Đọc Đạo Đức Học Quân Sự Hvktqs

--- Bài mới hơn ---

  • Giao Trình Gdqp Giao Trinh Gdqp T1 Docx
  • Giao An Dien Tu Giao Duc Quoc Phong
  • Chủ Động Đấu Tranh Làm Thất Bại Mọi Âm Mưu, Thủ Đoạn Chống Phá Quân Đội Đội Ta Của Các Thế Lực Thù Địch
  • Bài Giảng Bài 5: Luật Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân
  • Soạn Giáo Dục Quốc Phòng 12: Bài 5. Luật Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân
  • Câu 1: Đạo đức học quân sự Mác Lê-nin là gì? Đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa đối với việc xây dựng đạo đức người quân nhân.

    Câu 2: Phân tích nhiệm vụ của đạo đức học quân sự Mác Lê-nin. Ý nghĩa đối với người học viên.

    Câu 3: Phân tích quan điểm Mác xít về nguồn gốc, bản chất của đạo đức. Ý nghĩa đối với người học viên.

    Câu 4: Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học Mác xít. Phân tích nội dung phạm trù cái thiện. Ý nghĩa đối với xây dựng đạo đức cách mạng trong quân đội và bản thân

    Câu 5: Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học Mác xít. Phân tích nội dung phạm trù “Nghĩa vụ đạo đức”. Ý nghĩa đối với xây dựng đạo đức CM trong quân đội và bản thân.

    Câu 6: Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học quân sự. Phân tích nội dung phạm trù “trách nhiệm quân nhân”. Ý nghĩa đối với việc XD đạo đức trong đơn vị và quá trình tu dưỡng đạo đức bản thân

    Câu 7: Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học QS. Phân tích ND phạm trù “nghĩa vụ quân nhân”. Ý nghĩa đối với việc XD đạo đức trong đơn vị và quá trình tu dưỡng đạo đức bản thân

    Câu 8: Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học QS. Phân tích ND phạm trù “danh dự quân nhân”. Ý nghĩa đối với việc XD đạo đức trong đơn vị và quá trình tu dưỡng đạo đức bản thân

    Câu 9: Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học QS. Phân tích ND phạm trù “tinh thần kỉ luật”. Ý nghĩa đối với việc XD đạo đức trong đơn vị và quá trình tu dưỡng đạo đức bản thân

    Câu 10: Phân tích ND cơ bản tư tưởng đạo đức truyền thống dân tộc VN. Ý nghĩa đối với quá trình tu dưỡng đạo đức của người học viên

    Câu 11: Phân tích ND cơ bản tư tưởng đạo đức HCM. Ý nghĩa đối với quá trình tu dưỡng đạo đức của người học viên

    Câu 12: Phân tích đặc điểm cơ bản của hoạt động QS và tác động của nó đến quá trình hình thành phát triển hoàn thiện đạo đức quân nhân

    Câu 13: Yêu cầu và nội dung cơ bản của GD đạo đức QN trong giai đoạn CM hiện nay. Ý nghĩa thực tiễn và phê phán các quan điểm sai trái về vấn đề này

    Câu 14: Phân tích ND và biện pháp cơ bản XD môi trường đạo đức QS ở đơn vị cơ sở QĐ hiện nay. Phê phán những quan điểm sai trái

    CÂU 1:

    Đạo đức học quân sự Mác Lê-nin là gì? Đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa đối với việc xây dựng đạo đức người quân nhân.

    -Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc chuẩn mực XH để điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với người, cá nhân và cộng đồng được thực hiện do sức mạnh phong tục tập quán của dư luận XH và lương tâm của con người.

    -Đạo đức học là khái niệm nghiên cứu những phẩm chất đạo đức của XH dưới hình thái lí luận

    -Đạo đức học là môn khoa học nghiên cứu lĩnh vực đạo đức trong đời sống XH nói chung, nghiên cứu những vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành, phát triển ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức, hành vi đạo đức trong lịch sử XH.

    -Đạo đức học Mác Lê-nin là hệ thống tri thức khoa học về bản chất của đạo đức về quy luật hình thành, phát triển của đạo đức XH, về quy luật phát triển của đạo đức CSCN trong XH, quy luật phát triển của đạo đức mới XHCN.

    -Đạo đức học quân sự là bộ môn khoa học bao gồm hệ thống về tính đặc thù của đạo đức XH trong lĩnh vực hoạt động QS; nghiên cứu những vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức, hành vi đạo đức của quân nhân và tập thể quân nhân.

    *Đối tượng nghiên cứu của đạo đức học QS: vận dụng các quan điểm lý luận của đạo đức học Mác xít vào các biểu hiện đặc thù của đạo đức mới XHCN trong tổ chức đời sống và hoạt động của LLVTCM

    -Nghiên cứu việc vận dụng các quan điểm đạo đức mới XHCN vào giáo đạo đức cho bộ đội.

    -Nghiên cứu vận dụng các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, tư tưởng đạo đức CM của HCM vào giáo dục rèn luyện đạo đức quân nhân trong quân đội ta.

    -Nghiên cứu quá trình hình thành , phát triển đạo đức quân nhân trong QĐNDVN

    -Nghiên cứu cơ sở lí luận trong thực tiễn của việc xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá đạo đức quân nhân, xây dựng môi trường đạo đức quân sự tốt đẹp, định hướng giá trị của đạo đức trong giai đoạn CM hiện nay.

    CÂU 2:

    Phân tích nhiệm vụ của đạo đức học quân sự Mác Lê-nin. Ý nghĩa đối với người học viên.

    *Nội dung:

    -Phân tích khái quát ảnh hưởng của quan điểm đạo đức trong lịch sử đến sự hình thành và phát triển đạo đức của quân nhân trong QDDXHCN nói chung và QĐNDVN nói riêng.

    -Phân tích mặt tích cực, hạt nhân hợp lí của đạo đức XH tác động đến sự phát triển đạo đức của quân nhân.

    -Phân tích quan điểm nguyên tắc của triết học Mác xít, vận dụng nó vào hoạt động QS và đời sống quân nhân.

    -Làm rõ các nội dung tiêu chí đánh giá đạo đức , các giá trị đạo đức của quân nhân trong giai đoạn CM hiện nay nhằm chứng minh về quy luật đạo đức người quân nhân.

    -Phân tích thực trạng vấn đề đạo đức XH, đạo đức quân nhân hiện naytuwf đó chỉ rõ tính cấp thiết và nội dung công tác giáo dục đạo đức quân nhân, góp phần hoàn thiện đạo đức Bộ đội cụ Hồ.

    -Phê phán vạch trần tính chất phản khoa học của các quan điểm đạo đức phi Mác xít, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan về sự suy thoái tư tưởng chính trị, xuống cấp về đạo đức của 1 bộ phận XH hiện nay ảnh hưởng tới đời sống đạo đức của quân nhân hiện nay.

    *Ý nghĩa: Từ những nhiệm vụ của đạo đức học QS Mác Lê-nin, người học viên phải nhận thức đúng đắn, tu dưỡng rèn luyện đạo đức bản thân theo tư tưởng đạo đức Mác xít, khắc phục những ảnh hưởng xấu của đạo đức phản động trở thành 1 học viên ưu tú và có phẩm chất đạo đức tốt.

    CÂU 3:

    Phân tích quan điểm Mác xít về nguồn gốc, bản chất của đạo đức. Ý nghĩa đối với người học viên.

    *Nguồn gốc của đạo đức

    -Theo quan điểm CN Mác Lê-nin, đạo đức là 1 hình thức ý thức XH do vậy nó có nguồn gốc tồn tại XH, nó là sự phản ánh TTXH. Từ đó mà hình thành nội dung ý thức đạo đức. Do vậy có thể khẳng định đạo đức XH có tính lịch sử. Đồng thời những giá trị đạo đức của XH xét đến cùng là do sự phát triển của cơ sở kinh tế quyết định sự ra đời của nó

    -Theo quan điểm của CN Mác – Lê nin cơ sở khách quan để hình thành phát triển các giá trị đạo đức trong Xh là do hoạt động thực tiễn của con người. Từ đó mà được hình thành nghĩa là thông qua hoạt đọng thực tiễn mà hình thành các quan hệ giao tiếp , quan hệ ứng xử, các nguyên tắc, quy tắc đạo đức trong quá trình đối nhân xử thế giữa người vs người

    -Đạo đức Xh cũng luôn vận động phát triển của các hình thái KTXH. Do vậy mà trong các XH có giai cấp đối kháng thì những quan điểm đạo đức của XH cũng mang tính giai cấp sâu sắc. Vì mỗi giai cấp nhất định đều có địa vị KTXH, có điều kiện sinh hoạt vật chất riêng khác nhau. Do vậy mà họ hình thành các ý thức hệ riêng khác nhau trong đó có ý thức đạo đức

    -Các gía trị đạo đức của XH nó vừa mang tính phổ biến lại vừa mang tính đặc thù. Điều đó phản ánh đặc điểm riêng của mỗi dân tộc và truyền thống văn hóa , môi trường địa lí khác nhau. Do vậy mà nó hình thành những giá trị đạo đức của mỗi dân tộc có những nét khác nhau nhưng đồng thời cũng có những giá trị đạo đức của nhân loại mà các dân tộc đều thừa nhận. Các giá trị đó phản ánh và vì lợi ích tiến bộ chung của nhân loại chẳng hạn như chủ nghĩa nhân đạo

    *Bản chất của đạo đức

    -Bản chất Xh của đạo đức là tồn tại các mối quan hệ hợp thành những chỉnh thể thống nhất quy định sự tồn tại và phát triển của đạo đức XH

    -Đặc điểm mang bản chất Xh vì nội dung phản ánh được các mối quan hệ xuất phát từ hoạt động thực tiễn hình thành các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực Xh

    -Bản chất XH của đạo đức cũng luôn vận động biến đổi theo lịch sử do đó những thời đại lịch sử khác nhau có những hệ thống đặc điểm Xh khác nhau, thậm chí chúng còn đối lập vs nhau

    CÂU 4:

    Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học Mác xít. Phân tích nội dung phạm trù cái thiện. Ý nghĩa đối với xây dựng đạo đức cách mạng trong quân đội và bản thân

    *Các phạm trù cơ bản của đạo đức học Mác xít

    – Hạnh phúc hạt nhân và lí tưởng của cuộc sống

    – Nghĩa vụ đạo đức – Tiêu chí của con người có ý thức

    – Lương tâm – Một giá trị đạo đức

    – Cái thiện – Phạm trù trung tâm của đạo đức học

    *Phân tích

    – Quan niệm về cái thiện

    +Đ/n: Cái thiện là 1 phạm trù đạo đức học bao gồm tất cả những giá trị mang ý nghĩa tích cực phù hợp vs các chuẩn mực đạo đức Xh.

    +Cái thiện được hiểu là giá trị của tất cả những cái gì cần cho con người ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn cho con người góp phần hoàn thiện nhân cách, phẩm chất của con người

    +Suy cho cùng cái thiện có nguồn gốc từ lao động sang tạo của con người

    Các giá trị được tồn tại trong những mối quan hệ trong chủ thể (con người) vs khách thể (những đối tượng nào đó) nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể

    *Thực chất và vai trò của cái thiện

    – Thực chất: quan niệm về thiện ác là những phạm trù đạo đức học thuộc lĩnh vực ý thức XH phản ánh Xh được hình thành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ lợi ích giữa người vs người, cá nhân vs cộng đồng

    -Bản chất của cái thiện là sự thống nhất giữa mục đích và kết quả, động cơ và phương tiện hoạt động đạo đức của con người. Động cơ tốt, kết quả tốt được coi là cía thiện; động cơ tốt, kết quả xấu không phải là cái ác nhưng cũng không phải là cía thiện; động cơ xấu, kết quả tốt hay xấu được coi là cái ác

    -Do vậy việc nhận diện cái thiện hay cái ác trong thực tế đời sống xã hội cần phải có quan điểm xem xét 1 cách khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể để đánh giá 1 cách chính xác vì trong XH có nhiều hiện tượng giả thiện, giả ác

    -Vai trò: là giá trị đạo đức vĩnh hằng phổ biến và vĩnh hằng của Xh do vậy nó có vai trò to lớn trong đời sống XH thể hiện:

    +Kích thích tính tích cực, xây dựng niềm tin cuộc sống trong con người

    +Định hướng cho lẽ sống của con người(lẽ là hợp đạo lí, quy luật, là lí do của sự việc)

    +Góp phần điều chỉnh hành vi con người, xây dựng các mối quan hệ XH lành mạnh, tốt đẹp, có vai trò quan trọng xây dựng nền đạo đức mới XHCN

    Ý nghĩa: …

    Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học Mác xít. Phân tích nội dung phạm trù “Nghĩa vụ đạo đức”. Ý nghĩa đối với xây dựng đạo đức CM trong quân đội và bản thân.

    *Các phạm trù cơ bản của đạo đức học Mác xít

    -Hạnh phúc – hạt nhân lí tưởng của cuộc sống

    -Nghĩa vụ đạo đức – tiêu chí của con người có ý thức

    -Lương tâm – 1 giá trị đạo đức

    -Cái thiện – phạm trù trung tâm của đạo đức học

    *Phân tích

    -Theo từ điển tiếng việt nghĩa được hiểu là lẽ phải là điều làm khuôn phép cho cách xử thế của con người

    -Nghĩa vụ là bổn phận phải làm đối với Xh hoặc người khác

    Vd: Nghĩa vụ quân sự là bổn phận của công dân phục vụ trong quân đội

    -Nghĩa vụ đạo đức là ý thức trách nhiệm của con người, là ý thức được những gì cần phải làm, là hành động tự giác vì lợi ích của người khác và Xh trong đó có lợi ích của cá nhân mình

    -Nghĩa vụ đạo đức là phạm trù chỉ về hành vi đạo đức tất yếu của con người mang tính tự nguyện, tự giác

    -Nghĩa vụ đạo đức phản ánh trách nhiệm tự giác của mỗi con người. Nó là sự phù hợp giữa lí trí và tình cảm của cá nhân vs yêu cầu đạo đức của Xh

    -Nghĩa vụ đạo đức có vai trò điều chỉnh mối quan hệ giữa con người vs con người. -Nó làm cho con người nhận thức được cái tất yếu, gạt bỏ những cái tính toán cá nhân, vụ lợi, ích kỉ để thực hiện những quy phạm đạo đức của XH

    -Quan hệ giữa nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ pháp lí

    +Nghĩa vụ pháp lí mang tính bắt buộc cưỡng chế từ bên ngoài áp đặt vào đối với mỗi cá nhân con người

    +Nghĩa vụ đạo đức xuất phát từ nguồn gốc bên trong từ tình cảm đạo đức của con người. Con người nhận thức được những cái cần phải làm vì lợi ích chung của Xh mà tự nguyện tự giác hành động để thực hiện trách nhiệm

    +Nghĩa vụ pháp lí và nghĩa vụ đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quán trình phát triển của XH

    +Khi nghĩa vụ pháp lí được thực hiện 1 cách nghiêm túc thì nó tạo ra điều kiện môi trường thuận lợi để giáo dục con người nhận thức và hành động theo nghĩa vụ đạo đức

    -Nghĩa vụ đạo đức được thực hiện ngày càng tốt đẹp hơn là cơ sở để XD 1 XH tốt đẹp, tiến bộ

    -Quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, nhiệm vụ đạo đức của công dân trong XHCN

    +Phạm trù nhiệm vụ đạo đức phản ánh và gắn vs lợi ích chung của Xh giai cấp trong đó có lợi ích cá nhân con người

    +Nhiệm vụ nói đến những việc cần phải làm còn quyền lợi là lợi ích của chủ thể

    +Trong chế độ XHCN: thì nghĩa vụ và quyền lợi thống nhất với nhau, không có sự đối lập xét về mặt nguyên tắc giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể cộng đồng Xh. +Do đó nghĩa vụ đạo đức trong CNXH nó vừa mang tính nhân dân vừa mang tính giai cấp công nhân sâu sắc

    *Ý nghĩa:…

    CÂU 6:

    Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học quân sự. Phân tích nội dung phạm trù “trách nhiệm quân nhân”. Ý nghĩa đối với việc XD đạo đức trong đơn vị và quá trình tu dưỡng đạo đức bản thân

    *Các phạm trù cơ bản của đạo đức học quân sự

    -Trách nhiệm quân nhân

    -Nghĩa vụ quân nhân

    -Tình đồng chí đồng đội

    -Lòng dũng cảm quân nhân

    -Tinh thần kỉ luật

    *Phân tích

    -Trong từ điển tiếng việt trách nhiệm là điều phải làm phải gánh vác phải nhận lấy về mình

    -Nói tới trách nhiệm là nói tới năng lực của con người ý thức được và có thía đọ đúng đắn tự giác về các hoạt động của mình sao cho phù hợp với lợi ích chung của XH

    -Trách nhiệm quân nhân là sự biểu thị thái độ tích cực của QN đối với Xh về phương diện thể hiện những bổn phận đạo đức trong hoạt động QS. Chẳng hạn sẵn sàng nhận và hoàn thành các nhiệm vụ được giao vs thái độ tích cực và tự giác của những người học viên trong học tập và rèn luyện

    -Nội dung trách nhiệm quân nhân:

    +Phải nhận thức được những việc cần phải làm và dự kiến được kết quả hành động của mình

    +Họ phải kiên định được việc làm của mình là cần thiết và mang tính tất yếu

    +Thể hiện ở sự nỗ lực cao nhất (cả ý chí và sức lực) để thực hiện quyết định của mình

    Thực chất ND trách nhiệm quân nhân là việc quân nhân nhận thức đúng và hoạt động tự giác với nhiệm vụ được giao

    -Nâng cao trách nhiệm quân nhân

    +Thường xuyên quán triệt GD trách nhiệm QN cho mọi người kết hợp với công tác chính trị tư tưởng giải quyết tốt các mối quan hệ trong tập thể quân nhân

    +Kết hợp giữa GD trách nhiệm quân nhân với việc thực hiện nghiêm túc các chế độ điều lệnh điều lệ kỉ luật QĐ nhằm tạo ra môi trường thuận lợi để QN phát huy cao nhất trách nhiệm của mình

    -Ý nghĩa:

    +Nâng cao trách nhiệm QN có ý nghĩa quan trọng nhằm XD môi trường VH tốt đẹp ở các đơn vị cơ sở QĐ, giúp cho người QN không ngừng rèn luyện phát triển đạo đức CM, nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ XH

    +Nâng cao trách nhiệm học viên được quán triệt GD làm học viên nhận thức rõ nhiệm vụ học tập rèn luyện theo mục tiêu đào tạo học viên từ đó có thái độ đúng đắn tư tưởng nỗ lực cao trong học tập

    CÂU7 .

    Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học quân sự. phân tích nội dung phạm trù “nghĩa vụ quân sự” . ý nghĩa của việc xây dựng đạo đức trong đơn vị và quá trình tu dưỡng đạo đức của bản thân ?

    *Các phạm trù cơ bản của đạo đúc học quân sự:

    -Trách nhiệm quân nhân

    -Nghĩa vụ quân nhân

    -Danh dự quân nhân

    -Tình đồng chí đồng đội

    -Lòng dũng cảm quân nhân

    -Tinh thần kỉ luật

    *Phân tích

    -Nghĩa vụ là lẽ phải, là những điều làm khuôn phép cho cách sử lễ

    -Nghĩa vụ là bổn phận phải làm đối với xã hội và người khác

    -Nghĩa vụ quân sự là thể hiện trách nhiệm cao cả và vẻ vang của mỗi quân nhân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình.

    -Nghĩa vụ quân sự được quy định thành pháp luật. đối với quân đội ta được biểu hiện trong nội dung 10 lời thề danh dự quân nhân và các điều lệnh điều lệ của quân đội.

    -Nghĩa vụ quân nhân của quân đội ta hiện nay được thể hiện trong nội dung: phải có trách nhiệm bảo vệ vững chắc tổ quốc, bảo vệ đảng , bảo vệ chế độ XH, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Đây được coi là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người quân nhân.

    -Để thực hiện được nghĩa vụ quân nhân trong quân đội ta hiên nay đòi hỏi mỗi người quân nhân phải học tâp rèn luyện để nâng cao trình độ giác ngộ về lý tưởng cộng sản CN. Có kiến thức sâu rộng vững chắc về KHQS, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng.

    -Vai trò của nghĩa vụ quân nhân: nếu thực hiện tốt nghĩa vụ quân nhân có tác dụng rèn luyện những phẩm chất đạo đức cần thiết, giúp đỡ người quân nhân khẳng định chính mình về phương diện đạo đức trước mọi người, tập thể quân đội và XH. -Nhận thức về nghĩa vụ quân nhân đòi hỏi mỗi quân nhân phải ra sức học tập nắm vững lí luận Mác-Lênin tư tưởng HCM. Quán triệt sâu sắc quan điểm của đảng, nâng cao trình độ tri thức toàn diện nhằm hình thành tính tự giác trong việc thực hiện nghĩa vụ quân nhân.

    *Ý nghĩa:…

    CÂU 8:

    Trình bày các phạm trù cơ bản của đạo đức học quân sự. phân nội dung phạm trù “danh dự quân nhân” . ý nghĩa đối với việc xây dựng đạo đức trong đơn vị và quá trình tu dưỡng đạo đức của bản thân?

    *Các phạm trù cơ bản của đạo đúc học quân sự:

    -Trách nhiệm quân nhân

    -Nghĩa vụ quân nhân

    -Danh dự quân nhân

    -Tình đồng chí đồng đội

    -Lòng dũng cảm quân nhân

    -Tinh thần kỉ luật

    *Phân tích

    -Danh dự là sự coi trọng hoặc sự đánh giá tốt đẹp hoặc phẩm chất con người.

    -Danh dự là phạm trù đạo đức biểu thị thái độ và vinh dự của mỗi người trước nghĩa vụ của mình.

    -Danh dự quân nhân là sự giác ngộ về vinh dự của mỗi quân nhân và viêc thực hiên nghĩa vụ của mình theo lương tâm.

    -Danh dự quân nhân mang tính giá trị được XH thừa nhận, tôn trọng, tín nhiêm. Vì vậy mà tạo nên niềm tin, niềm tự hào cho mỗi cá nhân hoạc tập thể quân nhân, nâng cao tính tích cực chủ động.

    -Đặc điểm quân nhân cách mạng là sự giác ngộ về vinh dự quân nhân và việc thực hiện 1 số nhiêm vụ của họ theo lương tâm, là tự giác phân sử hành vi của mình vừa có tính thực tiễn vừa có tính giá trị:

    +Tính giá trị: được xh thừa nhận , tôn trọng tín nhiệm đối với quân nhân đó chính là niêm tự hào vinh dự của mỗi quân nhân

    +Tính thực tiễn: đặc điểm đó có tác dụng động viên , khuyến khích,người quân nhân tích cực hơn trong hoạt động quân sự.

    -Cơ sở hình thành danh dự quân nhân.

    +Xuất phát từ thái độ tự giác, ý thức trách nhiệm của người quân nhân đối với nghĩa vụ, chức trách và sự hoàn thành 1 cách xứng đáng.

    +Sự công nhân của xã hội tập thể đối với công lao động đóng góp thực tế của ngươi quân nhân.

    +Thể hiện năng lực ý trí lao động của người quân nhân để hoàn thành nhiệm vụ của mình trong hoạt động quân sự.

    -Biểu hiện danh dự quân nhân: thong qua thành tích của các cá nhân tập thể quân đội bằng các danh hiệu mà xã hội tôn vinh họ. chẳng hạn…..

    -Vai trò : động lực tinh thân mạnh mẽ động viên, khuyến khích người quân nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ chức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Nghiên Cứu Đạo Đức Học Quân Sự Với Công Tác Nghiên Cứu Khoa Học
  • Vụ Án Thuộc Thẩm Quyền Của Tòa Án Quân Sự
  • Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân 2014, Luật Số 62/2014/qh13 2022
  • Pháp Lệnh Tổ Chức Tòa Án Quân Sự
  • Trao Đổi Về Tình Hình Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Tòa Án Quân Sự
  • Ban Nghiên Cứu Đạo Đức Học Quân Sự Với Công Tác Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Đạo Đức Học Quân Sự Hvktqs
  • Giao Trình Gdqp Giao Trinh Gdqp T1 Docx
  • Giao An Dien Tu Giao Duc Quoc Phong
  • Chủ Động Đấu Tranh Làm Thất Bại Mọi Âm Mưu, Thủ Đoạn Chống Phá Quân Đội Đội Ta Của Các Thế Lực Thù Địch
  • Bài Giảng Bài 5: Luật Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân
  • Ban Nghiên cứu Đạo đức học quân sự thuộc Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quân sự Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ nghiên cứu, cùng với Viện cung cấp các luận cứ khoa học cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng và Nhà nước về hoạt động quân sự, quốc phòng trên lĩnh vực đạo đức và đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần xây dựng, phát triển Quân đội và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, ngay từ ngày đầu thành lập (29-4-1999), tập thể cán bộ nghiên cứu của Ban đã quán triệt chủ trương “vừa xây dựng, vừa triển khai thực hiện nhiệm vụ”, chủ động xây dựng kế hoạch, nghiên cứu phù hợp, nội dung tập trung vào những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách về đạo đức trong xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Với phương châm “Tận tụy, chuẩn mực và tình nghĩa trọn vẹn”, 20 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, các thế hệ cán bộ nghiên cứu của Ban luôn nỗ lực, chủ động khắc phục khó khăn, đoàn kết, quyết tâm phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học, giáo dục – đào tạo và xây dựng Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quân sự Bộ Quốc phòng.

    Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Ban luôn bám sát yêu cầu từ thực tiễn, phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, chủ động, tích cực tham gia thực hiện nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Ngành và cấp cơ sở. Nội dung nghiên cứu hướng vào các vấn đề chủ yếu về xây dựng tiềm lực chính trị – tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về hoạt động quân sự, quốc phòng. Đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

    Thực hiện chức năng, nhiệm vụ cung cấp các luận cứ khoa học cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về hoạt động quân sự, quốc phòng, Ban đã chủ động đề xuất, tham gia thực hiện nhiều hướng nghiên cứu cơ bản, như: phát triển lý luận đạo đức học nói chung, đạo đức học quân sự nói riêng. Đồng thời, tham gia tổng kết việc thực hiện một số nghị quyết, nhiệm vụ quan trọng, như: Nghị quyết 27/NQ-TƯ của Bộ Chính trị (khóa V); nhiệm vụ quân sự, quốc phòng 20 năm đổi mới; đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; nghiên cứu nội dung đề án khôi phục chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới; quan điểm lý luận bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội IV đến Đại hội XII; tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991; xây dựng Đảng về đạo đức, v.v. Nhiều cuốn sách do Ban chủ trì nghiên cứu, biên soạn có giá trị lý luận và thực tiễn, được bạn đọc trong và ngoài Quân đội đón nhận, đánh giá cao. Những nội dung nghiên cứu đó, đã thể hiện rõ việc vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức; những vấn đề lý luận, thực tiễn về đạo đức trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc ta và đạo đức quân nhân trong Quân đội, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc chỉ đạo giáo dục, rèn luyện đạo đức quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Thực hiện chức năng, nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Ban đã tập trung nghiên cứu thực trạng đạo đức quân nhân; đẩy mạnh đấu tranh phê phán các quan điểm, hành vi sai trái phi đạo đức trong lĩnh vực quân sự; đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng bằng nhiều hình thức, như: viết báo khoa học, viết sách, báo cáo khoa học, tham luận hội thảo công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài Quân đội. Cuốn sách Hỏi – đáp về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay do Ban chủ trì nghiên cứu, biên soạn được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật phát hành năm 2022 với số lượng lớn, được đông đảo bạn đọc đón nhận và đánh giá cao. Đây là những tài liệu bổ ích, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, nhằm làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi. Đến nay, Ban đã chủ trì nghiên cứu 27 đề tài các cấp; 36 chuyên đề; 15 đầu sách; viết gần 200 bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí trong và ngoài Quân đội. Những nội dung nghiên cứu đó đã góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, Quân đội về hoạt động quân sự, quốc phòng và đẩy mạnh đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực đạo đức, lối sống, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng trong tình hình mới.

    Cùng với các hoạt động nghiên cứu, Ban đã hợp tác với các cơ quan, các khoa, các đơn vị trong và ngoài Quân đội để nghiên cứu, trao đổi thông tin khoa học, giảng dạy cho các đối tượng đào tạo đại học, sau đại học về quan điểm lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức; con đường bồi dưỡng, phát triển đạo đức quân nhân; những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng môi trường đạo đức trong Quân đội; những yêu cầu của đạo đức quân nhân trong tình hình mới. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Ban còn tham gia hướng dẫn nhiều học viên cử nhân, học viên cao học và nghiên cứu sinh được các cơ sở đào tạo đánh giá cao.

    Có được kết quả trên là do Ban thường xuyên tiến hành tốt công tác bồi dưỡng cán bộ khoa học có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời, coi trọng thực hiện công tác động viên tư tưởng, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi người và có nhiều giải pháp thích hợp để huy động trí tuệ và kinh nghiệm của mỗi cán bộ vào công tác nghiên cứu khoa học. Việc giao nhiệm vụ được Ban tính toán phù hợp với sở trường của từng cán bộ; trong đó, bố trí đan xen các thế hệ cán bộ, nhằm kế thừa và phát huy năng lực, trình độ của mỗi người, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Căn cứ vào kế hoạch của trên, Ban đã chủ động đề xuất, sắp xếp để số cán bộ chưa có trình độ sau đại học đi đào tạo nâng cao trình độ và bồi dưỡng ngoại ngữ ở các học viện, nhà trường trong và ngoài Quân đội. Đồng thời, chủ động giao cho cán bộ nghiên cứu trực tiếp tham gia thực hiện các nhiệm vụ khoa học, như: nghiên cứu đề tài, viết sách, viết tham luận hội thảo, sinh hoạt học thuật,… để đội ngũ cán bộ có điều kiện tích lũy kiến thức, phát triển lý luận chuyên sâu. Cùng với đó, Ban luôn coi trọng làm tốt công tác tư tưởng, động viên, giao nhiệm vụ cho những đồng chí có học vị tiến sĩ phấn đấu hoàn thành các điều kiện, tiêu chuẩn để được xét công nhận các chức danh phó giáo sư, giáo sư. Đến nay, 100% cán bộ nghiên cứu của Ban có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, với chức danh khoa học nghiên cứu viên và nghiên cứu viên chính.

    Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đặt ra yêu cầu rất cao. Các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng nước ta hết sức quyết liệt với những thủ đoạn tinh vi, thâm độc và trắng trợn. Chúng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Điều đó, đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tư tưởng, đạo đức, lối sống cần được nghiên cứu làm sáng tỏ để cung cấp các luận cứ khoa học cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về hoạt động quân sự, quốc phòng; đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, thời gian tới Ban Nghiên cứu Đạo đức học quân sự tập trung thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:

    Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ được giao, đi sâu nghiên cứu đề xuất các nhiệm vụ nghiên cứu thiết thực góp phần xây dựng tiềm lực chính trị – tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Nội dung trọng tâm là nghiên cứu lý luận về nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đoàn kết, dân chủ, kỷ luật, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, chiến sĩ trong tình hình mới.

    Hai là, không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, tổ chức lực lượng nghiên cứu phát triển lý luận đạo đức học nói chung, đạo đức học quân sự nói riêng, đánh giá đúng thực trạng đạo đức quân nhân, nhất là ở đơn vị cơ sở; tích cực nghiên cứu, đấu tranh phê phán những quan điểm, hành vi phi đạo đức trong lĩnh vực quân sự. Từ đó, đề xuất các giải pháp đột phá nhằm bồi dưỡng, phát triển đạo đức quân nhân trong tình hình mới, góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về hoạt động quân sự, quốc phòng trên lĩnh vực đạo đức và đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

    Ba là, thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học, đảm bảo cho họ có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, đoàn kết, dân chủ, kỷ luật; có năng lực chuyên môn giỏi, phương pháp, tác phong làm việc khoa học; thực sự tâm huyết với công việc nghiên cứu khoa học, tích cực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo tìm ra cái mới.

    Bốn là, chủ động mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác, trao đổi thông tin, kinh nghiệm nghiên cứu với các tổ chức, cơ quan, nhất là các cơ quan truyền thông, báo chí, nhà xuất bản. Đồng thời, tăng cường các cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học hướng vào giải quyết những vấn đề cơ bản, cấp thiết về lý luận và thực tiễn đang đặt ra đối với tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống quân nhân hiện nay.

    Kết quả nghiên cứu khoa học của Ban những năm qua chính là nền tảng vững chắc, tạo thế và lực cho Ban Nghiên cứu Đạo đức học quân sự phát triển cả về chất lượng nghiên cứu khoa học và xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học thực sự chuyên sâu về lĩnh vực đạo đức và đạo đức quân sự, góp phần tích cực để Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quân sự hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vụ Án Thuộc Thẩm Quyền Của Tòa Án Quân Sự
  • Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân 2014, Luật Số 62/2014/qh13 2022
  • Pháp Lệnh Tổ Chức Tòa Án Quân Sự
  • Trao Đổi Về Tình Hình Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Tòa Án Quân Sự
  • Tòa Án Quân Sự Xét Xử Những Vụ Án Nào?
  • Chi Bộ Quân Sự Cấp Xã Làm Tốt Chức Năng Tham Mưu Lãnh Đạo Nhiệm Vụ Quốc Phòng, Quân Sự Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Chi Bộ Quân Sự Xã, Phường, Thị Trấn: Đi Vào Nền Nếp
  • Chi Bộ Quân Sự Cấp Xã: Khẳng Định Vai Trò Nhiều Mặt
  • Để Chi Bộ Quân Sự Thực Sự Là Hạt Nhân Lãnh Đạo Công Tác Qs
  • Chi Bộ Quân Sự Xã, Phường, Thị Trấn: Phát Huy Vai Trò Lãnh Đạo Nhiệm Vụ Quân Sự, Quốc Phòng Ở Cơ Sở
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Chi Bộ Khu Dân Cư
  • Tập trung kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn đã giúp cho cơ chế Đảng lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương được vận hành thông suốt, hiệu quả, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận chiến tranh Nhân dân trên địa bàn tỉnh ngày càng vững chắc.

    Nâng cao năng lực lãnh đạo

    Thực hiện Hướng dẫn số 35 của Ban Tổ chức Trung ương về tổ chức và hoạt động của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, kiện toàn và duy trì hoạt động của chi bộ quân sự xã đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và từng bước đi vào nền nếp, hiệu quả.

    Lực lượng dân quân xã Thuận Hà (Đắk Song) phối hợp với Đồn biên phòng Đắk Tiên tuần tra bảo vệ biên giới. Ảnh: Phan Tân

    Theo đánh giá, các chi bộ quân sự xã đã có chủ trương, giải pháp lãnh đạo phù hợp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ban chỉ huy quân sự , các đơn vị dân quân cơ động, dân quân thường trực ở từng địa phương. Mặt khác, tình hình tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở chi bộ quân sự cấp xã chuyển biến tích cực, chế độ sinh hoạt được duy trì có nền nếp. Công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện đội ngũ đảng viên được tăng cường. Nhờ đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên, góp phần xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương hàng năm ở cơ sở.

    Kết quả đánh giá xếp loại tổ chức đảng, đảng viên hằng năm, bình quân có trên 95% cấp ủy, chi bộ và 98,7% đảng viên trong chi bộ quân sự cấp xã hoàn thành tốt hoặc hoàn thành nhiệm vụ. Từ năm 2009 đến nay, các chi bộ quân sự cấp xã đã bồi dưỡng, đề nghị kết nạp Đảng được 1.025 đảng viên trong lực lượng dân quân; phối hợp với các chi bộ thôn, buôn, tổ dân phố bồi dưỡng, đề nghị kết nạp Đảng 289 đảng viên trong lực lượng dự bị động viên.

    Dân quân thường trực xã Thuận An (Đắk Mil) nỗ lực huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Ảnh: Phan Tân

    Phát huy vai trò lãnh đạo quân sự quốc phòng ở cơ sở

    Theo đánh giá của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, việc triển khai thực hiện Hướng dẫn số 35 trên địa bàn tỉnh đạt được những kết quả khá tốt. Các chi bộ quân sự xã đã khẳng định được vị trí, vai trò, tầm quan trọng, làm tốt chức năng tham mưu cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương. Các chi bộ đã lãnh đạo ban chỉ huy quân sự xã phối hợp tham mưu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận chiến tranh Nhân dân trên địa bàn ngày càng vững chắc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

    Cụ thể, công tác tuyên truyền, giáo dục cho Ban Chỉ huy quân sự xã và các đơn vị dân quân cơ động, dân quân thường trực về nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân được tăng cường. Qua đó, nhận thức, xác định rõ trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao. Từ năm 2009 đến nay không có trường hợp nào cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ bị lôi kéo tham gia vào các vụ tập trung đông người hoặc bị móc nối, lôi kéo tham gia các tổ chức, lực lượng cơ hội thù địch. chi bộ quân sự xã đã chỉ đạo, tham mưu kịp thời cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai nhiều chủ trương, biện pháp giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho 13.537 lượt người cũng như lãnh đạo, thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100% chỉ tiêu.

    Dân quân thường trực xã Thuận An (Đắk Mil) luyện tập phương án bảo vệ trụ sở cơ quan. Ảnh: Phan Tân

    Việc tuyển chọn kết nạp công dân vào lực lượng dân quân được thực hiện theo nguyên tắc cấp ủy lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu và thực hiện theo phương châm “Dân bầu, dân cử, dân chăm lo”, bảo đảm tính dân chủ, công khai, công bằng ở cơ sở. Đến nay, tại 71 cơ sở dân quân quy mô tổ chức đủ quân số, biên chế đầy đủ các thành phần lực lượng; Tỷ lệ đảng viên trong dân quân đạt 19%. Hàng năm 100% cơ sở dân quân đã được huấn luyện, quân số đạt trên 90% trở lên.

    Công tác diễn tập, hội thi, hội thao đối với lực lượng dân quân được tiến hành đồng bộ. Lực lượng dân quân đã chủ động phối hợp với các lực lượng khác giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

    Hiện nay, toàn tỉnh có 71/71 xã, phường, thị trấn thành lập chi bộ quân sự; trong đó có 69/71 chi bộ có cấp ủy, đạt 97,18%, tăng 84,51% so với năm 2009. Thành phần cơ cấu đảng viên chi bộ quân sự thực hiện theo đúng Hướng dẫn số 35 gồm: Bí thư đảng ủy xã kiêm chính trị viên trực tiếp làm bí thư chi bộ; các đảng viên trong Ban Chỉ huy quân sự xã (chỉ huy trưởng, bí thư đoàn xã kiêm chính trị viên phó, xã đội phó) và đảng viên lực lượng dân quân thường trực, dân quân cơ động (riêng cấp ủy chi bộ gồm các chính trị viên, chỉ huy trưởng, chính trị viên phó).

    Phát biểu tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Hướng dẫn số 35 của Ban Tổ chức Trung ương về tổ chức và hoạt động của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn, giai đoạn 2009-2019 do Tỉnh ủy tổ chức, đồng chí Ngô Thanh Danh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh đề nghị các chi bộ quân sự cấp xã phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ theo quy định, hướng dẫn của Trung ương, quân đội, địa phương. Đảng ủy Quân sự tỉnh, các huyện ủy, thị ủy quan tâm, tổ chức bồi dưỡng, tạo điều kiện tốt nhất để các chi bộ quân sự cấp xã hoạt động đạt kết quả cao nhất, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng hoạt động của ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn.

    Phan Tân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Chế Làm Việc Của Chi Bộ Trường Tiểu Học
  • Vai Trò Của Chi Bộ Đảng Trong Nhà Trường
  • Bài 5: Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chi Bộ Nông Thôn
  • Nhiệm Vụ Của Chi Uỷ Và Công Tác Của Bí Thư Chi Bộ
  • Phát Huy Vai Trò Của Chi Bộ Nông Thôn Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững Đối Với Các Tỉnh Miền Trung
  • Cần Giải Pháp Để Người Dân Châu Phi Thoát Cảnh Đói Ăn
  • Wsa: Nước Giải Pháp Cho Châu Phi, Inc
  • Giảm Nghèo Và Giảm Tham Nhũng
  • Giải Pháp Cho Bài Toán Căng Thẳng Nguồn Nước Ở Châu Phi
  • MỘT VÀI KINH NGHIỆM

    GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THCS

    1. Phần mở đầu:

    1.1. Lý do chọn sáng kiến:

    Bác Hồ kính yêu có nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đạo đức là sợi chỉ hồng xuyên suốt trong quá trình suy nghĩ và hành động của một con người. Người có đạo đức tốt ắt hẳn suy nghĩ và hành động đúng.

    Trong trường học giáo dục đạo đức là một bộ phận cấu thành trọng yếu của quá trình giáo dục rèn luyện nhân cách học sinh. Đạo đức được coi là nền tảng trong phẩm chất, nhân cách, là cái gốc của con người. Vì thế, trong nhà trường phải luôn chú trọng cả đức lẫn tài: Việc dạy chữ phải kết hợp với dạy người nhằm rèn luyện học sinh trở thành con người phát triển toàn diện.

    Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá, hoà nhập khu vực và quốc tế, tận dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thắng lợi, yêu cầu đòi hỏi nhân tài cho đất nước ngày càng cao hơn, chất lượng hơn.

    Vì vậy, hơn bao giờ hết nhận thức và hành động của việc “giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức phải chiếm vị trí hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục học sinh”.

    Từ nhận thức đó, là người làm công tác quản lý, bản thân tôi luôn suy nghĩ, trăn trở cố tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh. Đó là lý do tôi chọn nghiên cứu đề tài “Giáo dục đạo đức học sinh THCS”.

    1.2. Điểm mới, phạm vi áp dụng của đề tài:

    Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đó xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân (Điều23-Luật giáo dục).

    Hội nhập kinh tế, nền kinh tế thị trường ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh tế quốc tế đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc lối sống tự do tư sản, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu.

    Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo hành trong trường học đáng được báo động. Một số CBQL, giáo viên chưa thật sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ môn GDCD, thờ ơ không chú ý đến việc giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh.

    Để góp phần vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra biện pháp về công tác giáo giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người cán bộ QLGD.

    SKKN này áp được áp dụng trong phạm vi trường THCS.

    2. Phần nội dung:

    2.1.Thực trạng đạo đức học sinh THCS hiện nay:

    Khoa học ngày càng phát triển, đời sống của mọi tầng lớp nhân dân được cải thiện, kế hoạch dân số của Đảng và Nhà nước mỗi cặp vợ chồng có 1 đến 2 con có ý nghĩa thiết thực, tạo điều kiện cho cha mẹ có khả năng nuôi nấng, chăm sóc con nên đại bộ phận học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng đều chăm ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập và tham gia các hoạt động khác.

    Tuy nhiên do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hiện tượng tiêu cực của xã hội, phần nào đó đã làm ảnh hưởng đến nhân cách, tình bạn bè, lòng kính thầy cô giáo, cha mẹ của một số em học sinh.

    Các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, trò chơi ăn tiền, chơi game chát… ngày càng nhiều, đó là những cạm bẫy đối với học sinh mà các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội vẫn chưa kiểm soát và ngăn chặn được.

    Xuất thân từ con em nông dân nên bản chất các em học sinh trường THCS tôi quản lý đều ngoan, thật thà, lễ phép với thầy, cô giáo. Các em được gia đình chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ nên các em rất quý trọng người lao động, góp phần xây dựng kinh tế gia đình. Nhìn chung các em chăm học, chăm làm, cần cù khiêm tốn, có tinh thần tập thể, đoàn kết nhất trí, luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và đó xuất hiện nhiều tấm gương tốt trong đạo đức, học tập.

    Bên cạnh đại bộ phận học sinh tốt vẫn còn những học sinh chưa tốt, vi phạm hành vi đạo đức học sinh. Đó là vô lễ với thầy cô giáo, không nghe lời cha mẹ, gây gổ đánh nhau, uống rượu, hút thuốc, nhuộm tóc, sử dụng điện thoại ở lớp học, ăn cắp tiền, xe đạp, máy tính casio, ăn quà vặt vặt và làm bẩn sân trường, thực hiện an toàn giao thông không nghiêm túc, yêu đương trai gái, đam mê chơi gem chát dẫn đến học yếu, bỏ học…

    Nguyên nhân chủ yếu là: Có gia đình, cha mẹ cưng chiều con quá thái, con đòi gì được nấy đến lúc nhu cầu không được đáp ứng thì quậy phá. Ngược lại, có những người cha giáo dục con bằng những lời đe nạt, mạt sát, đòn roi, còng xiềng hoặc vỡ cha mẹ bỏ nhau để con bơ vơ bị kẻ xấu rủ rê, mua chuộc, lợi dụng, xúi dục. Có cha mẹ nói con không nghe đành chịu. Cũng có em sinh tâm, tự ý làm việc xấu…

    Kết quả khảo sát chất lượng hạnh kiểm học sinh đầu năm học 2013-2014 như sau:

    2.2. Các giải pháp:

    2.2.1.Tăng cường sự lãnh đạo của Chi bộ đảng trường học:

    – Xây dựng chi bộ Đảng nhà trường thành tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh có ý nghĩa tăng cường hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức trong nhà trường.

    – Xây dựng Nghị quyết của Chi bộ năm, tháng trong đó chú trọng về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

    – Chỉ đạo hoạt động công đoàn, đoàn thanh niên, đội thiếu niên thường xuyên làm tốt công tác giáo dục đạo đức học sinh hỗ trợ cho trường nâng cao chất lượng giáo dục.

    2.2.2.Tăng cường hiệu lực quản lý của BGH trong công tác giáo dục đạo đức học sinh:

    Ban giám hiệu đứng đầu là Hiệu trưởng phải lấy mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung công tác giáo dục đạo đức làm kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

    Công việc quản lý trường học của người Hiệu trưởng rất phong phú và đa dạng. Nào là lên kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra, đánh giá hoạt động của đội ngũ, chăn lo chất lượng đại trà, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, ôn tuyển sinh, xây dựng CSVC, công tác phổ cập… Nhưng song song với tất cả mọi công việc kể trên thì nội dung giáo dục đạo đức học sinh- người hiệu trưởng phải xác định- là một hoạt động hết sức quan trọng, phải thật sự quan tâm và quan tâm thường xuyên.

    Mỗi em học sinh có một hoàn cảnh khác nhau. Có em cha mẹ song toàn, kinh tế đời sống ổn định, có phương pháp giáo dục con cái đó là điều thuận lợi cho nhà trường. Ngược lại có em cha mẹ ly hôn phải ở với ông bà ngoại đã già. Có em cha mẹ đi làm ăn xa nên thời gian quản lý con cái ít. Có em thường xuyên bị cha mẹ chửi mắng, đánh đập, còng chân. Cũng có em a dua theo người xấu, bị bạn bè rủ rê vào con đường chơi bời như đam mê chơi game, thiếu tiền dẫn đến ăn cắp tiền, tài sản của người khác. Và cũng có em muốn khẳng định mình trước bạn bè (nhưng tự khẳng định mang tính tiêu cực) như uống rượu, hút thuốc, tức ghen, tranh giành bạn trai, gái bằng những cú đấm, cái đạp hoặc chửi mắng nhau. Một số em khác vi phạm nội quy của nhà trường như ném vỡ kính cửa sổ, móc nốt bàn phím máy vi tính, đập vỡ ống dẫn nước, dùng bút xóa viết lên bàn, sử dụng điện thoại, ăn kẹo cao su nhả bả làm bẩn nền nhà, vứt giấy vụn, bao bóng khắp sân trường, phòng học….

    Trước hiện thực ấy, người hiệu trưởng tỏ thái độ thờ ơ cũng chẳng sao vì hiệu trưởng đã có lệnh cho giáo viên chủ nhiệm, tổng phụ trách đội thực hiện rồi. Để mặc cho đội ngũ thử hỏi phương pháp giáo dục có bằng mình không? (giáo viên còn lo giảng dạy, kinh nghiệm chưa nhiều, còn việc gia đình nữa…).

    Người hiệu trưởng tắc trách trong việc giáo dục đạo đức học sinh thì thật là tai hại, nền móng cơ sở của nhà trường sẽ đổ vỡ hay còn có nghĩa là ” vỡ trận”.

    Trong lớp, khi đang học có em hay nói ngang, nói leo, ngũ trên bàn, chạy chỗ này qua chỗ khác, xô đẩy bàn, không làm bài cũ, không học bài mới hỏi làm sao giáo viên dạy được?

    Em này mất tiền, em kia mất máy tính Casio, đánh lộn nhau thì an ninh của lớp học, của trường sẽ yên ổn sao? Người đời đã dạy: “Ăn ngon không bằng ở yên” hoàn toàn đúng.

    Nhìn vào một nhà trường, trước hết phải xem phong quang có sạch sẽ không? Nề nếp dạy và học, nét mặt của giáo viên và học sinh đã phản ánh phần nào về phong trào tốt hoặc chưa tốt của nhà trường!

    Muốn có phong trào, muốn đạt được chất lượng giáo dục thì người hiệu trưởng phải đi tiên phong, phải vào cuộc mới giáo dục được học sinh.

    Thực tế cho thấy: khi học sinh vi phạm đạo đức nằm ở trong khung kỷ luật từ phê bình đến đuổi học có thời hạn phải mất ít nhất bốn buổi để giải quyết nên rất mất thời gian (gọi học sinh đến tự viết bản kiểm điểm, đưa ra lớp kiểm điểm, nhà trường mời phụ huynh đến trao đổi lỗi sai của học sinh, họp hội đồng kỷ luật nhà trường).

    Biết mất thời gian nhưng phải làm, làm để giáo dục những em vi phạm và những em khác lấy đó để rút kinh nghiệm. Trong thời gian làm quản lý ở trường THCS, bản thân tôi thực hiện biện pháp sau đối với học sinh vi phạm đạo đức:

    – Nắm được lỗi sai, hoàn cảnh của gia đình học sinh, hiểu tâm lý các em.

    – Gọi lên phòng hiệu trưởng (từng em) để trao đổi. Hình thức nhỏ nhẹ, gợi mở, chân thành, quan tâm như tình cha với con, đúng nghĩa thầy và trò và trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần cho học sinh. Một số lỗi học sinh vi phạm lần đầu nếu các em thành thật nhận lỗi tôi bỏ qua (có em lấy cắp xe đạp được nhiều người có trách nhiệm thẩm vấn nhưng không có kết quả, tôi gặp gỡ, nói đúng tâm lý, đảm bảo bí mật giữ danh dự thì em đó khai nhận).

    – Những em vi phạm nhiều lần, hiệu trưởng yêu cầu giáo viên chủ nhiệm đưa ra lớp kiểm điểm. Bản thân học sinh vi phạm tự nhận mức kỷ luật, lớp và giáo viên chủ nhiệm đề nghị hình thức kỷ luật.

    – Mời phụ huynh lên gặp nhà trường để trao đổi, dự báo cho phụ huynh biết mức kỷ luật để phụ huynh hiểu, thỏa mãn khi hiệu trưởng ra hình thức kỷ luật.

    – Họp hội đồng kỷ luật học sinh: Thành viên hội đồng kỷ luật nắm được khuyết điểm của học sinh, thống nhất hình thức kỷ luật, ra QĐ kỷ luật.

    Phương châm giáo dục lấy khen thưởng, tuyên dương là chủ yếu, trách phạt là thứ yếu nhưng khi cần thiết phải kiên quyết thực hiện kỷ luật để giáo dục, răn đe. Trong năm học, tôi đó ra quyết định kỷ luật 10 em với các lỗi vi phạm: Chơi game, chơi ăn tiền, vô lễ với thầy cô giáo… với hình thức phê bình, khiển trách, cảnh cáo, buộc thôi học có thời hạn.

    Trong thời gian học sinh bị kỷ luật, HT bố trí một số giáo viên dày dạn kinh nghiệm theo dõi giúp đỡ thêm để học sinh nhanh chóng tiến bộ.

    2.2.3. Nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên chủ nhiệm nói riêng trong việc giáo dục đạo đức học sinh:

    Trong nhà trường, giáo viên là lực lượng giáo dục chủ yếu, giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động giáo dục, là “bộ máy chính” để thực hiện thành công nhiệm vụ giáo dục đạo đức được quán triệt sâu sắc trong từng tiết lên lớp, trong từng hoạt động cụ thể.

    Giáo viên bộ môn, theo Điều lệ trường học, có nhiệm vụ dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giảng dạy, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục.

    Mỗi biểu hiện sai trái của học sinh trong 1 tiết học, giáo viên bộ môn cần tìm hiểu, nắm bắt nguyên nhân, tránh mạt sát học sinh, bắt học sinh đứng suốt buổi sau tường hoặc đuổi học sinh ra khỏi lớp và phải phản ánh kịp thời cho giáo viên chủ nhiệm để cùng phối hợp giáo dục, có trách nhiệm cùng tham gia ý kiến trong việc đánh giá hạnh kiểm học sinh. Trong thực tế vẫn còn hiện tượng giáo viên bộ môn chỉ có biết dạy, hết tiết là xong, nề nếp lớp mình dạy thế nào không cần biết cho đó là của GVCN thì thật là tắc trách và vô trách nhiệm.

    GVCN là người được Hiệu trưởng giao trọng trách quản lý một lớp. GVCN phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, trách nhiệm cao, nhiệt tình kiên trì, gần gũi yêu thương học sinh, có khả năng tổ chức tập hợp và được phụ huynh, học sinh tin cậy, kính trọng. GVCN là người hiểu hoàn cảnh học sinh hơn ai hết, hiểu rõ nguyên nhân học sinh vi phạm đạo đức và có nghệ thuật trong việc giáo dục học sinh. Nhẹ nhàng tâm sự, gọi riờng gúp ý, kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để giáo dục, tổ chức lớp giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần, khích lệ biểu dương khi thấy HS có dấu hiệu tiến bộ.

    Hàng tháng, kì, năm tổ chức cho học sinh bình bầu hạnh kiểm cho nhau. Việc làm này có ý nghĩa là tạo ra sự dân chủ thật sự trong học sinh. Chính các em tự giáo dục lẫn nhau. Cuối tháng, GVCN nộp danh sách những HS có hạnh kiểm TB, yếu cho Tổng phụ trách Đội để cùng phối hợp giáo dục HS. GVCN chỉ quyết định xếp loại hạnh kiểm HS khi đã có danh sách dự kiến xếp loại của GV dạy môn GDCD và họp với các em tổ trưởng trên tinh thần khách quan, công bằng.

    2.2.4. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Chi đoàn, của Tổng phụ trách Đội:

    Đoàn thanh niên trong Nhà trường là tổ chức đoàn thể có sức thu hút, là chỗ dựa tin cậy của học sinh. Để hoàn thanh nhiệm vụ chính trị của mình, Đoàn phải luôn luôn cải tiến phương pháp, nội dung chương trình hoạt động cho phù hợp, đáp ứmg với nhu cầu, sở thích của học sinh. Việc thu hút tuổi trẻ với tổ chức Đoàn vì mục tiêu lí tưởng của Đảng là một vấn đề quan trọng trong hoạt của Đoàn thanh niên.

    Đoàn phải xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác tuyên truyền , giáo dục, rèn luyện, làm lễ trưởng thành Đội cho học sinh lớp 9, chủ động mở các lớp tìm hiểu về Đoàn, tổ chức kết nạp thanh niên đủ điều kiện, có nguyện vọng vào Đoàn để Chi đoàn tăng thêm về số lượng, chính là tăng thêm về nhân tố tích cực, đi đầu trong mọi hoạt động và cảm hóa, giúp đỡ những học sinh chậm tiến.

    Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục lí tưởng, truyền thống, pháp luật, ý thức công dân cho học sinh, nâng cao nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của đất nước và tương lai của tuổi trẻ, xây dựng ý thức trách nhiệm, tự chủ vượt khó, học tập, rèn luyện, có hoài bão và khát vọng vươn lên, nắm vững kiến thức và làm chủ khoa học công nghệ vì sự nghiệp phát triển của thanh thiếu niên, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Xây dựng và phát động phong trào thi đua theo chủ điểm từng tháng dựa vào các ngày lễ lớn: 20/11, 22/12, 3/2 , 8/3, 26/3, 30/4, 1/5, 7/5,15/5, 19/5…. Nội dung các phong trào thiết thực, hấp dẫn, có sức thu hút, có phát, có động, có tổng kết đánh giá, khen chê kịp thời. Tổ chức tìm hiểu về Đảng, Đoàn, Quân đội, truyền thống địa phương, nhà trường để các em tự hào noi theo, về căn bệnh thế kỷ như HIV/AIDS, an toàn giao thông, ma túy… giúp học sinh có kiến thức phòng chống.

    Tổng phụ trách Đội, ngoài nội dung thực hiện chức năng theo qui định, còn được Hiệu trưởng giao cho nhiệm vụ quan trọng là kiểm soát cho được những học sinh có hành vi chưa tốt như hay bỏ tiết bỏ buổi, gây gỗ đánh nhau, chơi game chát, ăn cắp, vô lễ, vi phạm nội quy bảo vệ CSVC, sử dụng điện, ATGT, phòng chống đuối nước, tai nạn thương tích, vệ sinh môi trường…Tổ chức phát thanh Măng non nhân các ngày 20/11, 22/12, 3/2, 26/3 và 30/4 nhằm tuyên truyền ý nghĩa các ngày lễ đồng thời biểu dương học sinh có thành tích và nhắc nhở những học sinh vi phạm.

    Lỗi vi phạm của học sinh rất đa dạng. Có lỗi nhẹ, mới vi phạm lần đầu nhưng cũng có lỗi nặng lặp đi lặp lại nhiều lần. Trước hiện thực ấy, người TPT nếu bàng quan, chủ quan, thờ ơ hoặc có giải quyết nhưng mang tính chất chiếu lệ cho có thì thật là tai hại. Học sinh vẫn vi phạm, nề nếp của trường bị phá vỡ, trật tự trường học lộn xộn sẽ tác động không nhỏ đến chất lượng dạy và học.

    Cuối mỗi tháng, TPT nắm và tập hợp thống kê học sinh bị xếp HK trung bình, yếu

    (từ GVCN báo) để đầu tháng sau, tổ chức gặp gỡ tư vấn cho học sinh. Trong công tác tư vấn, TPT phải thân thiện, chỉ cho học sinh thấy rừ khuyết điểm và định hướng cho học sinh sửa chữa khắc phục. TPT làm tốt công tác tham mưu cho HT về việc xếp loại HK học sinh vào cuối kỳ, cuối năm.

    2.2.5. Xây dựng môi trường giáo dục:

    Môi trường giáo dục là nơi giúp học sinh phấn đấu rèn luyện toàn diện, chuẩn mực về đạo đức, tránh xa tệ nạn xã hội. Ban giám hiệu chú trọng xây dựng môi trường giáo dục: Xây dựng trường xanh, sạch, đẹp có tường rào, cổng trường, sân chơi bãi tập, áp phích tuyên truyền, ghế đá, khu vực vệ sinh, có cây cảnh bóng mát, kết hợp với địa phương làm tốt công tác vệ sinh môi trường tạo không khí trong lành cho học sinh.

    Nhà trường luôn tạo ra khoảng không gian bình yên cho học sinh là nơi giao tiếp văn minh, tình nhân ái, lòng yêu thương con người …

    Lãnh đạo nhà trường bàn bạc, thống nhất, có bản cam kết với Hội cha mẹ học sinh. Bản cam kết nêu cụ thể trách nhiệm của nhà trường, của hội cha mẹ học sinh đối với việc giáo dục học sinh.

    Trong quá trình làm việc, nhà trường, giáo viên chủ nhiệm thông tin kịp thời tình hình học sinh cho phụ huynh biết để có phương án phối hợp giáo dục.

    Đối với chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương, Hiệu trưởng đó tranh thủ các diễn đàn để phát biểu ý kiến nhằm tranh thủ sự đồng tình từ phía lãnh đạo địa phương về phương án phối hợp giáo dục một cách có trách nhiệm, chặt chẽ, hiệu quả. Bởi sự tham gia của Xã đoàn, Công an, Mặt trận xó với chính quyền thôn với Ban giám hiệu nhà trường trong việc kiểm tra các quán Internet nên số lượng học sinh chơi game, đánh nhau giảm nhiều hoặc học sinh đánh nhau, gây rối, tham gia giao thông bất cẩn… cũng được công an xó nhắc nhở, giáo dục.

    KẾT QUẢ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM CUỐI NĂM NĂM HỌC 2013-2014:

    3. Phần kết luận:

    3.1. Ý nghĩa của sáng kiến:

    Sự nghiệp đổi mới của đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đến nay đã thu được những thành tựu to lớn về chính trị, văn hoá xã hội, ngoại giao và kinh tế. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Sự nghiệp đổi mới đang ở giai đoạn đầu, thuận lợi, thời cơ có nhiều nhưng thách thức, khó khăn cũng lắm nhất là mặt trái, cái tiêu cực đang hàng ngày hàng giờ ảnh hưởng đến nhân cách của một bộ phận học sinh. Công tác giáo dục đạo đức tư tưởng cho học sinh trong trường học là nhiệm vụ hết sức quan trọng đòi hỏi mọi người, mọi ngành nhất là ngành giáo dục, các nhà trường vì con em mà có những kế sách, tìm ra những biện pháp hữu hiệu để giáo dục đạo đức cho học sinh. Nhà trường phải là nơi giáo dục rèn luyện đạo đức cho học sinh nhằm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Người học sinh phải được đào tạo cả đức lẫn tài.

    Thế hệ học sinh trong các trường THCS hiện nay đang được hưởng chế độ ưu việt nhờ sự chăm lo của Đảng và Nhà nước. Các em là chủ nhân tương lai của đất nước. Vì thế, Chi bộ Đảng, Nhà trường, Đoàn thanh niên, Công đoàn, gia đình, xã hội phải thực sự hết sức quan tâm dành sự ưu ái nhất cho việc giáo dục các em trở thành những con người có niềm tin yêu sự nghiệp vĩ đại của dân tộc mình, tin yêu Đảng, ra sức học tập, rèn luyện để khi ra trường cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Hơn ai hết, người Hiệu trưởng phải nhận thức, xác định giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ hàng đầu trong nhà trường, nhất là trường THCS. Thật sự quan tâm, thể hiện trách nhiệm một cách cụ thể đối với từng học sinh vi phạm đạo đức. Đối xử với các em nhẹ nhàng, thân mật, gợi mở để học sinh tự nhận ra lỗi vi phạm và định hướng cho học sinh hướng khắc phục. Theo dõi thấy các em tiến bộ kịp thời biểu dương động viên. Tạo ra sức mạnh tổng hợp, vòng tròn khép kín để giáo dục học sinh. Đó là: Tập thể lớp, đội ngũ thầy cô giáo nhất là GVCN, Tổng phụ trách Đội, phụ huynh, chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương.

    Với sự nghiên cứu trên cơ sở lý luận kết hợp với thực tiễn trong thời gian làm quản lý, bằng những biện pháp vận dụng có hiệu quả ở trường THCS do tôi quản lý, rất mong được sự góp ý của Hội đồng khoa học nhà trường, Hội đồng khoa học ngành Giáo dục-Đào tạo Lệ Thủy góp ý, giúp đỡ để SKKN của tôi hoàn chỉnh hơn trong quản lý về công tác giáo dục đạo đức đối với học sinh ở trường THCS.

    3.2, Kiến nghị, đề xuất :

    – Toàn thể HĐSP xác định giáo dục đạo đức cho học sinh là việc làm hết sức có ý nghĩa quan trọng nên thực hiện đồng bộ, có trách nhiệm.

    – UBND xã có kế hoạch chỉ đạo việc kiểm tra học sinh chơi gem ở các quán inter vì đây là môi trường tiêu cực nhiều nhất.

    SKKN trên đã được thực hiện tại trường mà tôi là người áp dụng đã đem lại những kết quả khả quan. Biết rằng còn thiếu sót kính mong HĐ xét SKKN của Trường, Ngành góp ý thêm cho SKKN của tôi được hoàn chỉnh.

    Xin trân trọng cám ơn !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thpt
  • Giải Pháp Vấn Đề Gia Tăng Dân Số
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Tăng Dân Số?
  • Nó Là Gì, Khái Niệm, Chuẩn Mực Và Chức Năng Của Đạo Đức

    --- Bài mới hơn ---

  • Iphone 11 Có Những Ưu Điểm Và Tính Năng Gì Mới?
  • Tổng Quan Về Cấu Trúc Của Não Bộ
  • Những Công Việc Của Người Quản Lý Là Gì?
  • Quản Lý Là Gì, Lãnh Đạo Là Gì? 10 Kỹ Năng Của Nhà Quản Lý Cần Có
  • Hướng Dẫn Hoạt Động Của Ban Thanh Tra Nhân Dân (Nhiệm Kì 2022
  • Đạo đức là một khái niệm có điều kiện về các quy tắc, nguyên tắc, đánh giá, chuẩn mực, dựa trên mô hình đánh giá cái ác và cái thiện, được hình thành trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là mô hình của ý thức xã hội, một phương pháp điều chỉnh hành vi của chủ thể trong xã hội. Nó phát triển trong cả hai hình thức cá nhân và xã hội của quan hệ chủ quan.

    Khái niệm đạo đức theo quan điểm của các nhà tâm lý học là một phần của tâm lý con người đã hình thành ở mức độ sâu sắc, chịu trách nhiệm đánh giá các sự kiện xảy ra trên các mặt phẳng khác nhau với giá trị tốt và xấu. Từ đạo đức thường được sử dụng như một từ đồng nghĩa với từ “đạo đức”.

    Đạo đức là gì

    Từ “đạo đức” bắt nguồn từ ngôn ngữ Latin cổ điển. Nó được hình thành từ chữ mos của từ Latin có nghĩa là tinh thần, tập quán. Nhắc đến Aristotle, Cicero, được dẫn dắt bởi ý nghĩa này, đã hình thành các từ: “moralis” và “moralitas” – đạo đức và đạo đức, trở nên tương đương với các cách diễn đạt từ ngôn ngữ Hy Lạp: đạo đức và đạo đức.

    Một số học giả cũng lưu ý rằng các quy tắc đạo đức khác nhau không chỉ áp dụng cho các đối tượng thuộc các quốc tịch khác nhau, mà còn đối với các đối tượng thuộc nhóm người nước ngoài Hồi giáo. Định nghĩa của một nhóm người trong nhóm Vectơ, riêng người ngoài hành tinh, xuất hiện ở cấp độ tâm lý về mối tương quan của cá nhân với nhóm này theo nhiều nghĩa khác nhau: văn hóa, dân tộc và những người khác. Bằng cách xác định bản thân với một nhóm cụ thể, đối tượng chấp nhận các quy tắc và chuẩn mực (đạo đức) được thông qua trong đó, xem xét cách sống như vậy công bằng hơn là tuân theo đạo đức của toàn xã hội.

    Một người biết rất nhiều ý nghĩa của khái niệm này, được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau trong các ngành khoa học khác nhau, nhưng cơ sở của nó vẫn không đổi – đó là định nghĩa của một người về hành động của anh ta, hành động xã hội tương đương với một câu nói hay.

    Đạo đức được tạo ra trên cơ sở mô hình được thông qua trong một xã hội cụ thể, vì các chỉ định là xấu hay tốt là tương đối và không tuyệt đối, và việc giải thích đạo đức hoặc vô đạo đức của các loại hành vi là có điều kiện.

    Theo đó, đạo đức là một tập hợp các chuẩn mực hành vi nhất định, được hình thành trong một thời gian dài, dưới tác động của điều kiện môi trường tại một thời điểm nhất định tạo thành một tập hợp các chuẩn mực tư tưởng được thiết lập góp phần phát triển sự hợp tác của con người. Nó cũng nhằm tránh chủ nghĩa cá nhân của chủ thể trong xã hội; sự hình thành các nhóm thống nhất bởi một thế giới quan chung. Các nhà xã hội học xem xét quan điểm này trong một số loại động vật xã hội, có mong muốn thay đổi hành vi của những người phấn đấu để tồn tại và bảo tồn loài của họ trong thời kỳ tiến hóa. Điều này tương ứng với sự hình thành của đạo đức, ngay cả ở động vật. Ở con người, các tiêu chuẩn đạo đức được phát triển tinh vi và đa dạng hơn, nhưng chúng cũng tập trung vào việc ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân trong hành vi, góp phần hình thành quốc tịch và theo đó làm tăng cơ hội sống sót. Người ta tin rằng ngay cả những chuẩn mực hành vi như tình yêu của cha mẹ là hậu quả của sự tiến hóa của đạo đức con người – loại hành vi này làm tăng tỷ lệ sống sót của con cái.

    – phương pháp nhận thức (Jean Piaget, Lorenz Kolberg và Elliot Turiel) – đạo đức trong phát triển cá nhân trải qua một số giai đoạn hoặc lĩnh vực xây dựng;

    – phương pháp sinh học (Jonathan Heidt và Martin Hoffman) – đạo đức được xem là chống lại nền tảng của sự phát triển của thành phần xã hội hoặc cảm xúc của tâm lý con người. Một cách tiếp cận thú vị để phát triển học thuyết về đạo đức như là một thành phần tâm lý của nhân cách là cách tiếp cận của nhà phân tâm học Sigmund Freud, người cho rằng đạo đức được hình thành như là kết quả của mong muốn của siêu nhân bản ngã để thoát khỏi sự xấu hổ và tội lỗi.

    Tiêu chuẩn đạo đức là gì?

    Hoàn thành các tiêu chuẩn đạo đức là nghĩa vụ đạo đức của chủ thể, vi phạm các biện pháp hành vi này là một cảm giác tội lỗi đạo đức.

    Các chuẩn mực của đạo đức trong xã hội nói chung là các biện pháp được chấp nhận đối với hành vi của chủ thể phát sinh từ đạo đức đã được thiết lập. Tổng thể của các quy phạm này tạo thành một hệ thống quy tắc nhất định, về mọi phương diện khác với các hệ thống quy phạm của xã hội như: phong tục, quyền và đạo đức.

    Trong giai đoạn đầu hình thành, các tiêu chuẩn đạo đức được liên kết trực tiếp với tôn giáo, quy định các tiêu chuẩn đạo đức về ý nghĩa của sự mặc khải thiêng liêng. Mỗi tôn giáo sở hữu một tập hợp các chuẩn mực đạo đức (điều răn) nhất định ràng buộc đối với tất cả các tín đồ. Không tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức theo quy định trong tôn giáo được coi là một phước lành. Trong các tôn giáo thế giới khác nhau, có một khuôn mẫu nhất định theo các tiêu chuẩn đạo đức: trộm cắp, giết người, ngoại tình, giả dối là những quy tắc ứng xử không thể phủ nhận đối với các tín đồ.

    Các nhà nghiên cứu tham gia vào nghiên cứu về sự hình thành các chuẩn mực đạo đức đã đưa ra một số hướng để hiểu ý nghĩa của các chuẩn mực này trong xã hội. Một số người tin rằng việc tuân thủ các quy tắc được quy định trong đạo đức là ưu tiên trong vỏ bọc của các chuẩn mực khác. Những người theo hướng này, quy các tính chất nhất định cho các tiêu chuẩn đạo đức này: tính phổ quát, tính phân loại, tính bất biến, sự tàn ác. Hướng thứ hai, được nghiên cứu bởi các nhà khoa học, cho thấy rằng sự quy kết của chủ nghĩa tuyệt đối, tính phổ quát và cam kết đối với các tiêu chuẩn đạo đức, hoạt động như một loại chủ nghĩa cuồng tín .

    Ở dạng biểu hiện, một số chuẩn mực đạo đức trong xã hội có những điểm tương đồng với chuẩn mực pháp lý. Vì vậy, nguyên tắc của Ăn cắp không ăn cắp đối với cả hai hệ thống, nhưng bằng cách hỏi tại sao đối tượng tuân theo nguyên tắc này, người ta có thể xác định hướng suy nghĩ của mình. Nếu đối tượng tuân theo nguyên tắc vì anh ta sợ trách nhiệm pháp lý thì hành vi của anh ta là hợp pháp. Nếu đối tượng tự tin tuân theo nguyên tắc này, vì trộm cắp là một hành động xấu (xấu xa), thì vectơ chỉ đạo hành vi của anh ta tuân theo hệ thống đạo đức. Có những tiền lệ trong đó việc tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức là trái pháp luật. Đối tượng, coi đó là nhiệm vụ của mình, ví dụ, ăn cắp thuốc để cứu người thân của mình khỏi cái chết, là hành động đúng đắn về mặt đạo đức, trong khi hoàn toàn vi phạm pháp luật.

    Khám phá sự hình thành của các tiêu chuẩn đạo đức, các nhà khoa học đã đi đến một phân loại nhất định:

    – các chuẩn mực ảnh hưởng đến sự tồn tại của cá nhân như một sinh vật (giết người);

    – định mức về tính độc lập của chủ thể;

    – các chuẩn mực của xung đột xã hội;

    – chuẩn mực của sự tin tưởng (trung thực, trung thực);

    – tiêu chuẩn bảo mật ;

    – định mức về các tiêu chuẩn đạo đức khác.

    Chức năng đạo đức

    Con người là một sinh vật có quyền tự do lựa chọn và anh ta có quyền lựa chọn con đường tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức, hoặc ngược lại. Sự lựa chọn của một người đặt thiện hay ác lên bàn cân được gọi là lựa chọn đạo đức. Có quyền tự do lựa chọn như vậy trong cuộc sống thực, đối tượng phải đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn: làm theo nhu cầu cá nhân hoặc mù quáng làm theo những gì đến hạn. Sau khi đưa ra lựa chọn cho mình, đối tượng chịu những hậu quả đạo đức nhất định, mà chính đối tượng phải chịu trách nhiệm, cho cả xã hội và cho chính mình.

    Phân tích các tính năng của đạo đức, chúng ta có thể trích xuất một số chức năng của nó:

    – Chức năng đánh giá. Những hành động và tình huống xảy ra trong một xã hội, đạo đức, đánh giá ở khía cạnh thiện và ác. Các hành động đã diễn ra được đánh giá về tính hữu ích hoặc tiêu cực của chúng để phát triển hơn nữa, vì điều này, từ khía cạnh đạo đức, mỗi hành động được đánh giá. Nhờ chức năng này, chủ thể hình thành khái niệm thuộc về xã hội và phát triển vị trí riêng của mình trong đó.

    – Chức năng của giáo dục. Dưới ảnh hưởng của chức năng này, một người phát triển nhận thức về tầm quan trọng của không chỉ nhu cầu của anh ta, mà cả nhu cầu của những người xung quanh anh ta. Có một cảm giác đồng cảm và tôn trọng, góp phần vào sự phát triển hài hòa của các mối quan hệ trong xã hội, một sự hiểu biết về lý tưởng đạo đức của một cá nhân khác, góp phần hiểu rõ hơn về nhau.

    – Chức năng điều khiển. Xác định việc kiểm soát việc sử dụng các chuẩn mực đạo đức, cũng như lên án các hậu quả của chúng ở cấp độ xã hội và cá nhân.

    – Chức năng tích hợp. Theo tiêu chuẩn đạo đức đoàn kết nhân loại trong một nhóm duy nhất, hỗ trợ sự sống còn của con người như một loài. Nó cũng giúp duy trì tính toàn vẹn của thế giới tâm linh của cá nhân. Các chức năng chính của đạo đức là: đánh giá, giáo dục và quy định. Chúng phản ánh ý nghĩa xã hội của đạo đức.

    Đạo đức và đạo đức

    Nhiều người biết rằng các khái niệm như “đạo đức” và đạo đức “có ý nghĩa gần gũi, vì chúng thường được coi là có thể thay thế cho nhau. Nhiều người sử dụng các khái niệm này như phần mở rộng của nhau. Đạo đức, trước hết, là một xu hướng triết học nghiên cứu các vấn đề đạo đức. Thông thường biểu thức “đạo đức” được sử dụng để biểu thị các nguyên tắc đạo đức, truyền thống, phong tục cụ thể tồn tại giữa các chủ thể của một nhóm hạn chế trong xã hội. Hệ thống Kant xem xét từ đạo đức, sử dụng nó để biểu thị các khái niệm về nghĩa vụ, nguyên tắc hành vi và nghĩa vụ. Từ “đạo đức” sử dụng hệ thống lý luận của Aristotle để biểu thị đức hạnh, sự không thể tách rời của những cân nhắc về đạo đức và thực tiễn.

    Khái niệm đạo đức như một hệ thống các nguyên tắc tạo thành một bộ quy tắc dựa trên nhiều năm thực hành và cho phép một người xác định phong cách ứng xử trong xã hội. Đạo đức là một phần của triết học và lý lẽ biện minh cho các nguyên tắc này. Trong thế giới hiện đại, khái niệm đạo đức đã bảo tồn định danh ban đầu là một khoa học trong hàng ngũ triết học nghiên cứu các tính chất của con người, hiện tượng thực, quy tắc và chuẩn mực, là chuẩn mực của đạo đức trong xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Giúp Gan Phục Hồi Hiệu Quả Những Tổn Thương Do Bia Rượu
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Làm Việc Của Hộp Số Tự Động
  • Cách Tạo Số Của Hộp Số Tự Động Trên Xe Ô Tô
  • Gara Sửa Chữa Hộp Số Sàn, Hộp Số Tự Động Uy Tín Hcm 2022
  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Tư Pháp Thuộc Ubnd Cấp Tỉnh, Phòng Tư Pháp Thuộc Ubnd Cấp Huyện
  • Mfa: Chiếm Đoạt Chức Năng Quân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Mrcb: Phục Hồi Chức Năng Quân Sự Và Bồi Thường Bill
  • Ba Chức Năng Cơ Bản Của Quân Đội Nhân Dân Trong Thời Bình
  • Không Thể Xuyên Tạc, Phủ Nhận Chức Năng Lao Động Sản Xuất Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Giúp Bạn Trả Lời Câu Hỏi Sĩ Quan Quân Đội Là Gì?
  • Bài 5. Luật Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân
  • MFA có nghĩa là gì? MFA là viết tắt của Chiếm đoạt chức năng quân sự. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Chiếm đoạt chức năng quân sự, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Chiếm đoạt chức năng quân sự trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của MFA được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài MFA, Chiếm đoạt chức năng quân sự có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    MFA = Chiếm đoạt chức năng quân sự

    Tìm kiếm định nghĩa chung của MFA? MFA có nghĩa là Chiếm đoạt chức năng quân sự. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của MFA trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của MFA bằng tiếng Anh: Chiếm đoạt chức năng quân sự. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, MFA được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Chiếm đoạt chức năng quân sự. Trang này là tất cả về từ viết tắt của MFA và ý nghĩa của nó là Chiếm đoạt chức năng quân sự. Xin lưu ý rằng Chiếm đoạt chức năng quân sự không phải là ý nghĩa duy chỉ của MFA. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của MFA, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của MFA từng cái một.

    Ý nghĩa khác của MFA

    Bên cạnh Chiếm đoạt chức năng quân sự, MFA có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của MFA, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Chiếm đoạt chức năng quân sự bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Chiếm đoạt chức năng quân sự bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Tham Gia Lao Động Sản Xuất, Góp Phần Phát Triển Kinh Tế
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Thực Hiện Tốt Chức Năng Đội Quân Lao Động Sản Xuất Trong Thời Kỳ Mới
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Của Đội Quân Công Tác
  • Skkn Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gd Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Từ Đề Tài Nckh Giải Nhất Quốc Gia
  • Đề Tài Một Vài Biện Pháp Quản Lý Công Tác Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Trong Trường Tiểu Học
  • PHẦN THỨ NHẤT.

    MỞ ĐẦU

    I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

    Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức là một bộ phận hết sưc quan trọng trong quá trình giáo dục rèn luyện nhân cách học sinh. Đạo đức được coi là nền tảng trong phẩm chất, nhân cách, là cái gốc của con người. Vì thế, trong công tác giáo dục ở nhà trường phải luôn chú trọng cả đức lẫn tài: Việc dạy chữ phải kết hợp với dạy người, dạy nghề nhằm rèn luyện học sinh trở thành con người phát triển toàn diện.

    Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá, hoà nhập khu vực và quốc tế, tận dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thắng lợi; yêu cầu đòi hỏi nhân tài cho đất nước ngày càng cao hơn, chất lượng hơn.

    Vì vậy, hơn bao giờ hết nhận thức và hành động của việc “giáo dục đạo đức phải chiếm vị trí hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục học sinh”.

    Từ nhận thức đó, là một giáo viên Tổng Phụ Trách Đội bản thân tôi luôn có suy nghĩ, trăn trở, tìm ra các biện pháp có sức thuyết phục trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đó là lý do tôi chọn đề tài này.

    II. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:

    Nghiên cứu những biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh, kết hợp kinh nghiệm bản thân, nhằm tìm ra các biện pháp thích hợp, vận dụng có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng đạo đức trong học sinh ở trường THCS.

    III.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

    – Học sinh trường THCS.

    IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    – Nghiên cứu lý luận về giáo dục đạo đức của học sinh thông qua quá trình theo dõi, giảng dạy và sinh hoạt Đoàn Đội

    – Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, trao đổi và tổng kết các năm học, kinh nghiệm của các đồng chí giáo viên chủ nhiệm và bản thân qua các năm.

    PHẦN THỨ 2: NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THCS.

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.

    – Theo quan niệm của Mác, đạo đức là một yếu tố trong ý thức xã hội, trong đời sống tinh thần của con người. Về lý luận, nó là một bộ phận của kiến thức xã hội, được xây dựng trên cơ sở kinh tế- xã hội. Đạo đức bao gồm các tri thức về kĩ năng, các chuẩn mực và phẩm chất đạo đức. Như vậy, đạo đức tồn tại trong mọi dạng ý thức, hoạt động và giao lưu trong mọi hoạt động sống của con người. Đạo đức được biểu hiện dưới dạng những tư tưởng, những quan điểm của con người; đồng thời là những nguyên tắc, tiêu chuẩn hướng con người điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, con người với con người, con người với xã hội. Việc ý thức được đầy đủ và định hướng rõ rệt về tính chất, nội dung của chuẩn mực đạo đức, của các mối quan hệ trong cuộc sống mỗi con người đều có khả năng ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách của con người đó.

    Trong đạo đức cách mạng, Bác Hồ đặc biệt rất chú ý đến cặp phạm trù “Đức” và “Tài”. Người cho: “Đức phải đặt trước tài” và “Phải có chính trị trước rồi mới có chuyên môn”. Chính trị là đức , chuyên môn là tài. Chính vì vậy, ngoài việc trang bị những tri thức khoa học, nhà trường cần phải đặc biệt đến giáo dục đạo đức cách mạng cho học sinh để trong hành trang lập thân, lập nghiệp, các em có đủ đức, đủ tài như Bác Hồ đã dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”. Tài và đức trở thành yếu tố thiết yếu tạo nên sự phát triển cân đối, hài hoà của mỗi con người.

    Xét về mặt tâm lý, thì học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi thiếu niên, thanh niên thường đam mê những cái mới lạ, cho nên các em tiếp cận rất nhanh, nhạy cảm với cái mới, cái đẹp, cái hay. Học sinh là những người thích tìm tòi, sáng tạo, biết kết hợp theo sở thích và lợi ích cho nên các em thường nản chí trước những khó khăn, rất ưa chuộng hình thức và ít xem đến kết quả, xa rời với thực tiễn cuộc sống. Cho nên quan điểm giáo dục đaọ đức cho học sinh nói chung là giáo dục lòng yêu thương, quý trọng mọi người, biết đoàn kết anh em, bè bạn.

    Vì thế ta phải có phương pháp giáo dục sao cho sát với thực tế, phù hợp với đối tượng, nhiệm vụ cụ thể. Có như vậy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Hs Thcs Trong Giai Đoạn Hiện Nay .rar
  • Kinh Nghiem Giao Duc Dao Duc Hoc Sinh Thcs Skkn
  • Nêu Nguyên Nhân Hậu Quả Biện Pháp Của Sự Di Dân Ở Đới Nóng? Sự Gia Tăng Dân Số Gây Sức Ép Gì ? Câu Hỏi 55305
  • Thực Hiện Biện Pháp Tránh Thai Hiện Đại Để Tránh Gia Tăng Dân Số
  • Cần Có Những Giải Pháp Cụ Thể Để Giải Quyết Việc Làm
  • Thực Trạng Đạo Đức Của Học Sinh ,sinh Viên Hiện Nay Và Những Giải Pháp Về Vấn Đề Giáo Dục Đạo Đức.

    --- Bài mới hơn ---

  • Sinh Viên Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh
  • Giáo Dục Đạo Đức Trong Sinh Viên, Học Sinh Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Giải Pháp Rút Ngắn Thời Gian Trong Khâu Giao Hàng
  • Đề Tài Lý Luận Tuần Hoàn Chu Chuyển Của Tư Bản Hot
  • Giải Pháp Nào Rút Ngắn Thời Gian Giao Hàng? (Delivery Lead Time Solutions)
  • Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây dựng hệ giá trị đạo đức mới ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết. Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội đã có những biểu hiện xem nhẹ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, chạy theo thị hiếu không lành mạnh. Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa lối sống lành mạnh trung thực, có lý tưởng…với lối sống ích kỉ, thực dụng…đang diễn ra hàng ngày. Bên cạnh những hệ giá trị mới được hình thành trong quá trình hội nhập, những cái tiêu cực cũng đang xâm nhập vào đạo đức, lối sống của nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ học sinh, sinh viên.

    Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội , là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc , chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

    Với tư cách là một sinh viên chúng tôi xin được đề cập đến một khía cạnh nhỏ trong vấn đề lớn đạo đức lối sống của học sinh, sinh viên Việt Nam trong thời đại ngày nay. Khi nhắc đến hai chữ “Sinh viên” mọi người đều biết đó là tầng lớp tri thức cao của mỗi quốc gia – là tương lai của đất nước là những người quyết định sự phồn thịnh của dân tộc vì chính họ là những ” mùa xuân của xã hội” .

    Để chuẩn bị cho hành trang vào đời, các bạn không chỉ mang theo vốn kiến thức được học mà phải là người có đạo đức tốt, xứng đáng cương vị là một sinh viên, hay nói đúng hơn “trước khi thành tài thì phải thành nhân” . Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng nói: “có tài mà không có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm gì cũng khó” qua đó cũng đủ hiểu Người coi trọng như thế nào về đạo đức lối sống .Yếu tố đó không những quyết định kết quả học tập mà quyết định đến tương lai và cuộc đời của mỗi bạn. “Giới trẻ là tương lai của giáo hội và nhân loại”. Nhưng thực tế, liệu nó có tốt đẹp như người ta tưởng không?

    Nhân loại sẽ đi tới đâu, khi giới trẻ có lối sống thực dụng chỉ chạy theo những giá trị vật chất mà bỏ quên những giá trị tinh thần. Tình trạng giới trẻ sống buông thả, không coi trọng giá trị đạo đức đã và đang diễn ra ở nhiều nơi. Bằng chứng là các phương tiện truyền thông đã đăng tải các bài viết phản ánh về thực trạng này. Chúng lôi bè kéo cánh để đánh nhau (cả trai lẫn gái), thậm chí hành hung cả thâỳ cô giáo, con giết cha, anh giết em, trẻ vị thành niên cũng gây ra nhiều vụ án mạng. Những hành vi tàn bạo này được đăng trên mặt báo chỉ là những tảng băng nổi, thực tế còn nhiều hơn nữa. Cách đây không lâu người ta choáng váng vì một đoạn video clip nữ sinh đánh bạn đăng tải trên Internet. Trong clip này một cô bé đang bị nữ sinh tóc ngắn vừa đánh tới tấp vào mặt vừa chửi tục với kiểu “dạy dỗ” rất anh chị. Trong khi đó nhiều học sinh khác ngồi chễm chệ ở ghế đá và thản nhiên nhìn vụ đánh hội đồng này. Một thái độ vô cảm không thể ngờ được! Sau đó, dư luận lại đau lòng trước tình trạng gia tăng bạo lực học đường của nữ sinh Việt Nam được phản ánh liên tục trên các phương tiện truyền thông.

    Hơn nữa, một số đông bạn trẻ đang chạy theo vòng xoáy của “văn hóa tốc độ”. Từ những sách báo không lành mạnh, đến những băng đĩa phim sex được trao cho nhau cách dễ dàng, từ những quán Karaoke buổi tối đến những vũ trường, quán bar thâu đêm, rồi vào những ngôi nhà nghỉ. Mặt khác, tình trạng đua xe cũng là một trong những vấn đề nổi cộm đang được diễn ra ở nhiều nơi.Vào những đêm cuối tuần tại khu vực Quảng trường Hồ Chí Minh- thành phố Vinh(Nghệ An) hàng trăm thanh niên đã tụ tập tổ chức đua xe trái phép quanh khu vực này,gây náo loạn toàn thành phố. Chỉ tính từ 20h -23h đội cảnh sát thành phố Vinh đã tiến hành bắt giữ, lập biên bản xử lý hơn 100 người đua xe ,tạm giữ 60 xe máy, 100 xe đạp có gắn còi, tuy nhiên đám đông vẫn không giải tán .

    Ngoài ra, hiện nay ngày càng đông sinh viên Việt Nam chưa có thái độ nhận thức đúng đắn đối với việc học tập. Theo một cuộc khảo sát của Phó GS-Tiến sĩ Phạm Công Khanh-Trường Sư phạm Hà Nội: “64% sinh viên chưa tìm được phương pháp học tập phù hợp với đặc điểm nhận thức cá nhân. 36,1% sinh viên bộc lộ phong cách thụ động, ngại nêu lên thắc mắc và ý kiến của mình để đóng góp vào việc học tập trên lớp mà chỉ thích giảng viên cho nghe. Mặc dù trong các cuộc chơi nhậu nhẹt số đông trong họ là người tiên phong, sôi nổi, chơi hết mình. 50% sinh viên không thực sự tự tin vào năng lực, trình độ của mình. 40% sinh viên cho rằng mình không có khả năng tự học. 70% sinh viên cho rằng mình không có khả năng nghiên cứu. 55% sinh viên không thực sự hứng thú với việc học tập” (theo tuổi – trẻ online). Những con số đó thật bất ngờ. Đáng buồn thay cho một thế hệ tương lai đang ngày càng xuống dốc. Không những vậy, có những sinh viên còn tỏ thái độ vô lễ với giảng viên, làm ồn trong lớp, phát biểu linh tinh, huýt sáo… Do họ nghĩ mình đã lớn, có thể bày tỏ ý kiến thoải mãi. Sinh viên ngày nay tiếp cận quá nhiều phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại di động, truyền hình cáp, internet… nên dễ bị tiêm nhiễm những tư tưởng xấu. Các bạn nam thì vùi mình trong nhậu nhẹt, cờ bạc. Số khác lại lao vào các trò vô bổ trong thế giới ảo (như Võ lâm truyền kì, Đột kích, Audition…).

    Nguy hiểm hơn là các phim ảnh đồi trụy có tác động tiêu cực đến nhân cách các bạn. Đau lòng hơn nữa số đông trong những bạn đó gia đình đâu có khá giả gì. Để có tiền gửi lên thành phố cho con ăn học cha mẹ các bạn ở quê đã phải bòn từng gánh rau, đấu thóc, đã làm việc hết mình mông một ngày được nhìn thấy con thành đạt. Thương con họ còn cố giành giùm mua cho con điện thoại, xe máy, máy tính xách tay để tiện học tập và đi lại. Ngờ đâu, tất cả đều vào tiệm cầm đồ chỉ sau vài cuộc ăn chơi trác tán hoặc sau vài đòn thất thủ trong các trò cá độ hoặc lô đề. Các bạn nữ thì bị ảnh hưởng quá nhiều của những bộ phim lãng mạn Hàn Quốc. Từ cách ăn mặc đến đầu tóc hay phong cách thời trang các bạn đều thể hiện sao cho giống thần tượng của mình. Nghiêm trọng hơn nữa, các bạn còn chạy theo một kiểu tình cảm phương tây chớp nhoáng không giới hạn. Cụm từ “sống thử” đã trở nên quá quen thuộc với các bạn sinh viên hiện nay. Hai người sống chung với nhau như vợ chồng, nếu cảm thấy không hợp thì chia tay một cách nhẹ nhàng.

    Đáng xúc động hơn có những bạn sinh viên xuất thân trong những gia đình nghèo khó nhưng biết vượt lên hoàn cảnh để vươn tới tầm cao của tri thức. Ngoài việc học tập, các bạn đã làm tất cả những công việc để có tiền phụ giúp cha mẹ. Các bạn mãi là những bông hoa đẹp trong vườn hoa của dân tộc Việt Nam – Một tương lai tươi sáng đang chờ các bạn ở phía trước. Các bạn cũng chính là những người tiếp thu và thực hành tốt tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vì trong trái tim các bạn luôn tâm niệm rằng “đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy tự hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc hôm nay”.

    ( Sinh viên tình nguyện tiếp sức mùa thi năm 2012 )

    Một nhà văn lớn đã từng nói “Sống hay không sống – đó là vấn đề”. Là một người sinh viên đồng thời cũng là một người thanh niên thuộc thế hệ trẻ, chúng ta hãy sống sao cho có mục đích, có lí tưởng, hãy sống sao để khi nhìn lại những gì đã qua ta không phải xót xa ân hận những tháng năm đã sống hoài sống phí.

    Đã có rất nhiều bài viết chỉ ra các nguyên nhân dẩn đến việc xuống cấp đạo đức của học sinh, sinh viên. Có ý kiến cho rằng do gia đình thiếu sự quan tâm, chưa kết hợp với nhà trường trong giáo dục đạo đức của các em. Nhưng trong thực tế, không phải trường hợp học sinh vi phạm đạo đức nào cũng ở trong hoàn cảnh gia đình không quan tâm.

    Do sự phát triển của nền kinh tế? Một nguyên nhân được đặt ra là kinh tế xã hội phát triển ngày càng cao và sự bùng nổ thông tin, dẫn đến việc một bộ phận gia đình khá giả chiều chuộng con mình, tạo nên sự đua đòi trong các em. Điện thoại di động, Internet, phim ảnh của các Website đen đã tác động không nhỏ đến nhận thức, lối sống và cách hành xử của học sinh, làm hư hỏng học sinh bởi bản tính tò mò, hiếu động của tuổi mới lớn. Tuy nhiên việc vi phạm đạo đức của học sinh không chỉ diễn ra ở địa bàn thành phố, đô thị hay chỉ rơi vào trường hợp các em gia đình có điều kiện kinh tế. Các trường vùng sâu, xa, học sinh nghèo chưa có điều kiện tiếp cận nhiều với Internet vẫn đang phải đối mặt với vấn nạn vi phạm đạo đức của học sinh.

    Do luật pháp chưa nghiêm? Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc. Hình thành nhân cách, đạo đức một con người đâu chỉ giáo dục trong nhà trường phổ thông là đủ. Nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hộ ít nhiều đều bị chi phối bởi cách mà xã hội đó đang hành xử với nhau. Nếu được sống trong một môi trường nghiêm minh về pháp luật, chuẩn mực về đạo đức, mọi người hành xử với nhau một cách có tình có lý, chắc chắc đó sẽ là một môi trường giáo dục lý tưởng trong việc hình thành nhân cách đạo đức của học sinh. Những bài học mà các thầy cô giáo đang cố sức rao giảng để giáo dục đạo đức của học trò mình trên lớp dường như ngược lại với các hoạt động đang diễn ra trong cuộc sống xã hội. Trong khi các giáo viên dạy nhạc cố gân cổ lên để rao giảng về thẩm mỹ âm nhạc, chắt chiu từng giờ dạy dân ca để các em biết yêu quý những giá trị tinh thần mà ông cha ta đã dày công vun đắp. Thì hàng ngày, mấy chục nhà đài liên tục phát những bài hát được gọi là nhạc trẻ với một thứ thẩm mỹ vay mượn, hổ lốn. Báo chí thì thi nhau săm soi kỹ lưỡng đời sống của các “Sao” như một sự tôn vinh. Chúng ta có nhói tim không khi nghe một học sinh lớp 6 hát nghêu ngao: “Vì em đam mê thú vui thân xác, nên em đánh mất mối tình của tôi..” (“Đ ừng để tôi biết em dối gian” – Lâm Hùng). Luật giao thông được đưa vào nhà trường để dạy cho các em, những công dân tương lai, sống và làm việc đúng luật pháp. Thế nhưng khi ra đường các em luôn phải chứng kiến những hành vi vi phạm an toàn giao thông của người lớn mà đôi khi còn có cả cảnh sát giao thông.

    Do những tiêu cực mà các em hàng ngày phải chứng kiến. Nhà trường thường xuyên giáo dục các em về tính trung thực, phải biết vươn lên bằng chính đôi chân của mình. Nhưng trong thực tế các em lại chứng kiến có quá nhiều người lớn không trung thực nhưng vẫn “thành đạt”. Tệ nạn sử dụng bằng giả hay mua bằng, gian dối trong báo cáo thành tích, sự thiếu nghiêm minh của pháp luật tác động lên các em hàng ngày trách sao các em không thiếu niềm tin với những điều học được trong nhà trường. Những thứ mà các em đang học trong nhà trường dường như là một mớ lý thuyết không áp dụng được cho cuộc sống. Trong một cuộc họp chuyên môn đầu năm học 2011-2012 ở một phòng GD-ĐT cấp huyện của tỉnh An Giang, một giáo viên dạy toán lâu năm đã đề nghị nên chấp nhận với thực tế, học thật, đánh giá thật, có thể trong một vài năm huyện sẽ thua các đơn vị huyện thị khác, nhưng bù lại chúng ta biết chính xác thực trạng của học sinh mà có hướng nâng chất lượng thật sự. Vị trưởng phòng GD-ĐT huyện trầm ngâm phát biểu “Thế thì chúng ta sẽ thua các huyện thị nhiều lắm”. Vậy ra thành tích học tập của các em được xem như là một thứ đảm bảo cho vị trí chiếc ghế của người lớn sao? Ngay cả trong nhà trường các em cũng đã chứng kiến bao nhiêu là điều thiếu trung thực. Chỉ với các chỉ tiêu về chất lượng bộ môn, chống lưu ban bỏ học, phổ cập giáo dục… cũng đã làm cho những thầy cô của chúng phải chấp nhận với việc ai cũng làm như vậy.

    Do chính nội dung giảng dạy trong nhà trường. Một nguyên nhân không kém phần quan trọng đó chính là chương trình giảng dạy đạo đức ở các cấp học phổ thông. Chương trình đạo đức được thực hiện xuyên suốt, từ bậc Mầm non là giáo dục lễ giáo, bậc Tiểu học là môn Đạo đức, bậc Trung học là môn Giáo dục công dân. Thế nhưng các giáo viên dạy tiểu học cho rằng chương trình nặng tính lý thuyết, thiếu kỷ năng sống, lại không tạo được dấu ấn để tác động hình thành nhân cách học sinh. Những bài học ý nghĩa, gần gũi với đời sống không được chú tr ọng mà thay bằng những bài học quá trừu tượng. Còn chương trình GDCD bậc THPT, chỉ có 11 tiết dạy các vấn đề về đạo đức trên tổng số 105 tiết. Dạy đạo đức cho học sinh đâu chỉ có môn học Đạo Đức mà nó phải được tích hợp ở những bộ môn xã hội như Lịch sử, Văn học… Chúng tôi rất thích những bài tập làm văn, những bài học thuộc lòng được học lúc nhỏ trong sách giáo khoa với nội dung chứa đựng tình cảm yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc và giữ gìn cốt cách người Việt Nam. Còn nội dung những bài học trong sách Đạo Đức thì rất gần gũi với cuộc sống đời thường. Phương pháp giáo dục đạo đức theo kiểu giáo điều không còn phù hợp nữa, cần phải đưa học sinh vào các xử lý tình huống thực tế. Giáo dục đạo đức trong nhà trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật. Chương trình sách giáo khoa giáo dục công dân bậc phổ thông cần phải có những thay đổi từ nội dung đến phương pháp truyền đạt. Những giá trị đạo đức, ứng xử trong đạo lý của người Việt Nam cần phải được chuyển tải trong những tình huống cụ thể, gần gũi để học sinh, sinh viên dễ tiếp cận, dễ nhớ. Cần dạy cho học sinh những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống phù hợp với những chuẩn mực xã hội.

    Hai là, phải kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng cùng chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, hình thành phẩm chất cao đẹp của con người mới XHCN. Trước hết gia đình là nơi lưu giữ các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, là môi trường đầu tiên hình thành đạo đức cho học sinh, sinh viên. Gia đình là nơi mà tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó trong gia đình, ông bà, cha mẹ phải thật sự mẫu mực, làm gương về đạo đức, yêu thương, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ. Hiện nay do sức ép về lao động, việc làm khiến cho không ít các bậc làm cha, làm mẹ mải miết mưu sinh hoặc chỉ lo làm giàu mà thiếu quan tâm việc giáo dục đạo đức cho con cái, hoặc khoán trắng cho nhà trường và xã hội. Nhiều khi con cái vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật mà cha mẹ không hề hay biết, hoặc không biết cách ngăn chặn, phòng ngừa. Để giáo dục đạo đức cho thanh niên, mỗi gia đình cần giữ gìn đạo đức, nề nếp gia phong, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, làm cho các giá trị đó ngày càng toả sáng, góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cao đẹp cho thế hệ con cháu. Nhà trường không chỉ dạy chữ, dạy nghề mà còn là nơi dạy người. Giáo dục lý tưởng, đạo lý làm người là nội dung giáo dục hàng đầu trong nhà trường hiện nay và phải đặc biệt coi trọng. Một số nhà trường mới chỉ quan tâm trang bị kiến thức chuyên môn, tay nghề mà xem nhẹ hoặc thiếu quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Học sinh, sinh viên ngày nay đang sống trong thời kỳ bùng nổ thông tin, kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng. Học sinh, sinh viên đã và đang chịu ảnh hưởng cả mặt tích cực và mặt tiêu cực từ môi trường kinh tế, xã hội. Vì vậy các tổ chức, đoàn thể, các đơn vị lực lượng vũ trang cần quan tâm định hướng tạo môi trường thuận lợi để h ọc sinh, viên phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành. Cấp uỷ đảng, chính quy ền, m ặt trận, đoàn thể, nhất là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần tổ chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng để thu hút, rèn luyện học sinh, sinh viên theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng. Kịp thời biểu dương, nhân rộng cách làm hay và kiên quyết uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc, những biểu hiện lệch chuẩn trong đạo đức, lối sống của thanh niên.

    Ba là, phát huy vai trò tự học tập, tự du dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của học sinh, sinh viên. Học sinh, sinh viên là lớp người trẻ, khoẻ, có nhiệt tình cách mạng, nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ. Phát huy vai trò của học sinh, sinh viên trong tự học tập, tự tu dưỡng đạo đức lối sống là biện pháp quan trọng giúp họ nhanh chóng tiến bộ, trưởng thành. Đó còn là điều kiện quyết định kết quả rèn luyện của mỗi cá nhân. Trước hết phải hình thành cho học sinh, sinh viên nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình. Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để học sinh, sinh viên phấn đấu, rèn luyện; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho học sinh, sinh viên. Quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của học sinh, sinh viên về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu đặc điểm tâm, sinh lý của họ sẽ tạo điều kiện tốt để thanh niên rèn luy ện đạo đức, lối sống. Mỗi học sinh, sinh viên phải xác định rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, sống có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ. Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng, lợi mình hại người. Học sinh, sinh viên cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống, vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian khổ như Bác Hồ đã dạy: “gian nan rèn luyện mới thành công”. Thực hiện tốt một số giải pháp giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho học sinh, sinh viên trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế thế giới là góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ sinh viên vừa “hồng”, vừa “chuyên”, chủ nhân tương lai đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu. Giáo dục là quốc sách hàng đầu, thì việc giáo dục đạo đức học sinh chính là trang đầu của quốc sách ấy. Vai trò của Giáo dục thật sự quan trọng và có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của một dân tộc. Giáo dục là trụ cột của một quốc gia để tạo dựng, giữ gìn và phát triển các giá trị xã hội. Giáo dục đạo đức học sinh đâu phải chỉ là nhiệm vụ của môn học Đạo Đức trong nhà trường, hay chỉ là của ngành Giáo Dục.

    Đã đến lúc xã hội cần nhìn nhận vấn đề đạo đức học sinh, sinh viên trong nhà trường hiện nay với một tinh thần trách nhiệm và nghiêm túc. Cần phải đổi mới hoàn toàn cách thức mà lâu nay chúng ta đã dùng để giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên. Bản thân giáo dục đã mang tính xã hội hóa, nhà nước cần tạo điều kiện để toàn dân tham gia vào công tác giáo dục học sinh, sinh viên. Điều quan trọng là cần có một môi trường xã hội lành mạnh, mọi người sống tuân thủ pháp luật và tôn trọng những giá trị đạo đức xã hội. Một môi trường xã hội tốt sẽ tác động vào nhận thức của học sinh, sinh viên và các em cũng phải tuân thủ những nguyên tắc ứng xử đã được học trong nhà trường mà cả xã hội đang áp dụng.

    Liên chi đoàn khoa Giáo dục

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Đạo Đức Của Sinh Viên Việt Nam Hiện Nay
  • Công Ty Hóa Chất Xây Dựng Phương Nam
  • Tcvn 4616 : 1987 Quy Hoạch Mặt Bằng Tổng Thể Cụm Công Nghiệp. Tiêu Chuẩn Thiết Kế
  • Bố Cục Các Công Trình Trong Khu Sản Xuất Của Xí Nghiệp Công Nghiệp
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 4514:2012 Về Xí Nghiệp Công Nghiệp
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vấn Đề Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3 Qua Môn Đạo Đức Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Về Việc Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 4
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Cho Nạn Đói Thế Giới
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Âm Nhạc Ở Trường Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5
  • TRƯỜNG TIỂU HỌC CÁT LINH

    Sáng kiến kinh nghiệm

    Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua môn Đạo đức ở Tiểu học.

    Giáo viên: Vũ Thị Hồng

    Giáo viên trường tiểu học Cát Linh

    NĂM HỌC 2009 – 2010

    Phần I: Những vấn đề chung

    Lí do chọn đề tài

    Giáo dục đạo đức là một bộ phận rất quan trong của quá trình sư phạm, đặc biệt là ở tiểu học. Nó nhằm hình thành những cơ sở ban đầu về mặt đạo đức cho học sinh tiểu học, giúp các em ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ đạo đức hàng ngày. Có thể nói, nhân cách của học sinh tiểu học thể hiện trước hết qua bộ mặt đạo đức. Điều này thể hiện qua thái độ cư xử đối với ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột trong gia đình, với thày cô giáo, bạn bè qua thái độ với học tập, rèn luyện hàng ngày… Đó là cơ sở quan trọng của việc hình thành những nguyên tắc, chuẩn mực đoạ đức cao hơn ở trung học cơ sở.

    Ở tiểu học, cụ thể là ở lớp 3, quá trình giáo dục đạo đức nhằm giúp học sinh:

    – Về nhận thức: Học sinh có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 3 trong các mối quan hệ của các em với những người thân trong gia đình; với bạn bè, và công việc của lớp; của trường; với Bác Hồ và những người có công với đất nước, với dân tộc; với hàng xóm láng giềng; với thiếu nhi và khách quốc tế; với cây trồng, vật nuôi và nguồn nước; với lời nói, việc làm của bản thân.

    – Về thái độ: Học sinh bước đầu hình thành thái độ trách nhiệm đối với lời nói, việc làm của bản thân, tự tin vào khả năng của bản thân, yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị em và bạn bè, biết ơn Bác Hồ và các thương binh liệt sĩ; quan tâm, tôn trọng với mọi người, đoàn kết hữu nghị với thiếu nhi quốc tế; có ý thức bảo vệ nguồn nước và cây trồng, vật nuôi.

    Để thực hiện 3 mục tiêu trên và nhất là để góp phần giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua môn đạo đức 3 ở tiểu học, trong năm đầu thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua môn Đạo đức ở Tiểu học”

    Mục đích nghiên cứu

    Mục đích của đề tài nhằm:

    1/ Tìm hiểu việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua môn Đạo đức 3 ở tiểu học.

    2/ Đề xuất một số biện pháp sư phạm cần thiết để giáo dục đạo đức cho học sinh.

    Nhiệm vụ nghiên cứu

    1/ Tìm hiểu vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đạo đức ở tiểu học.

    2/ Tìm hiểu về các vấn đề lí luận giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3.

    3/ Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua môn Đạo đức 3 ở trường tiểu học Cát Linh.

    4/ Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng.

    5/ Đề xuất một số giải pháp để tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh.

    Khách thể và đối tượng nghiên cứu

    1/ Khách thể nghiên cứu: Việc rèn luyện đạo đức của học sinh lớp 3 – trường tiểu học Cát Linh.

    2/ Đối tượng nghiên cứu: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp qua môn đạo đức 3 ở tiểu học.

    Các phương pháp nghiên cứu

    Giáo dục học tiểu học 2 (GS – TS Đặng Vũ Hoạt và TS Nguyễn Hữu Hợp)

    Chuyên đề giáo dục tiểu học.

    Bộ sách đạo đức 3 – Bộ Giáo dục đào tạo.

    Phương pháp điều tra: Trao đổi với giáo viên dạy môn đạo đức lớp 3 về những khó khăn, thuận lợi trong qua trình giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 thông qua môn Đạo đức 3.

    Phương pháp thực nghiệm: Kiểm tra tính khả thi và tác dụng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua bài học Đạo đức.

    Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu

    Chương I

    Cơ sở lí luận của đề tài

    Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đạo đức ở tiểu học

    Thế nào là đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học?

    Đổi mới phương pháp dạy học có thể hiểu là tìm con đường ngắn nhất để đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học cao. Con đường này không co sẵn, không bằng phẳng, nó khúc khuỷu, gập ghềnh; đan xen giữa cái chung và cai riêng, cái cũ và cái mới.

    Đổi mới phương pháp bao hàm cả hai mặt: Phải đưa vào các phương pháp dạy học mới đồng thời tích cực phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống.

    Đổi mới phương pháp là sự phối hợp đồng bộ của nhiều khâu: Bồi dưỡng giáo viên, biên soạn sách giáo khoa, thiết bị dạy học, đánh giá học sinh và quản lí chỉ đạo.

    Tại sao phải đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học?

    Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục tiểu học.

    Phát huy tính năng động, sáng tạo trong phương pháp dạy học.

    Điều kiện cơ sở vật chất, môi trường học tập không giống nhau.

    Cập nhật thông tin, góp phần tích cực để đạt được mục tiêu dạy học.

    Việc đổi mới phương pháp dạy học được tiến hành như thế nào?

    Quá trình quản lí chỉ đạo chuyên môn cho thấy rằng thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học cần tập trung vào những vấn đề sau:

    Áp dụng hiệu quả các phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học mới:

    Dạy học đảm bảo sự thống nhất hợp lí hai yêu cầu đồng loạt và cá thể.

    Dạy học hợp tác nhóm.

    Dạy học tự phát hiện.

    Sử dụng phương tiện thiết bị dạy học hiện đại trong đổi mới phương pháp dạy học

    Thực hiện tốt quy trình dạy học hoà nhập.

    Xây dựng môi trường học tập thuận lợi cho học sinh.

    Đầu tư cơ sở vật chất thiết bị theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, số lượng học sinh trên mỗi lớp phải hợp lí (35 em).

    Xây dựng phòng học và tổ chức không gian lớp học mang tính thẩm mĩ, sư phạm.

    Môi trường học tập thuận lợi sẽ tác động tích cực đến sự thành công của đổi mới phương pháp dạy học.

    Sử dụng hợp lí, sáng tạo đồ dùng dạy học đã có và tự làm

    Đổi mới phương pháp soạn bài.

    Đổi mới công tác quản lí chỉ đạo.

    Quan điểm chung về đổi mới phương pháp dạy học môn đạođức ở lớp 3:

    Dạy học môn đạo đức cần đi từ quyền trẻ em, từ lời ích của trẻ em đến trách nhiệm, bổn phận của học sinh. Cách tiếp cận đó sẽ giúp cho việc dạy học đạo đức trở nên nhẹ nhàng, sinh động hơn, giúp cho học sinh lĩnh hội và thực hiện hành vi tự giác hơn, tránh được tính chật nặng nề, áp đặt trước đây.

    Dạy học môn đạo đức sẽ chỉ đạt hiệu quả khi học sinh hứng thú và tích cực, chủ động tham gia vào quá trình dạy học. Dạy học môn đạo đức phải là quá trình giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động, phát huy vốn kinh nghiệm và thói quen đạo đức, tự khám phá và chiễm lĩnh tri thức mới, khái niệm mới.

    Dạy học môn đạo đức phải gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực của học sinh. Các truyện kể, tình huống, tấm gương, tranh ảnh,…sử dụng để dạy học đạo đức phải lấy chất liệu từ cuộc sống thực của học sinh. Điều đó sẽ giúp cho bài học đạo đức thêm phong phú, gần gũi, sống động đối với các em.

    Mỗi phương pháp và hình thức dạy học môn đạo đức đều có mặt mạnh và hạn chế riêng, phù hợp với từng loại bài riêng, từng khâu riêng của tiết dạy. Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần căn cứ vào nội dung, tính chất từng bài, căn cứ vào trình độ học sinh và năng lực, sở trường của bản thân, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của trường mình, lớp mình mà lựa chọn, sử dụng kết hợp các phương pháp và hình thức dạy học hợp lí, đúng mức để giáo dục đạo đức cho học sinh qua các bài đạo đức.

    Các vấn đề lí luận về giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3

    Chương trình môn đạo đức ở lớp 3 bao gồm 14 bài phản ánh các chuẩn mực hành vi đạo đức cần thiết, phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường tự nhiên. Ở mỗi bài đạo đức đều phải thực hiện các nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh như:

    Giáo dục ý thức đạo đức

    Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức.

    Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức.

    Giáo dục ý thức đạo đức

    Giáo dục ý thức đạo đức nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức cơ bản, sơ đẳng về chuẩn mực hành vi, hình thành niềm tin đạo đức cho học sinh. Các chuẩn mực hành vi này được xây dựng từ các phẩm chất đạo đức, chúng phản ánh các mối quan hệ hàng ngày của các em. Đó là:

    Quan hệ cá nhân với xã hội: Kính yêu Bác Hồ, biết ơn thương binh liệt sĩ, yêu quê hương, làng xóm, phố phường của mình… yêu mến và tự hào về trường, lớp, giữ gìn môi trường sống xung quanh…

    Quan hệ cá nhân với công việc, lao động: Biết chăm chỉ, kiên trì, vượt khó trong học tập, tích cực tham gia các công việc lao động khác nhau.

    Quan hệ cá nhân với những người xung quanh: Hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ, quan tâm giúp đỡ anh chị em trong gia đình, tôn trọng, giúp đỡ, đoàn kết với bạn bè, với thiếu nhi quốc tế, tôn trọng và giúp đỡ hàng xóm láng giềng… theo khả năng của mình.

    Quan hệ cá nhân với tài sản xã hội, tài sản của người khác: Tôn trọng và bảo vệ tài sản của nhà trường, của nhà nước và của người khác…

    Quan hệ cá nhân với thiên nhiên: Bảo vệ môi trường tự nhiên xung quanh nơi học, nơi chơi, bảo vệ cây trồng, cây xanh có ích, động vật nuôi, động vật có ích, diệt trừ động vật có hại, bảo vệ nguồn nước…

    Quan hệ cá nhân với bản thân: khiêm … án thành.

    + Thẻ màu trắng: lưỡng lự.

    ? Vì sao con tán thành (không tán thành) ý kiến đó?

    ? Con đã được ông bà, cha mẹ thương yêu,chăm sóc như thế nào?

    – GV nhận xét, kết luận

    2/ Hoạt động 2: Xử lí tình huống và đóng vai.

    – GV mời một nhóm đóng vai tình huống mở sau:

    “Ông của Huy có thói quen đọc báo hàng ngày. Nhưng mấy hôm nay ông bị đau mắt nên không đọc báo được.”

    GV nêu yêu cầu: ? Nếu em là bạn Huy, em sẽ làm gì? vì sao?

    – Mời các nhóm lên xử lí.

    – GV hỏi: Ai đặt tên cho tiểu phẩm?

    ? Theo con nhóm nào thể hiện thương ông nhất?

    ? Kể tên những việc nhóm 2 làm thể hiện quan tâm ông?

    – Hỏi HS đóng vai ông: con nghĩ gì khi người cháu của nhóm 2 quan tâm?

    – GV chốt ý.

    3/ Hoạt động 3: Liên hệ bản thân.

    – Yêu cầu HS tự liên hệ bản thân theo các gợi ý:

    ? Hàng ngày con thường làm gì để quan tâm, chăm sóc đối với ông bà, cha mẹ, anh chị em?

    ? kể lại 1 lần khi ông bà, cha mẹ, anh chị em ốm đau (hoặc gặp khó khăn, có chuyện buồn) em đã làm gì để quan tâm giúp đỡ họ?

    ? Bạn đã quan tâm, chăm sóc đến người thân trong gia đình chưa?

    – GV tuyên dương những học sinh đã biết quan tâm, chăm sóc những người thân. Khuyên nhủ những học sinh chưa biết quan tâm, chăm sóc những người than trong gia đình.

    – GV gợi ý để học sinh tự điều khiển chương trình, tự giới thiệu tiết mục.

    5/ Củng cố – Dặn dò:

    – GV củng cố bài, nhận xét giờ học, tuyên dương 1 số học sinh tích cực học tập.

    – Dặn học sinh:

    + Thực hiện việc quan tâm, chăm sóc những người thân trong gia đình.

    + Chuẩn bị bài học sau: “Chia sẻ vui buồn với bạn”

    – HS hát tập thể

    – 1-2 HS trả lời

    – 2 HS: Bài hát nói lên tình cảm yêu thương giữa những người thân trong gia đình.

    – Một số học sinh lần lượt kể.

    – HS trao đổi với nhau trong nhóm theo yêu cầu.

    – 1 số HS trình bày trước lớp.

    – HS lớp suy nghĩ trả lời.

    + Các bạn ấy sẽ được nhận làm con nuôi, được xã hội giúp đỡ, quan tâm…

    HS lắng nghe.

    1 HS kể lại hoặc đọc lại.

    + Chị em Ly đã hái những bông hoa dại ven đường xếp thành một bó và đem tặng mẹ nhân ngày sinh nhật.

    + Khi nhận hoa, mẹ vui mừng ôm hai chị em Ly vào lòng và nói: “Đây là bó hoa đẹp nhất mà mẹ được tặng đấy”

    + Vì mẹ Ly thấy 2 con mình đã nhớ đến sinh nhật của mẹ mà chính bản thân mẹ quên mất sinh nhật mình, chị em Ly đã biết quan tâm, chăm sóc đến mẹ khiến mẹ rất vui và hạnh phúc.

    – Cả lớp trao đổi bổ sung.

    – 2-3 HS trả lời.

    + Con cháu có bổn phận phải quan tâm, chăm sóc ông bà,cha mẹ và những người thân trong gia đình.

    + Sự quan tâm, chăm sóc của các em sẽ mạng lại niềm vui, hạnh phúc cho ông bà, cha mẹ và mọi người trong gia đình.

    – 1 HS đọc kết luận cuối bài, cả lớp đọc đồng thanh.

    – HS các nhóm mở vở bài tập.

    – 1 HS đọc yêu cầu của bài tập 3.

    – Đại diện các nhóm trình bày (Mỗi nhóm trình bày ý kiến nhận xét về một tình huống).

    + Việc làm của các bạn thể hiện tình thương yêu chăm sóc và sự quan tâm ông bà, cha mẹ: Hương (tình huống a), Phong (tình huống c), Hồng (tình huống d).

    + Việc làm của các bạn chưa quan tâm đến bà, em nhỏ: Sâm (tình huống b), Linh (tình huống d).

    – HS liên hệ để trả lời.

    – HS kể

    – 1 số HS trả lời.

    – HS đọc từng ý kiến sau mỗi lần GV đưa ra.

    – HS bày tỏ thái độ bằng cách giơ các tấm thẻ màu.

    – HS giải thích lí do tán thành, không tán thành từng ý kiến.

    – HS khác nhận xét bổ sung.

    – HS kể.

    – 1 nhóm học dinh đóng vai tình huống mở, lớp theo dõi.

    – các nhóm lên đóng vai. Ví dụ:

    + Nhóm 1: Đi chơi, mặc kệ ông và không quan tâm đến ông.

    + Nhóm 2: Lấy thuốc cho ông uống, đọc báo cho ông nghe.

    – HS: Ông và cháu, cháu thương ông nhất…

    – Nhóm 2

    – Giúp ông uống thuốc, đọc báo cho ông nghe.

    – HS: con thấy rất vui.

    – Mỗi tổ cử 2-3 đại diện lên liên hệ, HS lớp lắng nghe.

    – HS nhận xét.

    – HS tự giới thiệu và biểu diễn các tiết mục đan xen.

    Như vậy những nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua bài học này đựơc giải quyết như sau:

    1/ Giáo dục ý thức đạo đức:

    Yêu cầu của chuẩn mực:

    Giúp học sinh hiểu: Con cháu trong gia đình cần phải quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em. Quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em làm cho gia đình ấm hơn hạnh phúc hơn.

    Ý nghĩa , tác dụng, tác hại.

    Cần quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em vì:

    + Ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra ta, là những người có công sinh thành, nuôi dưỡng ta khôn lớn, dành cho ta những gì đẹp nhất.

    + Làm cho ông bà, cha mẹ, anh chị em: Phấn khởi, mau khỏi bệnh, chia sẻ bớt công việc với mọi người trong gia đình, giúp gia đình đầm ấm, bản thân học sinh được ông bà, cha mẹ, anh chị em yêu thương, quý mến, khen ngợi.

    Tác hại: nếu không quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em làm cho ông bà, cha mẹ, anh chị em buồn phiền, sức khoẻ giảm sút, lâu lành bệnh, không khí gia đình nặng nề, bản thân học sinh bị mọi người xung quanh chê cười.

    Để quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em em cần làm gì? làm như thế nào?

    Khi ông bà, cha mẹ già yếu: Bưng cơm, mời nước, đọc sách báo.

    Khi ông bà, cha mẹ, anh chị em ốm đau: mua thuốc, nấu cơm, cháo. mua đồ ăn, mời bác sĩ khám bệnh…

    Khi ông bà cha mẹ mệt nhọc: Xách đồ hộ, lấy nước uống…

    Khi có miếng ngon, vật quý: mời ông bà, cha mẹ, anh chị em ăn trứơc.

    Khi anh chị em bận việc: Không nghịch đồ, làm ồn…

    Hình thành ở học sinh những thái độ tình cảm:

    Đối với ông bà, cha mẹ: Kính yêu, biết ơn; anh chị em: kính yêu, nhường nhịn.

    Thực hiện việc quan tâm, chăm sóc một cách tự nguyện, tận tình, chu đáo.

    3/ Giáo dục hành vi thói quen quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em:

    Hình thành ở học sinh những hành vi thể hiện sự quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em, trong cuộc sống hang ngày khi ông bà, cha mẹ, anh chị em ốm đau, mệt nhọc…

    Để học sinh thể hiện sự quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ. anh chị em, tôi tiến hành điều tra bằng cách phát phiếu điều tra và yêu cầu học sinh điền vào rồi báo cáo kết quả sau (sau 1tháng).

    Thời gian

    Công việc em quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em

    Kết quả

    Thứ…………….

    Ngày…………..

    Nhận xét của giáo viên Nhận xét của ông bà, cha mẹ, anh chị em

    Kết quả đạt được như sau:

    Tổng số học sinh

    HS biết quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em

    HS chưa biết quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em.

    Tổng số

    %

    Tổng số

    %

    93

    85

    91,4

    8

    8,6

    B/ Nguyên nhân của thực trạng trên:

    Qua thực tế giảng dạy tôi còn thấy một số hạn chế, tồn tại trong việc giải quyết các nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua bài học là do:

    Đây là năm đầu tiên thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới nên việc chuyển tải toàn bộ nộ dung và nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh qua bài học cần phải dần dần.

    Học sinh lớpp 3 còn nhỏ(9 tuổi) nên trong gia đình các em được quan tâm, chăm sóc nhiều hơn, do đó các em còn lúng túng trong khi thực hiện quyền và bổn phận của mình đối với người thân trong gia đình; còn một số học sinh chưa biết quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em của mình.

    Chương III

    Một số đề xuất kiến nghị

    Xuất phát từ những nguyên nhân trên tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy những kết quả tích cực đạt được, khắc phục những tồn tại góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh qua các tiết hoc.

    1/ Đối với giáo viên:

    Cần tìm hiểu đặc điểm riêng của mỗi học sinh để có biện pháp giáo dục đạo đức phù hợp. Luôn lấy những câu chuyện, tấm gương gần gũi với học sinh hoặc của chính gia đình học sinh, giúp bài hoc đạo đức thêm phong phú gần gũi, sống động đối với các em và các em cũng tiếp nhận bài học nhẹ nhàng sinh động và hiệu quả.

    Người giáo viên cần phối hợp với các lực lượng đạo đức trong nhà trường và trong gia đình học sinh để cùng có biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh, giúp cho việc giáo dục đạo đức được gắn liền với thực tiễn.

    2/ Về phía nhà trường:

    Cần tổ chức cho các em tham gia vào hoạt động tập thể, giúp các emmạnh dạn, có cơ hội bộc lộ những phẩm chất đạo đức từ đó giúp giáoviên có biện pháp giáo dục đạo đức cho các em hợp lí.

    3/ Về phía gia đình học sinh:

    Cần phối hợp với các lực lượng giáo dục trong nhà trường để có biện pháp giáo dục đạo đức cho con em mình, không quá nuông chiều các em, không làm thay, làm hộ các em những việc vừa sức với lứa tuổi. Tạo điều kiện để các em phát triển toàn diện nhân cách.

    Phần III: Kết luận

    Qua thời gian tìm hiểu và nghiên cưu đề tài này tôi thấy vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các môn học, đặc biệt là môn Đạo đức ở tiểu học là rât cần thiết; đó cũng là nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục ở tiểu học. Qua đề tài này tôi đã thu được những kết quả sau:

    Tìm hiểu những vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đạo đức ở tiểu học, từ đó thấy được sự cần thiết phaie đổi mới phương pháp và nắm được một số giải pháp triển khai để đổi mới phương pháp dạy học đạo đức ở tiểu học.

    Nắm được các vấn đề lí luận về giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 để vận dụng chúng vào những bài học cụ thể.

    Thấy rõ thực trạng của vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua môn đạo đức 3 ở trường tiểu học. Từ đó có kết hoạch, biện pháp giáo dục hợp lí, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường cùng giáo dục đạo đức cho học sinh; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, giúp các em không chỉ là trò giỏi mà còn là những người con hiếu thảo, ngoan ngoãn.

    Tài liệu tham khảo

    Giáo trình giáo dục tiểu học 2 (GS – TS Đặng Vũ Hoạt; TS. Nguyễn Hữu Hợp)- NXB Đại học Sư phạm.

    Bộ sách đạo đức 3.

    Chuyên đề giáo dục tiểu học- Vụ GD tiểu học – 2004.

    Phương pháp nghiên cứu KHGD-NXBBGD.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm
  • Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực Của Đời Sống Xã Hội Và Gia Đình
  • Chế Tài Xử Lý ? , Hãng Luật Anh Bằng
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng
  • Nguyên Tắc Và Biện Pháp Bảo Vệ An Ninh Mạng
  • Một Vai Biện Pháp Giáo Duc Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Khuyết Tật Hoà Nhập Ở Trường Tiểu Học Nguyên Bình
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hoà Nhập Trẻ Khuyết Tật Dạng Khuyết Tật Ngôn Ngữ Và Khuyết Tật Trí Tuệ
  • Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Trẻ Khuyết Tật Mầm Non
  • Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã Phường Thị Trấn Là Biện Pháp Xử Lý Hành Chính
  • LỜI NÓI ĐẦU

    Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học là bậc học nền tảng, là nơi vận dụng và triển khai các hoạt động giáo dục theo định hướng chiến lược phát triển giáo dục của Đảng. Mục tiêu giáo dục tiểu học đã nêu rõ: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học bậc trung học cơ sở”. Vì vậy, muốn có một chất lượng – một sản phẩm của quá trình giáo dục tốt, trường Tiểu học nói chung, giáo viên tiểu học nói riêng cần có những giải pháp thật tốt để tổ chức hoạt động giáo dục có hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.

    Góp phần giáo dục học sinh toàn diện theo mục tiêu của Giáo dục Tiểu học là giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ(1)…

    Đối với lứa tuổi học sinh tiểu học, đây là lứa tuổi đang được hình thành nhân cách, nếu được định hướng đúng, hình thành đúng ngay từ đầu thì nhân cách của các em sẽ được hình thành và phát triển đúng đắn, lành mạnh. Nếu không được sửa chữa, uốn nắn kịp thời thì khi nhân cách ấy đã được định hình thì rất khó uốn nắn, sửa chữa lại.

    Chính vì thế, trong quá trình dạy học giáo viên không chỉ đơn thuần dạy tri thức (cái chữ) mà phải giáo dục cho các em phát triển toàn diện về các mặt, trong đó giáo dục đạo đức cho các em là là nhiệm vụ quan trọng để làm nền tảng cho phát triển đúng đắn và lâu dài về nhân cách. Vì thế, người giáo viên tiểu học phải hết sức quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh.

    Đặc điểm học sinh tiểu học của trường tiểu học Tân Hoà B nói chung, học sinh lớp 3 điểm Tây Bắc nói riêng, đa số các em rất hiền, ngoan nhưng cách ứng xử, giao tiếp với người lớn, thầy cô, bạn bè, … còn ít nhiều hạn chế: các em còn nói chuyện trống không, số em còn chưa biết dạ thưa khi nói chuyện với người lớn, khi gặp người lớn tuổi các em thường không biết chào, hoặc khi được cho quà một số em ít nói lời cảm ơn, số em chưa biết giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn, … Là giáo viên giảng dạy nhiều năm ở lớp 3 Tây Bắc, tôi đã nắm bắt được ít nhiều tâm lý, đặc điểm của học sinh nơi này và cũng đã đề ra nhiều giải pháp giáo dục tích cực, bước đầu đã đạt được những thành công nhất định trong việc giáo dục hành vi ứng xử cho các em học sinh lớp 3. Năm học 2009-2010, tôi tiếp tục được phân công giảng dạy lớp 3 điểm Tây Bắc, nên tôi rút ra được một số kinh nghiệm giáo dục đạo đức cho học sinh về hành vi ứng xử để thực hiện trong năm học và đúc kết thành đề tài: “Một số kinh nghiệm giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 điểm Tây Bắc -Trường Tiểu học Tân Hoà B về hành vi ứng xử đạt hiệu quả trong năm học 2009-2010”

    Đề tài mà tôi nghiên cứu đã được các anh, chị giáo viên trong trường nghiên cứu và viết thành sáng kiến kinh nghiệm như: “Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh lớp 5” của thầy Đoàn Văn Lượng, “Một số kinh nghiệm giáo dục học sinh lớp 4 không tham của rơi” của cô Nguyễn Thị Kim Cúc, … Những sáng kiến kinh nghiệm này đã rút ra từ trong thực tiễn giảng dạy và đã phần nào giúp giáo dục tốt những hành vi đạo đức của học sinh. Tuy nhiên, do đặc thù học sinh từng lớp có khác nhau về lứa tuổi, môi trường xung quanh nên một số hành vi đạo đức của các em có khác nhau. Là giáo viên dạy lớp 3 ở một điểm trường khó khăn nhất của trường Tiểu học Tân Hoà B, tôi đã nắm rõ đặc điểm của các em học sinh nơi đây, từ đó có những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm giáo dục tốt hành vi ứng xử – một trong những hành vi đạo đức mà học sinh lớp tôi còn nhiều hạn chế.

    Đề tài này tôi nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức học sinh Tiểu học nhưng không đề cập đến toàn bộ những hành vi đạo đức của học sinh. Mà chỉ đề cập đến việc giáo dục hành vi ứng xử còn hạn chế của học sinh lớp 3 Tây Bắc, từ đó góp phần cải thiện mặt bằng đạo đức của lớp cũng như đạo đức học sinh toàn trường.

    PHẦN I: THỰC TRẠNG

    Qua nhiều năm giảng dạy lớp 3 tại Điểm Tây Bắc, tôi nhận thấy cách ứng xử giao tiếp với người lớn, thầy cô, bạn bè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học Có Hiệu Quả
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Trường Tiểu Học.
  • Tham Luận: Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Môn Mt
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100