Chương 3. Tàu Quân Sự Nước Ngoài Đến Việt Nam Để Sửa Chữa

--- Bài mới hơn ---

  • Việt Nam Đóng Chiến Hạm Tàng Hình Tên Lửa Kalibr Và Shtil
  • Quyền Đi Qua Không Gây Hại Của Tàu Thuyền Nước Ngoài Trong Lãnh Hải
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Tòa Án Nhân Dân
  • Tòa Án Quân Sự Xét Xử Những Vụ Án Nào?
  • Trao Đổi Về Tình Hình Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Tòa Án Quân Sự
  • Chương 3.

    TÀU QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI ĐẾN VIỆT NAM ĐỂ SỬA CHỮA

    MỤC 1. THỦ TỤC CẤP PHÉP; THỦ TỤC NHẬP CẢNH, XUẤT CẢNH, CHUYỂN CẢNG

    Điều 20. Thủ tục cấp phép

    1. Trước khi tàu quân sự nước ngoài dự kiến đến Việt Nam để sửa chữa, doanh nghiệp Việt Nam có chức năng tiếp nhận, sửa chữa tàu quân sự nước ngoài (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp sửa chữa tàu) phải gửi hồ sơ đề nghị Bộ Quốc phòng (Bộ Tổng tham mưu) cấp phép cho tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa.

    2. Hồ sơ đề nghị cấp phép bao gồm:

    a) Văn bản của doanh nghiệp sửa chữa tàu đề nghị cho phép tiếp nhận tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa;

    b) 01 (một) Tờ khai tàu quân sự nước ngoài đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để sửa chữa (Mẫu 2);

    c) 01 (một) Kế hoạch (hoặc chương trình) sửa chữa.

    3. Thẩm quyền cấp phép:

    a) Bộ Quốc phòng (Bộ Tổng tham mưu) tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp phép và thực hiện cấp phép cho tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa. Trường hợp từ chối cấp phép phải nêu rõ lý do;

    4. Thời hạn cấp phép:

    a) Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp phép hợp lệ, Bộ Quốc phòng (Bộ Tổng tham mưu) có văn bản trả lời doanh nghiệp sửa chữa tàu về việc cấp phép hoặc từ chối cấp phép cho tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa;

    5. Trường hợp sửa đổi, bổ sung nội dung đã cấp phép thì Bộ Quốc phòng gửi văn bản thông báo cho doanh nghiệp sửa chữa tàu tiếp nhận tàu quân sự nước ngoài vào sửa chữa.

    Điều 21. Thủ tục nhập cảnh

    1. Địa điểm, thời hạn, thành phần thực hiện thủ tục nhập cảnh đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 11 Nghị định này.

    2. Các loại giấy tờ người làm thủ tục phải nộp khi làm thủ tục nhập cảnh

    a) Nộp cho Biên phòng cửa khẩu cảng:

    – 01 (một) bản chính Bản khai chung (Mẫu 3);

    – 01 (một) bản chính Danh sách thành viên (Mẫu 4);

    – 01 (một) bản chính Bản khai hàng hóa nguy hiểm (nếu có – Mẫu 6);

    – 01 (một) bản sao hợp đồng sửa chữa hoặc thoả thuận nguyên tắc sửa chữa.

    b) Nộp cho Cảng vụ hàng hải:

    – 01 (một) bản chính Bản khai chung (Mẫu 3);

    – 01 (một) bản chính Danh sách thành viên (Mẫu 4);

    – 01 (một) bản chính Bản khai hàng hóa nguy hiểm (nếu có – Mẫu 6);

    – 01 (một) bản sao hợp đồng sửa chữa hoặc thoả thuận nguyên tắc sửa chữa.

    c) Nộp cho Hải quan cửa khẩu cảng:

    – 01 (một) bản chính Bản khai chung (Mẫu 3);

    – 01 (một) bản chính Danh sách thành viên (Mẫu 4);

    – 01 (một) bản chính Bản khai dự trữ của tàu (Mẫu 7);

    – 01 (một) bản chính Bản khai hành lý thành viên (Mẫu 8);

    – 01 (một) bản chính Bản kê khai hàng hóa (nếu có – Mẫu 5);

    – 01 (một) bản chính Bản khai hàng hóa nguy hiểm (nếu có – Mẫu 6);

    – 01 (một) bản sao hợp đồng sửa chữa hoặc thỏa thuận nguyên tắc sửa chữa.

    d) Nộp cho Cơ quan Kiểm dịch y tế quốc tế:

    – 01 (một) bản chính Giấy khai báo y tế hàng hải (Mẫu 9).

    đ) Nộp cho Cơ quan Kiểm dịch thực vật cửa khẩu cảng:

    – 01 (một) bản chính Bản khai kiểm dịch thực vật (nếu có – Mẫu 10).

    e) Nộp cho Cơ quan Kiểm dịch động vật cửa khẩu cảng:

    – 01 (một) bản chính Bản khai kiểm dịch động vật (nếu có – Mẫu 11).

    3. Các loại giấy tờ người làm thủ tục phải xuất trình khi làm thủ tục nhập cảnh

    Xuất trình cho Biên phòng cửa khẩu cảng một trong các loại giấy tờ sau:

    a) Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu của các thành viên trên tàu;

    b) Thẻ quân nhân hoặc Giấy chứng minh quân nhân của các thành viên trên tàu.

    Điều 22. Thủ tục xuất cảnh

    1. Địa điểm, thời hạn, thành phần thực hiện thủ tục xuất cảnh đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 12 Nghị định này.

    2. Các loại giấy tờ người làm thủ tục phải nộp khi làm thủ tục xuất cảnh

    a) Nộp cho Biên phòng cửa khẩu cảng:

    – 01 (một) bản chính Bản khai chung (Mẫu 3);

    – 01 (một) bản chính Danh sách thành viên (nếu có thay đổi so với khi nhập cảnh – Mẫu 4);

    – 01 (một) bản chính Bản khai hàng hóa nguy hiểm (nếu có thay đổi so với lúc nhập cảnh – Mẫu 6);

    – Các loại giấy tờ do Biên phòng cửa khẩu cảng cấp cho các thành viên trên tàu trong thời gian neo đậu tại cảng (nếu có): Thẻ đi bờ, Giấy phép, Thị thực rời có giá trị 01 (một) lần, Giấy phép tham quan du lịch.

    b) Nộp cho Cảng vụ hàng hải:

    – 01 (một) bản chính Bản khai chung (Mẫu 3);

    – 01 (một) bản chính Danh sách thành viên (nếu có thay đổi so với khi nhập cảnh – Mẫu 4);

    – 01 (một) bản chính Bản khai hàng hóa nguy hiểm (nếu có thay đổi so với lúc nhập cảnh – Mẫu 6).

    c) Nộp cho Hải quan cửa khẩu cảng:

    – 01 (một) bản chính Bản khai chung (Mẫu 3);

    – 01 (một) bản chính Danh sách thành viên (nếu có thay đổi so với khi nhập cảnh – Mẫu 4);

    – 01 (một) bản chính Bản kê khai về hàng hóa (nếu có thay đổi so với lúc nhập cảnh – Mẫu 5);

    – 01 (một) bản chính Bản khai dự trữ của tàu (nếu có thay đổi so với lúc nhập cảnh – Mẫu 9);

    – 01 (một) bản chính Bản khai hành lý thành viên (nếu có thay đổi so với lúc nhập cảnh – Mẫu 10);

    – 01 (một) bản chính Bản khai hàng hóa nguy hiểm (nếu có thay đổi so với lúc nhập cảnh – Mẫu 6).

    3. Các loại giấy tờ người làm thủ tục phải xuất trình khi làm thủ tục xuất cảnh.

    Xuất trình cho Biên phòng cửa khẩu cảng một trong các loại giấy tờ sau:

    a) Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu của các thành viên trên tàu;

    b) Thẻ quân nhân hoặc Giấy chứng minh quân nhân của các thành viên trên tàu.

    Điều 23. Thủ tục chuyển cảng

    Thủ tục chuyển cảng đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định này.

    MỤC 2. HOẠT ĐỘNG CỦA TÀU, THÀNH VIÊN TRÊN TÀU; CẤP GIẤY PHÉP; KIỂM TRA, GIÁM SÁT; ĐẢM BẢO AN NINH, AN TOÀN NƠI TÀU QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI NEO ĐẬU

    Điều 24. Hoạt động của tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa

    1. Sau khi được cấp phép đến Việt Nam để sửa chữa, 48 giờ trước khi tàu vào lãnh hải Việt Nam, Thuyền trưởng tàu quân sự nước ngoài phải thông báo và giữ liên lạc với Cảng vụ hàng hải nơi tàu đến.

    2. Tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa chỉ được neo đậu sửa chữa tại các cơ sở sửa chữa tàu biển đã được cấp phép. Tàu quân sự của cùng một quốc gia đến Việt Nam để sửa chữa trong cùng một thời điểm không quá 05 (năm) tàu tại cùng một cơ sở sửa chữa, trừ trường hợp được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho phép.

    3. Trong thời gian tàu ra vào, neo đậu, sửa chữa, tàu quân sự nước ngoài, thành viên trên tàu, doanh nghiệp sửa chữa tàu phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, nội quy cảng biển, chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng.

    4. Khi neo đậu sửa chữa, việc sử dụng các phương tiện khác trên tàu để đi lại, bảo dưỡng phương tiện phải được sự chấp thuận của Cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng và Cảng vụ hàng hải.

    5. Các hoạt động giao lưu, thăm tàu phải xin phép và được Bộ Quốc phòng chấp thuận.

    6. Trường hợp phía tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa hoặc doanh nghiệp sửa chữa tàu có nhu cầu thuê dịch vụ bảo vệ trong thời gian tàu neo đậu sửa chữa:

    a) Doanh nghiệp sửa chữa tàu phải gửi văn bản đề nghị Bộ Quốc phòng cho phép doanh nghiệp Việt Nam có chức năng kinh doanh dịch vụ bảo vệ tàu quân sự nước ngoài (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp bảo vệ) được làm dịch vụ bảo vệ tàu, kèm theo 01 (một) bản sao (có chứng thực) Giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp bảo vệ được thuê, 01 (một) bản sao (có chứng thực) Hợp đồng dịch vụ bảo vệ và 01 (một) bản chính danh sách có thông tin cơ bản về cán bộ, nhân viên thuộc doanh nghiệp bảo vệ làm nhiệm vụ bảo vệ tàu;

    b) Chậm nhất 07 (bảy) ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Quốc phòng cấp phép cho doanh nghiệp bảo vệ được thuê làm dịch vụ bảo vệ tàu thông qua doanh nghiệp sửa chữa tàu. Trường hợp từ chối cấp phép, Bộ Quốc phòng có văn bản gửi doanh nghiệp sửa chữa tàu nêu rõ lý do;

    c) Doanh nghiệp bảo vệ chỉ được tiến hành các hoạt động theo đúng nội dung và phạm vi bảo vệ được Bộ Quốc phòng cấp phép. Cán bộ, nhân viên thuộc doanh nghiệp bảo vệ làm nhiệm vụ bảo vệ tàu phải có giấy phép do Biên phòng cửa khẩu cảng nơi tàu quân sự nước ngoài neo đậu, sửa chữa cấp và phải chịu sự kiểm tra, giám sát của lực lượng Biên phòng cửa khẩu cảng;

    d) Bộ Quốc phòng quy định cụ thể nội dung và phạm vi bảo vệ của doanh nghiệp bảo vệ đối với các tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa.

    Điều 25. Đi bờ của các thành viên trên tàu; cấp giấy phép, kiểm tra, giám sát; đảm bảo an ninh, an toàn nơi tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa neo đậu

    1. Việc đi bờ của các thành viên tàu quân sự nước ngoài đến sửa chữa tại cảng biển Việt Nam thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định này.

    2. Cấp giấy phép; kiểm tra, giám sát; đảm bảo an ninh, an toàn đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam để sửa chữa thực hiện theo quy định tại Điều 16, Điều 17 Nghị định này.

    TÀU QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI ĐẾN VIỆT NAM

    THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁC TẠI LÃNH HẢI, NỘI THỦY VÀ CẢNG BIỂN

    Điều 26. Thủ tục cấp phép

    1. Thủ tục cấp phép đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động khác tại lãnh hải, nội thủy và cảng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 10 Nghị định này.

    Điều 27. Hoạt động của tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động khác

    2. Tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động khác tại lãnh hải, khu vực nội thủy ngoài vùng nước cảng biển cần di chuyển ra ngoài phạm vi hoạt động đã được cấp phép phải xin phép và được Bộ Quốc phòng chấp thuận.

    Điều 28. Thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, chuyển cảng

    1. Đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động khác tại vùng nước cảng biển, cảng quân sự thuộc phạm vi quản lý của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, chuyển cảng thực hiện theo quy định về thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, chuyển cảng tại Điều 11, Điều 12, Điều 13 Nghị định này.

    2. Đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động khác tại lãnh hải, khu vực nội thủy ngoài vùng nước cảng biển, thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh được quy định như sau:

    a) Địa điểm thực hiện thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh cho tàu, thành viên trên tàu tại trụ sở Cảng vụ hàng hải thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định trong văn bản chấp thuận của Bộ Quốc phòng;

    b) Thời hạn thực hiện thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh cho tàu, thành viên trên tàu được coi là kết thúc kể từ khi người làm thủ tục nộp đầy đủ các loại giấy tờ theo quy định tại Khoản 3 Điều này cho các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng biển thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định trong văn bản chấp thuận của Bộ Quốc phòng.

    3. Các loại giấy tờ (bản fax hoặc bản sao) người làm thủ tục phải nộp khi làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh

    a) Các loại giấy tờ phải nộp khi làm thủ tục nhập cảnh:

    – Nộp cho Biên phòng cửa khẩu cảng: 01 (một) Bản khai chung (Mẫu 3); 01 (một) Danh sách thành viên (Mẫu 4); 01 (một) Chương trình hoặc kế hoạch hoạt động;

    – Nộp cho Cảng vụ hàng hải: 01 (một) Bản khai chung (Mẫu 3); 01 (một) Danh sách thành viên (Mẫu 4);

    – Nộp cho Hải quan cửa khẩu cảng: 01 (một) Bản khai chung (Mẫu 3); 01 (một) Danh sách thành viên (Mẫu 4);

    – Nộp cho Cơ quan Kiểm dịch y tế quốc tế: 01 (một) Giấy khai báo y tế hàng hải (Mẫu 9);

    – Nộp cho Cơ quan Kiểm dịch thực vật cửa khẩu cảng: 01 (một) Bản khai kiểm dịch thực vật (nếu có – Mẫu 10);

    – Nộp cho Cơ quan Kiểm dịch động vật cửa khẩu cảng: 01 (một) Bản khai kiểm dịch động vật (nếu có – Mẫu 11).

    b) Các loại giấy tờ phải nộp khi làm thủ tục xuất cảnh:

    – Nộp cho Biên phòng cửa khẩu cảng: 01 (một) Bản khai chung (Mẫu 3); 01 (một) Danh sách thành viên (nếu có thay đổi so với khi nhập cảnh – Mẫu 4);

    – Nộp cho Cảng vụ hàng hải: 01 (một) Bản khai chung (Mẫu 3); 01 (một) Danh sách thành viên (nếu có thay đổi so với khi nhập cảnh – Mẫu 4);

    – Nộp cho Hải quan cửa khẩu cảng: 01 (một) Bản khai chung (Mẫu 3); 01 (một) Danh sách thành viên (nếu có thay đổi so với khi nhập cảnh – Mẫu 4).

    Điều 29. Cấp giấy phép

    Điều 30. Kiểm tra, giám sát

    1. Tại vùng nước cảng biển thuộc phạm vi quản lý của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

    a) Bộ đội Biên phòng là lực lượng chủ trì, phối hợp với các lực lượng chức năng đảm bảo an ninh, an toàn khu vực cảng nơi tàu quân sự nước ngoài neo đậu; kiểm tra, giám sát hoạt động của tàu quân sự nước ngoài, thành viên trên tàu đi bờ, người, phương tiện ra, vào hoạt động tại khu vực tàu quân sự nước ngoài neo đậu, người xuống tàu, rời tàu, phương tiện cập mạn tàu quân sự nước ngoài;

    b) Khi thực hiện kiểm tra, giám sát, Bộ đội Biên phòng được áp dụng các biện pháp sau:

    – Kiểm tra giấy tờ đối với thành viên trên tàu đi bờ, người Việt Nam, người nước ngoài xuống tàu, rời tàu, phương tiện cập mạn tàu;

    – Giám sát khu vực nơi tàu quân sự nước ngoài neo đậu;

    – Các biện pháp theo quy định tại Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Khoản 2, Điều 17 Nghị định này.

    2. Tại lãnh hải, khu vực nội thủy ngoài vùng nước cảng biển:

    b) Lực lượng kiểm tra, giám sát được áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định này.

    Điều 31. Đi bờ đối với thành viên trên tàu

    1. Các quy định về việc đi bờ của thành viên trên tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các hoạt động khác thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định này.

    2. Trường hợp tàu neo đậu, hoạt động tại lãnh hải, khu vực nội thủy ngoài vùng nước cảng biển, người làm thủ tục phải ký hợp đồng bằng văn bản với doanh nghiệp Việt Nam có chức năng để đưa đón các thành viên từ tàu vào bờ và ngược lại. Thẩm quyền, thủ tục cấp giấy phép cho phương tiện đưa đón thành viên tàu được thực hiện theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.

    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀU QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI ĐẾN VIỆT NAM

    Điều 32. Nội dung quản lý nhà nước đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam

    1. Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam.

    2. Tiếp nhận thông tin, thỏa thuận, thống nhất nội dung, chương trình hoạt động của tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam với quốc gia có tàu quân sự; tổ chức đón tiếp theo nghi thức đón tiếp và hoạt động lễ tân.

    3. Cấp phép, từ chối cấp phép hoặc sửa đổi, bổ sung nội dung đã cấp phép cho tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam.

    5. Xử lý vi phạm của tàu quân sự nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    Điều 33. Trách nhiệm quản lý nhà nước đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam.

    2. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam.

    Điều 34. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao

    1. Thông báo lời mời của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với quốc gia có tàu quân sự đến thăm chính thức Việt Nam.

    2. Tiếp nhận thông tin, tiến hành thỏa thuận, thống nhất nội dung, chương trình hoạt động của chuyến thăm với quốc gia có tàu quân sự đến thăm chính thức và trình Chính phủ quyết định việc đón tàu quân sự nước ngoài thực hiện chuyến thăm chính thức.

    Điều 35. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng

    Điều 36. Trách nhiệm của Bộ Công an

    1. Tham gia ý kiến về việc cấp phép cho tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam theo đề nghị của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng.

    2. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với các lực lượng chức năng trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự tại địa phương nơi có tàu quân sự nước ngoài neo đậu; chỉ đạo Cơ quan quản lý nhập cảnh, xuất cảnh xem xét, cấp thị thực cho các thành viên trên tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam đi ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tàu neo đậu theo quy định của pháp luật Việt Nam về nhập cảnh, xuất cảnh.

    1. Tham gia ý kiến về việc cấp phép cho tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam theo đề nghị của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng.

    Điều 38. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    1. Tham gia ý kiến về việc cấp phép cho tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam theo đề nghị của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng.

    1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 01 năm 2013 và thay thế Nghị định số 55/CP ngày 01 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Ban hành kèm theo Nghị định này Phụ lục gồm 12 mẫu khai báo đối với tàu quân sự nước ngoài đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Điều 40. Hướng dẫn thực hiện

    Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao căn cứ quy định tại Nghị định này xây dựng văn bản hướng dẫn và quy định chi tiết theo thẩm quyền.

    Điều 41. Trách nhiệm thi hành

    Nơi nhận:

    – Ban Bí thư Trung ương Đảng;

    – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;

    – VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;

    – HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;

    – Văn phòng TW và các Ban của Đảng;

    – Văn phòng Tổng Bí thư;

    – Văn phòng Chủ tịch nước;

    – Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;

    – Văn phòng Quốc hội;

    – Tòa án nhân dân tối cao;

    – Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    – Kiểm toán Nhà nước;

    – Ủy ban Giám sát tài chính QG;

    – Ngân hàng Chính sách xã hội;

    – Ngân hàng Phát triển Việt Nam;

    – Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

    – Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

    – VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, Cổng TTĐT,

    các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;

    – Lưu: Văn thư, NC (3b).

    PHỤ LỤC

    MẪU KHAI BÁO ĐỐI VỚI TÀU QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI

    ĐẾN NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    (Ban hành kèm theo Nghị định số 104/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2012 của Chính phủ)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh Thừa Thiên
  • Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh Quảng Trị: Tổ Chức Lễ Khánh Thành Nhà Khách Tình Nghĩa Thành Cổ Quảng Trị.
  • Dấu Ấn Lớn Của Công Tác Tư Tưởng Trong Quân Đội (Bài 1)
  • Công Tác Tư Tưởng Trong Quân Đội Trước Tình Hình Mới
  • Công Tác Tư Tưởng Của Đảng Trong Quân Đội
  • Mfa: Chiếm Đoạt Chức Năng Quân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Mrcb: Phục Hồi Chức Năng Quân Sự Và Bồi Thường Bill
  • Ba Chức Năng Cơ Bản Của Quân Đội Nhân Dân Trong Thời Bình
  • Không Thể Xuyên Tạc, Phủ Nhận Chức Năng Lao Động Sản Xuất Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Giúp Bạn Trả Lời Câu Hỏi Sĩ Quan Quân Đội Là Gì?
  • Bài 5. Luật Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân
  • MFA có nghĩa là gì? MFA là viết tắt của Chiếm đoạt chức năng quân sự. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Chiếm đoạt chức năng quân sự, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Chiếm đoạt chức năng quân sự trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của MFA được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài MFA, Chiếm đoạt chức năng quân sự có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    MFA = Chiếm đoạt chức năng quân sự

    Tìm kiếm định nghĩa chung của MFA? MFA có nghĩa là Chiếm đoạt chức năng quân sự. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của MFA trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của MFA bằng tiếng Anh: Chiếm đoạt chức năng quân sự. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, MFA được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Chiếm đoạt chức năng quân sự. Trang này là tất cả về từ viết tắt của MFA và ý nghĩa của nó là Chiếm đoạt chức năng quân sự. Xin lưu ý rằng Chiếm đoạt chức năng quân sự không phải là ý nghĩa duy chỉ của MFA. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của MFA, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của MFA từng cái một.

    Ý nghĩa khác của MFA

    Bên cạnh Chiếm đoạt chức năng quân sự, MFA có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của MFA, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Chiếm đoạt chức năng quân sự bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Chiếm đoạt chức năng quân sự bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Tham Gia Lao Động Sản Xuất, Góp Phần Phát Triển Kinh Tế
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Thực Hiện Tốt Chức Năng Đội Quân Lao Động Sản Xuất Trong Thời Kỳ Mới
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Của Đội Quân Công Tác
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Kiểm Soát Quân Sự (Ksqs)

    --- Bài mới hơn ---

  • Lực Lượng Kiểm Soát Quân Sự Việt Nam
  • Trao Giải: Việt Nam Có Nên Dùng Tên Gọi Quân Cảnh Thay Cho Kiểm Soát Quân Sự?
  • Nơi Đào Tạo Chiến Sĩ Kiểm Soát Quân Sự
  • Nga Tung Lực Lượng Kiểm Soát Quân Sự Sang Syria: Nhiệm Vụ Đặc Biệt Là Gì?
  • Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Theo Tinh Thần Cải Cách Tư Pháp
  • 34073

    Chức năng của Kiểm soát quân sự

    Lực lượng Kiểm soát quân sự (KSQS), có chức năng giúp người chỉ huy duy trì kỷ luật quân đội, Pháp luật Nhà nước, quy tắc trật tự an toàn xã hội đối với mọi quân nhân và các phương tiện giao thông quân sự ở ngoài doanh trại;

    Phát hiện ngăn chặn những hành vi làm tổn hại đến sức chiến đấu, đến việc hoàn thành nhiệm vụ của quân đội, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực đóng quân.

    (Thông tư số 104/2010/TT-BQP)

    Nhiệm vụ của Kiểm soát quân sự

    Chỉ huy

    • Kiểm tra, nhắc nhở, chấn chỉnh, giúp đỡ mọi quân nhân và phương tiện giao thông quân sự chấp hành đúng quy định ở ngoài doanh trại
    • Giúp đỡ quân nhân qua lại khu vực làm nhiệm vụ, quân nhân lạc ngũ trở về đơn vị
    • Phát hiện, ngăn chặn những người xâm phạm tính mạng quân nhân, tài sản quân đội, tài sản Nhà nước và những hoạt động làm tổn hại đến sức chiến đấu, đến việc hoàn thành nhiệm vụ của quân đội
    • Phát hiện, tạm giữ quân nhân đào bỏ ngũ, quân nhân có hành vi phạm pháp quả tang và những phần tử giả danh quân nhân
    • Phối hợp với CSGT điều chỉnh giao thông quân sự, bảo đảm an toàn khi hành quân và phương tiện quân sự hoạt động trong khu vực được phân công
    • Phối hợp, hỗ trợ lực lượng công an và an ninh địa phương bảo vệ an toàn khu vực đóng quân, bảo vệ tài sản quốc gia, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực đóng quân
    • Là lực lượng tại chỗ sẵn sàng xử trí các tình huống xảy ra.

    Hình thức hoạt động

    • Lực lượng KSQS thuộc quyền người chỉ huy, chịu sự chỉ đạo của cơ quan quân huấn cấp trên, được tổ chức theo 2 hình thức chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp
    • Lực lượng KSQS không chuyên nghiệp được tổ chức từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên (trừ bệnh viện, nhà máy, xí nghiệp, đơn vị làm kinh tế), để hoạt động khi có yêu cầu nhiệm vụ.
    • Trạm KSQS cố định được tổ chức để hoạt động thường xuyên ở các địa bàn và đầu mối giao thông quan trọng, có nhiều quân nhân và phương tiện giao thông quân sự qua lại
    • Mỗi trạm ít nhất là một tổ KSQS, do sĩ quan chỉ huy và phải có trụ sở làm việc, trong đó có nơi làm việc của nhân viên thường trực, nơi kiểm tra, kiểm soát và phải có phương tiện liên lạc
    • Trạm KSQS lâm thời và tổ KSQS cơ động được tổ chức để hoạt động thời gian nhất định tại các địa bàn và các trục đường giao thông có nhiều quân nhân và phương tiện giao thông quân sự qua lại. Mỗi trạm có một tổ KSQS do sĩ quan hoặc quân nhân chuyên nghiệp phụ trách
    • Lực lượng KSQS không chuyên nghiệp được tổ chức lâm thời trong khu vực đóng quân và theo sự phân công của chỉ huy khu vực đóng quân. Mỗi tổ KSQS có từ 3 quân nhân trở lên, do sĩ quan phụ trách
    • Tổ chức, biên chế, trang bị, giấy ủy nhiệm KSQS, phương tiện hoạt động của lực lượng KSQS và số lượng, vị trí các trạm KSQS cố định do Bộ Tổng tham mưu quy định
    • Các trạm KSQS lâm thời, các tổ KSQS cơ động do Bộ Tổng tham mưu chỉ định hoặc tư lệnh quân khu quy định trong địa bàn của quân khu mình
    • Lực lượng KSQS của đơn vị nào chỉ được hoạt động trong khu vực được phân công của đơn vị đó.
    • Lực lượng KSQS của cấp trên đến làm nhiệm vụ ở địa bàn nào phải thông báo cho chỉ huy khu vực đóng quân ở địa bàn đó biết và phối hợp với lực lượng KSQS của địa bàn đó (nếu cần thiết)
    • Quân nhân làm nhiệm vụ KSQS phải có biển, băng mang ký hiệu KSQS; Mang mặc trang phục, trang bị nghiệp vụ đúng quy định; Nắm vững chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi và các phương pháp hoạt động
    • Phối hợp chặt chẽ với lực lượng tuần tra, canh gác của các đơn vị trong khu vực, với công an, dân quân tự vệ, với chính quyền và nhân dân địa phương để tiến hành công tác
    • Tổ trưởng phải có giấy ủy nhiệm “Tổ Kiểm soát quân sự” do cấp có thẩm quyền cấp. Sĩ quan được cấp giấy ủy nhiệm KSQS của Tổng tham mưu trưởng không nhất thiết phải có biển, băng kiểm soát quân sự.

    Quyền hạn của Kiểm soát quân sự

    • Nhắc nhở, chấn chỉnh những quân nhân vi phạm điều lệnh, kỷ luật quân đội
    • Kiểm tra, ngăn chặn, tạm giữ các quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân viên quốc phòng và các phương tiện giao thông quân sự vi phạm nghiêm trọng kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước, trật tự an toàn xã hội, gây hậu quả xấu
    • Lập biên bản, thu giữ tang vật, bảo vệ hiện trường, báo cáo người chỉ huy và bàn giao cho cơ quan chức năng xử lý
    • Được sử dụng vũ khí khi người phạm pháp kháng cự lại đe dọa đến tính mạng của mình và người khác hoặc sau khi đã cảnh cáo, ra lệnh đứng lại mà kẻ phạm pháp nguy hiểm vẫn cố tình chống cự hoặc chạy trốn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Gỗ Pơmu Lại Tập Kết Ngay Sát Trạm Biên Phòng?
  • Đảm Bảo Nghiệp Vụ Tinh Thông
  • Khoa Kiểm Soát Nhiễm Khuẩn, Cơ Cấu Tổ Chức
  • Khoa Kiểm Soát Nhiễm Khuẩn
  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Soát
  • Thành Phần, Nhiệm Vụ, Chức Năng Của Ban Chỉ Huy Quân Sự Cấp Xã

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Kiện Bổ Nhiệm, Nhiệm Vụ Của Chỉ Huy Trưởng Ban Chỉ Huy Quân Sự Xã
  • Thành Phần Và Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Nghĩa Vụ Quân Sự Các Cấp
  • Hoạt Động Trong Cả Nước
  • Xuyên Tạc Bản Chất, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội
  • Bản Chất, Truyền Thống Cách Mạng Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Thành phần, nhiệm vụ, chức năng của Ban chỉ huy quân sự cấp xã. Điều kiện thành lập Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở: Ban chỉ huy quân sự cơ

    BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ CẤP XÃ

    Thành phần, nhiệm vụ, chức năng của Ban chỉ huy quân sự cấp xã.

    Nội dung tư vấn về Ban chỉ huy quân sự cấp xã

    1. Điều kiện thành lập Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở

    Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở được thành lập khi có đủ các điều kiện sau:

    • Có tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
    • Có sự quản lý nhà nước về quốc phòng, quân sự.
    • Có tổ chức tự vệ, lực lượng dự bị động viên và nguồn sẵn sàng nhập ngũ.

    2. Thành phần Ban chỉ huy quân sự cấp xã

    Ban chỉ huy quân sự cấp xã gồm:

    • Chỉ huy trưởng là thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã;
    • Chỉ huy phó được bố trí từ 1 đến 2 người tùy vào phân loại đơn bị hành chính; là cán bộ không chuyên trách hoặc cán bộ chuyên trách được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí trong số lượng được tăng thêm theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; xã biên giới đất liền, xã đảo thường bố trí cán bộ chuyên trách.
    • Chính trị viên là Bí thư Đảng ủy (chi bộ) cấp xã kiêm nhiệm;
    • Chính trị viên phó là Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã kiêm nhiệm.

    3. Chức năng và nhiệm vụ của Ban chỉ huy quân sự cấp xã

    • Tham mưu cho cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân cấp xã lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự ở cơ sở; đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, công dân nam trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ; tuyển chọn công dân nhập ngũ, quản lý lực lượng dự bị động viên theo quy định của pháp luật;
    • Chủ trì, phối hợp với ban, ngành, đoàn thể tổ chức thực hiện công tác quốc phòng, quân sự theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân cùng cấp và chỉ thị, mệnh lệnh, kế hoạch, hướng dẫn của cơ quan quân sự cấp trên;
    • Phối hợp với ban, ngành, đoàn thể tuyên truyền, giáo dục quốc phòng, an ninh cho lực lượng vũ trang và nhân dân; tổ chức lực lượng dân quân, dự bị động viên tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện chính sách hậu phương quân đội;
    • Tổ chức huấn luyện, giáo dục chính trị, pháp luật cho dân quân; chỉ huy dân quân thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 8 của Luật này;
    • Tổ chức đăng ký, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí, trang bị của các đơn vị dân quân thuộc quyền theo quy định của pháp luật;
    • Tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật tại chỗ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương;
    • Giúp Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự địa phương, công tác tổ chức và hoạt động của dân quân thuộc quyền.

    Để được tư vấn chi tiết về thành phần, nhiệm vụ, chức năng của Ban chỉ huy quân sự cấp xã quý khách vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật dân sự 24/7: 19006500 để được luật sư tư vấn hoặc Gửi câu hỏi về địa chỉ Gmail: [email protected] Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

    Xin chân thành cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí Và Nhiệm Vụ Của Chi Cục Trưởng Chi Cục Thuế
  • Ngành Thuế Trong Cuộc Cách Mạng Cải Cách Tổ Chức Bộ Máy
  • Thẩm Quyền Của Cơ Quan Thuế
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Chi Cục Thuế Được Quy Định Thế Nào?
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Các Chi Cục Thuế Được Quy Định Ra Sao?
  • Mrcb: Phục Hồi Chức Năng Quân Sự Và Bồi Thường Bill

    --- Bài mới hơn ---

  • Ba Chức Năng Cơ Bản Của Quân Đội Nhân Dân Trong Thời Bình
  • Không Thể Xuyên Tạc, Phủ Nhận Chức Năng Lao Động Sản Xuất Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Giúp Bạn Trả Lời Câu Hỏi Sĩ Quan Quân Đội Là Gì?
  • Bài 5. Luật Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân
  • Bài 5. Luật Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân Gdqp Nhom 2 11A5 Pptx
  • MRCB có nghĩa là gì? MRCB là viết tắt của Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của MRCB được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài MRCB, Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    MRCB = Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill

    Tìm kiếm định nghĩa chung của MRCB? MRCB có nghĩa là Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của MRCB trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của MRCB bằng tiếng Anh: Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, MRCB được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill. Trang này là tất cả về từ viết tắt của MRCB và ý nghĩa của nó là Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill. Xin lưu ý rằng Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill không phải là ý nghĩa duy chỉ của MRCB. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của MRCB, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của MRCB từng cái một.

    Ý nghĩa khác của MRCB

    Bên cạnh Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill, MRCB có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của MRCB, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Phục hồi chức năng quân sự và bồi thường Bill bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mfa: Chiếm Đoạt Chức Năng Quân Sự
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Tham Gia Lao Động Sản Xuất, Góp Phần Phát Triển Kinh Tế
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Thực Hiện Tốt Chức Năng Đội Quân Lao Động Sản Xuất Trong Thời Kỳ Mới
  • Chi Bộ Quân Sự Cấp Xã Làm Tốt Chức Năng Tham Mưu Lãnh Đạo Nhiệm Vụ Quốc Phòng, Quân Sự Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Chi Bộ Quân Sự Xã, Phường, Thị Trấn: Đi Vào Nền Nếp
  • Chi Bộ Quân Sự Cấp Xã: Khẳng Định Vai Trò Nhiều Mặt
  • Để Chi Bộ Quân Sự Thực Sự Là Hạt Nhân Lãnh Đạo Công Tác Qs
  • Chi Bộ Quân Sự Xã, Phường, Thị Trấn: Phát Huy Vai Trò Lãnh Đạo Nhiệm Vụ Quân Sự, Quốc Phòng Ở Cơ Sở
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Chi Bộ Khu Dân Cư
  • Tập trung kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn đã giúp cho cơ chế Đảng lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương được vận hành thông suốt, hiệu quả, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận chiến tranh Nhân dân trên địa bàn tỉnh ngày càng vững chắc.

    Nâng cao năng lực lãnh đạo

    Thực hiện Hướng dẫn số 35 của Ban Tổ chức Trung ương về tổ chức và hoạt động của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, kiện toàn và duy trì hoạt động của chi bộ quân sự xã đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và từng bước đi vào nền nếp, hiệu quả.

    Lực lượng dân quân xã Thuận Hà (Đắk Song) phối hợp với Đồn biên phòng Đắk Tiên tuần tra bảo vệ biên giới. Ảnh: Phan Tân

    Theo đánh giá, các chi bộ quân sự xã đã có chủ trương, giải pháp lãnh đạo phù hợp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ban chỉ huy quân sự , các đơn vị dân quân cơ động, dân quân thường trực ở từng địa phương. Mặt khác, tình hình tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở chi bộ quân sự cấp xã chuyển biến tích cực, chế độ sinh hoạt được duy trì có nền nếp. Công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện đội ngũ đảng viên được tăng cường. Nhờ đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên, góp phần xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương hàng năm ở cơ sở.

    Kết quả đánh giá xếp loại tổ chức đảng, đảng viên hằng năm, bình quân có trên 95% cấp ủy, chi bộ và 98,7% đảng viên trong chi bộ quân sự cấp xã hoàn thành tốt hoặc hoàn thành nhiệm vụ. Từ năm 2009 đến nay, các chi bộ quân sự cấp xã đã bồi dưỡng, đề nghị kết nạp Đảng được 1.025 đảng viên trong lực lượng dân quân; phối hợp với các chi bộ thôn, buôn, tổ dân phố bồi dưỡng, đề nghị kết nạp Đảng 289 đảng viên trong lực lượng dự bị động viên.

    Dân quân thường trực xã Thuận An (Đắk Mil) nỗ lực huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Ảnh: Phan Tân

    Phát huy vai trò lãnh đạo quân sự quốc phòng ở cơ sở

    Theo đánh giá của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, việc triển khai thực hiện Hướng dẫn số 35 trên địa bàn tỉnh đạt được những kết quả khá tốt. Các chi bộ quân sự xã đã khẳng định được vị trí, vai trò, tầm quan trọng, làm tốt chức năng tham mưu cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương. Các chi bộ đã lãnh đạo ban chỉ huy quân sự xã phối hợp tham mưu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận chiến tranh Nhân dân trên địa bàn ngày càng vững chắc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

    Cụ thể, công tác tuyên truyền, giáo dục cho Ban Chỉ huy quân sự xã và các đơn vị dân quân cơ động, dân quân thường trực về nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân được tăng cường. Qua đó, nhận thức, xác định rõ trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao. Từ năm 2009 đến nay không có trường hợp nào cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ bị lôi kéo tham gia vào các vụ tập trung đông người hoặc bị móc nối, lôi kéo tham gia các tổ chức, lực lượng cơ hội thù địch. chi bộ quân sự xã đã chỉ đạo, tham mưu kịp thời cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai nhiều chủ trương, biện pháp giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho 13.537 lượt người cũng như lãnh đạo, thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100% chỉ tiêu.

    Dân quân thường trực xã Thuận An (Đắk Mil) luyện tập phương án bảo vệ trụ sở cơ quan. Ảnh: Phan Tân

    Việc tuyển chọn kết nạp công dân vào lực lượng dân quân được thực hiện theo nguyên tắc cấp ủy lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu và thực hiện theo phương châm “Dân bầu, dân cử, dân chăm lo”, bảo đảm tính dân chủ, công khai, công bằng ở cơ sở. Đến nay, tại 71 cơ sở dân quân quy mô tổ chức đủ quân số, biên chế đầy đủ các thành phần lực lượng; Tỷ lệ đảng viên trong dân quân đạt 19%. Hàng năm 100% cơ sở dân quân đã được huấn luyện, quân số đạt trên 90% trở lên.

    Công tác diễn tập, hội thi, hội thao đối với lực lượng dân quân được tiến hành đồng bộ. Lực lượng dân quân đã chủ động phối hợp với các lực lượng khác giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

    Hiện nay, toàn tỉnh có 71/71 xã, phường, thị trấn thành lập chi bộ quân sự; trong đó có 69/71 chi bộ có cấp ủy, đạt 97,18%, tăng 84,51% so với năm 2009. Thành phần cơ cấu đảng viên chi bộ quân sự thực hiện theo đúng Hướng dẫn số 35 gồm: Bí thư đảng ủy xã kiêm chính trị viên trực tiếp làm bí thư chi bộ; các đảng viên trong Ban Chỉ huy quân sự xã (chỉ huy trưởng, bí thư đoàn xã kiêm chính trị viên phó, xã đội phó) và đảng viên lực lượng dân quân thường trực, dân quân cơ động (riêng cấp ủy chi bộ gồm các chính trị viên, chỉ huy trưởng, chính trị viên phó).

    Phát biểu tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Hướng dẫn số 35 của Ban Tổ chức Trung ương về tổ chức và hoạt động của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn, giai đoạn 2009-2019 do Tỉnh ủy tổ chức, đồng chí Ngô Thanh Danh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh đề nghị các chi bộ quân sự cấp xã phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ theo quy định, hướng dẫn của Trung ương, quân đội, địa phương. Đảng ủy Quân sự tỉnh, các huyện ủy, thị ủy quan tâm, tổ chức bồi dưỡng, tạo điều kiện tốt nhất để các chi bộ quân sự cấp xã hoạt động đạt kết quả cao nhất, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng hoạt động của ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn.

    Phan Tân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Chế Làm Việc Của Chi Bộ Trường Tiểu Học
  • Vai Trò Của Chi Bộ Đảng Trong Nhà Trường
  • Bài 5: Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chi Bộ Nông Thôn
  • Nhiệm Vụ Của Chi Uỷ Và Công Tác Của Bí Thư Chi Bộ
  • Phát Huy Vai Trò Của Chi Bộ Nông Thôn Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Pháp Lệnh Tổ Chức Tòa Án Quân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân 2014, Luật Số 62/2014/qh13 2022
  • Vụ Án Thuộc Thẩm Quyền Của Tòa Án Quân Sự
  • Ban Nghiên Cứu Đạo Đức Học Quân Sự Với Công Tác Nghiên Cứu Khoa Học
  • Đọc Đạo Đức Học Quân Sự Hvktqs
  • Giao Trình Gdqp Giao Trinh Gdqp T1 Docx
  • Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

    Căn cứ vào Luật Tổ chức Toà án nhân dân;

    Pháp lệnh này quy định về tổ chức và hoạt động của các Toà án quân sự.

    Các Toà án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc hệ thống Toà án nhân dân được tổ chức trong Quân đội.

    Trong phạm vi chức năng của mình, các Toà án quân sự có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng và của các công dân khác.

    Bằng hoạt động của mình, các Toà án quân sự góp phần giáo dục quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, điều lệnh của Quân đội, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống , các vi phạm pháp luật khác.

    a) Toà án quân sự trung ương;

    b) Các Toà án quân sự quân khu và tương đương;

    c) Các Toà án quân sự khu vực.

    2. Căn cứ vào nhiệm vụ và tổ chức của Quân đội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

    1. Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trao Đổi Về Tình Hình Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Tòa Án Quân Sự
  • Tòa Án Quân Sự Xét Xử Những Vụ Án Nào?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Tòa Án Nhân Dân
  • Quyền Đi Qua Không Gây Hại Của Tàu Thuyền Nước Ngoài Trong Lãnh Hải
  • Việt Nam Đóng Chiến Hạm Tàng Hình Tên Lửa Kalibr Và Shtil
  • Dân Sự Kiểm Soát Quân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Ban Kiểm Soát Công Ty Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Ban Kiểm Soát?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh, Thành Phố
  • Tổ Chức Bộ Máy Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh Bắc Ninh
  • Chức Năng Hoạt Động Chính Của Máy Chấm Công Kiêm Kiểm Soát Ra Vào
  • Chức Năng Chính Của Phần Mềm Hệ Thống Điều Khiển Thiết Bị Không Dệt
  • “Ngay cả khi cần có lực lượng quân sự thì, trong nước… người dân khôn ngoan và thận trọng vẫn phải luôn luôn để ý và canh chừng lực lượng đó”

    Khi xây dựng một chính quyền quốc gia mới, các vị lập quốc đã nhận rõ tầm quan trọng cần phải thành lập một chính quyền có thể bảo vệ quốc gia một cách đúng mức. Một chính sách hữu hiệu, thống nhất giữa ngoại giao và quân sự đòi hỏi phải có một lãnh đạo mạnh của ngành hành pháp đối với quân đội. Đồng thời các vị đó cũng nhận thấy rằng nếu không được kiểm soát đúng mức thì lực lượng quân sự có thể được dùng để cướp chính quyền và là một mối đe dọa cho dân chủ. Các vị lập quốc quả thực đã sợ vấn đề lạm dụng quyền lực quân sự, và lo ngại rằng một hành pháp quá mạnh sẽ có lúc thoái hoá thành chế độ độc tài hay chế độ mị dân. Lịch sử đã cho các vị đó biết là những sự tiếm quyền như vậy không phải là ít xẩy ra. Do đó các vị lập quốc thấy rằng muốn bảo vệ dân chủ thì cần phải nêu rõ trong hiến pháp mới là quân sự phải phục tòng chính quyền dân sự. Trong Luận cương Liên bang số 28, Alexander Hamilton viết:

    Không lệ thuộc vào tất cả mọi lý luận khác về vấn đề này, đối với những người muốn có một quy định dứt khoát hơn về bộ máy quân sự trong thời bình thì câu trả lời đầy đủ là tất cả quyền lực của chính quyền dân sự chưa bao giờ được mô tả rõ trong Hiến pháp. Cách dân sự kiểm soát quân sự năm 1789 khác rất nhiều với cách kiểm soát hiện tại. Thực vậy, các nhà lập quốc không bao giờ trù liệu việc thiết lập một giai cấp quân sự chuyên nghiệp và do đó không thể nào tiên đoán trước được bản chất của sự kiểm soát dân sự như ta thấy hiện nay. Do đó, việc dân sự kiểm soát quân sự tại Hoa kỳ đã tiến hoá vừa theo tập quán và truyền thống và vừa theo tính cách pháp lý của Hiến pháp.

    Truyền thống dân là chiến sĩ

    Chính hiến pháp cũng không bàn tới vấn đề thiết lập một lực lượng quân sự thường trực. Các nhà lập quốc không quen với quan niệm quân dịch chuyên nghiệp. Các vị đó coi nghĩa vụ quân sự như là một nghĩa vụ đương nhiên của mọi công dân trong thời chiến. Ai cũng biết George Washington vừa là một chính khách mà lại vừa là một chiến sĩ, nhưng có có nhiều đại biểu trong Đại hội Hiến pháp cũng là người trong quân đội trong cuộc Cách mạng Hoa kỳ. Thực vậy, không bao giờ lại có tư tưởng phân biệt giữa giai cấp dân sự và giai cấp quân sự.

    Quan điểm của các nhà lập quốc có thể được suy ra từ Điều I, Đoạn 6 của Hiến pháp:

    Không một Nghị sĩ hay Dân biểu nào, trong thời gian được bầu, lại có thể được bổ nhiệm vào bất cứ chức vụ dân sự nào sẽ được lập ra hay tiền thù lao của chức vụ đó sẽ được gia tăng trong chính quyền Hoa kỳ; ngược lại không một người nào giữ chức vụ trong chính quyền Hoa kỳ lại có thể là đại biểu trong hai Viện trong thời kỳ tại chức.

    Điều khoản này bác bỏ ý tưởng là dân biểu Quốc hội có thể giữ chức vụ trong ngành hành pháp hay tư pháp. Nó phản ánh nguyên tắc căn bản phân quyền và phản ánh chủ trương là mỗi một ngành trong chính quyền phải phân lập và tách ra khỏi các ngành kia. Tuy nhiên, trong điều khoản này không thấy chỗ nào ngăn cấm nghị sĩ hay dân biểu được bổ nhiệm vào các chức vụ quân sự. Vì các nhà lập quốc tin rằng các đại biểu dân cử là các người có khả năng nhất trong xã hội Mỹ, nên các vị đó cho rằng đương nhiên là họ phải ra làm các người chỉ huy quân sự khi quốc biến. Thực vậy, việc đưa điều khoản này vào Hiến pháp được biện minh với lý do là các chức vụ quân sự là những trường hợp biệt lệ. Các nhà lập quốc coi quân sự không phải là một ngành chuyên nghiệp mà chủ yếu là gồm một đội quân hay dân quân, và đội quân này chỉ hiện hữu trong thời chiến. Như Elbridge Gerry, một đại biểu trong Đại hội Hiến pháp, giải thích: “ thể hiện cái tư tưởng là mọi người công dân có đủ điều kiện đều phải có trách nhiệm bảo vệ quốc gia cũng như gìn giữ tự do, và phải tham gia chiến đấu nếu cần. Đối với các vị lập quốc chỉ có dân quân – trong đó ít có sự ngăn cách giữa cấp chỉ huy và quân lính – mới là lực lượng quân đội thích hợp và là lực lượng có thể phối hợp ý tưởng quân đội phải thể hiện nguyên tắc dân chủ và khuyến khích mọi công dân gia nhập. Suốt trong thế kỷ 19 và cho tới đầu thế kỷ 20, mối lo sợ này đã in sâu vào chính trị và xã hội Mỹ. Truyền thống văn hóa sâu xa úy kỵ quân đội của Hoa kỳ cùng với vị trí địa dư biệt lập đã tạo ra cái di sản dành cho dân sự quyền kiểm soát quân sự.

    Do đó sau cuộc chiến tranh cách mạng, các vị lập quốc đã giảm quân đội chính quy và dùng dân quân của tiểu bang để bảo vệ biên giới phía tây. Sự giảm quân đó phản ánh mối lo ngại của nền dân chủ Hoa kỳ đối với các định chế quân sự và các chức năng quân sự, một phần nỗi e ngại đó bắt nguồn từ chế độ cai trị bằng quân sự của Anh trong thời thuộc địa.

    Truyền thống văn hóa Anglo-Saxon thịnh hành trong thời kỳ lập quốc cũng là một lý do tổng quát hơn cho tinh thần úy kị quân đội và các định chế quân sự, nhất là trong thời bình. Phản ứng của dân Anh đối với thời kỳ Cromwell trong những năm 1640, khi quân đội Anh được dùng để đàn áp đối lập chính trị, hãy còn in rõ trong ký ức mọi người vào thế kỷ 18. Thêm vào đó, một trong những mâu thuẫn dẫn tới cuộc Cách mạng Hoa kỳ là việc đồn trú của quân đội Anh trên lãnh thổ Mỹ sau cuộc chiến với Pháp và dân Bản xứ Bắc Mỹ (1754-63). Dựa trên quan niệm quyền của họ như là một dân nước Anh, các người dân thuộc địa bác bỏ sự xâm lấn đó với lý do là hành động như vậy không thể nào được chấp nhận ngay trên đất nước Anh. Thái độ dè dặt đó vẫn còn được phản ánh suốt trong thời kỳ Cách mạng. Khi muốn xin Quốc hội cho phép và cấp ngân khoản nuôi dưỡng quân đội, tướng Washington đã phải đoan chắc với Quốc hội là sẽ không dùng quân đội để tiếm quyền Quốc hội. Do đó, ngay cả trong thời chinh chiến, dân Mỹ đã e ngại quyền lực quân sự.

    Vị trí địa dư cũng giữ một vai trò quan trọng trong thái độ của dân Mỹ đối với giới quân sự. Suốt trong thế kỷ 19, những đại dương rộng lớn đã làm vùng trái độn cho lục địa Bắc Mỹ còn các nước lân bang thì không phải là mối đe dọa đáng ngại. Với vị trí biệt lập, Hoa kỳ hầu như là không có một sự đe dọa quân sự nào từ Âu châu và Á châu. Tài nguyên thiên nhiên phong phú lại càng khiến cho Mỹ hầu như không lệ thuộc vào những nơi khác trên thế giới.

    Do đó, khi nền Cộng hòa mới được thành lập, quan điểm dân sự kiểm soát quân sự của Mỹ được chi phối bởi 4 tiền đề chính sau đây. Thứ nhất, xuất phát từ kinh nghiệm lịch sử của nước Anh và việc thuộc địa đã từng bị quân đội chiếm đóng, .

    Các vị tổng thống đầu tiên trong vai trò tư lệnh quân đội

    Điều khoản tổng tư lệnh trong Hiến pháp nói rằng, ngoài các nhiệm vụ khác, “tổng thống cũng là tổng tư lệnh của Lục quân và Hải quân Hoa kỳ và dân quân của các tiểu bang, khi các lực lượng này đuợc điều động để phục vụ Hoa kỳ” .Điều khoản này đã là cơ bản suốt trong lịch sử Hoa kỳ, và là căn bản thường trực cho việc dân sự kiểm soát quân sự. Chính cái nguyên tắc cho phép các vị Lập quốc trù liệu cho các thượng nghị sĩ có thể làm tướng trong thời chiến cũng đã cho phép các vị đó chấp nhận một tổng thống dân sự làm tổng tư lệnh quân đội. Điểm then chốt ở đây là chính tổng thống Hoa kỳ, trong khi hành sử tất cả các chức năng của mình, lại bị giới hạn bởi thể chế dân chủ và do đó không có khả năng là sẽ dùng quyền lực quân sự của mình để tăng thêm quyền hành pháp.

    Tầm mức mà các vị Lập quốc muốn quy định việc tổng thống hành sử chức năng quân sự của mình được thấy rõ khi các vị đó không ngăn cản được việc tổng thống đích thân chỉ huy quân đội ngoài mặt trận. Lúc bấy giờ người ta trông đợi và muốn là tổng thống có thể, và phải, nắm quyền đích thân chỉ huy quân đội trên chiến trường. Điều này đã được các tổng thống không ngần ngại thực hiện suốt trong thế kỷ 19. George Washington, với tư cách là tổng thống đầu tiên, đã tạo ra tiền lệ này khi ông dẹp cuộc Nổi loạn Whiskey (Whiskey Rebellion), một cuộc nổi loạn bạo động của nông dân năm 1799. Tuy cuộc nổi loạn này nhỏ và giới hạn trong một vùng, nhưng Washington cho rằng bạo động như vậy là chẳng khác gì phá hoại chính quyền. Washington tuyên bố rằng nếu không dẹp được các người nổi loạn thì “chính quyền nước này coi như là đã cáo chung.” Để biểu dương quyền lực của liên bang, Washington đã huy động một lực lượng quân đội không thua gì lực lượng của toàn thể quân đội trong thời kỳ Cách mạng, và đích thân mang quân sang Pennsylvania.

    Các tổng thống khác cũng theo gót tổng thống Washington. Tuy không có hiệu quả, nhưng tổng thống James Madison cũng tổ chức và đặt kế hoạch phòng thủ thủ đô chống lại quân Anh năm 1814. Trong thời kỳ chiến tranh giữa Mỹ và Mê-hi-cô vào những năm 1840, tổng thống James K. Polk đã hành sử quyền tổng tư lệnh của mình, đích thân chỉ huy quân đội chống lại quân Mễ. Tuy Polk không ra mặt trận nhưng các chiến lược của ông đã là căn bản cho các hoạt động quân sự. Suốt trong thế kỷ 19, các tổng thống tiếp tục chỉ huy quân đội, đích thân lập chiến lược quân sự và tham gia vào các hoạt động thuần túy quân sự. Người sử dụng quyền được giao phó này nhiều nhất là Abraham Lincoln.

    Lincoln là người phải trực diện với những đe dọa gay go và trầm trọng nhất đối với nền dân chủ Hoa kỳ. Đối đầu với sự ly khai của các tiểu bang miền Nam và sự tan rã của Liên hiệp Tiểu bang Ly khai (the Confederacy). Tới tháng 7, tổng thống nói với Quốc hội như sau:

    Không còn sự lựa chọn nào khác là sử dụng quyền ứng chiến của mong rằng sẽ được Quốc hội sẵn sàng phê chuẩn. Bây giờ [lại có người] nhất định chủ trương rằng Quốc hội, chứ không phải hành pháp, mới có quyền này. Nhưng chính Hiến pháp cũng đâu có nói rõ ai hay cơ quan nào có quyền hành sử quyền đó. Hơn nữa hiển nhiên là điều quy định này nhắm vào tình trạng khẩn trương nguy biến, ta không thể tin được rằng các vị các vị lập quốc, khi ấn định quyền lực này, lại muốn là trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cứ để cho tình trạng nguy biến tiếp diễn cho tới khi triệu tập được Quốc hội. Trong trường hợp này, chính việc triệu tập Quốc hội lại bị phe phản loạn muốn ngăn cản. Ngành hành pháp rất tiếc đã thấy là đã phải bắt buộc sử dụng quyền ứng chiến để bảo vệ chính quyền.

    Nhưng Lincoln không chỉ giới hạn việc hành sử quyền hành ở mức đó. Mùa xuân 1982, ông đã tham gia chỉ huy lực lượng của Liên hiệp. Ông đích thân ấn định kế hoạch hành quân và dùng quân lệnh để điều động quân đội. Tuy nhiên, Lincoln cũng là tổng thống cuối cùng trực tiếp tham gia vào công việc ấn định chi tiết các chính sách quân sự.

    Việc hành sử quyền tổng tư lệnh của Lincoln đã xác định thẩm quyền của tổng thống làm cấp chỉ huy cao nhất các lực lượng quân sự. Thực vậy, suốt trong thế kỷ 19, cũng như trong thế kỷ 18, không có sự phân biệt rõ rệt giữa thẩm quyền chính trị và thẩm quyền quân sự. Phần lớn các nhà chính trị cũng lại là các nhà quân sự có tài. Việc tổng thống hành sử chức năng quân sự không gây khó khăn gì có lẽ là vì, mặc dầu Lincoln có nhiều quyền như vậy, nhưng các tổng thống vẫn tiếp tục tôn trọng các giới hạn quyền quy định trong Hiến pháp. Trong thời kỳ đó, một hệ thống quân giai đã hình thành rõ rệt như sau: tổng thống, cùng vói bộ trưởng lục quân và hải quân, là cấp cao nhất trực tiếp ra lệnh cho các cấp chỉ huy quân đội tại chiến trường. Nhiệm vụ chính trị và quân sự do đó vẫn còn lẫn lộn với nhau. Tổng thống thường là người đã có kinh nghiệm chiến trường còn các tướng cũng hay tham gia chính trị. Tới cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 thì quan niệm phối hợp vai trò tổng tư lệnh với vai trò tổng thống đã trở nên khó duy trì. Tuy nhiên nguyên tắc mạnh mẽ chấp nhận sự kiểm soát dân sự đối với quân sự được thành lập từ thế kỷ 19 vẫn tiếp tục củng cố cho truyền thống này trong thế kỷ 20, tuy có khác đôi chút về hình thức.

    Nguồn: http://icevn.org/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lực Lượng Kiểm Soát Quân Sự Việt Nam, Những Điều Ít Biết
  • Đảng Bộ Khối Doanh Nghiệp Tỉnh Vĩnh Phúc
  • Tổ Chức Ủy Ban Kiểm Tra Đảng Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Hội Nghị Toàn Quốc Tổng Kết Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Và Thi Hành Kỷ Luật Của Đảng Năm 2022; Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2022
  • Hướng Dẫn Cách Test, Kiểm Tra Điện Thoại Samsung Galaxy Khi Mua Mới Chính Xách Tay Cũ.
  • Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh: Hoàn Thành Tốt Nhiệm Vụ Quân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Trách, Nhiệm Vụ Của Chính Trị Viên Ban Chỉ Huy Quân Sự Cấp Xã
  • Quy Chế Hoạt Động Của Chi Bộ Trường Tiểu Học Điện Biên Nhiệm Kỳ 2022
  • Quy Chế Hoạt Động Chi Bộ Trường Tiểu Học Quy Che Lam Viec Cua Chi Bo Xem Doc
  • Quy Chế Làm Việc Của Chi Ủy Chi Bộ Trường Tiểu Học Bách Thuận 1
  • Quy Chế Làm Việc Của Chi Bộ Trường Tiểu Học Bách Thuận 1
  • Cùng với đó là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống văn kiện tác chiến từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn và thường xuyên bổ sung để phù hợp với thực tiễn. Chủ động phối hợp với Công an, Bộ đội Biên phòng tỉnh xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động theo Nghị định 03 của Chính phủ (về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng) đúng chức năng nhiệm vụ, đạt hiệu quả thiết thực. Theo đó, đã phối hợp tuần tra 11.978 cuộc, có 35.934 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và xử lý kịp thời mọi tình huống xảy ra trên địa bàn.

    Năm 2022, Bộ CHQS tỉnh tập trung thực hiện “Ba khâu đột phá”, đó là: Đột phá về huấn luyện đào tạo; đột phá về xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật; đột phá về cải cách hành chính quân sự theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X. Qua đó tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức biên chế; thực hiện tốt việc xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội và cải cách hành chính quân sự.

    Bên cạnh đó, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh cũng lãnh đạo, chỉ đạo Trường Quân sự tập huấn giáo viên quốc phòng – an ninh được 30 đồng chí; tổ chức chương trình Học kỳ trong quân đội 2 lớp gồm 300 học sinh; tham mưu cho Hội đồng Giáo dục quốc phòng – an ninh tỉnh tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng được 46 lớp, có 4.465 đồng chí và 21.041 học sinh, sinh viên tham gia. Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2022 đạt 100% chỉ tiêu trên giao.

    Một vấn đề luôn được Đảng ủy Quân sự tỉnh thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ nữa là công tác xây dựng Đảng, nhất là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng; tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng tổ chức quần chúng tiêu biểu xuất sắc. Chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc và Đảng bộ Quân sự tỉnh làm tốt công tác chuẩn bị tổ chức Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2022 – 2025 vào đầu quý 1/2020. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ”. Chỉ đạo các đảng bộ đăng ký nhiều công trình, phần việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với nội dung xứng danh bộ đội Cụ Hồ mang lại hiệu quả thiết thực. Bên cạnh đó, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức các hoạt động kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, qua đó khen thưởng cho 88 tập thể và 138 cá nhân có thành tích xuất sắc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

    Công tác xây dựng quân đội chính quy, rèn luyện kỷ luật cũng được Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Nhờ đó, trong năm 2022 không có vụ việc nghiêm trọng phải xử lý, vi phạm kỷ luật thông thường giảm, đảm bảo an toàn tuyệt đối. Đồng thời thực hiện hiệu quả cuộc vận động Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú gắn với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phong trào Xây dựng và quản lý doanh trại chính quy xanh – sạch – đẹp.

    Ngoài ra, Bộ CHQS tỉnh còn lãnh đạo thực hiện tốt phong trào thi đua ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy; xây dựng doanh trại chính quy xanh – sạch – đẹp, đi vào nền nếp; đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất. Lãnh đạo thực hiện tốt công tác quản lý, bảo quản, sử dụng trang thiết bị kỹ thuật, nắm chắc số lượng, đảm bảo chất lượng vũ khí trang bị có trong biên chế. Hệ thống nhà kho từ tỉnh đến huyện, thị xã, thành phố đều được xây dựng cơ bản và bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định.

    Trong năm, các cơ quan, đơn vị trực thuộc đã tổ chức 7 đợt công tác hành quân dã ngoại; làm tốt công tác chính sách, hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Điển hình là xây tặng 9 căn nhà tình đồng đội; nhận phụng dưỡng 3 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và hỗ trợ 2 thương binh hạng 2/4 với số tiền 1 triệu đồng/người/tháng (với tổng số tiền 60 triệu đồng); nhận đỡ đầu 57 hộ nghèo (với số tiền 228 triệu đồng); giúp TP. Bạc Liêu tổ chức hội nghị làm điểm rút kinh nghiệm thực hiện lập bản đồ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ cấp huyện. Đặc biệt, năm 2022 đã tìm kiếm, quy tập được 15 hài cốt liệt sĩ. Ngoài ra, đã tiếp nhận, thẩm định 79 hồ sơ theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ; chi trả cho 268 đối tượng với số tiền gần 800 triệu đồng. Thăm, tặng quà các đối tượng chính sách, hộ nghèo và cán bộ, chiến sĩ có hoàn cảnh khó khăn nhân kỷ niệm các ngày lễ, tết với số tiền hơn 3 tỷ đồng.

    Với những kết quả đạt được, năm 2022, Bộ CHQS tỉnh có 119 tập thể, 234 cá nhân được các cấp khen thưởng trong thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự – quốc phòng địa phương.

    Đại tá Lê Hoàng Giữ – Chính ủy Bộ CHQS tỉnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấp Ủy Là Gì? Tổng Hợp Những Liên Quan Đến Cấp Ủy
  • Chi Bộ Cơ Quan, Xã, Phường, Thị Trấn: Nên Có Quy Định Cụ Thể Về Chức Năng, Nhiệm Vụ
  • Một Số Kinh Nghiệm Trong Thực Hiện Các Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đảng Bộ, Chi Bộ Cơ Sở Trong Doanh Nghiệp Nhà Nước Còn Sở Hữu Vốn
  • Tài Liệu Bồi Dưỡng Bí Thư Chi Bộ Và Cấp Ủy Viên Ở Cơ Sở
  • Chi Ủy Là Gì? Nghị Quyết Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Của Chi Ủy
  • Khu Phi Quân Sự Là Gì ? Quy Định Về Khu Phi Quân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Đấu Tranh Phi Vũ Trang Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Đã Đến Lúc Đưa Ra Một Cái Giá Cho Những Hành Động Sai Trái Ở Biển Đông
  • Bài Thu Hoạch Về Chiến Lược Diễn Biến Hòa Bình
  • Cạn Kiệt Biện Pháp Phi Quân Sự, Mỹ Sắp Tuyên Chiến Với Triều Tiên?
  • “công Tác Vận Động Quần Chúng Là Biện Pháp Chiến Lược, Cơ Bản, Làm Nền Tảng Cho Các Biện Pháp Công Tác Khác Và Mọi Hoạt Động Của Lực Lượng Công An Huyện Quảng Trạch”
  • Khu vực mà tại đó các bên tham chiến cùng nhau thỏa thuận và cam kết không tiến hành tấp hoạt động vũ trang hoặc thiết lập, duy trì các căn cứ quân đội, các công trình, công sự chiến đấu, d9 thám, các căn cứ hậu cần phục vụ chiến đấu.

    Trong khu phi quân sự, nếu là địa bàn có người dân định cư, sinh sống hợp pháp, các bên có trách nhiệm đảm bảo sự bình an cho cuộc sống của người dân theo các thông lệ và quy định của luật quốc tế: các hoạt động dân sự vẫn được các bên cam kết đảm bảo. Khi không cần thiết phải duy trì khu phi quân sự, các bên có thể thỏa thuận hoặc đơn phương chấm dứt hiệu lực của hiệp định, hiệp ước hay tuyên bố chung về khu phi quân sự đã thỏa thuận hay ký kết.

    Trên lãnh thổ Việt Nam từng tồn tại khu phi quân sự theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Theo đó, Việt Nam và Pháp thỏa thuận lấy hai bờ Bắc – Nam sông Bến Hải, mỗi bên có chiều rộng 5 kilômét kể từ bờ sông trở vào, chạy dài từ cửa biển Tùng Luật ra phía Đông cho đến điểm tiếp giáp đường ranh giới lãnh hải Việt Nam và lên đến phía Tây cho đến điểm tiếp giáp đường biên giới Việt – Lào làm khu phi quân sự để cách ly quân đội của hai bên đối địch là quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội Liên hiệp Pháp.

    Hiệp định được thực thi và khu phi quân sự được duy trì trong một thời gian nhất định theo đúng nguyên tắc của Quy chế khu phi quân sự và thông lệ quốc tế. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam thời kì 1961- 1973, Mỹ đã chà đạp lên Quy chế khu phi quân sự được thành lập theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954, phá vỡ quy chế khu phi quân sự. Do đó, khu phi quân sự không còn được duy trì theo các điều khoản mà các bên đã tham gia ký kết tại Hiệp định Giơnevơ.

    Hiện nay, trên thế giới đã hình thành nhiều khu phi quân sự do các quốc gia hay lực lượng đối lập trong một quốc gia thỏa thuận. Sự ra đời và duy trì các khu phi quân sự là một trong những nội dung chủ yếu góp phần hạn chế các tranh chấp quân sự, tranh chấp vũ trang đối với các vấn đề về lãnh thể, chủ quyền của quốc gia trong quan hệ đối ngoại cũng như trong nội bộ từng quốc gia, dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yếu Tố Phóng Đại Trong Trạng Vĩnh Hoàng
  • Biện Pháp Tư Pháp Trong Luật Hình Sự Việt Nam Và Vấn Đề Bảo Vệ Quyền Con Người
  • Thi Hành Các Biện Pháp Tư Pháp Hình Sự
  • So Sánh Hình Phạt Và Biện Pháp Tư Pháp
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Trong Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100