Vai Trò Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Chính Trị

--- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí, Vai Trò Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Chính Trị
  • Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển Tại Việt Nam
  • Xây Dựng Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển Ở Việt Nam
  • Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển
  • Mô Hình Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển
  • 2.2. Vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị

    Hệ thống chính trị trong xã hội là một hệ thống phức tạp với ba bộ phận quan trọng là hệ thống đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức quần chúng tham gia vào hoạt động chính trị. Trong hệ thống đó, nhà nước giữ vai trò trung tâm, là phương tiện chủ yếu để điều tiết các quan hệ xã hội theo hướng có lợi cho giai cấp cầm quyền vì nhà nước là bộ máy duy nhất có thể sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương đối với xã hội. Vai trò của nhà nước thể hiện mối quan hệ chặt chẽ với hai nhóm tổ chức còn lại.

    2.2.1. Các đảng chính trị

    Trong hệ thống chính trị, các đảng chính trị giữ vai trò quan trọng. Đảng chính trị là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Sự ra đời và phát triển của các dảng chính trị hiện đại như chúng ta thấy ngày nay là sản phẩm của một xã hội khi đã đạt tới một mức độ dân chủ nhất định.

    Đảng chính trị là bộ phận tiên phong, đầu não của giai cấp, nơi tập trung trí tuệ của giai cấp, tổ chức giai cấp trong cuộc đấu tranh giành quyền lực nhà nước vào tay mình để bảo vệ lợi ích giai cấp. Mục tiêu quan trọng nhất của mọi đảng chính trị là tổ chức giai cấp để giành quyền lực nhà nước tức là hướng tới trở thành đảng chính trị cầm quyền. Khi một đảng chính trị trở thành đảng cầm quyền, đảng đó có vai trò và vị trí lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội.

    Hệ thống tổ chức đảng chính trị trong xã hội hiện đại ở các nước khác nhau không giống nhau. Theo số lượng đảng được phép tồn tại và có khả năng cầm quyền, người ta chia hệ thống đảng chính trị thành hệ thống đa đảng và hệ thống đơn đảng.

    2.2.2. Nhà nước

    Nhà nước là tổ chức quan trọng nhất trong việc thực thi quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền, bằng hệ thống luật pháp buộc mọi người phải tuân thủ; đồng thời còn những tổ chức cưỡng chế đặc biệt như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù… để bảo đảm thực hiện.

    Các tổ chức quần chúng được hình thành và phát triển rất đa dạng trong xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau (các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các nhóm áp lực,…). Những tổ chức này có thể đại diện cho toàn bộ cộng đồng (như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), nhưng cũng có thể chỉ đại diện cho một nhóm người có lợi ích giống nhau trong xã hội (như Hội làm vườn, Hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ,…).

    Trong hệ thống chính trị, các tổ chức quần chúng giữ vai trò rất quan trọng, bằng nhiều cách khác nhau tác động lên việc hình thành chủ trương của đảng cầm quyền, quá trình hoạch định và thực thi chính sách của nhà nước, giữ vai trò “phản biện xã hội”. Những tổ chức này lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân vào đời sống chính trị, góp phần nâng cao tính tích cực chính trị của quần chúng, bảo đảm quyền dân chủ và có thể đảm nhận một số công việc mà Nhà nước không làm được hoặc làm kém hiệu quả.

    3. XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM TRONG KHUÔN KHỔ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA

    3.1. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    3.1.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN

    Để nhà nước phát huy tốt vai trò quản lý của mình, cần phải xây dựng nhà nước theo hướng pháp quyền. Nhà nư­ớc pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà n­ước với sự phân công và phối hợp khoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp, t­ư pháp, đồng thời có cơ chế kiểm soát quyền lực. Nhà n­ước đ­ược tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật có tính nhân đạo, công bằng, vì lợi ích chính đáng của con ng­ười.

    Nhà nước pháp quyền XHCN có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

    Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân: Nhà nước pháp quyền về bản chất là một nhà nước đề cao pháp luật trong khi phải thừa nhận và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Phát huy dân chủ trong hoạt động của Nhà nước là một đòi hỏi tất yếu của Nhà nước pháp quyền XHCN.

    Nhà nước pháp quyền XHCN được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật: Hiến pháp và pháp luật Việt Nam phản ánh đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, vì vậy, đó là thước đo giá trị phổ biến trong xã hội và cần phải trở thành công cụ để quản lý của nhà nước.

    Nhà nước cần ban hành hệ thống pháp luật đầy đủ và hoàn chỉnh để dùng làm công cụ điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, làm căn cứ để xây dựng trật tự xã hội. Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước, và mở rộng ra là tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội đều phải tôn trọng pháp luật, đặt mình trong vòng pháp luật, thực hiện các hoạt động tuân thủ theo pháp luật.

    Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải phản ánh được tính chất dân chủ trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân và xã hội, bảo vệ quyền con người: Một nhà nước chỉ được coi là nhà nước pháp quyền khi nó đảm bảo được những quyền tự nhiên của con người, khi là một nhà nước dân chủ. Nhà nước pháp quyền XHCN chỉ xây dựng thành công khi phát huy được dân chủ XHCN với tư cách là một nền dân chủ cho đại đa số nhân dân lao động và trấn áp bọn bóc lột.

    Trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp: Sự thống nhất quyền lực thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục đích của quyền lực: toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân có nghĩa là các cơ quan nhà nước dù làm nhiệm vụ lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều là cơ quan thống nhất của nhân dân, để phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của nhân dân. Như vậy, quyền lực nhà nước thống nhất phải thể hiện sự tập trung quyền lực vào các cơ quan đại diện của dân, trước hết là cơ quan đại diện cao nhất là Quốc hội để có thể thống nhất bảo vệ một mục tiêu chung là độc lập dân tộc và lợi ích của nhân dân, đất nước và dân tộc, đi lên CNXH.

    Tuy nhiên, mỗi nhánh quyền lực đều có đặc thù riêng và có những đặc điểm kỹ thuật riêng: hoạt động hành pháp không thể giống với hoạt động lập pháp hay tư pháp. Do đó, để nâng cao chất lượng hoạt động cần phân công các bộ phận quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp cho các cơ quan khác nhau, nhưng sự phân công này không giống như “tam quyền phân lập” ở các nước tư bản, không phải là chia để đối trọng, khống chế lẫn nhau mà các cơ quan thực thi quyền lực này lại có mối liên hệ với nhau để đạt mục tiêu chung.

    Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam đối với cách mạng Việt Nam nói chung và việc xây dựng và hoạt động của Nhà nước nói riêng là một tất yếu khách quan. Điều đó được khẳng định qua vai trò lãnh đạo không thể thiếu của Đảng Cộng sản trong suốt quá trình tuyên truyền, chỉ đạo, tổ chức và dẫn dắt dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    3.2. Sự cần thiết phải xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay

    Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay xuất phát từ tất yếu kinh tế, là một nhu cầu chính trị khách quan. Thông qua xây dựng nhà nước pháp quyền, Nhà nước ta mới có thể xác định đúng chức năng và nhiệm vụ, vị trí và vai trò của mình trong hệ thống chính trị nói riêng và trong đời sống chính trị nói chung. Đến nay, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được định hình trên những nét cơ bản và trở thành trụ cột của hệ thống chính trị nước nhà. Trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, cùng với việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, cần xác định xây dựng và hoàn thiện nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là xây dựng và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; làm cho quyền lực nhà nước và hệ thống tổ chức thực thi quyền lực – hệ thống chính trị – được xác định đúng đắn và có hiệu quả hơn. Quyền lực Nhà nước được củng cố và tăng cường cũng có nghĩa là quyền lãnh đạo của Đảng được củng cố và tăng cường. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh của Nhà nước.

    Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.14

    Tuy nhiên, bên cạnh nhiều ưu điểm, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng và đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói riêng của chúng ta hiện nay cũng còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục như:15 Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước, thể hiện trên các mặt: năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật còn yếu; tổ chức bộ máy ở nhiều cơ quan còn chưa hợp lý, biên chế cán bộ, công chức tăng thêm; chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo; chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước; cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân; năng lực dự báo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên một số lĩnh vực yếu; phân cấp mạnh nhưng thiếu kiểm tra, kiểm soát; trật tự, kỷ cương xã hội không nghiêm. Cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ. Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác; án tồn đọng, án bị huỷ, bị cải sửa còn nhiều.

    Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội.

    Những nhược điểm nói trên đặt ra yêu cầu khách quan phải đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát triển kinh tế thị trường tạo cơ sở vật chất cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

    3.3. Những định hướng cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

    Đổi mới hệ thống chính trị là một vấn đề phức tạp và khó khăn, tuy cấp bách nhưng không thể chủ quan, nóng vội dễ dẫn tới sai lầm. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đã chỉ rõ: “Việc đổi mới hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn. Nhưng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới hệ thống chính trị, nhất là về tổ chức bộ máy và các bộ; mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện dân chủ”.16 Do vậy, về nhận thức cũng như hành động thực tiễn cần quán triệt quan điểm: đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam là một quá trình lâu dài, tuy khẩn trương và với quyết tâm đổi mới cao nhưng không thể nóng vội và đơn giản hoá trong nhận thức, quan niệm cũng như trong triển khai thực hiện.17

    Bên cạnh việc đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội và đổi mới cách thức tổ chức và hoạt động của các tổ chức quần chúng, trước hết là các tổ chức chính trị-xã hội, đổi mới và nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo cuả Đảng là một yêu cầu cấp bách và quan trọng.

    Nhà nước là bộ máy cơ bản nhất để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là công cụ quan trọng nhất để phát huy dân chủ XHCN, do đó cần phải trở thành bộ máy phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.

    Trong tình hình hiện nay, cần tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội; giải quyết đúng mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương. Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân.18

    Để Nhà nước làm nhiệm vụ quản lý và lãnh đạo xã hội, cần làm tốt một số nội dung chủ yếu sau:

    – Nâng cao nhận thức về nhà nước pháp quyền XHCN.

    – Tiến hành cải cách đồng bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trên cả ba lĩnh vực cải cách lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp, trong đó lấy cải cách hành chính là trọng tâm.

    – Xây dựng cơ chế và biện pháp để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân; ngăn chặn và khắc phục tình trạng dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, đồng thời nghiêm trị những hoạt động phá hoại gây rối…

    – Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

    CÂU HỎI THẢO LUẬN

    1. Quyền lực chính trị là gì? Tại sao nói quyền lực nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của quyền lực chính trị?
    2. Phân tích cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”?
    3. Phân tích vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị? Tại sao nói nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị?
    4. Phân tích các đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN và chỉ ra sự khác biệt giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN?
    5. Phân tích cách thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước và cho biết mối quan hệ giữa quyền hành pháp với quyền lập pháp và quyền tư pháp?

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

      1. 1. Chiavo – Campo và Sundaram: Phục vụ và duy trì – Cải thiện Hành chính công trong một thế giới cạnh tranh. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
      2. 2. David Osborne/Ted Gaebler: Đổi mới hoạt động của Chính phủ. NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997.
      3. 3. Bùi Xuân Đức: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2004.
      4. 4. Hoàng Văn Hảo: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới sự hình thành và phát triển, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
      5. 5. Lê Quốc Hùng: Thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở Việt Nam, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2004.
      6. 6. Nguyễn Văn Niên: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
      7. 7. Lê Minh Quân: Xây dựng nhà nước pháp quyền, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
      8. 8. Đặng Đình Tân (chủ biên): Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
      9. 9. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên): Về định hướng XHCNvà con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
      10. 10. Nguyễn Trọng Thóc: Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
      11. 11. Nguyễn Văn Thảo: Xây dựng nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2006.
      12. 12. Nguyễn Văn Yểu, Lê Hữu Nghĩa (Đồng chủ biên): Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
      13. 13. Viện nhà nước và pháp luật: Tìm hiểu về nhà nước pháp quyền, NXB. Pháp lý, Hà Nội, 1992

    Chuyên đề 2

    TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

    1. BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

    1.1. Bộ máy nhà nước

    Nhà nước là một tổ chức lớn nhất trong tất cả các loại tổ chức. Đó là loại tổ chức sinh ra với nhiều chức năng, nhiệm vụ khác nhau tùy theo bối cảnh, hoàn cảnh ra đời của nó.

    Những giai đoạn đầu của sự phát triển quốc gia, nhà nước sinh ra để thực hiện sứ mệnh của giai cấp thống trị; giai cấp giành được quyền kiểm soát quốc gia. Nhưng cùng với sự phát triển, nhà nước càng ngày càng được xác định rõ hơn; xác định lại đúng hơn chức năng của mình19. Tuy nhiên, xu hướng có thể có nhiều thay đổi nhưng nhà nước sinh ra để làm một số việc cơ bản sau:

    – Quản lý nhà nước thông qua việc sử dụng quyền lực nhà nước;

    – Cung cấp các loại dịch vụ hàng hóa cho xã hội, công dân bằng nguồn lực nhà nước.

    Hai nhóm công việc trên mang tính phổ biến ở mọi quốc gia và ở giai đoạn nào của sự phát triển vẫn là những chức năng quan trọng, không thể thiếu.

    Nhóm chức năng thứ nhất là chức năng không thể thiếu và không thể chuyển giao cho bất cứ tổ chức nào khác ngoài nhà nước.

    Nhóm chức năng thứ hai đã và đang tiếp tục thay đổi và nhà nước đã và đang dần chuyển một số chức năng vốn dĩ do nhà nước đảm nhận ra bên ngoài theo mô hình tư nhân hóa; xã hội hóa hay nhà nước và khu vực tư cùng làm (đối tác công – tư)

    Bộ máy nhà nước thực chất là một tổ chức để triển khai thực thi pháp luật của nhà nước và do đó tùy thuộc các tư duy về quản lý nhà nước mà có thể có những dạng tổ chức khác nhau.

    Về nguyên tắc, quyền lực nhà nước bao gồm ba nhóm yếu tố cấu thành là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đó là dạng chung nhất tư duy về quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các tổ chức trong việc thực thi ba nhóm quyền lực này không giống nhau giữa các nước tùy thuộc vào thể chế chính trị, hình thức chính thể mà có thể ra đời các mô hình phân chia quyền lực nhà nước theo: cứng nhắc, mềm dẻo hay thống nhất tập trung.

    Đồng thời, để thực thi quyền lực nhà nước nêu trên với ba nhánh quyền lực tương xứng, bộ máy nhà nước sẽ được tổ chức theo các cách thức tổ chức khác nhau. Nguyên tắc chung có thể mô tả bằng sơ đồ 1.

    1.1.1. Bộ máy thực thi quyền lập pháp

    Trên nguyên tắc chung, Quyền lập pháp là quyền xác lập các quy tắc phổ quát cho xã hội, tức là quyền xây dựng và ban hành các chuẩn mực, quy tắc ứng xử, quan hệ trong nội bộ quốc gia và với bên ngoài. Trong khuôn khổ pháp luật đã được ban hành, tất cả mọi thành viên của xã hội đó phải tuân thủ.

    Tùy thuộc vào mỗi một quốc gia theo những thể chế chính trị và nhà nước khác nhau sẽ tạo nên bộ máy lập pháp khác nhau.

    Bộ máy thực thi quyền lập pháp không tuyết đối giống nhau giữa các nước nhưng nguyên tắc chung là có một hệ thống các cơ quan chuyên lo công việc lập pháp. Có hai hình thức tổ chức:

    – Hệ thống nghị viện lưỡng viện: hai viện với tên gọi chung là Thượng viện và Hạ viện.

    – Hệ thống một viện gọi chung là Quốc hội20/.

    Tư pháp21 là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, thực hiện việc luận tội và truy tố những hành vi vi phạm pháp luật theo đúng luật định. Đa số các nước, truy tố, buộc tội thuộc hệ thống tòa án.

    Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành; tổ chức thực hiện những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại và điều hành công việc chính sự hàng ngày của quốc gia. Đó chính là quyền điều hành xã hội. Quyền hành pháp được thực thi thông qua bộ máy hành pháp.

    Tổ chức bộ máy thực thi quyền hành pháp bao gồm một hệ thống của các tổ chức từ trung ương đến địa phương trong nhà nước đơn nhất và từ chính phủ liên bang đến chính phủ bang và chính quyền địa phương trong nhà nước theo thể chế liên bang.

    Bộ máy thực thi quyền hành pháp thực hiện hai quyền: lập quy và tổ chức thực hiện hay hành chính.

    Quyền lập quy là quyền ban hành các văn bản pháp quy dưới luật. Tuỳ theo từng giai đoạn, từng nước có thể có những tên gọi khác nhau cho các loại văn bản này. Ở nước ta có các loại như: Nghị định, Quyết định, Thông tư để cụ thể hoá luật, thực hiện luật nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế-xã hội thuộc phạm vi quyền hành pháp. Dưới góc độ pháp luật, có thể xem đây là sự uỷ quyền của lập pháp cho hành pháp để điều hành các hoạt động cụ thể của quyền lực nhà nước.

    Quyền hành chính là quyền tổ chức ra bộ máy hành chính để quản lý đất nước, sắp xếp nhân sự, điều hành công việc quốc gia, sử dụng nguồn tài chính và công sản để thực hiện những chính sách của đất nước. Đó là quyền tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế – xã hội, đưa pháp luật vào đời sống nhằm giữ gìn trật tự an ninh xã hội, phục vụ lợi ích của công dân, bảo đảm dân sinh và giải quyết các vấn đề xã hội và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính và công sản để phát triển đất nước một cách có hiệu quả.

    1.2. Các nguyên tắc chi phối mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước: Lập pháp, hành pháp và tư pháp

    Trên phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn, nguyên tắc chi phối mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước dựa trên việc phân bổ quyền lực nhà nước theo các hướng khác nhau: thứ nhất quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhóm quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp), giao cho ba cơ quan nhà nước khác nhau độc lập nắm giữ, thứ hai quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia.

    Theo hướng thứ nhất, để hạn chế việc lạm dụng quyền lực, hệ thống kiểm tra và cân bằng quyền lực giữa các tổ chức được trao quyền thực thi hoạt động quản lý nhà nước trên từng ngành quyền được thiết lập. Đó cũng chính là cách thức tác động qua lại giữa các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước với nhau. Theo hướng này, có hai mô hình tổ chức thực thi quyền hành pháp trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước

    Mô hình tổ chức bộ máy thực thi quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập mô tả ở sơ đồ 2.

    Các bộ phận cấu thành bộ máy thực thi ba loại quyền lực nhà nước nêu trên độc lập với nhau trên những nguyên tắc mối một bộ máy không phụ thuộc vào nhau và hoạt động mang tính độc lập.

    Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước dựa trên tam quyền phân lập, nhưng giữa các bộ phận cấu thành thực thi các loại quyền lực đó có những phần liên hệ với nhau (mềm dẻo). (Sơ đồ 3).

    Giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành từ bộ máy thực thi quyền lực nhà nước có sự phối kết hợp với nhau. Có những loại công việc được cả hai bộ phận cùng thực hiện.

    Theo hướng thứ hai, quyền lực nhà nước là tập trung thống nhất không phân chia nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành ba tổ chức thực thi các loại quyền trên và mối quan hệ, phối hợp giữa chúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Bộ Máy Hệ Thống Chính Trị
  • Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị; Những Yếu Tố Tác Động Và Quy Định Mô Hình Tổ Chức Của Hệ Thống Chính Trị
  • Chuyên Đề 3: Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Của Dân, Do Dân, Vì Dân
  • Chức Năng Quản Lý Văn Hóa, Giáo Dục Của Nhà Nước Việt Nam Giai Đoạn Hội Nhập Quốc Tế
  • Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Sự Phát Triển Của Các Tổ Chức Tài Chính Phi Ngân Hàng Tại Việt Nam
  • So Sánh (Phân Biệt) Nhà Nước Với Các Tổ Chức Chính Trị Xã Hội Khác
  • Văn Bản Của Các Tổ Chức Chính Trị Xã Hội
  • Trắc Nghiệm Câu Cầu Khiến
  • Đo Độ Ngưng Tập Tiểu Cầu Với Adp
  • Đề tài:

    “Cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay, chức năng của

    các tổ chức trong hệ thống chính trị.”

    A. Mở đầu

    Qua hơn 17 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu cao độ của toàn Đảng, toàn dân, đất

    nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế- xã hội và đang đứng trước yêu

    cầu mới của sự phát triển ở tầm cao hơn trước. Trong thời kỳ phát triển mới, bên cạnh

    những cơ hội, thuận lợi, đất nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức to

    lớn, trước tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực cao độ nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy

    cơ đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục vững bước tiến lên.

    Để đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi toàn bộ hệ thống chính

    trị ở nước ta phải được kiện toàn, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Nhưng

    muốn kiện toàn, đổi mới trước hết chúng ta phải hiểu được thực trạng của hệ thống

    chính trị ở nước ta hiện nay. Vì vậy, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài : “Cấu trúc hệ

    thống chính trị nước ta hiện nay, chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính

    trị.”

    B. Nội dung

    I.Khái quát về hệ thống chính trị

    Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực hiện bằng

    một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ thống chính trị.

    Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các

    đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội hợp pháp được liên kết với

    nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội,

    để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai

    cấp cầm quyền.

    Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước và thực

    hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chất

    giai cấp của giai cấp cầm quyền.

    – Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực

    sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của

    hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

    Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính của

    quyền lực. Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công cụ thực hiện quyền

    làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    II. Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta

    1 Bản chất:

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công

    nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lực và tổ chức

    ra hệ thống chính trị của mình. Vì vậy, hệ thống chính trị ở nước ta có những bản chất

    sau:

    *Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân:

    Nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan

    điểm của giai cấp công nhân. Từ đó đã quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng

    hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công

    nhân và nhân dân lao động.

    *Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước hết ở

    chỗ:

    Quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì

    nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu

    trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập

    sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột.

    *Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước ta. Bản

    chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất

    giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân

    tộc.

    2. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay:

    Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau:

    *Một là, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác-

    Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Các

    quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được tổ

    chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ

    chức.

    *Hai là, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt

    Nam. Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức

    trong hệ thống chính trị. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, do những phẩm chất của

    mình – Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất của các dân tộc; do truyền thống

    lịch sử mang lại và do những thành tựu rất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn

    cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng… làm cho Đảng ta trở thành Đảng

    chính trị duy nhất có khả năng tập hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý

    tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

    trong thực tế. Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta.

    *Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc

    tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị ở

    nước ta thực hiện.

    Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm bảo cho

    hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức

    mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị.

    *Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công

    nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi.

    Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính

    trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự

    thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì

    mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    III. Các tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị ở nước

    ta

    Ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang là chủ thể chân

    chính của quyền lực. Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là công cụ

    thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị của nước ta gồm

    nhiều tổ chức, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng

    tổ chức, nhưng cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế – xã hội nhằm đảm

    bảo quyền lực của nhân dân.

    Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm:

    Các tổ chức được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công

    nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng

    Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

    IV. Chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam

    Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung

    thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là một bộ

    phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính

    trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau:

    – Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ

    trương phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện

    Cương lĩnh, đường lối của Đảng.

    – Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quần chúng.

    Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá cụ

    thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể. Vì

    vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng

    thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng.

    – Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và đội ngũ cán

    bộ, đảng viên của Đảng. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác định đường lối,

    chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan

    lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị – xã hội.

    – Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương,

    làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ…

    2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam

    Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện

    ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để

    quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do

    nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân,

    thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo

    đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

    Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy

    chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân.

    Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ

    quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam:

    * Quốc hội:

    Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước

    cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội do nhân dân trực tiếp

    bầu ra, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập ra Hiến pháp và luật pháp (lập hiến

    và lập pháp). Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm

    vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ

    máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

    Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

    Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp. Chính phủ là cơ quan

    chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ

    nghĩa Việt Nam.

    Sơ đồ cơ cấu tổ chức văn phòng Quốc Hội:

    * Chính phủ:

    Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn

    hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan chấp

    hành, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội. Trên ý

    nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp.

    * Cơ quan tư pháp:

    Cơ quan tư pháp gồm: Toà án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra. Đây là

    những cơ quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lý những tổ chức và

    cá nhân vi phạm pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh,

    chính xác.

    Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của Nhà

    nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Toà án là

    cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai bị coi là có tội và phải chịu

    hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật.

    Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét xử đúng

    người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống

    nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước.

    Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố…Với ý nghĩa đó,

    các tổ chức Toà án, Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tư pháp.

    Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục

    nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì vậy, cần tăng cường pháp chế xã

    hội chủ nghĩa.

    3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

    Đây là những tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi

    các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của nhân

    dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình

    nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân.

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự

    nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ,

    nâng cao trách nhiệm công dân của các hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép

    nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và

    Nhà nước.

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính

    quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng tham gia bầu cử

    Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối,

    chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân với cán bộ, công

    chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.

    4. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

    Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai

    cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục

    đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về

    mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động,

    phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.

    Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có tính chất quần chúng và tính chất giai cấp

    công nhân, có chức năng: Đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng

    của công nhân viên chức lao động; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội,

    tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục,

    động viên công nhân viên chức lao động phát huy quyền làm chủ đất nước, thực hiện

    nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    5. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

    Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị – xã hội tập hợp tầng

    lớp thanh niên, là đoàn thể của các thanh niên ưu tú, đội hậu bị của Đảng. Tổ chức Đoàn

    được thành lập trên phạm vi cả nước, có mặt ở hầu hết các cơ quan, đơn vị, tổ chức từ

    trung ương đến cơ sở nhằm thu hút thế hệ trẻ vào những hoạt động xã hội bổ ích, lành

    mạnh, qua đó giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho đoàn viên thanh niên

    6. .Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

    Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giới nữ, có chức

    năng đại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ,

    tham gia quản lý Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng. Hội đoàn kết, vận động, tổ chức,

    hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,

    góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    7. Hội Nông dân Việt Nam:

    Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do

    Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ

    sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội nông dân Việt

    Nam vận động giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập

    nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng

    Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền và lợi ích của nông dân Việt Nam.

    8. Hội Cựu chiến binh Việt Nam:

    Hội Cựu chiến binh Việt Nam là đoàn thể chính trị – xã hội, thành viên của Mặt

    trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong

    hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ

    trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội.

    Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ cựu chiến

    binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây

    dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính

    quyền, chế độ, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiến binh, chăm lo

    giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu.

    Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động

    nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường

    đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng

    phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.

    9. Các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp khác của nhân dân

    Các tổ chức chính trị – xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng,

    động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực

    hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân;

    tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối

    liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá

    trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,

    nhân dân làm chủ.

    C. Kết Luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lãnh Đạo Thực Hiện Tốt Chức Năng Tham Mưu Và Chỉ Đạo Lực Lượng Toàn Quân
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Tỉnh Ủy Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Theo Quyết Định 1699
  • Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Có Những Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Gì?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Nhân Sự Của Ban Tổ Chức
  • Vị Trí, Vai Trò Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển Tại Việt Nam
  • Xây Dựng Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển Ở Việt Nam
  • Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển
  • Mô Hình Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển
  • Từ Nhà Nước Điều Hành Sang Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển ¬¬
    • 1 – Hệ thống chính trị là gì?
    • 2 – Phân tích vị trí, vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị
    • 3 – Nguyên nhân hình thành vị trí, vai trò của nhà nước

      • Nhà nước là sản phẩm thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội do giai câp cầm quyền lãnh đạo, nhằm xoá bỏ chê độ cũ, thiết lập chế độ mới
      • Nhà nước là tổ chức đại diện chính thức, hợp pháp cho toàn thế xã hội, nhân danh xã hội để thực hiện việc tổ chức và quản lý hầu hết các mặt của đời sống xã hội
      • Nhà nước có quyền lực công khai và có phạm vi tác động rộng lớn nhất trong hệ thống chính trị, bao trùm lên toàn xã hội, tới mọi cá nhân, tổ chức, mọi miền lãnh thổ và các lĩnh vực hoạt động cơ bản của xã hội
      • Nhà nước có pháp luật, công cụ quản lý xã hội có hiệu quả nhất
      • Nhà nước là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia
      • Nhà nước có sức mạnh vật chất to lớn nhất, vì vậy nhà nước có đầy đủ các phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

    Phân tích vị trí, vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị

    Nhà nước là gì?

    Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền.

    Hệ thống chính trị là gì?

    Hệ thống chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội trực tiếp nắm giữ hoặc tham gia thực thi quyền lực chính trị, có mối liên hệ mật thiết với nhau dưới sự lãnh đạo của một đảng hoặc một liên minh các đảng phái chính trị nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị của lực lượng cầm quyền.

    2 – Phân tích vị trí, vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị

    – Vị trí: Nhà nước ở vị trí trung tâm của hệ thống chính trị, nơi hội tụ của đời sống chính trị xã hội. Nhà nước có quan hệ mật thiết với tất cả các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, thu hút các tổ chức đó về phía mình.

    – Vai trò: Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định trong hệ thống chính trị. Nhà nước quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của hệ thống chính trị; quyết định bản chất, đặc trưng, vai trò của hệ thống chính trị. Nhà nước chi phối tất cả các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, nó có thể cho phép thành lập hoặc làm mất đi một tổ chức nào đó trong hệ thống chính trị. Nhà nước là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện, củng cố, bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị thống trị, lãnh đạo của giai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền; để tổ chức, quản lý, xây dựng và phát triển xã hội.

    3 – Nguyên nhân hình thành vị trí, vai trò của nhà nước

    Sở dĩ nhà nước có vị trí, vai trò đó là vì so với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, nhà nước có những ưu thế sau:

    Nhà nước là sản phẩm thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội do giai câp cầm quyền lãnh đạo, nhằm xoá bỏ chê độ cũ, thiết lập chế độ mới

    Hệ thống chính trị được hình thành cùng với sự hình thành của nhà nước tư sản nên chỉ trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa mới có hệ thống chính trị. So với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, nhà nước được xây dựng, bảo vệ, củng cố và phát triển trên nền tảng xã hội rộng lớn nhất. Cơ sở xã hội của nhà nước là mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội… Cơ sở xã hội của các tổ chức khác chỉ là một bộ phận của dân cư.

    Nhà nước là tổ chức đại diện chính thức, hợp pháp cho toàn thế xã hội, nhân danh xã hội để thực hiện việc tổ chức và quản lý hầu hết các mặt của đời sống xã hội

    Nhà nước là tổ chức do nhân dân thành lập, đại diện và thực hiện quyền lực của nhân dân nên chỉ nhà nước mới là đại diện chính thức cho toàn xã hội, có chức năng tổ chức và quản lý xã hội để thiết lập trật tự xã hội, vì sự phát triển chung của xã hội.

    Nhà nước có quyền lực công khai và có phạm vi tác động rộng lớn nhất trong hệ thống chính trị, bao trùm lên toàn xã hội, tới mọi cá nhân, tổ chức, mọi miền lãnh thổ và các lĩnh vực hoạt động cơ bản của xã hội

    Để thực hiện quyền lực của mình, nhà nước có bộ máy hùng mạnh nhất, bao gồm một hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, trong đó có cả các cơ quan bạo lực như quân đội, cảnh sát để bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực nhà nước.

    Nhà nước có pháp luật, công cụ quản lý xã hội có hiệu quả nhất

    Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với tất cả các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng tất cả sức mạnh của mình, trong đó có sức mạnh cưỡng chế. Nhà nước sử dụng toàn bộ sức mạnh vật chất, tinh thần của mình để tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Khi cần thiết, nhà nước sử dụng sức mạnh bạo lực của mình để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống, nhờ vậy, các quy định của pháp luật có thể được triển khai và thực hiện một cách rộng rãi trong toàn xã hội, do đó, các chính sách của nhà nước có thể trở thành hiện thực trong xã hội.

    Quy định của các tổ chức khác chỉ có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối với các hội viên trong tổ chức, đồng thời chỉ được đảm bảo thực hiện bằng sự tự giác của các hội viên và các hình thức kỷ luật của tổ chức, nên sức mạnh và hiệu quả thấp hơn pháp luật. Các tổ chức khác chỉ được nêu sáng kiến xây dựng pháp luật khi được nhà nước cho phép.

    Nhà nước là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia

    Trong hệ thống chính trị chỉ nhà nước mới có quyền cho phép các tổ chức khác trong hệ thống chính trị được thành lập hoặc được tồn tại và hoạt động một cách hợp pháp, chỉ nhà nước mới có toàn quyền xác định và thực hiện các đường lối, chính sách đối ngoại của mình. Do đó, chỉ nhà nước mới đủ khả năng huy động mọi tiềm năng trong nước, mọi sự hợp tác và hỗ trợ quốc tế vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

    Nhà nước có sức mạnh vật chất to lớn nhất, vì vậy nhà nước có đầy đủ các phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

    Nhà nước có quyền thu thuế, phát hành tiền, quốc trái và là chủ sở hữu lớn nhất trong xã hội nên nó có sức mạnh vật chất to lớn, không chỉ có thể trang trải cho các hoạt động của nó và của xã hội mà còn có thể hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho một số tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Chính Trị
  • Tổ Chức Bộ Máy Hệ Thống Chính Trị
  • Bài 3: Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị; Những Yếu Tố Tác Động Và Quy Định Mô Hình Tổ Chức Của Hệ Thống Chính Trị
  • Chuyên Đề 3: Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Của Dân, Do Dân, Vì Dân
  • Tiểu Luận Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Các Bộ Phận Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam
  • Địa Vị Pháp Lí Và Chức Năng Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Kiểm Toán Nhà Nước Trong Sự So Sánh Quốc Tế
  • Luật Kiểm Toán Nhà Nước 2022
  • Ktnn Có Chức Năng Minh Bạch Hóa Việc Sử Dụng Tiền
  • Đề tài: “Cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay, chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị.” Mở đầu Qua hơn 17 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu cao độ của toàn Đảng, toàn dân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế- xã hội và đang đứng trước yêu cầu mới của sự phát triển ở tầm cao hơn trước. Trong thời kỳ phát triển mới, bên cạnh những cơ hội, thuận lợi, đất nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức to lớn, trước tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực cao độ nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục vững bước tiến lên. Để đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta phải được kiện toàn, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Nhưng muốn kiện toàn, đổi mới trước hết chúng ta phải hiểu được thực trạng của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay. Vì vậy, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài : “Cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay, chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị.” B. Nội dung I.Khái quát về hệ thống chính trị Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền. – Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính của quyền lực. Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng. II. Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta 1.. Bản chất: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình. Vì vậy, hệ thống chính trị ở nước ta có những bản chất sau: *Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân: Nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân. Từ đó đã quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. *Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước hết ở chỗ: Quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột. *Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước ta. Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. 2. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay: Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau: *Một là, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ chức. *Hai là, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, do những phẩm chất của mình – Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựu rất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng… làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tế. Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta. *Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta thực hiện. Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị. *Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi. Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. III. Các tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị ở nước ta Ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang là chủ thể chân chính của quyền lực. Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị của nước ta gồm nhiều tổ chức, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế – xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Các tổ chức được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. IV. Chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị 1. Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau: – Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng. – Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể. Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng. – Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác định đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị – xã hội. – Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ… 2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam: * Quốc hội: Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập ra Hiến pháp và luật pháp (lập hiến và lập pháp). Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sơ đồ cơ cấu tổ chức văn phòng Quốc Hội: * Chính phủ: Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan chấp hành, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội. Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp. * Cơ quan tư pháp: Cơ quan tư pháp gồm: Toà án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra. Đây là những cơ quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lý những tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, chính xác. Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Toà án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét xử đúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước. Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố…Với ý nghĩa đó, các tổ chức Toà án, Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tư pháp. Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì vậy, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. 3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đây là những tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. 4. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có tính chất quần chúng và tính chất giai cấp công nhân, có chức năng: Đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân viên chức lao động; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục, động viên công nhân viên chức lao động phát huy quyền làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị – xã hội tập hợp tầng lớp thanh niên, là đoàn thể của các thanh niên ưu tú, đội hậu bị của Đảng. Tổ chức Đoàn được thành lập trên phạm vi cả nước, có mặt ở hầu hết các cơ quan, đơn vị, tổ chức từ trung ương đến cơ sở nhằm thu hút thế hệ trẻ vào những hoạt động xã hội bổ ích, lành mạnh, qua đó giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho đoàn viên thanh niên 6. .Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giới nữ, có chức năng đại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia quản lý Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng. Hội đoàn kết, vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 7. Hội Nông dân Việt Nam: Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội nông dân Việt Nam vận động giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền và lợi ích của nông dân Việt Nam. 8. Hội Cựu chiến binh Việt Nam: Hội Cựu chiến binh Việt Nam là đoàn thể chính trị – xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội. Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. 9. Các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp khác của nhân dân Các tổ chức chính trị – xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. C. Kết Luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị
  • Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Việt Nam
  • Mô Hình, Cấu Trúc Của Hệ Thống Chính Trị Trong Mối Quan Hệ Với Chức Năng Và Phương Thức Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị ​
  • Quyền Hành Pháp Và Chủ Thể Thực Hiện Quyền Hành Pháp
  • Sự Phối Hợp Giữa Cơ Quan Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp Ở Việt Nam
  • Đề Tài Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị
  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Các Bộ Phận Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam
  • Địa Vị Pháp Lí Và Chức Năng Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Kiểm Toán Nhà Nước Trong Sự So Sánh Quốc Tế
  • Luật Kiểm Toán Nhà Nước 2022
  • Đề tài: “Cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay, chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị.” Mở đầu Qua hơn 17 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu cao độ của toàn Đảng, toàn dân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế- xã hội và đang đứng trước yêu cầu mới của sự phát triển ở tầm cao hơn trước. Trong thời kỳ phát triển mới, bên cạnh những cơ hội, thuận lợi, đất nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức to lớn, trước tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực cao độ nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục vững bước tiến lên. Để đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta phải được kiện toàn, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Nhưng muốn kiện toàn, đổi mới trước hết chúng ta phải hiểu được thực trạng của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay. Vì vậy, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài : “Cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay, chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị.” B. Nội dung I.Khái quát về hệ thống chính trị Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền. – Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính của quyền lực. Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng. II. Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta 1.. Bản chất: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình. Vì vậy, hệ thống chính trị ở nước ta có những bản chất sau: *Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân: Nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân. Từ đó đã quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. *Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước hết ở chỗ: Quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột. *Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước ta. Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. 2. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay: Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có những đặc điểm cơ bản sau: *Một là, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ chức. *Hai là, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, do những phẩm chất của mình – Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựu rất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng… làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tế. Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta. *Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta thực hiện. Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị. *Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi. Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. III. Các tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị ở nước ta Ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang là chủ thể chân chính của quyền lực. Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị của nước ta gồm nhiều tổ chức, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế – xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Các tổ chức được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. IV. Chức năng của các tổ chức trong hệ thống chính trị 1. Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau: – Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng. – Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể. Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng. – Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác định đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị – xã hội. – Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ… 2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam: * Quốc hội: Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập ra Hiến pháp và luật pháp (lập hiến và lập pháp). Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sơ đồ cơ cấu tổ chức văn phòng Quốc Hội: * Chính phủ: Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan chấp hành, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội. Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp. * Cơ quan tư pháp: Cơ quan tư pháp gồm: Toà án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra. Đây là những cơ quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lý những tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, chính xác. Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Toà án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét xử đúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của Nhà nước. Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố…Với ý nghĩa đó, các tổ chức Toà án, Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tư pháp. Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Vì vậy, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. 3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đây là những tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. 4. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có tính chất quần chúng và tính chất giai cấp công nhân, có chức năng: Đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân viên chức lao động; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục, động viên công nhân viên chức lao động phát huy quyền làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị – xã hội tập hợp tầng lớp thanh niên, là đoàn thể của các thanh niên ưu tú, đội hậu bị của Đảng. Tổ chức Đoàn được thành lập trên phạm vi cả nước, có mặt ở hầu hết các cơ quan, đơn vị, tổ chức từ trung ương đến cơ sở nhằm thu hút thế hệ trẻ vào những hoạt động xã hội bổ ích, lành mạnh, qua đó giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho đoàn viên thanh niên 6. .Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giới nữ, có chức năng đại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia quản lý Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng. Hội đoàn kết, vận động, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 7. Hội Nông dân Việt Nam: Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội nông dân Việt Nam vận động giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền và lợi ích của nông dân Việt Nam. 8. Hội Cựu chiến binh Việt Nam: Hội Cựu chiến binh Việt Nam là đoàn thể chính trị – xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội. Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. 9. Các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp khác của nhân dân Các tổ chức chính trị – xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. C. Kết Luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Việt Nam
  • Mô Hình, Cấu Trúc Của Hệ Thống Chính Trị Trong Mối Quan Hệ Với Chức Năng Và Phương Thức Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị ​
  • Quyền Hành Pháp Và Chủ Thể Thực Hiện Quyền Hành Pháp
  • Sự Phối Hợp Giữa Cơ Quan Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp Ở Việt Nam
  • Tuần 31. Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính
  • Chức Năng Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Hơn Hành Chính Công Là Gì? Những Dịch Vụ Của Hành Chính Công
  • Quyết Định Hành Chính Là Gì? Phân Biệt Với Quyết Định Khác?
  • Tài Liệu Ôn Tập Môn Hành Chính (Phần 3)
  • Tuần 31. Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính
  • Sự Phối Hợp Giữa Cơ Quan Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp Ở Việt Nam
  • Chức năng của nhà nước trong hệ thống khoa học pháp lý

    Chức năng của nhà nước là những phương diện (mặt) hoạt động chủ yếu của nhà nước nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước. còn nhiệm vụ là những vấn đề, những mục tiêu mà nhà nước cần đạt được và bao giờ cũng có đích cuối cùng. Chức năng của nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất của nhà nước, do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội … của xã hội quyết định ở mỗi thời kỳ phát triển.

    Chức năng nhà nước do bộ máy nhà nước thực hiện, mỗi cơ quan nhà nước sẽ thực hiện một số hoạt động nhất định: có cơ quan chuyên xây dựng pháp luật, cơ quan chuyên xét xử, cơ quan chuyên quản lý kinh tế … Cả bộ máy tạo thành một cơ chế để thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước.

    – Xuất phát từ tính xã hội, nhà nước có những chức năng như: Quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo vệ trật tự xã hội; hợp tác với bên ngoài …

    – Xuất phát từ tính giai cấp, nhà nước có những chức năng như: Trấn áp các giai cấp đối kháng, bảo vệ cơ sở kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh, chính trị, an toàn xã hội; bảo vệ đất nước …

    Các chính sách, mục tiêu kinh tế – xã hội mà nhà nước đề ra bao giờ cũng có lợi cho lực lượng cầm quyền.

    Các chức năng của nhà nước có quan hệ mật thiết với nhau. Việc xác định và thực hiện các chức năng của nhà nước luôn phải xuất phát từ tình hình thực tế của đát nước. Đồng thời, kết quả của việc thực hiện tốt chức năng này sẽ tác động mạnh mẽ và là điều kiện để thực hiện các chức năng khác.

    Để thực hiện các chức năng của mình, nhà nước sử dụng nhiều hình thức và phương pháp hoạt động khác nhau, trong đó có ba hình thức hoạt động chính là:

    • Xây dựng pháp luật;
    • Tổ chức thực hiện pháp luật;
    • Hoạt động xét xử và bảo vệ pháp luật.

    Phương pháp hoạt động để thực hiện các chức năng của nhà nước cũng rất đa dạng tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước trong những giai đoạn nhất định, nhưng nhìn chung, có hai phương pháp chính là thuyết phục và cưỡng chế.

    Cùng với sự phát triển của nhà nước nói chung, chức năng của nhà nước cũng có sự phát triển. Từ chỗ, nhà nước có ít chức năng tiến tới có nhiều chức năng hơn, đặc biệt là khi tính xã hội của nhà nước ngày càng nhiều hơn, sứ mệnh của nhà nước đối với xã hội ngày càng lớn hơn. Nội dung các chức năng của nhà nước cũng từ giản đơn đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ phạm vi hẹp đến quy mô lớn hơn.

    Xu hướng hiện nay các nhà nước đều thu hẹp nội dung những chức năng của mình, chỉ thực hiện những công việc quan trọng, những công việc có hiệu quả, quản lý vĩ mô. Những gì mà xã hội thực hiện tốt, thực hiện có hiệu quả hơn thì nhà nước không làm mà để xã hội tự lo liệu.

    Các nước lớn trên thế giới thường có xu hướng bành trướng, lạm quyền, tìm cách can thiệp vào công việc của các nước khác. Do vậy, mỗi nhà nước cần phải khôn khéo thực hiện tốt các chức năng của mình để vừa phát triển nhanh, bền vững vừa bảo vệ được những lợi ích chính đáng của dân tộc, đất nước mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hãy Phát Biểu Một Định Nghĩa Về Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nêu Những Đặc Trưng, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Nó? Tại Sao Nói Việc Xây Dựng Và Củng Cố Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Là Một Tất Yếu Trong Tiến Trình Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội?
  • Phân Tích Nguồn Gốc, Bản Chất, Đặc Trưng Và Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước
  • Phân Tích Khái Niệm Và Cho Ví Dụ Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Tại Sao Nói Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Thực Thi Quyền Hành Pháp?
  • Chức Năng Của Tài Chính Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Mô Hình, Cấu Trúc Của Hệ Thống Chính Trị Trong Mối Quan Hệ Với Chức Năng Và Phương Thức Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị ​

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Việt Nam
  • Đề Tài Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị
  • Tiểu Luận Cấu Trúc Hệ Thống Chính Trị Nước Ta Hiện Nay, Chức Năng Của Các Tổ Chức Trong Hệ Thống Chính Trị
  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Các Bộ Phận Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam
  • Mô hình, cấu trúc của hệ thống chính trị trong mối quan hệ với chức năng và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ​

    1. Lý thuyết Easton về hệ thống chính trị 1.1. Khái niệm “hệ thống”:

    Người đầu tiên đưa ra lý thuyết chung về hệ thống và lý giải về tầm quan trọng của việc nghiên cứu về hệ thống là nhà sinh vật học Mỹ gốc Áo Karl Ludwig Von Bertalanffy (1901-1972). Ông cho rằng, nếu như các hệ thống vật lý là những hệ thống khép kín thì hệ thống của các thực thể sống luôn luôn là những hệ thống mở, bởi cơ thể sống đòi hỏi một nguồn cung thường xuyên, không ngừng nghỉ các vật chất từ môi trường xung quanh theo nhu cầu của chính cơ thể sống đó; nhờ sự tương tác đó mà cơ thể sống có thể tạo cho mình năng lượng sống và cung cấp cho môi trường xung quanh nó những thứ hữu ích của mình.

    Lý thuyết hệ thống của L. Bertalanffy đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật như điều khiển học, nhiệt động học, kỹ thuật hệ thống, lý thuyết giải các bài toán sáng chế (TRIZ) hay còn gọi là phương pháp luận tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật mới ( G.Altshuller), động lực học v.v…

    1.2. Khái niệm hệ thống chính trị

    Vào năm 1965, lần đầu tiên nhà chính trị học người Mỹ David Easton (1917-2014) trong chuyên khảo ” Hệ thống chính trị” đã đưa khái niệm ” hệ thống” vào lĩnh vực khoa học chính trị và đồng thời đưa ra khái niệm ” hệ thống chính trị “, cùng với đó, đã đề xuất mô hình lý thuyết về hệ thống chính trị với mục đích chứng minh về những đặc trưng hệ thống trong lĩnh vực chính trị. Theo ông, hệ thống chính trị được hiểu trên hai phương diện: về phương diện giá trị và về phương diện cấu trúc, cơ chế vận hành. Ở nghĩa thứ nhất, hệ thống chính trị là một tập hợp nhất định các mối tương tác để qua đó mà phát hiện, xử lý, duy trì và phát triển các giá trị của quyền lực chính trị và suy rộng ra là các giá trị của chế độ chính trị. Ở nghĩa thứ hai, hệ thống chính trị được D.Easton quan niệm là một cấu trúc được đặt trong những môi trường nhất định và tương tác với nó – đó là các môi trường tự nhiên, môi trường xã hội (kinh tế, chính trị, trong nước, quốc tế v.v…) và nhờ sự tương tác đó với môi trường xung quanh mà các cấu trúc thiết chế chính trị thực hiện được chức năng đưa ra các quyết định chính trị (đường lối chính sách, pháp luật) và tổ chức thực hiện các quyết sách đó.

    * Chú thích sơ đồ: – V và W: Kênh điều hòa, phối hợp, tạo đồng thuận lợi ích và yêu cầu chính trị. – I: Kênh chuyển hóa các yêu cầu (sau khi được xử lý) thành các quyết sách chính trị. – O: Đưa quyết sách vào thực tiễn (thi hành quyết sách). – D: Khu vực chuyển hóa các nhu cầu xã hội thành các yêu cầu về chính trị. – S, T, U, V, W: Các kênh chuyển tải yêu cầu chính trị, trong đó: + T: Cổng tiếp nhận. + U: Các kênh xử lý, phân loại yêu cầu để chuyển tải đến khu vực xử lý R.

    Như vậy, D.Easton không coi hệ thống chính trị chỉ bao gồm các thiết chế nhà nước, mặc dù đặt chúng trong cấu phần trung tâm, có chức năng đưa ra các quyết sách chính trị và pháp luật và bảo đảm thực thi chính sách và pháp luật. Các thiết chế nhà nước như quốc hội, tổng thống, các cơ quan tư pháp và hệ thống công vụ chưa phải là cấu phần duy nhất của hệ thống chính trị, mà là một tổ hợp gồm: các thiết chế nhà nước, các yếu tố đầu vào, các yếu tố đầu ra. Đầu vào (đối với các thiết chế nhà nước), về mặt hình thức thể hiện, bao gồm trong đó dư luận xã hội, bầu cử và các hình thức của người dân tham gia vào đời sống chính trị (dân chủ tham gia), các đảng chính trị, các phong trào, các nhóm lợi ích, truyền thông. Đầu ra (của các thiết chế nhà nước) gồm pháp luật, các chương trình, dự án, các chính sách (chẳng hạn, chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách quốc phòng, đối ngoại v.v…). Cả ba hợp phần: các thiết chế nhà nước, đầu vào, đầu ra đều được đặt dưới ảnh hưởng và tác động mang tính quyết định (bởi được hiến định) của các giá trị cốt lõi như sự giới hạn của quyền lực nhà nước, chế độ dân chủ đại diện, các quyền tự do, quyền dân sự v.v… (thực chất, đó là các giá trị của dân chủ và pháp quyền – tác giả chú thích). Trong một công trình nghiên cứu đồ sộ mang tên ” Nền dân chủ Mỹ” ( The American Democracy) hai nhà nghiên cứu Thomas E. Patterson và Gary M.Halter thuộc trường quản trị John F.Kennedy, ĐH Harvard đã làm rõ hơn những giá trị hiến định ở Mỹ mà D.Easton đề cập, đó là ba nhóm giá trị: nền dân chủ, chủ nghĩa hiến pháp, chủ nghĩa tư bản. Dân chủ được hiểu là quản trị bởi người dân và được thực hiện thông qua hệ thống dân chủ đại diện hình thành thông qua bầu cử.Chủ nghĩa hiến pháp được hiểu là những nguyên tắc nhằm giới hạn quyền lực của Nhà nước trong mối quan hệ với công dân. Chủ nghĩa tư bản được hiểu là một hệ thống kinh tế dựa trên nền tảng của các nguyên lý thị trường tự do.

    Vào những năm 80 của thế kỷ trước, trên cơ sở phát triển mô hình lý thuyết của D.Easton về hệ thống chính trị, một nhóm nhà nghiên cứu chính trị học người Mỹ đứng đầu là giáo sư Gabriel Abraham Almond (1911-2002) đã cho ra đời cuốn chuyên khảo nổi tiếng trong khoa học chính trị hiện đại: ” Chính trị so sánh hiện nay” (” Comparative Politics Today“). Các tác giả này cho rằng, hệ thống chính trị là một loại hệ thống xã hội nhưng có các thẩm quyền đưa ra các quyết định quyền lực chính thức. Về cấu trúc, đó là một hệ thống các thiết chế như Nghị viện, các cơ quan quản lý, hành chính công vụ, các tòa án với các chức năng hình thành và thực hiện các mục tiêu của toàn xã hội cũng như của các bộ phận khác nhau trong xã hội. Qua định nghĩa này có thể thấy, cũng giống như D.Easton, các tác giả đã không coi các thiết chế nhà nước là tổ hợp duy nhất của hệ thống chính trị mà còn có yếu tố “các mục tiêu của toàn xã hội và của các bộ phận khác nhau trong xã hội”. Và cũng như D. Easton, nhóm của G.Almond đã coi hệ thống chính trị gồm có cả “đầu vào” và “đầu ra” với những chức năng được xác định. Theo đó, các chức năng của yếu tố “đầu vào” gồm: chức năng tập hợp, kết nối lợi ích, chức năng xã hội hóa chính trị, chức năng lựa chọn lợi ích, chức năng giao tiếp chính trị. Tập hợp và kết nối lợi ích được hiểu là một quá trình của việc hình thành và biểu hiện các yêu cầu, đòi hỏi đối với các thiết chế có chức năng đưa ra các quốc sách chính trị và quyền lực. Lựa chọn lợi ích là quá trình phân loại các yêu cầu, đòi hỏi về lợi ích, liên hệ chúng với nội dung các chương trình hành động của các chính đảng, các cuộc vận động tranh cử, các kiến nghị của dân chúng. Xã hội hóa chính trị là quá trình nhằm đưa các quy tắc, chuẩn mực và các giá trị của hệ thống chính trị đến với cá nhân công dân các giai tầng và nhóm xã hội. Giao tiếp chính trị được hiểu là việc tuyên truyền, chuyển tải các thông tin chính trị giữa các bộ phận của hệ thống chính trị và giữa hệ thống chính trị với xã hội.Những chức năng nêu trên của yếu tố “đầu vào” thuộc về các chủ thể của hệ thống chính trị như các cơ quan nhà nước, đảng chính trị, các nhóm lợi ích.

    “Đầu ra” có các chức năng: xác lập chính sách và pháp luật, thực hiện chính sách và pháp luật, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chính sách và pháp luật. Những chức năng đó thuộc về các chủ thể như đảng cầm quyền, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Trong những công trình nghiên cứu về sau của D.Easton, hệ thống chính trị đã được mô tả như một quá trình hình thành và đưa ra các quyết sách chính trị, trên cơ sở ý tưởng về các yếu tố “đầu vào”, “đầu ra” và “các chức năng” của đầu vào và đầu ra của hệ thống chính trị.

    Trên cơ sở lập luận về hệ thống chính trị như là sự tương tác giữa các thiết chế tổ chức chính trị và nhà nước với các yếu tố “đầu vào”, “đầu ra” của hệ thống đó, nhà xã hội học chính trị người Mỹ là Seymour Martin Lipset (1922-2006) đã đưa ra khái niệm chung và các tiêu chí hiệu quả và mức độ ổn định của hệ thống chính trị. Theo tác giả này, hiệu quả của hệ thống chính trị là khả năng phản ứng nhanh chóng và đầy đủ đối với các yêu cầu và đòi hỏi của xã hội, là việc đạt các mục tiêu đề ra trong việc quản lý các vấn đề chính trị và xã hội. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hệ thống chính trị bao gồm:

    – Năng lực huy động được các nguồn lực.

    – Năng lực kiểm soát được hành vi cá nhân và xã hội.

    – Năng lực phân phối các nguồn lực khan hiếm cũng như các dịch vụ, các vị trí.

    – Năng lực bảo tồn và phát triển các giá trị trong xã hội.

    Khái niệm ” ổn định chính trị” được S.Lipset coi là một trạng thái bền vững của hệ thống chính trị có được trên cơ sở khả năng phản ứng đối với những yêu cầu và đòi hỏi mà xã hội đặt ra cho hệ thống đó và khả năng đưa ra được và thực hiện được những quyết sách một cách có hiệu quả. Điều kiện bảo đảm sự ổn định chính trị gồm hai yếu tố quan trọng là tính chính đáng và tính hiệu quả của quyền lực chính trị, khi hai yếu tố đó có những mức độ liên hệ với nhau thì sẽ cho ta những trạng thái ổn định khác nhau của hệ thống chính trị. S.Lipset chia ra 3 mức độ tính ổn định của hệ thống chính trị như sau: 1) hệ thống vừa bảo đảm tính chính đáng vừa có hiệu quả, trường hợp này hệ thống chính trị được coi là ổn định cao; 2) hệ thống chỉ có một trong hai tính chất đó – khi đó được hiểu là một hệ thống có hiệu quả nhưng không có tính chính đáng hoặc tuy có tính chính đáng nhưng không có hiệu quả; cả hai trường hợp này cho ta kết quả về một hệ thống chính trị tương đối ổn định; 3) hệ thống chính trị vừa không có hiệu quả, vừa thiếu tính chính đáng là hệ thống không ổn định.

    Lý thuyết của các nhà nghiên cứu khoa học chính trị Mỹ về hệ thống chính trị đã trở thành lý thuyết phổ biến trong khoa học chính trị hiện đại. Trong các giáo trình về chính trị học xuất bản tại LB Nga trong những thập niên gần đây đã có sự tiếp cận sát vào lý thuyết của Easton cùng với việc tiếp cận những tư tưởng của các tác giả khác thuộc trường phái xã hội học chính trị Mỹ như Talcott Parsons, Gabriel Almond, Bringham Powell v.v… Đánh giá về lý thuyết này, các nhà chính trị học Nga coi đây là một bước chuyển trong nghiên cứu về chính trị từ cách nhìn theo kiểu cấu trúc hình thức về các thiết chế tổ chức sang cách nghiên cứu theo sự tương tác và nhận thức về các giá trị trong chính trị như những hợp phần của hệ thống chính trị thực tế. Với sự “mặc nhiên” thừa nhận lý thuyết Easton, trong một cuốn giáo trình chính trị học khác, các nhà nghiên cứu chính trị học Nga đã đưa ra khái niệm “hệ thống chính trị” như sau: ” Hệ thống chính trị là tổ hợp các cấu trúc, các quy tắc, các định hướng chính trị với chức năng kết nối xã hội, thích nghi với môi trường xa hội, có khả năng đưa ra được những quyết sách chính trị quan trọng nhất “.

    Trong một công trình đồ sộ giới thiệu hầu hết các hệ thống chính trị tại các quốc gia trên thế giới (192 quốc gia) của hai nhà chính trị học Anh là J.Denis DerbyshireIan Derbyshire do nhà xuất bản Helicon ấn hành năm 1999, một định nghĩa về hệ thống chính trị đã được đưa ra và qua định nghĩa đó có thể thấy được ảnh hưởng có tính quyết định của lý thuyết Easton. Các tác giả viết: ” Hệ thống chính trị của một đất nước – đó là một cái gì đó nhiều hơn là các thiết chế tổ chức. Hệ thống đó thực chất là sự tương tác năng động giữa các tư tưởng và lợi ích: một quá trình phản ánh các nhu cầu, đòi hỏi; và đánh giá việc thực hiện các nhu cầu và đòi hỏi đó là quá trình chuyển tải các sự kiện chính trị.

    Qua nghiên cứu lý thuyết hiện đại về hệ thống chính trị bước đầu có thể rút ra một nhận xét như sau:

    Trong quan điểm về hệ thống chính trị đã có bước chuyển từ quan điểm truyền thống nặng về mô tả cấu trúc nội tại, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các thiết chế tổ chức chính trị, sang quan điểm mang đậm dấu ấn của xã hội học chính trị, xem hệ thống chính trị dưới ba phiên bản (hay là ba phương diện):

    (1) Là một hệ thống các giá trị làm nền tảng tư tưởng, làm mục đích phụng sự của cả hệ thống chính trị. Những giá trị đó thường được chính thức xác định bởi Hiến pháp (hiến định) và cũng là tiêu chí cao nhất để đánh giá hoạt động của hệ thống chính trị và các thiết chế trong hệ thống đó.

    (2) Là một hệ thống kết nối giữa các thiết chế chính trị (đảng, nhà nước v.v…) với đời sống xã hội thông qua các hình thức và thiết chế phản ánh các nhu cầu, đòi hỏi của xã hội trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa trong nước và quốc tế.

    (3) Là một hệ thống các cách thức của sự tương tác, những cơ chế phản ánh, ghi nhận sàng lọc nhu cầu và lợi ích đa dạng, và trên cơ sở đó hình thành các quyết sách chính trị như các chính sách, pháp luật và thực hiện chính sách và pháp luật.

    2. Cấu trúc của hệ thống chính trị

    Quan điểm về hệ thống chính trị như là một quá trình tương tác của nhiều yếu tố khác nhau là cơ sở cho một cách nhìn đa dạng và toàn diện về cấu trúc của hệ thống chính trị.

    Hệ thống chính trị có thể được coi là một hệ thống tương tác và kết nối chủ thể các quan hệ về chính trị.Hệ thống chính trị có thể được xây dựng trên cơ sở tương tác giữa phía quản lý (chính quyền) với đối tượng quản lý (người dân) theo những nguyên tắc khác nhau, chẳng hạn như nguyên tắc đồng thuận xuất phát từ sự thừa nhận và chia sẻ giá trị công bằng, thể hiện qua các chính sách, pháp luật của các thiết chế lãnh đạo chính trị và nhà nước (chẳng hạn, các quy định về bầu cử công bằng, các chính sách về tiếp cận công vụ và tiếp cận công lý công bằng v.v…).Trường hợp này được gọi là cấu trúc đồng thuận giá trị.

    Một hệ thống chính trị bao gồm những bộ phận thiết chế tổ chức với sự phân công, phối hợp nhất định để tạo thành một cơ chế chung, đây là cấu trúc tổ chức của hệ thống chính trị. Cấu trúc tổ chức dựa trên nguyên tắc phân định chức năng chính trị. Theo đó, Nhà nước luôn là thiết chế quyền lực công, có vai trò và chức năng bảo đảm lợi ích chung; tại các quốc gia có hệ thống chính trị đa đảng thì các đảng chính trị đại diện cho lợi ích lâu dài, phổ biến của những giai cấp, tầng lớp khác nhau; còn các nhóm vận động hàng lang tại các nước đó có vai trò đại diện và phản ánh các lợi ích, yêu cầu phát sinh và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định.

    Trong bất kỳ hệ thống chính trị nào cũng có những cấp độ vai trò khác nhau trong quá trình hình thành và thực hiện các quyết sách chính trị: cấp chiến lược (đảng cầm quyền, cơ quan lập pháp), cấp thực thi áp dụng pháp luật (hành pháp, tư pháp), các đại diện và phản ánh lợi ích, yêu cầu và thụ hưởng các kết quả của chính sách và pháp luật (công dân thông qua các thiết chế xã hội). Trường hợp này được gọi là cấu trúc phân tầng của hệ thống chính trị.

    GS. TSKH. Đào Trí Úc,

    Đại học Quốc gia Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Hành Pháp Và Chủ Thể Thực Hiện Quyền Hành Pháp
  • Sự Phối Hợp Giữa Cơ Quan Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp Ở Việt Nam
  • Tuần 31. Phong Cách Ngôn Ngữ Hành Chính
  • Tài Liệu Ôn Tập Môn Hành Chính (Phần 3)
  • Quyết Định Hành Chính Là Gì? Phân Biệt Với Quyết Định Khác?
  • Chức Năng Của Nhà Nước Chủ Nô Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất, Chức Năng, Bộ Máy Và Hình Thức Nhà Nước Chủ Nô
  • Kiểu Nhà Nước Chủ Nô Là Gì ? Tìm Hiểu Về Kiểu Nhà Nước Chủ Nô
  • Phân Tích Về Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Nhà Nước Và Xã Hội ?
  • Quản Lí Nhà Nước Về An Sinh Xã Hội
  • Quản Lý Nhà Nước Về An Sinh Xã Hội Từ Thực Tiễn Quận Ngũ Hành Sơn
  • Chức năng của nhà nước chủ nô trong hệ thống khoa học pháp lý

    1. Chức năng đối nội:

    Chức năng bảo vệ và củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và đối với người sản xuất (nô lệ), duy trì các hình thức bóc lột của chủ nô đối với nô lệ và những người lao động khác:

    Đi đôi với việc củng cố, bảo vệ chế độ sở hữu chủ nô, nhà nước chủ nô còn thực hiện sự cưỡng bức lao động đối với nô lệ, bắt nô lệ lao động để làm giàu cho chủ nô, cho nhà nước, củng cố các hình thức phụ thuộc khác nhau của nô lệ và những người lao động khác vào giai cấp chủ nô.

    – Chức năng trấn áp nô lệ và các tầng lớp người lao động khác về mọi mặt:

    Từ những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội của xã hội chiếm hữu nô lệ đã dẫn tới những mâu thuẫn rất gay gắt giữa nô lệ với chủ nô. Trong xã hội thường xuyên xảy ra các cuộc khởi nghĩa liên tiếp của nô lệ và của những người lao động khác đứng lên chống lại nhà nước chủ nô, chống lại chủ nô tàn ác. Do sự phản kháng, sự đấu tranh thường xuyên của nô lệ nên chủ nô luôn phải vũ trang và sẵn sàng đàn áp nô lệ trong mọi tình huống và ở bất kỳ đâu. Nhà nước chủ nô đã sử dụng mọi biện pháp có thể mà chủ yếu là các biện pháp quân sự, bạo lực để đàn áp một cách dã man, tàn bạo các cuộc khởi nghĩa của nô lệ. Do bị hạn chế về nhiều mặt và bị đàn áp rất dã man nên hầu như các cuộc khởi nghĩa của nô lệ chống lại chủ nô đều bị thất bại, bị dìm trong máu

    Ngoài việc trấn áp bằng bạo lực, nhà nước chủ nô còn thực hiện trấn áp về tinh thần đối với nô lệ và những người lao động khác. Ví dụ: ở nhà nước chủ nô Spac, những người nô lệ Hilot nếu sinh ra mà bị coi là khỏe mạnh hoặc thông minh thì sẽ bị giết chết để loại trừ khả năng phản kháng của họ trong tương lại. Thỉnh thoảng nhà nước lại tổ chức giết tập thể những người nô lệ để thị uy, khủng bố tinh thần người Hilot. Lợi dụng sự thấp kém, hạn chế của nô lệ, nhà nước chủ nô còn sử dụng tôn giáo để mê hoặc nô lệ, làm cho nô lệ luôn ở trong tình trạng khiếp đảm, run sợ, phụ thuộc, không dám đứng lên đấu tranh để thay đổi địa vị của mình trong xã hội.

    – Chức năng kinh tế – xã hội:

    Các nhà nước chủ nô trong những chừng mực nhất định đều tham gia vào các hoạt động kinh tế – xã hội, giải quyết những công việc thiết yếu cho xã hội. Ở một số nhà nước chủ nô mà đặc biệt là các nhà nước chủ nô phương Đông do những đặc điểm về địa lý, khí hậu, để sản xuất và sinh sống được, người dân buộc phải xây dựng những công trình thủy lợi với quy mô lớn để tưới tiêu, ngoài ra còn phải tổ chức việc khai phá rừng, chống các loại thú dữ, bảo vệ mùa màng và các vật nuôi trong gia đình … Tất cả những công việc trên đòi hỏi sự cố gắng của cả cộng đồng mới có thể thực hiện được. Những hoạt động kinh tế – xã hội nói trên lúc đầu do các công xã, bộ lạc đảm nhiệm nhưng khi xuất hiện nhà nước chủ nô thì nhà nước buộc phải đảm nhiêm. Vì vậy, các nhà nước chủ nô đã tiến hành nhiều hoạt động kinh tế – xã hội để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội vì sự tồn tại và phát triển của xã hội chiếm hữu nô lệ.

    2. Chức năng đối ngoại:– Chức năng tiến hành chiến tanh xâm lược chống lại các nước khác, các dân tộc khác:

    Các nhà nước chủ nô đều coi chiến tranh là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để làm giàu, thực hiện việc cướp đất, cướp tài sản của các dân tộc khác, bắt nhiều tù binh về làm nô lệ. Số tù binh bắt được sẽ làm tăng khả năng lao động bóc lột ở trong nước và còn có thể bán ra nước ngoài để thu lợi. Do vậy, các nhà nước chủ nô đều ra sức chuẩn bị lực lượng để tiến hành chiến tranh xâm lược các quốc gia khác, các dân tộc khác mỗi khi có điều kiện. Nhà nước chủ nô có thể bắt cả một đất nước, cả một dân tộc bại trận làm nô lệ và ra sức bóc lột họ. Chiến tranh xâm lược mà các nhà nước chủ nô tiến hành đã làm cho quan hệ giữa các nước luôn trong tình trạng căng thẳng, đồng thời, nó cũng làm cho mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ ngày càng trở nên gay gắt thêm.

    – Chức năng phòng thủ đất nước và thực hiện quan hệ ngoại giao, buôn bán với các quốc gia khác:

    Song song với việc tiến hành chiến tranh xâm lược, các nhà nước chủ nô phải thực hiện phòng thủ đất nước chống lại các cuộc xâm lăng từ bên ngoài. Biện pháp phổ biến là xây dựng và củng cố quân đội với số lượng đông, xây thành, đắp lũy và các pháo đài vững chắc.

    Ngoài ra, tùy theo tình hình cụ thể mà các nhà nước chủ nô thực hiện quan hệ ngoai giao, buôn bán với các quốc gia khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Luật Thay Thế Các Kiểu Nhà Nước Theo Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Mác
  • Các Kiểu Và Hình Thức Của Nhà Nước
  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước
  • Trình Bày Các Kiểu Nhà Nước Trong Lịch Sử Thế Giới
  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Bộ Máy Nhà Nước ?
  • Về Hệ Thống Tổ Chức Bộ Máy Của Đảng Trong Thực Hiện Chức Năng Lãnh Đạo Đối Với Hệ Thống Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đảng Bộ, Chi Bộ Cơ Sở Cơ Quan
  • Vai Trò Của Lãnh Đạo
  • Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Của Đội Ngũ Giám Đốc Điều Hành Ở Việt Nam
  • Nâng Cao Vai Trò Lãnh Đạo, Chỉ Đạo, Điều Hành Của Viện Trưởng Vksnd Cấp Huyện
  • Những Câu Hỏi Phỏng Vấn Cho Vị Trí Lãnh Đạo Và Gợi Ý Câu Trả Lời
  • Về hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng trong thực hiện chức năng lãnh đạo đối với hệ thống chính trị

    I. Đánh giá hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng trong thực hiện chức năng lãnh đạo đối với hệ thống chính trị 1. Ưu điểm

    Qua gần 90 năm xây dựng, kiện toàn và hoạt động, hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng Cộng sản Việt Nam đã qua nhiều lần thay đổi, kiện toàn, từng bước định hình và đang tiếp tục đổi mới, sắp xếp lại.

    Một là: hệ thống tổ chức của Đảng được thiết lập từ Trung ương đến cơ sở, ở hầu khắp các tổ chức và các lĩnh vực, bảo đảmthực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên.

    Trong tất cả các đơn vị hành chính, các cơ quan nhà nước, các đơn vị quân đội, công an, các đơn vị sự nghiệp công lập, các doanh nghiệp nhà nước lớn đều có tổ chức đảng. Các tổ chức đảng đã đóng vai trò là hạt nhân chính trị lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị và các tổ chức khác thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng.

    Hai là: hệ thống tổ chức của Đảng được thành lập, kiện toàn theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; cơ bản theo đơn vị hành chính, đơn vị sản xuất và công tác; bám sát và phục vụ nhiệm vụ chính trị; từ khi có chính quyền, tuân thủ đúng Hiến pháp và pháp luật.

    Việc thành lập mới, kiện toàn các tổ chức đã có và hoạt động của các tổ chức đảng đều được thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, theo thẩm quyền, đúng quy định của Điều lệ Đảng. Hệ thống tổ chức của Đảng gắn với đơn vị hành chính, đơn vị sản xuất và công tác, tạo thuận lợi cho hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng. Thực hiện đúng phương châm xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, vì nhiệm vụ chính trị chứ không vì người mà lập tổ chức. Từ khi có chính quyền, việc thành lập mới, kiện toàn các tổ chức đảng đều tuân thủ đúng Hiến pháp và pháp luật.

    Ba là: hệ thống tổ chức của Đảng thường xuyên được củng cố, đổi mới, kiện toàn, phù hợp với nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng.

    Khi có chính quyền, khi đất nước thống nhất, bước vào công cuộc đổi mới, Đảng kịp thời điều chỉnh bộ máy tổ chức, giải thể những tổ chức đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và những tổ chức không cần thiết, sắp xếp lại tổ chức bộ máy cho phù hợp hơn, lập thêm những tổ chức mới cần thiết để bảo đảm Đảng lãnh đạo toàn diện, hoàn thành sứ mệnh sự nghiệp cách mạng trong từng thời kỳ. Xu hướng chung của việc sắp xếp tổ chức đảng là tinh giản, chú trọng chất lượng, hiệu quả hoạt động.

    Bốn là: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, các mối quan hệ công tác chủ yếu của từng tổ chức được quan tâm xác định, điều chỉnh ngày càng hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong từng thời kỳ.

    2. Hạn chế

    Những năm gần đây, Trung ương chỉ đạo chú trọng việc xác định đúng, rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các mối quan hệ chủ yếu của các tổ chức đảng, từng bước khắc phục sự chồng chéo, trùng lắp chức năng, nhiệm vụ giữa các tổ chức.

    Một là: hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối, biên chế cán bộ chuyên trách đông, nhưng hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

    Tổ chức bộ máy của Đảng đã qua nhiều lần sắp xếp, hiện tương đối ổn định, nhưng mô hình tổng thể cơ bản vẫn như thời kỳ trước đổi mới, chưa tinh gọn, còn cồng kềnh, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Qua nhiều lần sắp xếp lại, tuy giảm được số cơ quan tham mưu, giúp việc cấp Trung ương và cấp tỉnh, nhưng tổ chức bộ máy bên trong các cơ quan này vẫn cồng kềnh, chất lượng công tác tham mưu, giúp việc chưa ngang tầm nhiệm vụ được giao. Vẫn còn tình trạng hợp nhất rồi lại chia tách, chia tách rồi lại hợp nhất, chấm dứt hoạt động rồi lại tái lập… Một số trường hợp hợp nhất, sáp nhập, chia tách chưa đủ căn cứ khoa học, có cả biểu hiện chậm trễ và biểu hiện nóng vội.

    Hai là: nguyên tắc sắp xếp tổ chức đảng theo đơn vị hành chính và theo ngành chưa thật rõ, nên chưa tạo được sự thống nhất giữa bộ, ngành Trung ương với cấp ủy địa phương.

    Hiện có một số loại hình tổ chức đảng không có cấp hành chính tương ứng (các đảng bộ khối Trung ương và cấp tỉnh); không có tổ chức đảng tương ứng (đảng ủy quân khu, đảng ủy quân sự cấp tỉnh, đảng ủy quân sự cấp huyện…). Tổ chức đảng ở các cơ quan tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân và một số ngành ở địa phương; cơ quan quân sự địa phương, cơ quan công an địa phương… đặt dưới sự lãnh đạo song trùng của cả cấp ủy địa phương và cấp ủy cấp trên theo ngành dọc. Các doanh nghiệp thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đóng ở địa phương vừa sinh hoạt đảng ở địa phương, vừa đặt dưới sự lãnh đạo của đảng ủy tập đoàn, tổng công ty.

    Ba là: còn có sự lúng túng về mô hình tổ chức của một số loại hình tổ chức đảng.

    Mô hình các đảng bộ khối cơ quan, khối doanh nghiệp và một số khối khác ở cấp Trung ương, cấp tỉnh mới chủ yếu giải quyết được vấn đề giảm đầu mối tổ chức đảng trực thuộc cấp ủy, nhưng lại nảy sinh vấn đề chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền lãnh đạo, kiểm tra của đảng ủy khối đối với các tổ chức đảng trực thuộc trong cơ quan, doanh nghiệp thuộc khối.

    Mô hình tổ chức đảng đoàn, ban cán sự đảng tạo điều kiện có tổ chức đảng nằm ngay trong cơ quan dân cử, cơ quan nhà nước trực tiếp lãnh đạo, chịu trách nhiệm cao nhất trước cấp ủy và phòng ngừa tình trạng độc đoán, chuyên quyền của cá nhân người đứng đầu ở nơi thực hiện chế độ thủ trưởng, nhưng lại dẫn đến sự trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ với lãnh đạo cơ quan, đảng ủy cơ quan…

    Mô hình tổ chức hệ thống cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy ở các cấp vẫn cơ bản được thành lập theo hệ thống dọc từ Trung ương đến cấp huyện và tương đương, nhiều công việc chồng chéo giữa các cơ quan, hoạt động vẫn nặng về các công việc sự vụ, việc thực hiện chức năng tham mưu, đề xuất và kiểm tra, giám sát còn hạn chế.

    Mô hình tổ chức đảng trong các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nhiều tầng nấc; còn lúng túng giữa hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh theo tập đoàn, tổng công ty với sinh hoạt đảng của các doanh nghiệp trong tập đoàn, tổng công ty đóng ở các địa phương.

    Mô hình tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng, ở các đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị quân đội, công an còn nhiều vấn đề chưa thật rõ.

    Mô hình tổ chức đảng trong các tổ chức xã hội – nghề nghiệp nơi có đảng đoàn, nơi chỉ có cấp ủy; quan hệ giữa đảng đoàn liên hiệp hội với đảng đoàn của tổ chức hội thành viên chưa rõ.

    Mô hình tổ chức sau hợp nhất giữa cơ quan đảng và cơ quan nhà nước có chức năng tương đồng là vấn đề mới.

    Mô hình các loại tổ chức cơ sở đảng, đảng bộ bộ phận, chi bộ trực thuộc hiện rất đa dạng; việc xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền chưa thống nhất, nhiều trường hợp không sát thực tiễn. Nhiều chi bộ tổ dân phố ở các đô thị lớn có hàng trăm đảng viên nghỉ hưu.

    Bốn là: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của một số loại hình cấp ủy, tổ chức đảng chưa được xác định rõ.

    Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các đảng đoàn, ban cán sự đảng đã được xác định, nhưng vẫn chưa phân biệt rõ với chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của lãnh đạo cơ quan; với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đảng ủy cơ quan.

    Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các đảng ủy khối Trung ương và cấp tỉnh với tư cách là một cấp ủy đảng trong quan hệ với lãnh đạo cơ quan, doanh nghiệp trực thuộc còn nhiều vấn đề chưa rõ, do các tổ chức đảng khối không có cấp chính quyền, quản lý tương ứng.

    Vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, của đội ngũ cấp ủy viên, đảng viên là cán bộ chủ chốt hoạt động trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong tham mưu cho Đảng chưa được xác định rõ và còn lúng túng về cơ chế.

    II.1.Hệ thống cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy ở các cấp không nhất thiết theo mô hình thống nhất từ trên xuống Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy của Đảng theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả 2. Giải quyết vấn đề giảm đầu mối tổ chức đảng trực thuộc cấp ủy và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cấp ủy đảng “trung gian”

    Việc xây dựng, phê duyệt, ban hành và thực hiện quy chế làm việc của các tổ chức đảng còn nhiều sơ hở, thiếu chặt chẽ. Hầu hết quy chế làm việc của các cấp ủy, tổ chức đảng đều do từng cấp ủy, tổ chức đảng tự xây dựng, ban hành và thực hiện, chưa được cấp ủy cấp trên trực tiếp thẩm định, phê duyệt, nên có nơi có những sai sót, nhất là có các biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quan liêu, chung chung, trách nhiệm cá nhân không rõ ràng.

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã đề ra chủ trương định hướng tổng quát: “Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của cấp ủy từ Trung ương đến địa phương”. Vấn đề đặt ra là: nên xây dựng tổ chức bộ máy các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy ở các cấp cụ thể như thế nào?

    3. Giải quyết vấn đề song trùng lãnh đạo giữa cấp ủy địa phương với cấp ủy ngành dọc đối với các tổ chức đảng của cơ quan nhà nước (ngoài cơ quan chính quyền) trực thuộc ngành dọc

    Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, các cấp đều có vai trò quan trọng, nhưng cấp Trung ương và cấp cơ sở có vai trò nổi trội. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư là các cơ quan lãnh đạo của toàn Đảng giữa hai kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, có chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quy định chung cho toàn Đảng. Tổ chức cơ sở đảng là nơi tổ chức thực hiện mọi nghị quyết, chủ trương, quy định của Trung ương và của cấp ủy cấp trên. Trong khi đó, cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương chủ yếu làm chức năng cụ thể hóa các nghị quyết, chủ trương, quy định của Trung ương và của cấp ủy cấp trên trực tiếp cho phù hợp với đặc điểm của tổ chức đảng địa phương. Theo đó, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương có phần hạn chế. Nếu phát huy tốt vai trò của các cấp ủy đảng trong cơ quan nhà nước, nhất là trong việc tham mưu cho cấp ủy và làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, thì nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy càng giảm đi. Với cách nhìn nhận vấn đề như thế, có thể nghiên cứu gộp chung các các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện vào một cơ quan là văn phòng cấp ủy, trong đó có một số bộ phận công tác cần thiết, thật sự tinh gọn, có thể phối hợp công tác với nhau chặt chẽ. Mô hình này sẽ góp phần làm giảm đáng kể số lượng chức danh lãnh đạo và biên chế của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy.

    4. Mô hình tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng, ở các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước

    Hệ thống tổ chức đảng rất đa dạng, số đầu mối cơ quan, tổ chức trực thuộc Trung ương và cấp tỉnh khá lớn. Nếu tổ chức đảng của các cơ quan, tổ chức này đều trực thuộc cấp ủy cùng cấp, thì số đầu mối sẽ rất lớn, cấp ủy không thể trực tiếp lãnh đạo và quản lý, trong đó có nhiều công việc mang tính chất đảng vụ. Tuy nhiên, việc lập các đảng bộ khối Trung ương và cấp tỉnh lại dẫn đến các đảng ủy khối này không có cấp chính quyền, chuyên môn tương ứng và chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền không rõ (không quyết định nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, doanh nghiệp trong khối, chỉ là cấp ủy cấp trên của đảng bộ trực thuộc về công tác xây dựng Đảng).

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII chủ trương: “Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các đảng ủy khối cơ quan theo hướng tinh gọn tổ chức bộ máy và tập trung vào một số nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng”. Để thực hiện chủ trương này cần đổi mới tư duy về chức năng, nhiệm vụ của cấp ủy dưới cấp Trung ương. Có thể giải quyết vấn đề này theo hướng: tách chức năng lãnh đạo và chức năng nghiệp vụ công tác đảng của cấp ủy; các cấp ủy từ cấp tỉnh và tương đương trở xuống chỉ thực hiện chức năng lãnh đạo (ban hành các quyết định lãnh đạo; tổ chức thực hiện các quyết định lãnh đạo; lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ, bao gồm cả công tác bảo vệ chính trị nội bộ; lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát; lãnh đạo các tổ chức chính trị – xã hội…) và chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên; còn các nội dung công tác đảng mang tính nghiệp vụ (tổ chức học tập nghị quyết, công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, công tác đảng viên, công tác thi đua – khen thưởng, việc thu chi đảng phí…) của đảng bộ giao văn phòng của cấp ủy cấp trên (trong đó có một bộ phận chuyên trách công tác đảng) hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, quản lý và giải quyết.

    Cơ quan nhà nước ở địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước và nghiệp vụ thống nhất trong phạm vi toàn lãnh thổ trên từng lĩnh vực theo quy định của pháp luật. Các cơ quan này đặt dưới sự quản lý của cơ quan ngành dọc cấp trên trực tiếp; chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên và trước pháp luật. Tổ chức đảng của các cơ quan này sinh hoạt với đảng bộ địa phương chỉ nhằm tham gia, phối hợp công tác với địa phương và chủ yếu là làm công tác xây dựng Đảng trong nội bộ. Việc bố trí người đứng đầu và bổ nhiệm một số chức danh cơ quan này – trong một số trường hợp có”hiệp quản”, nhưng do ngành dọc quyết định theo quy định của pháp luật, trong đó nhiều người không là người địa phương. Do đó, nên nghiên cứu xác định: việc quyết định, thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác cán bộ của cấp ủy cơ quan nhà nước ở địa phương theo sự lãnh đạo của cấp ủy ngành dọc; công tác đảng của tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước địa phương theo sự quản lý của cơ quan đảng địa phương.

    Về nguyên tắc, ở mỗi cấp, trong tất cả các loại hình tổ chức có đủ điều kiện đều lập tổ chức đảng. Quy mô tổ chức đảng, số cấp bộ đảng có thể rất khác nhau, tùy theo từng loại hình tổ chức. Do tính đặc thù, ở các đơn vị sự nghiệp công lập, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có rất nhiều cấp (tầng nấc) tổ chức đảng. Việc lập đảng bộ, tổ chức cơ sở đảng nên chủ yếu căn cứ vào vị trí, vai trò của tổ chức đảng, chứ không nên căn cứ chủ yếu vào số lượng đảng viên. Quan trọng nhất là xác định rõ tổ chức đảng nào là tổ chức cơ sở đảng, còn cấp ủy (không phải tổ chức đảng) các cấp trên tương đương cấp nào so với hệ thống tổ chức đảng ở địa phương, thì có quy định cụ thể phù hợp với đặc điểm của từng loại hình đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước. Như thế sẽ tránh được tình trạng có nhiều loại tổ chức cơ sở đảng (đảng ủy cơ sở, đảng ủy cơ sở được giao quyền kết nạp, khai trừ đảng viên; đảng ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở), “cơ sở trong cơ sở”./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Lãnh Đạo Trong Quản Trị Học
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Lãnh Đạo
  • Khái Niệm, Nội Dung, Vai Trò Chức Năng Lãnh Đạo
  • Ông Phạm Nhật Vượng, Câu Chuyện Tạo Dựng Và Dẫn Dắt Thị Trường
  • Những “bóng Hồng” Quyền Lực Dưới Quyền Tỷ Phú Phạm Nhật Vượng
  • Hệ Thống Chính Trị Và Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Hệ Thống Chính Trị Ở Nước Ta Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì? Mối Liên Hệ Với Chức Năng Của Nhà Nước
  • Nature Made Triple Omega 3 6 9 180 Viên
  • Viên Uống Triple Omega 3 6 9 Nature Made Chính Hãng Của Mỹ
  • ( Tất Tần Tật) Về Thuốc Fish Oil 1000Mg Của Mỹ
  • Omega 3 Fish Oil 1000Mg Kirkland
  • Chuyên đề 3

    HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

    ————

    I- HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

    1. Khái niệm “hệ thống chính trị”

    Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của giai cấp cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ thống chính trị.

    Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội, bao gồm các đảng phái chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội được liên kết với nhay trong một hệ thống tổ chức, nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội; củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.

    Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp nhà nước nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền. Do đó, hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp. Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

    Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội hợp pháp khác được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam, thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

    2. Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

    a) Tính nhất nguyên chính trị

    – Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền. Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Tuy nhiên, hai đảng này được tổ chức và hoạt động như những đồng minh chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hệ thống chính trị ở Việt Nam là thế chế nhất nguyên chính trị, không tồn tại các đảng chính trị đối lập.

    – Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam. Mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập, vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức quyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổ chức tập hợp, đoàn kết quần chúng, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng (Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội), vừa là tổ chức mà qua đó Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với xã hội.

    – Tính chất nguyên chính của hệ thống chính trị được thể hiện ở tính nhất nguyên tư tưởng. Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

    b) Tính thống nhất

    – Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tạo thành một thể thống nhất. Sự thống nhất của các thành viên đa dạng, phong phú về tổ chức, phương thức hoạt động trong hệ thống chính trị đã tạo điều kiện để phát hiện sức mạnh tổng hợp và tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh trong toàn bộ hệ thống.

    – Tính thống nhất của hệ thống chính trị nước ta được xác định bởi các yếu tố sau:

    + Sự lãnh đạo thống nhất của một đảng duy nhất cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam.

    + Sự thống nhất về mục tiêu chính trị của toàn bộ hệ thống là xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam với nội dung: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    + Sự thống nhất ở nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động là tập trung dân chủ.

    + Sự thống nhất của hệ thống tổ chức ở từng cấp, từ Trung ương đến địa phương, với các bộ phận hợp thành.

    c) Gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân

    – Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị Việt Nam. Đặc điểm này khẳng định hệ thống chính trị Việt Nam không chỉ gắn với chính trị, quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội. Trong hệ thống chính trị, có các tổ chức chính trị (như Đảng, Nhà nước), các tổ chức vừa có tính chính trị, vừa có tính xã hội (như Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội khác). Do vậy, hệ thống chính trị không đứng trên xã hội, tách khỏi xã hội (như những lực lượng chính trị áp bức xã hội trong các xã hội có bóc lột), mà là một bộ phận của xã hội, gắn bó với xã hộ. Cầu nối quan trọng giữa hệ thống chính trị với xã hội chính là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.

    – Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với nhân dân được thể hiện trên các yếu tố:

    + Đây là quy luật tồn tại của Đảng, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền.

    + Nhà nước là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

    + Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội là hình thức tập hợp, tổ chức của chính các tầng lớp nhân dân.

    + Hệ thống chính trị là trường học dân chủ của nhân dân. Mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

    d) Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc của hệ thống chính trị

    – Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân. Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Do vậy, hệ thống chính trị nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc.

    – Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc được khẳng định trong bản chất của từng tổ chức thuộc hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, cũng đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã gắn kết vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị. Sự phân biệt giữa dân tộc và giai cấp mang tính tương đối và không có ranh giới rõ ràng.

    3. Mục tiêu, quan điểm và chủ trương, giải pháp xây dựng hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4-2006) đã xác định mục tiêu, quan điểm, giải pháp xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.

    a) Mục tiêu và quan điểm

    – Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

    – Quan điểm xây dựng hệ thống chính trị gồm:

    Một là, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị.

    Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị thể hiện trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác. Trong những năm đầu, Đảng tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế – xã hội, tạo điều kiện để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội, đồng thời từng bước đổi mới chính trị. Quá trình phát triển của sự nghiệp đổi mới đã khẳng định sự kết hợp nhuần nhuyễn và bước đi đúng đắn đó. Đến Đại hội X, Đảng đã xác định đổi mới toàn diện, bao gồm đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị theo những nguyên tắc xác định.

    Hai là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

    Đó là quá trình làm cho hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu quả hơn, phù hợp với đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay là để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế…

    Ba là, đổi mới hệ thống chính trị một cách toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.

    Bốn là, đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị với nhau và với xã hội, tạo ra sự vận động cùng chiều theo hướng tác động, thúc đẩy xã hội phát triển; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

    b) Chủ trương, giải pháp xây dựng hệ thống chính trị

    Một là, xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị.

    – Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định rõ bản chất của Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” . về vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị, Cương lĩnh năm 1991 xác định rõ: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phân của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” . Điều đó là cơ sở của sự gắn bó giữa xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị.

    – Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị” đã chỉ rõ các mục tiêu giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị – xã hội; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; làm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    – Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tiến hành đồng bộ với đổi mới các mặt của công tác xây dựng Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, đẩy nhanh phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là cá nhân người đứng đầu.

    Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    – Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự khẳng định và thừa nhận Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử. Nó không phải là sản phẩm riêng của xã hội tư bản chủ nghĩa mà là sản phẩm trí tuệ của xã hội loài người của nền văn minh nhân loại.

    – Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo năm đặc điểm sau đây:

    + Đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

    + Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công ràng mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    + Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

    + Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.

    + Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do một đảng duy nhất lãnh đạo, có sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận.

    – Để xây dựng Nhà nước pháp quyền cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàng thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

    Ba là, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị.

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, vận động đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đề xuất các chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng…

    Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.

    Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Thanh niên, Luật Công đoàn… duy trì dân chủ ở mọi cấp để Mặt trận, các tổ chức chính trị – xã hội và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị; thực hiện “dân biết, dân làm, dân kiểm tra” và dân thụ hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới.

    Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, khắc phục tình trạng hành chính hóa, nhà nước hóa, phô trương, hình thức để nâng cao chất lượng hoạt động, làm tốt công tác dân vận theo phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”.

    II- VAI TRÒ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

    1. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

    – Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Đó là sự lựa chọn của dân tộc ta, là một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan. Sự lãnh đạo ấy vừa có cơ sở đạo lý, vừa có cơ sở pháp lý.

    – Khi trở thành một Đảng duy nhất cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện trong mối quan hệ khá phức tạp và nhạy cảm với cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước pháp quyền và trong các điều kiện xây dựng, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước, mà biểu hiện tập trung nhất là bộ máy nhà nước, đòi hỏi phải phân định sự lãnh đạo của Đảng đối với vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước.

    – Trong tổ chức của hệ thống chính trị, Đảng ta vừa là lực lượng lãnh đạo toàn bộ hệ thống, vừa là thành viên trong hệ thống chính trị. Điều đó cũng đòi hỏi phải xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, tư cách thành viên của Đảng và khả năng độc lập của mỗi thành viên thuộc hệ thống chính trị trong các mối quan hệ chính trị và sinh hoạt dân chủ.

    – Trong thực tiễn, vai trò và sự lãnh đạo của Đảng luôn luôn được xác định trong từng mối quan hệ với từng thiết chế, tổ chức cụ thể trong hệ thống chính trị. Vai trò cầm quyền và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước khác với sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc hoặc đối với các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân. Sự mơ hồ, thiếu cụ thể nào đó đều có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị của đất nước, hoặc là Đảng sẽ bao biện, làm thay tất cả, hình thức hóa Nhà nước và hệ thống chính trị, hoặc là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho địa vị cầm quyền của Đảng chỉ tồn tại trên danh nghĩa.

    – Sự lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị hiện nay đặt trong điều kiện mới, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy mạnh mẽ nền dân chủ trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, Đảng phải tự đổi mới và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Tăng cường mối quan hệ của Đảng với các thành tố của hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

    2. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

    – Vị trí cầm quyền của Đảng thể hiện quyền hạn trách nhiệm chung của Đảng và trách nhiệm của các tổ chức đảng trong việc quyết định các vấn đề của đất nước, các vấn đề trong từng lĩnh vực cụ thể, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội ở các cấp, các ngành, trong các mối quan hệ với Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và toàn thể xã hội.

    – Sự lãnh đạo của Đảng biểu hiện tập trung nhất lãnh đạo về chính trị và tư tưởng, nhằm mục tiêu tạo ra một khuôn khổ chính trị để Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân thực hiện đúng nhiệm vụ, thẩm quyền, chức năng và vai trò của mình theo quy định của pháp luật, theo điều lệ, mục đích, tôn chỉ của mỗi tổ chức.

    – Nội dung lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm tính định hướng chính trị cho sự phát triển đất nước, tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội định hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    3. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

    – Phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền là hệ thống những phương pháp, hình thức, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà Đảng vận dụng để tác động vào các lực lượng xã hội, các tổ chức, cá nhân nhằm biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhận thức và hành động của đối tượng lãnh đạo, qua đó thực hiện được các nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

    – Nội dung cơ bản của phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh năm 1991 của Đảng, gồm:

    + Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác.

    + Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên.

    + Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể.

    + Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

    + Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật .

    – Ngoài những điểm nêu trên, Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân từ uy tín của Đảng, từ sự đề cao và tôn trọng vai trò của Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sự lãnh đạo thật sự của Đảng không chỉ thông qua các quyết định, các chỉ thị mà còn bằng uy tín, bằng khả năng thuyết phục trong lời nói, trong hành động, trong phong cách công tác của các tổ chức đảng và của từng cá nhân cán bộ lãnh đạo, đảng viên của Đảng.

    – Giống như nội dung sự lãnh đạo của Đảng, phương thức lãnh đạo của Đảng có sự thay đổi phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng luôn là một yêu cầu có tính khách quan, một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Yêu cầu khách quan này luôn được Đảng ta quán triệt và nhấn mạnh trong các văn kiện Đại hội và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương.

    III- MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

    1. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội

    – Trong lịch sử cách mạng nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội giữ vai trò rất quan trọng. Các tổ chức này đã động viên, tập hợp các tầng lớp nhân dân trong đấu tranh giành chính quyền, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đấu tranh thống nhất đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội là thành viên đã có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự hình thành và củng cố Nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam. Điều 9 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, củng cố Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước” .

    – Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội là những bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta, được hình thành nhằm đáp ứng những lợi ích đa dạng của cách thành viên; thu hút đông đảo nhân dân tham gia quản lý các công việc nhà nước, công việc xã hội; nâng cao tính tích cực của mỗi công dân. Trong xã hội ta, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình không chỉ bằng Nhà nước mà còn thông qua các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội. Vì vậy, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau, nhưng cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế – xã hội nhằm bảo đảm quyền lực của nhân dân.

    – Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội là những tổ chức hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị tùy theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bào vệ quyền làm chủ của nhân dân.

    – Mặt trận Tổ quốc Việt nam, các tổ chức chính trị – xã hội có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.

    – Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.

    – Các tổ chức chính trị – xã hội có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hóa và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

    Cùng với hình thức tổ chức của hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội được tổ chức theo một hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Hệ thống chính trị ở cơ sở gồm: Tổ chức cơ sở đảng; Hội đồng nhân dân các xã, phường; Ủy ban nhân dân xã, phường; Mặt trận Tổ quốc xã, phường; các tổ chức chính trị khác: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh ở xã, phường, thị trấn…

    Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.

    2. Nhiệm vụ chính trị của người cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị  - xã hội ở cơ sở

    Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta. Vì vậy, nhiệm vụ chính trị của người cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội là rất to lớn, quan trọng, trực tiếp góp công, góp sức xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh.

    Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển hệ thống chính trị ở cơ sở, có thể nêu những nhiệm vụ cụ thể của mỗi cán bộ Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở là:

    – Tham gia tích cực vào cuộc vận động xây dựng, chính đốn Đảng, xây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh.

    – Thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

    – Tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, mạnh dạn đấu tranh với những hành động sai trái, bảo vệ lợi ích thiết thực, hợp pháp và chính đáng của nhân dân.

    – Tích cực tham gia và thực hiện tốt Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, hăng hái đi đầu trong mọi lĩnh vực học tập và công tác.

    – Luôn luôn học tập, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

    – Tích cực hưởng ứng và tham gia hoạt động trong phong trào do các tổ chức chính trị – xã hội phát động; trực tiếp tham gia xây dựng tổ chức của mình ngày càng phát triển mạnh mẽ và bền vững./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Tâm Hành Chính Công
  • Một Trưởng Khối Dân Vận Tiêu Biểu
  • Khối Dân Vận Đảng Ủy
  • Nhiệm Vụ Và Chức Trách Của Thủ Quỹ Trong Cơ Quan Nhà Nước
  • Thông Báo Phân Công Nhiệm Vụ Đối Với Chủ Tịch Và Các Phó Chủ Tịch Ủy Ban Mttq Việt Nam Tỉnh Khóa Xiii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100