9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể

--- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Protein là một chất dinh dưỡng rất quan trọng đối với sức khỏe. Protein được tạo thành từ các axit amin, liên kết với nhau tạo thành chuỗi dài. Protein tham gia vào hầu hết các chức năng của tế bào và thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau. Vậy protein có tác dụng gì?

    Cơ thể cần protein để thực hiện chức năng tăng trưởng và duy trì các mô. Tuy nhiên, protein trong cơ thể luôn ở trong trạng thái thay đổi liên tục.

    Bình thường, cơ thể phá vỡ một lượng protein nhất định để xây dựng và sửa chữa các mô. Nhưng đôi khi protein cũng được sử dụng nhiều hơn mức bình thường, khiến nhu cầu bổ sung protein của cơ thể cũng tăng cao.

    Tình trạng này thường gặp ở người đang mắc bệnh, phụ nữ mang thai và cho con bú. Ngoài ra, những người hồi phục sau chấn thương hoặc phẫu thuật, người lớn tuổi và vận động viên cũng cần bổ sung nhiều protein hơn. Những đối tượng này thường cần đến tác dụng của whey protein để bổ sung đạm.

    Protein tạo ra các enzyme, tham gia hỗ trợ hàng ngàn phản ứng sinh hóa diễn ra bên trong và ngoài tế bào. Cấu trúc của enzyme kết hợp với các phân tử khác bên trong tế bào – gọi là chất nền, xúc tác những phản ứng cần thiết cho quá trình trao đổi chất.

    Một số enzyme cũng hoạt động bên ngoài tế bào, bao gồm các enzyme tiêu hóa như lactase (giúp phân giải đường sữa lactose) và sucrase (giúp thủy phân đường). Vài enzyme sẽ thúc đẩy các phân tử khác, chẳng hạn như vitamin hoặc khoáng chất, làm cho phản ứng diễn ra.

    Các chức năng của cơ thể cần phụ thuộc vào enzyme bao gồm:

    Tình trạng thiếu hụt enzyme hoặc enzyme không hoạt động đúng chức năng có thể dẫn đến một số bệnh lý.

    Về mặt hóa học, một số protein là kích thích tố, hỗ trợ giao tiếp giữa các tế bào, mô và cơ quan. Các mô hoặc tuyến nội tiết tạo ra hormone, sau đó được vận chuyển theo đường máu đến các mô hoặc cơ quan đích. Tại đây hormone sẽ liên kết với thụ thể protein trên bề mặt tế bào.

    Hormone được nhóm thành 3 loại chính:

    • Protein và peptide: Được tạo ra từ một vài cho đến hàng trăm axit amin, kết thành một chuỗi;
    • Steroid: Được sản xuất bởi cholesterol béo. Các hormone giới tính (testosteroneestrogen) đều dựa trên steroid;

    Protein và polypeptide là nhóm nội tiết tố chiếm phần lớn trong cơ thể, bao gồm:

    • Insulin: Tín hiệu hấp thu glucose vào tế bào;
    • Glucagon: Tín hiệu phân hủy glucose dự trữ trong gan;
    • hGH (hormone tăng trưởng của con người): Kích thích các mô phát triển, bao gồm cả xương;
    • ADH (hormone chống lợi tiểu): Tín hiệu yêu cầu thận tái hấp thu nước;
    • ACTH (hormone vỏ thượng thận): Kích thích giải phóng cortisol – một yếu tố chính trong quá trình trao đổi chất.

    Một số cấu trúc protein có dạng sợi, tạo độ cứng chắc cho các mô và tế bào. Những protein này bao gồm:

    • Keratin: Là một cấu trúc protein được tìm thấy trong da, tóc và móng tay;
    • Collagen: Là cấu trúc protein dồi dào nhất trong cơ thể, tạo nên xương, gân, dây chằng và da;
    • Elastin: Linh hoạt hơn collagen vài trăm lần. Độ đàn hồi cao cho phép nhiều mô trong cơ thể trở lại hình dạng ban đầu sau khi bị kéo dãn hoặc co bóp, chẳng hạn như tử cung, phổi và động mạch.

    Protein đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nồng độ axit và bazơ trong máu và các chất dịch cơ thể khác. Sự cân bằng giữa axit và bazơ được đo bằng thang pH. Thang đo dao động từ 0 đến 14, với mức 0 là axit mạnh nhất, 7 là trung tính và 14 là kiềm mạnh nhất.

    Ví dụ về giá trị pH của một số chất phổ biến là:

    • pH 2: Axit dạ dày;
    • pH 4: Nước ép cà chua;
    • pH 5: Cà phê đen;
    • pH 7,4: Máu người;
    • pH 10: Sữa magie;
    • pH 12: Nước xà phòng;.

    Rất nhiều hệ thống đệm giúp chất lỏng trong cơ thể duy trì phạm vi pH bình thường. Điều này là cần thiết vì ngay cả một thay đổi nhỏ về độ pH cũng có thể gây hại hoặc dẫn đến nguy cơ tử vong.

    Một số protein cũng tham gia vào điều chỉnh nồng độ pH, chẳng hạn như hemoglobin – một loại protein tạo nên các tế bào hồng cầu. Huyết sắc tố hemoglobin sẽ liên kết với một lượng nhỏ axit, giúp duy trì giá trị pH bình thường của máu người.

    Các hệ thống đệm khác trong cơ thể bao gồm phosphate và bicarbonate.

    Protein điều chỉnh các quá trình cơ thể để duy trì sự cân bằng chất lỏng. Ví dụ, albumin và globulin là các protein trong máu, giúp duy trì cân bằng chất lỏng bằng cách thu và giữ nước.

    Nếu bạn không bổ sung đủ protein, nồng độ albumin và globulin trong cơ thể sẽ giảm dần. Kết quả là máu không thể giữ được trong mạch và chất lỏng bị tích tụ vào khoảng trống giữa các tế bào. Lúc này sẽ xuất hiện hiện tượng sưng hoặc phù, đặc biệt là ở dạ dày.

    Đây là một dạng suy dinh dưỡng protein nghiêm trọng, được gọi là suy dinh dưỡng thể phù Kwashiorkor. Tình trạng này xảy ra khi một người tiêu thụ đủ lượng calo nhưng lại thiếu hụt protein. Kwashiorkor rất hiếm gặp ở các khu vực phát triển trên thế giới, nhưng phổ biến tại những vùng đói nghèo. Bệnh nhân có thể cần tác dụng của whey protein để bổ sung đạm.

    Protein giúp hình thành các globulin miễn dịch, hay còn gọi là kháng thể, để chống lại nhiễm trùng. Kháng thể là protein trong máu, giúp bảo vệ cơ thể khỏi những “kẻ xâm lược” có hại như vi khuẩn và virus.

    Khi các yếu tố ngoại lai xâm nhập vào các tế bào, cơ thể sẽ tạo ra kháng thể để tiêu diệt chúng. Nếu không có các kháng thể này, vi khuẩn và virus sẽ tự do nhân lên và dần áp đảo cơ thể, gây ra những bệnh nhiễm trùng.

    Khi đã tạo được kháng thể chống lại một loại vi khuẩn hoặc virus cụ thể, các tế bào sẽ tự động ghi nhớ cơ chế này. Nhờ đó mà các kháng thể sẽ phản ứng nhanh hơn khi một tác nhân gây bệnh cũ lại xâm nhập vào cơ thể bạn lần nữa. Chính vì vậy mà cơ thể có khả năng miễn dịch, chống lại các bệnh đã từng tiếp xúc.

    Theo dòng máu, protein vận chuyển các chất dinh dưỡng ra vào các tế bào, chẳng hạn như vitamin hoặc khoáng chất, glucose, cholesterol và oxy.

    Ví dụ, huyết sắc tố (hemoglobin) là một loại protein mang oxy từ phổi đến các mô cơ thể. Chất vận chuyển glucose (GLUT) mang đường đến các tế bào, cũng như lipoprotein vận chuyển cholesterol và các chất béo khác trong máu.

    Mỗi protein vận chuyển là đặc hiệu, chỉ liên kết với các chất cụ thể. Nói cách khác, một protein vận chuyển glucose sẽ không thể làm nhiệm vụ di chuyển cholesterol.

    Ngoài ra, protein cũng có vai trò lưu trữ, ví dụ như ferritin giúp dự trữ sắt. Một loại protein lưu trữ khác là casein, chủ yếu có mặt trong sữa và giúp trẻ sơ sinh phát triển.

    Protein cũng có thể cung cấp năng lượng cho cơ thể. Mỗi gram protein chứa 4 calo, tương đương với mức năng lượng mà carbs cung cấp. Trong khi đó chất béo cung cấp nhiều năng lượng nhất, ở mức 9 calo mỗi gram.

    Tuy nhiên, protein là chất cuối cùng mà cơ thể muốn sử dụng để làm năng lượng. Nguyên nhân là vì protein còn phải tham gia vào nhiều chức năng khác trên khắp cơ thể. Do đó cơ thể sẽ ưu tiên dự trữ carbs và chất béo để sử dụng làm nhiên liệu, tạo ra nguồn năng lượng hoạt động. Hơn nữa, carbs và chất béo đã chuyển hóa cũng hiệu quả hơn so với protein.

    Trên thực tế, protein cung cấp cho cơ thể rất ít năng lượng trong trường hợp bình thường. Tuy nhiên, trong trạng thái nhịn ăn (18 – 48 giờ không có carb và chất béo), cơ thể sẽ phá vỡ cơ xương để các axit amin có thể cung cấp năng lượng thay thế.

    Cơ thể cũng sử dụng axit amin từ cơ xương nếu nguồn dự trữ carbohydrate ở mức thấp. Hiện tượng này xảy ra sau khi bạn tập thể dục ở cường độ cao hoặc khi bạn không tiêu thụ đủ lượng calo.

    Protein giữ nhiều vai trò trong cơ thể, giúp sửa chữa và xây dựng các mô, cũng như thúc đẩy các phản ứng trao đổi chất diễn ra. Ngoài việc cung cấp khung cấu trúc cho cơ thể, protein còn duy trì cân bằng độ pH và chất lỏng thích hợp. Cuối cùng, cấu trúc protein giữ cho hệ miễn dịch luôn mạnh mẽ, giúp vận chuyển và lưu trữ dưỡng chất, thậm chí trở thành nguồn năng lượng khẩn cấp khi cơ thể cần. Tất cả các chức năng này khiến protein trở nên rất quan trọng cho sức khỏe.

    Để nâng cao chất lượng dịch vụ thăm khám, điều trị, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã đưa hệ thống cơ sở trang thiết bị hiện đại đạt chuẩn vào vận hành các quy trình khám và điều trị bệnh. Đặc biệt tại Vinmec luôn có đội ngũ y bác sĩ sẵn sàng lắng nghe, tư vấn và điều trị các căn bệnh cũng như tư vấn về chế độ dinh dưỡng, thực phẩm tốt cho trẻ em, người lớn và người cao tuổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Adn Là Gì? Cấu Trúc Không Gian Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Adn Và Gen
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn
  • Chức Năng Là Gì? Nhiệm Vụ Quyền Hạn Cơ Quan Chức Năng 2022
  • Giải Bài Tập Trang 56 Sgk Sinh Lớp 9: Protein

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Protein Vận Chuyển Thuốc: Hàng Rào Cuối Cùng Của Tương Tác Thuốc
  • 10 Tác Dụng Của Whey Protein Được Cả Thế Giới Công Nhận
  • Whey Protein: Công Dụng, Liều Dùng, Tác Dụng Phụ
  • Cách Chọn Mua Sản Phẩm Chức Năng Whey Protein
  • Mua Whey Protein Ở Đâu Tphcm
  • Giải bài tập trang 56 SGK Sinh lớp 9: Protein

    Giải bài tập môn Sinh học lớp 9

    được VnDoc sưu tầm và đăng tải, tổng hợp lý thuyết và lời giải của các câu hỏi trong sách giáo khoa về cấu trúc và chức năng của protein trong giáo trình giảng dạy môn Sinh học 9. Hi vọng rằng đây sẽ là những tài liệu hữu ích trong công tác giảng dạy và học tập của quý thầy cô và các em học sinh.

    Giải bài tập trang 50 SGK Sinh lớp 9: ADN và bản chất của genGiải bài tập trang 53 SGK Sinh lớp 9: Mối quan hệ giữa gen và ARN

    A. Tóm tắt lý thuyết:

    Prôtêin là hợp chất hữu cơ gồm 4 nguyên tố chính là C, H, O, N và có thể còn có một số nguyên tố khác. Prôtêin thuộc loại đại phân tử, có khối lượng và kích thước lớn (có thể dài tới 0,1 µm, khối lượng có thể đạt tới hàng triệu đvC). Prôtêin cùng dược cấu trúc theo nguyên tắc đa phân: gồm hàng trăm đơn phân. Đơn phân cấu tạo nên prôtêin là axit amin, có hơn 20 loại axit amin khác nhau.

    Tính đa dạng và đặc thù của prôtêin còn được biểu hiện ở các dạng cấu trúc không gian (hình 18). Chính ở dạng cấu trúc không gian đặc thù, prôtêin mới thực hiện được chức năng của nó.

    Cấu trúc bậc 1 là trình tự sắp xếp các axit amin trong chuỗi axit amin.

    Cấu trúc bậc 2 là chuỗi axit amin tạo các vòng xoắn lò xo đều đặn. Các vòng xoắn ở prôtêin dạng sợi còn bện lại với nhau kiểu dây thừng tạo cho sợi chịu lực khỏe hơn.

    Cấu trúc bậc 3 là hình dạng không gian ba chiều của prôtêin do cấu trúc bậc 2 xếp tạo thành kiếu đặc trưng từng loại prôtêin, ví dụ: prôtêin hình cầu.

    Cấu trúc bậc 4 là cấu trúc của một số loại prôtêin gồm hai hoặc nhiều chuỗi axit amin cùng loại hay khác loại kết hợp với nhau.

    Đối với riêng tế bào và cơ thể, prôtêin có nhiều chức năng quan trọng.

    1. Chức năng cấu trúc

    Prôtêin là thành phần cấu tạo của chất nguyên sinh, là hợp phần quan trọng xây dựng nên các bào quan và màng sinh chất. Từ đó, hình thành các đặc điểm giải phẫu, hình thái của các mô, các cơ quan, hệ cơ quan và cơ thể.

    Ví dụ: Histôn là loại prôtêin tham gia vào cấu trúc của NST. Đặc biệt, prôtêin dạng nguyên liệu cấu trúc rất tốt (như côlasen và elastin là thành phần chủ yếu mô liên kết, kêratin ở trong móng, sừng, tóc và lông).

    2. Chức năng xúc tác các quá trình trao đổi chất

    Quá trình trao đổi chất trong tế bào diễn ra qua nhiều phản ứng hoá sinh được xúc tác các enzim. Bản chất của enzim là prôtêin. Hiện đã biết khoảng 3500 loại enzim mỗi loại tham gia một phản ứng nhất định.

    Ví dụ: Trong quá trình tổng hợp phân từ ARN có sự tham gia cùa enzim ARN còn khi phân giải ARN thành các nuclêôtit thì có sự xúc tác của enzim ribônuclêaza.

    Chức năng điều hoà các quá trình trao đổi chất:

    • Các hooc môn có vai trò điều hoà các quá trình trao đổi chất trong tế bào và cơ thể. Các hooc môn phần lớn là prôtêin. Một số hoocmôn ở động vật và ở người là các protein hoạt tính sinh học cao. Ví dụ: Insulin có vai trò điều hoà hàm lượng đường máu, tirôxin điều hoà sức lớn của cơ thể.
    • Ngoài những chức năng trên nhiều loại prôtêin còn có chức năng khác như bảo vệ cơ thể (các kháng thể), vận động của tế bào và cơ thể. Lúc cơ thể thiếu hụt gluxit với lipit, tế bào có thể phân giải prôtêin cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của tế bào và cơ thể.

    B. Hướng dẫn giải bài tập SGK Sinh Học lớp 9:

    Bài 1: (SGK Sinh 9 – Prôtêin)

    Tính đa dạng và tính đặc thù của prôtêin do những yếu tố nào xác định?

    Đáp án bài 1:

    Protein được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, bao gồm hàng trăm đơn phân là axit amin. Có hơn 20 loài a.a khác nhau, do đó cách sắp xếp khác nhau của hơn 20 loài a.a này đã tạo nên tính đa dạng của protein.

    Còn tính đặc thù của protein được quy định bởi thành phần, số lượng và trình tự sắp xếp của các a.a. Ngoài ra tính đặc thù còn được thể hiện qua cấu trúc không gian của nó (cấu trúc ko gian gồm bậc 1, 2, 3, 4)

    Bài 2: (SGK Sinh 9 – Prôtêin)

    Vì sao nói prôtêin có vai trò quan trọng đối với tế bào và cơ thể?

    Đáp án bài 2:

    Bài 3: (SGK Sinh 9 – Prôtêin)

    Bậc cấu trúc nào sau đây có vai trò chủ yếu xác định tính đặc thù của prôtêin?

    a) Cấu trúc bậc 1; b) Cấu trúc bậc 2

    c) Cấu trúc bậc 3; d) Cấu trúc bậc 4

    Đáp án đúng: a. cấu trúc bậc 1

    Bài 4: (SGK Sinh 9 – Prôtêin)

    Prôtêin thực hiện được chức năng của mình chủ yếu ở những bậc cấu trúc nào sau đây?

    a) Cấu trúc bậc 1; b) Cấu trúc bậc i và 2

    c) Cấu trúc bậc 2 và 3; d) Cấu trúc bậc 3 và 4.

    Đáp án đúng: d. cấu trúc bậc 3, bậc 4

    Bài 5: (SGK Sinh 9 – Prôtêin)

    Đánh dấu X vào đầu câu trả lời đúng nhất:

    1. Prôtêin cấu trúc như thế nào?

    1. Prôtêin là hợp chất hữu cơ được cấu tạo chủ yếu từ 4 nguyên tố c, H, o, N và có thể có một vài nguyên tố khác.

    2. Prôtéin là đại phân tử, khối lượng có thể đạt tới hàng triệu đvC.

    3. Prôtêin được cấu trúc theo nguyên tắc đa phân gồm hàng trăm đơn phân.

    4. Các đơn phân cấu trúc nên prôtêin cũng là các nuclêôtit.

    a) 1, 3, 4; b) 2, 3, 4; c) 1, 2, 3; d) 1, 2

    2. Tính đặc thù của prôtêin được biểu hiện như thế nào?

    a) Ở thành phần, số lượng và trình tự sắp xếp các axit amin

    b) Ở các dạng cuấ trúc không gian của protein

    c) Ở chức năng của protein

    d) cả a và b

    Đáp án bài 5: 1 – c; 2 – d

    --- Bài cũ hơn ---

  • Protein Ssb: Đặc Điểm, Cấu Trúc, Chức Năng Và Ví Dụ
  • Bài Giảng Về Dna Và Rna
  • Giáo Trình Sinh Học Phân Tử
  • Thành Phần Của Protein Và Nước Trong Thực Phẩm
  • Nghiên Cứu Về Thành Phần Hóa Học Và Tính Chất Chức Năng Phân Lập Protein Cá( Fpi )Từ Sản Phẩm Của Cá Tra (Pangasius Hypophthalmu)
  • Chức Năng Bảo Vệ Protein. Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Bảo Vệ Của Protein. Chức Năng Bảo Vệ
  • Các Loại Protein Và Chức Năng Của Chúng Với Sức Khỏe Như Thế Nào?
  • 7 Loại Bột Protein Tốt Nhất
  • 42 Thực Phẩm Giàu Protein Tăng Cơ Tốt Nhất Cho Người Tập Gym
  • Top 12 Loại Thực Phẩm Giàu Protein Tốt Cho Sức Khỏe
  • Protein là cơ sở của tất cả các sinh vật sống. Đó là những chất này hoạt động như một thành phần của màng tế bào, cơ quan, sụn, gân và các chất dẫn xuất da sừng. Tuy nhiên, chức năng bảo vệ của protein là một trong những quan trọng nhất.

    Protein: Các tính năng của cấu trúc

    Cùng với chất béo, carbohydrate và axit nucleic, protein là các chất hữu cơ tạo nên cơ sở của sự sống. Tất cả đều là các biopolymer tự nhiên. Các chất này bao gồm lặp đi lặp lại các đơn vị cấu trúc. Chúng được gọi là các monome. Đối với protein, các đơn vị cấu trúc như vậy là các axit amin. Kết nối chuỗi, chúng tạo thành một đại phân tử lớn.

    Mức độ tổ chức không gian của protein

    Một chuỗi 20 axit amin có thể hình thành các cấu trúc khác nhau. Đây là các mức độ tổ chức không gian hoặc cấu tạo của protein. Cấu trúc chính được biểu diễn bằng một chuỗi axit amin. Khi nó quay thành xoắn ốc, một thứ phát sinh. Cấu trúc bậc ba xảy ra khi cấu trúc trước đó bị xoắn thành một mớ hỗn độn. Nhưng cấu trúc sau là phức tạp nhất – Đệ tứ. Nó bao gồm nhiều globules.

    Tính chất của protein

    Nếu cấu trúc bậc bốn bị phá hủy trước tiên, cụ thể là chuỗi axit amin, sau đó có một quá trình gọi là denaturation. Anh ta có thể đảo ngược được. Một chuỗi các axit amin lại có thể hình thành các cấu trúc phức tạp hơn. Nhưng khi có sự tàn phá, nghĩa là Tiêu hủy cấu trúc chính , không thể khôi phục được protein . Quá trình như vậy là không thể đảo ngược. Sự hủy hoại đã được tiến hành bởi mỗi người khi sản phẩm chế biến nhiệt bao gồm trứng gà đạm, cá, thịt.

    Các chức năng protein: bảng

    Phân tử protein rất đa dạng. Điều này gây ra một loạt các khả năng của họ, đó là do cấu trúc của axit amin. Các chức năng của protein (bảng chứa thông tin cần thiết) là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của các sinh vật sống.

    Protein là vật liệu xây dựng cho tất cả các cấu trúc cơ thể: từ màng tế bào đến cơ và dây chằng.

    Collagen, sợi xơ

    Chức năng bảo vệ protein trong cơ thể

    Như bạn thấy, các chức năng của protein rất đa dạng và quan trọng trong ý nghĩa của nó. Nhưng chúng tôi không đề cập đến một trong số họ nữa. Chức năng bảo vệ của protein trong cơ thể là để ngăn chặn sự xâm nhập của các chất lạ có thể gây ra thiệt hại đáng kể cho cơ thể. Nếu điều này xảy ra, các protein chuyên biệt có thể giải giáp chúng. Những chất bảo vệ này được gọi là kháng thể hoặc immunoglobulin.

    Quá trình hình thành miễn dịch

    Với mỗi tiếng thở dài, vi khuẩn gây bệnh và vi rút xâm nhập vào cơ thể chúng ta. Chúng rơi vào trong máu, nơi chúng bắt đầu nhân lên tích cực. Tuy nhiên, trên con đường của họ có một rào cản đáng kể. Đó là các protein huyết tương – globulin miễn dịch hoặc kháng thể. Chúng đặc biệt và được đặc trưng bởi khả năng nhận biết và trung hoà các chất và cấu trúc ngoài cơ thể. Họ được gọi là kháng nguyên. Đây là cách chức năng bảo vệ của protein thể hiện bản thân. Ví dụ về nó có thể được tiếp tục với thông tin về interferon. Protein này cũng là chuyên ngành và nhận dạng virus. Chất này thậm chí còn là cơ sở của nhiều thuốc kích thích miễn dịch.

    Nhờ sự có mặt của các protein bảo vệ, cơ thể có thể chịu được các hạt gây bệnh, nghĩa là Ở đó, sự miễn dịch được hình thành. Anh ta có thể được bẩm sinh và có được. Tất cả các sinh vật đầu tiên đều được ban cho từ khi sinh ra, đó là lý do tại sao cuộc sống là có thể. Và thu được xuất hiện sau khi chuyển giao các bệnh truyền nhiễm khác nhau.

    Bảo vệ cơ học

    Protein thực hiện chức năng bảo vệ, trực tiếp bảo vệ các tế bào và toàn bộ cơ thể khỏi những ảnh hưởng cơ học. Ví dụ, bộ xương ngoài của loài giáp xác đóng vai trò của vỏ, tin cậy bảo vệ tất cả các nội dung. Xương, cơ và sụn tạo thành cơ sở của cơ thể, và không chỉ ngăn ngừa tổn thương mô mềm và các cơ quan mà còn đảm bảo sự chuyển động của nó trong không gian.

    Sự hình thành băng huyết

    Quá trình đông máu cũng là một chức năng bảo vệ của protein. Có thể do sự hiện diện của tế bào chuyên biệt – tiểu cầu. Nếu các mạch máu bị hư hỏng, chúng sẽ bị phá hủy. Kết quả là, fibrinogen protein huyết tương hòa tan được chuyển thành dạng không hòa tan – fibrin. Đây là một quá trình enzym phức tạp, do đó các sợi filibin rất thường xuyên liên kết và tạo thành một mạng lưới dày đặc ngăn cản sự lưu thông máu. Nói cách khác, một cục máu hoặc huyết khối được hình thành. Đây là phản ứng bảo vệ cơ thể. Trong cuộc sống bình thường, quá trình này kéo dài tối đa mười phút. Nhưng với chứng bệnh không chảy máu – bệnh hemophilia ảnh hưởng đến nam giới, một người có thể chết ngay cả với một vết thương nhỏ.

    Tuy nhiên, nếu cục máu đông hình thành bên trong mạch máu, nó có thể rất nguy hiểm. Trong một số trường hợp thậm chí dẫn đến vi phạm tính toàn vẹn và xuất huyết nội. Trong trường hợp này, các loại thuốc được khuyến cáo, trái lại, máu làm mỏng.

    Bảo vệ hóa học

    Chức năng bảo vệ của protein cũng được biểu hiện trong việc kiểm soát hóa học các mầm bệnh. Và nó bắt đầu có trong khoang miệng. Bắt vào nó, thực phẩm gây ra một sự bốc mùi phản xạ. Cơ sở của chất này là nước, enzyme phá vỡ polysaccharides và lysozyme. Đó là chất thứ hai giải độc các phân tử có hại, bảo vệ cơ thể khỏi những ảnh hưởng tiếp theo của chúng. Nó được tìm thấy trong các màng niêm mạc của đường tiêu hóa, và trong nước mắt rửa mắt giác mạc của mắt. Với số lượng lớn, lysozyme được tìm thấy trong sữa mẹ, dịch nhầy hầu họng, và lòng trắng trứng.

    Vì vậy, chức năng bảo vệ của protein được thể hiện chủ yếu trong việc trung hòa các hạt vi khuẩn và virut trong máu của cơ thể. Kết quả là, ông có khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh. Nó được gọi là miễn dịch. Các protein tạo nên bộ xương ngoài và bên trong bảo vệ nội dung bên trong khỏi những tổn thương cơ học. Và các chất đạm có trong nước bọt và các chất khác, ngăn cản hoạt động của các chất hoá học trên cơ thể. Nói cách khác, chức năng bảo vệ protein là cung cấp các điều kiện cần thiết cho tất cả các quá trình sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Phẩm Chức Năng Amway
  • Bài 6. Axit Nucleic Bai Axitnucleic Ppt
  • Vận Chuyển Các Chất Qua Màng Sinh Chất Van Chuyen Cac Chat Qua Msc Chuyen Ngay 1610 Pptx
  • Các Chức Năng Sharepoint Và Onedrive Mới Giúp Thúc Đẩy Sử Chuyển Đổi Kỹ Thuật Số Của Bạn
  • Onedrive Là Gì? Ưu Điểm Khi Sử Dụng Dịch Vụ Lưu Trữ Onedrive
  • Chức Năng Xúc Tác Của Protein: Ví Dụ. Các Chức Năng Chính Của Protein

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Proteein Trong Tế Bào Chucnangproteintrongtebao Ppt
  • Những Thực Phẩm Chức Năng Mỹ Được Mọi Người Ưa Chuộng
  • Thực Phẩm Chức Năng Của Mỹ
  • Danh Sách 25 Thực Phẩm Chức Năng Của Hoa Kỳ Bán Chạy Nhất Trên Amazon
  • Các Loại Thực Phẩm Chức Năng Của Mỹ Tốt Nhất Hiện Nay
  • Protein được một cách tự nhiên xảy ra các hợp chất hữu cơ trong đó có một cấu trúc phân tử. Các phân tử của các chất này là nerazvetvlyayuschimsya polymer. Protein được xây dựng từ 20 axit amin. Họ là các phân tử cấu trúc đơn vị tối thiểu – monomer. Tất cả các thành phần được kết nối với nhau polypeptide protein, hay nói cách khác – một urê, một mắt xích trong chuỗi thời gian đủ dài. Trong trường hợp này, trọng lượng phân tử có thể dao động từ vài nghìn đến hàng triệu những hạt nguyên tử.

    Gì có thể là một protein

    Để xác định các chức năng chính của protein, nó là cần thiết để hiểu được cấu trúc của các chất này. Hiện nay có hai loại thành phần nhân lực quan trọng này: xơ và hình cầu. Phân biệt chúng chủ yếu là do sự khác biệt trong cấu trúc của phân tử protein.

    chất hình cầu là cũng hòa tan không chỉ trong nước mà còn trong các dung dịch muối. Như vậy như một phân tử protein có hình dạng hình cầu. Như một khả năng hòa tan tốt có thể dễ dàng giải thích vị trí của amino acid tính, được bao bọc bởi một lớp vỏ hydrat hóa, trên bề mặt của giọt. Đây là những gì cung cấp địa chỉ liên lạc tốt với các dung môi khác nhau. Cần lưu ý rằng các thành phần trong nhóm hình cầu bao gồm tất cả các enzym, cũng như protein hầu như tất cả các hoạt tính sinh học.

    Đối với các chất xơ với, các phân tử của họ có một cấu trúc dạng sợi. Chức năng xúc tác của protein rất quan trọng. Do đó rất khó để tưởng tượng hiệu quả của nó không có tá dược. protein sợi nhỏ hợp không hòa tan bất kỳ giải pháp muối, hoặc trong nước bình thường. phân tử của họ được bố trí song song trong chuỗi polypeptide. những chất này đang tham gia vào sự hình thành của một số các yếu tố cấu trúc của mô liên kết. Nó elastin, keratin, collagen.

    Một nhóm đặc biệt của protein phức tạp, trong đó bao gồm không chỉ các axit amin mà còn là nucleic acid, carbohydrate và các chất khác. Tất cả các thành phần này đóng một vai trò quan trọng. Đặc biệt quan trọng là chức năng xúc tác của protein. Bên cạnh đó, chất đó là kế hoạch sắc tố hô hấp, kích thích tố, cũng như một sự bảo vệ đáng tin cậy cho bất kỳ sinh vật. Sinh tổng hợp protein được thực hiện trên các ribosome. Quá trình này được xác định bởi nguồn phát sóng của các axit nucleic.

    Chức năng xúc tác của protein

    xúc tác là gì

    Đã vào năm 2013, các nhà khoa học đã tìm thấy hơn một chút so với 5000 enzym. Những chất này có thể ảnh hưởng đến quá trình hầu như tất cả các phản ứng sinh hóa. Để trở thành chức năng xúc tác rõ ràng hơn của protein, nó là cần thiết để hiểu là những gì xúc tác. Với ngôn ngữ Hy Lạp khái niệm này được dịch là “chấm dứt”. Xúc tác là một sự thay đổi vận tốc dòng chảy của bất kỳ phản ứng hóa học. Điều này xảy ra dưới tác động của các hợp chất nhất định. Enzyme đóng vai trò như một chất xúc tác protein. Các ví dụ về hiện tượng này được tìm thấy thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày. Chỉ cần một người đàn ông không để ý.

    VÍ DỤ chức năng xúc tác

    Để hiểu cách thức hoạt động của các enzyme, nó là giá trị xem xét một vài ví dụ. Vì vậy, chức năng xúc tác của protein là gì. ví dụ:

    1. Trong quá trình quang xúc tác ribulezobifosfatkarboksilaza cung cấp cố định CO 2.
    2. Hydrogen peroxide được chẻ với oxy và nước.
    3. DNA polymerase tổng hợp DNA.
    4. Amylase là sẽ tách có khả năng tinh bột để maltose.

    chức năng vận chuyển

    chức năng quan trọng của mỗi tế bào phải được duy trì bởi các chất khác nhau mà không phải là duy nhất cho vật liệu xây dựng của họ, mà còn là một loại năng lượng. chức năng sinh học bao gồm protein và vận chuyển. Các thành phần này được cung cấp trong các tế bào tất cả các vấn đề quan trọng, bởi vì các màng được xây dựng bằng nhiều lớp lipid. Nó là ở đây và có một loạt các protein. Trong trường hợp này, các vùng ưa nước tất cả tập trung trên bề mặt và đuôi – trong độ dày của màng tế bào. Cấu trúc này không cho phép thâm nhập vào các tế bào là chất rất quan trọng – các ion kim loại kiềm, axit amin và đường. Protein được chuyển tất cả các thành phần vào các tế bào cho chế độ dinh dưỡng của họ. Ví dụ, hemoglobin vận chuyển oxy.

    thụ

    Các chức năng chính của protein không chỉ cung cấp các tế bào năng lượng của cơ thể sống, mà còn giúp xác định các tín hiệu đến từ các tế bào môi trường và láng giềng bên ngoài. Ví dụ nổi bật nhất của hiện tượng này – các thụ thể acetylcholine, nằm trên màng liên lạc về interneural. Quá trình chính nó là rất quan trọng. Protein thực hiện chức năng thụ và sự tương tác của họ với acetylcholine được thể hiện một cách cụ thể. Kết quả là, bên trong tín hiệu tế bào truyền đi. Tuy nhiên, sau một thời gian, dẫn truyền thần kinh phải được loại bỏ. Chỉ trong trường hợp này, các tế bào sẽ có thể nhận được tín hiệu mới. Nó được chức năng này được thực hiện bởi một trong những enzyme – atsetilholtnesteraza mà thực hiện tách lên cholin gidrolizatsetilholina và acetate.

    bảo vệ

    Hệ thống miễn dịch của bất kỳ chúng sanh nào có thể đáp ứng với sự xuất hiện của các hạt nước ngoài trong cơ thể. Trong trường hợp này, các protein được kích hoạt chức năng bảo vệ. Trong cơ thể, có một sự phát triển của một số lượng lớn các tế bào lympho, mà có thể làm hỏng các vi khuẩn, gây bệnh phân tử, và các tế bào ung thư khác. Một trong những nhóm các chất protein cụ thể thế hệ kế tiếp – globulin miễn dịch. Đây là một phân bổ của các chất này trong máu. Các globulin miễn dịch nhận ra các hạt nước ngoài và tạo thành một phức hợp giai đoạn phá hủy rất cụ thể cụ thể. Vì vậy, thực hiện chức năng bảo vệ của protein.

    cấu trúc

    Hàm lượng protein trong tế bào đi không được chú ý cho một người đàn ông. Một số chất là ý nghĩa chủ yếu về cấu trúc. Những protein này cung cấp độ bền cơ học để các mô cá nhân trong sinh vật. Trước hết, đó là collagen. Đây là thành phần chính của ma trận ngoại bào của tất cả các mô liên kết trong cơ thể sống.

    Cần lưu ý rằng trong động vật có vú collagen làm cho khoảng 25% tổng trọng lượng của protein. Tổng hợp các thành phần này xảy ra trong các nguyên bào sợi. Đây là những tế bào cơ bản của bất kỳ mô liên kết. Nguyên hình thành procollagen. Tài liệu này là một tiền thân và được xử lý hóa học, trong đó bao gồm trong quá trình oxy hóa của hydroxyproline để prolin dư lượng, và để gidrksilina dư lượng lysine. Collagen được sản xuất theo hình thức ba chuỗi peptide, xoắn vào một vòng xoáy.

    Đó là không phải tất cả các chức năng của protein. Sinh học – khá một khoa học phức tạp, cho phép bạn để xác định và nhận ra nhiều sự kiện diễn ra trong cơ thể con người. Mỗi chức năng của protein đóng một vai trò đặc biệt. Như vậy, trong các mô đàn hồi, chẳng hạn như phổi, thành mạch máu và da có sự đàn hồi. protein này có thể kéo dài và sau đó trở về hình dạng ban đầu của nó.

    protein động cơ

    Cơ bắp co – một quá trình mà trong đó việc chuyển đổi năng lượng dự trữ dưới dạng các phân tử ATP trong mối liên kết pyrophosphate macroergic, cụ thể là vào công việc cơ khí. Trong trường hợp này, các chức năng của protein trong tế bào hoạt động myosin và actin. Mỗi trong số họ có những đặc điểm riêng của mình.

    Myosin có cấu trúc không bình thường. protein này bao gồm sợi phần đủ dài – đuôi, cũng như một số người đứng đầu hình cầu. Myosin được phát hành, thường ở dạng của một hexame. Thành phần này được hình thành hoàn toàn nhiều chuỗi polypeptide giống hệt nhau, mỗi trong số đó có trọng lượng phân tử 200 ngàn, và cũng có 4 dây chuyền có trọng lượng phân tử chỉ 20.000 là.

    Actin là một protein hình cầu có khả năng polymerize. Khi tài liệu này tạo thành một cấu trúc đủ dài, được gọi là F-actin. Chỉ trong một thành phần nhà nước như vậy thường có thể tương tác với myosin.

    Ví dụ về các chức năng chính của protein

    Mỗi thứ hai trong các tế bào của một cơ thể sống xảy ra các quá trình khác nhau mà sẽ là không thể không có protein. Một ví dụ về chức năng thụ các chất đó có thể đóng vai trò như một tế bào nhắn adrenoceptor gia nhập adrenaline. Khi tiếp xúc với ánh sáng của phân hủy Rhodopsin. Hiện tượng này bắt đầu phản ứng và cây đũa quay.

    Một ví dụ về chức năng vận chuyển hemoglobin vận chuyển oxy đi khắp cơ thể sống.

    Tóm lại

    Đây là tất cả các chức năng sinh học cơ bản của protein. Mỗi trong số họ là rất quan trọng đối với cơ thể sống. Trong chức năng cụ thể này được thực hiện protein tương ứng. Sự vắng mặt của các thành phần như vậy có thể gây ra trục trặc của các cơ quan nhất định và các hệ thống trong cơ thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Proteein Trong Tế Bào (2) Chucnangproteintrongtebao1 Ppt
  • Hai Chức Năng Của Prôtêin
  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 5: Protein
  • Xác Định Con Đường Tín Hiệu Protein Kinase Hoạt Hóa Phân Bào (Mapk) Trong Ung Thư Biểu Mô Tuyến Giáp
  • Tyrosine Kinase, Chức Năng Sinh Học Và Vai Trò Trong Bệnh Ung Thư
  • Chức Năng Của Protein Enzyme Là Gì? Chức Năng Enzyme Protein: Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Điểm Khác Nhau Giữa Adn Và Proteina. Cấu Trúc Adn Và Prôtêin Khác Nhau Ở Những Điểm Cơ Bản Nào? Những Chức Năng Cơ Bản Của Protein ? B. Sự Khác Nhau Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn ; Arn Và Protein .
  • Đâu Không Phải Là Một Trong Những Chức Năng Chính Của Prôtêin ?
  • Huyết Tương Là Gì? Chức Năng Của Huyết Tương
  • Huyết Tương Là Gì? Chức Năng Của Protein Huyết Tương
  • Protein Máu Là Gì? Chỉ Số Bình Thường Là Bao Nhiêu?
  • Công việc của cơ thể chúng ta – một quá trình rất phức tạp, trong đó hàng triệu tế bào tham gia, hàng ngàn chất khác nhau. Nhưng có một khu vực mà là hoàn toàn phụ thuộc vào các protein cụ thể, mà không có đời sống con người hoặc động vật sẽ hoàn toàn không thể. Như bạn có thể đoán, chúng ta đang nói bây giờ về các enzym.

    Hôm nay chúng ta sẽ xem xét các enzyme chức năng của protein. Đây là một khu vực chủ yếu của hóa sinh.

    Kể từ khi nền tảng của các chất này chủ yếu là protein, sau đó họ có thể được xem xét bởi chúng. Bạn nên biết rằng đối với các enzym lần đầu tiên được phát hiện vào những năm 30 của thế kỷ 19, chỉ có các nhà khoa học mất hơn một thế kỷ, để đi đến một định nghĩa nhiều hay ít thống nhất cho họ. Vì vậy, những gì chức năng được thực hiện bởi các enzyme protein? Về vấn đề này, cũng như cấu trúc và các phản ứng trong những ví dụ của họ, bạn sẽ học hỏi từ bài viết này.

    Bạn cần phải hiểu rằng không phải tất cả các protein có thể là một enzyme, ngay cả về mặt lý thuyết. protein hình cầu chỉ tạo khả năng trưng bày hoạt động xúc tác đối với các hợp chất hữu cơ khác với. Như với tất cả các hợp chất tự nhiên trong lớp này, các enzym được cấu tạo của amino acid. Lưu ý rằng chức năng enzyme protein (ví dụ trong số đó sẽ được trong bài viết) có thể được thực hiện chỉ bởi một người có khối lượng phân tử nhỏ hơn 5000.

    một loại enzyme, là gì định nghĩa hiện đại

    Enzym – một chất xúc tác sinh học của xứ. Họ có khả năng tăng tốc phản ứng, do sự tiếp xúc gần gũi giữa các chất phản ứng (chất nền). Chúng tôi có thể nói rằng chức năng enzyme protein – một quá trình một số xúc tác các phản ứng sinh hóa mà là duy nhất cho một cơ thể sống. Chỉ một phần nhỏ trong số họ có thể được sao chép trong phòng thí nghiệm.

    Cần lưu ý rằng trong lĩnh vực này đã có một số bước đột phá trong những năm gần đây. Các nhà khoa học đã dần dần đến gần để tạo ra các enzym nhân tạo có thể được sử dụng không chỉ cho các mục đích kinh tế, mà còn thuốc. Nó được phát triển enzym có hiệu quả có thể tiêu diệt thậm chí khu vực nhỏ của ung thư phôi thai.

    Phần nào của các enzym tham gia trực tiếp trong phản ứng?

    Lưu ý rằng, tiếp xúc với bề mặt không bao gồm toàn bộ cơ thể của enzyme, nhưng chỉ một phần nhỏ trong số đó được gọi là vị trí hoạt động. Đây là tài sản chính của họ về bổ sung. Khái niệm này ngụ ý rằng các enzyme là lý tưởng để các chất nền trong các hình thức và tính chất vật lý và hóa học của chúng. Chúng tôi có thể nói rằng chức năng của enzyme trong trường hợp này là như sau:

    • nước của họ đi xuống từ bề mặt vỏ.
    • Có một biến dạng nhất định (phân cực, ví dụ).
    • Sau đó họ được sắp xếp theo một cách đặc biệt trong không gian, trong khi di chuyển gần hơn với nhau.

    Những yếu tố dẫn đến sự tăng tốc của phản ứng. Bây giờ, chúng ta hãy làm một so sánh giữa các enzym và các chất xúc tác vô cơ.

    Như bạn có thể thấy, các chức năng của enzyme protein đòi hỏi đặc hiệu. Bởi chính nó cũng sẽ bổ sung thêm rằng nhiều người trong các protein này cũng có loài cụ thể. Đơn giản chỉ cần đặt, các enzym con người hầu như không thích hợp cho một con lợn guinea.

    Thông tin quan trọng về cấu trúc của enzyme

    Cấu trúc của các hợp chất này được tách ra ngay lập tức ba cấp độ. Cấu trúc chính có thể được xác định bởi các amino acid là một phần của các enzym. Kể từ khi chức năng enzyme protein, ví dụ về mà chúng tôi đã nhiều lần được trích dẫn trong bài viết này, có thể được thực hiện chỉ bởi một số loại hợp chất, để xác định chúng một cách chính xác trên cơ sở đó là khá thực tế.

    Đối với cấp trung học, các phụ kiện sung được xác định bằng phương pháp loại bổ sung của trái phiếu có thể xảy ra giữa các amino acid. hydro này thông tin liên lạc, điện, kỵ nước, và der Waals tương tác Van. Như một kết quả của sự căng thẳng gây ra những kết nối này trong các phần khác nhau của enzyme sản xuất α-xoắn, vòng lặp và β-sợi.

    Cấu trúc đại học là kết quả của sự kiện là phần tương đối lớn của chuỗi polypeptide đơn giản là gấp. Những sợi kết quả là được gọi là lĩnh vực. Cuối cùng, sự hình thành cuối cùng của cấu trúc này diễn ra chỉ sau khi một sự tương tác ổn định thành lập giữa các lĩnh vực khác nhau. Nên nhớ rằng sự hình thành của các lĩnh vực mình đi một cách hoàn toàn độc lập với nhau.

    Một số đặc điểm miền

    Thông thường, các chuỗi polypeptide mà từ đó chúng được hình thành, bao gồm khoảng 150 amino acid. Khi lĩnh vực tương tác với nhau, tạo thành giọt. Kể từ khi chức năng được thực hiện bởi các trang web hoạt động enzyme dựa vào chúng, nên hiểu tầm quan trọng của quá trình này.

    Tên miền riêng của mình được đặc trưng bởi thực tế là giữa amino acid trong cấu trúc của nó có rất nhiều tương tác. số của họ là cao hơn rất nhiều đối với những phản ứng giữa bản thân lĩnh vực. Như vậy, khoang giữa chúng tương đối “dễ bị tổn thương” cho hành động của dung môi hữu cơ khác nhau. Khối lượng của trật tự từ 20-30 angstrom khối phù hợp với nhiều phân tử nước. lĩnh vực khác nhau thường có một cấu trúc ba chiều hoàn toàn độc đáo, đó là liên kết với việc thực hiện các chức năng hoàn toàn khác nhau.

    các trang web hoạt động

    Như một quy luật, các trang web hoạt động đều nằm đúng giữa các lĩnh vực. Theo đó, mỗi trong số đó đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phản ứng. Do sự sắp xếp này của các lĩnh vực tìm thấy sự linh hoạt đáng kể, sự nhanh nhẹn trong lĩnh vực enzyme. Đây là cực kỳ quan trọng, vì các chức năng enzym được thực hiện chỉ có những hợp chất phù hợp có thể thay đổi vị trí không gian của nó.

    Giữa chiều dài trái phiếu polypeptide trong cơ thể của enzyme, và bởi các chức năng như thế nào phức tạp mà họ thực hiện, có một liên kết trực tiếp. vai trò phức tạp cả đạt được bằng cách hình thành các vị trí hoạt động của phản ứng giữa miền xúc tác và do sự hình thành các lĩnh vực hoàn toàn mới.

    Một số protein, enzyme (ví dụ – lysozyme và glycogen) có thể khác nhau rất nhiều về kích thước (129 và 842 amino acid, tương ứng), mặc dù phản ứng được xúc tác phân cắt của liên kết hóa học của các loại tương tự. Sự khác biệt là các enzym lớn hơn và lớn có thể kiểm soát tốt hơn vị trí của nó trong không gian, đảm bảo sự ổn định lớn hơn và tốc độ của phản ứng.

    Việc phân loại chính của các enzym

    1. Oxidoreductases. Chức năng của các enzyme trong trường hợp này – kích thích các phản ứng oxi hóa khử.

    2. Transferases. Có thể thực hiện các chất chuyển giữa các nhóm sau:

    • đơn vị One-carbon.
    • Còn lại của aldehyt và xeton.
    • Acyl và glycosyl thành phần.
    • Alkyl (như là một ngoại lệ không thể chịu đựng CH3) dư lượng.
    • căn cứ đạm.
    • Nhóm có chứa phốt pho.

    3. Hydrolases. Trong trường hợp này, các chức năng của enzyme là để tách các protein của các loại sau đây của các hợp chất:

    • Este.
    • Glycosides.
    • Este và thioesters.
    • trái phiếu loại peptide.
    • loại mối quan hệ CN (trừ các peptide giống nhau).

    4. Lyases. Có khả năng tách rời nhóm với hình tiếp theo của một liên kết đôi. Hơn nữa, có thể thực hiện quá trình nghịch đảo: tham gia nhóm được lựa chọn để tăng gấp đôi trái phiếu.

    5. isomerase. Trong trường hợp này, các chức năng của enzyme protein phức tạp phản ứng xúc tác đồng phân. Nhóm này bao gồm các enzym sau:

    • Racemase, epimerase.
    • Tsistransizomerazy.
    • oxidoreductases nội phân tử.
    • transferases nội phân tử.
    • lyase nội phân tử.

    6. ligases (hay còn gọi là synthetase). Chúng được sử dụng để tách của ATP trong khi hình thành một số kết nối.

    Nó rất dễ dàng để nhận thấy rằng các chức năng của enzyme protein là vô cùng quan trọng, vì họ là đối với một số kiểm soát mức độ hầu như tất cả các phản ứng diễn ra mỗi giây trong cơ thể bạn.

    Những gì còn lại của enzyme sau khi tương tác với các chất nền?

    Thông thường, các enzyme là một protein có nguồn gốc hình cầu, trung tâm hoạt động trong số đó được thể hiện bằng cùng một amino acid của nó. Trong mọi trường hợp khác, ở phần trung tâm kết nối vững chắc với nó nhóm giả hoặc coenzyme (ATP, ví dụ), mối quan hệ là yếu hơn nhiều. Một chất xúc tác gọi là holoenzyme, và dư lượng của nó, sau khi loại bỏ các apoenzyme ATP hình thành.

    Như vậy, theo tính năng này enzyme phân thành các nhóm sau:

    • Đơn giản hydrolase, lyase, và isomerase, mà nói chung không chứa cơ sở coenzyme.
    • protein enzyme (ví dụ – một số transaminase) bao gồm một nhóm giả (axit lipoic, ví dụ). Nhóm này bao gồm nhiều peroxidase.
    • Enizmy mà cần tái tạo coenzyme. Chúng bao gồm kinase, cũng như hầu hết các oxidoreductases.
    • chất xúc tác khác, các thành phần trong đó là không hiểu chưa đầy đủ.

    Tất cả các chất mà là một phần của nhóm đầu tiên, được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm. Tất cả các chất xúc tác khác đòi hỏi điều kiện rất cụ thể để kích hoạt nó, và do đó chỉ có tác dụng trong cơ thể, hoặc trong một số thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Như vậy, chức năng của enzyme – đây là một phản ứng rất cụ thể, trong đó bao gồm trong việc kích thích (xúc tác) phản ứng trong một số loại điều kiện rõ ràng của cơ thể con người hoặc động vật.

    Chuyện gì xảy ra tại vị trí hoạt động, hoặc lý do tại sao các enzym làm việc rất hiệu quả?

    Chúng tôi đã nhiều lần nói rằng chìa khóa để hiểu biết về xúc tác enzyme là việc tạo ra các trung tâm hoạt động. Chính ở đó mà những ràng buộc cụ thể của bề mặt, mà trong điều kiện như vậy là nhiều tích cực hơn phản ứng. Để cho bạn hiểu sự phức tạp của các phản ứng được thực hiện ở đó, đưa ra một ví dụ đơn giản để xảy ra quá trình lên men glucose, nó là cần thiết một lần 12 enzyme! Tương tự tương tác khó khăn trở thành có thể chỉ do thực tế rằng một loại protein mà thực hiện chức năng của enzyme có mức độ cao nhất của đặc hiệu.

    Các loại enzyme đặc hiệu

    Nó là tuyệt đối. Trong trường hợp này, các đặc trưng được hiển thị chỉ có một, được xác định đúng loại enzyme. Như vậy, urease chỉ tương tác với urê. Với sữa lactose như nó đi vào phản ứng dưới bất kỳ điều kiện. Đó là những gì chức năng được thực hiện bởi các protein, enzyme trong cơ thể.

    Bên cạnh đó, nhóm không phải là phổ biến đặc hiệu tuyệt đối. Như có thể hiểu từ tên gọi, trong trường hợp này có “tiếp nhận” Nghiêm một lớp học của các hợp chất hữu cơ (este, trong đó có rượu phức tạp hoặc aldehyt). Ví dụ, pepsin, đó là một trong những enzyme quan trọng của dạ dày, chỉ cho thấy đặc hiệu cho quá trình thủy phân của liên kết peptide. Alcohol dehydrogenase tương tác độc quyền với rượu và laktikodegidraza không chia bất cứ điều gì khác hơn là axit alpha-hydroxy.

    Nó cũng xảy ra rằng các đặc tính chức năng của enzyme của một nhóm đặc biệt các hợp chất, nhưng trong điều kiện nhất định, các enzym có thể hoạt động trên khá khác biệt so với chính “mục đích” của họ về một chất. Trong trường hợp này, chất xúc tác “xu hướng” tới lớp nhất định các chất, nhưng trong điều kiện nhất định nó có thể tách và các hợp chất khác (không nhất thiết phải tương đương). Tuy nhiên, trong trường hợp này, phản ứng sẽ đi chậm hơn.

    Rộng rãi biết đến với khả năng của trypsin để hành động liên kết peptide, nhưng ít người biết rằng protein này mà thực hiện chức năng của enzym trong đường tiêu hóa, cũng có thể phản ứng với các hợp chất este khác nhau.

    Cuối cùng, có tính đặc hiệu của quang. Những enzyme có thể tương tác với một loạt các chất liệt kê hoàn toàn, nhưng chỉ với điều kiện họ có một tính chất quang học được xác định rõ. Như vậy, chức năng của enzyme protein trong trường hợp này rất giống với nguyên tắc hành động không phải là enzyme, chất xúc tác và nguồn gốc vô cơ.

    Những yếu tố nào xác định hiệu quả của xúc tác?

    Ngày nay, người ta tin rằng yếu tố quyết định một mức độ rất cao về hiệu quả của các enzym là:

    • tập trung có hiệu lực.
    • không gian hiệu lực định hướng.
    • Sự linh hoạt của trung tâm phản ứng tích cực.

    Nói chung, ảnh hưởng của nồng độ chất không khác với trong các phản ứng xúc tác vô cơ. Trong trường hợp này, nồng độ chất nền như vậy, mà là lớn hơn một giá trị tương tự cho tất cả những thứ khác thể tích dung dịch ở trung tâm hoạt động nhiều lần. Ở trung tâm phản ứng một cách chọn lọc phân loại chất phân tử mà phải phản ứng với nhau. Nó không phải là khó để đoán rằng hiệu ứng này dẫn đến sự gia tăng tốc độ phản ứng hóa học vài bậc.

    Khi một quá trình hóa học tiêu chuẩn diễn ra, nó là vô cùng quan trọng, là một phần của các phân tử tương tác sẽ va chạm với nhau. Một cách đơn giản, chất của phân tử tại thời điểm va chạm phải được định hướng đúng tương đối với nhau. Do thực tế là được thực hiện dưới sức ép, sau đó tất cả các thành phần tham gia được sắp xếp theo một đường nhất định, phản ứng xúc tác được tăng tốc lên khoảng ba đơn đặt hàng của một lượt như vậy trong vị trí hoạt động của enzyme.

    Dưới multifunctionality trong trường hợp này nó đề cập đến một tài sản của tất cả các thành phần của trang web hoạt động cùng một lúc (hoặc Nghiêm phối hợp) hành động trên phân tử “điều trị” chất. Trong đó một (phân tử) không chỉ cố định phù hợp trong không gian (xem. Trên), nhưng thay đổi cũng rất đặc trưng của nó. Tất cả điều này cùng dẫn đến một thực tế là enzyme đang trở thành dễ dàng hơn để hoạt động trên bề mặt khi cần thiết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Protein (Đạm) Là Gì? Vai Trò Của Đạm Với Cơ Thể
  • Phát Biểu Nào Dưới Đây Về Protein Là Không Đúng?
  • Vai Trò Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Protein Là Gì Và Chúng Có Chức Năng Như Thế Nào?
  • Protein Là Gì? Vai Trò Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Khái Niệm Và Chức Năng Của Protein

    --- Bài mới hơn ---

  • Protein Là Gì? Chức Năng Của Protein Đối Với Sức Khỏe Con Người
  • Chức Năng Của Thận Đối Với Cơ Thể
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gan
  • 14 Mẹo Dùng Airpods 2 Hay Nhất Mà Bạn Nên Thử – Ithuthuat
  • Làm Thế Nào Chúng Ta Có Thể Tự Động Phù Hợp (Tự Động Điều Chỉnh) Chiều Rộng Cột (Chiều Rộng) Và Chiều Cao Của Hàng (Chiều Cao) Trong Ms Office Excel
  • Protein là những phân tử lớn, phức tạp, đóng nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể. Chúng thực hiện hầu hết các công việc trong tế bào và cần thiết cho cấu trúc, chức năng và sự điều chỉnh của các mô và cơ quan của cơ thể.

    Protein được tạo thành từ hàng trăm hoặc hàng nghìn đơn vị nhỏ hơn được gọi là axit amin, chúng được gắn với nhau thành chuỗi dài. Có 20 loại axit amin khác nhau có thể kết hợp để tạo ra protein. Trình tự các axit amin xác định cấu trúc 3 chiều độc đáo của mỗi protein và chức năng cụ thể của nó.

    Chức năng

    Mô tả

    Ví dụ

    Kháng thể

    Kháng thể bám vào các vật thể lạ cụ thể như virus, vi khuẩn để giúp bảo vệ cơ thể.

    Immunoglobulin G (IgG)

    Enzyme

    Enzyme thực hiện gần như tất cả hàng nghìn phản ứng hóa học diễn ra trong tế bào. Chúng cũng hỗ trợ việc hình thành các phân tử mới bằng cách đọc thông tin di truyền được lưu trữ trong ADN.

    Phenylalanine hydroxylase

    Chất truyền tín hiệu

    Các protein truyền tín hiệu, chẳng hạn như một số loại hormone, điều phối các quá trình sinh học giữa các tế bào, mô và cơ quan khác nhau.

    Hormone tăng trưởng

    Thành phần cấu trúc

    Các protein này cung cấp cấu trúc và hỗ trợ cho các tế bào. Ở quy mô lớn hơn, chúng cũng cho phép cơ thể di chuyển.

    Actin

    Vận chuyển/lưu trữ

    Các protein này liên kết và mang các nguyên tử và phân tử nhỏ trong tế bào và khắp cơ thể.

    Ferritin

    Tài liệu tham khảo

    1. U.S National Library of Medicine. What are proteins and what do they do? Retrieved July 14, 2022 from https://ghr.nlm.nih.gov/primer/howgeneswork/protein

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hậu Quả Của Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Nguyên Nhân Và Giải Pháp Xử Lý Ô Nhiễm Không Khí Trong Nhà
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Nước Trên Thế Giới Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Cấp Bách Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Cập nhật lúc: 14:07 07-10-2016 Mục tin: Sinh học lớp 10

    Tại sao trâu và bò cùng ăn cỏ mà vị thịt của trâu bò lại khác thịt bò ?

    Ngoài ADN và ARN thì prôtêin cũng là một đại phân tử sinh học được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, mà các đơn phân của prôtêin là các axit amin (aa). Prôtêin có cấu trúc và chức năng cụ thể như sau:

    1. Cấu trúc prôtêin:

    Hình 1: Cấu tạo của axit amin

    – Các aa liên kết với nhau bằng liên kết peptit (nhóm amin của aa này liên kết với nhóm cacbôxin của aa tiếp theo và giải phóng 1 phân tử nước) tạo thành chuỗi pôlipeptit. Mỗi phân tử prôtêin gồm 1 hay nhiều chuỗi pôlipeptit.

    Hình 2: Liên kết peptit trong phân tử protein

    Prôtêin có 4 bậc cấu trúc cơ bản như sau:

    Cấu trúc bậc 1: là trình tự sắp xếp các aa trong chuỗi pôlipeptit.

    Cấu trúc bậc 2: là chuỗi pôlipeptit bậc 1 có câu trúc xoắn hình lò xo.

    Cấu trúc bậc 3: do cấu trúc bậc 2 uốn khúc đặc trưng cho mỗi loại prôtêin.

    Cấu trúc bậc 4: do nhiều cấu trúc bậc 3 kết hợp thành khối cầu.

    Prôtêin chỉ thực hiện được chức năng ở cấu trúc không gian (cấu trúc bậc 3 hoặc bậc 4).

    Hình 3: Cấu trúc hoá học của protein

    Prôtêin có tính đa dạng và đặc thù: được quy định bởi số lượng + thành phần + trật tự sắp xếp của các aa trong chuỗi pôlipeptit.

    Câu 1: Tại sao một số vi sinh vật sống được trong suối nước nóng có nhiệt độ cao ( 100 0 C) mà protein của chúng không bị hỏng

    Do protein có cấu trúc đặc biệt

    Câu 2 : Tại sao khi nấu canh cua, protein cua nổi thành từng mảng?

    Trong môi trường nước, protein thường quay phần kị nước vào bên trong và phần ưa nước ra bên ngoài . Ở nhiệt độ cao các phân tử chuyển động hỗn loạn làm cho các phần kị nước ở bên trong chuyển ra bên ngoài . Nhưng do bản chất kị nước nên các phân tử kị nước của phân tử này ngay lập tức liên kết với phần kị nước của phân tử khác làm cho phân tử nọ liên kết với phân tử kia

    Câu 3 : Tại sao có những người khi ăn nhộng tằm cua lại bị dị ứng?

    Vì các protein khác nhau trong thức ăn sẽ được các en zyme tiêu hoá thành các aa được hấp thụ qua đường ruột vào máu. Nếu protein không được tiêu hoá sẽ xâm nhập và máu gây tác nhân lạ gây dị ứng

    Câu 4: Tại sao trâu và bò cùng ăn cỏ mà vị thịt của trâu bò lại khác thịt bò ?

    Vì protein vào trong hệ tiêu hoá được phân giải thành các aa , các aa là nguyên liệu tổng hợp nên protein của các loài , mà protein của các loại

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Adn Là Gì? Cấu Trúc Không Gian Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Adn Và Gen
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn
  • Chức Năng Bảo Vệ Của Protein. Chức Năng Bảo Vệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Loại Protein Và Chức Năng Của Chúng Với Sức Khỏe Như Thế Nào?
  • 7 Loại Bột Protein Tốt Nhất
  • 42 Thực Phẩm Giàu Protein Tăng Cơ Tốt Nhất Cho Người Tập Gym
  • Top 12 Loại Thực Phẩm Giàu Protein Tốt Cho Sức Khỏe
  • 20 Thực Phẩm Giàu Protein, Ngon Miệng Dễ Ăn
  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO KẾT LUẬN

    Τᴀᴋᴎᴍ ᴏϬᴩᴀᴈᴏᴍ, những phẩm chất cá nhân chính của một doanh nhân là: tính độc lập; tham vọng; sự bền bỉ; công việc khó khăn; độ cứng. Sự hiện diện của những đặc điểm tính cách như vậy là một trong những điều kiện quan trọng nhất để thành công.

    Ngoài những phẩm chất cá nhân, một doanh nhân phải có một tập hợp các kiến u200bu200bthức, kỹ năng và khả năng cụ thể trong lĩnh vực mà anh ta làm việc. Rõ ràng là để thực hiện thành công các giao dịch tài chính, một doanh nhân cần ít nhất một bộ kiến u200bu200bthức tối thiểu trong lĩnh vực tài chính và tín dụng và kế toán, và một người quyết định tổ chức sản xuất đồ nội thất phải có trình độ tối thiểu về kỹ thuật. Tuy nhiên, những hạn chế này không mang tính quyết định. Thường xảy ra trường hợp một doanh nhân nhận được những kiến u200bu200bthức và kỹ năng đặc biệt đã có trong quá trình phát triển doanh nghiệp của mình, và ở giai đoạn đầu tiên, anh ta hành động bằng trực giác hoặc với sự trợ giúp của các chuyên gia thu hút. Cái chính ở đây là mong muốn học hỏi, nâng cao trình độ để cải thiện công việc kinh doanh, và mong muốn đó thuộc về phẩm chất cá nhân (tò mò, kiên trì, tham vọng).

    Việc nghiên cứu tính cách của một doanh nhân bằng các bài kiểm tra tâm lý không chỉ giúp làm rõ một số khía cạnh trong tính cách của anh ta mà còn cho thấy anh ta nên làm việc theo hướng nào để tăng hiệu quả của hoạt động kinh doanh của mình.

    Akperov I. G., Maslikova J. V. Tâm lý học về khởi nghiệp. – M: Tài chính và Thống kê, 2003.

    Zavyalova E. K, Posokhova S. T. Tâm lý học khởi nghiệp: sách giáo khoa. – SPb .: Ed. SPbSU, 2004.

    Meneghetti A. Tâm lý học của Lãnh đạo. – M., 2001. – S. 15.

    Platonov K.K.Sự xây dựng và phát triển nhân cách. – M .: Nauka, 1986.S. 24.

    Tinh thần kinh doanh: Sách giáo khoa / Ed. M.L. Lapusta. – M .: INFRA-M, 2003.

    Steven J. Huấn luyện rồng của bạn. – SPb .: Peter-pss, 1996.

    Shcherbatykh Yu V. Tâm lý học khởi nghiệp và kinh doanh: SGK. – SPb .: Peter, 2008.S. 45.

    Shcherbatykh Yu V. Tâm lý thành công. – M .: Eksmo, 2005.

    Màng nhầy khá mịn

    Bôi với chất nhầy (được sản xuất bởi các tuyến nhầy của màng)

    Chất nhầy – bao bọc m / o, độ nhớt không cho phép xâm nhập vào máu

    · Tích tụ mô bạch huyết – bao gồm các tế bào lympho ở các mức độ trưởng thành khác nhau. Mô bạch huyết hình thành các cụm:

    ü Amidan – nằm ở phần đầu của ống tiêu hóa và hô hấp:

    o Amidan vòm họng – ở hai bên yết hầu

    o Lưỡi – ở khu vực gốc của lưỡi

    o Amidan hầu – m / ở thành trên và thành sau của mũi họng (fornix) dưới hạch lao

    o Amidan ống – gần lỗ yết hầu của ống thính giác

    ü Các nang đơn – nằm dọc theo toàn bộ chiều dài của PT, tổng trọng lượng của chúng khoảng 2 kg;

    ü Các mảng bạch huyết – chứa hàng chục tế bào lympho, chỉ được tìm thấy ở hồi tràng – Các bản vá lỗi của Peyer, số lượng của chúng khoảng 20-30

    ü Ruột thừa – màng nhầy của nó chứa mô bạch huyết. nó amiđan ruột.

    · Sự luân phiên của các môi trường khác nhau trong ống tiêu hóa.

    Với sự suy yếu của các thiết bị bảo vệ, khả năng miễn dịch giảm !!!

    – hóa chất chế biến thực phẩm – Được thực hiện bởi dịch tiêu hóa do tuyến tiêu hóa tiết ra. Trong suốt p.t. có các tuyến:

    Theo kích cỡ:

    Lớn

    Các tuyến nước bọt lớn (mang tai, dưới hàm, dưới lưỡi)

    Gan – sản xuất mật đi vào tá tràng

    Pancreas – dịch tụy, insulin.

    Các tuyến nước bọt nhỏ (âm hộ, hai bên, vòm miệng, ngôn ngữ)

    Tuyến dạ dày

    Các tuyến ruột – trong màng nhầy của ruột non

    Bằng cách bản địa hóa:

    Trong độ dày của màng nhầy

    Nước bọt nhỏ

    Dạ dày

    Các tuyến của hỗng tràng và hồi tràng của ruột non

    Dưới lớp niêm mạc

    Tuyến tá tràng

    Bên ngoài ống tiêu hóa

    Tất cả các tuyến lớn

    Điều trị hóa chất trong khoang miệng – nước bọt, trong dạ dày – dịch vị, 12pc – mật, dịch tụy. và bản thân tuyến là 12pk, trong hỗng tràng và hồi tràng – dưới ảnh hưởng của dịch tiết của chính nó. Quá trình xử lý hóa học kết thúc ở ruột non. Trong ruột già, chất xơ bị phân hủy bởi vi sinh vật (m / s).

    – hấp thụ chất dinh dưỡng – chất dinh dưỡng được hấp thụ vào máu và mạch bạch huyết. Hút bắt đầu:

    Trong khoang miệng (sản phẩm thuốc, rượu)

    Dạ dày (l / s, rượu, chất dinh dưỡng)

    Ruột non là quá trình hấp thụ chính

    Ruột già – chủ yếu là nước được hấp thụ

    Ruột non dài, màng nhầy của nó có:

    1. Các nếp gấp hình tròn, chúng làm tăng bề mặt hút. Các van hình thành trên biên giới giữa các bộ phận

    2. Villi – từ 1,5 đến 4 triệu, chiều cao 1mm, thành rất mỏng.

    3. Crypts – chỗ lõm niêm mạc

    4. Tế bào biểu mô có các tế bào phát triển ngoài – vi nhung mao (lên đến 300 mỗi tế bào).

    Τᴀᴋᴎᴍ ᴏϬᴩᴀᴈᴏᴍ, diện tích của màng nhầy là 1500 m 2.

    Lớp dưới niêm mạc. Bao gồm các mô liên kết lỏng lẻo. Mục đích:

    Cố định màng nhầy vào cơ;

    Cung cấp sự cố định linh hoạt – màng nhầy tạo thành các nếp gấp

    Tàu và dây thần kinh đi qua

    Màng cơ. Được tạo thành bởi mô cơ trơn. Nhưng xung quanh khoang miệng, các cơ của hầu, 1/3 trên của thực quản, phần dưới của trực tràng có vân.

    Lớp cơ của ống tiêu hóa tạo thành hai lớp:

    Dọc – bên ngoài)

    Rút ngắn ống tiêu hóa,

    Làm thẳng các khúc cua

    Chữ thập (hình tròn) – bên trong

    Cung cấp nhu động – thu hẹp lòng ruột giống như sóng

    · Hình thành các cơ vòng – dày cục bộ giữa các phần của PT. (thực quản – dạ dày, dạ dày – 12pc, ruột non – ruột già, ở phần dưới của trực tràng).

    Cơ vòng được củng cố bởi các van – chống lại cơ vòng, màng nhầy tạo thành một nếp gấp hình tròn. Có các đám rối tĩnh mạch ở màng nhầy dưới các van.

    Cơ vòng + Van + Đám rối tĩnh mạch u003d bộ máy đóng.

    Mục đích: ngăn ngừa sự trống rỗng sớm của bộ phận bên trên; ngăn nội dung được quảng bá trở lại.

    Chỉ có dạ dày có ba lớp (+ lớp xiên), vì nó hoạt động như một ổ chứa và trộn thức ăn. Tử cung, bàng quang và tim cũng có ba lớp – bể chứa phải được làm trống hoàn toàn.

    Màng mô liên kết không nằm trong khoang bụng: hầu, thực quản, trực tràng ở ngoài. Bao gồm một vỏ mô liên kết lỏng lẻo:

    Cố định các cơ quan vào xương

    · Kết nối các cơ quan với nhau. Không có khoảng trống giữa các cơ quan, nó chứa đầy các mô liên kết lỏng lẻo

    Cung cấp khả năng di chuyển của các cơ quan – cung cấp khả năng di chuyển chức năng của cơ quan

    Các mạch và dây thần kinh đi qua nó (trong các lớp dân cư)

    Màng thanh dịch – các cơ quan của khoang bụng, được tạo thành bởi phúc mạc. Các mục đích tương tự như vỏ dệt kết nối.

    Chức năng bảo vệ – khái niệm và các loại. Phân loại và tính năng của loại “Chức năng bảo vệ” 2022, 2022.

    Cũng như các đại phân tử sinh học khác (polysaccharid, lipid và axit nucleic), protein là thành phần thiết yếu của tất cả các cơ thể sống và đóng vai trò quyết định trong hoạt động sống của tế bào. Protein thực hiện quá trình trao đổi chất. Chúng là một phần của cấu trúc nội bào – bào quan và tế bào, được tiết ra không gian ngoại bào, nơi chúng có thể hoạt động như một tín hiệu truyền giữa các tế bào, tham gia vào quá trình thủy phân thức ăn và hình thành chất gian bào.

    Việc phân loại protein theo chức năng của chúng khá tùy ý, vì một loại protein và cùng một loại protein có thể thực hiện một số chức năng. Một ví dụ đã được nghiên cứu kỹ về tính đa chức năng này là lysyl-tRNA synthetase, một loại enzyme từ lớp aminoacyl-tRNA synthetase không chỉ gắn một phần dư lysine vào tRNA mà còn điều chỉnh quá trình phiên mã của một số gen. Protein thực hiện nhiều chức năng do hoạt động enzym của chúng. Vì vậy, các enzym là myosin của protein vận động, protein điều hòa của protein kinase, protein vận chuyển natri-kali adenosine triphosphatase, v.v.

    Mô hình phân tử của enzym urease vi khuẩn vi khuẩn Helicobacter pylori

    Chức năng xúc tác

    Chức năng nổi tiếng nhất của protein trong cơ thể là xúc tác các phản ứng hóa học khác nhau. Enzyme là những protein có tính chất xúc tác cụ thể, tức là mỗi enzyme xúc tác một hoặc nhiều phản ứng giống nhau. Enzyme xúc tác các phản ứng phân cắt các phân tử phức tạp (dị hóa) và tổng hợp chúng (đồng hóa), bao gồm sao chép và sửa chữa DNA và tổng hợp chất nền RNA. Đến năm 2013, hơn 5.000.000 enzym đã được mô tả. Sự tăng tốc của phản ứng do xúc tác của enzym có thể rất lớn: ví dụ, phản ứng được xúc tác bởi enzym orotidine-5′-phosphat decarboxylase tiến hành nhanh hơn 10 17 lần so với phản ứng không xúc tác (một nửa phản ứng khử carboxyl của axit orotic là 78 u200bu200btriệu năm mà không có enzym và 18 mili giây với sự tham gia của enzym) Các phân tử gắn vào một enzym và thay đổi do kết quả của phản ứng được gọi là cơ chất.

    Mặc dù thực tế là các enzym thường bao gồm hàng trăm gốc axit amin, chỉ một phần nhỏ trong số chúng tương tác với cơ chất, và thậm chí ít hơn – trung bình 3-4 gốc axit amin, thường nằm xa nhau trong cấu trúc chính – tham gia trực tiếp vào quá trình xúc tác … Phần của phân tử enzyme cung cấp liên kết cơ chất và xúc tác được gọi là vị trí hoạt động.

    Năm 1992, Liên minh Quốc tế về Hóa sinh và Sinh học phân tử đề xuất phiên bản cuối cùng của danh pháp phân cấp của các enzym dựa trên loại phản ứng mà chúng xúc tác. Theo danh pháp này, tên enzyme phải luôn kết thúc bằng: aza và bắt nguồn từ tên của các phản ứng được xúc tác và chất nền của chúng. Mỗi enzym được gán một mã riêng để dễ dàng xác định vị trí của nó trong hệ thống phân cấp enzym. Theo loại phản ứng được xúc tác, tất cả các enzym được chia thành 6 lớp:

    • CF 1: Các chất oxy hóa xúc tác phản ứng oxy hóa khử;
    • CF 2: Chuyển giao xúc tác cho việc chuyển các nhóm hóa học từ phân tử cơ chất này sang phân tử cơ chất khác;
    • CF 3: Các hydrolaza xúc tác quá trình thủy phân các liên kết hóa học;
    • CF 4: Các chất xúc tác xúc tác sự phá vỡ các liên kết hóa học mà không bị thủy phân với sự hình thành của một liên kết đôi trong một trong các sản phẩm;
    • CF 5: Isomerase xúc tác sự thay đổi cấu trúc hoặc hình học trong phân tử cơ chất;
    • CF 6: Các chất xúc tác xúc tác sự hình thành các liên kết hóa học giữa các chất nền bằng cách thủy phân liên kết diphosphat của ATP hoặc một triphosphat tương tự.

    Chức năng cấu trúc

    Thêm chi tiết: Chức năng cấu trúc của protein, Protein dạng sợi

    Các protein cấu trúc của tế bào, như một loại phần ứng, tạo hình dạng cho tế bào và nhiều bào quan và tham gia vào việc thay đổi hình dạng của tế bào. Hầu hết các protein cấu trúc là dạng sợi: ví dụ, các monome actin và tubulin là các protein hình cầu, hòa tan, nhưng sau khi trùng hợp, chúng tạo thành các sợi dài tạo nên bộ xương tế bào, giúp tế bào duy trì hình dạng của nó. Collagen và elastin là thành phần chính của chất gian bào của mô liên kết (ví dụ, sụn), và tóc, móng tay, lông chim và một số vỏ được cấu tạo từ một protein cấu trúc khác, keratin.

    Chức năng bảo vệ

    Thêm chi tiết: Chức năng bảo vệ của protein

    Có một số loại chức năng bảo vệ của protein:

    1. Bảo vệ bằng hóa chất. Sự liên kết của chất độc với các phân tử protein có thể giải độc chúng. Một vai trò đặc biệt quyết định trong việc giải độc ở người là do các enzym gan phân hủy chất độc hoặc chuyển chúng thành dạng hòa tan, góp phần đào thải chúng ra khỏi cơ thể nhanh chóng.

    Chức năng điều tiết

    Thêm chi tiết: Chất hoạt hóa (protein), Proteasome, Chức năng điều tiết của protein

    Nhiều quá trình bên trong tế bào được điều chỉnh bởi các phân tử protein, chúng không phải là nguồn năng lượng cũng như vật liệu xây dựng cho tế bào. Các protein này điều chỉnh sự tiến triển của tế bào thông qua chu kỳ tế bào, phiên mã, dịch mã, nối, hoạt động của các protein khác và nhiều quá trình khác. Chức năng điều hòa của protein được thực hiện do hoạt động của enzym (ví dụ, protein kinase), hoặc do liên kết cụ thể với các phân tử khác. Do đó, các yếu tố phiên mã, protein hoạt hóa và protein kìm hãm có thể điều chỉnh cường độ phiên mã gen bằng cách liên kết với trình tự điều hòa của chúng. Ở mức độ dịch mã, việc đọc nhiều mRNA cũng được điều chỉnh bởi sự gắn các yếu tố protein.

    Protein kinase và protein phosphatase đóng một vai trò quan trọng trong việc điều hòa các quá trình nội bào – các enzym kích hoạt hoặc ngăn chặn hoạt động của các protein khác bằng cách gắn hoặc phân cắt các nhóm photphat vào chúng.

    Chức năng tín hiệu

    Thêm chi tiết: Chức năng truyền tín hiệu protein, Nội tiết tố, Cytokine

    Chức năng truyền tín hiệu của protein là khả năng của protein đóng vai trò là chất truyền tín hiệu, truyền tín hiệu giữa các tế bào, mô, cơ quan và sinh vật. Chức năng truyền tín hiệu thường được kết hợp với chức năng điều hòa, vì nhiều protein điều hòa nội bào cũng thực hiện việc truyền tín hiệu.

    Chức năng truyền tín hiệu được thực hiện bởi các protein-Hormon, Cytokine, các yếu tố tăng trưởng, v.v.

    Hormone được vận chuyển bởi máu. Hầu hết các kích thích tố động vật là protein hoặc peptit. Sự gắn kết của một hormone với thụ thể của nó là một tín hiệu kích hoạt phản ứng của tế bào. Hormone điều chỉnh nồng độ các chất trong máu và tế bào, tăng trưởng, sinh sản và các quá trình khác. Một ví dụ về các protein như vậy là insulin, chất này điều chỉnh nồng độ glucose trong máu.

    Các tế bào tương tác với nhau bằng cách sử dụng các protein tín hiệu truyền qua chất ngoại bào. Những protein này bao gồm, ví dụ, cytokine và các yếu tố tăng trưởng.

    Cytokine là các phân tử tín hiệu peptide. Chúng điều chỉnh sự tương tác giữa các tế bào, xác định sự tồn tại của chúng, kích thích hoặc ngăn chặn sự tăng trưởng, biệt hóa, hoạt động chức năng và quá trình chết rụng, đảm bảo sự phối hợp hoạt động của hệ thống miễn dịch, nội tiết và thần kinh. Một ví dụ về cytokine là yếu tố hoại tử khối u, truyền tín hiệu viêm giữa các tế bào trong cơ thể.

    Chức năng vận chuyển

    Thêm chi tiết: Chức năng vận chuyển protein

    Các protein hòa tan tham gia vào quá trình vận chuyển các phân tử nhỏ phải có ái lực (ái lực) cao đối với cơ chất khi nó có mặt ở nồng độ cao, và dễ giải phóng ở những nơi có nồng độ cơ chất thấp. Một ví dụ về protein vận chuyển là hemoglobin, mang oxy từ phổi đến các mô còn lại và carbon dioxide từ các mô đến phổi, và ngoài ra, các protein tương đồng với nó, được tìm thấy trong tất cả các giới sinh vật sống.

    Một số protein màng tham gia vào việc vận chuyển các phân tử nhỏ qua màng tế bào, làm thay đổi tính thấm của nó. Thành phần lipid của màng không thấm nước (kỵ nước), ngăn cản sự khuếch tán của các phân tử (ion) phân cực hoặc tích điện. Các protein vận chuyển màng thường được chia nhỏ thành protein kênh và protein vận chuyển. Các protein kênh chứa các lỗ rỗng chứa đầy nước bên trong cho phép các ion (qua kênh ion) hoặc phân tử nước (qua protein aquaporin) di chuyển qua màng. Nhiều kênh ion chỉ chuyên vận chuyển một ion; ví dụ, kênh kali và kênh natri thường phân biệt giữa các ion tương tự này và chỉ cho phép một trong số chúng đi qua. Các protein mang liên kết, giống như các enzym, mỗi phân tử hoặc ion được vận chuyển và, không giống như các kênh, có thể thực hiện vận chuyển tích cực bằng cách sử dụng năng lượng của ATP. “Nhà máy của tế bào” – ATP synthase, tổng hợp ATP bằng cách sử dụng một gradient proton, cũng có thể là do các protein vận chuyển màng.

    Chức năng dự phòng (sao lưu)

    Những protein này bao gồm cái gọi là protein dự trữ, được dự trữ như một nguồn năng lượng và chất trong hạt thực vật (ví dụ, globulin 7S và 11S) và trứng động vật. Một số loại protein khác được sử dụng trong cơ thể như một nguồn cung cấp các axit amin, chúng là tiền chất của các chất hoạt động sinh học điều hòa các quá trình trao đổi chất.

    Chức năng thụ cảm

    Thêm chi tiết: Thụ thể tế bào

    Các thụ thể protein có thể nằm cả trong tế bào chất và được kết hợp vào màng tế bào. Một phần của phân tử thụ thể nhận biết một tín hiệu, thường là một chất hóa học, và trong một số trường hợp, ánh sáng, hành động cơ học (ví dụ, kéo căng) và các kích thích khác. Khi một tín hiệu được áp dụng cho một phần nhất định của phân tử – protein thụ thể – thì sự thay đổi cấu trúc của nó sẽ xảy ra. Kết quả là, cấu trúc của một phần khác của phân tử truyền tín hiệu đến các thành phần tế bào khác thay đổi. Có một số cơ chế truyền tín hiệu. Một số thụ thể xúc tác một phản ứng hóa học cụ thể; những kênh khác đóng vai trò là các kênh ion mở hoặc đóng khi được kích hoạt bởi một tín hiệu; vẫn còn những người khác liên kết đặc biệt với các phân tử truyền tin nội bào. Trong các thụ thể màng, phần của phân tử liên kết với phân tử truyền tín hiệu nằm trên bề mặt của tế bào, và miền truyền tín hiệu nằm bên trong.

    Chức năng động cơ (động cơ)

    Toàn bộ lớp protein vận động cung cấp các chuyển động của cơ thể, ví dụ, co cơ, bao gồm vận động (myosin), chuyển động của tế bào trong cơ thể (ví dụ, chuyển động của bạch cầu amip), chuyển động của lông mao và roi và ngoài ra, vận chuyển nội bào tích cực và có định hướng (kinesin, dynein ). Dynein và kinesin vận chuyển các phân tử dọc theo các vi ống bằng cách sử dụng thủy phân ATP như một nguồn năng lượng. Dynein chuyển các phân tử và bào quan từ các phần ngoại vi của tế bào đến trung thể, kinesin – theo hướng ngược lại. Dynein cũng chịu trách nhiệm cho sự di chuyển của lông mao và lông roi của sinh vật nhân chuẩn. Các biến thể tế bào chất của myosin có thể tham gia vào việc vận chuyển các phân tử và bào quan dọc theo các vi sợi.

    Protein là nền tảng của tất cả các cơ thể sống. Chính những chất này đóng vai trò là thành phần cấu tạo nên màng tế bào, các bào quan, sụn, gân, sừng… Tuy nhiên, chức năng bảo vệ của protein là một trong những chức năng quan trọng nhất.

    Protein: đặc điểm cấu trúc

    Cùng với lipit, cacbohydrat và axit nucleic, prôtêin là những chất hữu cơ tạo nên cơ sở của cơ thể sống. Tất cả chúng đều là chất tạo màng sinh học tự nhiên. Các chất này được cấu tạo bởi các đơn vị cấu trúc lặp lại. Chúng được gọi là monome. Đối với protein, các đơn vị cấu trúc đó là các axit amin. Kết nối trong chuỗi, chúng tạo thành một đại phân tử lớn.

    Mức độ tổ chức không gian của protein

    Một chuỗi 20 axit amin có thể tạo thành nhiều cấu trúc khác nhau. Đây là những cấp độ tổ chức hoặc cấu trúc không gian được thể hiện bằng một chuỗi axit amin. Khi nó chuyển thành hình xoắn ốc, một cái thứ cấp sẽ xuất hiện. Cấu trúc bậc ba phát sinh khi cấu trúc trước đó bị xoắn lại thành một cuộn dây hoặc hình cầu. Nhưng cấu trúc tiếp theo là phức tạp nhất – Đệ tứ. Nó bao gồm một số hạt cầu.

    Tính chất protein

    Nếu cấu trúc bậc bốn bị phá hủy đến cấu trúc sơ cấp, cụ thể là chuỗi axit amin, thì một quá trình xảy ra được gọi là biến tính. Nó có thể đảo ngược. Chuỗi axit amin có khả năng hình thành lại các cấu trúc phức tạp hơn. Nhưng khi sự phá hủy xảy ra, tức là sự phá hủy của chính không còn có thể được phục hồi. Quá trình này là không thể đảo ngược. Việc tiêu hủy được thực hiện bởi mỗi chúng ta khi anh ta chế biến nhiệt các sản phẩm bao gồm protein – trứng gà, cá, thịt.

    Hàm protein: bảng

    Phân tử protein rất đa dạng. Điều này quyết định một loạt các khả năng của chúng, đó là do Chức năng của protein (bảng chứa thông tin cần thiết) là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của các sinh vật sống.

    Protein là chất xây dựng nên mọi cấu trúc của cơ thể: từ màng tế bào đến cơ và dây chằng.

    Collagen, fibroin

    Chức năng bảo vệ của protein trong cơ thể

    Như bạn có thể thấy, các chức năng của protein rất đa dạng và quan trọng là ý nghĩa của chúng. Nhưng chúng tôi đã không đề cập đến một trong số họ. Chức năng bảo vệ của protein trong cơ thể là ngăn chặn sự xâm nhập của các chất lạ có thể gây hại đáng kể cho cơ thể. Nếu điều này xảy ra, các protein chuyên biệt có thể khiến chúng trở nên vô hại. Những chất bảo vệ này được gọi là kháng thể hoặc globulin miễn dịch.

    Quá trình hình thành miễn dịch

    Với mỗi hơi thở, vi khuẩn và vi rút gây bệnh xâm nhập vào cơ thể chúng ta. Chúng xâm nhập vào máu, nơi chúng bắt đầu sinh sôi tích cực. Tuy nhiên, một trở ngại đáng kể cản đường họ. Đây là các protein huyết tương – các globulin miễn dịch hoặc kháng thể. Chúng đặc biệt và được đặc trưng bởi khả năng nhận biết và trung hòa các chất và cấu trúc lạ với cơ thể. Chúng được gọi là kháng nguyên. Đây là cách chức năng bảo vệ của protein được biểu hiện. Các ví dụ về nó có thể được tiếp tục với thông tin về interferon. Protein này cũng chuyên biệt và nhận dạng virus. Chất này thậm chí còn là cơ sở của nhiều loại thuốc kích thích miễn dịch.

    Do sự hiện diện của các protein bảo vệ, cơ thể có thể chống lại các phần tử gây bệnh, tức là anh ta phát triển khả năng miễn dịch. Nó có thể là bẩm sinh và mắc phải. Tất cả các sinh vật đều được ban tặng cho những sinh vật đầu tiên ngay từ khi mới sinh ra, nhờ đó mà sự sống có thể có được. Và một trong những mắc phải xuất hiện sau khi chuyển giao các bệnh truyền nhiễm khác nhau.

    Bảo vệ cơ học

    Protein thực hiện chức năng bảo vệ, trực tiếp bảo vệ tế bào và toàn bộ cơ thể khỏi căng thẳng cơ học. Ví dụ, động vật giáp xác đóng vai trò của một lớp vỏ, bảo vệ tất cả các vật bên trong một cách đáng tin cậy. Xương, cơ và sụn là nền tảng của cơ thể, và không chỉ ngăn ngừa tổn thương các mô và cơ quan mềm mà còn đảm bảo chuyển động của nó trong không gian.

    Các cục máu đông

    Quá trình đông máu cũng là một chức năng bảo vệ của các protein. Có thể do sự hiện diện của các tế bào chuyên biệt – tiểu cầu. Khi các mạch máu bị tổn thương, chúng sẽ bị phá hủy. Kết quả là fibrinogen huyết tương được chuyển thành dạng không hòa tan – fibrin. Đây là một quá trình phức tạp của enzym, do đó các sợi fibrin thường rất đan xen vào nhau và tạo thành một mạng lưới dày đặc ngăn máu chảy ra ngoài. Nói cách khác, một cục máu đông hoặc huyết khối hình thành. Đây là phản ứng tự vệ của cơ thể. Trong cuộc sống bình thường, quá trình này kéo dài tối đa là mười phút. Nhưng với – bệnh máu khó đông, chủ yếu ảnh hưởng đến nam giới, một người có thể tử vong ngay cả khi bị thương nhẹ.

    Tuy nhiên, nếu cục máu đông hình thành bên trong mạch máu, nó có thể rất nguy hiểm. Trong một số trường hợp, điều này thậm chí dẫn đến vi phạm tính toàn vẹn của nó và xuất huyết nội tạng. Trong trường hợp này, thuốc được khuyến khích, ngược lại, thuốc làm loãng máu.

    Bảo vệ hóa chất

    Chức năng bảo vệ của protein cũng được thể hiện trong cuộc chiến chống lại các tác nhân gây bệnh. Và nó đã bắt đầu trong khoang miệng. Khi ở trong đó, thức ăn gây ra phản xạ chảy nước bọt. Cơ sở của chất này là nước, các enzym phân hủy polysaccharid và lysozyme. Nó là chất cuối cùng có tác dụng vô hiệu hóa các phân tử có hại, bảo vệ cơ thể khỏi các tác động tiếp theo của chúng. Nó cũng được chứa trong màng nhầy của đường tiêu hóa, và trong dịch lệ rửa giác mạc của mắt. Lysozyme được tìm thấy với số lượng lớn trong sữa mẹ, dịch nhầy mũi họng và lòng trắng trứng gà.

    Vì vậy, chức năng bảo vệ của protein được thể hiện chủ yếu trong việc trung hòa các phần tử vi khuẩn và vi rút trong máu của cơ thể. Nhờ đó, anh phát triển khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh. Nó được gọi là khả năng miễn dịch. Protein, là một phần của khung bên ngoài và bên trong, bảo vệ các thành phần bên trong khỏi bị hư hại cơ học. Và các chất protein có trong nước bọt và các môi trường khác ngăn cản các tác nhân hóa học tác động lên cơ thể. Nói cách khác, chức năng bảo vệ của protein là cung cấp các điều kiện cần thiết cho tất cả các quá trình quan trọng.

    Các chức năng sau đây thuộc về các chức năng sinh học chính và theo một nghĩa nào đó, là các chức năng sinh học độc đáo của protein, không bình thường hoặc chỉ vốn có một phần trong các loại chất tạo màng sinh học khác.

    Chức năng cấu trúc (hỗ trợ)

    Các sợi collagen có chức năng nâng đỡ. (Kính hiển vi điện tử)

    Protein thực hiện các chức năng cấu trúc là loại protein chiếm ưu thế trong cơ thể con người. Các protein sợi tạo thành chất mô liên kết – collagen, elastin (trong thành mạch của các mạch loại đàn hồi), keratin (trong da và các dẫn xuất của nó), proteoglycan.

    Chức năng enzym (xúc tác)

    Tất cả các enzym là protein quyết định tốc độ phản ứng hóa học trong hệ thống sinh học. Nhưng đồng thời, có dữ liệu thực nghiệm về sự tồn tại của ribozyme, tức là axit ribonucleic có hoạt tính xúc tác, và abzyme – và các kháng thể đơn và đa dòng.

    Thụ thể và chức năng nội tiết tố

    Chức năng vận chuyển

    Chỉ có protein mới thực hiện việc vận chuyển các chất trong máu, ví dụ như lipoprotein (chuyển chất béo), hemoglobin (vận chuyển oxy), transferrin (vận chuyển sắt). Protein vận chuyển các cation canxi, magiê, sắt, đồng và các ion khác trong máu.

    Sự vận chuyển các chất qua màng được thực hiện bởi các protein – Na +, K + -ATPase (chuyển dịch xuyên màng ngược chiều của ion natri và kali), Ca 2+ -ATPase (bơm ion canxi ra khỏi tế bào), chất vận chuyển glucose.

    Chức năng dự trữ (dinh dưỡng)

    Chức năng này được thực hiện bởi cái gọi là protein dự trữ. Một ví dụ về protein lắng đọng là sự sản xuất và tích tụ albumin trứng (ovalbumin) trong trứng. Động vật và con người không có kho chuyên dụng như vậy, nhưng trong thời gian đói kéo dài, protein của cơ, cơ quan lympho, mô biểu mô và gan được sử dụng. Protein chính trong sữa (casein) cũng chủ yếu là dinh dưỡng.

    Chức năng co lại

    Có một số protein nội bào được thiết kế để thay đổi hình dạng của tế bào và sự chuyển động của chính tế bào hoặc các bào quan của nó. Vai trò chính trong các quá trình di chuyển được thực hiện bởi actin và myosin – các protein cụ thể của mô cơ, và tubulin protein của tế bào, đảm bảo các quá trình nhỏ nhất của hoạt động sống của tế bào – sự phân kỳ của nhiễm sắc thể trong quá trình nguyên phân.

    Chức năng bảo vệ

    Chức năng của protein trong máu

    Trong việc điều hòa hàm lượng protein huyết tương ở một mức độ nhất định, gan có tầm quan trọng rất lớn, là cơ quan tổng hợp hoàn toàn fibrinogen và albumin máu, hầu hết các α- và β-globulin, các tế bào của hệ thống lưới nội mô của tủy xương và các hạch bạch huyết.

    Một chức năng bảo vệ vật lý tương tự được thực hiện bởi các protein cấu trúc tạo nên thành tế bào của một số nguyên sinh vật (ví dụ, tảo xanh Chlamydomonas) và capsid của virus.

    Các chức năng bảo vệ vật lý của protein bao gồm khả năng đông máu, được cung cấp bởi protein fibrinogen có trong huyết tương. Fibrinogen không màu; khi máu bắt đầu đông lại, nó bị phân cắt bởi một enzym [[throm, sau khi phân cắt, một monomer được hình thành – fibrin, đến lượt nó, nó sẽ trùng hợp và rơi ra thành các sợi trắng). Fibrin, kết tủa, làm cho máu không lỏng mà sền sệt. Trong quá trình đông máu bởi protein nền – sau khi đã tạo thành kết tủa, từ các sợi tơ huyết của fibrin và hồng cầu, khi fibrin bị nén lại sẽ tạo thành cục huyết khối màu đỏ đậm.

    Chức năng bảo vệ hóa chất

    Interferon cũng thuộc về các protein bảo vệ của hệ thống miễn dịch. Các protein này được tạo ra bởi các tế bào bị nhiễm virus. Tác động của chúng lên tế bào lân cận cung cấp khả năng kháng vi rút bằng cách ngăn chặn sự nhân lên của vi rút hoặc sự tập hợp của các phần tử vi rút trong tế bào đích. Interferon cũng có các cơ chế hoạt động khác, ví dụ, chúng ảnh hưởng đến hoạt động của tế bào lympho và các tế bào khác của hệ thống miễn dịch.

    Chức năng bảo vệ tích cực

    Chất độc protein động vật

    Sóc cũng có thể dùng để tự vệ trước những kẻ săn mồi hoặc tấn công con mồi. Các protein và peptit như vậy được tìm thấy trong nọc của hầu hết các loài động vật (ví dụ, rắn, bọ cạp, bọ cạp, v.v.). Các protein chứa trong chất độc có cơ chế hoạt động khác nhau. Vì vậy, nọc của rắn viper thường chứa enzyme phospholipase, chất này gây phá hủy màng tế bào và kết quả là gây tan máu và xuất huyết. Chất độc thần kinh chiếm ưu thế trong chất độc của tro; Ví dụ, chất độc của kraits có chứa các protein α-bungarotoxin (một chất ngăn chặn các thụ thể nicotinic đối với acetylcholine và β-bungarotoxin (gây ra sự giải phóng liên tục acetylcholine từ các đầu dây thần kinh và do đó làm cạn kiệt nguồn dự trữ); hoạt động kết hợp của các chất độc này gây ra tử vong do liệt cơ.

    Chất độc protein của vi khuẩn

    Chất độc protein của vi khuẩn – độc tố botulinum, độc tố tetanospasmin do mầm bệnh uốn ván tạo ra, độc tố bạch hầu của tác nhân gây bệnh bạch hầu, độc tố bệnh tả. Nhiều loại trong số chúng là một hỗn hợp của một số protein với các cơ chế hoạt động khác nhau. Một số độc tố vi khuẩn có bản chất protein là chất độc rất mạnh; các thành phần của độc tố botulinum – chất độc nhất trong số các chất tự nhiên đã biết.

    Độc tố của vi khuẩn gây bệnh thuộc giống Clostridium, rõ ràng, vi khuẩn kỵ khí bắt buộc phải ảnh hưởng đến toàn bộ sinh vật nói chung, để dẫn đến cái chết – điều này cho phép vi khuẩn kiếm ăn và nhân lên với sự “không bị trừng phạt”, và, khi đã tăng dân số lên rất nhiều, để lại cơ thể ở dạng bào tử.

    Ý nghĩa sinh học của độc tố của nhiều vi khuẩn khác không được biết chính xác.

    Chất độc protein của thực vật

    Trong thực vật, các chất không có bản chất protein (ancaloit, glicozit,…) thường được dùng làm chất độc. Tuy nhiên, thực vật cũng chứa độc tố protein. Vì vậy, hạt thầu dầu (cây thuộc họ euphorbia) có chứa độc tố protein ricin. Chất độc này xâm nhập vào tế bào chất của tế bào ruột và tiểu đơn vị enzym của nó, tác động lên ribosome, ngăn chặn dịch mã một cách không thể đảo ngược.

    Liên kết

    Quỹ Wikimedia. Năm 2010.

    Xem “Chức năng bảo vệ của protein” trong các từ điển khác là gì:

      Thuật ngữ này có các nghĩa khác, xem Protein (định vị). Protein (prôtêin, polypeptit) là những chất hữu cơ cao phân tử bao gồm các axit amin alpha liên kết trong chuỗi bằng liên kết peptit. Trong cơ thể sống … … Wikipedia

      Tinh thể của nhiều loại protein khác nhau được nuôi cấy trên trạm vũ trụ Mir và trong các chuyến bay của tàu con thoi NASA. Các protein được tinh chế cao ở nhiệt độ thấp tạo thành các tinh thể, được sử dụng để thu được mô hình của loại protein này. Protein (protein, … … Wikipedia

      I Da (cutis) là một cơ quan phức tạp, là lớp vỏ bên ngoài của cơ thể động vật và con người, thực hiện các chức năng sinh lý khác nhau. GIẢI PHẪU VÀ LỊCH SỬ Ở người, diện tích bề mặt của K. là 1,5 2 m2 (tùy theo chiều cao, giới tính, … … Bách khoa toàn thư y học

      Mô lỏng lưu thông trong hệ tuần hoàn của người và động vật; đảm bảo hoạt động quan trọng của các tế bào và mô và việc thực hiện các chức năng sinh lý khác nhau của chúng. Một trong những chức năng chính của K. là vận chuyển các chất khí (O2 từ các cơ quan … …

      GAN – (Nerag), một tuyến phân thùy lớn của cơ thể động vật, tham gia vào các quá trình tiêu hóa, trao đổi chất, tuần hoàn máu, duy trì sự nội môi. môi trường của cơ thể. Nằm ở phía trước của khoang bụng ngay phía sau … …

      I Dạ dày là một bộ phận mở rộng của đường tiêu hóa, trong đó thực hiện quá trình xử lý hóa học và cơ học của thức ăn. Cấu tạo của dạ dày động vật. Phân biệt tuyến, hoặc tiêu hóa, Zh., Trong thành của chúng chứa … … Bách khoa toàn thư Liên Xô vĩ đại

      MÁU – Hình ảnh hiển vi về máu – gia súc, lạc đà, ngựa, cừu, lợn, chó. Hình ảnh hiển vi của máu – gia súc (I u003eu003e), lạc đà (II), ngựa (III), cừu (IV), lợn (V), chó (VI): 1 – … … Từ điển bách khoa thú y

      Giải phẫu người bình thường (có hệ thống) là một phần của giải phẫu người nghiên cứu cấu trúc của “bình thường”, tức là một cơ thể người khỏe mạnh về hệ thống cơ quan, bộ phận và mô. Nội tạng là một bộ phận của cơ thể có hình dạng và thiết kế nhất định, … … Wikipedia

      I (sanguis) là một mô lỏng thực hiện việc vận chuyển các chất hóa học (bao gồm cả oxy) trong cơ thể, nhờ đó diễn ra quá trình tích hợp các quá trình sinh hóa diễn ra trong các tế bào và không gian gian bào khác nhau thành một hệ thống duy nhất … Bách khoa toàn thư y học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Bảo Vệ Protein. Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • Thực Phẩm Chức Năng Amway
  • Bài 6. Axit Nucleic Bai Axitnucleic Ppt
  • Vận Chuyển Các Chất Qua Màng Sinh Chất Van Chuyen Cac Chat Qua Msc Chuyen Ngay 1610 Pptx
  • Các Chức Năng Sharepoint Và Onedrive Mới Giúp Thúc Đẩy Sử Chuyển Đổi Kỹ Thuật Số Của Bạn
  • Protein Là Gì? Chức Năng Của Protein Đối Với Sức Khỏe Con Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Thận Đối Với Cơ Thể
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gan
  • 14 Mẹo Dùng Airpods 2 Hay Nhất Mà Bạn Nên Thử – Ithuthuat
  • Làm Thế Nào Chúng Ta Có Thể Tự Động Phù Hợp (Tự Động Điều Chỉnh) Chiều Rộng Cột (Chiều Rộng) Và Chiều Cao Của Hàng (Chiều Cao) Trong Ms Office Excel
  • Auto Hold Là Gì? Hệ Thống Tự Động Giữ Phanh (Auto Hold)
  • Protein cùng với lipid, carbohydrate và các vitamin là các nhóm chất dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cơ thể con người. Khi cơ thể bị thiếu hụt các nhóm chất dinh dưỡng này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và gây nên nhiều căn bệnh nguy hiểm.

    Protein là gì?

    Protein là gì? Trước khi đi tìm hiểu sâu về các loại protein và chức năng của chúng, Thế Giới Whey sẽ cung cấp cho các bạn các khái niệm chi tiết về protein.

    Theo Wikipedia, Protein hay còn gọi là chất đạm là những phân tử sinh học hay đại phân tử gồm nhiều axit amin. Protein có thể chứa 1 hoặc nhiều nhóm axit amin và các từng nhóm axit amin này sẽ được liên kết với nhau bằng liên kết peptit. Các protein khác nhau chủ yếu là do trình tự các axit amin cấu tạo của chúng khác nhau và trình tự này được quy định bởi Nucleotide của gen tương ứng.

    Trong thể hình, bạn có thể hiểu đơn giản, protein là một hợp chất hữu cơ chứa nhiều axit amin có tác dụng hỗ trợ xây dựng cơ bắp. Đồng thời theo các nghiên cứu thì protein còn giúp cung cấp 15% năng lượng để duy trì sự sống.

    Các loại protein và chức năng của chúng

    Protein có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể con người, tùy theo từng chức năng trong cơ  thể mà protein được phân chia thành các loại như sau::

    • Cấu trúc

      : Các loại protein như collagen, elastin là thành phần quan trọng cấu tạo nên mô liên kết, dây chằng, gân.

    • Enzyme

      : là các chất xúc tác sinh học giúp thúc đẩy tốc độ phản ứng và chọn lọc các phản ứng sinh hóa trong cơ thể

    • Hormone

      : hỗ trợ điều hòa các hoạt động sinh lý, ví dụ như insulin, glucagon giúp điều hòa hàm lượng đường trong máu.

    • Vận chuyển

      : giúp hỗ trợ vận chuyển các chất dinh dưỡng từ vị trí này đến vị trí khác, ví dụ như hemoglobin có tác dụng vận chuyển oxy từ phổi theo máu đi nuôi các tế bào.

    • Vận động

      : Tham gia vào quá trình vận động của các tế bào và cơ thể, điển hình là actinin, myosin có vai trò trong vận động cơ.

    • Bảo vệ

      : protein còn có chức năng bảo vệ cơ thể, phòng chống bệnh tật như interferon giúp chống virus và kháng thể giúp chống các vi khuẩn gây bệnh.

    • Thụ quan

      giúp cảm nhận, truyền tín hiệu và đáp ứng lại các kích thích của môi trường.

    • Dự trữ

      : Protein còn có chức năng dự trữ các chất dinh dưỡng tiêu biểu là casein trong sữa mẹ sẽ giúp cung cấp các axit amin cho thai nhi.

    Ngoài ra protein còn được phân loại theo thành phần các axit amin cấu tạo nên chúng và được chia làm 2 loại như sau:

    • Protein hoàn chỉnh

      : Đây là loại protein có chứa đầy đủ 9 loại axit amin mà cơ thể không thể tự sản xuất được mà phải bổ sung thông qua thức ăn. Protein hoàn chỉnh chủ yếu có nguồn gốc từ động vật như thịt, cá, trứng, sữa.

    • Protein không hoàn chỉnh

      : là loại protein không có chứa đủ các axit amin thiết yếu cho cơ thể và cơ thể bạn cũng có thể tự tổng hợp được. Loại protein không hoàn chỉnh này chủ yếu có nguồn gốc thực vật, nhưng có một số thực vật có chứa protein hoàn chỉnh như hạt gai dầu, hạt diêm mạch, tảo xoắn,…

    -  Đánh giá sữa Mutant Iso Surge có tốt không?

    Đánh giá Whey Iso HD của Bpi Sport có tốt không?

    Review đánh giá Whey Protein Rule 1 có tốt không?

    Review đánh giá Ntrotech Whey Gold có tốt không?

    Đánh giá Whey Gold Standard có tốt không?

    Chức năng của protein với sức khỏe con người

    • Protein có vai trò xây dựng các tế bào mô cơ, cấu trúc nên khung tế bào và tạo khung đỡ để duy trì hình dạng tế bào.

    • Protein còn đóng vai trò là các enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa, tăng cường quá trình trao đổi chất.

    • Protein còn giúp vận chuyển oxy và các chất dinh dưỡng từ vị trí này đến vị trí khác giúp nuôi dưỡng các tế bào.

    • Protein còn giúp bảo vệ cơ thể tránh khỏi các tác nhân gây hại xâm nhập vào cơ thể như virus, vi khuẩn.

    • Protein còn giúp điều hòa chuyển hóa nước và cân bằng độ pH giúp đảm bảo cho hệ tuần hoàn vận chuyển các ion bình thường và tránh hiện tượng phù nề cơ thể.

    • Protein còn giúp cung cấp và dự trữ năng lượng cho cơ thể hoạt động.

    Đặc biệt đối với người tập thể hình, thể thao họ cần rất nhiều protein để đáp ứng cho hoạt động thể chất qua xây dựng cơ bắp. Chính vì vậy hiện nay các hãng thực phẩm đã sản xuất các loại sữa bột Whey Protein tinh khiết.

    Những loại Whey Protein này đảm bảo cung cấp hàm lượng protein phù hợp cho các vận động viên và gymer. Hiện nay có nhiều dòng sản phẩm bổ sung Whey Protein nổi tiếng như: Mutant Iso Surge 5lbs, Whey Rule 1 Protein,….

    Cơ thể con người cần được cung cấp một lượng protein vừa đủ, nếu thiếu hoặc thừa protein cũng gây ra nhiều nguy cơ về sức khỏe như sau:

    Thiếu protein

    Khi cơ thể của bạn không được bổ sung đầy đủ protein trong thời gian dài sẽ gặp phải những tình trạng sau:

    • Có bắp không phát triển, phát triển chậm, yếu cơ, giảm cân và có thể dẫn đến tình trạng bị mất cơ, teo cơ.

    • Cơ thể luôn mệt mỏi, tay chân mất sức, khó ngủ và tâm trạng thất thường.

    • Miễn dịch yếu: nếu cơ thể không được bổ sung đầy đủ protein sẽ dẫn đến tình trạng giảm các kháng thể từ đó suy giảm hệ miễn dịch, dễ dàng bị bệnh hơn.

    • Cơ thể phù nề, tích tụ chất lỏng.

    Thừa protein

    Khi cơ thể bị thừa protein sẽ có các dấu hiệu như sau:

    • Thường xuyên cảm thấy khát: Khi cơ thể bị dư thừa protein thì thận bạn phải làm việc nhiều hơn để loại bỏ bớt từ đó lượng nước tiểu nhiều hơn và cơ thể bạn luôn thấy khát nước.

    • Rối loạn tiêu hóa: thông thường các chế độ ăn giàu protein lại thường chứa ít chất xơ nên rất dễ dẫn đến tình trạng rối loạn tiêu hóa, bị táo bón, chướng bụng, co thắt ruột,….

    • Ngoài ra thừa protein còn làm thể bạn tăng cân, béo phì, hơi thở có mùi…

    Do đó tình trạng thừa protein sẽ dẫn đến nhiều căn bệnh vô cùng nguy hiểm như bệnh gout, đau khớp, đa xơ cứng, dễ mắc các bệnh viêm nhiễm,….

    Vì vậy để cơ thể khỏe mạnh bạn cần có một chế độ ăn khoa học, bổ sung đầy đủ và đa dạng các chất dinh dưỡng. Bổ sung lượng protein vừa đủ cho cơ thể hoạt động hàng ngày đồng thời phải kết hợp giữa protein thực vật và protein động vật, tăng cường bổ sung các chất xơ, vitamin và khoáng chất cho cơ thể.

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Địa chỉ: 285/66 Hẻm 285 Cách Mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh, 700000

    Số điện thoại: 028 9999 9479

    Email: [email protected]

    Website: https://www.thegioiwhey.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Chức Năng Của Protein
  • Hậu Quả Của Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Nguyên Nhân Và Giải Pháp Xử Lý Ô Nhiễm Không Khí Trong Nhà
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Nước Trên Thế Giới Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Cấp Bách Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Chức Năng Và Sự Biến Tính Của Protein

    --- Bài mới hơn ---

  • 9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Trong Cơ Thể Của Bạn ·
  • Tiểu Luận:các Tính Chất Và Chức Năng Của Protein Trong Thực Phẩm
  • Các Tính Chất Và Chức Năng Của Protein Trong Thực Phẩm
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Tế Bào Cau Truc Va Chuc Nang Cua Te Bao Doc
  • Bài 11. Vận Chuyển Các Chất Qua Màng Sinh Chất
  • Khái niệm sự biến tính

    Dưới tác dụng của các tác nhân vật lý như tia cực tím, sóng siêu âm, khuấy cơ học… hay tác nhân hóa học như axit, kiềm mạnh, muối kim loại nặng,… các cấu trúc bậc hai, ba và bậc bốn của protein bị biến đổi nhưng không phá vỡ cấu trúc bậc một của nó, kèm theo đó là sự thay đổi các tính chất của protein so với ban đầu. Đó là hiện tượng biến tính protein. Sau khi bị biến tính, protein thường thu được các tính chất sau:

    • Độ hòa tan giảm do làm lộ các nhóm kỵ nước vốn đã chui vào bến trong phân tử protein
    • Khả năng giữ nước giảm
    • Mất hoạt tính sinh học ban đầu
    • Tăng độ nhạy đối với sự tấn công của enzim proteaza do làm xuất hiện các liên kết peptit ứng với trung tâm hoạt động của proteaza
    • Tăng độ nhớt nội tại
    • Mất khả năng kết tinh

    Tính kỵ nước của protein

    • Do các gốc kỵ nước của các axitamin(aa) trong chuỗi polipectit của protein huớng ra ngoài các gốc này liên kết với nhau tạo liên kết kỵ nước.
    • độ kỵ nước có thể giải thích như sau: do các gốc aa có chứa các gốc R- không phân cực nên nó không có khả năng tác dụng với nước.

    VD: chúng ta có các aa trong nhóm 7aa không phân cực :glysin, alanin, valin, pronin, methionin, lơxin, isoloxin chúng không tác dụng với nước.

    Tính kỵ nước sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tính tan của protein. VD: có 7aa liên kết peptit với nhau, trong đó có 3aa không phân cực( kỵ nước ) nếu như các aa này cùng nằm ở 1 đầu thì tính tan sẽ giảm so với khi các aa này đứng sen kẽ nhau trong liên kết đó

    Tính chất của dung dịch keo

    Khi hoà tan protein thành dung dịch keo thì nó không đi qua màng bán thấm.

    Hai yếu tố đảm bảo độ bền của dung dịch keo:

    • Sự tích điện cùng dấu của các protein.
    • Lớp vỏ hidrat bao quanh phân tử protein.

    Có 2 dạng kết tủa: kết tủa thuận nghịch va không thuận nghịch:

      Kết tủa thuận nghịch: sau khi chúng ta loại bỏ các yếu tố gây kết tủa thì protein vẫn có thể trở lại trạng thái dung dịch keo bền như ban đầu.
      Kết tủa không thuận nghịch: là sau khi chúng ta loại bỏ các yếu tố gây kết tủa thì protein không trở về trạng thái dung dịch keo bền vững như trước nữa.

    Tính chất điện ly lưỡng tính

    Acid amin có tính chất lưỡng tính vì trong aa có chứa cả gốc axit(coo-) và gốc bazo(NH2-) suy ra protein cung có tính chất lưỡng tính

    --- Bài cũ hơn ---

  • (Top) Các Loại Thực Phẩm Chức Năng Nên Mua Ở Mỹ
  • Các Loại Thực Phẩm Chức Năng Mỹ Được Ưa Chuộng Nhất
  • Các Loại Thực Phẩm Chức Năng Của Mỹ Tốt Nhất Hiện Nay
  • Danh Sách 25 Thực Phẩm Chức Năng Của Hoa Kỳ Bán Chạy Nhất Trên Amazon
  • Thực Phẩm Chức Năng Của Mỹ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100