt anh A và ông B. Vì vậy, ông B mua hàng của chị D, con gái bà C, nhưng không trả 1 triệu đồng để trừ vào khoản nợ mà bà C đã vay. Bức xúc do không đòi được tiền, chị D ném chất thải vào nhà ông B. Những ai sau đây vi phạm pháp luật dân sự?
    8. Tại một điểm bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, sau khi được chị N viết hộ chiếu bầu theo ý của mình, cụ M là người cao tuổi nhờ anh A bỏ giúp phiếu bầu đó vào hòm phiếu nhưng anh A lại nhờ chị T và được chị T đồng ý bỏ phiếu bầu của cụ M thay mình. Tranh thủ cơ hội này, chị T đã tự ý sửa phiếu bầu của cụ M theo ý mình rồi mới bỏ phiếu bầu đó vào hòm phiếu. Những ai sau đây vi phạm nguyên tắc bầu cử bỏ phiếu kín?
    9. Tại một điểm bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, sau khi độc lập viết phiếu bầu, anh Q nhờ chị B và được chị B đồng ý bỏ giúp phiếu bầu của anh vào hòm phiếu. Anh Q vi phạm nguyên tắc bầu cử nào sau đây?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Chính Và Tiền Tệ (P1: Tiền)
  • Khái Niệm, Chức Năng Và Quá Trình Phát Triển Của Tiền Tệ
  • Bai Giang Dien Tu Bai 2. Hang Hoa
  • Cách Tìm Bạn Trên Zalo Cho Windows Nhanh Nhất
  • Hướng Dẫn Cách Bật Tìm Bạn Quanh Đây Trên Zalo 2022
  • Vai Trò Của Chính Sách Tiền Tệ Đối Với Nền Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ. Trong Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Nền Kinh Tế Ở Vn, Các Chức Năng Đó Đã Được Nhận Thức Và Vận Dụng Như Thế Nào ?
  • Vai Trò Của Tiền Tệ Đối Với Nền Kinh Tế Quan Trọng Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Tiền Lương Là Gì? Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Lương
  • Lý Thuyết Tin Học 12 Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu (Hay, Chi Tiết).
  • Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Là Gì? Các Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Phổ Biến Nhất
  • Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý, hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiệp hay gián tiếp thông qua thị trường mở, quy định mức dự trữ bắt buộc hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối.

    Chính sách tiền tệ có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều tiết khối lượng tiền lưu thông trong toàn bộ nền kinh tế. Thông qua chính sách tiền tệ ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát được hệ thống tiền tệ để từ đó kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định sức mua của đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặt khác chính sách tiền tệ còn là công cụ để kiểm soát toàn bộ hệ thống các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng.

    Tạo ra công ăn việc làm

    Chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên. Tình hình đó đặt ra cho ngân hàng Trung ương trách nhiệm là phải vận dụng các công cụ của mình góp phần tăng cường mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh đồng thời phải tham gia tích cực vào sự tăng trưởng liên tục và ổn định khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá mức tăng thất nghiệp tự nhiên.

    Tăng trưởng kinh tế

    Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ. Sự tăng trưởng kinh tế thông qua hai yếu tố: Lãi suất và số cầu tổng quát. Khối tiền tệ tăng hay giảm đều có tác động mạnh đến lãi suất và số cầu tổng quát, từ đó tác động đến sự gia tăng đầu tư sản xuất và cuối cùng là tác động lên tổng sản lượng quốc gia, tức là tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế. Bởi vậy chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng hay giảm khối tiền tệ thích hợp.

    Ổn định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô. Ổn định giá cả giúp cho Nhà nước hoạch định được phương hướng phát triển kinh tế một cách có hiệu quả hơn vì loại trừ được sự biến động của giá cả. Ổn định giá cả giúp cho môi trường đầu tư ổn định góp phần thu hút vốn đầu tư, khai thác mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy các doanh nghiệp cũng như các cá nhân sản xuất đem lại nguồn lợi cho mình cũng như xã hội.

    Ổn định lãi suất

    Mong muốn có một sự ổn định lãi suất vì những biến động của lãi suất làm cho nền kinh tế bấp bênh và khó lập kế hoạch cho tương lai. Vì vậy, ổn định lãi suất chính là thực hiện lãi suất tín dụng cung ứng phương tiện thanh toán, cho nền kinh tế quốc dân thông qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền gửi của xã hội và với một hệ thống lãi suất mềm dẻo phải linh hoạt, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường.

    Ổn định thị trường tài chính

    Việc ổn định thị trường tài chính là mục tiêu rất quan trọng trong công tác điều hành nền kinh tế của mỗi chính phủ, ổn định thị trường tài chính cũng được thúc đẩy bởi sự ổn định lãi suất bởi vì biến động trong lãi suất có thể gây nên sự mất ổn định cho các tổ chức tài chính. Trong những năm gần đây những biến động mạnh của lãi suất là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với các hiệp hội tiết kiệm và cho vay đã gặp khó khăn về tài chính như chúng ta đã biết.

    Ổn định thị trường ngoại hối

    Thị trường ngoại hối là thị trường mà ở đó tiền tệ của các nước khác nhau được đem ra trao đổi với nhau, chính tại thị trường này tỷ giá hối đoái được xác định. Việc tỷ giá ổn định không chỉ có tác động tích cực do một phần vốn đầu tư USD trước đây có thể chuyển vào thị trường chứng khoán để “đánh sóng” mà nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với việc củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài. Chính sách tỷ giá luôn là một yếu tố vĩ mô quan trọng để nhà đầu tư nước ngoài xem xét khi họ có ý định đầu tư vào Việt Nam. Sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến sức mua của đồng tiền, từ đó tác động ít hay nhiều đến hoạt động của nền kinh tế tùy theo mức độ hướng ngoại của nền kinh tế đó.

    Những nội dung cơ bản và công cụ thực hiện chính sách tiền tệ

    Nội dung quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là việc cung ứng tiền cho nền kinh tế. Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thể thông qua hoạt động của thị trường mở ( mua bán giấy tờ có giá), thị trường hối đoái ( mua bán ngoại tệ) và để điều tiết mức tiền cung ứng, ngân hàng Trung ương các nước sử dụng các công cụ khác nhau như lãi suất, tỷ suất, dự trữ bắt buộc…. Chính vì thế mà chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế là một điều hiển nhiên, bởi nó được sinh ra là để điều tiết tiền tệ, mà sức vận động của tiền tệ trong nền kinh tế lại như máu lưu thông trong cơ thể con người.

    Là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng Trung ương đối với các ngân hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho ngân hàng thương mại, ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.

    Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc

    Là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản. Các ngân hàng TM có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này.

    Công cụ nghiệp vụ thị trường mở

    Là hoạt động ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá trị ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hoà cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tin dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.

    Công cụ lãi suất tín dụng

    Là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bời vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể kích thích hay kìm hãm sản xuất. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.

    Công cụ hạn mức tín dụng

    Là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính cùa Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.

    Tỷ giá hối đoái

    Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hoá, tình trạng tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặt biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.

    Từ những nội dung trên có thể thấy rằng chính sách tiền tệ nói riêng là một trong những công cụ quan trọng nhất của nhà nước để quản lý và điều hành nền kinh tế. Chính sách tiền tệ góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm phát, ổn định giá cả hàng tiêu dung, ổn định được thị trường ngoại hối, thị trường vàng… giúp từng bước phục hồi nền kinh tế cũng như tạo ra lợi thế trong liên kết và phân công lao động quốc tế, thích ứng với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thước Đo Giá Trị (Standard Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Thị Trường Tiền Tệ (Money Market) Là Gì? Chức Năng Của Thị Trường Tiền Tệ
  • Đặc Điểm, Chức Năng Của Thị Trường Tiền Tệ
  • Vụ Chính Sách Tiền Tệ Nhnn Thực Hiện Thắng Lợi Các Mục Tiêu Ngành Ngân Hàng
  • Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế Là Gì? Vai Trò Của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế
  • Tiền Trong Nền Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Tính Chất Của Tiền Bạc, Chức Năng Và Các Loại Của Nó. Cung Tiền
  • Xã Hội Học Về Tiền Bạc
  • Lên Kế Hoạch Chi Tiêu Thông Minh Với Chức Năng Ngân Sách Của Money Lover
  • Vai Trò Của Bộ Phận Tiền Sảnh Trong Khách Sạn Cần Biết
  • Tiền Sảnh Là Gì? Nhiệm Vụ Của Từng Bộ Phận Trong Tiền Sảnh!!
  • Tiền trong nền kinh tế – là một thành phần thiết yếu của nhu cầu xã hội hiện đại mà theo đuổi mỗi người chúng ta trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết về, nơi nào họ đạt được điều đó. Vai trò của tiền trong nền kinh tế thị trường hiện nay khó có thể đánh giá quá cao. Nó chỉ ra rằng khái niệm này đến với chúng ta từ thời cổ đại.

    Làm thế nào để có được hàng hóa mà không có tiền: lịch sử

    Trong nguyên thủy thị trường quan hệ xã hội như vậy nó vẫn chưa được phê duyệt. Các hình thức chủ yếu của thương vụ này là cùng có lợi trao đổi. Lúc đó, cả đơn vị tiền tệ không phải là một trung gian trong một trao đổi như vậy. Cả hai hành vi (mua bán) thực hiện gần như cùng một lúc. Vấn đề với việc thiết lập tỉ lệ trong các nền văn minh cổ đại cũng xuất hiện: một hoặc các mặt hàng khác được đánh giá theo mức độ nhu cầu đó.

    Với sự mở rộng chia sẻ biên giới theo thời gian. Trong nhiều cách, điều này góp phần vào việc phân chia của xã hội vào các lớp học, theo công ăn việc làm trong một môi trường làm việc cụ thể. Đối với một quy trình chuẩn tại thời điểm trao đổi gặp nhiều khó khăn do các loại khác nhau của hàng hoá. Đây phần lớn là đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa ra tình trạng đặc biệt của hàng hoá thông thường để trao đổi. Sự xuất hiện của tổng cho các nhóm sản phẩm cụ thể tương đương với sự đồng ý quyết tâm của nhân dân, đã nhận được tên của một lãnh thổ cụ thể. Ví dụ, ở Nga đơn vị tiền tệ được gọi là “Kunoy” vì tương đương trao đổi lấy lông thú đắt marten lông.

    Có chỉ là không có tiền trên thế giới, và lông thú, và vàng, và những người mà chúng tôi sử dụng cho đến ngày nay – giấy. Mệnh giá vàng và hàng hóa đã bị đánh chìm vào mùa hè, bây giờ tiền trong nền kinh tế – đó ghi chú, séc, thẻ tín dụng, vv …

    Chức năng của tiền trong phát triển kinh tế: khía cạnh lý thuyết

    Các chức năng và vai trò của tiền trong nền kinh tế thị trường hiện nay rất khó để đánh giá quá cao. bản chất của họ bày tỏ chính xác hơn trong quá trình lưu thông và sản xuất hàng hoá.

    Các chức năng chính mà thực hiện tiền, hãy xem xét các hình thức chụp bởi họ bằng cách này hay hệ thống khác của các mối quan hệ tài chính. Tiền quan trọng như:

    1. chi phí của các biện pháp.
    2. Lưu trữ có nghĩa.
    3. mục điều trị.
    4. phương thức thanh toán.

    Tiền – đối tượng điều trị

    Đối với người bình thường, có một, chức năng quan trọng nhất và mục đích của tiền – ứng dụng của họ để thanh toán mua hàng hóa, dịch vụ cung cấp. Trong trường hợp này, tiền mặt là một nhóm đặc biệt của hàng hoá, có phổ biến bằng cách mua các cơ hội. Đến thay thế lưu thông trao đổi tiền trong nền kinh tế làm cho nó có thể phân bổ lợi ích như:

    1. hành động bán từ hành vi mua là khác nhau đáng kể. Nói theo nghĩa bóng, đầu tiên người mua phải nhận hàng hóa của họ, lấy tiền cho nó, và sau đó mua các sản phẩm theo yêu cầu. Trong một quá trình thị trường hối đoái trao đổi hàng hoá sản xuất của từng người tham gia các quan hệ cả người mua và người bán.
    2. Nó cung cấp rất nhiều nhiều sự lựa chọn hàng hóa, so với sự vắng mặt hoàn toàn của mình khi trao đổi này.
    3. Chung sức mua của tiền làm cho nó có thể sử dụng chúng trong một số lĩnh vực.

    Trong hầu hết các trường hợp, nói chuyện về tiền bạc, người ta tưởng tượng rằng các ghi chú cuộc gọi. giấy màu và tiền xu của mệnh giá khác nhau, đã nhập vào dòng tiền – tiền hàng loạt tiền. Bên cạnh đó, một phương tiện lưu thông hiểu như các khoản vay ngân hàng, tiền gửi và tiền gửi thanh toán. Tiền mặt, t. E. Bất tiền, và tiền gửi của dân cư tại các ngân hàng, trái ngược với thị trường và tiết kiệm và đầu tư vay chứng khoán chính phủ được sử dụng như một phương tiện lưu thông nói chung.

    Tiền – một thước đo giá trị

    Chúng ta cũng nên xem xét số tiền như một biện pháp có giá trị. Để đo lường và so sánh giá trị của hàng hóa và dịch vụ khác nhau trên thị trường hiện nay, nó là cần thiết để nhận biết đồng tiền chung. Bên cạnh đó, chi phí cuối cùng của sản phẩm, được thể hiện bằng tiền, phụ thuộc trực tiếp vào số lượng, khoảng cách, khối lượng của nó. Nhiệm vụ của các cơ quan chính phủ ở Nga cũng là việc thành lập các biện pháp quốc gia có giá trị. Trên cơ sở chỉ số này như một biện pháp chung có giá trị tương đối, nó là dễ dàng hơn nhiều để tính toán giá hàng hóa khác và thiết lập tỷ lệ tương đương giữa hai người.

    Trong trường hợp không điều kiện thị trường trong một biện pháp cố định có giá trị, nó sẽ không thể để xác định giá của bất kỳ hàng hóa. Trong trường hợp này, nó sẽ phải thực hiện các tính toán trên cơ sở của một sản phẩm khác tỷ lệ hối đoái. Đó là, để tính giá trị của hàng hóa sẽ là vô cùng khó khăn.

    Làm thế nào để giá tiền trong một giai đoạn lạm phát?

    Đơn vị tiền tệ như một biện pháp có giá trị là hoàn toàn không khả thi trong một khoảng thời gian khấu hao nhanh chóng của tỷ giá hối đoái tiền tệ quốc gia. Lạm phát, mà được thể hiện ở việc giảm giá trị của hàng hóa thông thường, phản ánh trong giá các mặt hàng, mà đã không thể được gọi tĩnh. Họ là trong phong trào kinh tế liên tục, vì vậy mà các chuyên gia phân biệt hai loại giá: danh nghĩa và thực tế. Đầu tiên là số lượng đơn vị tiền tệ có thể được yêu cầu phải trả một lợi ích cụ thể với giá đó, mà đã phát triển đến một điểm cụ thể trên thị trường. Thứ hai, giá thực tế, ngụ ý việc thanh toán giá trị như nhau, nhưng trong giai đoạn cơ sở.

    Tất nhiên, có một sự tương quan rõ ràng giữa giá hàng hóa và tiền bạc. Giá cho các nhóm sản phẩm khác nhau đang phát triển khi năng lực tiền tệ giảm, và khi giá giảm, tất cả mọi thứ xảy ra hoàn toàn ngược lại.

    Money – một cách để tiết kiệm

    Tiền trong nền kinh tế – đó là một phương tiện không thể thiếu của sự tích lũy. Rút khỏi lưu thông tiền mặt đại diện cho cơ chế tích lũy tài chính, mà lần lượt tăng, tùy thuộc vào độ dài của bị tách ra khỏi kim ngạch. Vai trò của tiền trong nền kinh tế thị trường theo nghĩa này là để cung cấp cho chủ nhân của chúng có cơ hội để sử dụng họ sức mua theo thời gian. thanh khoản tuyệt đối, mà được ưu đãi bằng tiền, cho phép họ áp dụng bất cứ lúc nào bằng cách thực hiện các phương tiện chức năng thanh toán.

    Bên cạnh đó, lợi thế của tiền là yếu tố lưu trữ là khả năng của mình để giữ lại giá trị danh nghĩa ban đầu của họ. Giá của tiền trong nền kinh tế phần lớn là do sự tích tụ. Mặc dù một lợi ích nắm giữ đáng kể trong số tiền như vậy để loại bỏ trong nhiều trường hợp không thể. Khi lưu đồ trang sức, đồ cổ hoặc bất động sản, chứng khoán để đạt được bất kỳ khoản thu nhập sẽ không thành công. Tuy nhiên, khi sự tích tụ của điều trị trở nên có sẵn sau giao dịch tài chính:

    1. Mua và bán đồ trang sức.
    2. Mua lại tài sản và các mặt hàng với nhu cầu liên tục được đảm bảo.
    3. cam kết mua được thực hiện bởi con nợ.
    4. Mua lại chứng khoán vốn đang cạnh tranh thành công trên thị trường tài chính.
    5. Mua đồng tiền của nước ngoài.
    6. Làm một tiền gửi ngân hàng bằng tiền địa phương (với sự giúp đỡ của tài sản phi tiền mặt).

    Làm thế nào để chuyển đổi tiết kiệm vào thu nhập?

    Số tiền tích lũy trong nền kinh tế – đó là một thành phần cực kỳ quan trọng của nó. Để đạt được sự gia tăng trong hoạt động kinh tế mà không có sự tích lũy là không thể. Tuy nhiên, nếu không tuân thủ các điều kiện của một đơn (mức độ sức mua nên vẫn không thay đổi trong một thời gian đủ dài) tiền thật sẽ không mang lại cho họ bất kỳ chủ sở hữu thu nhập.

    Bên cạnh đó, nó đóng vai trò như một phương tiện tích lũy trong sự tăng trưởng nhanh chóng của thời kỳ lạm phát tiền cũng không thể. giảm giá của họ cuối cùng sẽ dẫn đến phá sản. Giải pháp tối ưu trong tình huống này là để tiết kiệm một lượng chỉ nhỏ tiền trong một thời gian, và sự tích lũy ấn tượng trước khi lạm phát là rất quan trọng để có thời gian để đầu tư. Việc đầu tư tốt nhất của tiền – mua bất động sản hoặc tài sản tương đương có giá trị khác, mà nếu không có tính thanh khoản tự tin như vậy, giá trị của chúng không bị mất. Cũng nên tiết kiệm của họ về tăng trưởng lạm phát là có thể thông qua việc trao đổi tiền tệ quốc gia tại một ngoại tệ ổn định.

    Cash như một công cụ thanh toán

    Tiền trong nền kinh tế – đây là một công cụ thanh toán, đầu tiên nổi lên, như đã nói, với sự phát triển của trao đổi hàng hóa. Nó bao gồm các khái niệm về chuyển nhượng hàng hoá, ngăn cách với thời gian thực hiện, E. bán tín dụng tức là.. Do đó đến chức năng thưởng phạt tiền. Việc bán hàng hóa với số tiền thu nhập hoãn lại cũng thực hiện chức năng kinh tế quan trọng này. Tuy nhiên, họ không chơi bất kỳ vai trò như một phương tiện với việc mua tín dụng. Trong khi đó, khi xác định giá trị và giá tiền hoạt động như một cơ chế hoàn hảo.

    Trong thực tế, điều này diễn ra như sau: người mua trả số tiền thích hợp khi xảy ra trong giai đoạn kiểm soát đối với thanh toán. Nó chỉ ra rằng tiền đi vào lưu thông ngay lập tức, chỉ sau thời gian hợp đồng quy định. Chức năng này được phản ánh rõ ràng trong việc phát triển tiếp theo của liên kết công nghiệp và thương mại giữa những người tham gia thị trường. Là một công cụ thanh toán, tiền bạc có giá trị không chỉ là một phương tiện để mua, mà còn là hiện thân phổ quát của sự giàu có, do đó, hạn chế chức năng này của mặt hàng khung kim ngạch nó không phải là có thể.

    Tín dụng và các khoản vay trong nền kinh tế hiện nay

    Phát triển hệ thống thanh toán trên thế giới hiện nay dự kiến dẫn đến sự xuất hiện của tiền tín dụng. thuật ngữ “luật” giới thiệu như là một cơ chế tài chính của nền kinh tế quốc tế đã trở thành một quan trọng và không thể thiếu trong các điều khoản cho vay, tạo ra nợ. Hàng hoá mua vào từng kỳ hoặc tín dụng tự động trở thành đối tượng trả nợ. Trong quá trình trả góp trả nợ hoặc tiền mặt là công cụ thanh toán.

    Tiền được thay thế bằng hóa đơn hơn theo thời gian. Một tài liệu viết rằng đảm bảo sự trở lại của các quỹ nợ là hình thức hoàn toàn hợp pháp bảo lãnh cho khách hàng vay. Vào cuối thời gian kiểm soát của con nợ được, tất nhiên, có nghĩa vụ phải trả số tiền cố định. Sự phát triển của tín dụng thương mại – là một yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến sự phân bố của các hóa đơn trong các quan hệ thị trường. Thông thường, hình thức nghĩa vụ nợ trao quyền cho mỗi nhà sản xuất khác.

    Đặc điểm của hoạt động của tiền trong nền kinh tế Nga

    Tiền trong nền kinh tế hiện đại của Nga trong thập kỷ qua là công cụ quan trọng của thanh toán, chi phí, lưu trữ và xử lý. Trong trường hợp này, sự không hoàn hảo của hệ thống thương mại trong nước, cũng phản ánh quan hệ đối tác quốc tế của mình, ngăn chặn sự phát triển của ngành công nghiệp, sự phát triển của đời sống, nâng cao chỉ số văn hóa xã hội và nhân khẩu học. Trong cuộc tìm kiếm trong những nguyên nhân kinh tế khó khăn kéo dài nhiều yếu tố thể hiện rõ nét trong tiểu bang.

    Phát triển không chỉ là một sự lưu thông tiền tệ nền kinh tế của đất nước. Trọng lượng tiền trong nền kinh tế Nga đóng một vai trò quan trọng. Trong khi đó, trong những năm độc lập và tự chủ trong cung tiền của nước ta tăng hơn 770 lần. Trải qua người tiêu dùng và nhà sản xuất đáng kể thâm hụt phát triển nền kinh tế thị trường, nhiều lần quyết định sự ra đời của một lưu hành toàn quốc của tiền thêm. Đương nhiên, vấn đề tiền tụt đáng kể đằng sau sự tăng trưởng lạm phát, dẫn đến kết quả dự đoán rộng rãi.

    Là vào thế bất lợi, đồng tiền quốc gia thực dòng nhanh chóng đã giảm xuống. Đang cố gắng để làm chậm sự phát triển của “bệnh” kinh tế này, các doanh nhân tăng cường vấn đề ghi chú cá nhân. Hầu hết các đối tượng của các tổ chức Liên bang Nga tạo ra cơ chế thanh toán khác nhau nhằm mục đích nắm giữ tài sản trong lĩnh vực hiện tại. Đặc biệt, số tiền trong nền kinh tế thị trường, và ngày nay vẫn còn trong dài hạn nhờ vào thành công của hệ thống lưới không thanh toán, Du thuyền phiếu ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp và vân vân. D.

    Đồng thời, tích lũy của hộ gia đình thông qua vào nhóm tiết kiệm (tiền mặt “trên tay” không có nghĩa là) đang đầu tư. Một nguồn bổ sung giá trị vốn hóa góp phần vào việc cung cấp ổn định của GDP cao.

    phần kết luận

    Tóm lại, tính đến tất cả các bên trên, chúng ta có thể dễ dàng xác định vai trò của tiền trong khu vực kinh tế nhà nước. Họ đang thực sự lịch sử tiêu chí chất lượng hàng hóa đặc biệt. Tiền trong nền kinh tế – là một tương đương phổ biến, hàng hóa với một tình trạng đặc biệt. Nhờ có họ, lưu thông hàng hoá và dịch vụ trong chuỗi “mua-bán” đã trở thành dễ dàng hơn nhiều so với các mô hình trao đổi các quan hệ thương mại.

    Bản chất và tầm quan trọng của tiền trong nền kinh tế rõ ràng có thể được xem xét thông qua lăng kính của các chức năng của họ.

    Thứ nhất, họ là một phương tiện để xử lý mà theo đó các bất tiện của giao dịch trao đổi có thể tránh được hoàn toàn.

    Thứ hai, số tiền được thực hiện chức năng của một thước đo giá trị, cho phép so sánh các giá trị và giá vốn hàng.

    Thứ ba, các chức năng tích lũy là điển hình cho các quỹ tạm thời rút khỏi lưu thông, cho phép chúng ta quan sát sự giàu có. Trong trường hợp này, lợi thế của ngày nay mô hình kinh tế thị trường là cung cấp cơ hội để lợi nhuận từ sự giàu có.

    Thứ tư, tiền – một công cụ thanh toán quan trọng. Bình thường điều trị bằng tiền mặt và phi tiền mặt – một cơ hội cho sự phát triển thành công của bất kỳ ngành kinh tế, vì chỉ việc sử dụng linh hoạt của tiền trong nước sẽ giúp tăng cường nền kinh tế của cả nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Bất Of Money Là Gì? ·
  • Vì Sao Bitcoin Có Chức Năng Lưu Trữ Giá Trị?
  • Hỏi Đáp Mọi Thứ Về Chặng Đường Từ 0,01 Đến 11.000 Usd Của Tiền Điện Tử Bitcoin
  • Coins.ph Là Gì? Một Số Chức Năng Của Ví Bitcoin Philippines
  • Tiền Mã Hóa Là Gì ? Tìm Hiểu Về Chức Năng Của Tiền Mã Hóa
  • Vai Trò Của Tiền Tệ Đối Với Nền Kinh Tế Quan Trọng Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tiền Lương Là Gì? Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Lương
  • Lý Thuyết Tin Học 12 Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu (Hay, Chi Tiết).
  • Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Là Gì? Các Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Phổ Biến Nhất
  • Tìm Hiểu Về Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Và Vai Trò Của Nó
  • Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Là Gì? Những Loại Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Phổ Biến
  • Tiền tệ là gì?

    Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là hàng hóa tự phát của nền kinh tế sản phẩm, hàng hóa của sự phát triển những hình thái giá trị. Đồng thời cũng là hàng hóa của sự phát triển sự trái chiều giữa lao động và phân công lao động cộng đồng trong sản xuất hàng hóa . Sự thành lập và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự thành lập và phát triển của sản xuất và bàn thảo sản phẩm.

    Bản chất của tiền tệ là gì?

    Theo khái niệm của K.Marx, “tiền chính là loại hàng hóa đặc biệt “vì: tiền có giá trị dùng đặc biệt( là thành quả công dụng hữu ích của hàng hóa. Tiền tệ thỏa mãn hầu hết các mong muốn của người tiêu dùng và sở hữu.

    Khái niệm của P.Smuelson: “tiền chính là thứ dầu bôi trơn “trong các guồng máy luân chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất để đi đến nơi tiêu dùng.

    Quan điểm của M. Freidman và các nhà kinh tế học hiện đại: ” tiền là các phương tiện thanh toán ” và có thể làm được các tính năng làm trung gian trao đổi, các doanh nghiệp tính toán và có thể tích lũy của cải. Tiền tệ thành lập là kết quả tất yếu của sự tăng trưởng nền kinh tế thị trường hiện đại.

    Nhiệm vụ của tiền tệ

    Nhiệm vụ của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:

    -Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện

    Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế.

    Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa tăng trưởng chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không chỉ là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi đất nước mà còn là phương tiện quan trọng để thực thi và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.

    Kết hợp với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát huy nhiệm vụ của mình để trở thành phương tiện cho việc hành động và mở rộng các quan hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các đất nước trên thế giới tạo ra và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, cộng tác khoa học kỹ thuật giữa các nước.

    -Thứ ba: tiền tệ là công cụ để đáp ứng cho mục đích của người sử dụng chúng.

    Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa tăng trưởng cao thì đa phần các sự kết nối kinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiện tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng xử l‎ và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế. Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền tệ. Chừng nào còn hiện hữu nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.

    -Thứ 4: Sản sinh ra công ăn việc làm

    -Thứ 5:Ổn định thị trường tài chính

    Việc ổn định thị trường tài chủ đạo là mục tiêu rất quan trọng trong công tác điều hành nền kinh tế của mỗi chính phủ, ổn định thị trường tài chính cũng được thúc đẩy bởi sự ổn định lãi suất bởi vì biến động trong lãi suất có khả năng gây nên sự mất ổn định cho các tổ chức tài chính. Trong những năm gần đây những biến động mạnh của lãi suất là một vấn đề đặc biệt trầm trọng đối với các hiệp hội tiết kiệm và cho vay đã gặp khó khăn về tài chính như chúng ta đã biết.

    Hồng Quyên – Tổng hợp Tham khảo ( Học Viện Tài Chính, DICHVULUANVAN,… )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ. Trong Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Nền Kinh Tế Ở Vn, Các Chức Năng Đó Đã Được Nhận Thức Và Vận Dụng Như Thế Nào ?
  • Vai Trò Của Chính Sách Tiền Tệ Đối Với Nền Kinh Tế
  • Thước Đo Giá Trị (Standard Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Thị Trường Tiền Tệ (Money Market) Là Gì? Chức Năng Của Thị Trường Tiền Tệ
  • Đặc Điểm, Chức Năng Của Thị Trường Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên:

    1 tấm bò = 2 cái rìu

    Hình thái giá trị tương đối – vật ngang giá chung

    Giá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của bò. Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hình thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung.

    – Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất – bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưng vẫn trực tiếp. Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác

    Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)

    Ví dụ: 10 kg thóc

    2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)

    0,1 chỉ vàng

    – Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại (kẽm, đồng, sắt, bạc, vàng.) chỉ đến lúc này thì hình thái tiền tệ mới được xác lập và vàng với tư cách là vật ngang giá chung và đã trở thành tiền tệ, gọi là kim tệ. Vì vậy, vàng – tiền tệ được coi là một HH đặc biệt.

    Kết luận:

    – Tiền tệ là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền là một phát minh vĩ đại của loài người, nó làm thay đổi bộ mặt của nền KT – XH

    – Sự ra đời và tồn tại của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và tồn tại của sản xuất và trao đổi HH. Và trong quá trình này nó xuất hiện vật ngang giá chung.

    – Vàng – tiền tệ được coi là một hàng hoá đặc biệt.

    Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị. Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.

    Theo Mac, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

    Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

    3.1 Chức năng thước đo giá trị (standard of value)

    Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.

    Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomét. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này.

    Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kiliogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá.

    Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/N

    3.2 Chức năng phương tiện trao đổi (Medium of exchange)

    Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.

    Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

    Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:

    – Vế thứ nhất: bán hàng để lấy tiền: H-T

    – Vế thứ hai : dùng tiền để mua hàng T – H

    Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không di liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng.

    3.3 Chức năng phương tiện thanh toán (standard of deferred payment)

    Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

    Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

    Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

    3.4 Chức năng phương tiện tích lũy (store of value or store of purchasing power)

    Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

    Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời.

    Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

    3.5 Chức năng tiền tệ thế giới (world currency)

    Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

    Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.

    Nguồn: trithuccongdong.net

    Trong các chức năng của tiền tệ trên thì chức năng phương tiện trao đổi chính là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Bởi vì, ngày nay tiền tệ luôn là phương tiện bôi trơn cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • 9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Adn Là Gì? Cấu Trúc Không Gian Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Sự Tạo Tiền Trong Nền Kinh Tế Hiện Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Đồ Án Tài Chính Tiền Tệ Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Phát Hành Tiền Của Ngân Hàng Trung Ương Với Mục Tiêu Kiểm Soát Lạm Phát
  • Phát Hành Tiền Là Gì? Chủ Thể Nào Có Quyền Phát Hành Tiền?
  • Nhiệm Vụ Của Từng Vị Trí Trong Bộ Phận Fo
  • Đổi Mới Chính Sách Tiền Lương Tạo Động Lực Làm Việc Cho Người Lao Động: Một Số Vấn Đề Trao Đổi
  • Khái Niệm Về Tiền Lương Và Thù Lao Lao Động Trong Quản Trị Nguồn Nhân Lực
  • SỰ TẠO TIỀN TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI

    Michael McLeay, Amar Radia và Ryland Thomas thuộc Ban Giám đốc Phân tích Tiền tệ của Ngân hàng .

    • Bài viết này cho thấy đa số tiền trong nền kinh tế hiện đại được tạo ra thông qua việc cho vay của các ngân hàng thương mại như thế nào.
    • Việc tạo tiền trong thực tế khác với một vài quan niệm sai lầm phổ biến- các ngân hàng không chỉ đơn thuần là như những trung gian, cho vay tiền gửi mà người gửi tiền kí gởi cho nó, và nó cũng không “nhân” (“multiply up”) tiền ngân hàng trung ương lên để tạo ra các khoản vay mới và tiền gửi mới.
    • Lượng tiền được tạo ra trong nền kinh tế rốt cuộc phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Trong thời kỳ bình thường, điều này được thực hiện bằng cách thiết lập những mức lãi suất. Ngân hàng trung ương cũng có thể tác động trực tiếp đến lượng tiền thông qua việc mua tài sản hay “nới lỏng định lượng” (“quantitative easing”).

    Trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết tiền tồn tại dưới dạng tiền gửi ngân hàng (bank deposits). Nhưng cách thức mà những khoản tiền gửi ngân hàng được tạo ra đó thường bị hiểu sai: cách chính là thông qua việc cho vay của các ngân hàng thương mại. Bất cứ khi nào một ngân hàng tiến hành cho vay, nó đồng thời tạo ra một lượng tiền gửi tương ứng trong tài khoản ngân hàng của người đi vay, do đó tạo ra tiền mới.

    Thực tế cách thức mà tiền được tạo ra ngày nay khác với sự mô tả trong một số giáo trình kinh tế học:

    * Thay vì các ngân hàng nhận tiền gửi khi hộ gia đình tiết kiệm và sau đó cho vay chúng, việc cho vay của ngân hàng tạo ra tiền gửi.

    * Trong thời kỳ bình thường, ngân hàng trung ương không ấn định lượng tiền lưu thông, tiền ngân hàng trung ương cũng không “nhân lên” thành nhiều khoản vay và tiền gửi.

    Mặc dù các ngân hàng thương mại tạo tiền thông qua việc cho vay, nhưng nó không thể làm như vậy một cách tự do như không hề có ràng buộc gì. Các ngân hàng bị giới hạn lượng tiền mà nó có thể cho vay nếu nó muốn duy trì khả năng sinh lời trong một hệ thống ngân hàng cạnh tranh. Quy định thận trọng cũng đóng vai trò như một ràng buộc về các hoạt động của các ngân hàng nhằm duy trì khả năng phục hồi của hệ thống tài chính. Bên cạnh đó, hộ gia đình và doanh nghiệp, những chủ thể nhận tiền được tạo ra từ việc cho vay mới có thể có những hành động làm ảnh hưởng đến lượng cung tiền (stock of money). Ví dụ, họ có thể “phá hủy” tiền một cách nhanh chóng bằng cách sử dụng chúng để trả khoản nợ hiện tại của họ.

    Trong những trường hợp đặc biệt, khi các lãi suất nằm ở ngưỡng giới hạn thấp hơn hiệu quả (effective lower bound), sự tạo tiền và chi tiêu trong nền kinh tế vẫn có thể quá thấp để phù hợp với các mục tiêu của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Một phản ứng có thể là thực hiện việc thu mua một loạt tài sản, hay “nới lỏng định lượng” (“quanlitative easing”- QE). QE được kì vọng nhằm tăng lượng tiền trong nền kinh tế một cách trực tiếp thông qua việc mua tài sản, chủ yếu là từ các công ty tài chính phi ngân hàng.

    Như một phụ phẩm của QE, những khoản dự trữ mới ở ngân hàng trung ương được tạo ra. Nhưng chúng không phải là một phần quan trọng của cơ chế truyền dẫn. Bài viết này giải thích làm thế nào, cũng giống như trong những thời kỳ bình thường, những khoản dự trữ này không thể được nhân thành nhiều khoản vay và tiền gửi, và làm thế nào những khoản dự trữ này không đại diện cho “tiền tự do – free money” của các ngân hàng.

    “Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”, một bài viết đi kèm với bài viết này, cung cấp một cái nhìn tổng quan về những gì là tiền và các loại tiền khác nhau tồn tại trong một nền kinh tế hiện đại. Đồng thời nó đề cập ngắn gọn cách thức mà mỗi loại tiền được tạo ra. Bài viết này tìm hiểu sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại một cách chi tiết hơn.

    Như đã giải thích trong phần “Tiền trong nền kinh tế hiện đại: một lời giới thiệu”, tiền theo nghĩa rộng là thước đo của tổng lượng tiền mà hộ gia đình và doanh nghiệp trong nền kinh tế nắm giữ. Tiền theo nghĩa rộng bao gồm tiền gửi ngân hàng – mà chủ yếu là các giấy nợ (IOUs) từ các ngân hàng thương mại cho các hộ gia đình và doanh nghiệp – và tiền – phần lớn là các IOU từ ngân hàng trung ương., Trong hai loại tiền theo nghĩa rộng, tiền gửi ngân hàng chiếm đại đa số – 97% lượng tiền hiện đang lưu thông. Và trong nền kinh tế hiện đại, các khoản tiền gửi ngân hàng đó chủ yếu do chính các ngân hàng thương mại tạo ra.

    Các ngân hàng thương mại tạo tiền, dưới dạng tiền gửi ngân hàng, bằng cách cho vay mới. Khi một ngân hàng cho vay, ví dụ như cho một người nào đó vay thế chấp để mua nhà, thì thường không thực hiện theo cách đưa cho người đó hàng ngàn bảng Anh tiền giấy. Thay vào đó, nó ghi có trong tài khoản ngân hàng của người đó một khoản tiền gửi ngân hàng bằng khoản vay thế chấp. Khi đó, tiền mới được tạo ra. Vì lý do này, một số nhà kinh tế học đã xem khoản tiền gửi ngân hàng như là “bút tệ” – loại tiền được tạo ra từ nét bút của ngân hàng khi nó phê duyệt các khoản vay.

    Các ngân hàng cho vay và người tiêu dùng hoàn trả chúng là những cách quan trọng nhất để tạo ra và phá hủy tiền gửi ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại. Nhưng chúng không phải là những cách duy nhất. Sự tạo tiền gửi hay phá hủy cũng sẽ xảy ra bất cứ lúc nào khi khu vực ngân hàng (bao gồm cả ngân hàng trung ương) mua hay bán tài sản hiện có từ hay cho người tiêu dùng, hoặc thường xuyên hơn là từ các doanh nghiệp hay chính phủ.

    Mua bán tài sản hiện có và phát hành nợ dài hạn có thể dẫn đến khoảng cách giữa lượng tiền cho vay và tiền gửi trong nền kinh tế đóng. Bên cạnh đó, trong một nền kinh tế mở như Anh, tiền gửi có thể chuyển từ người dân trong nước cho người nước ngoài, hoặc tiền gửi bằng đồng bảng Anh có thể được chuyển thành tiền gửi ngoại tệ. Bản thân các giao dịch này không phá hủy tiền, nhưng tiền gửi của người nước ngoài và tiền gửi ngoại tệ không phải lúc nào cũng được tính như một phần của cung tiền của một quốc gia.

    Mặc dù các ngân hàng thương mại tạo tiền thông qua hành vi cho vay của nó, nhưng nó không thể thực hiện điều đó mà không có ràng buộc gì. Cụ thể, giá của khoản vay – tức là lãi suất (bao gồm tất cả các loại phí) mà các ngân hàng tính – quyết định lượng tiền mà hộ gia đình và các doanh nghiệp muốn vay. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá của khoản vay mới. Đặc biệt là chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh, nó tác động đến các mức lãi suất khác nhau trong nền kinh tế.

    (i) Bản thân các ngân hàng phải đối mặt với ràng buộc về số tiền mà nó có thể cho vay . Đặc biệt:

    * Các tác lực thị trường hạn chế cho vay, bởi vì mỗi ngân hàng phải có khả năng cho vay sinh lãi trong một thị trường cạnh tranh.

    * Chính sách pháp lý đóng vai trò như một ràng buộc đối với các hoạt động của ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro có thể đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính.

    (ii) Việc tạo tiền cũng bị ràng buộc bởi hành vi của những người nắm giữ tiền – hộ gia đình và doanh nghiệp. Hộ gia đình và doanh nghiệp nhận tiền mới được tạo ra có thể phản ứng bằng cách thực hiện các giao dịch phá huỷ tiền ngay lập tức, ví dụ bằng cách hoàn trả các khoản dư nợ.

    (iii) Ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền là chính sách tiền tệ. Thông qua việc tác động đến các mức lãi suất trong nền kinh tế, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh tác động đến số tiền mà hộ gia đình và doanh nghiêp muốn vay. Điều này không chỉ xảy ra trực tiếp thông qua việc tác động đến các lãi suất cho vay của các ngân hàng, mà còn xảy ra gián tiếp thông qua tác động tổng thể của chính sách tiền tệ đối với hoạt động kinh tế trong nền kinh tế. Kết quả là Ngân hàng Anh có thể đảm bảo tăng trưởng tiền tệ phù hợp với mục tiêu lạm phát thấp và ổn định.

    Phần còn lại của mục này giải thích xem trong thực tiễn mỗi cơ chế này hoạt động như thế nào.

    (i) Các ràng buộc đối với số tiền mà các ngân hàng có thể cho vay.

    Do đó, các ngân hàng cố gắng thu hút hoặc dành lại nợ bổ sung song song với khoản cho vay mới. Trên thực tế, các ngân hàng khác cũng sẽ cho vay mới và tạo ra các khoản tiền gửi mới, vì vậy có một cách để họ có thể thực hiện điều này là cố gắng thu hút một vài khoản tiền gửi mới được tạo ra. Trong một thị trường ngân hàng cạnh tranh, điều đó có thể làm tăng lãi suất tiết kiệm dành cho hộ gia đình. Thông qua việc thu hút các khoản tiền gửi mới, ngân hàng có thể tăng dư nợ tín dụng mà không bị cạn kiệt dự trữ, như mô tả trong hàng thứ ba của Hình 2. Ngoài ra, một ngân hàng có thể vay từ các ngân hàng khác hoặc thu hút các hình thức nợ khác, ít nhất là tạm thời. Tuy nhiên, dù thông qua các khoản tiền gửi hay các khoản nợ khác, ngân hàng cần đảm bảo thu hút và giữ lại một số loại vốn để tiếp tục cho vay. Và chi phí của nó cần phải được đo lường dựa trên lãi suất mà ngân hàng dự kiến ​​ sẽ kiếm được từ các khoản cho vay mà nó đang thực hiện, và mức lãi suất này phụ thuộc vào mức Lãi suất Ngân hàng được qui định bởi Ngân hàng Anh. Ví dụ, nếu một ngân hàng tiếp tục thu hút những người đi vay mới và tăng cường cho vay bằng cách giảm lãi suất đối với các khoản vay thế chấp, và tìm cách thu hút các khoản tiền gửi mới bằng cách tăng lãi suất đối với tiền gửi của khách hàng thì nó có thể sớm nhận ra rằng việc tiếp tục mở rộng cho vay sẽ không có lời. Bởi vậy, sự cạnh tranh cho vay và tiền gửi, cũng như mong muốn có lợi nhuận, sẽ hạn chế việc tạo tiền của các ngân hàng.

    Việc cho vay của mỗi ngân hàng cũng bị giới hạn bởi sự cân nhắc đến rủi ro tín dụng. Đây là rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt khi những người đi vay không có khả năng trả nợ. Phần nào, các ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro tín dụng bằng cách có đủ vốn để hấp t hụ bất kỳ tổn thất không mong đợi nào đối với các khoản cho vay của họ. Nhưng vì các khoản cho vay sẽ luôn tồn tại một vài rủi ro khiến các ngân hàng chịu tổn thất, chi phí của những tổn thất này sẽ được tính đến khi định giá các khoản cho vay. Khi một ngân hàng cho vay, lãi suất mà nó tính sẽ thường bao gồm khoản bù đắp cho tổn thất tín dụng trung bình mà ngân hàng dự kiến sẽ gánh chịu. Tỷ trọng của thành phần này trong lãi suất sẽ lớn hơn khi các ngân hàng ước tính họ sẽ phải gánh chịu tổn thất cao hơn, ví dụ như khi cho người vay thế chấp vay với tỷ lệ cho vay/giá trị tài sản thế chấp cao. Khi các ngân hàng mở rộng cho vay, tổn thất dự kiến trung bình trên mỗi đơn vị tín dụng có khuynh hướng tăng lên, khiến cho các khoản cho vay này giảm khả năng sinh lời. Điều này càng hạn chế số lượng các ngân hàng cho vay có thể kiếm được lợi nhuận, và lượng tiền nó có thể tạo ra.

    Các tác lực thị trường không phải lúc nào cũng khiến cho mỗi ngân hàng phòng ngừa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng một cách thích đáng. Do đó, quy định thận trọng nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng không chấp nhận rủi ro quá mức khi cho vay mới, bao gồm thông qua các yêu cầu về vốn của ngân hàng và các trạng thái thanh khoản (liquidity positions). Bởi vậy, các yêu cầu này có thể đóng vai trò như một sự kiềm hãm bổ sung đối với số tiền mà các ngân hàng thương mại tạo ra bằng cách cho vay. Khung pháp lý thận trọng, cùng với chi tiết về vốn và tính thanh khoản, được mô tả trong Farag, Harland và Nixon (2013).

    Cho đến phần này, chúng ta đã được xem xét trường hợp của một ngân hàng riêng lẻ thực hiện các khoản cho vay thêm bằng cách đưa ra mức lãi suất cạnh tranh – cả lãi suất vay lẫn lãi suất tiền gửi. Nhưng nếu tất cả các ngân hàng đồng loạt quyết định nỗ lực để cho vay nhiều hơn, sự tăng trưởng tiền có thể không bị giới hạn theo cách tương tự. Mặc dù mỗi ngân hàng có thể mất các khoản tiền gửi “về tay” các ngân hàng khác, nhưng chính nó cũng có thể nhận được một số khoản tiền gửi khi các ngân hàng khác cho vay.

    (ii) Những ràng buộc phát sinh từ phản ứng của hộ gia đình và doanh nghiệp

    Ngoài nhóm ràng buộc từ phía các ngân hàng trong việc hạn chế sự tạo tiền, hành vi của hộ gia đình và doanh nghiệp đối với việc tạo tiền của ngành ngân hàng cũng có thể rất quan trọng, như lập luận của . Hành vi của khu vực tư phi ngân hàng ảnh hưởng đến tác động cuối cùng của việc tạo tín dụng của ngành ngân hàng lên cung tiền vì có thể tạo ra nhiều tiền hơn (hoặc ít hơn) lượng họ muốn giữ so với các tài sản khác (như của cải hoặc cổ phần).Bởi hộ gia đình và doanh nghiệp vay nợ vì họ muốn chi tiêu nhiều hơn, họ sẽ nhanh chóng chuyển tiền cho người khác khi họ chi tiêu. Cách thức mà hộ gia đình và doanh nghiệp phản ứng sẽ quyết định lượng cung tiền trong nền kinh tế, và có khả năng tác động đến chi tiêu cũng như lạm phát.

    Hai kịch bản cho những gì có thể xảy ra với tiền mới được tạo ra này – bị phá hủy nhanh chóng hoặc được luân chuyển qua con đườngchi tiêu – có những hệ quả rất khác nhau đối với hoạt động kinh tế. Trong trường hợp thứ hai, tiền có thể tiếp tục được luân chuyển giữa các hộ gia đình và các doanh nghiệp khác nhau, kết quả là mỗi chủ thể có thể tăng cường chi tiêu. Quá trình này – đôi khi được gọi là hiệu ứng “khoai tây nóng – hot potato” – có thể dẫn đến, sự gia tăng áp lực lạm phát của nền kinh tế. Ngược lại, nếu tiền bị phá hủy nhanh như trong kịch bản thứ nhất thì sẽ không có tác động gì thêm đối với nền kinh tế.

    (iii) Chính sách tiền tệ- ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền

    Trong những giai đoạn bình thường, Ủy ban Chính sách Tiền tệ (MPC), giống như hầu hết các cơ quantương đương với nó ở các nước khác, thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách thiết lập các mức lãi suất ngắn hạn, cụ thể thiết lập mức lãi suất mà ngân hàng trung ương phải trả cho các ngân hàng thương mại khi nắm giữ các khoản dự trữ của ngân hàng thương mại.Có thể làm được điều này là vì vị thế của Ngân hàng như là nhà cung cấp độc quyền về tiền ngân hàng trung ương ở Vương quốc Anh. Và bởi vì tồn tại nhu cầu về tiền ngân hàng trung ương – phương tiện thanh toán cuối cùng của các ngân hàng, những chủ thể tạo tiền theo nghĩa rộng – điều này khiến cho giá của các khoản dự trữ có tác động có ý nghĩa đối với các mức lãi suất khác trong nền kinh tế.

    Không phải bước nào trong câu chuyện đó cũng mô tả chính xác mối liên hệ giữa tiền và chính sách tiền tệ trong nền kinh tế hiện đại. Các ngân hàng trung ương thường không chọn một lượng dự trữ để đạt được mức lãi suất ngắn hạn mong muốn.[26] Thay vào đó, họ tập trung vào giá – thiết lập các mức lãi suất. Ngân hàng Anh kiểm soát các mức lãi suất bằng cách cung ứng và trả lãi cho những khoản dự trữ ở mức lãi suất chính sách đã chọn. Cung về cả dự trữ và tiền (chúng cùng tạo nên tiền cơ sở) được quyết định thông qua cầu về dự trữ của các ngân hàng nhằm thanh toán các khoản trả và đáp ứng cầu tiền của khách hàng- cầu mà ngân hàng trung ương thường phải thích ứng.

    – Sự tạo tiền theo nghĩa rộng trực tiếp với chính sách tiền tệ

    Một khi các lãi suất ngắn hạn đạt đến mức giới hạn thấp hơn hiệu quả, ngân hàng trung ương không thể cung cấp thêm kích thích cho nền kinh tế bằng cách giảm lãi suất đối với các khoản dự trữ được hưởng lãi. Một cách có thể cung cấp thêm kích thích tiền tệ cho nền kinh tế là thông qua một chương trình mua tài sản (QE). Giống như việc giảm lãi suất Ngân hàng, việc mua tài sản là cách mà MPC có thể nới lỏng quan điểmchính sách tiền tệ nhằm kích thích hoạt động kinh tế và đạt được mục tiêu lạm phát. Nhưng vai trò của tiền trong hai chính sách là không giống nhau.

    Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Ngân hàng Anh là đảm bảo ổn định tiền tệ bằng cách giữ lạm phát theo đúng lộ trình nhằm đạt được mục tiêu 2% của Chính phủ. (1963) đã đưa ra lập luận nổi tiếng rằng “lạm phát luôn luôn và bất kì đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Vì vậy, sự thay đổi trong cung tiền có thể chứa đựng thông tin có giá trị về chi tiêu và áp lực lạm phát trong nền kinh tế. Vì tiền là thứ thiết yếu để mua hàng hoá và dịch vụ, nên có thể chứa đựng thông tin xác thực ( corroborative information) về mức chi tiêu danh nghĩa hiện tại trong nền kinh tế. Nó cũng có thể cung cấp thông tin bổ sung ( incremental information) về các biến động trong tương lai của chi tiêu danh nghĩa và do đó có thể là một chỉ báo hữu ích về áp lực lạm phát trong tương lai. Cuối cùng, hành vi của tiền có thể giúp tiết lộ bản chất của cơ chế truyền dẫn tiền tệ, đặc biệt khi chính sách tiền tệ được vận hành thông qua “nới lỏng định lượng” (QE).

    Trên thực tế, khó khăn chính là đánh giá xem những thước đo nào của tiền là những thước đo thích hợp để xem xét cho từng mục đích khác nhau. Ngân hàng gần đây xây dựng nhiều loại đại lượng tổng gộp về tiền và công bố một loạt các dữ liệu giúp tính được chúng, được tóm tắt trong Bảng 1. Biểu đồ A cho thấy một số chuỗi thời gian dài hạn trong quá khứ của sự tăng trưởng tổng khối lượng tiền so với mức chi tiêu danh nghĩa trong nền kinh tế. Với những thay đổi khác nhau trong cơ chế tiền tệ của Anh trong 150 năm qua, rất có thể với một chỉ báo tiền tệ đơn nhất không thể nắm bắt tất cả thông tin xác thực và thông tin bổ sung về tiền một cách đầy đủ. Ngành tài chính Anh cũng đã trải qua những thay đổi cấu trúc khác nhau, và điều này cần phải được lưu ý khi xem xét mối liên hệ cơ bản giữa tiền và chi tiêu. Ví dụ, trong những giai đoạn khi mà lĩnh vực tài chính tăng trưởng tương đối so với phần còn lại của nền kinh tế (chẳng hạn như vào đầu những năm 1980 và những năm 2000), tiền theo nghĩa rộng có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với chi tiêu danh nghĩa một cách ổn định.

    Về nguyên tắc, các thước đo hẹp hơn của tiền, chẳng hạn như tiền giấy và tiền kim loại và tiền gửi không kì hạn (những tài khoản có thể rút ngay lập tức mà không bị phạt) tốt hơn các chỉ báo xác thực về chi tiêu, bởi đây là những loại tiền được sử dụng để thực hiện đa số các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế. Tổng lượng tiền giấy, tiền kim loại và tiền gửi không kì hạn được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng thường được gọi là tiền có kì đáo hạn ngay lập tức (zero maturity money) hay “MZM”.

    Nhiều nghiên cứu kinh trắc đã chỉ ra rằng những thay đổi trong lượng tiền theo nghĩa rộng cũng có thể cung cấp thông tin bổ sung có giá trị về mức chi tiêu trong nền kinh tế. Ví dụ, tiền gửi của các doanh nghiệp phi tài chính dường như là một chỉ báo hàng đầu về đầu tư của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Người ta cũng có thể kiểm tra và cân đối các loại tiền hẹp và rộng với nhau bằng cách sử dụng một vài tham số về lượng tiền mà mỗi loại tiền được sử dụng trong các giao dịch – được gọi là chỉ số Divisia. Trong thực tế, lãi suất trả cho một loại tiền nào đó thường được sử dụng như một thước đo gia quyền (weight metric). Đó là bởi vì các cá nhân và doanh nghiệp chỉ có khuynh hướng nắm giữ tiền, loại tài sản có lãi suất thấp so với các công cụ tài chính khác, nếu nó bù đắp cho họ bằng cách cung cấp các dịch vụ giao dịch ấn tượng hơn.

    Việc xác định thước đo phù hợp của tiền đã trở nên phức tạp do sự phát triển không ngừng của ngành tài chính. Nó đã mở rộng hàng loạt công cụ có thể đối xử như tiền và hàng loạt định chế tài chính có thể vay và gởi tiền từ hệ thống ngân hàng truyền thống. Ví dụ, các hợp đồng bán và mua lại (được biết như repos) – ở đó một công ty đồng ý mua một khoản bảo đảm từ một ngân hàng với cam kết sẽ bán lại nó sau đó – hiện đang được xếp vào M4 bởi khoản bồi thường được nắm bởi ngân hàng có thể được coi là tiền bảo chứng.

    Cho đến năm 2007 khối lượng tiền tổng quát được xây dựng bởi Ngân hàng Anh.

    Kể từ năm 2007 đại lượng tổng gộp hàng đầu về tiền được xây dựng bởi Ngân hàng Anh.

    (a) Tất cả các định nghĩa chỉ đề cập đến thước đo đồng bảng. Một vài định nghĩa trong bảng này được thay đổi tại các thời điểm khác nhau. Ví dụ, đại lượng tổng gộp M3 nguyên thủy bao gồm tiền gửi của khu vực công và tiền gửi bằng ngoại tệ của khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một lịch sử toàn diện hơn về sự phát triển của các đại lượng tổng gộp về tiền ở Anh có thể được tìm thấy tại www.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/art2jul03.pdf .

    (b) Được xuất bản bởi Ngân hàng Trung ương trừ khi có quy định khác.

    (c) Chuỗi này sử dụng dữ liệu được xây dựng bởi Capie và Webber (1985).

    QE có tác động trực tiếp đến cả lượng tiền cơ sở và lượng tiền theo nghĩa rộng do cách mà Ngân hàng tiến hành mua tài sản. Chính sách này nhằm mục đích mua các tài sản, trái phiếu chính phủ, chủ yếu từ các công ty tài chính phi ngân hàng, như quỹ hưu trí hay các công ty bảo hiểm. Ví dụ, giả sử mua trái phiếu chính phủ trị giá 1 tỷ bảng từ quỹ hưu trí. Một cách mà Ngân hàng có thể thực hiện việc mua sắm này là in 1 tỷ bảng Anh và trao đổi trực tiếp với quỹ hưu trí. Nhưng giao dịch với số tiền mặt lớn như vậy là không thực tế. Bởi vậy, những loại giao dịch này được thực hiện bằng cách sử dụng các loại tiền điện tử.

    Tại sao dự trữ bổ sung không phải là “tiền tự do” đối với các ngân hàng

    Tại sao các khoản dự trữ bổ sung không được nhân lên thành các khoản cho vay và tiền theo nghĩa rộng mới

    , ‘Macroprudential policy at the Bank of England’, Tucker, P, Hall, S and Pattani, A (2013) Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 192-200.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đầu Tư Vào Tài Sản Số: Chức Năng Lưu Trữ Giá Trị Của Tiền Điện Tử
  • Chọn Mua Máy Đếm Tiền Nào Là Phù Hợp Nhất
  • Công Ty Bán Máy Đếm Tiền Giá Rẻ Tại Hcm
  • Máy Đếm Tiền Thông Thường Và Máy Đếm Tiền Phát Hiện Tiền Giả Nên…
  • Giải Đáp: Nên Mua Máy Đếm Tiền Loại Nào Rẻ Và Bền Nhất?
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Định nghĩa

    Tiền tệ trong tiếng Anh là Currency. Tiền tệ có thể định nghĩa theo nhiều cách như sau:

    Quan điểm của Trường phái trọng thương

    Tiền tệ đồng nghĩa với sự giàu có. Một quốc gia muốn làm giàu thì phải tích lũy thật nhiều tiền.

    Quan điểm của Trường phái trọng nông

    Tiền tệ chỉ là một thứ hư tưởng. Tiền chỉ có tác dụng như một chất nhờn bôi trơn hoạt động của guồng máy kinh tế. Bản thân guồng máy đó không hề chịu bất cứ tác động nào của tiền tệ.

    Quan điểm của N. Gregory Mankiw

    Tiền tệ là một khối lượng tài sản có thể sử dụng ngay để tiến hành giao dịch.

    Quan điểm của Frederic S. Mishkin

    Tiền tệ là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để lấy hàng hóa và dịch vụ hoặc trong việc hoàn trả các món nợ.

    Phân biệt tiền với của cải và thu nhập

    Của cải ( Wealth): là giá trị ròng của tài sản sở hữu tính bằng tiền tại một thời điểm nhất định. Chú ý rằng, của cải là đại lượng tích tụ (như lượng nước trong một hồ nước).

    Của cải của một hộ gia đình bao gồm những tài sản hữu hình như nhà cửa, đất đai, ô tô và các hàng hóa tiêu dùng lâu bền khác và các khoản sở hữu tài chính như tiền mặt, tài khoản tiết kiệm, trái phiếu và chứng khoán.

    Mọi giá trị được coi là tài sản có, còn những khoản nợ được gọi là tài sản nợ. Sự chênh lệch giữa tổng tài sản có và tổng tài sản nợ được gọi là của cải hay tài sản ròng.

    Thu nhập ( Income): là lượng tiền kiếm được trong một đơn vị thời gian. Thu nhập là một đại lượng lưu chuyển trong một đơn vị thời gian như dòng chảy của một con sông.

    Chức năng của tiền tệ

    Theo quan điểm của các nhà kinh tế thị trường, tiền ba có chức năng đó là phương tiện trao đổi, phương tiện cất giữ và đơn vị hạch toán.

    Phương tiện trao đổi

    Phương tiện trao đổi là một thứ được mọi người chấp nhận rộng rãi để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ.

    Tiền là một phương tiện trao đổi. Khi bạn mua một hàng hóa bất kì, chẳng hạn áo sơ mi, chủ cửa hàng trao cho bạn áo sơ mi, còn bạn thì trả cho ông ta tiền. Nhờ có việc chuyển tiền từ người mua cho người bán mà giao dịch được thực hiện. Nếu không có tiền, việc trao đổi hàng hóa trở nên phức tạp và tốn kém hơn nhiều.

    Phương tiện cất giữ giá trị (Bảo tồn giá trị)

    Việc tiền đóng vai trò là phương tiện trao đổi đi liền với vai trò là một phương tiện cất giữ giá trị. Dân chúng sẽ chỉ giữ tiền một khi họ tin rằng nó sẽ tiếp tục có giá trị trong tương lai, do vậy tiền có thể thực hiện được chức năng phương tiện trao đổi chỉ khi nó cũng đóng vai trò là phương tiện bảo tồn và cất giữ giá trị.

    Với chức năng này dân chúng có thể lựa chọn giữ một số của cải trực tiếp bằng tiền. Tất nhiên, tiền không phải phương tiện cất trữ giá trị duy nhất trong nền kinh tế, bởi vì một người có thể chuyển sức mua từ hiện tại tới tương lai bằng cách nắm giữ tài sản khác.

    Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, giá trị của tiền liên tục giảm theo thời gian. Điều này làm cho tiền trở thành một phương tiện cất trữ giá trị yếu thế hơn so với các tài sản khác.

    Đơn vị hạch toán

    Với hai chức năng trên, tiền trở thành một đơn vị hạch toán rất tiện lợi và hiệu quả vì nó được chấp nhận rộng rãi trong mọi giao dịch.

    Mọi người sử dụng một đơn vị tiền tệ chung để niêm yết giá và ghi các khoản nợ.

    (Tài liệu tham khảo Giáo trình Kinh tế vĩ mô, NXB Tài chính)

    Minh Lan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tin Học 12 Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2. Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Arn
  • Các chức năng của tiền tệ

    Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C. Mác tiền tệ có 5 chức năng:

    Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:

    + Giá trị hàng hoá.

    + Giá trị của tiền.

    + Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.

    Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.

    Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.

    Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

    Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

    Phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    Phương tiện thanh toán. Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

    Tiền tệ thế giới. Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

    Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ Và Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ? (Ch62)
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì Công Dân 11?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ: Phân Tích Cụ Thể Mỗi Chức Năng Của Tiền
  • Đơn vị đánh giá 10

    Phương tiện dự trữ giá trị 11

    Ý nghĩa nghiên cứu 13

    Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế 14

    Mở rộng phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa 14

    Biểu hiện trị giá quan hệ xã hội 14

    Phục vụ mục đích của người sở hữu 14

    Lạm phát 15

    Khái niệm và các chỉ số 15

    Nguyên nhân 16

    Tác động của lạm phát 17

    Tác động tích cực 17

    Tác động tiêu cực 17

    Các biện pháp ổn định thị trường 19

    Ảnh hưởng của lạm phát tại Việt Nam 21

    Nhóm 3 2

    Nguồn gốc và bản chất tiền tệ

    I. Nguồn gốc xuất hiện:

    Theo Mác, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và các hình thái giá

    trị. Quá trình phát triển của các hình thái giá trị để đi đến hình thái giá trị diễn ra như sau:

    − Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên:

    1 tấm bò = 2 cái rìu

    Hình thái giá trị tương đối vật ngang giá chung

    Giá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị

    của bò. Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hình

    thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá

    khác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung.

    − Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất

    – bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưng

    vẫn trực tiếp. Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật

    mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác

    Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)

    − Hình thái giá trị chung khi sự phân công lao động lần thứ 2, thủ công nghiệp tách rời

    khỏi nông nghiệp  Sản xuất hàng hóa phát triển thì hình thức trao đổi trực tiếp bộc lộ những

    nhược điểm của nó , đòi hỏi phải có một loại hàng hoá đặc biệt giữ vai trò vật ngang giá chung

    của quá trình trao đổi

    Ví dụ: 10 kg thóc

    2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)

    0,1 chỉ vàng

    − Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100