Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Với Chức Năng Của Đội Quân Công Tác

--- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Thị Trường Là Gì? Chức Năng Của Quản Lý Thị Trường?
  • Quản Lý Thị Trường Là Gì? Thẩm Quyền Của Cơ Quan Quản Lý Thị Trường?
  • Hướng Dẫn Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Quản Lý Thị Trường Địa Phương
  • Pháp Lệnh Quản Lý Thị Trường Năm 2022
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Sở Công Thương
  • (chiasekienthucnet)-Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân ngày nay) được thành lập. Kể từ đó, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ khi được thành lập đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội đã luôn sát cánh cùng toàn Đảng, toàn dân, lập nên những chiến công hiển hách, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài, thống nhất Tổ quốc. Trong thời bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tốt vai trò chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất đặc biệt đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

    Thực hiện chức năng đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; vận động quần chúng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở các cấp, các đơn vị Quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận trên địa bàn đóng quân, luôn xung kích đi đầu trong xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng kinh tế khó khăn của cả nước. Tích cực hướng dẫn chính quyền địa phương, bà con nhân dân trên địa bàn đóng quân xóa đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Đặc biệt Quân đội tích cực tham gia phòng chống lụt, bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ tài nguyên, môi trường…

    Bác Hồ gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc

    Tuy nhiên, với mục đích phi chính trị hóa Quân đội, chia rẽ Quân đội với Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội. Các thế lực thù địch ra sức chống phá bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Bằng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo những truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân, bôi nhọ hình ảnh, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Mặt khác, chúng tán phát tài liệu, tung tin đồn nhảm, gán ghép, ngụy tạo hình ảnh để vu cáo, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân trên các diễn đàn, mạng xã hội… để hòng đạt mục đích của chúng. Đặc biệt thông qua các việc làm của Quân đội với chính quyền, nhân dân địa phương trên cả nước để chúng vu cáo, nói sấu làm mất đi hình ảnh tốt đẹp của Quân đội trong thực hiện chức năng đội quân công tác của mình.

    Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải cảnh giác, trước những âm mưu của các thế lực thù địch tẩy chay những thông tin độc hại, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin ảo. Làm tốt công tác tư tưởng, giữ vững mặt trận văn hóa tư tưởng không cho kẻ xấu lợi dụng chống phá. Làm tốt công tác giáo dục làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhận thức rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm, nhiệm vụ đối với mặt công tác quan trọng này. Từ đó, đề cao trách nhiệm của cán bộ, chiễn sĩ trong tổ chức thực hiện; vận dụng cụ thể vào từng công việc, trên từng lĩnh vực, địa bàn, xây dựng mô hình dân vận phù hợp, hiệu quả. Được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, phương tiện; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn; khắc phục kịp thời tư tưởng lệch lạc, vi phạm kỷ luật dân vận, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Thường xuyên bám sát tình hình địa bàn, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, chủ động tham mưu, đề xuất, với chính quyền cơ sở những biện pháp lãnh đạo sát đúng; tích cực nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

    Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác là truyền thống của Quân đội ta từ khi thành lập đến nay, làm đẹp phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ – Bộ đội của dân. Đây là nhân tố quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò chức năng, nhiệm vụ của mình.

    ĐNG (chiasekienthucnet)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Không Thể Xuyên Tạc Chức Năng Lao Động, Sản Xuất Của Quân Đội
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Kỹ Thuật Các Lĩnh Vực
  • Trưởng Phòng Kỹ Thuật Là Gì? Tất Tần Tật Về Vị Trí Technical Manager
  • Phòng Kinh Tế Hạ Tầng
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Thuộc Ubnd Cấp Huyện
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Tổ Chức Cơ Sở Đoàn Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Bản Chất, Giai Cấp, Mục Tiêu Lý Tưởng Chiến Đấu, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Bai Giang Doc
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Quản Đốc Sản Xuất Chuyên Nghiệp
  • Bản Mô Tả Công Việc Quản Đốc Sản Xuất
  • Trải qua suốt chiều dài lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, mỗi bước phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam đều gắn liền với quá trình phát triển chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Việc xác định đúng đắn chức năng, nhiệm vụ của quân đội và lãnh đạo quân đội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; luôn giữ vững và phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”; là lực lượng chính trị quan trọng của Đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cách mạng, của đất nước. Cuốn sách Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Nội dung cuốn sách tập trung trình bày về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua các thời kỳ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Theo các tác giả, chức năng, nhiệm vụ của quân đội là sự phản ánh bản chất chính trị – xã hội của quân đội kiểu mới, đồng thời phản ánh thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam là vấn đề có tính bản chất của một quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong cuốn sách đã viết: Là quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, sinh ra ở một nước nông nghiệp phương Đông, Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là một quân đội nhiều chức năng: chức năng chiến đấu, chức năng công tác, chức năng lao động sản xuất. Trong đó chức năng cơ bản hàng đầu là chức năng chiến đấu. Đặc biệt, các chức năng, nhiệm vụ này của Quân đội nhân dân Việt Nam trong từng thời kỳ (kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ, cứu nước, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa) không ngang bằng nhau nhưng thống nhất trong bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từng chức năng, nhiệm vụ này sẽ được phân tích khá cụ thể trong chương II, chương III, chương IV của cuốn sách.

    Từ góc độ nghiên cứu tổng kết lý luận, phần cuối cuốn sách đã rút ra 4 bài học về xác định và tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân hơn 67 năm xây dựng và trưởng thành. Những bài học đó có ý nghĩa như những vấn đề có tính quy luật của việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, các tác giả đã đưa ra một số dự báo về sự phát triển chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là những dự báo góp phần quan trọng trong việc định hướng quá trình phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Với những thông tin và nội dung trong cuốn sách, đây sẽ là một kênh tri thức góp phần bổ sung, phát triển, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ quân đội – một vấn đề có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng trong tình hình hiện nay.

    Cuốn sách gồm 5 chương:

    Chương I: Tiếp cận khoa học về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam

    Chương II: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp

    Chương III: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

    Chương IV: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

    Chương V: Bài học kinh nghiệm và dự báo sự phát triển chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Kỹ Thuật Công Ty Xây Dựng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Phòng Hạ Tầng Kỹ Thuật
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Của Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp
  • Bạn Đã Biết Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Thiết Kế Nội Thất Là Gì Chưa?
  • Bai 1 Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Nhiệm Vụ Của Chi Uỷ, Bí Thư Chi Bộ
  • Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Công Tác”
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Của Đội Quân Công Tác
  • Quân Đội Thực Hiện Tốt Chức Năng Đội Quân Lao Động Sản Xuất Trong Thời Kỳ Mới
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Tham Gia Lao Động Sản Xuất, Góp Phần Phát Triển Kinh Tế
  • Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam kể từ khi ra đời đến nay, đã lập nên những chiến công oanh liệt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, Quân đội ta đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, xứng đáng là “đội quân công tác” của Đảng.

    Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” 1, 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn dựa vào dân, sát cánh cùng nhân dân thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quân – dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong các giai đoạn cách mạng của Đảng. Bởi vậy, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Quân đội luôn nhận được sự giúp đỡ của nhân dân để tạo nên nguồn sức mạnh to lớn đánh thắng kẻ thù xâm lược; thực sự là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, xứng danh với tên gọi trìu mến, thân thương “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

    Để thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, các đơn vị Quân đội đã thường xuyên bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc điểm, tình hình và các quy định của địa phương, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội làm cơ sở để xác định nội dung, hình thức công tác Dân vận (CTDV), nhất là trên những địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng dân tộc, tôn giáo. Thông qua thực tiễn bám nắm cơ sở, cán bộ, chiến sĩ (CB,CS) Quân đội đã “cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân”, thực hiện đúng phương châm “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, tạo được niềm tin trong nhân dân, phát huy sức dân để hoàn thành nhiệm vụ. Với tinh thần tích cực, chủ động, 70 năm qua, CTDV trong Quân đội đã có bước đổi mới toàn diện cả về nội dung, hình thức, cách làm, nên đã đạt được những kết quả quan trọng 2. Hoạt động của hệ thống “Chiến sĩ dân vận”, “Tổ CTDV”; kết nghĩa; huấn luyện dã ngoại kết hợp làm CTDV; các chương trình phối hợp; cử cán bộ tăng cường cơ sở các xã biên giới của Bộ đội Biên phòng và CTDV của các binh đoàn, đoàn kinh tế – quốc phòng; Chương trình quân – dân y kết hợp… đã từng bước đi vào nền nếp, có hiệu quả tốt. Trước yêu cầu phát triển của các vùng chiến lược, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã kịp thời quyết định thành lập và chỉ đạo tổ chức hoạt động của các đội công tác tăng cường cơ sở trên các địa bàn trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Quân khu 4 (Đội công tác 123); thể hiện vai trò nòng cốt góp phần xây dựng cơ sở vững mạnh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

    Kết quả nổi bật trong thời gian qua là: CTDV của Quân đội đã góp phần tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các cuộc vận động cách mạng, các phong trào và nhiệm vụ chính trị của địa phương; tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng – an ninh, phát triển kinh tế – xã hội; tích cực giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn. Đồng thời đã chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác của các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc, tình đoàn kết các dân tộc, tình hữu nghị với các nước. Mặt khác, đã thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở; công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn và chính sách dân tộc, tôn giáo trong Quân đội, v.v. Qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường tiềm lực chính trị – tinh thần, xây dựng “thế trận lòng dân”, hậu phương chiến lược vững chắc trong thế phòng thủ chung của cả nước. Thông qua thực tiễn hoạt động, CTDV đã trở thành một trong những phương thức chủ yếu để tăng cường mối quan hệ gắn kết chiến lược giữa Đảng, nhân dân và Quân đội; là điều kiện để giáo dục, rèn luyện tư tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho CB,CS Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng, ở một số đơn vị việc thực hiện chức năng “đội quân công tác” chưa thực sự rõ nét; việc tham mưu, đề xuất phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tiến hành CTDV, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, biên giới có lúc chưa kịp thời; sự phối hợp giữa các tổ chức, ban, ngành, các lực lượng trong giải quyết các vụ việc phức tạp hiệu quả chưa cao, chưa tạo sức mạnh tổng hợp trong tiến hành CTDV; phương thức hoạt động của đội công tác chưa mang tính đột phá, có thời điểm còn thiếu tính chủ động, chưa phù hợp với đối tượng và loại hình đơn vị, v.v.

    Ngày nay, sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu mới với không ít khó khăn, phức tạp. Trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, chia rẽ sự đoàn kết gắn bó keo sơn giữa nhân dân với Đảng, nhân dân với Quân đội; tình trạng tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi, v.v. Tình hình đó, đang hằng ngày, hằng giờ tác động đến tâm tư, tình cảm của các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ; đồng thời, là những cản trở không nhỏ chi phối đến việc thực hiện chức năng “đội quân công tác” của Đảng trong Quân đội.

    Từ kinh nghiệm thực hiện chức năng “đội quân công tác” 70 năm qua vận dụng vào tình hình hiện nay cho thấy, để nâng cao hiệu quả hoạt động, toàn quân cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho CB,CS về vị trí, vai trò “đội quân công tác” trong tình hình mới. Trước hết, cần nhận thức sâu sắc rằng, thực hiện tốt CTDV chính là biện pháp quan trọng để Quân đội ta hoàn thành chức năng “đội quân công tác” của Đảng và là cơ sở để tăng cường đoàn kết quân – dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ, Quân đội. Bởi vậy, các đơn vị cần làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của CTDV trong tình hình mới; làm rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm, nhiệm vụ đối với mặt công tác quan trọng này. Từ đó, đề cao trách nhiệm của mọi CB,CS trong tổ chức thực hiện; vận dụng cụ thể vào từng công việc, trên từng lĩnh vực, địa bàn, xây dựng mô hình dân vận phù hợp, hiệu quả. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn; nâng cao hiệu quả CTDV với khắc phục kịp thời tư tưởng lệch lạc, vi phạm kỷ luật dân vận, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Đồng thời, xây dựng lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn; đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng của đơn vị, gắn với phong trào thi đua yêu nước của địa phương, phong trào thi đua “Dân vận khéo” và các phong trào, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội phát động. Các đơn vị cần tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội”, gắn với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, với tinh thần “ở đâu có bộ đội, ở đó có CTDV”; giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” – “Bộ đội của dân” trong giai đoạn mới.

    Trước tác động của tình hình kinh tế – xã hội đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân, làm phân tâm đến các tầng lớp xã hội, thay đổi nếp sống ở các vùng, miền, nên CTDV cần tiếp tục đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức cho phù hợp với từng địa bàn và từng loại hình đơn vị. Từ thực tiễn tiến hành CTDV, cần tổng kết, rút kinh nghiệm, xác định mô hình sáng tạo, hiệu quả để phát huy; đồng thời, bám sát sự phát triển của tình hình trên các địa bàn để xác định mô hình, nội dung, biện pháp phù hợp. Trên cơ sở đó và căn cứ vào yêu cầu của CTDV hiện nay, các đơn vị cần đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân; tiếp tục duy trì, mở rộng hoạt động kết nghĩa, huấn luyện dã ngoại kết hợp làm CTDV; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của “Tổ CTDV’; phát huy vai trò của dân quân tự vệ làm CTDV, các tổ, đội công tác liên ngành ở các địa bàn và cán bộ tăng cường cơ sở, nhất là các đồng chí tham gia cấp ủy, chính quyền và Hội đồng nhân dân các cấp. Các đơn vị phải thường xuyên bám sát tình hình địa bàn, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, chủ động tham mưu, đề xuất, hướng hoạt động CTDV về cơ sở; tích cực nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Đồng thời, phối hợp với các địa phương tổ chức tốt các hoạt động bổ ích cho nhân dân trên địa bàn; giải quyết dứt điểm các vụ việc và các hủ tục, tệ nạn, không để tồn đọng kéo dài. Thông qua hoạt động thực tiễn, cần phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trong tiến hành CTDV để nhân rộng cho các đơn vị và mọi CB,CS học tập, noi theo.

    Một trong những nhân tố quyết định để việc thực hiện chức năng “đội quân công tác” mang lại hiệu quả thiết thực là phải tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp. Theo đó, các cơ quan, đơn vị phải coi CTDV là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, gắn kết quả CTDV với hoạt động của cấp ủy đảng, trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và các tổ chức, lực lượng; khắc phục những nhận thức lệch lạc, coi CTDV là việc của cơ quan chính trị và cán bộ dân vận chuyên trách. Để làm được điều đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với CTDV trong tình hình mới”; coi đây là cơ sở để xác định nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo để đổi mới CTDV cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng; phát huy vai trò của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị trong việc tham mưu, chỉ đạo, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị – xã hội và các lực lượng trên địa bàn trong thực hiện CTDV. Ngoài ra, các đơn vị cần tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống cơ quan dân vận theo Quy chế CTDV trong Quân đội; tập trung xây dựng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân vận và đội ngũ cán bộ dân vận các cấp, bảo đảm thực hiện tốt vai trò tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức hoạt động CTDV và thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở.

    Để cho dân tin, dân yêu, dân làm theo và giúp đỡ bộ đội, các đơn vị cần giáo dục cho CB,CS làm CTDV phải thực sự là những người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, lối sống trong sạch, giản dị, phong cách quần chúng, gần cơ sở. Bên cạnh sự giáo dục, rèn luyện của tổ chức, mỗi người phải tự giác ghép mình vào các quy định, kỷ luật của đơn vị; tích cực khắc phục khuyết điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhất là học tập Bác ở phong cách quần chúng. Trong quá trình làm CTDV, mọi CB,CS phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của địa phương, kỷ luật Quân đội và kỷ luật trong quan hệ với nhân dân; nói đi đôi với làm, luôn có tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ nhân dân, chia ngọt sẻ bùi trước những khó khăn, vất vả của nhân dân. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, CB,CS Quân đội phải luôn giữ vững phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, từ lời nói đến hành động phải thể hiện sự khiêm tốn, lễ phép trước nhân dân; khắc phục mọi biểu hiện vô cảm, thiếu trách nhiệm với nhân dân.

    Thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác” là bản chất, truyền thống của Quân đội ta, làm thắt chặt tình đoàn kết quân – dân, tô thắm thêm phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” – “Bộ đội của dân”. Đó là nhân tố quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

    1 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 234.

    2 – Tổng kết 10 năm hoạt động công tác dân vận (2003 – 2013), toàn quân đã tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương được 44.230 lượt xã, phường; tham gia cấp ủy, chính quyền địa phương 1.261 lượt cán bộ; đào tạo được hơn 1.000 y tá, y sĩ thôn bản; củng cố được 1.553 trạm y tế xã; khám, chữa bệnh cho hơn 4,3 triệu lượt người; mở 234 lớp xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cho 2.370 học sinh; xây dựng 3.730 Nhà Đại đoàn kết, Nhà Đồng đội trị giá hơn 200 tỷ đồng; tham gia giúp dân phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn với 2.700.000 ngày công, di dời 275.600 người dân và 39.350 phương tiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quân Đội Ta Là Quân Đội Cách Mạng, Đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác, Đội Quân Lao Động Sản Xuất
  • Thực Hiện Chức Năng Đội Quân Chiến Đấu Cuả Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Hiện Nay
  • Vẫn Là “đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác”
  • Quân Đoàn 3 Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác”
  • Bài 2: Đội Quân Chiến Đấu, Công Tác Và Sản Xuất
  • Các Quân Khu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Nhân & Hướng Dẫn Điều Trị Chứng Khó Tiêu (Dyspepsia)
  • Povidone Polyvinylpyrrolidone Pvp K17 K30 K90 Và Povidone Iodine Powder
  • 10 Phương Pháp Kiểm Thử Từ Cơ Bản Đến Nâng Cao
  • Chức Năng Luận Cấu Trúc Và Lý Thuyết Hệ Thống (I)
  • Giải Bài Tập Trang 27 Sgk Sinh Lớp 8: Bộ Xương
  • Quân đội nhân dân Việt Nam được chia thành các quân khu 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9 và Bộ Tư lệnh Thủ đô (Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng)

    Quân khu 1 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm ở vị trí địa – chính trị chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh và đối ngoại trong thế bố trí chung của cả nước, có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy lực lượng vũ trang 3 thứ quân; thường xuyên nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc; tích cực tham gia công tác cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tư lệnh kiêm Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 1 là đồng chí Đàm Quang Trung.

    Hiện nay, Quân khu 1 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 1 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 16/10/1945

    Truyền thống vẻ vang:

    “TRUNG HIẾU, TIÊN PHONG, ĐOÀN KẾT, CHIẾN THẮNG”

    Phần thưởng cao quý:

    Với những thành tích đặc biệt xuất sắc qua các thời kỳ, Lực lượng vũ trang Quân khu 1 đã được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao vàng, 02 Huân chương Hồ Chí Minh, 03 Huân chương Độc lập, 10 Huân chương Quân công, hàng nghìn lượt tập thể đơn vị, hàng vạn cá nhân được thưởng Huân chương Chiến công các hạng; 346 đơn vị và 206 cá nhân được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến, 06 đơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ đổi mới (lực lượng vũ trang huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; lực lượng vũ trang và nhân dân xã Thị Hoa, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng; Trung đoàn Xe tăng 409; Lữ đoàn Công binh 575; Lữ đoàn Pháo binh 382; Tiểu đoàn Hoá học 23/ Bộ Tham mưu); 916 Mẹ Việt Nam Anh hùng và nhiều phần thưởng cao quý khác của bạn bè quốc tế.

    Quân khu 2 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc; các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn quân khu. Tư lệnh và Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 2 là các đồng chí Bằng Giang, Bùi Quang Tạo.

    Hiện nay, Quân khu 2 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 2 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 19/10/1946

    Truyền thống vẻ vang:

    “TRUNG THÀNH, TỰ LỰC, ĐOÀN KẾT, ANH DŨNG, CHIẾN ĐẤU”

    Phần thưởng cao quý:

    – Huân chương Sao vàng;

    – Huân chương Hồ Chí Minh…

    Quân khu 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng, có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc; các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn quân khu. Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 3 là các đồng chí Hoàng Sâm, Trần Độ.

    Hiện nay, Quân khu 3 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 3 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 31/10/1945.

    Truyền thống vẻ vang:

    “ĐOÀN KẾT, CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO, HY SINH, CHIẾN THẮNG”

    Phần thưởng cao quý:

    – 02 Huân chương Sao Vàng;

    – 02 Huân chương Hồ Chí Minh…

    Quân khu 4 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm trên một địa bàn chiến lược trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, có nhiệm vụ chỉ huy, quản lý và tổ chức lực lượng vũ trang quân khu chiến đấu bảo vệ vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam.

    Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 15/10/1945 Chiến khu 4 được thành lập gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế và ngày này trở thành Ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu 4. Ngày 03/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 17/SL về việc thành lập Quân khu 4 trên cơ sở Liên khu 4.

    Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 4 là các đồng chí Nguyễn Đôn, Chu Huy Mân.

    Hiện nay, Quân khu 4 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 4 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 15/10/1945

    Phần thưởng cao quý:

    – 01 Huân chương Sao vàng;

    – 03 Huân chương Hồ Chí Minh…

    Quân khu 5 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, hiện nay có chức năng nhiệm vụ cơ bản là tổ chức, xây dựng, quản lí và chỉ huy lực lượng vũ trang thuộc Quân khu chiến đấu bảo vệ vùng Nam Trung Bộ, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân ở địa phương trên địa bàn. Địa bàn Quân khu 5 bắt đầu từ đèo Hải Vân đến cực nam tỉnh Ninh Thuận, gồm 11 tỉnh thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và Đắc Nông. Tổ chức hiện nay có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh; Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc.

    Ngày truyền thống: 16/10/1945

    Truyền thống vẻ vang:

    “TỰ LỰC TỰ CƯỜNG, KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, CHỊU ĐỰNG GIAN KHỔ, MƯU TRÍ SÁNG TẠO, CHIẾN ĐẤU KIÊN CƯỜNG, CHIẾN THẮNG VẺ VANG”.

    Trải qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và 35 năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã có 162.768 liệt sỹ hy sinh vì sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc, hơn 100 nghìn thương, bệnh binh, 13.772 Mẹ Việt Nam Anh hùng. Với những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

    – Huân chương Sao vàng (1985);

    – 898 tập thể và 392 cá nhân và được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có: Trung đoàn Ba Gia – đơn vị được 3 lần tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Trung đoàn Ba Gia và các đơn vị được 2 lần tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Sư đoàn 2; Trung đoàn 95; Trung đoàn 812; Tiểu đoàn 840/Trung đoàn 812; Đại đội Công binh Hải Vân/Quảng Đà; Đại đội 2/Trung đoàn 66; Đại đội 5/26/Đoàn 5504; Lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương huyện Duy Xuyên và (Quảng Nam); Lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương huyện Đại Lộc (Quảng Nam); xã Tịnh Khê (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi); xã Hoà Hải (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng)..

    Trong thời kỳ đổi mới, lực lượng vũ trang Quân khu 5 có 5 tập thể vinh dự được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Đại Lộc/Quảng Nam, Lữ đoàn công binh 270, Viện Quân y 13, Trung đoàn Pháo binh 368 và Binh đoàn 15), 1 cá nhân được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động; 25 tập thể được tặng Cờ Thủ tướng Chính phủ; 85 tập thể và 35 cá nhân được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 68 tập thể được tặng Cờ Thi đua Bộ Quốc phòng; 542 tập thể và cá nhân được Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen và các hình thức khen thưởng khác.

    Quân khu 7 là tổ chức quân sự theo vùng lãnh thổ, được thành lập ngày 10/12/1945, bao gồm thành phố Sài Gòn và các tỉnh Gia Đinh, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh. Nay gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, Long An và Tây Ninh.

    Trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang Quân khu 7 vừa xây dựng vừa chiến đấu, từ trong muôn vàn thiếu thốn, gian khổ hy sinh, đã sáng tạo ra những cách đánh hết sức độc đáo, có hiệu quả, lập nên nhiều chiến công xuất sắc ở cả ba vùng đô thị, đồng bằng và rừng núi, góp phần làm chuyển đổi cục diện chiến trường, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch, cùng quân và dân cả nước làm nên trận Điện Biên Phủ và cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975.

    Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến tranh giải phóng dân tộc, lực lượng vũ trang Quân khu 7 thực hành quân quản, sắp xếp lại lực lượng, khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia xây dựng chế độ xã hội mới: Vừa đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại của địch, xây dựng tiềm lực quân sự – quốc phòng, vừa kiên cường chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ Quốc tế xây dựng và bảo vệ đất nước Campuchia, góp phần đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Trong bối cảnh lịch sử mới, lực lượng vũ tranh Quân khu 7 tập trung xây dựng đơn vị cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, ra sức huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Trải qua hơn 60 năm, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng vũ trang Quân khu 7 được tặng thưởng: 02 Huân chương Sao vàng, 02 Huân chương Hồ Chí Minh, 01 Huân chương Quân công hạng nhất và 340 cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Thành phố Hồ Chí Minh và hầu hết các tỉnh của Quân khu 7 đều được tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    Lực lượng vũ trang Quân khu 7 luôn chú trọng việc quán triệt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ quốc phòng, vận dụng linh hoạt sáng tạo đường lối quân sự, đường lối ngoại giao, thống nhất ý chí và hành động, khắc phục khó khăn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

    Kế thừa và phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà ông, cha đã dày công vun đắp, phấp đấu xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 7 ngày càng lớn mạnh, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang: “Trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, đoàn kết quyết thắng” lực lượng vũ trang Quân khu 7 mãi mãi xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

    Quân khu 9 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt nam có nhiệm vụ quản lý, tổ chức, xây dựng và chỉ huy quân đội chiến đấu bảo vệ vùng Đồng bằng Sông Cửu long Việt Nam. Tư lệnh và Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 9 là các đồng chí Nguyễn Thành Thơ, Nguyễn Văn Bé.

    Hiện nay, Quân khu 9 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 9 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 10/12/1945

    Phần thưởng cao quý:

    – 03 Huân chương Sao vàng;

    – Huân chương Hồ Chí Minh;

    – Huân chương Ăng Ko…

    Ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng, lực lượng vũ trang (LLVT) Thủ đô Hà Nội là một bộ phận quan trọng của LLVT nhân dân Việt Nam đã kế thừa, phát huy truyền thống anh hùng bất khuất chống ngoại xâm của Thủ đô Hà Nội, truyền thống “Ngàn năm văn hiến Thăng Long – Hà Nội” cùng các tầng lớp nhân dân Thủ đô viết nên trang sử hào hùng, góp phần làm rạng danh non sông đất nước.

    Ngày 19/8/1945, nhân dân Hà Nội được sự hậu thuẫn của lực lượng vũ trang đã đứng lên giành chính quyền trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (Ảnh: Tư liệu)

    Trước và trong cách mạng tháng Tám, các đội tiền thân của LLVT Thủ đô xung kích đi đầu, làm nòng cốt cho các tầng lớp nhân dân Hà Nội đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện khi thời cơ đến vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, góp phần quyết định thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, lật đổ chế độ phong kiến mấy nghìn năm, giành độc lập tự do cho dân tộc, mang lại quyền làm chủ cho nhân dân Việt Nam. LLVT Thủ đô Hà Nội đã cùng các tầng lớp nhân dân kiên quyết đấu tranh đập tan hoạt động chống phá của kẻ thù, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam thoát ra khỏi tình thế ngàn cân treo sợi tóc.

    Sau khi được thành lập, ngày 19/12/1946 hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chấp hành quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng, quân và dân Chiến khu XI với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã nổ súng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến. Lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, quân và dân Thủ đô nói riêng mãi mãi lưu truyền cuộc chiến đấu 60 ngày đêm, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, vượt chỉ tiêu Trung ương giao, bảo vệ tuyệt đối an toàn cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, tạo điều kiện cho cả nước có thời gian thực hiện công việc kháng chiến lâu dài. Suốt chặng đường kháng chiến chống thực dân Pháp, LLVT Thủ đô Hà Nội đã kiên trì trụ vững bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở, dựa vào dân chiến đấu và lập được nhiều chiến công vẻ vang. Nhiều trận đánh tiêu biểu, hiệu quả để lại kinh nghiệm quý cho chiến tranh nhân dân, góp phần tạo ra bước ngoặt quan trọng trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Các địa phương thuộc tỉnh Hà Đông và Sơn Tây là địa bàn hoạt động của các đơn vị LLVT Mặt trận Hà Nội, nhiều địa phương được xây dựng thành căn cứ kháng chiến và căn cứ của Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, hai tỉnh cung cấp nhiều nhất cho Hà Nội lương thực, thực phẩm…

    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng vũ trang Thủ đô vừa sản xuất, vừa tăng cường chi viện cho chiến trường, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, phối hợp chặt chẽ với lực lượng phòng không, không quân quốc gia đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc, đỉnh cao là cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối tháng Chạp năm 1972, lập nên kỳ tích của thế kỷ XX Hà Nội “Điện Biên Phủ trên không” để trở thành “Thủ đô lương tri và phẩm giá con người”.

    Thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, LLVT Thủ đô luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, vượt mọi khó khăn, vừa tăng cường chi viện cho các mặt trận bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế, vừa là lực lượng nòng cốt góp phần cùng các tấng lớp nhân dân Thủ đô làm thất bại âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, bảo vệ, kiến thiết Thủ đô ngày càng văn minh, hiện đại.

    Trng quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô Hà Nội lập nên những chiến công oanh liệt, viết nên những trang sử hào hùng, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Sự hy sinh, cống hiến cùng những chiến công của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã hun đúc nên giá trị tiêu biểu, đặc sắc như lời Bác Hồ khen “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự thương yêu đùm bọc giúp đỡ của nhân dân, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô đã không ngại gian khổ hy sinh ra sức phấn đấu xây dựng và vun đắp nên truyền thống Anh hùng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao. Kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của LLVT Thủ đô là vinh dự và trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô hôm nay.

    Ngày truyền thống

    Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, ngày 19/10/1946, Chiến khu XI – Tổ chức hành chính quân sự thống nhất của các LLVT Thủ đô Hà Nội được thành lập. Chiến khu XI đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương. Ngày 25/7/1947 trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, Trung ương ra quyết định địa bàn hoạt động của Chiến khu XI được mở rộng bao gồm: Hà Nội, Hà Đông và Sơn Tây. Qua Hội thảo khoa học và thực tiễn hoạt động quân sự, quốc phòng của Chiến khu XI đã mang đầy đủ tính chất chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội ngày nay. Vì vậy, ngày 19/10/1946 là ngày truyền thống của LLVT Thủ đô Hà Nội theo Quyết định số 1850/QĐ-QP ngày 31/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

    Phần thưởng cao quý

    – 03 lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân (1978, 2002, 2005);

    – 01 Huân chương Sao vàng (2011);

    – 03 Huân chương Hồ Chí Minh (1984, 1985, 2002);

    – 04 Huân chương Quân công (hạng Nhất: 1984; hạng Nhì: 2006; 02 hạng Ba: 2004);

    – 04 Huân chương Chiến công (02 hạng Nhất: 1983 và 2000; 02 hạng Ba: 2004 và 2006);

    – 01 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất (2005);

    – 06 lần được tặng Cờ thưởng luân lưu Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược;

    – 02 Huân chương Itxala do Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tặng (01 hạng Nhì cho tập thể; 01 hạng Ba cho cá nhân năm 2010)…

    Tổng Hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Quốc Phòng Quân Khu Là Gì?
  • Xây Dựng Llvt Quân Khu 3 Là Lực Lượng Nòng Cốt Trong Sự Nghiệp Quốc Phòng
  • Các Quân Khu Trong Tổ Chức Bố Phòng Của Qđnd Việt Nam
  • Khu Đô Thị Là Gì? Quy Định Về Quy Hoạch Khu Đô Thị 2022
  • Khu Đô Thị Là Gì? Tiện Ích Của Khu Đô Thị Đối Với Cư Dân
  • Thực Hiện Chức Năng Đội Quân Chiến Đấu Cuả Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Quân Đội Ta Là Quân Đội Cách Mạng, Đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác, Đội Quân Lao Động Sản Xuất
  • Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Công Tác”
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Của Đội Quân Công Tác
  • Quân Đội Thực Hiện Tốt Chức Năng Đội Quân Lao Động Sản Xuất Trong Thời Kỳ Mới
  • Những năm gần đây, với âm mưu thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội ta, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách hòng làm lu mờ, phai nhạt, đi đến phủ nhận giá trị văn hóa quân sự độc đáo này. Chúng dùng mọi thủ đoạn để xuyên tạc bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng ra sức phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội; kêu gọi Quân đội đứng ngoài chính trị, v.v. Lợi dụng những khuyết điểm của một vài quân nhân, cơ quan, đơn vị đơn lẻ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; nhất là những khuyết điểm trong quá trình tham gia phát triển kinh tế, quản lý đất quốc phòng, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội,… chúng xuyên tạc rằng: “Bộ đội thời nay, trong bối cảnh kinh tế thị trường không còn là “Bộ đội Cụ Hồ” nữa; không còn tập trung cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ chủ quyền, biển, đảo của Tổ quốc; không còn là bộ đội của dân, chiến đấu, hy sinh vì nhân dân”(!), v.v. Bên cạnh đó, chúng còn âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ Quân đội; qua đó, hòng làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta; làm phai nhạt phẩm chất, đạo đức người quân nhân cách mạng. Các thủ đoạn đó thật nham hiểm và đều nhằm mục tiêu làm biến chất Quân đội nhân dân Việt Nam, hạ thấp uy tín của Quân đội ta trong xã hội, xóa bỏ biểu tượng “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân; chia rẽ Quân đội với Đảng, với nhân dân; trên cơ sở đó, vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

    Thực tiễn hoạt động xây dựng, thực hiện các chức năng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm qua đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc nói trên và chứng minh một sự thật hiển nhiên là: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy, lực lượng chiến đấu sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ giữ gìn, phát huy và tỏa sáng trên mọi hoạt động. Thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, Quân đội đã chủ động phối hợp cùng các lực lượng khác, tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự trong tình hình mới; đề ra đối sách phù hợp, xử lý thắng lợi các tình huống phức tạp, các vấn đề nhạy cảm về quốc phòng – an ninh. Các đơn vị trong toàn quân luôn ra sức huấn luyện, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, làm chủ các loại vũ khí, trang bị mới, hiện đại; thường xuyên rèn luyện, chấp hành kỷ luật, nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, làm tốt nhiệm vụ là lực lượng nòng cốt cùng nhân dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc. Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ ở quần đảo Trường Sa và lực lượng Cảnh sát biển ngày đêm chắc tay súng, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc; bảo vệ ngư trường truyền thống cho ngư dân và kịp thời cứu hộ, cứu nạn khi ngư dân gặp hiểm nguy là sự tiếp nối truyền thống “vì nhân dân quên mình” của Quân đội ta; tô thắm thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu ở thời kỳ mới. Mặt khác, Quân đội đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, đoàn thể và cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng tiềm lực và thế trận của nền quốc phòng toàn dân, gắn với xây dựng tiềm lực và thế trận của nền an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, nhất là trên các hướng, địa bàn chiến lược, trọng điểm, biên giới, hải đảo. Các đơn vị Quân đội đứng chân trên các địa bàn cũng chủ động, tích cực làm nòng cốt cùng cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X), Nghị định 152/2007/NĐ-CP và Nghị định 02/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ. Bên cạnh đó, Quân đội luôn là lực lượng đi đầu trong đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc về phương diện chế độ chính trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vẫn Là “đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác”
  • Quân Đoàn 3 Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác”
  • Bài 2: Đội Quân Chiến Đấu, Công Tác Và Sản Xuất
  • Quân Đội Mỹ Tham Gia Phân Phối Vắc Xin Covid
  • Humvee: Bạn Đồng Hành Của Bộ Binh Mỹ
  • Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Thực Hiện Chức Năng Đội Quân Công Tác Trong Tình Hình Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Động Đấu Tranh Làm Thất Bại Mọi Âm Mưu, Thủ Đoạn Thâm Độc Nhằm Chống Phá Quân Đội Ta
  • Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế
  • Quân Đội Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế, Góp Phần Phát Triển K…
  • Quyền Hạn Của Đội Quản Lý Thị Trường
  • Tổng Cục Quản Lý Thị Trường Có Chức Năng, Quyền Hạn Như Thế Nào?
  • Thực hiện chức năng đội quân công tác, toàn quân thường xuyên đẩy mạnh công tác dân vận với nhiều nội dung, hình thức đa dạng và phong phú; chủ động, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Chỉ trong 5 năm (2013 – 2022), Quân đội đã tham gia củng cố hơn 4.000 chi bộ Đảng, 5.300 tổ chức chính quyền, 23.000 tổ chức chính trị – xã hội, xóa tình trạng “trắng” đảng viên ở 107 thôn, bản; phối hợp tổ chức giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho hơn 20 triệu lượt người; đào tạo nghề cho 525 y tá, y sĩ thôn, bản. Các đơn vị đã giúp đỡ nhân dân hơn 2 triệu ngày công lao động xây dựng nông thôn mới, tặng Nhà Tình nghĩa; tổ chức hơn 2.000 đợt khám, chữa bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho hơn 2,5 triệu lượt người với tổng trị giá hơn 300 tỷ đồng. Ngoài ra, Quân đội còn tích cực, chủ động tham gia duy trì, bảo tồn và phát triển bền vững các tộc người, dân tộc rất ít người, như: tộc người thiểu số Đan Lai ở Nghệ An; dân tộc La Hủ ở Lai Châu; dân tộc Chứt ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, v.v. Cùng với đó, các đơn vị còn phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số xóa bỏ hủ tục; tham mưu xây dựng nhiều mô hình phát triển văn hóa, điểm sinh hoạt tín ngưỡng phù hợp với điều kiện địa lý, tình hình kinh tế – xã hội của mỗi dân tộc. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã cử 332 cán bộ tham gia chính quyền cấp xã; trong đó, 260 người giữ chức vụ trong cấp ủy.

    Với quan điểm tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình, những năm qua, Quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ này. Trong 5 năm (2013 – 2022), Quân đội đã huy động hơn 1,3 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ và gần 30.000 lượt phương tiện giúp dân phòng, tránh, khắc phục hậu quả thiên tai; cứu hộ, cứu nạn được hơn 10.000 phương tiện và gần 18.000 người dân. Qua đó, thiết thực tăng cường quan hệ máu thịt giữa Quân đội với nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội lăn lộn trong gian khó, sáng tạo trong tổ chức giải cứu 12 công nhân bị sập hầm ở thủy điện Đạ Dâng (Lâm Đồng); dầm mình trong bão, lũ để di chuyển, cứu tính mạng và tài sản của nhân dân trong những năm qua, có khi còn hy sinh cả tính mạng của mình, đã để lại trong lòng nhân dân nhiều tình cảm tốt đẹp./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Công Tác Tuyên Huấn Trong Bộ Đội Biên Phòng
  • Công Tác Tuyên Huấn Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Mọi Nhiệm Vụ
  • Tập Huấn Nghiệp Vụ Công Tác Tuyên Huấn Cho Cán Bộ Quân Đội Nhân Dân Lào
  • Những Thành Công Trong Tham Mưu, Chỉ Đạo Công Tác Tuyên Huấn
  • Triển Khai Công Tác Tuyên Huấn Năm 2022
  • Bài 3. Tổ Chức Quân Đội Và Công An Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Phát Triển Quỹ Đất
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Phòng Tổ Chức Cán Bộ
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Tổ Chức Cán Bộ
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Tổ Chức Cán Bộ Sở Gd&đt
  • Phòng Tổ Chức Cán Bộ
  • TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI VÀ

    CÔNG AN NHÂN DÂN

    VIỆT NAM

    Sở GDĐT Quảng Ngãi Trường THPT Sơn Hà Tổ: TD-GDQP

    Giáo Viên: Nguyễn Võ Trường Linh

    BÀI GiẢNG

    MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:

    Hiểu được chức năng, nhiệm vụ chính của một số tổ chức cơ bản trong Quân đội, Công an.

    Nhận biết được cấp bậc quân hàm, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu của Quân đội, Công an.

    Xây dựng ý thức trách nhiệm và tích cực góp phần xây dựng Quân đội, Công an vững mạnh

    I. QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN ViỆT NAM:

    1/Tổ chức và hệ thống tổ chức của Q. Đ. N. D. Việt Nam:

    Tổ chức của Quân đội:

    Gồm:

    – Bộ đội chủ lực.

    – Bộ đội địa phương.

    – Bộ đội biên phòng.

    *Lực lượng thường trực và lực lượng dự bị.

    b. Hệ thống tổ chức:

    Gồm:

    – Bộ Quốc phòng.

    – Các cơ quan Bộ Quốc phòng.

    – Các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.

    – Các bộ, ban chỉ huy quân sự.

    I. QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN ViỆT NAM:

    1/Tổ chức và hệ thống tổ chức của Q. Đ. N. D. Việt Nam:

    Tổ chức của Quân đội:

    Gồm:

    – Bộ đội chủ lực.

    – Bộ đội địa phương.

    – Bộ đội biên phòng.

    *Lực lượng thường trực và lực lượng dự bị.

    b. Hệ thống tổ chức:

    Gồm:

    – Bộ Quốc phòng.

    – Các cơ quan Bộ Quốc phòng.

    – Các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.

    – Các bộ, ban chỉ huy quân sự.

    2. Chức năng, nhiệm vụ chính của một số cơ quan, đơn vị trong Quân đội nhân dân Việt Nam

    a. Bộ Quốc phòng:

    – Là đơn vị thuộc Chính phủ do Bộ trưởng Bộ quốc phòng đứng đầu.

    – Chức năng: quản lý, chỉ đạo, chỉ huy.

    b. Bộ Tổng Tham mưu và cơ quan tham mưu:

    Bộ Tổng Tham mưu: Tổng Tham mưu trưởng: Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên (từ tháng 8 năm 2006)

    Là cơ quan chỉ huy lực lượng vũ trang quốc gia.

    – Chức năng:

    + Bảo đảm trình độ sẵn sàng chiến đấu.

    + Điều hành các hoạt động quân sự.

    – Nhiệm vụ:

    + Tổ chức nắm chắc tình hình.

    + Nghiên cứu, đề xuất những chủ trương chung.

    + Tổ chức lực lượng, chỉ huy quân đội và dân quân tự vệ.

    + Điều hành các hoạt động quân sự.

    c. Tổng cục Chính trị và cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam:

    * Tổng cục Chính trị: Chủ nhiệm Tổng cục: Đại tướng Lê Văn Dũng

    Chức năng:

    Đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân.

    – Nhiệm vụ:

    + Đề nghị ĐUQSTƯ quyết định chủ trương, biện pháp lớn về công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội.

    + Đề ra những nội dung, biện pháp, kế hoạch chỉ đạo, kiểm tra cấp dưới thực hiện.

    * Cơ quan chính trị các cấp:

    – Nhiệm vụ:

    + Nghiên cứu, đề xuất những chủ trương, biện pháp công tác Đảng, công tác chính trị.

    + Hướng dẫn và tổ chức cho các cơ quan, đơn vị thực hiện.

    d. Tổng cục Hậu cần và cơ quan hậu cần các cấp:

    Chủ nhiệm Tổng cục: Thiếu tướng Ngô Huy Hồng

    – Chức năng:

    + Đảm bảo vật chất, quân y, vận tải.

    – Nhiệm vụ:

    + Nghiên cứu, đề xuất.

    + Chỉ đạo công tác đảm bảo hậu cần.

    e. Tổng cục Kỹ thuật và cơ quan kỹ thuật các cấp:

    Chủ nhiệm Tổng cục:Thiếu tướng Nguyễn Châu Thanh

    – Chức năng:

    + Bảo đảm vũ khí, trang bị, kỹ thuật, phương tiện.

    – Nhiệm vụ:

    + Nghiên cứu đề xuất.

    + Bảo đảm kỹ thuật.

    g. Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, cơ quan, đơn vị sản xuất quốc phòng:

    Chủ nhiệm Tổng cục: Trung tướng Trương Quang Khá

    – Chức năng:

    + Quản lý các cơ sở sản xuất quốc phòng.

    – Nhiệm vụ:

    + Nghiên cứu, đề xuất.

    + Chỉ đạo các đơn vị sản xuất.

    – Quân khu: Tổ chức quân sự theo lãnh thổ.

    – Chức năng, nhiệm vụ:

    + Chỉ đạo công tác quốc phòng;

    + Xây dựng tiềm lực quân sự;

    + Chỉ đạo lực lượng vũ trang.

    h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

    h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

    – Quân đoàn:

    Đơn vị tác chiến chiến dịch hoặc chiến dịch – chiến thuật. Là lực lượng thường trực của quân đội.

    h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

    – Quân chủng:

    Bộ phận quân đội hoạt động ở môi trường địa lý nhất định như: (trên không, trên bộ, trên biển)

    h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

    – Binh chủng:

    là một bộ phận của quân chủng, làm chức năng trực tiếp chiến đấu, hoặc bảo đảm chiến đấu có vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương pháp tác chiến và hoạt động đặc thù. Mỗi quân chủng có một số binh chủng đặc thù. Theo truyền thống, một số bộ đội chuyên môn cũng được gọi là binh chủng (BC công binh, BC thông tin liên lạc, v v.).

    Bộ đội Biên phòng:

    – Là bộ phận của Quân đội.

    – Chức năng: làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia.

    Chỉ huy hiện tại bộ đội biên phòng

    Tư lệnh: Thiếu tướng Trần Hoa.

    Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Trần Đình Dũng.

    Phó Tư lệnh: Thiếu tướng Phạm Sóng Hồng

    Phó Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Cảnh Hiền

    Phó Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi

    3. Quân hiệu, cấp hiệu và phù hiệu của Quân đội.

    II. CÔNG AN NHÂN DÂN:

    1. Tổ chức và hệ thống tổ chức của Công an nhân dân Việt Nam:

    a. Tổ chức của công an:

    Gồm:

    – Lực lượng an ninh.

    – Lực lượng cảnh sát.

    b. Hệ thống tổ chức:

    – Bộ Công an.

    – Các cơ quan Bộ Công an.

    – Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    – Công an huyện, quận, thị xã, thành phố, trực thuộc tỉnh.

    – Công an xã, phường, thị trấn.

    – Các học viện, nhà trường đào tạo cán bộ sĩ quan công an và hạ sĩ quan chuyên nghiệp công an.

    2. Chức năng, nhiệm vụ chính của một số cơ quan, đơn vị trong Công an:

    Bộ Công an: Bộ trưởng Đại tướng Lê Hồng Anh

    Là cơ quan lãnh đạo, chỉ huy cao nhất.

    – Nhiệm vụ:

    + Quản lý Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,

    + Xây dựng nền an ninh nhân dân và các lực lượng công an.

    b. Tổng cục An ninh: Tổng cục trưởng: Thiếu tướng Phạm Dũng

    – Là lực lượng nòng cốt của Công an.

    – Nhiệm vụ:

    + Nắm chắc tình hình.

    + Đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    + Làm thất bại mọi âm mưu, hành động xâm phạm an ninh quốc gia.

    + Bảo vệ an ninh quốc gia.

    c. Tổng cục Cảnh sát: Tổng cục trưởng Thiếu tướng Phạm Quý Ngọ

    – Là lực lượng nòng cốt.

    – Nhiệm vụ:

    + Chủ động đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    + Làm thất bại mọi âm mưu hành động gây mất trật tự, an toàn xã hội.

    + Bảo vệ trật tự an toàn xã hội.

    d. Tổng cục Xây dựng lực lượng:

    Tổng cục trưởng Trung tướng Lê Quý Vương

    – Là cơ quan chuyên trách đảm nhiệm công tác xây dựng hệ thống tổ chức, cán bộ, các lực lượng nghiệp vụ trong Bộ Công an.

    e. Tổng cục Hậu cần:Tổng cục trưởng: Trung tướng Lê Quốc Sự

    – Là cơ quan tham mưu, bảo đảm về mặt hậu cần, cơ sở vật chất và khai thác sử dụng vật tư, trang bị cho các lực lượng của Bộ Công an.

    g. Tổng cục Tình báo:Tổng cục trưởng: Trung tướng Bùi Văn Nam

    – Là lực lượng đặc biệt, nhằm ngăn chặn và đập tan những âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh quốc gia.

    h. Tổng cục Kỹ thuật: Quyền Tổng cục trưởng: Trung tướng Cao Ngọc Oánh

    – Là cơ quan đảm bảo trang bị phương tiện kỹ thuật cho các hoạt động, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào nghiệp vụ công an.

    i. Bộ Tư lệnh cảnh vệ: Tư lệnh: Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh

    – Là lực lượng bảo vệ cán bộ cao cấp, cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và các đoàn khách quốc tế, các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế, chuyên gia nước ngoài đến công tác tại Việt Nam.

    Ngoài ra, còn có các đơn vị như:

    – Văn phòng.

    – Thanh tra.

    – Cục Quản lý trại giam.

    – Vụ Tài chính.

    – Vụ pháp chế.

    – Vụ hợp tác Quốc tế.

    – Công an xã.

    3. Cấp hiệu, phù hiệu, quân hiệu của Công an nhân dân Việt Nam:

    a. Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ:

    – Hạ sĩ quan có ba bậc.

    – Sĩ quan cấp uý có bốn bậc.

    – Sĩ quan cấp tá có bốn bậc.

    – Sĩ quan cấp tướng có bốn bậc.

    b. Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật

    – Hạ sĩ quan có ba bậc.

    – Sĩ quan cấp uý có bốn bậc.

    – Sĩ quan cấp tá có ba bậc.

    c. Hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn

    – Chiến sĩ có hai bậc.

    – Hạ sĩ quan có ba bậc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Tổ Chức Của Công Ty Bibica
  • Tổ Chức Hoạt Động Của Quân Chủng Phòng Không
  • Qđnd Việt Nam Có Các Quân Chủng Nào?
  • Tổ Chức, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Công Đoàn Việt Nam
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Của Công Đoàn Việt Nam
  • Phần Thứ Năm: Tổ Chức Đoàn Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Công An Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Chiến Lược Và Khoa Học Thanh Tra
  • Công Tác Kiểm Tra Công Đoàn Và Ủy Ban Kiểm Tra Công Đoàn Các Cấp (Theo Qui Định Điều Lệ Công Đoàn Việt Nam Khoá Xi Và Hướng Dẫn Số 238/hd
  • Học Nhanh Các Cách Làm Tan Cục Máu Đông Giúp Cứu Sống Bạn Và Người Thân!
  • Điều Hòa Panasonic Nào Có Chức Năng Lọc Không Khí Giá Tốt Nhất?
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Remote Máy Lạnh Panasonic Chuẩn Nhất
  • Trang chủHướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn

    Phần thứ năm: Tổ chức Đoàn trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và Công an Nhân dân Việt Nam 

    PHẦN THỨ NĂM

    TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

    VÀ CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

    A- TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

    I – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

    1- Tổ chức Đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Tổ chức và hoạt động của Đoàn trong Quân đội thực hiện theo Điều lệ Đoàn, nghị quyết của Đại hội Đoàn toàn quốc, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, nghị quyết của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, quy định của Bộ Quốc phòng, chỉ thị của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và sự hướng dẫn của Ban công tác Thanh niên Quân đội. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong Quân đội chỉ tổ chức ở đơn vị cơ sở: cấp trung đoàn, lữ đoàn và tương đương trở xuống đến các đại đội và tương đương.

    2- Nhiệm vụ của tổ chức Đoàn trong Quân đội:

    – Tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện đoàn viên thanh niên có đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành chức trách quân nhân. Thường xuyên bổ sung lực lượng nòng cốt cho phong trào cách mạng của địa phương.

    – Tổ chức các hoạt động của thanh niên phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị của đơn vị, của quân đội, tích cực tham gia xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh toàn diện xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng.

    3- Công tác thanh niên trong Quân đội do Đảng uỷ Quân sự Trung ương lãnh đạo, ở mỗi cấp do cấp uỷ trực tiếp lãnh đạo.

    – Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp quản lý, chỉ đạo mọi mặt đối với công tác thanh niên và tổ chức Đoàn trong toàn quân.

    – Cơ quan chính trị các cấp trực tiếp quản lý, chỉ đạo mọi mặt với công tác thanh niên và tổ chức Đoàn trong các đơn vị thuộc quyền.

    – Cấp uỷ Đảng, chính uỷ, chính trị viên, cơ quan chính trị ở đơn vị cơ sở trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý mọi mặt đối với tổ chức Đoàn cơ sở theo sự chỉ đạo của cơ quan chính trị và hướng dẫn của Ban công tác thanh niên cấp trên.

    – Cán bộ chỉ huy và cơ quan các cấp có trách nhiệm phát huy vai trò của tổ chức Đoàn.

    4- Để giúp cấp uỷ Đảng, chính uỷ, chính trị viên cơ quan chính trị lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác thanh niên, từ cấp trên trực tiếp cơ sở đến toàn quân có trợ lý thanh niên và Ban Công tác thanh niên do Chủ nhiệm chính trị cùng cấp trực tiếp chỉ đạo.

    Ban công tác thanh niên có hai chức năng chủ yếu: Nghiên cứu, đề xuất chủ trương, biện pháp tiến hành công tác vận động thanh niên và chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của tổ chức Đoàn ở cơ sở.

    5- Tổ chức Đoàn thuộc Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan quân sự địa phương, bộ đội địa phương được tổ chức và hoạt động theo cơ chế tổ chức Đoàn trong Quân đội; chịu sự quản lý về đoàn số, đoàn phí và hướng dẫn công tác của tổ chức Đoàn địa phương, có quyền bầu cử, ứng cử vào các cấp bộ Đoàn địa phương. Cán bộ phụ trách công tác thanh niên của phòng chính trị được giới thiệu tham gia vào Ban Chấp hành tỉnh, thành Đoàn.

    6 – Đại hội Đoàn cấp trên cơ sở do cơ quan chính trị triệu tập và tổ chức theo quy định của Điều lệ và hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn và Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

    II- TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

    1- Về tổ chức:

    a, Tổ chức cơ sở Đoàn do Đảng uỷ cơ sở hoặc cơ quan chính trị cấp trên quyết định thành lập theo điều lệ Đoàn và phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị và quân đội.

    – Tổ chức Đoàn cơ sở trong bộ đội chủ lực được thành lập ở các đơn vị:

    + Trung đoàn, lữ đoàn; hải đoàn, hải đội, tiểu đoàn và tương đương trực thuộc sư đoàn, vùng hải quân.

    + Ở các hệ, tiểu đoàn quản lý học viên và đơn vị tương đương; các phòng, khoa thuộc các học viện, trường sĩ quan, trường quân sự quân khu, quân đoàn, bệnh việc trực thuộc Bộ; trường hạ sĩ quan, trường trung cấp và dạy nghề; bệnh viện thuộc quân khu, quân chủng, tổng cục; cấp cục, phòng thuộc Bộ Tổng tham mưu – cơ quan Bộ Quốc phòng, các tổng cục, quân khu, quân chủng, bộ đội biên phòng, quân đoàn, binh chủng, binh đoàn; cấp phòng thuộc sư đoàn, vùng hải quan và tương đương.

    – Tổ chức Đoàn cơ sở cơ quan quân sự, đơn vị bộ đội địa phương; cơ quan, đơn vị bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thành lập ở các đơn vị:

    + Cấp phòng thuộc bộ chỉ huy quân sự, bộ chỉ huy biên phòng tỉnh, thành phố.

    + Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

    + Tiểu khu, đồn biên phòng cửa khẩu, cảng; tiểu đoàn, đại đội và đơn vị tương đương thuộc bộ chỉ huy biên phòng tỉnh, thành phố.

    – Tổ chức Đoàn cơ sở ở các doanh nghiệp được thành lập ở công ty, nhà máy, xí nghiệp và tương đương.

    b, Hình thức tổ chức:

    Tổ chức cơ sở Đoàn trong quân đội nhân dân Việt Nam có Đoàn cơ sở 3 cấp, Đoàn cơ sở 2 cấp, Đoàn cơ sở 1 cấp ( Chi đoàn cơ sở ).

    – Đoàn cơ sở 3 cấp ở trung đoàn, lữ đoàn và tương đương có liên chi đoàn ở tiểu đoàn, chi đoàn ở đại đội và tương đương.

    – Đoàn cơ sở cấp 2 ở tiểu đoàn và tương đương có các chi Đoàn ở đại đội và tương đương. Đoàn cơ sở cấp 1 (chi đoàn đại đội độc lập hoặc chi đoàn trực thuộc cơ quan cấp phòng, cục và tương đương).

    – Phân đoàn được tổ chức ở phân đội hoặc tiểu đội, khẩu hiệu và tương đương do Ban Chấp hành Đoàn cơ sở quyết định.

    c, Về Ban Chấp hành Đoàn các cấp:

    – Việc bầu Ban Chấp hành Đoàn các cấp tiến hành theo Điều lệ Đoàn và hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn.

    – Trong điều kiện không tổ chức đại hội được thì cấp uỷ Đảng cơ sở nơi không có đảng uỷ cơ sở, do cơ quan chính trị cấp trên trực tiếp chỉ định Ban Chấp hành Đoàn cơ sở, Ban Chấp hành Đoàn cấp trên chỉ định Ban Chấp hành Đoàn cấp dưới. Trường hợp cần bổ sung thì tiến hành bầu bổ sung hoặc chỉ định Ban Chấp hành như quy định trên.

    – Bầu Bí thư trực tiếp tại đại hội chỉ thực hiện ở cấp chi đoàn.

    – Ban Chấp hành Đoàn ở trung Đoàn, lữ đoàn và tương đương có 9 đến 15 uỷ viên. Ban Thường vụ có 3 đến 5 uỷ viên, nhiệm kỳ 5 năm 1 lần.

    – Ban Chấp hành Đoàn ở tiểu đoàn và tương đương, liên chi đoàn có 5 đến 9 uỷ viên, nhiệm kỳ 5 năm 2 lần.

    – Ban Chấp hành chi đoàn có 3 đến 7 uỷ viên, nhiệm kỳ là 1 năm.

    2- Nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức Đoàn cơ sở.

    a, Nhiệm vụ:

    – Giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng XHCN, lòng yêu nước và truyền thống cách mạng, truyền thống quân đội, ý thức công dân, trách nhiệm quân dân, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh cho đoàn viên thanh niên.

    – Tổ chức hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

    – Chủ động, tích cực tham gia có hiệu qủ vào các hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá ở đơn vị, góp phần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và giải quyết những nguyện vọng, quyền lợi chính đáng hợp pháp của thanh niên.

    – Quan hệ với tổ chức Đoàn địa phương nơi đóng quan, tổ chức các hoạt động phối hợp giữa thanh niên trong và ngoài quân đội góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của đơn vị và địa phương, tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh ở địa phương nơi đóng quan và chăm sóc, giáo dục bảo vệ thiếu niên và nhi đồng.

    – Đoàn kết, tập hợp thanh niên, xây dựng Đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng tổ chức và tích cực tham gia xây dựng Đảng.

    b, Quyền hạn:

    – Đại diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của cán bộ, đoàn viên thanh niên trước pháp luật, điều lệnh quân đội công luận.

    – Tổ chức các hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, các hoạt động văn hoá, xã hội tạo nguồn kinh phí cho Đoàn hoạt động theo quy định của Tổng cục Chính trị

    c, Quyền hạn giải quyết công việc nội bộ Đoàn:

    – Ban Chấp hành Đoàn cơ sở ở trung đoàn và tương đương có quyền:

    + Chuẩn y kết nạp Đoàn viên.

    + Công nhận Ban Chấp hành liên chi đoàn trực thuộc.

    + Quyết định biểu dương, cấp giấy khen của Đoàn, đề nghị cấp trên khen thưởng cán bộ, đoàn viên và tổ chức Đoàn.

    + Yêu cầu chi Đoàn xét và quyết định xoá tên trong danh sách đoàn viên đối với những đoàn viên không tham gia sinh hoạt Đoàn hoặc không đóng đoàn phí 3 tháng trong 1 năm mà không có lý do chính đáng.

    + Quyết định thi hành kỷ luật đến hình thức khai trừ đối với đoàn viên và cách chức uỷ viên Ban Chấp hành liên chi đoàn; khiển trách cảnh cáo đối với uỷ viên Ban Chấp hành Đoàn cơ sở. Các hình thức kỷ luật cao hơn do Ban Chấp hành Đoàn cơ sở xét và đề nghị, cấp uỷ Đảng cơ sở chuẩn y.

    – Ban Chấp hành liên chi đoàn ở tiểu đoàn và đơn vị tương đương có quyền:

    + Hướng dẫn, kiểm tra các chi đoàn làm công tác phát triển Đoàn; xét duyệt và đề nghị lên đoàn cấp trên chuẩn y đề nghị của chi đoàn và kết nạp đoàn viên, giới thiệu đoàn viên ưu tú với chi bộ.

    + Công nhận Ban Chấp hành chi đoàn, chỉ định bổ sung uỷ viên Ban Chấp hành chi đoàn.

    + Biểu dương và đề nghị cấp trên khen thưởng cán bộ, đoàn viên, tổ chức Đoàn.

    + Quyết định thi hành kỷ luật với hình thức khiển trách, cảnh cáo đoàn viên và khiển trách đối với uỷ viên Ban Chấp hành chi đoàn.

    – Ban Chấp hành chi đoàn có quyền:

    + Xét và đề nghị kết nạp đoàn viên.

    + Đề nghị chi đoàn xem xét quyết định xoá tên trong danh sách đoàn viên đối với đoàn viên không tham gia sinh hoạt Đoàn hoặc không đóng đoàn phí 3 tháng trong 1 năm mà không có lý do chính đáng.

    + Quyết định thi hành kỷ luật khiển trách đối với đoàn viên.

    + Xét và đề nghị cấp trên thi hành kỷ luật đối với cán bộ, đoàn viên từ cảnh cáo trở lên.

    + Nhận xét đoàn viên có đủ tiêu chuẩn vào Đảng, giới thiệu với chi bộ và đề nghị Ban Chấp hành Đoàn cấp trên ra nghị quyết giới thiệu đoàn viên ưu tú vào Đảng, nếu là chi đoàn cơ sở thì được quyền giới thiệu đoàn viên vào Đảng thay cho một đảng viên chính thức.

    – Ban Chấp hành Đoàn cơ sở ở tiểu đoàn và tương đương được quyền như Ban Chấp hành Đoàn cơ sở ở trung đoàn, nhưng không có quyền cấp giấy khen cho cán bộ, đoàn viên.

    – Ban Chấp hành Đoàn cơ sở cấp 1 có quyền hạn như chi đoàn thuộc đoàn cơ sở cấp 2, 3. Các quyền hạn cao hơn do cấp uỷ Đảng cơ sở quyết định.

    III- MỐI LIÊN HỆ VÀ PHỐI HỢP HOẠT ĐỘNG GIỮA TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỚI TỔ CHỨC ĐOÀN ĐỊA PHƯƠNG NƠI ĐÓNG QUÂN

    1- Tổ chức Đoàn trong quân đội liên hệ chặt chẽ và phối hợp hoạt động với tổ chức Đoàn địa phương nơi đóng quân theo các nội dung:

    – Giáo dục và chuẩn bị tốt về mọi mặt cho thanh niên làm nghĩa vụ quân sự, nâng cao ý thức trách nhiệm của thanh niên đối với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh, tham gia chính sách hậu phương quân đội; giáo dục truyền thống cách mạng và tuyên truyền vận động đoàn viên thanh niên địa phương thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Phát huy trách nhiệm của các đoàn thể, gia đình, nhà trường góp phần giáo dục, động viên thanh niên làm tốt nghĩa vụ quân sự trong thời gian tại ngũ.

    – Giúp đỡ nhân dân và thanh niên địa phương đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, xây dựng địa phương vững mạnh về mọi mặt.

    – Phối hợp và tham gia các phong trào của Đoàn ở địa phương, động viên, cổ vũ, giúp đỡ và học tập lẫn nhau để xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn, xã hội, bài trừ các tệ nạn xã hội, những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, đấu tranh với các phần tử xấu, phản động.

    – Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng.

    2- Tổ chức Đoàn trong quân đội được giới thiệu người tham gia Ban Chấp hành Đoàn ở địa phương.

    – Các đơn vị bộ đội địa phương; Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ban chỉ huy quân sự quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thể cử cán bộ làm công tác thanh niên tham gia cấp bộ Đoàn ở địa phương.

    – Căn cứ điều kiện, hoàn cảnh, tính chất, nhiệm vụ cụ thể của đơn vị, cán bộ làm công tác thanh niên cấp quân khu, quân đoàn, quân chủng, sư đoàn có thể tham gia vào Ban Chấp hành tỉnh, thành Đoàn nơi đóng quân. Ban Thường vụ tỉnh, thành đoàn có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chính trị các đơn vị để làm công tác nhân sự.

    – Cán bộ làm công tác thanh niên từ cấp trung đoàn trở xuống đến đoàn cơ sở có thể tham gia vào Ban Chấp hành Đoàn cấp huyện nơi đóng quân. Ban Thường vụ Đoàn cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chính trị các đơn vị để làm công tác nhân sự.

    Việc giới thiệu người tham gia Ban Chấp hành Đoàn địa phương phải được Đảng uỷ, cơ quan chính trị đơn vị đồng ý.

     

    B- TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

    I- NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN

    1- Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong Công an nhân dân là một bộ phận của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn và Đảng uỷ Công an Trung ương.

    2- Công tác thanh niên trong Công an nhân dân ở mỗi cấp do cấp uỷ Đảng cấp đó trực tiếp lãnh đạo.

    – Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân giúp Đảng uỷ Công an Trung ương quản lý chỉ đạo công tác thanh niên ở các Tổng cục, Bộ tư lệnh cảnh vệ, V26 và các đơn vị trực thuộc Bộ Công an. Chỉ đạo công tác thanh niên ở Công an các tỉnh, thành phố cho phù hợp với tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của công tác Công an.

    – Thủ trưởng cơ quan Xây dựng lực lượng ( Chánh Văn phòng, Cục trưởng cục Chính trị) các Tổng cục; thủ trưởng phụ trách công tác xây dựng lực lượng Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, V26, giúp cấp uỷ cùng cấp quản lý, chỉ đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong các đơn vị thuộc quyền.

    – Thủ trưởng phụ trách công tác xây dựng lực lượng (đồng chí trong Ban Giám đốc) Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giúp Đảng uỷ cùng cấp quản lý, chỉ đạo công tác thanh niên các đơn vị thuộc Công an tỉnh, thành phố; đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh niên ở Công an các quận, huyện và tương đương.

    – Ở đơn vị cơ sở, cấp uỷ Đảng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh niên.

    3- Để giúp cấp uỷ Đảng và thủ trưởng cơ quan Xây dựng lực lượng các cấp trong Công an nhân dân lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh niên từ cấp trên cơ sở lập Ban công tác thanh niên. Ban công tác thanh niên là cơ quan thường trực của một cấp bộ Đoàn và là cơ quan trực tiếp quản lý về công tác thanh niên ở cấp đó.

    4- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được tổ chức và hoạt động theo mô hình tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong Công an nhân dân; chịu sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của tỉnh, thành Đoàn và chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo của ban thanh niên Công an.

    5- Sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh niên trong Công an nhân dân.

    – Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ Công an chịu sự lãnh đạo của Đảng uỷ Công an Trung ương, của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và trực tiếp là Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân.

    – Đoàn các Tổng cục, Bộ Tư lệnh cảnh vệ, V26 chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ Tổng cục, Bộ Tư lệnh cảnh vệ, V26, sự chỉ đạo của Thủ trưởng cơ quan xây dựng lực lượng các tổng cục, Thủ trưởng phụ trách công tác xây dựng lực lượng Bộ Tư lệnh cảnh vệ, V26; sự chỉ đạo của Ban thanh niên Công an.

    – Đoàn Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu sự lãnh đạo của Đảng uỷ Công an tỉnh, thành phố và Ban Chấp hành tỉnh, thành Đoàn; sự quản lý, chỉ đạo của Thủ trưởng phụ trách cơ quan xây dựng lực lượng công an tỉnh, thành phố và sự hướng dẫn, chỉ đạo của Ban thanh niên Công an.

    – Đoàn Công an quận huyện và tương đương chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ Công an quận, huyện và tương đương và Ban Chấp hành quận, huyện Đoàn; sự hướng dẫn, chỉ đạo của Ban thanh niên Công an tỉnh, thành phố.

    – Chi đoàn Công an phường chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Chấp hành Đoàn phường và của cấp uỷ Công an phường; sự hướng dẫn, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đoàn thanh niên Công an quận và tương đương. Chi đoàn Công an thuộc các đồn, trạm chịu sự quản lý, chỉ đạo của Đảng ủy cùng cấp và tổ chức Đoàn cấp trên trực tiếp.

    II- TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐOÀN TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN

    1- Tổ chức cơ sở Đoàn trong Công an nhân dân được thành lập ở các vụ, cục, viện, trường, trại, bệnh viện, công ty, xí nghiệp, các đơn vị trực thuộc các tổng cục, Bộ Tư lệnh cảnh vệ, V26, các phòng, ban thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; công an quận, huyện và tương đương.

    Tổ chức cơ sở đoàn trong Công an nhân dân bao gồm Đoàn cơ sở và chi Đoàn cơ sở (Đoàn thanh niên Cục C22, Tổng cục II là tổ chức Đoàn cấp trên cơ sở).

    – Đoàn cơ sở gồm:

    + Đoàn cơ sở 3 cấp: Đoàn cơ sở – liên chi đoàn – chi đoàn.

    + Đoàn cơ sở 2 cấp: Đoàn cơ sở – chi đoàn.

    – Chi đoàn cơ sở: là các chi đoàn do Ban thanh niên các cấp trong Công an nhân dân (và Đoàn C22, Tổng cục II )trực tiếp quản lý, chỉ đạo.

    – Ban cán sự Đoàn trong Công an nhân dân là một cấp bộ Đoàn không hoàn chỉnh do Ban thanh niên các cấp trong Công an nhân dân trực tiếp quản lý, chỉ đạo.

    2- Việc thành lập, giải thể tổ chức cơ sở Đoàn:

    a- Điều kiện thành lập tổ chức cơ sở:

    – Đơn vị có ít nhất 3 đoàn viên trở lên được thành lập chi đoàn. Nếu chưa đủ 3 đoàn viên thì được giới thiệu sinh hoạt ở một tổ chức cơ sở thích hợp.

    – Đoàn cơ sở là cấp trên trực tiếp của chi đoàn. Đơn vị có từ 2 cơ sở trực thuộc trở lên (đủ điều kiện thành lập chi đoàn) và có ít nhất 30 đoàn viên có thể thành lập Đoàn cơ sở.

    – Chi Đoàn do Ban thanh niên các cấp trong Công an nhân dân (và Đoàn C22, Tổng cục II ) trực tiếp quản lý chỉ đạo đều là chi đoàn cơ sở, có chức năng nhiệm vụ, quyền hạn tương đương Đoàn cơ sở.

    – Ban cán sự Đoàn trong Công an nhân dân thực hiện theo quy định tại mục III, phần thứ tư, Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn và những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do cấp có thẩm quyền ra quyết định thành lập, giải thể quy định.

    – Những đơn vị cơ sở có đông đoàn viên, trong đó các bộ phận trực thuộc có tổ chức Đảng và chuyên môn tương ứng như: Tiểu đoàn (thuộc trung đoàn), khoa, hệ đào tạo, khoá học (trong các học viện, trường công an nhân dân) phòng nghiệp vụ chuyên môn (thuộc các vụ, cục, bộ tư lệnh) và các đội, bộ phận công tác (thuộc các phòng, ban ở Công an các tỉnh, thành phố)… có thể thành lập liên chi đoàn.

    – Trường hợp các đơn vị cơ sở có quá ít đoàn viên, có thể thành lập chi Đoàn ghép bao gồm đoàn viên của một số đơn vị có tính chất công việc và điều kiện sinh hoạt giống nhau.

    b- Thẩm quyền thành lập, giải thể tổ chức cơ sở Đoàn:

    – Việc thành lập, giải thể tổ chức cơ sở Đoàn do cấp uỷ Đảng trực tiếp quyết định. Đối với cơ sở Đoàn Công an huyện (tương đương) do Ban thường vụ huyện Đoàn (tương đương) ra quyết định sau khi có ý kiến thống nhất của cấp uỷ Đảng củng cấp. Đối với liên chi đoàn, chi đoàn do Ban Chấp hành Đoàn cơ sở cấp trên trực tiếp quyết định thành lập.

    – Việc thành lập chi đoàn ghép gồm đoàn viên của nhiều đơn vị cơ sở do trưởng ban thanh niên đề nghị cấp uỷ Đảng cùng cấp ra quyết định thành lập và giao cho một cấp uỷ cơ sở trực tiếp lãnh đạo. Việc giải thể do trưởng ban thanh niên đề nghị cấp uỷ Đảng cùng cấp ra quyết định.

    III- BAN CÔNG TÁC THANH NIÊN

    1- Hệ thống Ban công tác thanh niên các cấp trong Công an nhân dân:

    – Ở Bộ Công an có Ban công tác thanh niên Công an (gọi tắt là Ban thanh niên Công an).

    – Ở các Tổng cục, Bộ Tư lệnh cảnh vệ, V26, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Ban công tác thanh niên gọi tắt là Ban thanh niên Tổng cục, Bộ Tư lệnh cảnh vệ, V26, Công an tỉnh, thành phố…).

    2- Thành lập, giải thể Ban thanh niên và bố trí cán bộ Ban thanh niên:

    – Việc thành lập, giải thể Ban thanh niên Công an và bổ nhiệm cán bộ thanh niên ở Bộ do Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân quyết định trên cơ sở ý kiến thống nhất của Ban thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương và Ban Bí thư Trung ương Đoàn (Thủ tục bổ nhiệm Trưởng Ban và Phó trưởng Ban Thanh niên Công an thực hiện theo quy định của Bộ Công an).

    – Việc thành lập, giải thể Ban thanh niên và bổ nhiệm cán bộ Ban thanh niên các Tổng cục, Bộ Tư lệnh cảnh vệ, V26 do do Đảng uỷ Tổng cục, Bộ tư lệnh cảnh vệ, V26 quyết định sau khi thống nhất với thủ trưởng chuyên môn và Ban thanh niên Công an.

    – Việc thành lập, giải thể Ban thanh niên và bổ nhiệm cán bộ Ban thanh niên Công an các tỉnh, thành phố quyết định sau khi thống nhất với thủ trưởng chuyên môn và Ban Thường vụ tỉnh, thành Đoàn.

    – Trưởng Ban thanh niên chịu trách nhiệm trước cấp uỷ Đảng và thủ trưởng cơ quan Xây dựng lực lượng cấp mình về thực hiện chức năng nhiệm vụ của Ban thanh niên về kết quả công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong các đơn vị thuộc quyền. Việc phân công nhiệm vụ từng cán Bộ trong Ban thanh niên ở mỗi cấp do trưởng Ban thanh niên cấp đó quyết định.

    3- Chức năng:

    – Nghiên cứu đề xuất với cấp uỷ Đảng và cơ quan chính trị (Xây dựng lực lượng) các chủ trương, nội dung, biện pháp, cơ chế, điều kiện tiến hành công tác thanh niên.

    – Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nội dung về công tác thanh niên.

    IV- ĐẠI HỘI ĐOÀN CẤP TRÊN CƠ SỞ

    – Đại hội đại biểu Đoàn thanh niên Bộ Công an, đại hội Đoàn thanh niên các Tổng cục, Bộ Tư lệnh cảnh vệ, V26, Đoàn C22- Tổng cục II và Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành 5 năm 1 lần. Đại hội có nhiệm vụ: Kiểm điểm đánh giá kết quả công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong nhiệm kỳ; quyết định mục tiêu, phương hướng và chương trình hành động trong nhiệm kỳ tiếp theo; thoả thuận góp ý kiến báo cáo đại hội của Đoàn cấp trên và bầu đại biểu đi dự đại hội Đoàn cấp trên.

    – Đại hội Đoàn thanh niên ở cấp trên cơ sở do Ban thanh niên cấp đó tổ chức trên cơ sở phê duyệt của Đảng uỷ, Thủ trưởng cơ quan Xây dựng lực lượng cùng cấp và tổ chức Đoàn cấp trên về số lượng đại biểu, nội dung chương trình, thời gian và địa điểm đại hội.

    – Thành phần đại biểu gồm: Uỷ viên Ban thanh niên cấp triệu tập đại hội, đại biểu do đại hội đoàn các đơn vị trực thuộc bầu và đại biểu chỉ định không quá 5% so với tổng số đại biểu được triệu tập.

    V- MỐI LIÊN HỆ VÀ PHỐI HỢP HOẠT ĐỘNG GIỮA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN VỚI TỔ CHỨC ĐOÀN ĐỊA PHƯƠNG NƠI ĐÓNG QUÂN

    1- Tổ chức Đoàn trong Công an nhân dân liên hệ và phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn địa phương nhằm góp phần giáo dục thanh, thiếu nhi nâng cao ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng khối đoàn kết quân dân, góp phần giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xây dựng địa phương, đơn vị, xây dựng tổ chức đoàn, Đội vững mạnh.

    2- Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong Công an nhân dân giới thiệu người tham gia Ban Chấp hành Đoàn các cấp.

    – Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân giới thiệu người tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.

    – Đảng uỷ Công an các tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương giới thiệu người tham gia Ban Chấp hành tỉnh, thành Đoàn.

    – Ban Chấp hành Đoàn Công an quận, huyện và tương đương giới thiệu người tham gia Ban Chấp hành quận, huyện Đoàn và tương đương; Ban Chấp hành chi Đoàn Công an phường giới thiệu người tham gia Ban Chấp hành Đoàn phường. Việc giới thiệu người tham gia Ban Chấp hành Đoàn quận, huyện, phường phải được sự đồng ý của cấp uỷ Đảng Công an cùng cấp.

    [Trở về]

    Các tin đã đăng

    • Phần thứ sáu: Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn và Ủy ban Kiểm tra các cấp
    • Phần thứ bảy: Đoàn với các tổ chức hội của thanh niên
    • Phần thứ tám: Đoàn phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
    • Phần thứ chín: Khen thưởng của Đoàn
    • Phần thứ mười: Kỷ luật của Đoàn
    • Phần thứ mười một: Nguyên tắc thu nộp đoàn phí của Đoàn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Đích Lý Tưởng Và Tính Chất Đoàn Tncs Hồ Chí Minh
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Liên Đoàn Lao Động Tỉnh, Thành Phố Trực Thuộc Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam
  • Vai Trò Đảng Đoàn Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Trong Hoạt Động Của Hđnd Tỉnh Nhiệm Kỳ 2022
  • Hệ Thống Tiếp Nhận, Trả Lời Kiến Nghị Của Người Dân
  • Công Tác Tổ Chức Của Công Đoàn Cơ Sở
  • Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Thực Hiện Tốt Chức Năng Đội Quân Công Tác Trong Phòng, Chống Dịch Covid

    --- Bài mới hơn ---

  • Quân Đội Thực Hiện Tốt Ba Chức Năng Trong Thời Bình
  • Tổng Bí Thư Nêu 5 Nhiệm Vụ Quan Trọng Của Quân Đội
  • Bổ Sung Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Tư Pháp
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Phòng Tư Pháp Huyện
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Tư Pháp Thành Phố Hưng Yên
  • Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang quyết liệt, nỗ lực chung tay phòng, chống dịch Covid-19. Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, cán bộ, chiến sĩ QĐND đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, nguy cơ lây nhiễm, là một trong những lực lượng nòng cốt, xung kích trên tuyến đầu, cùng các cấp, các ngành tích cực phòng, chống dịch bệnh. Một lần nữa, chức năng đội quân công tác của QĐND lại được thể hiện rõ nét, góp phần làm tỏa sáng phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

    Dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (Covid-19) gây ra từ tháng 12-2019 đến nay đang tiếp tục diễn biến rất phức tạp, trở thành đại dịch lớn, lan rộng trên toàn cầu, tác động sâu sắc, toàn diện tới mọi mặt đời sống xã hội của các quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam. Nhận thức rõ tính cấp bách, tác hại của dịch Covid-19, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ đã có các chủ trương, biện pháp quyết liệt, đồng bộ, coi nhiệm vụ “chống dịch như chống giặc”. Nhờ có chủ trương đúng đắn và sự vào cuộc tích cực, có trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, cả hệ thống chính trị, công tác phòng, chống dịch Covid-19 bước đầu đã thu được những kết quả tích cực, kịp thời ngăn chặn, khống chế, hạn chế dịch bệnh lan rộng trong cộng đồng, bảo đảm an toàn tính mạng và sức khỏe của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, xã hội; góp phần củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân đối với chủ trương, giải pháp và quyết tâm phòng, chống dịch bệnh của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; được Tổ chức Y tế thế giới và dư luận các nước đánh giá cao.

    Kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt cho cán bộ, chiến sĩ trên đảo Trường Sa. Ảnh: DƯƠNG NINH

    Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ, dù bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đồng hành với nhân dân và là lực lượng nòng cốt trong tham gia giúp đỡ nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ-cứu nạn, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định cuộc sống… Đây vừa là chức năng, nhiệm vụ cao cả, nhưng cũng là trách nhiệm, tình cảm sâu nặng, động lực để thôi thúc cán bộ, chiến sĩ quân đội chung tay hành động, tích cực tham gia chia sẻ, giúp đỡ nhân dân trong cơn hoạn nạn. Trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ-cứu nạn, toàn quân đã có nhiều tấm gương tiêu biểu vì nhân dân hy sinh quên mình. Tiếp nối truyền thống đó, cán bộ, chiến sĩ quân đội đang ngày đêm lăn lộn, chia sẻ cùng người dân khu vực Nam Trung Bộ, miền Tây, Tây Nam Bộ từng ca nước ngọt, vượt qua hạn hán, xâm nhập mặn… Đặc biệt, trong phòng, chống đại dịch Covid-19, cán bộ, chiến sĩ quân đội tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, xung kích, đi đầu trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh, góp phần bảo vệ sức khỏe và cuộc sống bình yên của nhân dân.

    Quán triệt và thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, các chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, nhất là lực lượng quân y toàn quân đã tích cực vào cuộc chống dịch, triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều giải pháp quyết liệt, hữu hiệu, với quan điểm chỉ đạo “trong bất luận tình huống nào, quân đội cũng phải sẵn sàng đi đầu phòng, chống dịch Covid-19”. Bộ Quốc phòng đã khẩn trương thành lập ban chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh; ban hành các văn bản, chỉ thị, hướng dẫn, xây dựng kế hoạch, phương án, chủ động nghiên cứu và tham gia sản xuất, cung ứng trang thiết bị y tế, chuẩn bị cơ sở vật chất, lực lượng, tổ chức diễn tập thực tế với các tình huống phòng, chống dịch bệnh; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các cấp, các ngành, cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ cùng cả nước ngăn chặn, khống chế, không để dịch bệnh lan rộng trong cộng đồng. Tại những điểm cách ly của quân đội, các đơn vị đã chủ động nhường doanh trại, cơ sở vật chất, huy động lực lượng phục vụ, chăm sóc chu đáo, tận tình, bảo đảm điều kiện tốt nhất cho công dân Việt Nam và người nước ngoài.

    Lực lượng quân y Quân khu 1 tiến hành đo kiểm tra thân nhiệt đối với các quân nhân ra vào cổng doanh trại. Ảnh: qdnd.vn

    Ngành quân y-cơ quan thường trực Ban chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh đã kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy các cấp và chỉ đạo, hướng dẫn toàn quân quán triệt, thực hiện triệt để các biện pháp phòng, chống dịch hiệu quả; cán bộ, nhân viên, chiến sĩ của ngành quân y đã nêu tấm gương sáng, khắc sâu lời dạy của Bác Hồ “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền”, kết hợp chặt chẽ giữa y học hiện đại với y học cổ truyền, tận tụy làm việc, thường xuyên theo dõi, thăm khám, điều trị, giám sát y tế cho hàng vạn người cách ly và nhân dân, với tinh thần trách nhiệm cao, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần tốt nhất, hết lòng phục vụ nhân dân. Học viện Quân y đã chủ động nghiên cứu, kịp thời chế tạo thành công bộ sinh phẩm (bộ kít) real-time RT-PCR phát hiện virus Corona chủng mới (SARS-CoV-2) và nhiều sản phẩm khác, với độ nhạy, đặc hiệu, tính ổn định cao, bảo đảm chất lượng, đạt tiêu chuẩn quốc tế…; đây là công cụ quan trọng và cần thiết, góp phần phục vụ kịp thời, hiệu quả công tác kiểm soát, phát hiện dịch Covid-19. Bộ đội Biên phòng đã và đang ngày đêm tuần tra, chốt chặn đường mòn, lối mở, kiểm soát chặt chẽ cửa khẩu, ngăn ngừa nguy cơ dịch bệnh xâm nhập nội địa nước ta. Lực lượng Bộ đội Hóa học toàn quân đã triển khai thực hiện tốt việc tiêu tẩy, phun hóa chất tiêu độc, khử trùng cho khu dân cư cách ly ở phố Trúc Bạch, Bệnh viện Bạch Mai, TP Hải Phòng… góp phần thiết thực phòng, chống dịch bệnh. Đến ngày 2-4-2020, quân đội đã tiếp nhận, tổ chức cách ly y tế đối với người nhập cảnh từ các quốc gia, vùng lãnh thổ có dịch Covid-19 vào Việt Nam tại 137 điểm, với tổng số 64.449 người, trong đó có 31.103 người đã hoàn thành cách ly, bảo đảm không để lây nhiễm chéo ở các khu vực cách ly và lây nhiễm chéo sang người phục vụ. Kiện toàn và sẵn sàng triển khai 154 tổ cơ động phòng, chống dịch từ các bệnh xá quân y và đội y học dự phòng của các quân khu, quân đoàn; 14 tổ chuyên khoa tăng cường và 20 đội cơ động phòng, chống dịch của các bệnh viện quân y (tham gia vào 45 đội phản ứng nhanh của Chính phủ); 7 bệnh viện dã chiến truyền nhiễm, với 2.800 giường bệnh; sẵn sàng huy động học viên bác sĩ năm thứ ba trở lên, học viên sau đại học của Học viện Quân y và học viên năm thứ hai trở lên của các trường cao đẳng quân y tham gia phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời sử dụng 3 đội cơ động, 512 lượt tổ cơ động phòng, chống dịch và tổ quân y tăng cường cho các điểm cách ly, các đơn vị làm nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh. Toàn quân tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch cho bộ đội, không để dịch Covid-19 lây nhiễm vào các cơ quan, đơn vị; duy trì nghiêm các chế độ nền nếp, nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

    Với vai trò là lực lượng nòng cốt, tuyến đầu trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của trên, kỷ luật quân đội, vượt mọi khó khăn, gian khổ, chấp nhận hy sinh, đối mặt với nguy cơ bị lây nhiễm để hoàn thành sứ mệnh cao cả. Điều đó đã thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vì nhân dân phục vụ, được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, xứng đáng là điểm tựa tinh thần, chỗ dựa vững chắc của nhân dân cả nước trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19, tô thắm bản chất, truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam anh hùng thời kỳ mới.

    Thời gian tới, dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, nguy cơ lây nhiễm cao trong cộng đồng và mức độ nguy hiểm đối với toàn xã hội ngày càng gia tăng; đòi hỏi có biện pháp phòng, chống tích cực, hiệu quả, sự nỗ lực cao của các cấp, các ngành, các địa phương và cả hệ thống chính trị. Để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân quyết tâm ngăn chặn, chiến thắng đại dịch Covid-19, bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, toàn quân cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

    Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19.

    Toàn quân tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, các chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về triển khai các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19… Qua đó nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về tính chất nguy hiểm, tác hại và ảnh hưởng của đại dịch đối với sức khỏe, cuộc sống của người dân, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng nói riêng; không chủ quan, song cũng không hoang mang, lo lắng. Xác định rõ nhiệm vụ phòng, chống dịch là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm hiện nay, phải “coi nhiệm vụ chống dịch là nhiệm vụ chiến đấu” trong thời bình. Dù tình huống nào, quân đội cũng luôn xung kích, đi đầu, là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong cuộc chiến phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời giáo dục cho bộ đội phát huy bản chất, truyền thống vẻ vang và phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, tình cảm quân dân cá-nước, truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc, khắc phục khó khăn, gian khổ, nguy cơ lây nhiễm, thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các quy định phòng, chống dịch bệnh.

    Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, chuẩn bị tốt nhân lực, vật tư, trang bị sẵn sàng ứng phó các tình huống theo từng cấp độ phòng, chống dịch bệnh.

    Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả nhiệm vụ phòng, chống dịch mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao. Đề cao trách nhiệm của cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện, với tinh thần chủ động, tích cực, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm”, tất cả vì hạnh phúc, vì sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Ban chỉ đạo phòng, chống dịch và cơ quan chức năng phải thường xuyên theo dõi, nắm chắc diễn biến tình hình dịch bệnh, chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan, đơn vị trong toàn quân thực hiện theo đúng kế hoạch, phương án đã xác định. Chống tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, lơ là, giản đơn hoặc thiếu trách nhiệm để xảy ra hậu quả nghiêm trọng; kiên quyết đấu tranh với các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc về tình hình và kết quả phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam.

    Các cơ quan, đơn vị quân đội tiếp tục chuẩn bị tốt về lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất; tập trung rà soát, kiện toàn, bổ sung nhân lực, vật tư, thuốc, hóa chất, trang thiết bị y tế theo phương châm “4 tại chỗ”(2). Tổ chức huấn luyện bổ sung, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phòng, chống theo từng cấp độ dịch bệnh. Rà soát, kiểm tra doanh trại để tiếp tục củng cố, bổ sung thêm các điểm cách ly mới, sẵn sàng tiếp nhận, cách ly công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước. Ngành quân y đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ sản xuất thuốc, trang thiết bị y tế, quy trình phòng, chống dịch hiệu quả, góp phần chăm sóc, bảo vệ an toàn sức khỏe cho bộ đội và nhân dân.

    Ba là, tổ chức tốt việc tiếp nhận cách ly, giám sát sức khỏe cho nhân dân và người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam.

    Phát huy kết quả đạt được trong thời gian qua, các đơn vị quân đội tiếp tục quán triệt và thực hiện đúng quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng về tổ chức cách ly, nêu cao tinh thần phục vụ, đón tiếp chu đáo, bảo đảm tốt nơi ăn ở, sinh hoạt cho người cách ly. Các quân khu chịu trách nhiệm điều hành trực tiếp các khu cách ly trong và ngoài quân đội; hình thành các khung tổ chức cách ly, điểm cách ly ngoài quân đội, do quân đội cùng với y tế địa phương và lực lượng công an chỉ huy điều phối; sử dụng bộ đội của các cơ quan quân sự quận, huyện, dân quân tự vệ và địa phương là lực lượng phục vụ.

    Quá trình tổ chức thực hiện, các cơ quan, đơn vị phải chấp hành nghiêm các biện pháp phòng, chống, không để dịch lây chéo trong điểm cách ly. Các cơ sở điều trị, bệnh viện, phân đội quân y cơ động vừa thực hiện tốt việc khám, điều trị cho bộ đội và nhân dân, vừa chấp hành nghiêm các quy định, biện pháp phòng, chống, không để dịch lây nhiễm, lây chéo trong các cơ sở điều trị.

    Bốn là, phối hợp chặt chẽ với các cấp, ngành, lực lượng, địa phương và hợp tác quốc tế trong phòng, chống dịch bệnh.

    Với tinh thần quân với dân một ý chí, cùng chung sức, đồng lòng phòng, chống dịch bệnh, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương nơi đóng quân tổ chức rà soát, nắm chắc tình hình địa bàn; đẩy mạnh tuyên truyền, ngăn chặn, khoanh vùng, khống chế, góp phần sớm dập dịch trên từng địa bàn và phạm vi cả nước. Chủ động tham mưu, giúp cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch, phương án huy động nguồn lực, cơ chế trao đổi thông tin, quy chế phối hợp hiệu quả trong phòng, chống, khắc phục dịch bệnh.

    Các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng cần chủ động phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương nghiên cứu hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế hoạt động trong lĩnh vực ứng phó thiên tai, dịch bệnh; tập trung rà soát, tham mưu đề xuất xây dựng cơ chế, chính sách thực hiện nghiêm túc Nghị định số 71/2002/NĐ-CP ngày 23-7-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp trong trường hợp có thảm họa lớn, dịch bệnh nguy hiểm, bảo đảm phù hợp với tình hình mới. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm về quản lý, phòng ngừa, xử lý dịch bệnh.

    Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng, các quân khu chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng của các nước láng giềng và cấp ủy, chính quyền các địa phương tăng cường kiểm soát chặt chẽ người, hàng hóa, phương tiện qua lại khu vực biên giới tại các cửa khẩu, đường mòn, lối mở theo Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25-6-2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch y tế biên giới. Thực hiện nghiêm việc kiểm soát nhập cảnh Việt Nam đối với người đến từ vùng dịch hoặc đi qua vùng dịch, bảo đảm lưu thông hàng hóa nhưng hạn chế, ngăn chặn dịch lây lan vào nội địa nước ta.

    Năm là, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh trong quân đội; thực hiện tốt việc rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    Cùng với nhiệm vụ tham gia phòng, chống dịch do Nhà nước giao, toàn quân triển khai thực hiện đồng bộ, toàn diện các biện pháp phòng, chống, không để dịch Covid-19 lây nhiễm vào cơ quan, đơn vị quân đội; bảo đảm tốt đời sống, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội, giữ vững tỷ lệ quân số khỏe học tập, công tác theo quy định; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, nền nếp xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, phong trào thi đua và cuộc vận động của các cấp, ngành; thực hiện tốt việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng các cá nhân, tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong phòng, chống dịch Covid-19. Qua đó xây dựng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, tạo phong trào hành động cách mạng, động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ thi đua phấn đấu, hoàn thành tốt các chỉ tiêu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

    Với tinh thần coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết, phát huy phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, cán bộ, chiến sĩ QĐND nguyện đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, vì nhân dân phục vụ, tiếp tục xung kích, nòng cốt trên tuyến đầu phòng, chống dịch Covid-19, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của nhân dân, xứng danh là quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

    Đại tướng NGÔ XUÂN LỊCH, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

    (1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 14, Nxb CTQG, H.2011, tr. 435.

    (2) “4 tại chỗ”: 1. Dự phòng, cách ly, điều trị tại chỗ; 2. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men, dụng cụ phòng hộ theo yêu cầu tại chỗ; 3. Kinh phí tại chỗ; 4. Nhân lực tại chỗ.

    Kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt cho cán bộ, chiến sĩ trên đảo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Nhiệm Vụ Lớn Quân Đội Phải Làm Tốt Để Bảo Vệ Vững Chắc Tổ Quốc Việt Nam
  • Tìm Hiểu Về 3 Chức Năng 5 Nhiệm Vụ Quân Đội
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Mới Của Tổng Cục Thuế
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Chi Cục Thuế
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Cơ Quan Thuế
  • Bản Chất, Truyền Thống Cách Mạng Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Pháp Y Quốc Gia Thuộc Bộ Y Tế Trong Giám Định Tư Pháp
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Khoa Học Hình Sự Thuộc Bộ Công An Trong Giám Định Tư Pháp
  • Viện Pháp Y Quân Đội: Ra Mắt Trung Tâm Giám Định Gene
  • Bàn Giao Chức Trách, Nhiệm Vụ Tổng Biên Tập Và Chức Vụ Bí Thư Đảng Ủy Báo Quân Đội Nhân Dân
  • Bàn Giao Chức Trách Nhiệm Vụ Tổng Biên Tập, Bí Thư Đảng Ủy Báo Qđnd
  • QĐND Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; mang bản chất giai cấp công nhân (GCCN), có tính nhân dân và dân tộc sâu sắc. Theo Thượng tướng Song Hào, bản chất đó được thể hiện qua “trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có ý chí quyết chiến quyết thắng rất cao, anh dũng chiến đấu, cần cù lao động, tận tụy công tác; thông minh sáng tạo trong hành động; đoàn kết nội bộ chặt chẽ, dân chủ tốt, kỷ luật nghiêm, đoàn kết quân dân thắm thiết; đoàn kết quốc tế chí nghĩa chí tình; ham học tập, cầu tiến bộ; tích cực rèn luyện, không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và năng lực hành động; chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, cần kiệm liêm chính trong xây dựng và chiến đấu, làm tròn nhiệm vụ, đánh thắng mọi kẻ thù”.

    Bản chất và truyền thống cách mạng của QĐND Việt Nam là sự tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ củng cố và phát huy, đồng thời, “thấm nhuần bản chất cách mạng kiên quyết, triệt để của GCCN mà Đảng là đội tiên phong”, trở thành một nét đặc trưng riêng có của QĐND Việt Nam.

    Luận giải về bản chất, truyền thống cách mạng của QĐND Việt Nam, Thượng tướng Song Hào khẳng định:

    Thứ nhất, Quân đội ta luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

    Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, bởi QĐND Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo. Đảng ta đã trang bị cho quân đội bản chất cách mạng của GCCN; vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối nghệ thuật quân sự của Đảng, của chiến tranh nhân dân vào rèn luyện quân đội. Đảng mang truyền thống đấu tranh anh hùng của dân tộc để bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ và đem truyền thống đoàn kết nhất trí của Đảng giáo dục, tăng cường đoàn kết nội bộ quân đội, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế. Thượng tướng Song Hào chỉ rõ, Quân đội ta là “một đội quân cách mạng, một đội quân kiểu mới do Đảng ta, một Đảng mác-xít – lê-nin-nít chân chính xây dựng, lãnh đạo và giáo dục”. Do đó, cần phải “đặt quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội”. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và bản chất GCCN, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, quyết định sự trưởng thành và lớn mạnh của QĐND Việt Nam.

    Cũng theo Thượng tướng Song Hào, biểu hiện rõ nét của lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân là: Quân đội ta phải kiên quyết thực hiện thắng lợi đường lối chính trị-quân sự, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nắm vững và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của quân đội; luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, tích cực, chủ động tiến công địch và xây dựng mình theo đường lối, nguyên tắc của Đảng; luôn kính trọng, quý mến và giữ nghiêm kỷ luật với nhân dân, coi việc giúp đỡ nhân dân, bảo vệ nhân dân là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình… Lòng trung thành tuyệt đối của quân đội với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa vừa là một phẩm chất cao quý của quân đội cách mạng, vừa là cội nguồn sức mạnh, làm nên những chiến thắng vang dội của QĐND Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập dân tộc, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

    Thứ hai, có ý chí quyết chiến quyết thắng, anh dũng chiến đấu, cần cù lao động, tận tụy công tác, thông minh sáng tạo.

    Truyền thống quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam bắt nguồn từ lòng tin tưởng tuyệt đối vào lý tưởng và mục tiêu cách mạng cao quý, vào con đường và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng; từ ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, từ tinh thần cách mạng triệt để, tư tưởng cách mạng tiến công của GCCN kết hợp với truyền thống đấu tranh anh hùng bất khuất của dân tộc ta. Đó là sự tiếp nối, phát triển từ truyền thống đấu tranh anh hùng của dân tộc, của giai cấp, của Đảng, là sự kết tinh tinh thần yêu nước, chung đúc ý chí cách mạng kiên cường và tinh thần sáng tạo của các LLVT nhân dân.

    Truyền thống quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam được thể hiện ở quyết tâm “đâu có giặc là ta cứ đi”; bất cứ nơi nào Tổ quốc cần, Quân đội ta đều có mặt. Thượng tướng Song Hào cho rằng, Quân đội ta phải không ngừng được rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, mưu trí và sáng tạo trong chiến đấu, tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện vũ khí trang bị, tổ chức chiến trường và truyền thống đánh giặc của tổ tiên; phải biết đánh giá đúng kẻ địch, tìm cách hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch để đánh địch, luôn nêu cao tinh thần mưu trí, dũng cảm và táo bạo, khiến địch bất ngờ, giành thế chủ động trên chiến trường, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng, dẫn đến thất bại. Ý chí quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam còn thể hiện rõ trong lao động sản xuất và công tác. Thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì, trong bất luận hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ cũng luôn dũng cảm, cần cù, tận tụy, đem hết tinh thần, sức lực, trí tuệ, tài năng, kiên quyết hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.

    Thứ ba, đoàn kết nội bộ chặt chẽ, dân chủ tốt, kỷ luật nghiêm.

    Đoàn kết thống nhất trong QĐND Việt Nam là cơ sở để xây dựng và phát triển. Thượng tướng Song Hào khẳng định: “Quân đội ta luôn luôn đoàn kết chặt chẽ như keo sơn; cán bộ, chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, trên dưới một lòng, đồng cam cộng khổ, thường xuyên thực hiện dân chủ, không ngừng đề cao kỷ luật tự giác nghiêm minh, thống nhất ý chí, thống nhất hành động”. Truyền thống đoàn kết, dân chủ, kỷ luật của Quân đội ta kế thừa truyền thống đoàn kết dân tộc, ý chí đoàn kết, thống nhất hành động của Đảng, thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

    Theo Thượng tướng Song Hào, Quân đội ta luôn đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở đường lối, chủ trương, nguyên tắc của Đảng, lợi ích của nhân dân và chức năng, nhiệm vụ của quân đội, trên cơ sở mối quan hệ bình đẳng về chính trị và tình thương yêu giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới. Toàn quân kết thành một khối thống nhất, vững chắc. Để thực hiện được điều đó, cán bộ, chiến sĩ phải luôn chân thành giúp đỡ lẫn nhau, lấy lý tưởng, mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ cách mạng, lấy kinh nghiệm chiến đấu, công tác và cuộc sống để bồi dưỡng lẫn nhau, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ.

    Cùng với tăng cường đoàn kết nội bộ là phát huy dân chủ, rèn luyện kỷ luật trong quân đội; dân chủ thể hiện mối quan hệ bình đẳng về chính trị trong QĐND Việt Nam. Trên cơ sở lấy kỷ luật làm sức mạnh của quân đội, Thượng tướng Song Hào chỉ rõ, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng phải giữ nghiêm kỷ luật. Cán bộ, chiến sĩ quân đội phải phục tùng sự lãnh đạo, chỉ huy, triệt để chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, làm tròn chức trách, nhiệm vụ của quân nhân; chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội; kiên quyết hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Thượng tướng Song Hào khẳng định: “Kỷ luật của Quân đội ta vừa nghiêm minh, vừa tự giác”.

    Thứ tư, đoàn kết quân dân gắn bó.

    Theo Thượng tướng Song Hào, QĐND Việt Nam từ nhân dân mà ra, do đó Quân đội ta “luôn luôn đoàn kết khăng khít với nhân dân; toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân; dựa vào dân, được nhân dân chăm sóc, giáo dục, phối hợp cùng nhân dân chiến đấu; hết lòng bảo vệ, quý trọng và giúp đỡ nhân dân”. Truyền thống quý báu đó được hình thành ngay từ khi Quân đội ta mới ra đời và phát triển không ngừng trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành; thể hiện tình cảm quân dân “như cá với nước”.

    Không chỉ chiến đấu vì dân, Quân đội ta luôn biết dựa vào dân, luôn thương yêu, quý trọng, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân; thường xuyên chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ và bảo vệ nhân dân; tiết kiệm của cải, kết hợp với tăng gia sản xuất để giảm việc đóng góp của nhân dân. Đúc kết mối quan hệ thắm thiết giữa quân đội và nhân dân, Thượng tướng Song Hào khẳng định: “Đoàn kết quân dân là một hình ảnh đẹp, đầy tự hào của toàn quân ta, toàn dân ta. Đó là sức mạnh to lớn của Quân đội ta. Giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu ấy là để không ngừng tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội, không ngừng nâng cao phẩm chất cách mạng của mỗi cán bộ, chiến sĩ ta”.

    Thứ sáu, ham học tập, cầu tiến bộ, tích cực rèn luyện, không ngừng nâng cao phẩm chất cách mạng và năng lực hành động

    Thượng tướng Song Hào chỉ rõ: “Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần học tập, cầu tiến bộ, tích cực rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, không ngừng nâng cao bản lĩnh chiến đấu, năng lực công tác, trình độ làm chủ khoa học-kỹ thuật”. Đó là nghĩa vụ, trách nhiệm, tiêu chuẩn, thành tích của người quân nhân cách mạng. Do vậy, cán bộ, chiến sĩ quân đội phải chú trọng học tập, rèn luyện về chính trị tư tưởng và tổ chức, đường lối chính trị và quân sự của Đảng, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân và cả về những kiến thức văn hóa, khoa học-kỹ thuật; đồng thời, nghiêm khắc phê phán thái độ đi ngược lại bản chất, truyền thống cách mạng của Quân đội ta… Theo Thượng tướng Song Hào, đó là quá trình “phấn đấu hết sức kiên trì, bền bỉ, anh dũng và đầy sáng tạo của toàn quân ta”, để không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ chính trị tư tưởng, năng lực lãnh đạo, chỉ huy và trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ, nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quân đội.

    Để tiếp tục xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, việc tiếp tục giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của Quân đội ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó không chỉ là trách nhiệm của riêng quân đội mà còn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng, của cả hệ thống chính trị, trong đó QĐND Việt Nam là nòng cốt. Bản chất và truyền thống cách mạng là cội nguồn sức mạnh chiến đấu, là tài sản vô giá của quân đội trong công cuộc xây dựng và chiến đấu trước đây, hiện nay cũng như mãi mãi sau này. Giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của quân đội, chúng ta sẽ tạo nên sức mạnh phi thường, cổ vũ, thúc đẩy Quân đội ta tiến lên giành thắng lợi mới trong giai đoạn cách mạng mới. Như lời Thượng tướng Song Hào từng khẳng định: “Việc phát huy truyền thống quý báu đó vẫn là nhân tố quan trọng thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng và chiến đấu của Quân đội ta thành công và thắng lợi. Do đó, bất luận trong hoàn cảnh, thời gian nào, cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng phải đem hết sức lực và trí tuệ của mình góp phần vào việc xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội, có trách nhiệm kế thừa, phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của QĐND Việt Nam. Đặc biệt, chúng ta “phải biến lòng tin, biến niềm tin tự hào về bản chất và truyền thống của Quân đội ta thành hành động cách mạng một cách tích cực nhất và anh dũng nhất”.

    Đại tá, TS NGUYỄN HOÀNG NHIÊN(Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xuyên Tạc Bản Chất, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội
  • Hoạt Động Trong Cả Nước
  • Thành Phần Và Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Nghĩa Vụ Quân Sự Các Cấp
  • Điều Kiện Bổ Nhiệm, Nhiệm Vụ Của Chỉ Huy Trưởng Ban Chỉ Huy Quân Sự Xã
  • Thành Phần, Nhiệm Vụ, Chức Năng Của Ban Chỉ Huy Quân Sự Cấp Xã
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100