Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Và Ý Nghĩa Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

--- Bài mới hơn ---

  • Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Với Sự Phát Triển Bền Vững Của Đất Nước
  • Chức Năng Của Tiền Lương
  • Tiền Lương Là Gì? Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Lương
  • Mạng Xã Hội, Vai Trò Và Những Hệ Lụy
  • Mạng Xã Hội, Mặt Tích Cực Và Tiêu Cực, Những Vấn Đề Đặt Ra Cho Công Tác Bảo Đảm An Ninh Trật Tự – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Chức năng, nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học và ý nghĩa việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học

    1. Chức năng và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học

    Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trang bị những tri   thức    khoa   học,  đó      là       hệ  thống lý          luận        chính  trị  – xã   hội  và phương pháp luận khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra và luận giải quá trình  tất yếu      lịch          sử           dẫn  đến        hình thành, phát            triển  hình thái

    kinh tế – xã hội cộng sản, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chức năng này cũng thống nhất với chức năng của triết học Mác-Lênin và kinh tế chính trị học Mác-Lênin, nhưng trực tiếp nhất là trang bị lý luận nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Không làm được chức năng này, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không thể cung cấp cơ         sở lý                                 luận và phương              pháp nhận  thức  về chính  trị  – xã  hội

    cho người     nghiên  cứu  và hoạt   động  thực  tiễn trong cách    mạng   xã hội  chủ

    nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho các đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa với chức năng lãnh đạo và quản lý xã hội.

    Thứ hai, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trực tiếp nhất là giáo dục, trang bị lập trường tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân cho đảng cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động – lập trường xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Chính các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội                             khoa        học  đã  có công lớn    là xây dựng     hệ thống   lý  luận

    phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân rồi tuyên truyền, giáo dục trở lại cho giai cấp công nhân hiện đại hiểu về sứ mệnh lịch sử và bản chất của chính mình. Hệ thống lý luận đó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại.

    Không có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, không có lập trường và bản lĩnh chính trị xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân, đảng của nó và nhân dân lao động không thể tiến tới giành chính quyền và xây                   dựng thành công        chủ  nghĩa   xã       hội,   chủ      nghĩa  cộng                             sản;

    không thể đấu tranh với các hệ tư tưởng và các hoạt động thù địch chống chủ nghĩa xã hội, chống nhân dân lao động.

    Thứ ba, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ định hướng về chính trị – xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của đảng cộng sản, của nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, sao cho sự ổn định và phát triển của xã hội luôn luôn đúng với bản chất, mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; tức là qua từng nấc thang phát triển, tính chất xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thuộc mọi lĩnh vực của xã hội thể hiện ngày càng rõ hơn và hoàn thiện hơn.

    1. ý nghĩa của việc nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học

    Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin là phải chú ý cả ba bộ phận hợp thành của nó. Nếu không chú ý nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ làm cho triết học, kinh tế chính trị học Mác-Lênin dễ chệch hướng chính trị – xã hội, trước hết và chủ yếu là chệch hướng bản chất, mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giải phóng hoàn toàn xã hội và con người khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bất công, chiến tranh, nghèo nàn lạc hậu và mọi tai họa xã hội khác… mà thực tế lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến.

    Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học còn có ý nghĩa lý luận là: trang bị những nhận thức chính trị – xã hội (như đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học đã nêu trên) cho đảng cộng sản, nhà nước và nhân dân lao động trong quá trình bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Vì thế, các nhà kinh điển Mác-Lênin có lý khi xác định rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân hiện đại và đảng của nó để thực hiện quá trình giải phóng nhân loại và giải phóng bản thân mình. Cũng như triết học và kinh tế chính trị học Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ giải thích thế giới mà căn bản là ở chỗ cải tạo thế giới (cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người) theo hướng tiến bộ, văn minh.

    Đội ngũ trí thức và thế hệ trẻ nước ta hiện nay là những lực lượng xã hội có trí tuệ, có nhiều khả năng và tâm huyết trong quá trình cải tạo và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu chỉ thuần tuý chú trọng về khoa học và công nghệ, phi chính trị, hoặc mơ hồ về chính trị và vi phạm pháp luật, họ càng không thể góp tài góp sức xây dựng Tổ quốc của mình. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học chính là việc được trang bị trực tiếp nhất về ý thức chính trị – xã hội, lập trường tư tưởng chính trị và bản lĩnh cho mỗi cán bộ, đảng viên và mọi công dân Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng đề ra.

    Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng làm cho ta có căn cứ nhận thức khoa học để luôn cảnh giác, phân tích đúng và đấu tranh chống lại những nhận thức sai lệch, những tuyên truyền chống phá của chủ nghĩa đế quốc        và   bọn  phản                   động    đối    với      Đảng ta, Nhà nước,  chế độ ta;

    chống chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại xu thế và lợi ích của nhân dân, dân tộc và nhân loại tiến bộ.

    Về mặt thực tiễn, bất kỳ một lý thuyết khoa học nào, đặc biệt là các khoa học xã     hội,     bao      giờ                          cũng có khoảng                            cách  nhất  định  so  với  thực  tiễn,

    nhất là những dự báo khoa học có tính quy luật. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học lại càng thấy rõ những khoảng cách đó, bởi vì chủ nghĩa xã hội trên thực tế, chưa có nước nào xây dựng hoàn chỉnh. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cùng với thoái trào của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, lòng tin vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác-Lênin của nhiều người có giảm sút. Đó là một thực   tế       dễ        hiểu.        Vì thế,  nghiên            cứu,     giảng   dạy chủ  nghĩa xã hội khoa học càng khó khăn trong tình hình hiện nay và cũng có ý nghĩa chính trị cấp bách.

    Chỉ có bình tĩnh và sáng suốt, kiên định và chủ động sáng tạo tìm ra những nguyên nhân cơ bản và bản chất của những sai lầm, khuyết điểm, khủng hoảng, đổ vỡ và của những thành tựu to lớn trước đây cũng như của những thành quả đổi mới, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới có thể đi tới kết luận chuẩn xác rằng: không phải do chủ nghĩa xã hội – một xu thế xã hội hoá mọi mặt của nhân loại; cũng không phải do chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học… làm các nước xã hội chủ

    nghĩa khủng hoảng. Trái lại, chính là do các nước xã hội chủ nghĩa đã nhận thức và hành động trên nhiều vấn đề trái với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin… đã giáo điều, chủ quan duy ý chí, bảo thủ, kể cả việc đố kỵ, xem nhẹ         những thành       quả chung của       nhân   loại, trong   đó có        chủ      nghĩa  tư bản; đồng thời do xuất hiện chủ nghĩa cơ hội – phản bội trong một số đảng cộng sản và sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình đã làm cho chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào.

    Thấy rõ thực chất những vấn đề đó một cách khách quan, khoa học; đồng thời được minh chứng bởi thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

    Do đó, việc nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, lý luận chính trị – xã hội nói riêng và các khoa học khác… càng là         vấn      đề        thực tiễn     cơ bản            và cấp  thiết.   Xây   dựng,             chỉnh    đốn Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hoá, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị – xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội… cho cán bộ, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên và nhân dân. Tất nhiên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá về kinh tế; xây dựng “kinh tế tri thức”, thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta, dân tộc ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang của cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.

    Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Ở Việt Nam
  • Vai Trò Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Việc Quản Lý Xã Hội
  • Thể Dục Thể Thao Theo Quan Điểm Hiện Đại Về Văn Hóa – Đức Nam Nhị Khúc Côn
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp Và Vai Trò Công Đoàn
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Và Ý Nghĩa Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp, Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Chuong1 Ppt
  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp, Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Quyết Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Phòng Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
  • Xây Dựng Trung Tâm Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Nghệ An Trở Thành Đầu Mối Khoa Học Của Tỉnh, Của Vùng
  • Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Với Sự Nghiệp Đổi Mới
    1. Chức năng và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học

    Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trang bị những tri thức khoa học, đó là hệ thống lý luận chính trị – xã hội và phương pháp luận khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra và luận giải quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái

    kinh tế – xã hội cộng sản, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chức năng này cũng thống nhất với chức năng của triết học Mác-Lênin và kinh tế chính trị học Mác-Lênin, nhưng trực tiếp nhất là trang bị lý luận nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Không làm được chức năng này, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không thể cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp nhận thức về chính trị – xã hội

    cho người nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong cách mạng xã hội chủ

    nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho các đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa với chức năng lãnh đạo và quản lý xã hội.

    Thứ hai, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trực tiếp nhất là giáo dục, trang bị lập trường tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân cho đảng cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động – lập trường xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Chính các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đã có công lớn là xây dựng hệ thống lý luận

    phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân rồi tuyên truyền, giáo dục trở lại cho giai cấp công nhân hiện đại hiểu về sứ mệnh lịch sử và bản chất của chính mình. Hệ thống lý luận đó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại.

    Không có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, không có lập trường và bản lĩnh chính trị xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân, đảng của nó và nhân dân lao động không thể tiến tới giành chính quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản;

    không thể đấu tranh với các hệ tư tưởng và các hoạt động thù địch chống chủ nghĩa xã hội, chống nhân dân lao động.

    Thứ ba, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ định hướng về chính trị – xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của đảng cộng sản, của nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, sao cho sự ổn định và phát triển của xã hội luôn luôn đúng với bản chất, mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; tức là qua từng nấc thang phát triển, tính chất xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thuộc mọi lĩnh vực của xã hội thể hiện ngày càng rõ hơn và hoàn thiện hơn.

      ý nghĩa của việc nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học

    Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin là phải chú ý cả ba bộ phận hợp thành của nó. Nếu không chú ý nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ làm cho triết học, kinh tế chính trị học Mác-Lênin dễ chệch hướng chính trị – xã hội, trước hết và chủ yếu là chệch hướng bản chất, mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giải phóng hoàn toàn xã hội và con người khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bất công, chiến tranh, nghèo nàn lạc hậu và mọi tai họa xã hội khác… mà thực tế lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến.

    Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học còn có ý nghĩa lý luận là: trang bị những nhận thức chính trị – xã hội (như đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học đã nêu trên) cho đảng cộng sản, nhà nước và nhân dân lao động trong quá trình bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Vì thế, các nhà kinh điển Mác-Lênin có lý khi xác định rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân hiện đại và đảng của nó để thực hiện quá trình giải phóng nhân loại và giải phóng bản thân mình. Cũng như triết học và kinh tế chính trị học Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ giải thích thế giới mà căn bản là ở chỗ cải tạo thế giới (cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người) theo hướng tiến bộ, văn minh.

    Đội ngũ trí thức và thế hệ trẻ nước ta hiện nay là những lực lượng xã hội có trí tuệ, có nhiều khả năng và tâm huyết trong quá trình cải tạo và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu chỉ thuần tuý chú trọng về khoa học và công nghệ, phi chính trị, hoặc mơ hồ về chính trị và vi phạm pháp luật, họ càng không thể góp tài góp sức xây dựng Tổ quốc của mình. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học chính là việc được trang bị trực tiếp nhất về ý thức chính trị – xã hội, lập trường tư tưởng chính trị và bản lĩnh cho mỗi cán bộ, đảng viên và mọi công dân Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng đề ra.

    Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng làm cho ta có căn cứ nhận thức khoa học để luôn cảnh giác, phân tích đúng và đấu tranh chống lại những nhận thức sai lệch, những tuyên truyền chống phá của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động đối với Đảng ta, Nhà nước, chế độ ta;

    chống chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại xu thế và lợi ích của nhân dân, dân tộc và nhân loại tiến bộ.

    Về mặt thực tiễn, bất kỳ một lý thuyết khoa học nào, đặc biệt là các khoa học xã hội, bao giờ cũng có khoảng cách nhất định so với thực tiễn,

    nhất là những dự báo khoa học có tính quy luật. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học lại càng thấy rõ những khoảng cách đó, bởi vì chủ nghĩa xã hội trên thực tế, chưa có nước nào xây dựng hoàn chỉnh. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cùng với thoái trào của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, lòng tin vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác-Lênin của nhiều người có giảm sút. Đó là một thực tế dễ hiểu. Vì thế, nghiên cứu, giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học càng khó khăn trong tình hình hiện nay và cũng có ý nghĩa chính trị cấp bách.

    Chỉ có bình tĩnh và sáng suốt, kiên định và chủ động sáng tạo tìm ra những nguyên nhân cơ bản và bản chất của những sai lầm, khuyết điểm, khủng hoảng, đổ vỡ và của những thành tựu to lớn trước đây cũng như của những thành quả đổi mới, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới có thể đi tới kết luận chuẩn xác rằng: không phải do chủ nghĩa xã hội – một xu thế xã hội hoá mọi mặt của nhân loại; cũng không phải do chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học… làm các nước xã hội chủ

    nghĩa khủng hoảng. Trái lại, chính là do các nước xã hội chủ nghĩa đã nhận thức và hành động trên nhiều vấn đề trái với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin… đã giáo điều, chủ quan duy ý chí, bảo thủ, kể cả việc đố kỵ, xem nhẹ những thành quả chung của nhân loại, trong đó có chủ nghĩa tư bản; đồng thời do xuất hiện chủ nghĩa cơ hội – phản bội trong một số đảng cộng sản và sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình đã làm cho chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào.

    Thấy rõ thực chất những vấn đề đó một cách khách quan, khoa học; đồng thời được minh chứng bởi thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

    Do đó, việc nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, lý luận chính trị – xã hội nói riêng và các khoa học khác… càng là vấn đề thực tiễn cơ bản và cấp thiết. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hoá, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị – xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội… cho cán bộ, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên và nhân dân. Tất nhiên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá về kinh tế; xây dựng “kinh tế tri thức”, thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta, dân tộc ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang của cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.

    Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Ser: Phục Hồi Chức Năng Kinh Tế Xã Hội
  • Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Thanh Trì? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Thanh Trì, Hà Nội
  • Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Phúc Thọ? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Phúc Thọ, Hà Nội
  • Địa Chỉ Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Ba Vì? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Ba Vì, Tp Hà Nội
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đảng Ủy Xã Đông Minh
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Xã
  • Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Xuất Nhập Khẩu
  • Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Tnhh Xây Dựng Thương Mại Đại An
  • Hoạt Động Chuyên Môn Của Trạm Y Tế Xã, Phường
  • Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trang bị những tri thức khoa học, đó là hệ thống lý luận chính trị – xã hội và phương pháp luận khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra và luận giải quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành,

    phát triển hình thái kinh tế – xã hội cộng sản, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chức năng này cũng thống nhất với chức năng của triết học Mác-Lênin và kinh tế chính trị học Mác-Lênin, nhưng trực tiếp nhất là trang bị lý luận nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Không làm được chức năng này, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không thể cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp nhận thức về chính trị – xã hội cho người nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong cách mạng xã hội chủ

    nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho các đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa với chức năng lãnh đạo và quản lý xã hội.

    Thứ hai, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trực tiếp nhất là giáo dục, trang bị lập trường tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân cho đảng cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động –

    lập trường xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Chính các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đã có công lớn là xây dựng hệ thống lý luận phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân rồi tuyên truyền, giáo dục trở lại cho giai cấp công nhân hiện đại hiểu về sứ mệnh lịch sử và bản chất của chính mình. Hệ thống lý luận đó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại.

    Không có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, không có lập trường và bản lĩnh chính trị xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân, đảng của nó và nhân dân lao động không thể tiến tới giành chính quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; không thể đấu tranh với các hệ tư tưởng và các hoạt động thù địch chống chủ nghĩa xã hội, chống nhân dân lao động.

    Thứ ba, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ định hướng về chính trị – xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của đảng cộng sản, của nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực,

    sao cho sự ổn định và phát triển của xã hội luôn luôn đúng với bản chất, mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; tức là qua từng nấc thang phát triển, tính chất xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thuộc mọi lĩnh

    vực của xã hội thể hiện ngày càng rõ hơn và hoàn thiện hơn.

    Chức năng và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Cấu, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Xã Hội Học
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đảng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Tổ Chức Bộ Máy Văn Phòng Đảng Ủy Khối
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đảng Ủy
  • Công Tác Đánh Giá Năng Lực Nhân Viên Tại Công Ty Vinamilk
  • Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào?
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Văn Hoá, Giáo Dục Và Khoa Học Công Nghệ Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Ban Tổ Chức Tiếng Anh Là Gì
  • Tìm Hiểu Về Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng
  • Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tccs Đảng
  • Những định hướng cơ bản xây dựng gia đình mới ở nước ta hiện nay

    Xây dựng gia đình mới ở nước ta hiện nay phải trên cơ sở kế thừa, giữ gìn và phát huy các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam, đồng thời tiếp thu những giá trị tiến bộ của thời đại về gia đình

    Bên cạnh tính chất phụ quyền, gia trưởng, gia đình truyền thống có những giá trị tốt đẹp cần được kế thừa, phát huy trong điều kiện mới. Trong số các giá trị đó phải kể đến truyền thống vừa cố kết trong gia đình lại vừa đoàn kết tình làng nghĩa xóm; tình yêu gia đình gắn chặt với tình yêu dân tộc. Những giá trị ấy của nhân dân ta đã được hun đúc, phát triển thêm trong suốt hơn 70 năm đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Tuy nhiên trong quá trình xây dựng gia đình mới cũng cần chú ý từng bước khắc phục, loại bỏ các giá trị không còn hợp lý của gia đình truyền thống: tính cục bộ theo họ tộc, địa phương, những nghi lễ rườm rà, tốn kém trong ma chay, cưới hỏi, sự bất bình đẳng về giới, bất bình đẳng giữa các thế hệ…

    Trong điều kiện hiện nay, sự chuyển đổi hệ giá trị từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đang đòi hỏi phải tiếp thu chọn lọc các giá trị văn hoá của nhân loại. Những giá trị văn hoá ấy chỉ có thể được chọn lọc, được tiếp thu một khi các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống được bảo tồn, được phát huy dung nạp những nội dung giá trị mới phù hợp với văn hoá và đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam.

    Xây dựng gia đình mới ở nước ta hiện nay được thực hiện trên cơ sở quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, bảo đảm quyền tự do kết hôn và ly hôn

    Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là hôn nhân được xây dựng chủ yếu dựa trên tình yêu chân chính giữa nam và nữ. Tình yêu chân chính là quan hệ tình cảm nẩy sinh trong quá trình gặp gỡ, hiểu biết và cảm thông lẫn nhau, tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng, mong muốn chia sẻ những khó khăn, sẵn sàng cùng nhau xây dựng cuộc sống chung hạnh phúc, thương yêu nhau, không thể thiếu nhau.

    Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là bước phát triển tự nhiên của tình yêu chân chính. Từ chỗ yêu thương nhau và thấy cần gắn bó với nhau xây dựng cuộc sống gia đình một cách tự nguyện, họ tình nguyện đến với nhau và được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sự thừa nhận của pháp luật, một mặt giúp cho mỗi người khi bước vào hôn nhân, ý thức rõ hơn trách nhiệm công dân của mình trong cuộc sống gia đình; đồng thời pháp luật bảo vệ mỗi người khỏi những sự cám dỗ, lợi dụng đối với những người thiếu chín chắn, nhẹ dạ. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ không hề bác bỏ sự quan tâm, hướng dẫn, chia sẻ tâm tư tình cảm của các bậc cha mẹ. Sự quan tâm đúng mức của cha mẹ thường là giúp cho con cái có trách nhiệm hơn, sống đúng mực hơn trong tình yêu, ý thức được đầy đủ hơn về trách nhiệm mỗi người trong hôn nhân và gia đình.

    Hôn nhân tự nguyện tiến bộ bao giờ cũng gồm haimặt tự do kết hôn và tự do ly hôn. Nếu tự do kết hôn được xây dựng và là sự phát triển của tình yêu chân chính, thì ly hôn là kết cục khó tránh khỏi khi tình yêu không còn nữa. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ly hôn dù bất cứ lý do nào, thì hậu quả xã hội của nó cũng hết sức nặng nề. Hơn thế, hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính, nhưng tình yêu chân chính bao hàm cả nghĩa vụ trách nhiệm cùng nhau chia sẻ khó khăn, cùng nhau vượt qua những thử thách, những trở ngại… trong cuộc sống chung. Vì vậy, ly hôn chính đáng là cần thiết, nhưng cần có sự bảo đảm của pháp lý, có sự hỗ trợ, hoà giải của các đoàn thể xã hội, của cộng đồng làng xóm, dân phố.

    Gia đình mới ở Việt Nam được xây dựng, trên cơ sở các quan hệ bình đẳng, thương yêu, có trách nhiệm cùng chia sẻ, gánh vác công việc của các thành viên để thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình và nghĩa vụ xã hội

    Trong số các quan hệ giữa các thành viên gia đình, cần đề cập hai quan hệ cơ bản nhất: quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ – các con. Việc hình thành và từng bước phát triển gia đình mới, cần đặc biệt chú ý đến bình đẳng trong quan hệ vợ – chồng. Kết hợp nhiều giải pháp, biện pháp, trong đó sự đồng bộ của việc đề ra và thực hiện các chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục… góp phần quan trọng tạo ra và từng bước củng cố quan hệ bình đẳng vợ – chồng trong tham gia quyết định các vấn đề trọng đại của gia đình cũng như tham gia các hoạt động xã hội.

    Cùng với quan hệ vợ chồng, trong xây dựng gia đình mới cần chú ý đến quan hệ cha, mẹ – con cái, quan hệ giữa anh, chị – em, quan hệ ông, bà – các cháu trong các gia đình nhiều thế hệ. Trong xây dựng các quan hệ này, sự tác động của xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng, thông qua các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, văn hoá – giáo dục, tuyên truyền vận động. Trong đó cần lưu ý là những tác động ấy sao cho trở thành các nhân tố và điều kiện khách quan, bên ngoài cho quá trình thực hiện tốt các chức năng cơ bản của gia đình (chứ không thể và không được thay thế việc thực hiện các chức năng đó) và làm tốt trách nhiệm xã hội.

    Xây dựng gia đình mới ở Việt Nam hiện nay gắn liền với hình thành và củng cố từng bước các quan hệ gắn bó với cộng đồng, với các thiết chế, tổ chức ngoài gia đình

    Đoàn kết, tương trợ thương yêu đùm bọc nhau là một giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và con người Việt Nam, của gia đình truyền thống Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng gia đình mới cần chú ý trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống ấy. Các gia đình đoàn kết động viên giúp đỡ nhau cùng thực hiện các chủ trương chính sách mới, thực hiện những quy ước, phong tục tiến bộ của gia đình, làng xóm, thực hiện từng bước quy chế dân chủ trong mỗi làng, xã, trong mỗi gia đình… đó chính là một phương hướng quan trọng của xây dựng gia đình mới ở nước ta.

    Một số nội dung chủ yếu của xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay

    a) Mỗi một địa phương, vùng lãnh thổ, thành phần dân tộc cần vận dụng sáng tạo những định hướng cơ bản trong xây dựng gia đình, cụ thể hoá những định hướng ấy thành các tiêu chí cụ thể, thích hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội cụ thể, phù hợp với từng hình thức gia đình hiện có. Trong mỗi thời kỳ nhất định lại đề ra các tiêu chí nhất định, cụ thể sát hợp trong từng nội dung xây dựng gia đình, tránh tình trạng đề ra tiêu chuẩn chung chung, không cụ thể. Đồng thời chú ý rút kinh nghiệm sau mỗi thời kỳ, mỗi phong trào vận động của mỗi thời kỳ ấy.

    b) Nội dung cơ bản, trực tiếp của xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Đây chính là mục tiêu, là chuẩn mực cơ bản mà chúng ta cần xây dựng, là đích hướng tới hiện nay của mỗi gia đình ở nước ta. No ấm, được hiểu là sự thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần cơ bản phù hợp với khả năng lao động cống hiến của mỗi gia đình, mỗi thành viên gia đình, là kết quả của sự lao động cần cù, sáng tạo, chính đáng của gia đình và thành viên gia đình. Trong gia đình, cần chú trọng xây dựng quan hệ dân chủ, bình đẳng giữa các thành viên, nhất là dân chủ, bình đẳng giữa nam – nữ, giữa cha, mẹ – con cái, tạo nên sự nề nếp, hoà thuận, kỷ cương mới trong gia đình. Sự tiến bộ của gia đình về mọi mặt dựa trên sự tiến bộ của mỗi thành viên và gắn liền với sự phát triển về mọi mặt của xã hội. Gia đình hạnh phúc không chỉ là no ấm, dân chủ, bình đẳng, tiến bộ, mà còn là tổng thể những nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần mỗi gia đình, trong quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội, quan hệ giữa các thành viên trong từng gia đình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Cơ Cấu Tổ Chức Của Công Ty
  • Luận Văn Đề Tài Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam
  • Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Các Loại Tổ Chức Xã Hội
  • Vai Trò Của Các Tổ Chức Xã Hội Và Một Vài Khuyến Nghị
  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp, Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyết Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Phòng Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
  • Xây Dựng Trung Tâm Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Nghệ An Trở Thành Đầu Mối Khoa Học Của Tỉnh, Của Vùng
  • Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Với Sự Nghiệp Đổi Mới
  • Tổng Quan Về Ngành Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
  • Bài Giảng Giáo Dục Công Dân Lớp 12
  • CHƯƠNG I

    a. Khái niệm: Chủ nghĩa xã hội khoa học là một ý nghĩa về – mặt lý luận nằm trong khái niệm CNXH, là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu sự vận động của xã hội tư bản, đặc biệt là trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ được thay thế bằng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa.

    b. Đặc điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học:

    + Trước hết, về nhận thức: thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội khoa học” nó chỉ là một ý nghĩa lý luận nằm trong khái niệm “chủ nghĩa xã hội”, giai đoạn hình thành phát triển của “chủ nghĩa xã hội khoa học” là đỉnh cao nhất của sự phát triển tư tưởng “chủ nghĩa xã hội”.

    + Hai là, “chủ nghĩa xã hội khoa học” khác với chủ nghĩa xã hội không tưởng là ở chỗ nó đã chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức thủ tiêu tình trạng người bóc lột người mà những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng hằng mơ ước.

    + Ba là, lý luận của “chủ nghĩa xã hội khoa học” được xây dựng là dựa trên cơ sở đúc kết của triết học Mác – Lênin và của kinh tế học chính trị học Mác – Lênin.

    + Bốn là, chủ nghĩa xã hội khoa học là thế giới quan, là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, nó biểu hiện không chỉ vì lợi ích của giai cấp công nhân mà của toàn thể nhân dân lao động trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới .

    + Năm là, lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học là sự tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động chống lại sự áp bức bóc lột, bất công và từ những kinh nghiệm trong xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa .

    Lưu ý:

    Trước Mác, Pie Lơ Rút người Pháp, là người đầu tiên đưa ra danh từ “Chủ nghĩa xã hội” ( tức xu hướng xã hội hóa sản xuất) và tính từ “xã hội chủ nghĩa”.

    2 Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học

    Theo nghĩa hẹp: CNXH KH là một trong ba bộ phận của chủ nghĩa Mác – Lênin

    ( Gồm có: triết học Mác – Lênin, kinh tế học chính trị Mác – Lênin và CN XHKH )

    CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN

    TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN

    KINH TẾ- CHÍNH TRỊ MÁC- LÊNIN

    CNXH KH

    VỀ CM XHCN

    VỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI CSCN

    – VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

    MÔ HÌNH: 01

    + Theo nghĩa rộng: chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa Mác-Lênin

    CNXH KH tức là chủ nghĩa Mác-Lênin

    bởi vì, suy cho cùng cả triết học Mác lẫn kinh tế học chính trị Mác đều luận giải dẫn đến tính tất yếu của lịch sử là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa, tức CNXHKH.

    1. Triết học và kinh tế chính trị Mác-Lênin là cơ sở lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học

    MÔ HÌNH: 02

    CNXH KH

    CƠ SỞ

    LÝ LUẬN

    TRIẾT HỌC

    MÁC- LÊNIN

    KINH TẾ- CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN

    ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU LÀ NHỮNG QUY LUẬT CHUNG NHẤT CỦA TỰ NHIÊN, XÃ HỘI, TƯ DUY.

    + LÀ THẾ GIỚI QUAN, NHÂN SINH QUAN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN ĐẠI

    + LÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG CHO CNXH KH

    NGHIÊN CỨU NHỮNG QL CỦA NHỮNG QUAN HỆ XH HÌNH THÀNH TRONG QUÁ TRÌNH SX VÀ TÁI SX CỦA CẢI VẬT CHẤT, PHÂN PHỐI, TRAO ĐỔI, TIÊU DÙNG CỦA CẢI ĐÓ TRONG NHỮNG TRÌNH ĐỘ NHẤT ĐỊNH CỦA SỰ PHÁT TRIỂN XH LOÀI NGƯỜI, ĐẶC BIỆT LÀ NHỮNG QL TRONG CHẾ ĐỘ TBCN VÀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TẤT YẾU LÊN CNXH

    2. Đối tượng nghiên cứu của CNXH KH

    CNXH

    KHOA HỌC

    NHỮNG QUY LUẬT

    NHỮNG PHẠM TRÙ, KHÁI NIỆM, VẤN ĐỀ

    Quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa; những nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, con đường, hình thức và phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”.

    Có tính quy luật

    MÔ HÌNH: 04

    3. Phạm vi khảo sát và vận dụng của CNXH KH

    Những vấn đề chính trị – xã hội

    Khảo sát, phân tích thực tiễn, thực tế trong và ngoài nước

    Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin

    MÔ HÌNH:04

    Phương pháp luận khoa học: CNDV BC & CNDV LS

    Phương pháp kết hợp

    lịch sử

    và logic

    Phương pháp có tính liên ngành

    Phương

    pháp khảo sát

    và phân tích

    về chính

    trị xã hội

    Phương

    pháp tổng kết

    lý luận từ thực tiễn

    Mô hình:05

    Thứ ba, định hướng về chính trị – xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của Đảng cộng sản, của Nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, nhằm mục tiêu đi tới xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa.

    Thứ hai, trang bị quan điểm lập trường cộng sản chủ nghĩa cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    2.Ý nghĩa của việc nghiên cứu, học tập CNXH KH

    Về mặt lý luận: việc nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin phải chú ý nghiên cứu cả ba bộ phận hợp thành của nó.

    Về mặt thực tiễn: phải thấy được khoảng cách giữa lý luận và thực tế của quá trình xây dựng CNXH.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp, Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Chuong1 Ppt
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Và Ý Nghĩa Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa
  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Ser: Phục Hồi Chức Năng Kinh Tế Xã Hội
  • Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Thanh Trì? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Thanh Trì, Hà Nội
  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp, Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Chuong1 Ppt

    --- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp, Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Quyết Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Phòng Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
  • Xây Dựng Trung Tâm Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Nghệ An Trở Thành Đầu Mối Khoa Học Của Tỉnh, Của Vùng
  • Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Với Sự Nghiệp Đổi Mới
  • Tổng Quan Về Ngành Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
  • CHƯƠNG I

    a. Khái niệm: Chủ nghĩa xã hội khoa học là một ý nghĩa về – mặt lý luận nằm trong khái niệm CNXH, là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu sự vận động của xã hội tư bản, đặc biệt là trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ được thay thế bằng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa.

    b. Đặc điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học:

    + Trước hết, về nhận thức: thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội khoa học” nó chỉ là một ý nghĩa lý luận nằm trong khái niệm “chủ nghĩa xã hội”, giai đoạn hình thành phát triển của “chủ nghĩa xã hội khoa học” là đỉnh cao nhất của sự phát triển tư tưởng “chủ nghĩa xã hội”.

    + Hai là, “chủ nghĩa xã hội khoa học” khác với chủ nghĩa xã hội không tưởng là ở chỗ nó đã chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức thủ tiêu tình trạng người bóc lột người mà những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng hằng mơ ước.

    + Ba là, lý luận của “chủ nghĩa xã hội khoa học” được xây dựng là dựa trên cơ sở đúc kết của triết học Mác – Lênin và của kinh tế học chính trị học Mác – Lênin.

    + Bốn là, chủ nghĩa xã hội khoa học là thế giới quan, là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, nó biểu hiện không chỉ vì lợi ích của giai cấp công nhân mà của toàn thể nhân dân lao động trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới .

    + Năm là, lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học là sự tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động chống lại sự áp bức bóc lột, bất công và từ những kinh nghiệm trong xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa .

    Lưu ý:

    Trước Mác, Pie Lơ Rút người Pháp, là người đầu tiên đưa ra danh từ “Chủ nghĩa xã hội” ( tức xu hướng xã hội hóa sản xuất) và tính từ “xã hội chủ nghĩa”.

    2 Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học

    Theo nghĩa hẹp: CNXH KH là một trong ba bộ phận của chủ nghĩa Mác – Lênin

    ( Gồm có: triết học Mác – Lênin, kinh tế học chính trị Mác – Lênin và CN XHKH )

    CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN

    TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN

    KINH TẾ- CHÍNH TRỊ MÁC- LÊNIN

    CNXH KH

    VỀ CM XHCN

    VỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI CSCN

    – VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

    MÔ HÌNH: 01

    + Theo nghĩa rộng: chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa Mác-Lênin

    CNXH KH tức là chủ nghĩa Mác-Lênin

    bởi vì, suy cho cùng cả triết học Mác lẫn kinh tế học chính trị Mác đều luận giải dẫn đến tính tất yếu của lịch sử là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa, tức CNXHKH.

    1. Triết học và kinh tế chính trị Mác-Lênin là cơ sở lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học

    MÔ HÌNH: 02

    CNXH KH

    CƠ SỞ

    LÝ LUẬN

    TRIẾT HỌC

    MÁC- LÊNIN

    KINH TẾ- CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN

    ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU LÀ NHỮNG QUY LUẬT CHUNG NHẤT CỦA TỰ NHIÊN, XÃ HỘI, TƯ DUY.

    + LÀ THẾ GIỚI QUAN, NHÂN SINH QUAN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN ĐẠI

    + LÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG CHO CNXH KH

    NGHIÊN CỨU NHỮNG QL CỦA NHỮNG QUAN HỆ XH HÌNH THÀNH TRONG QUÁ TRÌNH SX VÀ TÁI SX CỦA CẢI VẬT CHẤT, PHÂN PHỐI, TRAO ĐỔI, TIÊU DÙNG CỦA CẢI ĐÓ TRONG NHỮNG TRÌNH ĐỘ NHẤT ĐỊNH CỦA SỰ PHÁT TRIỂN XH LOÀI NGƯỜI, ĐẶC BIỆT LÀ NHỮNG QL TRONG CHẾ ĐỘ TBCN VÀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TẤT YẾU LÊN CNXH

    2. Đối tượng nghiên cứu của CNXH KH

    CNXH

    KHOA HỌC

    NHỮNG QUY LUẬT

    NHỮNG PHẠM TRÙ, KHÁI NIỆM, VẤN ĐỀ

    Quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa; những nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, con đường, hình thức và phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”.

    Có tính quy luật

    MÔ HÌNH: 04

    3. Phạm vi khảo sát và vận dụng của CNXH KH

    Những vấn đề chính trị – xã hội

    Khảo sát, phân tích thực tiễn, thực tế trong và ngoài nước

    Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin

    MÔ HÌNH:04

    Phương pháp luận khoa học: CNDV BC & CNDV LS

    Phương pháp kết hợp

    lịch sử

    và logic

    Phương pháp có tính liên ngành

    Phương

    pháp khảo sát

    và phân tích

    về chính

    trị xã hội

    Phương

    pháp tổng kết

    lý luận từ thực tiễn

    Mô hình:05

    Thứ ba, định hướng về chính trị – xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của Đảng cộng sản, của Nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, nhằm mục tiêu đi tới xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa.

    Thứ hai, trang bị quan điểm lập trường cộng sản chủ nghĩa cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    2.Ý nghĩa của việc nghiên cứu, học tập CNXH KH

    Về mặt lý luận: việc nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin phải chú ý nghiên cứu cả ba bộ phận hợp thành của nó.

    Về mặt thực tiễn: phải thấy được khoảng cách giữa lý luận và thực tế của quá trình xây dựng CNXH.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Và Ý Nghĩa Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa
  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Ser: Phục Hồi Chức Năng Kinh Tế Xã Hội
  • Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Thanh Trì? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Thanh Trì, Hà Nội
  • Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Phúc Thọ? Số Điện Thoại, Địa Chỉ Của Bhxh Huyện Phúc Thọ, Hà Nội
  • Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Vật Lý Trị Liệu Gãy Xương Đòn
  • Vai Trò Của Xương Đòn
  • Vỡ Xương Bánh Chè
  • Tập Phục Hồi Chức Năng Sau Mổ Gãy Xương Bánh Chè, Xương Bánh Chè, Khớp Gối, Ngã Đập Gối
  • Xử Trí Tổn Thương Xương Bánh Chè
  • Thực tiễn, bao giờ và ở đâu cũng vậy, muốn xây dựng một xã hội đương đại cũng cần có những con người tiêu biểu đại diện cho lực lượng phát triển của xã hội đó, mà lịch sử thường gọi là “thời đại” và “con người của thời đại”. Đối với chủ nghĩa xã hội (CNXH), theo học thuyết Mác-Lênin, là xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Vì thế, giai cấp vô sản muốn thực hiện được sứ mệnh của mình, phải xây dựng được đội ngũ tiên phong của giai cấp, đáp ứng với mục tiêu phát triển của xã hội tốt đẹp đó. Theo V.I Lênin, giai cấp vô sản dù đã nắm được chính quyền, nhưng nếu không làm cho xã hội mới có trình độ phát triển cao hơn CNTB, thì giai cấp vô sản vẫn chưa xây dựng xong CNXH, thậm chí, “công cuộc xây dựng CNXH chỉ còn là một mớ sắc lệnh”(2). Trên thực tế, nếu xét đến cùng thì giải phóng xã hội vẫn phải được quyết định bởi năng suất lao động và tinh thần dân chủ. Đó là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất quyết định thắng lợi của chế độ xã hội mới. Lênin từng chỉ ra: “CNTB chỉ có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn vì CNXH tạo ra nền dân chủ mới gấp triệu lần dân chủ tư sản và năng suất lao động mới cao hơn nhiều”(3).

    Trên nền tảng lý luận Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Nhưng, “nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: CNXH không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”, để “ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu được giúp đỡ, các cháu bé thì được chăm sóc”(4). Người cũng chỉ rõ: “Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, chúng ta nhất định có những khó khăn. Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ”(5). Điều lớn lao nhất của cách mạng XHCN là phải xây dựng được nền tảng, vật chất của CNXH. Mà muốn xây dựng được nền tảng, vật chất cho CNXH, điều quan trọng nhất lại phải có những con người XHCN theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì ý nghĩa đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng gắn với CNXH, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến chủ thể xây dựng CNXH.

    Theo Hồ Chí Minh, chủ thể xây dựng CNXH là “những con người mới XHCN”. Đó là những con người “có tư tưởng và tác phong XHCN”, “có ý thức làm chủ Nhà nước”, “thấm nhuần sâu sắc tinh thần tập thể XHCN và tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà”, “biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ, đùn đẩy công việc”; đồng thời, phải biết “thắng được chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”, bởi nó là “kẻ địch nguy hiểm của CNXH”(6). Người còn chỉ rõ: CNXH là “do nhân dân tự xây dựng lấy”, “muốn xây dựng CNXH thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất… Muốn phát triển sức sản xuất thì trước hết phải nâng cao năng xuất lao động và muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tổ chức lao động cho tốt”(7). Đây chính là một trong những tư tưởng đặc sắc, quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.

    Các giá trị cốt lõi về lý luận, văn hóa, tinh thần ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta.

    Lịch sử hiện nay đã có nhiều biến đổi, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và mạng lưới hóa thông tin đang ngày càng phát triển, lan tỏa đến từng lĩnh vực trên khắp thế giới, tác động mạnh mẽ đến quan điểm nhân sinh, quan điểm giá trị của con người. Điều đó làm cho loài người có thể cần phải trải qua một quá trình gian khổ để “định hướng lại triết học và văn hóa”. Sự định hướng ấy, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực tư tưởng, chính trị, xã hội và tác động trực tiếp đến việc xây dựng các giá trị con người, trong đó có con người XHCN.

    Công cuộc đổi mới của đất nước ta cũng đang có nhiều thay đổi, đòi hỏi cần có câu trả lời khiến cho mọi người tin phục về các giá trị của CNXH và những con người XHCN, tạo nên những trụ cột nâng đỡ tinh thần và khát vọng của đại đa số nhân dân. Trên thực tế, được thực tiễn soi rọi, Đảng ta đã từng bước làm sáng tỏ các yêu cầu đó.

    Trước hết, về CNXH và con đường đi lên CNXH. Thông qua sáng tạo lý luận, thúc đẩy sáng tạo trên mọi phương diện, Đảng ta đã nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về quy luật và tính quy luật phát triển của xã hội. Nếu như trước đây, nhận thức về CNXH chỉ đơn giản là “một xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn CNTB” với 3 thuộc tính cơ bản: Một là, xóa bỏ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu (toàn dân và tập thể) đối với tư liệu sản xuất (tư bản, đất đai). Hai là, nguồn lực kinh tế được quản lý, phân phối theo kế hoạch của Nhà nước, sản xuất và phân phối theo chỉ tiêu pháp lệnh, không theo cơ chế thị trường. Ba là, làm theo năng lực và hưởng theo lao động, nhưng thường thì lao động chỉ được đánh giá trên thời gian mà ít quan tâm trên chất lượng,… Thì đến nay, Đảng ta đã định hình rõ nét và cụ thể hơn bằng một hệ thống quan điểm lý luận về CNXH. Trong đó, đã khái quát thành 8 đặc trưng: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng, đó là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(8).

    Cùng với việc khái quát thành 8 đặc trưng nêu trên, Đảng ta đã xác định cụ thể hơn 8 phương hướng xây dựng CNXH và 8 mối quan hệ lớn về đổi mới phát triển XHCN(9). Nếu 8 đặc trưng là những nội dung định hướng XHCN, thì 8 phương hướng, chính là con đường đi lên CNXH, là mô hình xây dựng CNXH trong thực tiễn của nước ta; 8 mối quan hệ có ý nghĩa là những quy luật, những tính quy luật mà công cuộc đổi mới, phát triển ở Việt Nam tất yếu phải tuân thủ.

    Việc Đảng ta chủ trương chuyển sang kinh tế thị trường bắt đầu từ chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường; xác định rõ về vị trí, vai trò các thành phần kinh tế, coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế;… là những bước đột phá lớn về lý luận, hướng cách mạng XHCN ở nước ta đi đúng với quy luật phát triển của lịch sử xã hội. Điều đó, đã làm thay đổi quan trọng cách nhìn, cách đánh giá, ứng xử đối với kinh tế thị trường và nhất là với kinh tế tư nhân, những thành tựu của tư duy nhân loại mà CNTB làm, CNXH cũng phải làm.

    Hệ thống các quan điểm nêu trên là những thành tựu nổi bật của đổi mới tư duy, phát triển lý luận của Đảng ta, khắc phục hoàn toàn tư tưởng “duy ý chí” về CNXH như trước đây. Bằng các quan điểm khoa học, sáng tạo, Đảng ta đã trả lời trực tiếp các câu hỏi: CNXH là gì? Xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào trong điều kiện quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN)? Mô hình, con đường, phương hướng đi lên CNXH như thế nào?

    Thứ hai, về con người XHCN, Đảng ta luôn xác định: Con người là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là chủ thể sáng tạo lịch sử, là mục tiêu và động lực của đổi mới của CNXH. Vì thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn chủ trương xây dựng hệ giá trị con người mới XHCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các định hướng giá trị con người Việt Nam XHCN được quán triệt trong xây dựng nền tảng văn hóa của thời kỳ đổi mới là: Con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

    Cụ thể hóa các đặc tính cơ bản đó với tính cách là những chuẩn mực, thành những giá trị để giáo dục, thực hành, rèn luyện trong đời sống hằng ngày của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, chính là xây dựng con người XHCN. Trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng các giá trị biểu hiện lòng yêu nước; nhân ái, đạo đức, lối sống có nghĩa tình; lòng trung thực – thước đo phẩm chất cốt lõi của đạo đức, nhân cách, lối sống; tình đoàn kết, đồng thuận, hợp tác, cộng đồng chia sẻ trách nhiệm của con người trong hoạt động và ứng xử; phẩm chất mới cần rèn luyện trong đức tính cần cù trong xã hội hiện đại, trong nền sản xuất công nghiệp và trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức; sự sáng tạo để phát triển – một năng lực nổi bật, một giá trị ưu trội của con người và nhân cách trong hoàn cảnh đổi mới phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; tính kế thừa thế hệ trong giáo dục giá trị; trong chiến lược phát triển con người, trong giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội… Đó chính là những điểm mới nổi bật trong phát triển tư duy lý luận của Đảng về con người Việt Nam XHCN thời kỳ đổi mới.

    Đổi mới theo định hướng XHCN là một quá trình cách mạng hết sức sâu sắc, triệt để, thường xuyên diễn ra cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái cũ “bần cùng lạc hậu” và cái mới “tốt tươi”, để nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, phải trải qua thời kỳ quá độ rất lâu dài và phải tuân thủ các bước đi như một tất yếu khách quan. Trong điều kiện bỏ qua chế độ TBCN như một loại hình “phát triển rút ngắn” với phương thức “quá độ gián tiếp” lên CNXH, đòi hỏi phải có những con người XHCN có trình độ, năng lực vượt trội, hay ít nhất cũng tương xứng với loại hình và phương thức phát triển đó.

    Hơn 30 năm đổi mới, con đường đi lên CNXH ở nước ta tuy vẫn còn những khuyết điểm, chưa thực sự đáp ứng với kỳ vọng lớn lao của nhân dân, nhưng nhìn tổng thể, những thành tựu đạt được là rất to lớn có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH ở nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(10). Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cố tình bỏ qua những nỗ lực và thành tựu đã đạt được của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Một mặt, chúng ra sức tuyên truyền về “thế giới tự do” về sự “vĩnh hằng” của CNTB và sự sụp đổ của chế độ XHCN; mặt khác, khai thác triệt để những khuyết điểm của CNXH hiện thực, xuyên tạc về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng; núp dưới các chiêu bài đòi dân chủ đa nguyên chính trị và nhân quyền, kích động các lực lượng chống đối, can thiệp vào công việc nội bộ của Đảng và Nhà nước ta hòng khiến nhân dân ta xa rời con đường đi lên CNXH. Rõ ràng, chủ nghĩa đế quốc không bao giờ thay đổi mục tiêu xoá bỏ CNXH, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “đế quốc, chết thì chết, nết không chừa”(11). Có khác chăng là trong tình hình mới, chúng sử dụng những sách lược, thủ đoạn mới tinh vi, hiểm độc hơn mà thôi.

    Hơn bao giờ hết và hơn ai hết, hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải tiếp tục giác ngộ lập trường, tư tưởng, nâng cao năng lực, phẩm chất cách mạng, kiên quyết vạch trần những âm mưu xảo quyệt của các thế lực thù địch, cùng nhau phối hợp hành động, đẩy lùi và làm thất bại những thủ đoạn đen tối của chúng. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của quần chúng nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ về bản chất tốt đẹp của xã hội XHCN, của công cuộc đổi mới, từ đó, xây dựng hoài bão, lý tưởng cao đẹp của con người mới XHCN. Con người mới Việt Nam XHCN nhất định không thể yếu kém về năng lực, phẩm chất, càng không thể dao động, “a dua” với một số phần tử bất mãn, cực đoan. Cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên phải được tôi luyện như thế hệ cha ông đã từng tôi luyện trong chiến tranh: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

    Với ý chí kiên cường, sáng tạo và lòng tự tôn dân tộc, chắc chắn, công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, dân tộc ta sẽ trường tồn phát triển, nhân dân ta sẽ được giải phóng hoàn toàn khỏi bần cùng lạc hậu, khỏi tụt hậu và không bị chệch hướng XHCN. Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng nhất định sẽ đi đến bến bờ./.

    Phương Vinh

     

    (Bài đăng TCTG số 5/2019)

    (1), (4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, xuất bản lần thứ 3, H, 2011, t.13, tr. 66, 5, 376, 66-67, 69.

    (2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva 1981, t.42, tr. 37.

    (3) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr. 25.

    (8), (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2011, tr.69-70, 70-73.

    (10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2022, tr. 66.

    (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.15, tr. 474.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Nhánh Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Tỉnh Hưng Yên Làm Tốt Chính Sách Tín Dụng Ưu Đãi Đối Với Hộ Nghèo Và Các Đối Tượng Chính Sách Khác
  • Đổi Mới Và Sáng Tạo Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • Phản Biện Xã Hội: Khái Niệm, Chức Năng Và Điều Kiện Hình Thành
  • Vai Trò Của Báo Chí Trong Giám Định, Phản Biện Xã Hội
  • Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Zabbix Là Gì? Công Cụ Giám Sát Thông Minh Cho Mọi Doanh Nghiệp
  • Install Zabbix 3.0 (Monitoring Server) Trên Vps Sử Dụng Centos 7.x / Rhel 7.x
  • Bài 2: Các Tính Năng Của Zabbix
  • Zabbix Là Gì ? Tìm Hiểu Hệ Thống Giám Sát Mạng Zabbix
  • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

    DƢƠNG THỊ THỤC ANH

    CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA

    NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

    VIỆT NAM

    LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

    HÀ NỘI – 2004

    ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

    DƢƠNG THỊ THỤC ANH

    CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA

    NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

    VIỆT NAM

    Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng

    và chủ nghĩa duy vật lịch sử

    Mã số:

    5.01.02

    LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

    Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hàm Giá

    HÀ NỘI – 2004

    1

    Chƣơng I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG

    6

    XÃ HỘI CỦA NHÀ NƢỚC CHXHCN VIỆT NAM

    1.1. Khái niệm chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam

    1.1.1. Chức năng của nhà nước và chức năng xã hội của nhà nước

    1.1.2. Chức năng xã hội của Nhà nước CHXHCN Việt Nam

    1.2. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến chức năng xã hội của Nhà

    nước CHXHCN Việt Nam

    1.2.1. Yếu tố kinh tế

    1.2.2. Yếu tố cơ cấu xã hội

    1.2.3. Yếu tố truyền thống văn hoá, tâm lý dân tộc

    1.2.4. Hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá

    Chƣơng II:THỰC HIỆN CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ

    33

    NƢỚC

    CHXHCN VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    2.1. Thực trạng việc thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước

    CHXHCN Việt Nam trên một số lĩnh vực

    2.1.1. Lĩnh vực giáo dục – đào tạo

    2.1.2. Lĩnh vực lao động – việc làm và điều tiết thu nhập

    2.1.3. Lĩnh vực chăm sóc y tế và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

    2.1.4. Lĩnh vực bảo đảm xã hội

    2.2 . Giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng xã hội của Nhà

    nước CHXHCN Việt Nam

    2.2.1. Một số quan điểm

    2.2.2. Một số giải pháp chủ yếu

    KẾT LUẬN

    65

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    67

    MỞ ĐẦU

    1 . Tính cấp thiết của đề tài

    Trong điều kiện hiện nay, trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới đất

    nước và đặc biệt là yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã

    hội chủ nghĩa Việt Nam, việc điều chỉnh và tổ chức thực hiện tốt chức năng

    xã hội của nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về phương diện lý

    luận nhận thức và thực tiễn .

    Trước đây, trong quá trình xây dựng nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa

    hầu như người ta mới chỉ quan tâm nhấn mạnh đến chức năng thống trị

    (chuyên chính của nhà nước) mà ít đề cập đến vai trò to lớn của chức năng

    xã hội. Mặt khác, thực tiễn hoạt động của một số nhà nước Tư sản hiện đại

    trong những chừng mực nhất định, chức năng xã hội của nhà nước cũng đã

    được thực hiện khá tốt trên một số lĩnh vực như : xây dựng phúc lợi công

    cộng xã hội, xây dựng quỹ từ thiện, bảo vệ thiên nhiên môi trường…

    Những hoạt động này đã dẫn đến sự ngộ nhận của một số người về bản chất

    của nhà nước Tư sản, đánh giá cao hoạt động xã hội của những nhà nước

    này. Trong những năm gần đây, trước những thay đổi to lớn của đời sống

    xã hội và quốc tế, dưới ảnh hưởng của những tiến bộ, những thành tựu của

    khoa học – công nghệ, sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân trở thành

    một tất yếu như Mác đã từng tiên đoán, thì xu hướng chung của các nhà

    nước trên thế giới là hướng các hoạt động vào các lĩnh vực của đời sống xã

    hội nhằm tạo sự ổn định về xã hội, thực hiện tốt chức năng thống trị của

    mình.

    Ở nước ta từ sau thành công Cách mạng Tháng Tám, trong tất cả các giai

    đoạn phát triển của mình với tính cách là nhà nước của dân, do dân và vì

    dân, trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhà nước đã thực hiện chức năng xã

    hội ở những mức độ và hình thức nhất định. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi,

    trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp càng

    khẳng định rõ vai trò chức năng xã hội của Nhà nước ta, Hiến pháp 1992

    đã khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm

    chủ về mọi mặt của nhân dân…, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực

    hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no tự do, hạnh phúc có

    điều kiện phát triển toàn diện”(Điều3). Như vậy, trên thực tế việc thừa

    nhận và phát huy tốt chức năng xã hội của nhà nước ngày càng trở thành

    yêu cầu khách quan. Do đó, vấn đề chức năng xã hội của nhà nước hiện

    nay đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực ( kinh tế, chính

    trị, pháp lý…).Tuy nhiên, cả về lý luận và thực tiễn từ giác độ triết học,

    chức năng xã hội của nhà nước vẫn là một vấn đề còn tương đối mới mẻ,

    cần được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, góp phần bổ sung

    những lý luận khoa học cho công cuộc cải cách và hoàn thiện bộ máy nhà

    nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Chính yêu cầu này đã thôi thúc

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1.

    Vũ Hồng Anh (2001), Về cơ chế thực hiện quyền lực ở nước ta. (Sách:

    Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà

    nước CHXHCN Việt Nam, Lê Minh Thông (chủ biên)), Nxb Khoa

    học xã hội, Hà Nội.

    2.

    Vũ Tuấn Anh (chủ biên), (1994), Vai trò của nhà nước trong phát triển

    kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    3.

    Báo Nhân dân ngày16/3/1999

    4.

    Báo Nhân dân ngày 20/8/2000

    5.

    Báo thanh niên ngày 9/5/2001

    6.

    Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đào Trọng Truyến, Nguyễn Văn

    Thảo, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), (1999), Đổi mới và tăng

    cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính

    trị quốc gia, Hà Nội.

    7.

    Bộ giáo dục và đào tạo(1994), Triết học tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia,

    Hà Nội

    8.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường xây dựng

    chủ nghĩa xã hội. Phần III: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt

    Nam 1994, Tập 1: Lý luận về nhà nước, Học viện chính trị quốc gia

    Hồ Chí Minh, Hà Nội.

    9.

    Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến, (1996), Góp phần đổi mới và hoàn

    thiện cơ chế chính sách, bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb

    Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    10. Các văn bản pháp luật về chế độ ưu đãi thương binh, gia đình liệt sỹ Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (1986-1994).

    11. Chủ quyền kinh tế trong một thế giới đang toàn cầu hóa (1999), Nxb

    Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    12. Nguyễn Đăng Dung (2000), Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy Nhà

    nước, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội.

    13. Lê Sỹ Dược (2000), Cải cách bộ máy hành chính cấp Trung ương trong

    công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

    Nội.

    14. Trần Thái Dương (1999), “Chức năng nhà nước – quan điểm và nhận

    thức”. Tạp chí Luật học (2).

    15. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

    thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự Thật, Hà Nội.

    16. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

    lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội.

    17. Đảng cộng sản Việt Nam(1991),Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban chấp

    hành Trung ương khoá VII, Nxb Sự thật, Hà Nội

    18. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

    lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    19. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ III Ban chấp

    hành trung ương Khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    20. “Đại hội VIII – Những tìm tòi và đổi mới”, Thông tin chuyên đề, Trung

    tâm thông tin tư liệu Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

    21. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

    lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    22. Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới

    (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    23. Trần Ngọc Đường (chủ biên) (1999), Lý luận chung về nhà nước và

    pháp luật, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    24. Trần Ngọc Đường (chủ biên) (2000), Bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội

    chủ nghĩa Việt Nam, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    25. Nguyễn Duy Gia (1994), Nâng cao quyền lực, năng lực, hiệu quả quản

    lý nhà nước, nâng cao hiệu quả của pháp luật, Nxb Lao động, Hà

    Nội.

    26. Nguyễn Duy Gia (1996), Cải cách một bước bộ máy nhà nước ở nước ta

    hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    27. Giáo trình triết học Mác – Lênin (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    28. James Goldsmith (1997): Cạm bẫy phát triển: Cơ hội và thách thức, Nxb

    Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    29. Hồ Chí Minh (1989) toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    30. Hồ Chí Minh (1989) toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    31. Hoàng Văn Hảo (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới sự

    hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    32.

    Trần Trọng Hựu (chủ biên) (1995), Hoàn thiện hệ thống pháp luật của

    nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý các vấn đề thuộc chính

    sách xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    33. Trần Trọng Hựu (chủ biên) (1994), Chính sách xã hội những vấn đề

    pháp lý, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    34. Trần Đình Hoan (chủ biên) (1996), Chính sách xã hội về đổi mới cơ chế

    việc quản lý thực hiện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    35. Nguyễn Duy Hùng (1996), Vai trò quản lý nhà nước trong nền kinh tế

    thị trường – Kinh nghiệm các nước ASEAN, Nxb Chính trị quốc gia,

    Hà Nội.

    36. Phạm Hảo, Võ Văn Tiến, Mai Đức Lộc (2000), Tăng trưởng kinh tế và

    công bằng xã hội, một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh

    miền Trung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    37.

    Hiến pháp Việt Nam (1946,1954,1980, 1992) (1995), Nxb Chính trị

    quốc gia, Hà Nội.

    38. Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội (1997), Viện Thông tin khoa

    học xã hội, Hà Nội.

    39. C.Mác – Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

    Nội.

    40. C.Mác – Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

    Nội.

    41. C.Mác – Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

    Nội.

    42. V.I.Lênin (1974) Toàn tập, Tập 1, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va.

    43. V.I.Lênin (1976) Toàn tập, Tập 20, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va.

    44. V.I.Lênin (1976) Toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va.

    45. Phạm Xuân Nam (chủ biên) (1997), Đổi mới chính sách xã hội – Luận

    cứ và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    46.

    Phạm Hữu Nghị (2000), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính

    sách, pháp luật xã hội, Viện Nghiên cứu Nhà nước – Pháp luật, Nxb

    Công An nhân dân, Hà Nội.

    47.

    Nhà nước, thị trường và viện trợ (1995), Nxb Khoa học xã hội.

    48. Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi (1998), Ngân hàng thế

    giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    49. Niên giám Thống kê tóm tắt (1999), Nxb Thống kê, Hà Nội.

    50. Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo (1991), Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội

    chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội.

    51. Nguyễn Phan Quang, Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hoà, Ngô Văn Lý,

    Nguyễn Thành Nam, Phạm Văn Cảnh (1995), Mấy vấn đề về quản lý

    nhà nước và củng cố pháp quyền trong lịch sử Việt Nam, Nxb Chính

    trị quốc gia, Hà Nội.

    52. Phạm Ngọc Quang (1992), “Quyền lực – một phạm trù cơ bản của chính

    trị học”, Nhà nước và pháp luật,(4)

    53.

    Phạm Ngọc Quang, Trần Thị Ngọc Hiên (1999), “Mối liên hệ giữa bản

    chất giai cấp, chức năng xã hội của Nhà nước và cải cách nền hành

    chính Nhà nước trong thời kỳ đổi mới ở nước ta” Tạp chí Triết học (1)

    54. Phạm Ngọc Quang, Nguyễn Viết Thông (2000), Góp phần tìm hiểu sự

    phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới trên

    các lĩnh vực chủ yếu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    55. Phạm Ngọc Quang, Trần Đình Nghiêm (chủ biên) (2001), “Thời kỳ đổi

    mới và sứ mệnh của Đảng ta”, Nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của

    Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    56. Bùi Thanh Quất (1996), “Suy nghĩ thêm về quyền lực chính trị như một

    phạm trù khoa học”, Triết học,(5).

    57. Nguyễn Duy Quý (1992), “Xây dựng nhà nước pháp luật; một số suy

    nghĩ về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta”, Nhà nước

    và Pháp luật,(2)

    58. Quyền con người – Quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

    (1993), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

    59. Lê Hữu Tầng (1993), “Tư tưởng C.Mác về công bằng và bình đẳng trong

    chủ nghĩa xã hội,” Triết học, (2).

    60. Bùi Đình Thanh (1993), Chính sách xã hội – Một số vấn đề về lý luận và

    thực tiễn, Chương trình khoa học cấp Nhà nước, KX-04.

    61. Hà Huy Thành (2000), Những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường ở

    Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    62. Alvin Toffler và Heidi Toffler (1996): Tạo dựng một nền văn minh mới,

    Chính trị của làn sóng thứ 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    63. Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996), Phát triển nguồn nhân lực, kinh

    nghiệm thế giới và thực tiễn ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

    Nội.

    64. Tìm hiểu học thuyết Mác về hình thái kinh tế – xã hội (1997), Nxb Chính

    trị quốc gia, Hà Nội.

    65. Nguyễn Cửu Việt (chủ biên) (2003), Giáo trình Lý luận chung về Nhà

    nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.

    66. Võ Khánh Vinh (1994), Vai trò của pháp luật trong điều kiện mới của

    Việt Nam “trong xã hội và pháp luật”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

    Nội.

    67. Nguyễn Hữu Vui (2002), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

    Nội.

    68. Về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), sách tham

    khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    VUI LÒNG TẢI VỀ

    ĐỂ XEM BẢN FULL

    ĐẦY ĐỦ !

    VUI LÒNG TẢI VỀ

    ĐỂ XEM BẢN FULL

    ĐẦY ĐỦ !

    VUI LÒNG TẢI VỀ

    ĐỂ XEM BẢN FULL

    ĐẦY ĐỦ !

    VUI LÒNG TẢI VỀ

    ĐỂ XEM BẢN FULL

    ĐẦY ĐỦ !

    VUI LÒNG TẢI VỀ

    ĐỂ XEM BẢN FULL

    ĐẦY ĐỦ !

    VUI LÒNG TẢI VỀ

    ĐỂ XEM BẢN FULL

    ĐẦY ĐỦ !

    VUI LÒNG TẢI VỀ

    ĐỂ XEM BẢN FULL

    ĐẦY ĐỦ !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Các Cần Thiết Về Tổ Chức Xã Hội
  • Đổi Mới Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước
  • Khái Niệm Chính Sách Xã Hội, Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội
  • Chính Sách Xã Hội Là Gì? Tại Sao Xã Hội Cần Chính Sách Xã Hội?
  • Cách Xem Chung Video Facebook Với Bạn Bè
  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng
  • Xương Khớp Phần 1: Chức Năng Của Xương
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp Tốt Nhất Hiện Nay
  • Xương Cùng Có Chức Năng Gì?
  • KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC

    Viện sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

    GS thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản

    Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi của các hoạt động giáo dục từ tự phát, kinh nghiệm… lên dựa trên nhận thức và quy luật khoa học. Bàn luận các đặc trưng của khoa học giáo dục và chức năng xã hội của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng Hoạt động giáo dục, khoa học giáo dục , quy luật khoa học, đặc trưng và chức năng xã hội của khoa học giáo dục.. Abstract: This article is analyzing a process of changing of educational operations from based on practical experiment to based on the scientific theory. Discussing specific characteristics and social functions of the educational science in generally and the professional education science in specialty : Educational operations, educational science , scientific theory specific characteristics and social functions of the educational science Đặt vấn đề

    Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; DD; 0913 584 171

    Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Việc chuyển các hoạt động giáo dục dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn sang dựa trên các tri thức và quy luật khoa học về con người, xã hội và quá trình giáo dục (khoa học giáo dục) là một bước tiến căn bản của hoạt động giáo dục trong đời sống xã hội loài người văn minh. Đồng thời, quá trình đó cũng khẳng định vai trò, vị trí và chức năng xã hội quan trọng của khoa học giáo dục trong quá trình soi sáng và thúc đẩy sự phát triển giáo dục ở các quốc gia

      Đặc trưng của giáo dục và khoa học giáo dục

    Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa – 2001 ) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là ” Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội “ Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam. Hải Phòng

    Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2014

    Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam
  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 1): Các Tác Vụ Cơ Bản Trong Word
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Của Nhà Nước Đương Đại
  • #1 Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Nội Dung Của Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay
  • Các Yếu Tố Tác Động Đến Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Chức Năng Tuyệt Vời Của Cổng Usb Otg Trên Android
  • Cáp Chuyển Đổi Công Nghệ Otg Dùng Cho Điện Thoại Android Hỗ Trợ Sạc Và Chức Năng Truyền Dữ Liệu Cùng Một Lúc (Xtm
  • Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ chủ yếu để thiết lập và tổ chức thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bản chất, nội dung của chủ nghĩa xã hội quyết định các chức năng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong mỗi giai đoạn cách mạng cụ thể.

    Nội dung, nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa rất rộng và phức tạp, do đó những chức năng của nhà nước cũng rất phong phú và đa dạng. Chức năng nhà nước là một khái nhiệm quản lý, trong đó nội dung, mục đích của quản lý nhà nước được biểu hiện một cách cụ thể. Vì vậy có thể nói, các chức năng của nhà nước là những “con kênh” thông qua đó hoạt động quản lý của nhà nước được thực hiện. Mặc dù mỗi chức năng nhà nước đều có đối tượng tác động riêng, nhưng các chức năng đều có mối liên hệ qua lại mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, không thể tách rời nhau. Tất cả các chức năng nhà nước hợp thành một hệ thống thống nhất thể hiện bản chất và những nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất của nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, văn hóa … Để thực hiện các chức năng đó, một hệ thống các cơ quan nhà nước tương ứng được thành lập. Vì các chức năng nhà nước thống nhất với nhau, cho nên các cơ quan nhà nước trong khi thực hiện các chức năng đó cũng có sự quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau, tạo thành hệ thống các cơ quan nhà nước thống nhất và đồng bộ.

    Ví dụ: Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã xác định hai nhiệm vụ chiến lược ở nước ta là “xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đó là những nhiệm vụ bao trùm và được cụ thể hóa thành nội dung các chức năng của nhà nước ta.

    Cũng cần phân biệt chức năng của nhà nước nói chung với chức năng của các cơ quan nhà nước. Chức năng nhà nước tồn tại một cách khách quan, phản ánh bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là những mặt hoạt động rộng lớn có tính chất định hướng lâu dài. Một chức năng chung của nhà nước có thể do nhiều loại cơ quan nhà nước với các chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau thực hiện. Chức năng của các cơ quan nhà nước bao giờ cũng phụ thuộc vào chức năng của nhà nước nói chung. Việc thực hiện chức năng của các cơ quan nhà nước suy cho cùng là nhằm để thực hiện chức năng của nhà nước nói chung.

    Về nguyên tắc, các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều có những chức năng giống nhau. Nhưng do mỗi nước có những đặc điểm và hoàn cảnh không hoàn toàn giống nhau cho nên trong mỗi nước các chức năng của nhà nước cũng có những đặc điểm khác nhau về mức độ, phạm vi, tầm quan trọng và phương pháp tổ chức thực hiện.

    Trong quá trình phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa, phụ thuộc vào tình hình thực tiễn của cách mạng mỗi nước, các chức năng của nhà nước sẽ có những thay đổi nhất định và có thể xuất hiện những chức năng mới

    Thứ nhất, Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế

    Đây là chức năng cơ bản đặc thù của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong chủ nghĩa xã hội, nhà nước không những là tổ chức của quyền lực chính trị, mà còn là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu; trực tiếp tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước. Việc tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, nhằm cải tạo và xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (và quan hệ sản xuất bóc lột nói chung) được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột người lao động, để xác lập củng cố và phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, thỏa mãn nhu cầu của người lao động.

    Tổ chức và quản lý kinh tế là chức năng có tầm quan trọng đặc biệt, nhưng rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn các vấn đề có tính quy luật của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ. Đồng thời phải có những chính sách, phương pháp và biện pháp tác động phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nội dung của chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần giải quyết, trong đó công tác kế hoạch hóa, xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lý kinh tế là những vấn đề then chốt.

    Tổ chức và quản lý kình tế là chức năng cơ bản của bất kỳ nhà nước xã hội chủ nghĩa nào. Nhưng do đặc điểm và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước không giống nhau, vì vậy việc thực hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế trong mỗi nước cũng có những đặc điểm riêng. Ở Việt Nam trong hơn năm mươi năm qua việc thực hiện chức năng này đã được quan tâm đáng kể và đã thu được nhiều kết quả. Sau ngày miền Nam giải phóng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề tổ chức và quản lý kinh tế của nước ta đã trở thành vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và luôn luôn mang tính thời sự nóng bỏng. Kết quả thực hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước tác động một cách trực tiếp tới tất cả các mặt của đời sống xã hội.

    Trên cơ sở phân tích tình hình cụ thể của nước ta trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, tổng kết việc tổ chức và quản lý kinh tế trong thời gian qua, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tả là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”. Tư tưởng chỉ đạo đó thể hiện trong các chính sách và biện pháp lớn chỉ đạo nội dung của chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà nước ta đó là:

    • Phải sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định.
    • Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế. .Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ cộng hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa làm cho nó thực sự mang bản chất xã hội chủ nghĩa, phù hợp với mỗi bước phát triển của lực lượng sản xuất.
    • Đổi mới cơ chế quản lý theo hướng bảo đảm tính kế hoạch trong quản lý kinh tế quốc dân, sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa tiền tệ; Sử đụng kết hợp nhiều phương pháp quản lý trong đó các phương pháp kinh tế là chủ yếu để tạo ra một cơ chế mới về quản lý kính tế “cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” …
    • Phát huy mạnh mẽ động lực khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước …
    • Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Đại hội Đảng lần thứ VII đã thông qua “chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000” trong đó đã cụ thể hóa tư tưởng và những phương hướng nói trên, nhấn mạnh phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng: “Tiếp tục xóa bỏ cơ chế tập trung quan liên bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Thiết lập trật tự, kỷ cương theo cơ chế mới vừa là nội dung vừa là điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế xã hội.

    Việc thiết lập trật tự, kỷ cương của cơ chế đó bao gồm những vấn đề lớn là

    -Phải hình thành một thị trường hoàn chỉnh bao gồm cả sức lao động, vốn và tiền tệ… thông suốt trong cả nước và với thị trường thế giới; giá cả, tỷ giá hối đoái, lãi xuất tín dụng hình thành theo cơ chế thị trường; tạo môi trường và điều kiện cho sự cạnh tranh hợp pháp và sự hợp tác, liên doanh, tự nguyện, bình đẳng giữa các đơn vị trực thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong nước và vốn nước ngoài; cả nước chấp hành luật kinh doanh thống nhất; nâng cao khả năng tiếp thị (marketing) của các doanh nghiệp.Bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhà nước với chức năng quản lý vĩ mô tập trung thực hiện các vấn đề: Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế xã hội, duy trì trật tự pháp luật, xây dựng cơ sở hạ tầng … Dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển; hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia.

    -Đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của nhà nước bao gồm: Đổi mới việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội theo cơ chế thị trường; tăng cường kế hoạch hóa vĩ mô, chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang kế hoạch hóa định hướng; xây dựng hệ thống kế toán, thống kê và thông tin kinh tế đáp ứng nhu cầu kịp thời, chính xác, đầy đủ, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và từng bước hiện đại hóa; đổi mới căn bản hệ thống tài chính – tiền tệ.

    -Thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh, bảo đảm cho xí nghiệp thực hiện đẩy đủ các quyền; chủ động tổ chức sản xuất kinh doanh; Tự chủ về tài chính; tuyển chọn, sắp xếp lao động, trả lương và cho thôi việc theo luật lao động; giao dịch với khách hành trong và ngoài nước; lựa chọn các hình thức liên kết, liên doanh…

    Đồng thời với việc đổi mới cơ chế quản lý cần thực hiện các chính sách và giải pháp về vốn, về dân số và việc làm, về thu nhập, bảo hiểm xã hội …

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện đường lối đổi mới đã khẳng định một số nhận thức mới về cơ chế quản lý mới, đồng thời chỉ rõ: “Từ nay đến năm 2000, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trong quan liêu bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Theo đó, trong thời gian tới nhà nước ta phải

    -Tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường. Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh

    -Tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hóa. Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ giá cả.

    -Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước.

    Thứ hai, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị lật đô và âm mưu phản cách mạng khác:

    Đây là một chức năng hết sức quan trọng, nhất là trong giai đoạn đầu sau khi cách mạng thành công.Mặc dù sau cách mạng các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ, chính quyền đã về tay của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhưng do bản chất phản động và trên thực tế giai cấp bóc lột đã bị lật đổ vẫn còn giữ được trong một thời gian nhất định một số ưu thế như điều kiện sinh hoạt giàu có, học vấn, kính nghiệm quản lý và nghệ thuật quân sự. Vì vậy chúng luôn tìm mọi cách để “phản kháng lại một cách lâu dài, dai dẳng và liều mạng”. V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng, bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ lịch sử lâu dài trong đó cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt. Chừng nào mà thời kỳ đó chưa chấm dứt thì bọn bóc lột vẫn còn nuôi hy vọng phục hồi địa vị thống trị của mình và những hy vọng này sẽ biến thành mưu đồ phục hồi. Giai cấp bóc lột có thể sẵn sàng “lao mình vào cuộc chiến với một nghị lực tăng gấp mười lần, với một sự cuồng nhiệt và lòng hận thù tăng gấp tỉ am lần để chiếm lại cái thiên đường đã mất”. Mặt khác các thế lực đế quốc và phản động quốc tế luôn tìm mọi cách để tấn công và làm suy yếu chủ nghĩa xã hội, nuôi dưỡng và khuyến khích bọn phản cách mạng tiến hành các âm mưu phá hoại và bạo loạn gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực hiện tốt chức năng trấn áp mọi sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và mọi âm mưu phá hoại của bọn phản cách mạng để giữ vững chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc thực hiện chức năng này phải được tiến hành một cách kiên quyết, không khoan nhượng, mơ hồ.

    Để thực hiện chức năng này nhà nước xã hội chủ nghĩa phải không ngừng tăng cường sức mạnh về mọi mặt, phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Nước ta, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến nay, đã là một thực tiễn sinh động để chứng minh nguyên lý nói trên. Các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ vẫn có sự phản kháng quyết liệt và dai dẳng. Bọn phản động được sự giúp đỡ của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế đã không từ bỏ một thủ đoạn nào để phá hoại, mong muốn làm suy yếu chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước và nhân dân ta đã kịp thời đập tan mọi âm mưu phá hoại và mọi sự phản kháng của bọn phản cách mạng giữ vững chính quyền, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố, vai trò làm chủ tập thể của nhân dân lao động ngày càng được phát huy.

    Tuy vậy, cho đến nay chúng vẫn chưa từ bỏ mọi mưu đồ đen tối và phản động của chúng. Vì vậy, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII đã nhấn mạnh: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Không ngừng nâng cao giác ngộ và cảnh giác chính trị của nhân dân, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới”.

    Thực hiện tết chức năng trấn áp sẽ tạo điều kiện hòa bình, ổn định cho việc thực hiện các chức năng khác của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, kết quả thực hiện các chức năng khác sẽ có tác động tích cực đến việc thực hiện chức năng trấn áp.

    Thứ ba, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghe

    Xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoả học và công nghệ là một trong những chức năng quan trọng, thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước trên ba lĩnh vực nhằm:

    Nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân, xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa. Bồi dưỡng nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước.

    Khuyến khích sự phát triển của khoa học, công nghệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học, kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân.

    Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, phần lớn các cơ sở văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật đều là sở hữu toàn dân. Vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa không những đề ra và cần phải tổ chức thực hiện chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục và khoa học, mà còn có đủ điều kiện để thực hiện tốt chức năng đó.

    Thứ tư, chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ có nội dung rất rộng với những nhiệm vụ hết sức phong phú và phức tạp, thể hiện trên các mặt với những vấn đề cơ bản là:

    – Về văn hóa: Nhiệm vụ trung tâm đặt ra là xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới, con người mới, thiết lập trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà nước và xã hội; đấu tranh chống những tư tưởng, văn hóa lạc hậu và thù địch. Để thực hiện tết nhiệm vụ đó, phải tiến hành cuộc cách mạng về văn hóa. Cuộc cách mạng văn hóa tiến hành trong mỗi nước cũng có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể của nước đó. Ơ nước ta cách mạng về tư tưởng văn hóa được xác định là một trong ba cuộc cách mạng phải tiến hành đồng thời và có quan hệ mật thiết với nhau đó là: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng văn hóa.

    Để thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng văn hóa cần phải giải quyết tết những vấn đề cơ bản sau đây:

    • Chọn lọc, giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và từng dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa, khoa học của nhân loại để xây dựng nền văn hóa hiện đại mang bản sắc Việt Nam.
    • Dùng nhiều hình thức và phương tiện, trong đó chú trọng sử dụng và phát huy vai trò của pháp luật để giáo dục, nâng cao trình độ văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng của nhân dân, trau dồi đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn và thẩm mỹ, nâng cao trình độ hiểu biết và hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của nhân dân; ngăn chặn các văn hóa phẩm và hoạt động văn hóa nghệ thuật độc hại. Hình thành nếp sống và làm việc theo pháp luật, tôn trọng đạo đức bảo vệ nhân phẩm con người, chống những tư tưởng lạc hậu, lối sống thấp hèn, suy đồi đạo đức.
    • Khuyến khích tự do sáng tạo các giá trị văn hóa, vun đắp tài năng. Giữ gìn và nâng cao các giá trị văn hóa truyền thống, tôn tạo và bảo vệ các di tích văn hóa, lịch sử. Nhà nước cần có những đầu tư thỏa đáng và có cơ chế quản lý bằng pháp luật, các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Tuy nhiên, cần tránh khuynh hướng hành chính hóa các đơn vị hoạt động văn hóa nghệ thuật, cũng như thương mại hóa đơn thuần trong lĩnh vực này. Tăng cường, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng thông tin đại chúng để thỏa mãn nhu cầu về thông tin và nâng cao sự hiểu biết của nhân dân.

    Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà nước phải có chính sách phù hợp về giáo dục và đào tạo để tạo ra nguồn nhân lực dồi dào, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài; phải xây dựng được đội ngũ trí thức mạnh, những nhà kinh doanh, người quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề cho trước mắt và lâu dài.

    Đại hội Đảng lần thứ VIII trên cơ sở đánh giá về công tác giáo dục và đạo tạo những năm qua, căn cứ vào tình hình thực tiễn hiện nay, dự báo sự phát triển tiếp theo đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đồng thời Đại hội cũng đã xác định những nội dung cơ bản mà Nhà nước cần tiến hành trong những năm tới là: Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, có việc làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo.

    – Về khoa học và công nghệ

    Khoa học và công nghệ đóng vai trò then chết trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc. Đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. khoa học và công nghệ còn là động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn tới trình độ tiên tiến của thế giới. Vì vậy, nhà nước cần đặc biệt quan tâm, có chính sách đúng đắn và quản lý có hiệu quả bảo đảm cho sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ.

    Tại đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác định rõ vai trò của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, đồng thời đề ra những phương hướng và biện pháp lớn để thúc đẩy sự phát triển của khoa học trong những năm tới, cụ thể là:

    Khoa học xã hội phải góp phần xứng đáng trong việc đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xây dựng lập trường, quan điểm, ý thức và nhân cách đúng đắn, khắc phục những tư tưởng sai lầm. Phải nhanh chóng khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy; phát triển nhanh các ngành kinh tế học, xã hội học, luật học … Đặc biệt là khoa học quản lý nhà nước và quản lý kinh tế. Nhiệm vụ chủ yếu của khoa học xã hội trong những năm tới là nghiên cứu vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết MÁC-LÊNIN, tư tưởng HỒ CHÍ MINH, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nước ta và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của khoa học thế giới để triển khai thực hiện thắng lợi những phương hướng mới do đại hội Đảng lần thứ VIII đề ra.

    Đối với khoa học tự nhiên và công nghệ cần đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học tự nhiên và công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng – an ninh. Nắm bắt các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế tạo máy để có thể đi nhanh vào hiện đại ơ những khâu quyết định.

    Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp đúng đắn để xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Đẩy mạnh các hình thức đào tạo cán bộ khoa học, trong đó phải chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu đàn. Kiện toàn hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ, sắp xếp và bố trí cán bộ khoa học và công nghệ một cách hợp lý theo hướng gắn khoa học và công nghệ với giáo dục đào tạo, gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn.

    Để phát triển khoa học và công nghệ, nhà nước cũng phải tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, kỹ thuật; xây dựng và thực hiện tết hệ thống chính sách và cơ chế đồng bộ cho phát triển khoa học và công nghệ, trong đó cần chú trọng tới chính sách ưu đãi nhân tài, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tạo lập thị trường cho các hoạt động khoa học và công nghệ. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ…

    Thứ năm, chức năng bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ

    Đây là chức năng có ý nghĩa quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thiết lập, củng cố và điều chỉnh hệ thống các quan hệ xã hội bảo đảm sự phát triển đúng hướng, phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động.

    Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, việc bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa không những chỉ đề ra pháp luật quy định quyền và lợi ích của công dân, mà còn tạo những điều kiện và có những biện pháp để bảo đảm cho các quyền lợi đó được thực hiện. Muốn thực hiện tết chức năng này nhà nước cần phải có những biện pháp đồng bộ về xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời phải giáo dục để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

    3. Các chức năng đối ngoại

    Thứ nhất, chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

    Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính quy luật trong suốt thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản trên phạm ví toàn thế giới. Điều đó xuất phát từ sự còn tồn tại trong một thời gian dài những lực lượng chống đối chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa đế quốc với bản chất xâm lược và phản động, luôn ngoan cố bám giữ những mục tiêu của chúng. Chúng không từ một âm mưu và thủ đoạn nào từ khiêu khích, phá hoại đến bao vây lật đổ và tiến hành chiến tranh xâm lược, để phản kích các lực lượng cách mạng và hòa bình, chống các nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều phải chú trọng tới chức năng bảo vệ Tổ quốc, coi việc củng cố quốc phòng để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện hòa bình ổn định cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên lâu dài. Nền quốc phòng trong các nước xã hội chủ nghĩa là nền quốc phòng vì mục đích tự vệ, nhưng đòi hỏi phải có đầy đủ sức mạnh và khả năng tác chiến cao để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại và xâm lược của các thế lực đế quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã lần lượt đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ, giành độc lập tự do cho dân tộc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đã đập tan nhiều âm mưu quân sự và chính trì của bọn phản động trong nước và các thế lực phản động quốc tế, tạo điều kiện hòa bình ổn đình cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy vậy, trong thời gian tới nhà nước và nhân dân ta phải tiếp tục nêu cao cảnh giác cách mạng phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước và xã hội, quyết tâm ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu hành động phá hoại và xâm lược của kẻ thù. Trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và quốc tế trong thời đại ngày nay, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ các tư tưởng chỉ đạo đối với việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trong tình hình mới:

    • Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
    • Kết hợp quốc phòng và an ninh với kình tế. Gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại.
    • Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân; quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, tích cực, chủ động, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá ta.
    • Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc; thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng an ninh.
    • Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và công an, đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng và an ninh.

    Đây là chức năng rất quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa và phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại. Nội dung của chức năng này bao gồm những điểm cơ bản sau đây:

    -Củng cố và tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết, hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Các nước xã hội chủ nghĩa có cùng bản chất và có nhiều điểm tương đồng như cơ sở kinh tế, chính trị, tư tưởng và có cùng mục đích là phát huy quyền lực nhân dân, đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, xây đựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó không những tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho mỗi nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn góp phần vào việc tăng cường thế và lực của chủ nghĩa xã hội nói chung.

    Mở rộng quan hệ với các nước có chê độ chính trị khác nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau bình đẳng và cùng có lợi. Đây là mặt hoạt động có ý nghĩa quan trọng, tạo ra môi trường hòa bình và điều kiện quốc tế thuận lợi để mỗi nước đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền của mỗi nước, đồng thời để các nước xã hội chủ nghĩa góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tình hình hiện nay mặt hoạt động đối ngoại này của nhà nước xã hội chủ nghĩa rất sôi động nhưng cũng rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự nhạy bén trong việc xác định tình hình, đề ra chính sách phù hợp và xử lý các vấn đề chính xác để một mặt, giữ vững được đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; mặt khác, củng cố vị trí của nhà nước xã hội chủ nghĩa trên trường quốc tế, tranh thủ được những điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước.

    -Mở rộng mối quan hệ và hợp tác với các tổ chức quốc tế. Trong xã hội hiện đại, các tổ chức quốc tế ngày càng phát triển mạnh về số lượng và phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng. Vì vậy, bên cạnh việc tăng cường quan hệ với các nhà nước, nhà nước xã hội chủ nghĩa còn mở rộng quan hệ và tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế. Mặt hoạt động này có những đặc thù riêng, nhưng nhìn chung nó vẫn dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của việc thực hiện chức năng đối ngoại của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    -Ủng hộ và góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh của nhân dân thê giới vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Xuất phát từ bản chất của mình và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn tham gia và góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Có thể nói đây là vấn đề có tính quy luật và việc thực hiện tết mặt hoạt động đối ngoại này là trách nhiệm của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng HỒ CHÍ MINH, trên cơ sở tổng kết tình hình trong nước và quốc tế trong thời gian vừa qua và nhận định về xu hướng phát triển của thế giới trong thời đại ngày nay, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã vạch ra chính sách đối ngoại của nhà nước ta trong thời gian tới là:

    -Tiếp tục đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Thực hiện chính sách hợp tác nhiều mặt với các nước, các tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

    -Tăng cường quan hệ với các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố mối quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và trung tâm kinh tế – chính trị trên thế giới, đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết với các nước đang phát triển, với phong trào không liên kết.

    -Tăng cường hoạt động ơ Liên hợp quốc, tích cực tham gia các tổ chức tài chính, thương mại và các diễn đàn quốc tế.

    -Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền khác.

    -Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân và quan hệ với các tổ chức phi chính phủ.

    Tổ bộ môn Luật Dân sự – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

    Liên kết đào tạo và hợp tác việc làm giữa Trường Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest là hoạt động cần thiết để giải quyết thực trạng chênh lệch giữa nhu cầu của doanh nghiệp và sự đáp ứng của nhà trường. Hướng đến mục tiêu đào tạo 100% sinh viên có việc làm sau khi trường, Trường Đại học Hòa Bình triển khai liên kết chặt chẽ với Công ty Luật TNHH Everest trong công tác đào tạo sinh viên và tạo điều kiện việc làm cho sinh viên mới ra trường. Để được tư vấn pháp luật, Quý khách vui lòng gọi tới tổng đài 19006198.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Của Nhà Nước? Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Là Gì?
  • Các Công Cụ Hữu Ích Trong Quá Trình Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Bao Gồm Các Hoạt Động Nào?
  • Quản Lí Về Đất Đai Nhà Nước
  • Nội Dung Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100