Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ

--- Bài mới hơn ---

  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên:

    1 tấm bò = 2 cái rìu

    Hình thái giá trị tương đối – vật ngang giá chung

    Giá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của bò. Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hình thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung.

    – Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất – bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưng vẫn trực tiếp. Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác

    Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)

    Ví dụ: 10 kg thóc

    2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)

    0,1 chỉ vàng

    – Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại (kẽm, đồng, sắt, bạc, vàng.) chỉ đến lúc này thì hình thái tiền tệ mới được xác lập và vàng với tư cách là vật ngang giá chung và đã trở thành tiền tệ, gọi là kim tệ. Vì vậy, vàng – tiền tệ được coi là một HH đặc biệt.

    Kết luận:

    – Tiền tệ là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền là một phát minh vĩ đại của loài người, nó làm thay đổi bộ mặt của nền KT – XH

    – Sự ra đời và tồn tại của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và tồn tại của sản xuất và trao đổi HH. Và trong quá trình này nó xuất hiện vật ngang giá chung.

    – Vàng – tiền tệ được coi là một hàng hoá đặc biệt.

    Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị. Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.

    Theo Mac, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

    Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

    3.1 Chức năng thước đo giá trị (standard of value)

    Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.

    Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomét. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này.

    Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kiliogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá.

    Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/N

    3.2 Chức năng phương tiện trao đổi (Medium of exchange)

    Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.

    Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

    Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:

    – Vế thứ nhất: bán hàng để lấy tiền: H-T

    – Vế thứ hai : dùng tiền để mua hàng T – H

    Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không di liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng.

    3.3 Chức năng phương tiện thanh toán (standard of deferred payment)

    Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

    Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

    Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

    3.4 Chức năng phương tiện tích lũy (store of value or store of purchasing power)

    Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

    Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời.

    Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

    3.5 Chức năng tiền tệ thế giới (world currency)

    Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

    Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.

    Nguồn: trithuccongdong.net

    Trong các chức năng của tiền tệ trên thì chức năng phương tiện trao đổi chính là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Bởi vì, ngày nay tiền tệ luôn là phương tiện bôi trơn cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • 9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Adn Là Gì? Cấu Trúc Không Gian Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Định nghĩa

    Tiền tệ trong tiếng Anh là Currency. Tiền tệ có thể định nghĩa theo nhiều cách như sau:

    Quan điểm của Trường phái trọng thương

    Tiền tệ đồng nghĩa với sự giàu có. Một quốc gia muốn làm giàu thì phải tích lũy thật nhiều tiền.

    Quan điểm của Trường phái trọng nông

    Tiền tệ chỉ là một thứ hư tưởng. Tiền chỉ có tác dụng như một chất nhờn bôi trơn hoạt động của guồng máy kinh tế. Bản thân guồng máy đó không hề chịu bất cứ tác động nào của tiền tệ.

    Quan điểm của N. Gregory Mankiw

    Tiền tệ là một khối lượng tài sản có thể sử dụng ngay để tiến hành giao dịch.

    Quan điểm của Frederic S. Mishkin

    Tiền tệ là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để lấy hàng hóa và dịch vụ hoặc trong việc hoàn trả các món nợ.

    Phân biệt tiền với của cải và thu nhập

    Của cải ( Wealth): là giá trị ròng của tài sản sở hữu tính bằng tiền tại một thời điểm nhất định. Chú ý rằng, của cải là đại lượng tích tụ (như lượng nước trong một hồ nước).

    Của cải của một hộ gia đình bao gồm những tài sản hữu hình như nhà cửa, đất đai, ô tô và các hàng hóa tiêu dùng lâu bền khác và các khoản sở hữu tài chính như tiền mặt, tài khoản tiết kiệm, trái phiếu và chứng khoán.

    Mọi giá trị được coi là tài sản có, còn những khoản nợ được gọi là tài sản nợ. Sự chênh lệch giữa tổng tài sản có và tổng tài sản nợ được gọi là của cải hay tài sản ròng.

    Thu nhập ( Income): là lượng tiền kiếm được trong một đơn vị thời gian. Thu nhập là một đại lượng lưu chuyển trong một đơn vị thời gian như dòng chảy của một con sông.

    Chức năng của tiền tệ

    Theo quan điểm của các nhà kinh tế thị trường, tiền ba có chức năng đó là phương tiện trao đổi, phương tiện cất giữ và đơn vị hạch toán.

    Phương tiện trao đổi

    Phương tiện trao đổi là một thứ được mọi người chấp nhận rộng rãi để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ.

    Tiền là một phương tiện trao đổi. Khi bạn mua một hàng hóa bất kì, chẳng hạn áo sơ mi, chủ cửa hàng trao cho bạn áo sơ mi, còn bạn thì trả cho ông ta tiền. Nhờ có việc chuyển tiền từ người mua cho người bán mà giao dịch được thực hiện. Nếu không có tiền, việc trao đổi hàng hóa trở nên phức tạp và tốn kém hơn nhiều.

    Phương tiện cất giữ giá trị (Bảo tồn giá trị)

    Việc tiền đóng vai trò là phương tiện trao đổi đi liền với vai trò là một phương tiện cất giữ giá trị. Dân chúng sẽ chỉ giữ tiền một khi họ tin rằng nó sẽ tiếp tục có giá trị trong tương lai, do vậy tiền có thể thực hiện được chức năng phương tiện trao đổi chỉ khi nó cũng đóng vai trò là phương tiện bảo tồn và cất giữ giá trị.

    Với chức năng này dân chúng có thể lựa chọn giữ một số của cải trực tiếp bằng tiền. Tất nhiên, tiền không phải phương tiện cất trữ giá trị duy nhất trong nền kinh tế, bởi vì một người có thể chuyển sức mua từ hiện tại tới tương lai bằng cách nắm giữ tài sản khác.

    Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, giá trị của tiền liên tục giảm theo thời gian. Điều này làm cho tiền trở thành một phương tiện cất trữ giá trị yếu thế hơn so với các tài sản khác.

    Đơn vị hạch toán

    Với hai chức năng trên, tiền trở thành một đơn vị hạch toán rất tiện lợi và hiệu quả vì nó được chấp nhận rộng rãi trong mọi giao dịch.

    Mọi người sử dụng một đơn vị tiền tệ chung để niêm yết giá và ghi các khoản nợ.

    (Tài liệu tham khảo Giáo trình Kinh tế vĩ mô, NXB Tài chính)

    Minh Lan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Và Hình Thái Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2 Gdcd Lớp 11 Trường Thpt Tân Trào.html
  • Bài 2: Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Bài 3: Sự Phát Triển Các Hình Thái Tiền Tệ
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Theo Quan Điểm Của Nhà Kinh Tế Học Hiện Đại? Nêu Ý Nghĩa?
  • Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế
  • Tiền tệ là gì?

    Thông thường, tiền tệ là định nghĩa cho bất kỳ loại tiền nào được sử dụng để lưu thông trên toàn thế giới. Các loại tiền tệ được làm từ nhiều vật liệu khác nhau như giấy, polime hoặc kim loại. Nó thường được ban hành và duy trì bởi một cơ quan quản lý của quốc gia hay liên minh, khu vực. Điều này có nghĩa là giá trị của đồng tiền không đến từ vật liệu được tạo ra, mà bằng giá trị mà nó đại diện theo nền kinh tế và tổ chức phát hành.

    Các chức năng chính của tiền tệ

    Tiền tệ có 3 chức năng cơ bản là:

    • Phương tiện trao đổi
    • Phương tiện bảo tồn giá trị
    • Phương tiện hạch toán

    Khi tiền đóng vai trò phương tiện trao đổi, tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ, điều đó đòi hỏi người bán phải chấp nhận nó với tư cách là phương tiện thanh toán trong các giao dịch trên thị trường. Từ các giao dịch bình thường hay các hợp đồng giao dịch lớn giữa các tác nhân đều thỏa thuận về phương tiện thanh toán. Không có một phương tiện trao đổi được chấp nhận rộng rãi, lưu thông hàng hóa sẽ dựa vào chế độ hàng đổi hàng. Chế độ hàng đổi hàng đơn giản là sự trao đổi trực tiếp. Trong điều kiện đó, dân cư sẽ mất nhiều thời gian để thực hiện các giao dịch.

    Với chức năng là phương tiện bảo tồn giá trị, tiền là một hình thức để chuyển sức mua từ hiện tại sang tương lai. Nhờ chức năng này người dân có thể lựa chọn giữ một số của cải trực tiếp bằng tiền. Tuy nhiên, trong điều kiện có lạm phát, giá trị của tiền giảm theo thời gian, vì thế tiền trở thành phương tiện bảo tồn giá trị không hiệu quả

    Chức năng đơn vị hạch toán của tiền, chỉ ra sự tiện lợi khi có một phương tiện được chấp nhận rộng rãi để định giá và ghi sổ sách. Tiền còn là cơ sở để hạch toán các hoạt động kinh tế. Nó còn là cơ sở để hạch toán mọi hoạt động kinh tế từ sản xuất, lưu thông và tiêu dùng của mọi quốc gia.

    Trong các chức năng của tiền tệ, chức năng phương tiện trao đổi là chức năng quan trọng nhất, vì nó thể hiện được bản chất của tiền.

    Các loại hình thái của tiền tệ

    Theo tiến trình lịch sử, tiền tệ đã trải qua ba hình thái: tiền hàng hóa, tiền quy ước và tiền qua ngân hàng.

    Tiền hàng hoá

    Tiền hàng hóa là một loại hàng hóa nào đó được người ta công nhận để làm vật trung gian cho việc giao dịch mua bán hàng hóa.

    Lúc đầu người ta sử dụng các loại hàng hóa thông dụng trong trao đổi như lúa mì, súc vật… Điều này đem tới nhiều bất tiện, do tiền hàng hóa chỉ được chấp nhận trong một nhóm người hay trong một địa phương, lại không thuận tiện cho việc di chuyển, và trong nhiều trường hợp khó phân chia thành nhiều đơn vị cần thiết.

    Tiền kim loại được sử dụng lần lượt đồng, bạc, vàng, do có nhiều ưu điểm hơn các kim loại khác.

    Nguyên tắc chung của tiền hàng hóa là giá trị của tiền bằng với giá trị của vật dùng làm tiền.

    • Ưu điểm: Những hàng hóa được chọn làm tiền tệ có giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người, có thể bảo tồn lâu và mang tính chất phổ biến, đặc trưng cho địa phương, khu vực diễn ra trao đổi.
    • Nhược điểm: Không đồng nhất; Dễ hư hỏng; Khó phân chia hay gộp lại; Khó bảo quản cũng như vận chuyển; Mang tính khu vực, địa phương…

    Tiền quy ước (tiền pháp định)

    Tiền quy ước hay tiền pháp định là loại tiền được lưu hành do quy định của nhà nước. Tiền được gọi là tiền quy ước bởi vì giá trị ghi trên bề mặt đồng tiền chỉ là giá trị tượng trưng, tức là lớn hơn hay nhỏ hơn so với giá trị của vật dùng làm tiền. Nó biểu thị cho một lượng giá trị nào đó mà mọi người thừa nhận chúng và tin vào đó để sử dụng. Sự khác nhau cơ bản giữa tiền hàng hóa và pháp định là ở chỗ đối với tiền pháp định giá trị của tiền tệ lớn hơn giá trị của vật dùng làm tiền, trong khi đó đối với tiền hàng hóa thì hai giá trị đó phải bằng nhau.

    Tiền quy ước cũng có hai dạng:

    Cả hai loại này đang được lưu hành trên thế giới. Tiền kim loại, trước đây người ta sử dụng các loại kim loại quý như bạc, vàng… về sau sử dụng loại kim loại rẻ hơn, tiền được sử dụng nhiều hơn. Tại nước ta hiện nay, tiền xu các loại đang được sử dụng trong lưu thông, đây cũng cũng là dạng tiền kim loại như nhiều nước trên thế giới đang sử dụng.

    Đối với tiền giấy có hai loại tiền giấy khả hoán và tiền giấy không khả hoán.

    Tiền giấy khả hoán xuất hiện vào thế kỉ XVII, lần đầu tiên do ngân hàng Amsterdam của Hà Lan thực hiện. Đối với loại tiền này khi có một lượng tiền nào đó bạn có thể đến nơi mà chính phủ quy định đổi lấy một lượng vàng hoặc bạc tương đương. Lượng quy kim đó được căn cứ vào bản vị tiền tệ, là lượng mà Chính phủ dùng để định nghĩa giá trị một đơn vị tiền tệ của quốc gia. Ví dụ ở Mỹ vào năm 1775 người ta định nghĩa 1USD = 25,92 g bạc 99,99%; và vào năm 1900 định nghĩa 1USD = 1504,6 mg vàng 99,99%. Nếu định nghĩa theo vàng thì gọi là chế độ bản vị vàng và theo bạc thì ta có chế độ bản vị bạc. Việc sử dụng tiền khả hoán đòi hỏi chính phủ có một lượng dự trữ vàng hoặc bạc tương đương với lượng tiền phát hành. Mục đích của chế độ phát hành này là muốn bảo đảm giá trị của đồng tiền đang lưu hành. Trong thực tế việc này không phải lúc nào cũng thực hiện được. Cho đến giữa những năm 1930, hầu như các quốc gia đều bỏ chế độ tiền giấy khả hoán chuyển sang sử dụng tiền giấy bất khả hoán.

    Tiền giấy bất khả hoán là loại tiền bắt buộc lưu hành, dân chúng không thể mang tiền giấy đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc.

    • Ưu điểm: Nhẹ, dễ vận chuyển và cất trữ; Có đầy đủ mệnh giá; Chính phủ tốn ít chi phí sản xuất.
    • Nhược điểm: Không bền; Khá cồng kềnh khi giao dịch lớn; Tốn chi phí vận chuyển và dễ gặp rủi ro; Có thể bị làm giả; Dễ rơi vào tình trạng bất ổn (đồng tiền bị mất giá)

    Tiền qua ngân hàng

    Tiền qua ngân hàng là tiền ký thác hay tiền ký thác không kỳ hạn sử dụng séc hay tiền ghi nợ. Loại tiền này được tạo ra từ tài khoản séc.

    Từ nợ ở đây là chỉ khoản nợ của ngân hàng đối với người mở tài khoản séc tại ngân hàng. Khi mở tài khoản séc tức là người ta đưa vào ngân hàng một lượng ký thác không kỳ hạn. Người chủ tài khoản có thể viết một tờ séc cho mình hoặc cho một người nào đó để yêu cầu ngân hàng thanh toán một lượng tiền khi tờ séc được xuất trình và chưa quá hạn. Lượng tiền ký thác không kỳ hạn đó chính là tiền qua ngân hàng. Nhưng bản thân những tờ séc không phải là tiền, vì khi nhận tờ séc từ tay một người nào đó thì người ta không thể dùng nó vào việc thanh toán nợ hay mua bán hàng hóa.

    • Ưu điểm: Tiết kiệm chi phí giao dịch; Nhanh, đơn giản và an toàn; Thuận lợi khi giao dịch lớn.
    • Nhược điểm: Mất thời gian vận chuyển séc, kiểm tra tính hợp pháp của séc..nên không phù hợp khi cần thanh toán nhanh; Tốn kém chi phí xử lý chứng từ.; Cần một khoảng thời gian dài để đưa vào ứng dụng phổ biến, rộng rãi.

    Trong ba hình thái tiền tệ nêu trên hiện nay chỉ phổ biến hai hình thái là tiền quy ước và tiền qua ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hệ thống ngân hàng càng hoàn thiện thì vai trò của ngân hàng càng quan trọng. Ở nước ta, từ trước đến nay sử dụng chủ yếu vẫn là tiền giấy, tiền qua ngân hàng còn chưa sử dụng phổ biến nhưng trong xu hướng chung thì loại tiền này sẽ được sử dụng nhiều hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì? Chức Năng Và Tầm Quan Trọng Của Tiền Tệ
  • Em Hãy Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Thị Trường. Lấy Ví Dụ Mỗi Chức Năng. Nêu Mong Muốn Của Bản Thân Em Trong Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Chức Năng Phương Tiện Trao Đổi (Medium Of Exchange) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Tiền Tệ Là Gì? Chức Năng Và Tầm Quan Trọng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Và Hình Thái Của Tiền Tệ
  • Bài 2 Gdcd Lớp 11 Trường Thpt Tân Trào.html
  • Bài 2: Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Bài 3: Sự Phát Triển Các Hình Thái Tiền Tệ
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Theo Quan Điểm Của Nhà Kinh Tế Học Hiện Đại? Nêu Ý Nghĩa?
  • Nằm trong phạm trù kinh tế, lịch sử, sự ra đời của tiền tệ là một trong những phát minh vĩ đại của loài người, giúp thúc đẩy các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, dần dần thay đổi bộ mặt của kinh tế, xã hội. Mà nói theo quan điểm của Mác thì: tiền tệ là thứ hàng hóa đặc biệt, giúp biểu thị giá trị của các hàng hóa khác nhau.

    Tiền tệ ( tiền lưu thông) là phương tiện thanh toán, là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay nền kinh tế. Tiền tệ có thể mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại (tiền pháp định) do Nhà nước (Bộ Tài chính ,ngân hàng trung ương,…) phát hành, tiền hàng hóa (vàng, vỏ sò, gạo, muối), tiền thay thế (điểm thưởng, phỉnh poker, coupon, dặm bay,…), hoặc tiền mã hóa do một mạng lưới máy tính phát hành (điển hình là Bitcoin). Người ta dùng cụm từ “đơn vị tiền tệ” để phân biệt tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác. Đơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia có thể có cùng một tên gọi (ví dụ: dollar, franc…) và để phân biệt các đơn vị tiền tệ đó người ta thường phải gọi kèm tên quốc gia sử dụng đồng tiền (ví dụ: dollar Mỹ, dollar Úc). Với sự hình thành của các khu vực tiền tệ thống nhất, ngày nay có nhiều quốc gia dùng chung một đơn vị tiền tệ như đồng EUR.

    Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy. Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền kim loại thì không. Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh toán pháp quy bị luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn vị tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của những đồng tiền kim loại ấy.

    2. Tiền tệ là gì? tiền tệ xuất hiện như thế nào?

    Bàn về nguyên nhân ra đời của tiền tệ, ở Phương Tây chia thành hai trường phái riêng biệt. Một cho rằng sự ra đời của tiền tệ là kết quả khách quan tất yếu từ trao đổi hàng hóa phát triển thành. Đại diện cho trường phái này có David Ricardo, Adam Smith….

    Một trường phái khác lại cho rằng: nguồn gốc của tiền tệ là bản tính của đàn bà với các nhu cầu làm đẹp và bản tính đàn ông với sự ham muốn có nhiều tiền cùng danh vọng mà không nằm trong ‎quá trình trao đổi hàng hóa. Đại diện cho trường phái này là Smondest và W.Gherlop (là nhà tâm lý học).

    Sau khi dày công nghiên cứu, C.Mác cho rằng: thời kỳ con người sống thành bầy đàn chỉ duy trì hình thái kiếm ăn theo bản năng, lúc này chiếm hữu tư nhân chưa xuất hiện. Tuy nhiên, mầm mống trao đổi đã dân xuất hiện từ xã hội nguyên thủy, vật đổi vật khi có nhu cầu, mang tính ngẫu nhiên theo hình thức ngang giá.

    Khi quá trình phân công lao động xuất hiện trong xã hội thì hoạt động trao đổi thường xảy ra hơn, tiến bộ hơn so với hình thức trao đổi sơ khai nhưng vẫn có rất nhiều hàng hóa được trao đổi theo vật ngang giá. Khi sự phất công lao động càng phát triển thì sự trao đổi hàng hóa càng bộc lộ những thiếu sót dẫn đến mâu thuẫn lên cao, mức độ phân hóa trong xã hội ngày càng lớn.

    Khi sự phân công lao động xuất hiện lần thứ hai, lúc này thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp thị trường hàng hóa mở rộng và phát triển. Tình trạng vật đổi vật ngang giá thật sự không công bằng, đẩy mâu thuẫn càng lên cao của thị trường. Trước tình trạng trên, đòi hỏi phải có vật ngang giá mang giá trị lớn nhất, tiền tệ ra đời – biểu thị cho vật ngang giá chung đã giải quyết được yêu cầu trên.

    3. Chức năng của tiền tệ là gì?

    Qua tìm hiểu lịch sử ra đời và tầm quan trọng của tiền tệ, ta đã thấy được đây là một hàng không thể thiếu, mang trong mình nhiều chức năng quan trọng. Chức năng đầu tiên của tiền tệ là thước đo giá trị (tiền tệ mang giá trị trung gian, giá trị trao đổi và giá trị bảo lưu).

    Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác. Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomét.

    Chức năng thứ hai là phương tiện trao đổi – đây là chức năng chức ta sử dụng tiền tệ hàng ngày trong mua (bán) hàng hóa các loại, và cũng là chức năng quan trọng nhất. Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa. Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

    Chức năng thứ ba của tiền tệ là phương tiện thanh toán, trong lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Tiền tệ có chức năng thứ tư là phương tiện tích lũy, tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

    Trước đây, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, nhưng nó không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời. Cho đến khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Phương pháp này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Vậy nên, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

    Chức năng tiền tệ thế giới là chức năng thứ năm, khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

    4. Vậy tầm quan trọng của tiền tệ là gì?

    Thông qua sự ra đời và chức năng của tiền tệ, ta có thể thấy được tầm quan trọng mà mặt hàng này mang lại. Tiền tệ là vật mang giá trị chung sử dụng trong quy tắc trao đổi giá trị các mặt hàng. Tiền tệ ra đời tỷ lệ thuận với quá trình mở rộng, lưu thông và phát triển hàng hóa. Ngoài ra chúng góp sức mạnh mẽ trong quá trình mở rộng quan hệ quốc tế.

    Suy cho cùng, tiền tệ là công cụ phục vụ con người với nhiều mục đích khác nhau. Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, các quốc gia, các cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân đều không thể đứng bên ngoài các mối quan hệ mà tiền tệ mang lại. Có thể thấy tiền tệ không ngừng phát huy sức mạnh của mình trong nền kinh tế hàng hóa hiện nay và vẫn còn phát triển về sau một khi nền kinh tế này vẫn tồn tại.

    Qua bài viết của TraderPlus hẳn các bạn đã nắm vững kiến thức về tiền tệ là gì? và các chức năng và tầm quan trọng của nó. Tóm lại, tiền tệ ra đời mang trong mình một lúc nhiều chức năng và tầm quan trọng mà các mặt hàng khác không thể thay thế được. Để phát huy các chức năng này, tiền tệ phải là mặt hàng đang được lưu hành một cách chính thống, có sự sở hữu của nhà nước và có sự tín nhiệm của người dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Em Hãy Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Thị Trường. Lấy Ví Dụ Mỗi Chức Năng. Nêu Mong Muốn Của Bản Thân Em Trong Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Chức Năng Phương Tiện Trao Đổi (Medium Of Exchange) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tin Học 12 Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2. Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Arn
  • Chức Năng Của Thận Là Gì? Đặc Điểm Và Cấu Tạo Của Thận
  • Trong kinh tế chính trị của các nước phương Tây hình thành nên hai trường phái: Một trường phái cho rằng tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu khách quan của quá trình trao đổi hàng hóa (Trường phái kinh tế chính trị học cổ điển như: Adam Smith, David Ricardo…)

    Trường phái thứ hai giải thích sự xuất hiện của tiền tệ như là một sự kiện có tính chất tâm lý (như hai nhà tâm lý học W.Gherlop và Smondest). Họ cho rằng: “Nguồn gốc của tiền tệ không nằm trong ‎quá trình trao đổi hàng hóa mà do lòng ham muốn hiểu biết và nhu cầu làm đẹp là bản tính của đàn bà. Còn bản tính của đàn ông lại là danh vọng, và sự ham muốn có nhiều tiền”

    Lần đầu tiên, C.Mác vận dụng phương pháp duy vật biện chứng nghiên cứu các hiện tượng kinh tế. Ông đã nghiên cứu sự phát triển của các hình thái trao đổi từ hình thái trao đổi ngẫu nhiên đến quá trình trao đổi hàng hóa sử dụng tiền tệ, từ đó ông xác định bản chất của tiền tệ cũng như sự ra đời của nó.

    Theo Mác, trong lịch sử phát triển của loài người, lúc đầu con người sống thành bầy đàn, kiếm ăn một cách tự nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa có sản xuất và trao đổi hàng hóa nên chưa có tiền tệ. Tuy nhiên, ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm mống của sự trao đổi. Lúc đầu trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên và được tiến hành trực tiếp vật này lấy vật khác. Giá trị (tương đối) của một vật được biểu hiện bởi giá trị sử dụng của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật ngang giá.

    Khi sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất xuất hiện, bộ lạc du mục tách khỏi toàn khối bộ lạc, hoạt động trao đổi diễn ra thường xuyên hơn. Tương ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị mở rộng. Tham gia trao đổi bây giờ không phải là hai loại hàng hóa mà là một loạt các loại hàng hóa khác nhau. Đây là một bước phát triển mới, tiến bộ so với hình thái giá trị giản đơn, song bản thân nó còn bộc lộ một số thiếu sót:

    • Biểu hiện tương đối của giá trị hàng hóa chưa được hoàn tất, vẫn còn nhiều hàng hóa làm vật ngang giá.
    • Các hàng hóa biểu hiện cho giá trị của một hàng hóa lại không thuần nhất.

    Phân công lao động xã hội và sản xuất phát triển thì hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp ngày càng bộc lộ các nhược điểm của nó. Các hàng hóa chỉ được trao đổi với nhau khi những người chủ của nó có cùng ‎ muốn trao đổi, ‎ muốn trùng khớp. Như vậy, cùng với sự phát triển của sản xuất thì trao đổi trực tiếp ngày càng khó khăn và làm cho mâu thuẫn trong lao động và phân hóa lao động xã hội ngày càng tăng.

    Do đó, tất yếu đòi hỏi phải có một thứ hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung tất ra từ tất cả các thứ hàng hóa khác và các hàng hóa khác có thể trao đổi được với nó, ví dụ như súc vật. Thích ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị chung. Nhưng trong giai đoạn này, tác dụng của vật ngang giá chung vẫn chưa cụ thể tại một thứ hàng hóa nào, trong những vùng khác nhau thì có những thứ hàng hóa khác nhau có tác dụng làm vật ngang giá chung.

    Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp làm cho sản xuất hàng hóa phát triển và thị trường mở rộng. Tình trạng nhiều hàng hóa có tác dụng vật ngang giá chung phát sinh mâu thuẫn với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, thị trường đòi hỏi phải thống nhất một vật ngang giá đơn nhất. Khi vật ngang giá chung cố định ở một loại hàng hóa thì sinh ra hình thái tiền tệ. Khi đó, tất cả hàng hóa được biểu hiện giá trị của nó trong một thư hàng hóa, thứ hàng hóa đó trở thành vật ngang giá chung.

    Như vậy, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và của các hình thái giá trị.

    Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị. Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.

    Sau khi xem xét lịch sử hình thành tiền tệ, bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm tiền tệ. Mọi người đều biết tiền tệ là một thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội, tuy nhiên, khó có thể tìm ra một khái niệm thống nhất về tiền tệ.

    Theo Mác, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

    Theo các nhà kinh tế hiện đại về khái niệm tiền tệ: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

    Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta không thể tiến hành sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó.

    Vai trò của tiền tệ khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách trôi chảy. Mặt khác, khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh giúp cho người sản xuất có thể hạch toán được chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện được tích lũy tiền tệ để thực hiện tái sản xuất kinh doanh

    Tiền tệ trở thành công cụ duy nhất và không thể thiếu để thực hiện yêu cầu quy luật giá trị. Vì vậy, nó là công cụ không thể thiếu và vai trò quan trọng để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa.

    Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.

    Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, vai trò của tiền tệ phát huy để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước.

    Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng chúng.

    Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan hệ kinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiện tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng xử l‎ý và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế.

    Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.

    Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ về viết thuê luận văn tốt nghiệp, cao học. Nếu bạn bận rộn không có thời gian để hoàn thành hay gặp bất cứ khó khăn nào trong việc hoàn thành bài luận, hãy để chúng tôi đồng hành cùng bạn giải quyết mọi vấn đề.

    Theo Mác, khi giả định vàng làm hàng hóa tiền tệ, ông đã cho rằng tiền có năm chức năng: thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới. Trãi qua quá trình phát triển, khoa học tiền tệ không ngừng phát triển, trong nền kinh tế hiện đại các chức năng ban đầu của tiền tệ vẫn có ‎ nghĩa nhất định.

    3.1. Chức năng thước đo giá trị

    Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.

    Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomet. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này.

    Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá.

    Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/N

    Hãy tưởng tượng ra sự khó khăn đến thế nào nếu ta đi mua sắm trong một siêu thị với 1000 mặt hàng khác nhau. Khi quyết định giá của vật này rẻ hay đắt hơn giá của cái kia rất khó khăn vì giá của 1 kilogam gà được đo bằng 5 kilogam thóc, trong khi 1 kilogam cá được định giá bằng 3 kilogam cà chua. Chắc chắn rằng bạn có thể so sánh giá của tất cả các mặt hàng, bảng giá của một mặt hàng sẽ phải kê ra 999+ giá khác nhau và thời gian dùng để đọc chúng rất lâu làm cho chi phí giao dịch tăng đáng kể.

    Giải pháp cho vấn đề này là đưa tiền vào nền kinh tế và dùng tiền để thể hiện giá cho tất cả các mặt hàng, như vậy chúng ta có thể dễ dàng so sánh được giá gạo, vải hay muối. Nếu chỉ có 3 mặt hàng trong nền kinh tế thì điều này sẽ không có ‎ nghĩa lớn so với nền kinh tế đổi chác vì chúng ta chỉ có 3 giá khi giao dịch. Tuy nhiên, với số lượng hàng hóa lớn hơn thì tầm quan trọng của tiền lúc này sẽ rất lớn, với 10 mặt hàng bây giờ chúng ta chỉ cần 10 giá, 100 mặt hàng chỉ cần 100 giá. Tại siêu thị có 1000 mặt hàng thì nay chỉ cần 1000 giá để xem chứ không phải 499.500 giá.

    C.Mác đã cho rằng để thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ phải là tiền thực – tiền có đủ giá trị nội tại. Để đo lường và biểu hiện giá trị các hàng hóa, có thể sử dụng tiền trong ‎ niệm và cần phải có tiêu chuẩn giá cả, tiêu chuẩn giá cả là đơn vị đo lường tiền tệ của mỗi quốc gia bao gồm hai yếu tố: tên gọi của đơn vị tiền tệ và hàm lượng kim loại‎ trong một đơn vị tiền tệ.

    Với việc đảm nhận chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã giúp cho mọi việc tính toán trong nền kinh tế trở nên đơn giản như tính GNP, thu nhập, thuế khóa, chi phí sản xuất, vay nợ, trả nợ, giá trị hàng hóa, dịch vụ…

    Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.

    Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức độ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

    Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:

    Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không đi liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng. Chính sức mua (Purchasing power) của tiền tệ đã quyết định điều này.

    Do vậy muốn tiền thực hiện tốt chức năng phương tiện trao đổi đòi hỏi hệ thống tiền tệ của một quốc gia phải có sức mua ổn định, số lượng tiền tệ phải đủ liều lượng đáp ứng nhu cầu trao đổi trong mọi hoạt động kinh tế, hệ thống tiền tệ phải có đủ các loại tiền, đáp ứng kịp thời, nhanh chóng nhu cầu giao dịch của dân chúng. Đây là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ.

    3.3. Chức năng phương tiện thanh toán

    Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

    Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

    Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

    3.4. Chức năng phương tiện tích lũy

    Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

    Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và ít sinh lời.

    Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

    Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

    Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Thị Trường Tiền Tệ (Money Market) Là Gì? Chức Năng Của Thị Trường Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thước Đo Giá Trị (Standard Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Vai Trò Của Chính Sách Tiền Tệ Đối Với Nền Kinh Tế
  • Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ. Trong Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Nền Kinh Tế Ở Vn, Các Chức Năng Đó Đã Được Nhận Thức Và Vận Dụng Như Thế Nào ?
  • Vai Trò Của Tiền Tệ Đối Với Nền Kinh Tế Quan Trọng Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Tiền Lương Là Gì? Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Lương
  • Khái niệm

    Thị trường tiền tệhay còn gọi là thị trường vốn ngắn hạn trong tiếng Anh được gọi là money market hay short-term capital market.

    Thị trường tiền tệ là thị trường trao đổi vốn ngắn hạn như các khoản vay liên ngân hàng hoặc mua bán các chứng khoán ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi. Thời gian đáo hạn của các chứng khoán trên thị trường tiền tệ thường dưới một năm. (Theo Cẩm nang Đầu tư trên Thị trường Chứng khoán, Phạm Thế Anh, NXB Từ điển Bách Khoa).

    Chức năng của thị trường tiền tệ

    Thị trường tiền tệ hoạt động sẽ có tác dụng khơi thông và cung ứng vốn ngắn hạn cho các chủ thể cần vốn ngắn hạn trong kinh tế, vì vậy người ta gọi thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn.

    Phần lớn các ngân hàng, công ty sử dụng thị trường tiền tệ để thu hút các nguồn vốn ngắn hạn, còn đối với người đầu tư thì có độ an toàn cao, do giá chứng khoán ít biến động.

    Thị trường mua bán tín phiếu kho bạc thường được tổ chức thành thị trường tập trung, và Ngân hàng Trung ương lấy tín phiếu kho bạc làm công cụ thị trường mở điều hành chính sách tiền tệ.

    Hầu hết các nước đang phát triển đã áp dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở để bổ sung cho công cụ chính sách tiền tệ trực tiếp.

    Thị trường chứng chỉ tiền gửi là thị trường phi tập trung, mua bán chứng chỉ tiền gửi giữa các ngân hàng thương mại.

    Các công cụ của thị trường tiền tệ

    Các công cụ của thị trường tiền tệ bao gồm tín phiếu kho bạc, các loại thương phiếu, kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kì phiếu ngân hàng, các khế ước cho vay…

    Tuy nhiên, có những công cụ tài chính lưu thông trên thị trường tiền tệ thường thấy hơn cả, gồm:

    – Kì phiếu kho bạc (Treasure bills)

    – Kì phiếu ngân hàng (Bank bill)

    – Chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm (Certificates of time deposit hay CD)

    – Thương phiếu (Commercial paper)

    Chủ thể tham gia

    Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm:

    – Kho bạc nhà nước

    – Ngân hàng trung ương

    – Các ngân hàng thương mại

    – Các công ty tài chính

    – Các tổ chức kinh tế

    – Cá nhân trong xã hội

    Các bộ phận chủ yếu của thị trường tiền tệ

    Trong thị trường tiền tệ có thể bao gồm các loại thị trường sau:

    – Thị trường tiền gửi

    – Thị trường tín dụng

    – Thị trường liên ngân hàng

    – Thị trường mở

    – Thị trường trái phiếu kho bạc

    (Theo Thị trường Chứng khoán – Trường Đại học Kinh tế chúng tôi NXB Thống kê)

    Diệu Nhi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm, Chức Năng Của Thị Trường Tiền Tệ
  • Vụ Chính Sách Tiền Tệ Nhnn Thực Hiện Thắng Lợi Các Mục Tiêu Ngành Ngân Hàng
  • Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế Là Gì? Vai Trò Của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế
  • Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (Imf)
  • Tổng Quan Về Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế Imf
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ? Vai Trò Của Tiền Tệ Là Gì? – Luận Văn Kế Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế.
  • Tìm Hiểu Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế Và Quá Trình Phát Triển
  • Ổn Định Tài Chính Và Vai Trò Của Ổn Định Tài Chính
  • Chi Tiết Lịch Sử Tài Chính
  • Câu Hỏi 7. Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền?
  • Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C. Mác tiền tệ có 5 chức năng:

    Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:

    + Giá trị hàng hoá.

    + Giá trị của tiền.

    + Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.

    Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.

    Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.

    Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

    Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

    Phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    Phương tiện thanh toán. Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

    Tiền tệ thế giới. Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

    Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?… Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ làm đồ án thuê tphcm.

    Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.

    2. Vai trò của tiền tệ trong nền KT3

    2.1    Tiền tệ là phương tiện để mở rộng phát triển sản xuất và trao đổi HH

    –   Tiền làm cho giá trị của hàng hoá được biểu hiện một cách đơn giản cho nên người ta dễ dàng so sánh các hàng hoá với nhau và người lao động có  thể so sánh về mức độ lao động với nhau.

    –   Nó làm cho giá trị của hàng hoá được thực hiện một cách thuận lợi, người sở hữu có thể chuyển đổi giá trị sử dụng một cách dễ dàng

    –   Tiền tệ làm cho sự trao đổi hàng hoá không bị ràng buộc về không gian và thời gian.

    –   Tiền tệ làm cho việc hạch toán hiệu quả sản xuất kinh doanh dễ dàng

    2.2    Tiền tệ nó biểu hiện giá trị quan hệ xã hội

    Quá trình sản xuất giữa các cá nhân, doanh nghiệp luôn diễn ra hoàn toàn độc lập và riêng lẻ nhưng khi thực hiện trao đổi tiền là sợi dây nối liền giữa những người sản xuất hàng hoá với nhau. Về hình thức thì chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng về thực chất thì chúng có mối quan hệ chia rẻ, tiền phân hoá mối quan hệ trong xã hội thành kẻ giàu, người nghèo và có sự phân cấp địa vị xã hội.

    2.3    Tiền phục vụ cho mục đích của người sở hữu chúng

    – Đối với dân cư: tiền là phương tiện phục vụ nhu cầu sống

    – Đối với chính sách tài chính quốc gia: tiền là cơ sở để hình thành nên các khoản thu chi của ngân sách

    – Đối với chính sách kinh tế đối ngoại: tiền là cơ sở hình thành nên tỷ giá hối đoái hoặc là phương tiện chi trả giữa các quốc gia

    – Đối với chính sách kinh tế vi mô: cơ sở hình thành vốn và các chỉ tiêu tài chính như chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận

    – Đối với chính sách kinh tế vĩ mô: tiền là phương tiện để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

    Các bài có thể xem: 

    +  Khái niệm và đặc điểm thẻ thanh toán ngân hàng ,

    +  Quy trình cho vay khách hàng cá nhân,

    +  Các hình thức cho vay khách hàng cá nhân,

    +  Tìm hiểu chiêu thi – promotion trong marketing,

    +  Tìm hiểu sensory marketing ,

    +  Các nhân tố ảnh hướng đến văn hóa doanh nghiệp.,

    +  Mã hóa là gì,

    +  Thị trường tiền tệ là gì,

    +  Định nghĩa vai trò và công cụ của chính sách tiền tệ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Whey Protein: Tất Tần Tật Những Gì Người Mới Bắt Đầu Tìm Hiểu Cần Biết
  • Thực Phẩm Chức Năng Protein
  • Thực Phẩm Bổ Sung Protein Pure Whey Protein Của Mỹ
  • Xem Xét Một Cách Hệ Thống Về Sự Dung Hợp Các Tín Hiệu Của Protein Kinase A
  • Kháng Thể Là Gì? Cấu Trúc Và Vai Trò Của Kháng Thể
  • Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tin Học 12 Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2. Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Arn
  • Các chức năng của tiền tệ

    Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C. Mác tiền tệ có 5 chức năng:

    Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:

    + Giá trị hàng hoá.

    + Giá trị của tiền.

    + Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.

    Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.

    Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.

    Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

    Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

    Phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    Phương tiện thanh toán. Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

    Tiền tệ thế giới. Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

    Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Đâu Không Phải Là Chức Năng Của Tiền Tệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Cất Trữ Giá Trị (Store Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Chức Năng Tiền Tệ
  • Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Bài Giảng Tài Chính Tiền Tệ
  • Trường Đại Học Kinh Tế Công Nghiệp Long An
  • Chủ đề :

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Trong kinh tế hàng hoá, việc sản xuất ra sản phẩm là để
    • Thời gian lao động xã hội cần thiết tạo ra
    • Hàng hoá có hai thuộc tính, đó là
    • Đâu không phải là chức năng của tiền tệ?
    • Sức lao động của con người là
    • Trên trị trường mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa người bán và người mua nhằm mục đích
    • Các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất gồm
    • Hoạt động trung tâm, cơ bản nhất của xã hội loài người
    • Thị trường là lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế tác động qua lại lẫn nhau nhằm xác định
    • Cơ sở sản xuất tư nhân anh N làm giày, dép để bán lấy tiền rồi dùng tiền đó mua lại nguyên liệu để tái sản xuất nhằm mở rộng sản xuất, tăng thu nhập kinh tế gia đình. Theo em, trong trường hợp này tiền thực hiện chức năng nào trong các chức năng sau?
    • Cha mẹ N đã trả cho công ty địa ốc 500 triệu đồng để mua căn hộ cho gia đình ở. Trong trường hợp này chức năng nào của tiền tệ đã được thực hiện?
    • Phát triển kinh tế là
    • Là một người tiêu dùng, người mua hàng hóa trên thị trường, bản thân em thường quan tâm (Chú ý) đến thuộc tính nào của hàng hóa
    • Ngày 28/08/2017 khi đi học về, K khoe với cha là con vừa được học ý nghĩa của việc phát triển kinh tế đối với cá nhân, gia đình và xã hội trong môn Giáo dục Công dân. Sau một hồi nói chuyện, cha hỏi con. Vậy, theo con trai việc phát triển kinh tế gia đình mình có ý nghĩa gì đối với con?
    • Sản xuất của cải vật chất là sự tác động của con người vào
    • Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và thông qua
    • Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên
    • Biểu hiện của giá trị hàng hóa là
    • Thị trường có các chức năng cơ bản
    • X là một học sinh học giỏi, nhưng gia đình lại khó khăn nên X phải phụ giúp gia đình kiếm thêm thu nhập. Hiện nay, do trời mưa nhiều nên X có ý định bán áo mưa, song X không biết lựa chọn loại áo mưa nào cho phù hợp với người tiêu dùng. Nếu em là X trong tình huống đó, em sẽ vận dụng chức năng nào của thị trường để ra quyết định cho công việc buôn bán của mình được thuận lợi?
    • Em hãy trình bày nội dung của quy luật giá trị? Nội dung của quy luật giá trị được biểu hiện như thế nào trong sản xuất và lưu thông hàng hoá? Là một người sản xuất hàng hóa theo em cần phải làm gì để vận dụng tốt quy luật giá trị?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ (Chuc Nang Cua Tien Te)
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam
  • Câu Hỏi Và Đáp Án Lý Thuyết Tiền Tệ
  • Câu Hỏi Tự Ôn Tập Chương Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Và Chính Sách Tiền Tệ
  • Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ Và Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • “Tỷ Giá” Về Với Vụ Chính Sách Tiền Tệ
  • Đại Hội Chi Bộ Vụ Chính Sách Tiền Tệ Nhiệm Kỳ 2022 2022 Thành Công Tốt Đẹp
  • Giáo Án Môn Tin Học 12
  • Gen Chỉ Dẫn Sản Xuất Protein Như Thế Nào?
  • Góc Nhìn Từ Đại Dịch Covid
  • Tiền tệ dùng để đại diện và đo đạc giá trị của các hàng hóa. Mong muốn đo lường thành quả của các hàng hóa, bản thân tiền tệ cũng nên có thành quả. Do đó, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo đạc thành quả hàng hóa không cần thiêt phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đấy trong ý tưởng. sở dĩ có thế thực hiện được như vậy vì giữa thành quả của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đấy là thời gian lao động xã hội thiết yếu hao phí để tạo ra hàng hóa đấy. thành quả hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hóa. Hay Theo một cách khác, cái giá là hình thức đại diện bằng chi phí giá trị hàng hóa.

    Quy luật lưu thông tiền tệ và chức năng của tiền tệ? Nhiều bạn sẽ khó hiểu khi học môn đại cương chủ nghĩa mác -lênin. chúng tôi xin giải đáp cho bạn vấn đề Quy luật lưu thông tiền tệ và chức năng của tiền tệ thông qua bài viết này.

    Cái giá hàng hóa chịu tác động của các nhân tố sau đây:

    + Giá trị hàng hóa.

    + Thành quả của tiền.

    + Quan hệ cung – cầu về hàng hóa.

    Nhưng vì thành quả hàng hóa là thông tin của giá cả nên trong ba nhân tố nêu trên thì thành quả vẫn là nhân tố quyết định cái giá.

    Để tiền làm được công dụng thước đo thành quả thì bản thân tiền tệ cũng phải được quy định một tổ chức tiền tệ chắc chắn làm chuẩn xác đo lường giá cả của hàng hóa. công ty đấy là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, công ty tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Chẳng hạn ở Mỹ, chuẩn mực giá cả của 1 đồng đôla có hàm lượng vàng là 0.736662gr, ở Pháp 1 đồng frăng hàm lượng vàng là 0,160000gr, ở Anh 1 đồng Fun St’zelinh có hàm lượng vàng là 2,13281 gr.. .Tác dụng của tiền khi dùng làm chuẩn xác giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng; làm thước đo giá trị. Là thước đo thành quả, tiền tệ đo đạc giá trị của các hàng hóa khác; là chuẩn xác cái giá, tiền tệ đo đạc bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hóa tiền tệ điều chỉnh theo sự điều chỉnh của số lượng lao động cần thiết để tạo ra hàng hóa đó. giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) điều chỉnh không tác động gì đến “chức năng” chuẩn mực giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi ra sao. Ví dụ. 1 Đôla vẫn bằng 10 xen.

    XEM THÊM Lịch sử hình thành và bản chất của tiền tệ

    Phương tiện lưu thông

    Với tính năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong lúc trao đổi hàng hóa. Để làm chức năng lưu thông hàng hóa đòi hỏi nên có tiền mặt. Trao đổi hàng hóa thu thập tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa.

    Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thỏi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Tuy nhiên nó vẫn được xã hội chấp thuận như tiền đúc đủ giá trị.

    Phương tiện cất trữ

    Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ việc tiền thực hiện được tính năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, có thể cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền nên có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích nghi một bí quyết tự phát với mong muốn tiền thiết yếu cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. trái lại, nếu như sản xuất giảm, lượng hàng hóa lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    XEM THÊM 6 nhóm chỉ số tài chính trong chứng khoán

    Phương tiện thanh toán

    Làm phương tiện thanh toán, tiền được sử dụng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng… Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa tăng trưởng đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này, đầu tiên tiền làm tính năng thước đo thành quả để định cái giá hàng hóa. Tuy nhiên vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán.

    Tiền tệ 

    toàn cầu

    Khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia thì nên làm công dụng tiền tệ toàn cầu. Với chức năng này, tiền cần có đủ giá trị, phải quay lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong công dụng này, vàng được sử dụng làm phương tiện mua sale hóa, phương tiện thanh toán quốc tế và đại diện của cải nói chung của xã hội.

    XEM THÊM Hoạch định tài chính là gì ? Vì sao chúng ta phải hoạch định tài chính ?

    Quy luật lưu thông tiền tệ

    Là quy luật quy định số lượng tiền cần cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kỳ chắc chắn.

    NGUỒN TỔNG HỢP

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1.3.chức Năng Của Tiền Tệ
  • Câu Hỏi 7. Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền?
  • Chi Tiết Lịch Sử Tài Chính
  • Ổn Định Tài Chính Và Vai Trò Của Ổn Định Tài Chính
  • Tìm Hiểu Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế Và Quá Trình Phát Triển
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100