Chức Năng Của Các Định Chế Tài Chính Trung Gian

--- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Trung Gian Tài Chính
  • Bài 2: Vai Trò Của Các Tổ Chức Tài Chính Trung Gian
  • Bài Giảng Chương 5: Chức Năng Tổ Chức (Tiết 1)
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Ban Tổ Chức
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ban Tuyên Giáo Huyện Ủy
  • Kết quả

    Chức năng của các định chế tài chính trung gian:

    Các tổ chức tài chính trung gian huy động các nguồn tài chính bằng việc phát hành ra các tài sản tài chính rồi tiến hành đầu tư những nguồn tài chính đó. Những người góp vốn cho các tổ chức tài chính được gọi là những người đầu tư; hoạt động đầu tư của họ được gọi là đầu tư gián tiếp; tài sản của họ có thể là những món nợ vay hay những chứng khoán. Việc những tổ chức tài chính trung gian sử dụng nguồn vồn huy động được để đi đầu tư được gọi là hoạt động đầu tư trực tiếp.

    Chúng ta cùng xét ví dụ sau:

    * Các ngân hàng thương mại nhận các khoản tiền gửi và có thể sử dụng chúng để cho các khách hàng là cá nhân hay các doanh nghiệp vay. Các khoản tiền gởi đó tượng trưng bằng phiếu nợ của ngân hàng thương mại và tài sản tài chính đó (phiếu nợ) được sở hữu bởi những người gửi tiền. Các món nợ (của các ngân hàng thương mại cho vay) được tượng trưng bằng của phiếu nợ của những người vay tiền và các phiếu nợ này là tài sản của các ngân hàng thương mại. Như vậy, ngân hàng thương mại là những người đầu tư trực tiếp cho những người đi vay và những người gửi tiền vào ngân hàng là những người đầu tư gián tiếp cho những người đi vay.

    1. Chuyển đổi thời gian đáo hạn của các tài sản tài chính

    Chức năng này được thể hiện rõ nhất thông qua hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi, chủ yếu là các ngân hàng thương mại. Nhờ các trung gian tài chính này, cả người đầu tư (người gửi tiền) và người đi vay đều có thể dễ dàng lựa chọn được những thời hạn thích hợp với mục tiêu của mình, tránh được tình trạng người đi vay phải tự tìm những người cho vay đồng ý chấp nhận với thời hạn vay của mình (rất khó khăn cho các khoản vay dài hạn). Đối với các khoản vay dài hạn thì có rất ít người đồng ý cho vay vì họ sợ rủi ro, để bù đắp rủi ro đó họ thường đòi một mức lãi suất cao, gây khó khăn đối với người đi vay. Nhưng các tổ chức tài chính trung gian đã kết nối được các khoản tiền gửi ngắn hạn nối tiếp nhau nên các tổ chức này có thể cho vay với thời hạn dài hơn mà chi phí lại thấp hơn nhiều so với một người cho vay cá nhân.

    3. Giảm chi phí hợp đồng và chi phí xử lý thông tin

    Những nhà đầu tư mua tài sản tài chính phải có những kỹ năng cần thiết để hiểu và đánh giá một khoản đầu tư. Tuy nhiên, các nhà đầu tư cá nhân thường không có đủ điều kiện để phát triển những kỹ năng này cả về mặt thời gian và kiến thức. Vì thế, để thực hiện một khoản cho vay thì nhà đầu tư cá nhân này thường phải thuê người viết hợp đồng và dùng lợi nhuận thu được từ hợp đồng cho vay này để trả cho chi phí này. Chi phí này được gọi là chi phí hợp đồng. Bên cạnh đó, để có các thông tin và xử lý các thông tin đó về tài sản tài chính và người phát hành tài sản tài chính đó, ngoài chi phí cơ hội là việc tiêu tốn thời gian cho việc thu thập và xử lý thông tin thì nhà đầu tư còn tốn tiền để có được những thông tin. Chi phí đó được gọi là chi phí xử lý thông tin.

    Các định chế tài chính trung gian là các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Với vai trò đó, chúng có thể dễ dàng thu hút được nhiều nhà đầu tư và nhiều người đi vay. Mặc dù nó phát sinh thêm chi phí để cho những đối tượng này gặp nhau nhưng ngược lại, chúng có được một đội ngũ nhân viên được đào tạo một cách chuyên nghiệp nên có thể soạn thảo các hợp đồng đủ loại một cách tốt nhất, giám sát việc tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng và có những hành đồng cần thiết để bảo vệ lợi ích của các trung gian tài chính. Nói một cách khác, do các định chế tài chính trung gian quản lý một khối lượng vốn lớn và hoạt động chuyên nghiệp, nên họ có được lợi thế về qui mô trong việc ký hợp đồng và xử lý thông tin. Chi phí thấp hơn này sẽ làm tăng lợi nhuận cho các nhà đầu tư mua tài sản tài chính của các định chế 108

    tài chính trung gian, và những người phát hành tài sản tài chính cũng có lợi ích từ việc đi vay với chi phí thấp.

    4. Cung cấp phương thức thanh toán

    Với sự phát triển của nền kinh tế, ngày nay việc thanh toán không còn được thanh toán nhiều bằng mặt. Nó được thanh bằng các hình thức khác như: séc, thẻ tín dụng, thẻ nợ, chuyển khoản. Một số tổ chức tài chính trung gian đảm nhận việc cung cấp những phương thức thanh toán này ( chủ yếu là ngân hàng). Khả năng thực hiện việc thực hiện thanh toán không bằng tiền mặt là hết sức quan trọng đối với sự vận hành trôi chảy của một thị trường tài chính có hiệu quả. Nói tóm lại, các tổ chức nhận tiền gửi chuyển các tài sản mà không thể sử dụng để thanh toán thành những tài sản khác có khả năng này.

    Nguồn: Nguyễn Thị Lương, Đoàn Thị Cẩm Vân (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Là Gì? Ví Dụ Về Cơ Cấu Bộ Máy Tổ Chức
  • Tổ Dân Phố Là Gì? Những Vấn Đề Cơ Bản Liên Quan Tới Tổ Dân Phố
  • Quy Định Về Tổ Dân Phố Và Quy Trình Bầu Cử Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Trưởng Thôn, Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Tổ Dân Phố Là Gì? Tìm Hiểu Về Cách Tổ Chức Của Tổ Dân Phố
  • Vai Trò Của Trung Gian Tài Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2: Vai Trò Của Các Tổ Chức Tài Chính Trung Gian
  • Bài Giảng Chương 5: Chức Năng Tổ Chức (Tiết 1)
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Ban Tổ Chức
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ban Tuyên Giáo Huyện Ủy
  • Trang Điện Tử Huyện Ủy Thăng Bình
  • Kết quả

    Vai trò của trung gian tài chính:

    Với tư cách là tổ chức chuyên hoạt động trong lĩnh vực lưu chuyển vốn, các trung gian tài chính có thể làm gì để giảm bớt những hạn chế nêu trên?

    1. Vai trò của trung gian tài chính trong việc giảm bớt chi phí giao dịch

    Các trung gian tài chính có khả năng giảm được chi phí giao dịch trong quá trình lưu chuyển vốn là nhờ vào tính kinh tế do quy mô hoạt động lớn và tính chuyên nghiệp cao.

    Chi phí quản lý tính trên từng đồng vốn cũng giảm đáng kể khi quy mô vốn đầu tư lớn. Hoạt động với quy mô lớn tạo điều kiện để các trung gian tài chính đầu tư vào các hệ thống máy tính đắt tiền dùng cho quản lý và tiến hành hàng triệu giao dịch mà vẫn đảm bảo chi phí tính trên mỗi giao dịch ở mức thấp.

    Tính chuyên nghiệp cũng là một yếu tố làm giảm chi phí giao dịch. Do chuyên hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ – tài chính, các trung gian chẳng những sẽ có nhiều kinh nghiệm để quản lý vốn hiệu quả hơn mà còn có thể đề ra các giải pháp để giảm chi phí giao dịch nhằm nâng cao mức lợi nhuận.

    2. Vai trò của trung gian tài chính trong việc giảm bớt chi phí thông tin

    Các trung gian tài chính chuyên hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ nên họ được trang bị đầy đủ hơn những người cho vay đơn lẻ cả về kiến thức và kinh nghiệm, nhờ đó họ có thể thu thập và xử lý thông tin hiệu quả hơn, giúp đánh giá được chính xác hơn mức độ rủi ro của các dự án xin vay, qua đó giảm thiểu được nguy cơ chọn lựa đối nghịch. Hơn nữa họ cũng sẽ có khả năng kiểm soát tốt hơn quá trình sử dụng vốn của người đi vay, nhờ đó giảm bớt được những thiệt hại do rủi ro đạo đức gây ra.

    Không những thế, các trung gian tài chính còn khắc phục được vấn đề “người đi nhờ xe”, do họ chủ yếu cung cấp vốn thông qua các khoản cho vay trực tiếp chứ không thông qua việc mua chứng khoán. Các khoản vay trực tiếp này không được mua bán trên thị trường nên những nhà đầu tư khác không thể lợi dụng. Chi phí các trung gian tài chính bỏ ra để mua thông tin và giám sát hoạt động của người đi vay nhằm giảm tình trạng thông tin bất cân xứng sẽ đem lại cho họ những lợi thế mà các nhà đầu tư khác nếu không bỏ tiền ra thì không thể có được.

    Tóm lại, với những ưu thế về quy mô hoạt động, tính chuyên nghiệp và các dịch vụ tài chính đặc thù (như khoản vay trực tiếp, đầu tư mạo hiểm…), các trung gian tài chính có khả năng khắc phục khá hiệu quả những hạn chế của kênh tài chính trực tiếp, và do đó ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc lưu chuyển vốn trong nền kinh tế.

    Nguồn: Ths. Đặng Thị Việt Đức – Ths. Phan Anh Tuấn (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Các Định Chế Tài Chính Trung Gian
  • Tổ Chức Là Gì? Ví Dụ Về Cơ Cấu Bộ Máy Tổ Chức
  • Tổ Dân Phố Là Gì? Những Vấn Đề Cơ Bản Liên Quan Tới Tổ Dân Phố
  • Quy Định Về Tổ Dân Phố Và Quy Trình Bầu Cử Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Trưởng Thôn, Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Bài 2: Vai Trò Của Các Tổ Chức Tài Chính Trung Gian

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Chương 5: Chức Năng Tổ Chức (Tiết 1)
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Ban Tổ Chức
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ban Tuyên Giáo Huyện Ủy
  • Trang Điện Tử Huyện Ủy Thăng Bình
  • Ban Tổ Chức Huyện Ủy
  • Tóm tắt lý thuyết

    Kích thích và tập trung các nguồn vốn tiết kiệm trong nền kinh tế

    Nguồn vốn tiết kiệm của cá nhân, gia đình tạo ra nhờ thu nhập vượt trội so với chi tiêu hiện tại. Người có tiền tiết kiệm luôn có ý thức dùng nó để dự phòng và sinh lãi. Vì vậy, họ đem số tiền để cho vay, và các tổ chức Tài chính là nơi tương đối an toàn cung cấp các dịch vụ Tài chính sinh lời.

    Tạo cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư nhỏ và vừa:

    Bản thân mỗi cá nhân không thể dễ dàng làm lợi từ chính món tiền sở hữu. Món tiền đó có thể quá nhỏ, đầu tư trực tiếp không những rủi ro cao mà phí giao dịch thì quá lớn. Việc đăng ký các thủ tục kinh doanh quá phiền hà, nhờ có các tổ chức Tài chính phi ngân hàng mà các cơ hội đầu tư cho cá nhân tăng lên. Nguồn lợi sẽ mang lại cho cả hai nhờ hiệu quả kinh tế do quy mô vốn, nhờ sự phân tán rủi ro do đa dạng hóa và nhờ việc giảm chi phí giao dịch trong tổng thể.

    Hạn chế rủi ro trong đầu tư Tài chính

    Các tổ chức tài chính phi ngân hàng cung cấp các hợp đồng bảo hiểm, các dịch vụ trả lương hưu… trong hoạt động đầu tư, họ đáp ứng các nhu cầu về thông tin nếu chúng ta muốn hoặc nhận các ủy thác nếu chúng ta cần. Với nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm mục đích bảo vệ Tài chính, phân tán rủi ro cho mỗi người, Đây là một khía cạnh đặc thù mà các tổ chức Tài chính phi ngân hàng cung cấp cho xã hội.

    Kích thích sự phát triển của thị trường Tài chính

    Góp phần làm cho thị trường Tài chính vận hành trôi chảy, làm tăng cơ hội lựa chọn cho người đầu tư và tăng cường tính hiệu quả của thị trường, kích thích sự phát triển ổn định và lành mạnh của thị trường Tài chính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Trung Gian Tài Chính
  • Chức Năng Của Các Định Chế Tài Chính Trung Gian
  • Tổ Chức Là Gì? Ví Dụ Về Cơ Cấu Bộ Máy Tổ Chức
  • Tổ Dân Phố Là Gì? Những Vấn Đề Cơ Bản Liên Quan Tới Tổ Dân Phố
  • Quy Định Về Tổ Dân Phố Và Quy Trình Bầu Cử Tổ Trưởng Tổ Dân Phố
  • Các Trung Gian Tài Chính Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thị Trường Vốn Phát Triển Ấn Tượng, Đáp Ứng Nhu Cầu Vốn Cho Nền Kinh Tế
  • Thị Trường Vốn Là Gì? Đánh Giá Hoạt Động Thị Trường Vốn Tại Việt Nam
  • Em Sẽ Vận Dụng Các Chức Năng Cơ Bản Của Thị Trường Như Thế Nào Câu Hỏi 40766
  • 4 Chức Năng Của Thị Trường
  • Cách Phân Loại Thị Trường Thị Trường Tài Chính Nhanh Chóng, Hiệu Quả
  • Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ người có vốn tới người cần vốn. Tuy nhiên không như dạng tài chính trực tiếp người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, các trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối. Nghĩa là người cần vốn muốn có được vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các tổ chức tài chính gián tiếp hay các tổ chức tài chính trung gian.

    Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì hiện Việt nam có: 5 Ngân hàng thương mại lớn (Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Xuất nhập khẩu), Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển; 6 Ngân hàng liên doanh; 36 Ngân hàng thương mại cổ phần; 46 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 10 Công ty tài chính; 13 Công ty cho thuê tài chính; 998 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.

    Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các công ty chứng khoán, các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính…

    Tại Việt Nam, hiện có đầy đủ các loại hình tổ chức tài chính trung gian bao gồm:

    * Ngân hàng thương mại

    * Công ty chứng khoán

    * Công ty tài chính

    * Công ty bảo hiểm

    * Quỹ đầu tư

    a. Loại hình: Ngân hàng thương mại

    Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì hiện Việt nam có: 5 Ngân hàng thương mại lớn (Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Xuất nhập khẩu), Ngân hàng chính sách, Ngân hàng phát triển; 6 Ngân hàng liên doanh; 36 Ngân hàng thương mại cổ phần; 46 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 10 Công ty tài chính; 13 Công ty cho thuê tài chính; 998 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Các đơn vị trên đều có chức năng cho vay, là chức năng chính của ngân hàng.

    Dân số nước ta hiện nay ước khoảng 86 triệu người, GDP khoảng 65 tỷ USD, số lượng các ngân hàng này hiện này được xem là đông đảo với một thị trường tài chính nhỏ như Việt Nam. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự tăng trưởng rất nhanh trong những năm qua với tốc độ tăng trưởng bình quân 35%/năm.

    Bên cạnh sự tăng trưởng, hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại cũng được nâng lên rõ rệt, đặc biệt là khối NHTMCP. Năm 2007, tỷ lệ ROA trung bình của toàn hệ thống đạt 1,51%, ROE đạt 16,42% so với mức trung bình trong khu vực lần lượt là 1,18% và 16,47%. Tỷ lệ NPL của toàn hệ thống ngân hàng trong đã giảm từ 14% trong năm 2006 xuống 3% trong năm 2007, tính theo chuẩn quốc tế (IFRS) tỷ lệ này lần lượt là 30% năm 2006 và 6% năm 2007.

    Tuy tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh nhưng hiện vẫn cao hơn nhiều so với mức 0,06% của các chi nhánh Ngân hang nước ngoài tại Việt Nam.

    b. Loại hình: Công ty Chứng khoán

    Tính từ khi ra đời, số lượng các công ty Chứng khoán không ngừng tăng nhanh về số lượng. Nếu như năm 2000 khi thị trường Chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động với 4 công ty Chứng khoán thì đến thời điểm năm 2007 đã có tới 61 công ty Chứng khoán với tổng số vốn điều lệ đạt 5735 tỷ đồng. Và đến nay đã có hơn 100 công ty Chứng khoán đang hoạt động.

    Các công ty Chứng khoán trong quá trình phát triển luôn đồng thời tăng vốn điều lệ, nhằm đáp ứng được khả năng tài chính và sự phát triển. Các công ty chứng khoán đã góp phần tốt trong việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp. Tính đến cuối năm 2008, tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần 40% GDP quốc dân. Điều này chứng tỏ, Các công ty chứng khoán đã giúp các doanh nghiệp niêm yết có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn từ công chúng đầu tư, ổn định và với chi phí vốn thấp, mang tính dài hạn.

    c. Loại hình: Công ty Tài chính

    Khi thị trường tài chính Việt Nam phát triển, nó sinh ra một nhu cầu lớn về vốn. Khi này, các Ngân hàng với những điều kiện chặt chẽ về hạn mức cho vay, kỳ hạn vay, điều kiện giải ngân… sẽ rất khó đáp ứng hết được nhu cầu vốn lớn này. Sự ra đời của các công ty tài chính, cho thuê tài chính là một bước phát triển tất yếu của thị trường tài chính.

    Tại Việt Nam, hiện có tới 17 công ty tài chính, phần lớn thuộc các tập đoàn kinh tế Nhà nước. Các công ty tài chính thường trực thuộc những Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước như: Công ty tài chính công nghiệp Tàu thủy, Công ty tài chính Điện lực, công ty tài chính xi măng, công ty tài chính Than khoáng sản Việt nam, công ty tài chính Cổ phần Dầu khí…

    Ưu điểm của các công ty tài chính là mang lại một nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng cho nhiều dự án lớn trọng điểm. Tuy nhiên ở Việt Nam, các công ty tài chính lại trực thuộc các tập đoàn mà các tập đoàn này về bản chất là sử dụng vốn của Nhà nước.

    Năm 2008 khi các Tập đoàn công bố báo cáo tài chính thì hầu hết các ngành nghề chính đều thua lỗ trong khi phần thu lãi lại xuất phát từ đầu tư tài chính. Trong khi đó, các Tổng công ty tập đoàn có vốn nhà nước thường xuyên “kêu” thiếu vốn đầu tư cho các dự án thì vẫn thành lập ra hàng loạt các công ty tài chính để nhằm mục đích đầu tư tài chính.

    d. Loại hình: các Công ty Bảo hiểm

    Dẫn lời một quan chức trong ngành Bảo hiểm thì Việt Nam vẫn là một thị trường bảo hiểm năng động và tiềm năng. Sự ra đời và xuất hiện các công ty bảo hiểm trên thị trường đem lại cho người tiêu dung nhiều lợi ích từ việc bảo hiểm những rủi ro trong cuộc sống hàng ngày.

    Các công ty bảo hiểm với rất nhiều sản phẩm bảo hiểm hầu như đã đáp ứng được những nhu cầu bảo hiểm phong phú từ khách hàng. Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn. Nguồn vốn này các Công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án có mức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận.

    Theo số liệu chưa kiểm toán thì tính đến thời điểm tháng 6 năm 2009 các doanh nghiệp có tổng mức trách nhiệm cao trên thị trường bảo hiểm là: Prudential 94 ngàn tỷ, Bảo Việt nhân thọ là hơn 67 ngàn tỷ, AIA là 27 ngàn tỷ đồng.

    Như vậy, sự phát triển của các loại hình tài chính trung gian đã tạo ra một lượng cung vốn dồi dào cho các doanh nghiệp, có tác dụng thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinh tế.

    Sự tác động của các trung gian tới sự phát triển kinh tế Việt Nam

    Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 1997 bắt nguồn từ Thái Lan đã có những tác động đến thị trường tài chính Việt Nam. Tuy nhiên mức độ tác động là chưa lớn vì lúc này thị trường tài chính Việt Nam chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.

    Kể từ khi Việt Nam tham gia hội nhập mở cửa và trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO từ 11/01/2007, thị trường tài chính Việt Nam có những sự phát triển nhanh chóng rõ rệt.

    Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân phát triển các ngành nghề. Cùng với sự phát triển thì nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, cho nhu cầu xuất nhập khẩu ngày càng tăng cao:

    Năm 2000 đánh dấu sự ra đời của thị trường Chứng khoán Việt Nam. Các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong việc huy động vốn và sử dụng đồng vốn của mình. Nếu từ trong giai đoạn năm 1998 đến thời điểm trước năm 2005, quy mô vốn của các trung gian tài chính trên thị trường Việt Nam là rất nhỏ bé thì sau năm 2005 các mô hình, loại hình thị trường có sự phát triển mau lẹ, rõ rệt.

    Ta luôn được chứng kiến có sự cạnh tranh mạnh mẽ nhất và sôi động nhất giữa các tổ chức trung gian tài chính trong việc thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư.

    Trong thời gian gần đây, các Tổ chức tín dụng đưa ra các hình thức sau:

    – Cạnh tranh khuyến khích khách hàng mở tài khoản cá nhân, tài khoản sử dụng thẻ… Tính đến nay trong cả nước đã mở được khoảng trên 1.300.000 tài khoản cá nhân, trong đó có khoảng trên 750.000 tài khoản của các chủ thể.

    – Cạnh tranh thu hút tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế – xã hội. Giữa các tài chính tín dụng cạnh tranh thu hút tiền gửi của Kho bạc nhà nước, bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo Việt, các công ty bảo hiểm nhân thọ, bưu chính viễn thông, điện lực…

    – Cạnh tranh thu hút tiền gửi tiết kiệm. Đây là hình thức huy động vốn truyền thống giữa các tài chính tín dụng và Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện, nhất là các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.

    Thời gian gần đây, để khuyến khích khách hàng, một số ngân hàng thương mại đưa ra dịch vụ: gửi một nơi lĩnh nhiều nơi, tiết kiệm tích lũy hay còn gọi là tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm gắn với bảo hiểm nhân thọ, tiết kiệm lũy tiền trả lãi theo số tiến gửi càng cao thì lãi suất càng cao, tiết kiệm linh hoạt tức là khách được chủ động rút tiền ra bất cứ lúc nào có nhu cầu và lãi suất tính theo số ngày thực tế gửi tương ứng với kỳ hạn gần nhất, tiết kiệm dự thưởng…

    – Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu… chủ yếu là huy động vốn có thời hạn từ 6 tháng trở lên, lãi suất hấp dẫn. Trong những năm gần đây, đã có sự cạnh tranh sôi động trên thị trường thu hút tiền gửi và thị trường huy động vốn, đặc biệt là các tổ chức trung gian tài chính thực hiện rất đa dạng và phong phú các sản phẩm và dịch vụ thu hút tiền gửi, huy động vốn.

    Tuy nhiên trong việc phát triển thị trường này, có thể thấy một tồn tại lớn là chưa thu hút được tối đa tiền gửi không kỳ hạn, tiền nhàn rỗi trong dân cư vào hệ thống ngân hàng, trên cơ sở đó lựa chọn các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng hay rút tiền mặt ra chi tiêu bất cứ lức nào có nhu cầu.

    Đây là nguồn vốn rất lớn và rất quan trọng, tạo đà cho phát triển thị trường tiền tệ, bởi vì nó gia tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn, gia tăng vốn khả dụng cho các tài chính tín dụng. Trong năm 2007, cùng với sự phát triển nóng của thị trường Chứng khoán là sự ra đời hàng loạt các công ty chứng khoán, các công ty quản lý quỹ.

    Sự ra đời các Ngân hàng khiến thị trường tài chính Việt Nam có những sự phát triển rất nóng. Cùng với những luồng tiền được đầu tư ngày càng nhiều vào Việt Nam thì những dự án đầu tư xem ra chưa thấy rõ được hiệu quả. Theo thống kê của WB thì hệ số ICOR của Việt Nam đang ở mức rất cao, vào khoảng trên 5.

    Khi thị trường phát triển quá nóng, các trung gian tài chính ngày càng phình to ra thì nguy cơ về một cuộc “nổ bong bóng” kinh tế đã được nhiều chuyên gia kinh tế phản ánh dự báo trước. Thị trường tài chính Việt Nam khi này được ví như một “lò hơi”, có thể xì hơi bất cứ lúc nào.

    Điều tai hại hơn ở chỗ, ngay cả các trung gian tài chính cũng lao vào cuộc chạy đua đầu tư tài chính. Luồng vốn lớn không được đổ nhiều vào sản xuất kinh doanh mà lại sử dụng vào việc mua bán vốn trên thị trường. Cùng với đó các tập đoàn cũng trích từ nguồn vốn của mình một lượng vốn lớn để đổ vào thị trường tài chính: hiện trạng trên khiến thị trường tài chính Việt Nam trong giai đoạn năm 2007 phát triển nhanh và rất nóng.

    Khi thị trường tài chính Việt Nam phát triển, kéo theo sự tăng điểm hàng ngày của thị trường chứng khoán. Đã có thời điểm thị trường chứng khoán Việt Nam “cán đích” trên 1100 điểm. Số lượng các tài khoản được mở tại các Công ty chứng khoán luôn ở mức ấn tượng. Lúc này các doanh nghiệp niêm yết rất dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ qua các cuộc phát hành thêm cổ phiếu.

    Nhận thấy những bất cập trên và dự đoán được những tác động tai hại nếu để thị trường chứng khoán phát triên quá nóng, bộ tài chính quyết định dùng một chính sách nhằm điều tiết thị trường.

    Ngày 17/03/2008, Bộ Tài chính ban hành một nghị quyết mà theo đó các Ngân hàng thương mại buộc phải mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc. Chính điều này đã một lúc “ép” các ngân hàng thiếu vốn khả dụng, buộc họ phải tìm mọi cách thu hút lượng tiền gửi từ dân cư.

    Hành động của Bộ Tài chính có tác dụng thắt chặt tiền tệ, kiểm soát lạm phát. Việc ban hành quyết định phát hành tín phiếu đã hút khỏi thị trường một lượng vốn khồng lồ. Hành động này Nhà nước kỳ vọng sẽ kiểm soát được tình trạng phát triển quá nóng của thị trường tài chính.

    Song kịch bản thị trường đã có nhiều điểm thăng trầm! Do hành động quá mạnh tay, nhiều ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn vốn khả dụng nghiêm trọng. Và khi đó diễn ra cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường vốn giữa các Ngân hàng. Các Ngân hàng liên tục hút người gửi tiền bằng hình thức chạy đua lãi suất huy động. Có nhiều ngân hàng thương mại thậm chí đã đẩy mức lãi suất huy động lên tới hơn 20%/năm.

    Điều này ngay lập tức tác động lớn đến tâm lý của công chúng đầu tư. Một lượng vốn lớn bị rút khỏi thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán bị down liên tục, phá vỡ tất cả các ngưỡng hỗ trợ mặc cho Bộ Tài chính liên tục có những sự động viên. Các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư rơi vào tình trạng heo hắt khi mà giao dịch cực thấp, lượng nhà đầu tư đóng băng tài khoản rất lớn.

    Sự ngừng hoạt động (giải thể) hoặc rút bớt nghiệp vụ của các công ty chứng khoán là một tất yếu được dự báo trước. Một hệ quả tất yếu nữa là các doanh nghiệp càng ngày càng gặp khó khăn qua các phương án tăng vốn bằng hình thức phát hành cổ phiếu. Mà việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng thì rất khó khăn bởi lãi suất giải ngân rất lớn. Nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu đã bị mất những đơn hàng quan trọng. Nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bị đình đốn.

    Vào thời điểm gần nửa cuối năm 2008, thị trường tài chính Việt Nam gặp khủng hoảng. Các doanh nghiệp Việt Nam bị co cụm thu hẹp sản xuất. Nhiều doanh nghiệp ngành may mặc, chế biến sa thải công nhân ồ ạt. Lượng người bị mất việc ở các khu công nghiệp cộng thêm số lao động bị mất việc ở nước ngoài trở về nước đã trở thành “gánh nặng” lớn đối với nền kinh tế đất nước.

    Bước sang năm 2009, nền kinh tế thế giới chính thức rơi vào khủng hoảng với sự bắt đầu ở Mỹ khi thị trường nhà đất Mỹ bị đóng băng và sự phá sản của hàng loạt Ngân hàng lớn. Cơn bão khủng hoảng lập tức lan nhanh ra khắp thế giới.

    Ở Việt Nam, cuộc khủng hoảng này kéo theo suy thoái nền kinh tế. Mục tiêu phát triển kinh tế cả năm khó có khả năng hoàn thành, vì thế Chính phủ đã chấp nhận mức điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hạ xuống dưới 6% so với mục tiêu tăng trưởng được đặt ra đầu năm là 8.5%. Tất cả Chính phủ các quốc gia đều rất nỗ lực trong công cuộc cứu vãn, đối phó với cơn bão khủng hoảng.

    Chính sách được hầu hết các quốc gia đưa ra mà đi dầu là Mỹ và EU là các gói hố trợ kinh tế khổng lồ. Ở các nước này, chính phủ chủ trương bơm thêm tiền vào thị trường tài chính thông qua hệ thống Ngân hàng: Cho các doanh nghiệp vay ưu đãi sản xuất, hỗ trợ cho vay xuất nhập khẩu, cho vay tiêu dùng.

    Ở Việt Nam, chính phủ công bố gói hỗ trợ lãi suất đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là hơn 1 tỷ USD được giải ngân thông qua hệ thống Ngân hàng. Mức hố trợ lên tới 4%/ năm Sự can thiệp của chính phủ phần nào có tác dụng tốt tới thị trường tài chính. Các ngân hàng bớt sự khó khăn trong vấn đề huy động vốn. Các doanh nghiệp vui mừng sẽ được tiếp cận được luồng vốn rẻ.

    Tuy nhiên, thực tế diễn ra không phải lúc nào cũng như mong đợi của Chính phủ. Các doanh nghiệp vốn vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ này bởi những điều kiện chặt chẽ do Ngân hàng đề ra. Còn các doanh nghiệp tập đoàn lớn thì nhu cầu về vốn không quá bức thiết. Việc nguồn vốn hỗ trợ chưa thực sự đến “tận tay” những đối tượng cần vốn phần nhiều đã giảm tác dụng của gói kích cầu do chính phủ đề ra.

    Tháng 6 năm 2009, Việt Nam tuyên bố thoát khỏi khủng hoảng kinh tế nhưng nhiều chuyên gia còn khá thận trọng khi đề cập đến vấn đề này. Việc giải ngân vốn rất dễ gây ra hiện tượng lạm phát cho Việt Nam trong tương lai gần. Sự kiềm chế lạm phát của chính phủ trong những tháng vừa qua sẽ là vô nghĩa nếu như để hiện tượng lạm phát quay trở lại.

    Trong các buổi hội thảo, tọa đàm, Chính phủ luôn đề cao vai trò của các trung gian tài chính, trong đó chủ chốt là ngành Ngân hàng trong việc điều tiết lượng cung cầu vốn trên thị trường. Vai trò của các trung gian tài chính rất to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nó đảm bảo được sự thanh khoản trong nền kinh tế cũng như có tác động tốt tới việc cung ứng vốn, điều tiết vốn. Tin rằng trong thời gian tới, thị trường tài chính sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển đi lên của nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thị Trường Tài Chính Là Gì? Cấu Trúc Và Vai Trò Của Thị Trường Tài Chính
  • Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Thị Trường Chứng Khoán Phái Sinh Việt Nam
  • Tăng Nhà Đầu Tư Tổ Chức Cho Ttck Phái Sinh, Cách Nào?
  • Tiền Của Nhà Đầu Tư Sẽ “đổ” Vào Thị Trường Chứng Khoán Phái Sinh?
  • Góp Phần Vào Sự Tăng Trưởng Của Thị Trường Chứng Khoán Phái Sinh
  • Bài 1: Khái Niệm, Chức Năng Và Phân Loại Các Tổ Chức Tài Chính Trung Gian

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Bố Quyết Định Hợp Nhất Ban Tổ Chức Huyện Ủy Và Phòng Nội Vụ Huyện
  • Phím Tắt Ctrl V, Ctrl C, Ctrl X Là Gì? Copy, Paste, Cut Trong Word, Wi
  • 5 Tổ Hợp Phím Tắt Trên Máy Tính Mà Bạn Cần Phải Nhớ
  • Tổ Hợp Phím Ctrl+O Dùng Để:
  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Khoa Y, Dược Cổ Truyền Trong Bệnh Viện Nhà Nước
  • Tóm tắt lý thuyết

    • Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ người có vốn tới người cần vốn.
    • Như chúng ta đã biết không như dạng tài chính trực tiếp, người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, các trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối, nghĩa là người người cần vốn muôn có được vôín phải thông qua người thứ ba, đó chính là các tổ chức tài chính gián tiếp hay các tố’ chức tài chính trung gian.
    • Các tổ chức tài chính trung gian chủ yếu là các ngân hàng, các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính….

    Chức năng tạo vốn

    Các trung gian tài chính huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, hình thành các quỳ tiền tệ tập trung. Bằng cách trả lãi suất, các trung gian tài chính đem lại lợi ích cho người có tiền tiết kiệm và đồng thời cũng được hưởng lợi trong giai đoạn cung ứng vốn.

    Chức năng cung ứng vốn

    Trong nền kinh tế thị trường, người cần vốn là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước. Tổ chức tài chính trung gian sẽ đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn và nhận được một khoản lợi nhất định thông qua việc cho vay với lãi suất cho vay lớn hơn lãi suất các tổ chức này trả cho người tiết kiệm.

    Chức năng kiểm soát

    Các tổ chức trung gian sẽ kiểm soát nhằm giảm tới mức tối thiểu sự rủi ro bằng cách thường xuyên hoặc định kỳ kiểm soát trước khi cho vay, trong và sau khi cho các doanh nghiệp vay vốn.

    Tổ chức tài chính trung gian bao gồm hai loại chủ yếu sau đây:

    • Tổ chức tín dụng ngân hàng
    • Tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

    Khái niệm: Tổ chức tín dụng ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hàng.

    Hoạt động của tổ chức tín dụng ngân hàng.

    • Các hoạt động chủ yếu của một tổ chức tín dụng ngân hàng.
    • Huy động vốn: gồm nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng, vay vốn của Ngân hàng Nhà nước.
    • Cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính.
    • Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: mở tài khoản, dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, tham gia các hệ thống thanh toán.
    • Các hoạt động khác: góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối và vàng, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, kinh doanh bất động sản, kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn…

    Hoạt động của Ngăn hàng Thương mại(NHTM).

    • Hoạt động tạo lập nguồn vốn.
    • Huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội: Đây là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của NHTM. Nó tạo ra nguồn vốn chủ lực trong kinh doanh của bất kỳ NHTM nào. NHTM thường huy động vốn nhàn rỗi qua các phương tiện nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu ngân hàng. Huy động tiền gửi là hình thức huy động vốn phổ biến của NHTM. Xã hội ngày nay phát triển nhanh, các nguồn vốn tiền gửi ngày càng phong phú và phức tạp. Song về mặt kỹ thuật của Ngân hàng, các khoản tiền gửi có thể được chia thành tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
    • Huy động vốn thông qua các chứng từ có giá: Là việc NHTM phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động. Trong hình thức huy động này, ngân hàng chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội nhằm bổ sung nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.
    • Nguồn vốn đi vay của ngân hàng khác: Đây là nguồn vốn được hình thành bởi các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau, hoặc giữa các tổ chức tín dụng với NHTW.
    • Vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn này bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của NHTW.
    • Xét về đặc điểm, nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số nguồn vốn kinh doanh của một ngân hàng vì nó là cơ sở đế thu hút các nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu tạo sự uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Đồng thời, vốn chủ sở hữu là cơ sở để xác định hệ số an toàn trong kinh doanh ngân hàng.

    Hoạt động sử dụng và khai thác nguồn vốn.

    • Sử dụng và khai thác nguồn vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhâ’t của NHTM. Hướng cơ bản của hoạt động này là cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn và dài hạn.
    • Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng. Đây là loại cho vay phổ biến của NHTM, nhằm bổ sung vốn tạm thời thiếu hụt của các doanh nghiệp, dân cư.
    • Cho vay trung và dài hạn của NHTM là loại cho vay được thực hiện đôi với những chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội có thời hạn từ 12 tháng trở lên. Loại cho vay này ngày càng được NHTM quan tâm. Một mặt, chúng đáp ứng yêu cầu vay vốn trung và dài hạn của xã hội để mở mang ngành nghề sản xuất – kinh doanh, đầu tư và xây dựng cơ bản. Mặt khác, chúng cũng phù hợp với khả năng huy động vốn ngày một nhiều của NHTM.
    • Hoạt động đầu tư chứng khoán giúp NHTM sử dụng và khai thác tôi đa các nguồn vốn đã huy động. Tăng cường khả năng thanh khoản cho dự trữ của NHTM. Đồng thời nó cũng mang lại nguồn thu nhập cho NHTM.
    • Hoạt động ngân quỹ là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với khách hàng, nó bao gồm nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác và NHTW, tiền trong quá trình thu nhận. Mặc dù hoạt động ngân quỹ là hoạt động không sinh lời, nhưng lại rất quan trọng đối với NHTM bởi nó góp phần tăng cường khả năng thanh toán và chi trả đối với khách hàng.

    Các hoạt động khác.

    Đây là những hoạt động được thực hiện theo sự uỷ thác của khách hàng: Bảo lãnh thanh toán hộ tiền hàng, dịch vụ quản lý tài sản, cung cấp thông tin và tư vấn về kinh doanh, đầu tư và quản trị doanh nghiệp. Những hoạt động này có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng hoạt động tạo lập nguồn vốn kinh doanh, nâng cao hiệu quả của việc khai thác và sử dụng vốn.

    Vai trò của Ngân hàng thương mại (NHTM):

    • NHTM giúp cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư mở’ rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
    • Trong nền kinh tế thị trường để mở rộng được quy mô sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn lớn để đổi mới thiết bị và công nghệ lạc hậu, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Trong điều kiện đó, NHTM một mặt đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn thiếu hụt, cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động sản xuất kinh doanh.
    • Mặt khác, thông qua các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, tiền tệ, các NHTM hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. NHTM góp phần phân bố hợp lý các nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế.
    • Trong nền kinh tế thị trường, các NHTM một mặt góp phần hình thành, duy trì và phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu ngành và khu vực nhất định. Mặt khác, các NHTM góp phần điều chỉnh ngành, khu vực khi xuất hiện sự phát triển mất cân đối, hoặc khi cần có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thị trường. NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW.
    • Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về NHTW. Để thực thi chính sách tiền tệ phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường mở. Chính các NHTM là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của những công cụ này, và đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế. Mặt khác, cũng qua NHTM và các định chế Tài chính trung gian khác, tình hình sản lượng, giá cả, việc làm, nhu cầu tiền mặt, lãi suất, tỷ giá của nền kinh tế được phản hồi về cho NHTW, để Chính phủ và NHTW có những chính sách điều tiết thích hợp với từng tình hình cụ thể.

    Quá trình ra đời và phát triển của Ngân hàng ở Việt Nam:

    • Ở Việt Nam, trước khi Pháp đến nước ta, nhân dân hầu như không biết đến ngân hàng là gi, nền kinh tế trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nền sản xuất lớn chưa hình thành, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tại các làng xóm thường là hoạt động gia đình, sản xuất nhỏ, không cần nhiều vốn. Hoạt động thương mại trong nước cũng như quốc tế không có gì đáng kể. Dân trong nước còn nghèo nàn không dư tiền, không có bảo vật cần gửi tại các nơi chắc chắn, không có những vụ chuyển tiền ra nước ngoài. Do vậy, chưa cần thiết có các cơ quan làm những dịch vụ ngân hàng.
    • Từ giữa thế kỷ 19, Pháp tiến hành xâm lược nước ta và đến cuối thế kỷ 19, nước ta đã trở thành thuộc địa của Pháp. Ớ các đô thị của Việt nam, thực dân Pháp đã thành lập các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn, các nhà máy sản xuất lớn như nhà máy xi măng, nhà máy giấy, thuốc lá, sợi, đường, rượu, ngoài ra họ còn lập ra các đồn điền lớn, các trang trại lớn.
    • Các hoạt động kinh tế của người Pháp phát triển rất rộng, nên người Pháp phải lập ra các ngân hàng để hỗ trợ cho các hoạt động của họ. Lúc đầu, có hai ngân hàng của Pháp được thiết lập, có trụ sở đặt tại chính quốc, nhưng chi nhánh được đặt tại khắp các đô thị lớn ở Việt Nam như Ngân hàng Đông Dương, Pháp – Hoa Ngân hàng.
    • Ngân hàng Đông dương là cơ quan Tài chính lớn nhất của chính quyền và tài phiệt Pháp. Ngoài độc quyền phát hành tiền tệ như một Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Đông dương còn là một ngân hàng kinh doanh và thương mại lớn nhất – đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế của người Pháp ở Đông dương: Công ty hoả xa Hải Phòng – Vân Nam, công ty than Hồng Gai – Cẩm Phả, công ty rượu Đông Dương, công ty xi măng Hải Phòng, công ty sợi Nam Định, công ty đường Hiệp Hoà, công ty cao su Đất đỏ.
    • Ngân hàng quan trọng thứ hai của Pháp là Pháp – Hoa Ngân hàng được thành lập để hỗ trợ các việc giao dịch thương mại giữa Pháp, Đông Dương và Trung Quốc, và một vài nước Á Đông (Nhật, Thái lan.)
    • Ngoài các ngân hàng của Pháp, các nước châu Âu có quyền lợi kinh tế ở Á Đông, nhất là Anh, cũng thiết lập các ngân hàng tại các hải cảng Việt Nam (Sài Gòn, Hải Phòng) như: Các chi nhánh của hai ngân hàng The Chartered Bank và The Hongkong and Sanghai Banking Corporation (HSBC).
    • Trung Quốc cũng có mở tại các hải cảng Việt Nam chi nhánh các ngân hàng: Trung Quốc Ngân hàng và Giao thông Ngân hàng.
    • Như vây, từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 hoạt động ngân hàng đều ở trong tay người ngoại quốc.
    • Đến năm 1927, ở miền Nam Việt Nam, một nhóm kinh tế Tài chính Việt Nam mới lập tại Sài Gòn một ngân hàng, lấy tên là An Nam Ngân hàng với vốn hoàn toàn của người Việt Nam, hỗ trợ nhiều nhất cho các hoạt động nông nghiệp của Việt Nam. Nhờ tài quản lý giỏi, ngân hàng này tồn tại mãi cho đến năm 1975. Mãi về sau này, vào khoảng năm 1949 – 1950, một ngân hàng Việt Nam thứ hai được thành lập: Việt Nam Công Thương Ngân hàng. ,
    • Hai cuộc chiến tranh giành độc lập thông nhất đất nước kéo dài trong suốt 30 năm (từ năm 1945 đến 1975) đã tạo ra cục diện mới. Trên đất nước Việt Nam tồn tại hai hệ thống ngân hàng thuộc hai chế độ chính trị khác nhau. Một hệ thống ngân hàng của chính quyền cách mạng, một hệ thông ngân hàng của chính quyền thực dân Pháp và chính quyền Nam Việt Nam.
    • Hệ thông ngân hàng của chính quyền thực dân Pháp trước cách mạng tháng 8 năm 1945 được duy trì ở Việt Nam cho đến tháng 5 năm 1955 khi thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam. Từ tháng 5 năm 1955 đến tháng 4 năm 1975, chính quyền Nam Việt Nam đã tạo dựng được một hệ thống ngân hàng của nền kinh tế thị trường.
    • Đến giữa năm 1971, ỏ Miền Nam đã có 30 ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng Việt Nam lớn nhất là: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Việt Nam Thương tín (vốn của chính quyền Miền Nam), Việt Nam Công thương Ngân hàng, Sài Gòn Ngân hàng, Đại Nam Ngân hàng. Ngoài ra, một số Ngân hàng ngoại quốc cũng thiết lập các chi nhánh ở Việt Nam rihư: Bank of American, Chase Manhattan Bank, BangKok Bank, Bank of Tokyo. Hệ thống ngân hàng của chính quyền Miền Nam được phân chia thành hai cấp rõ rệt với Ngân hàng Quốc gia Việt nam đóng vai trò ngân hàng Trung ương, còn các ngân hàng khác thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng. Đến 30/4/1975, hệ thông ngân hàng của chính quyền Miền Nam sụp đổ hoàn toàn.
    • Hệ thống ngân hàng của nước ta đã được hình thành ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập với các định chế như: Nông nghiệp Tín dụng thuộc Bộ Canh nông (1945), Kinh tế Tín dụng thuộc Bộ Kinh tế (1945), Nha Tín dụng Sản xuất (1947).
    • Ngày 6 tháng 5 năm 1951, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập theo sắc lệnh số 15/LCT của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến tháng 9 năm 1960 được mang tên là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cùng với sự ra đời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một số ngân hàng khác cũng được thành lập như Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (1957).
    • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổ chức theo mô hình một cấp, vừa quản lý, vừa kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và thanh toán. Hộ thống ngân hàng không ngừng lớn mạnh góp phần quan trọng vào sự thắng lợi của hai cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và sự thống nhất đất nước.
    • Sau khi đất nước đã giành được độc lập thống nhất hoàn toàn, hệ thống ngân hàng đã trải qua nhiều thay đổi lớn về cơ cấu tổ chức cũng như về quy mô hoạt động. Đặc biệt là từ năm 1988, bằng Quyết định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), hai Pháp lệnh Ngân hàng (23/5/1990), Hệ thông Ngân hàng Việt Nam đã có sự chuyển đổi sâu sắc từ hệ thông ngân hàng một cấp của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thành hệ thống ngân hàng hai cấp của nền kinh tế thị trường. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ – tín dụng đối nội và đôi ngoại. Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng dưới sự quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đó là các ngân hàng thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau của Việt Nam, của nước ngoài, hoặc đồng sở hữu của Việt Nam và nước ngoài, thực hiện toàn diện hay một vài nghiệp vụ ngân hàng với nhiều tên gọi rất phong phú.
    • Sau khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (2007), hệ thống ngân hàng đã có bước phát triển vượt bậc và là lĩnh vực mở cửa hội nhập đầu tiên. Hiện nay, về mặt quản lý nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có 63 chi nhánh ngân hàng đặt tại 63 tỉnh thành phố.

    Theo Luật các Tổ chức Tín dụng có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011, ở Việt Nam có các tổ chức tín dụng ngân hàng sau:

    • Các ngân hàng thương mại thuộc các hình thức sở hữu vốn: nhà nước, cổ phần, liên doanh,… loại hình ngân hàng thương mại ở nước ta phát triển khá nhanh.
    • Các ngân hàng chính sách như: Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
    • Các tổ chức tín dụng nước ngoài: Văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính liên doanh….
    • Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của các quỹ tín dụng nhân dân, do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng, nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thông, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân.

    Theo Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam bổ sung sửa đổi năm 2010 và có hiệu lực từ 01/01/2011 thì:

    Các tổ chức tài chính phỉ ngân hàng: Là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động như là nội dung kinh doanh thường xuyên của ngân hàng nhưng không được nhận tiền gửi của cá nhân, không làm dịch vụ thanh toán qua tài khoản của ngân hàng.

    Phân loại

    Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm:

    • Các công ty bảo hiểm
    • Các quỹ trợ cấp
    • Các công ty tài chính.
    • Các quỹ đầu tư.
    • Các công ty chứng khoán.

    Trong nền kinh tế của chúng ta, các tổ chức Tài chính phi ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc khơi các nguồn vốn tương tự một ngân hàng, từ những người cho vay – những người tiết kiệm tới những người vay – những người chi tiêu. Ngày nay, các tổ chức Tài chính phi ngân hàng cạnh tranh trực tiếp hơn với các ngân hàng qua các dịch vụ tương tự như hoạt động ngân hàng.

    Nội dung hoạt động của một số tổ chức Tài chính phi ngăn hàng chủ yếu

    Các công ty bảo hiểm thương mại:

    Hàng ngày, chúng ta phải đối mặt với khả năng xảy ra những tai họa nào đó có thể đưa đến các tổn thất Tài chính lớn. Những tổn thất này có thể là rất lớn so với khá năng Tài chính của chúng ta, để bảo vệ chính bản thân chúng ta cần mua một hợp đồng bảo hiểm với công ty Bảo hiểm. Hợp đồng đó sẽ thanh toán cho chúng ta một khoản tiền nếu các tai họa xảy ra.

    Các nguyên tắc quản lý bảo hiểm thương mại:

      Sàng lọc: Các công ty bảo hiểm cố gắng sàng lọc những người ít có khả năng bị rủi ro khỏi những người có nhiều khả năng bị rủi ro. Do vậy các phương thức tập hợp thông tin có hiệu quả là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý bảo hiểm.

    Dựa vào những thông tin thu thập được, công ty bảo hiểm có thể quyết định chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu bảo hiểm của khách hàng, vì nếu đưa ra một bảo hiểm rủi ro quá lớn sẽ là một khách hàng không có lợi nhuận đô’i với công ty bảo hiểm này.

    • Phí bảo hiểm rủi ro: Đối với công ty bảo hiểm, việc thu phí bảo hiểm trên cơ sở mức độ rủi ro của một người được bảo hiểm là một nguyên tắc quản lý bảo hiểm đúng đắn.
    • Những điều khoản hạn chế: Đây là một công cụ quản lý để giảm bớt rủi ro đạo đức. Các điều khoản hạn chế có thể đòi hỏi một thái độ cư xử nào đó về phía người được bảo hiểm để cho một khiếu nại đòi bồi thường khó có thể xảy ra.
    • Việc phòng ngừa gian lận: Các công ty bảo hiểm cũng đôi mặt với rủi ro đạo đức, bởi vì một cá nhân bảo hiểm có thể muốn gian dối công ty và tìm cách có một khiếu nại đòi bồi thường cho dù khiếu nại này không có căn cứ. Như vậy, một nguyên tắc quản lý quan trọng cho những công ty bảo hiểm là thực hiện những cuộc điều tra ngăn ngừa gian lận, để chỉ những người khiếu nại có căn cứ mới nhận được bồi thường.
    • Hủy bỏ bảo hiểm: Một công cụ quản lý bảo’hiểm khác, là sẵn sàng hủy bỏ các hợp đồng. Các công ty bảo hiểm có thể kiềm chế rủi ro đạo đức nếu họ đe dọa sẽ hủy bỏ hợp đồng, trong trường hợp người đang được bảo hiểm có những hoạt động dễ gây ra các khiếu nại đòi bồi thường.
    • Khoản khấu trừ: Là một khoản tiền cố định được khấu trừ bớt từ tổn thất của người được bảo hiểm khi được thanh toán. Khoản khấu trừ là một công cụ quản lý hỗ trợ cho các công ty bảo hiểm giảm rủi ro đạo đức, khoản khâu trừ là phần mà người được bảo hiểm sẽ phải gánh chịu một tổn thất cùng với công ty bảo hiểm khi khiếu nại đòi bồi thường được thực hiện.

    Những giới hạn của Số tiền bảo hiểm:

    Một nguyên tắc quan trọng khác của việc quản lý bảo hiểm là phải có những giới hạn đối với số tiền bảo hiểm phải trả cho khách hàng, vì tiền bồi thường bảo hiểm càng lớn thì người được bảo hiểm càng dễ tham gia hơn trong các hoạt động rủi ro, khiến cho việc thanh toán bảo hiểm dễ xảy ra và do đó rủi ro đạo đức lớn hơn. Các công ty bảo hiểm phải bảo đảm rằng tiền bồi thường bảo hiểm của họ không cao đến mức để rủi ro đạo đức dẫn đến các tổn thất lớn.

    Các loại công ty bảo hiểm:

    Các công ty bảo hiểm sinh mạng: Công ty bảo hiểm sinh mạng đầu tiên ở Mỹ (Presbyterian Ministers’ Fund ở Philadelphia) được thiết lập năm 1759 và hiện còn tồn tại. Hiện có khoảng 2000 công ty bảo hiểm sinh mạng ở Mỹ được tố chức theo hai dạng:

    • Một dạng là các công ty cổ phần: Do các cổ đông sở hữu.
    • Một dạng là công ty bảo hiểm tương trợ: Do những người có hợp đồng bảo hiểm sở hữu.

    Có hai dạng hợp đồng bảo hiểm sinh mạng chủ yếu là:

    • Bảo hiểm sinh mạng thường xuyên (như bảo hiểm sinh mạng toàn vẹn, bảo hiểm sinh mạng thay đổi…).
    • Bảo hiểm sinh mạng nhất thời (ví dụ như bảo hiểm theo kỳ hạn). Các hợp đồng bảo hiểm sinh mạng lâu dài có phí bảo hiếm không thay đổi trong toàn bộ thời gian sống của hợp đồng đó.

    Ngược lại, bảo hiểm có kỳ hạn có một mức phí bảo hiểm được giữ cho tương xứng hàng năm với số tiền cần thiết để bảo hiểm đề phòng tử vong trong thời gian của kỳ hạn (ví dụ một năm hoặc năm năm).

    Các công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn:

    Các công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn được tổ ohức giống như các công ty cổ phần và công ty tương trợ, các công ty này hoạt động theo cách tương tự như các công ty bảo hiểm sinh mạng. Trong những năm gần đây, các công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn đã không làm ăn trôi chảy, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2007 và lạm phát gần đây.

    Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn sẽ bảo hiểm đề phòng các tổn thất do hầu hết mọi bất trắc mang lại như cháy nổ, mất trộm, động đất, tai nạn xe hơi… Nếu một tổn thất nào đó có thể được bảo hiểm là quá lớn đổi với một công ty nào đó, thì thường một vài công ty sẽ cộng tác với nhau phát hành một hợp đồng bảo hiểm đế’ chia phần gánh chịu rủi ro.

    Các quỹ trợ cấp;

    Ở các nước phát triển trên thế giới trong việc thực hiện chức năng trung gian Tài chính, các quỹ trợ cấp sẽ thanh toán tiền thu nhập hưu trí cho người dân. Những người thuê nhân công, các tổ chức hoặc các cá nhân có thể đề ra những chương trình trợ cấp, các chương trình này thu nhận tiền vcm do các người tham dự chương trình đó nộp vào. Tuy mục đích của tất cả các chương trình trợ cấp là như nhau, các chương trình này có thể khác nhau theo một số các đặc tính:

    • Thứ nhất, là điều kiện để thuộc vào chương trình, tức là số thời gian mà một cá nhân phải được ghi tên vào chương trình trợ cấp đó (do là một thành viên của một liên hiệp hoặc do là một người làm thuê cho một công ty) trước khi được quyền nhận trợ cấp. Nói chung các công ty đòi hỏi một người làm thuê làm việc năm năm cho công ty, trước khi người đó được coi là đủ điều kiện thuộc về một chương trình và có thể nhận các trợ cấp, nếu người làm thuê đó rời bỏ công ty đó trước khi đủ năm nâ..i, dù là tự ý ra đi hoặc bị thải hồi, tất cả quyền hưởng trợ cấp bị mất.
    • Thứ hai, là phương pháp thanh toán, nếu các khoản trợ cấp được xác định bằng các khoản đóng góp vào chương trình và các khoản thu nhập, thì sự trợ cấp này là một chương trình đóng góp được định rõ; nếu các khoản tiền thanh toán thu nhập tương lai (các khoản trợ cấp, được đề ra từ trước), thì sự trợ cấp này là một chương trình trợ cấp được định rõ.

    Một chương trình trợ cấp được định rõ, gọi là được cấp vốn đủ nếu các khoản đóng góp vào chương trình này và các khoản thu nhập của chúng qua các năm đủ để thanh toán các khoản trợ cấp khi đến hạn thanh toán. Nếu các khoản đóng góp và các khoản thu nhập không đủ, thì chương trình như vậy được gọi là chương trình được cấp vốn thiếu.

    Các chương trình trợ cấp riêng

    • Các chương trình trợ cấp riêng được quản lý bởi một ngân hàng, một công ty bảo hiểm sinh mạng, hoặc một người quản lý quỹ trợ cấp. Trong các chương trình trợ cấp do những tô chức tuyển dụng nhân viên đỡ đầu, các khoản đóng góp thường được chia sẻ giữa tổ chức và nhân viên của tổ chức đó. Một sự hấp dẫn về thuế quan trọng đối với các chương trình này ở điểm là những khoản đóng góp của tổ chức tuyển dụng là những khoản được khấu trừ thuế.
    • Các chương trình trợ cấp của nhiều công ty là các chương trình được cấp vốn thiếu, bởi vì họ dự tính sẽ thanh toán hết nghĩa vụ trợ cấp của họ từ các khoản thu nhập hiện hành khi các khoản trợ cấp đến hạn thanh toán. Khi nào các công ty còn có đủ thu nhập, việc cấp vốn thiếu không gây ra vấn đề gì, nhưng việc này không luôn như vậy, do các khó khăn tiềm ẩn trong việc cấp vốn thiếu của công ty, do quản lý yếu kém, do các thủ đoạn gian lận, và do những lạm dụng khác của các quỹ trợ cấp riêng gây ra.

    Các chương trình trợ cấp công cộng

    • Chương trình trợ cấp công cộng quan trọng nhất là bảo hiểm xã hội, nó bảo hiểm cho hầu hết mọi cá nhân làm thuê cho giới tư nhân. Vốn thu được từ những séc thanh toán và từ thuế theo bảng lương của các chủ thuê nhân công. Các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội bao gồm tiền thu nhập hưu trí, tiền thanh toán y tế và trợ giúp người tàn tật.
    • Ở Việt Nam quỹ Bảo hiểm Xã hội mang tính chất là quỹ tài chính công, do cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam quản lý theo quy định của Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2006 có hiệu lực từ 01/01/2007 và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ

    Các công ty Tài chính:

    • Các công ty này thu vốn bằng cách phát hành thương phiếu, cổ phiếu, trái phiếu và dùng tiền thu được để cho vay, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Quá trình trung gian Tài chính của các công ty Tài chính có thê’ được mô tả bằng cách: họ vay những món tiền lớn nhưng lại thường cho vay những món tiền nhỏ. Quá trình này hoàn toàn ngược lại với quá trình của những ngân hàng thương mại, các ngân hàng này phát hành các món tiền gửi với số lượng tiền nhỏ và sau đó thường cho vay với món tiền lớn.
    • Một đặc điểm then chốt của các công ty Tài chính so với các ngân hàng và các tố chức tiết kiệm là ở điểm họ gần như không bị điều tiết. Họ điều tiết số tiền khổng lồ mà họ có thể cho các cá nhân người tiêu dùng vay và các hạn kỳ của những hợp đồng nợ, nhưng không có một hạn chế nào về việc mở chi nhánh, về những tài sản có mà họ nắm giữ và họ thu nhận vốn. Việc không có các hạn chế giúp cho các công ty Tài chính có thê làm các khoản cho vay của họ phù hợp một cách tốt hơn với những nhu cầu của khách hàng so với các tổ chức ngân hàng.

    Có ba dạng công ty Tài chính:

    • Các công ty Tài chính người tiêu dùng thực hiện các khoản cho vay cho người tiêu dùng để mua những món hàng riêng, ví dụ như đồ đạc và các dụng cụ gia đình đế cải thiện nhà cửa hoặc để giúp thanh toán những món nợ nhỏ. Các công ty Tài chính người tiêu dùng là các công ty riêng biệt (như Household Finance Corporation) hoặc do các ngân hàng sở hữu (Citicorp sở hữu Person- to-Person Finance Company, họ có các văn phòng hoạt động ở khắp nơi). Nói chung, các công ty này cho những người tiêu dùng vay khi họ không có tín dụng từ những nguồn khác và thu các lãi suất cao hơn.
    • Các công ty Tài chính kinh doanh cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt cho các doanh nghiệp bằng cách mua nhừng khoản tiền sẽ thu (các hóa đơn nợ cua hãng) có chiết khấu, việc cung cấp tín dụng này được gọi là bao thanh toán. Ví dụ, một hãng may quần áo có thể có những hóa đơn chưa thanh toán 100.000 dollar cho các cửa hàng bán lẻ nợ (các cửa hàng bán lẻ này đã tnua quần áo của hãng đó). Nếu hãng đó cần tiền mặt để mua 100 máy khâu lớn, nó có thể bán các khoản tiền sẽ thu đó cho một công ty Tài chính, ví dụ với giá 90.000 dollar, công ty Tài chính này bây giờ được quyền đòi 100.000 dollar tiền nợ đó ở các cửa hàng bán lẻ nói trên. Ngoài việc bao thanh toán, các công ty Tài chính kinh doanh cũng chuyên môn hóa trong việc cho thuê thiết bị (ví dụ như các toa xe, các máy bay, các computer), là những tài sản họ mua và sau đó cho các nhà kinh doanh thuê một số năm.

    Các quỹ đầu tư (quỹ ủy thác đầu tư, quỹ tương trợ)

    • Khái niệm: Quỹ đầu tư (hay còn gọi là công ty ủy thác đầu tư, hay còn gọi quỹ tương trợ) là tổ chức Tài chính phi ngân hàng, thực hiện việc huy động vốn của người tiết kiệm thông qua việc bán các chứng chỉ góp vốn và dùng số tiền thu được chủ yếu dể đầu tư chứng khoán…
    • Mục tiêu của quỹ đầu tư là tăng trưởng vốn, tức là tăng giá thị trường của tài sản có, làm cho giá trị của mồi cổ phần tăng lên so với giá trị ban đầu. Tùy theo luật pháp và tập quán mà quỹ đầu tư có thể là quỹ đóng hay quỹ mở: quỹ đầu tư dạng mở là quỹ có thể phát hành liên tục cố phiếu (chứng chỉ đầu tư) ra công chúng và người đầu tư có quyền bán lại các chứng khoán cho quỹ, và quỹ sẵn sàng mua lại cố phiếu của cố đông bất cứ lúc nào, với giá được xác định theo giá tài sản ròng của cổ phiếu quỹ, cả giá mua lại và giá ban đầu đều gắn liền với giá trị tài sản có của quỹ tại thời điểm mua bán, số vốn của quỹ không ngừng thay đổi. Với quỹ đầu tư mở, các cổ phiếu quỹ có tính thanh khoản cao hơn trên thị trường chứng khoán. Quỹ đầu tư dạng đóng chỉ phát hành duy nhất một lần cổ phiếu quỹ đầu tư ra công chúng, và người đầu tư không có quyền bán lại cổ phiếu quỹ đầu tư cho quỹ, trước thời hạn kết thúc hay giải thể. Điều này có nghĩa là các nhà đầu tư không thể rút vốn ra khỏi quỹ, và quỹ cũng không có nghĩa vụ mua lại các chứng chỉ đã phát hành. Tuy nhiên, các nhà đầu tư muốn có vốn có thể bán lại các cổ phiếu quỹ trên thị trường chứng khoán.
    • Một trong những quỹ quan trọng của quỹ tương trợ là quỹ tương trợ thị trường tiền tệ. Loại quỹ này đầu tư vào các công cụ nợ ngắn hạn có chất lượng rất cao. Ví dụ như: Các tín phiếu kho bạc, thương phiếu và giấy chứng nhận tiền gửi của ngân hàng…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Loại Hình Trung Gian Tài Chính Hiện Nay
  • Cic Là Gì? Nợ Xấu Là Gì? Những Liên Quan Đến Cic
  • Những Câu Đố 20/10, Tổng Hợp Đố Vui 20 Tháng 10, Phụ Nữ Việt Nam
  • Tổng Hợp Các Câu Hỏi
  • 30 Câu Hỏi Và Trả Lời Phỏng Vấn Vị Trí Quản Lý Chất Lượng
  • Các Loại Hình Trung Gian Tài Chính Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Khái Niệm, Chức Năng Và Phân Loại Các Tổ Chức Tài Chính Trung Gian
  • Công Bố Quyết Định Hợp Nhất Ban Tổ Chức Huyện Ủy Và Phòng Nội Vụ Huyện
  • Phím Tắt Ctrl V, Ctrl C, Ctrl X Là Gì? Copy, Paste, Cut Trong Word, Wi
  • 5 Tổ Hợp Phím Tắt Trên Máy Tính Mà Bạn Cần Phải Nhớ
  • Tổ Hợp Phím Ctrl+O Dùng Để:
  • Các trung gian tài chính là những tổ chức hay cá nhân đứng giữa hai hay nhiều bên tham gia vào thị trường tài chính. Trung gian tài chính thường có một bên chuyên cung cấp sản phẩm, dịch vụ, một bên là khách hàng hay người tiêu dùng

    I. Các tổ chức nhận tiền gửi (Depository Institutions)

    Các tổ chức nhận tiền gửi là các trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vay trực tiếp. Không chỉ có vai trò quan trọng trong kênh tài chính gián tiếp các tổ chức này còn tham gia vào quá trình cung ứng tiền cho nền kinh tế.

    Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất hiện nay. Các ngân hàng thương mại huy động vốn chủ yếu dưới dạng: Tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn . Vốn huy động được dùng để cho vay: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay bất động sản và để mua chứng khoán chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương

    Ngân hàng thương mại kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng ngắn hạn, tuy nhiên gần đây nhờ nguồn vốn huy động dồi dào nó bắt đầu vươn sang lĩnh vực tín dụng trung và dài hạn. Ngoài ra ngân hàng thương mại còn cung cấp các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và buôn bán ngoại tệ.

    Ngân hàng thương mại dù ở quốc gia nào cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn nhất.

    Đây cũng là các trung gian tài chính mà các chủ thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất.

    Các hiệp hội này xuất hiện khá phổ biến ở Mỹ từ những năm 50. Nguồn vốn chủ yếu của các hiệp hội này là các khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn.

    Phần còn lại (khoảng 20 – 30%) thì vay từ các nguồn khác và vay của chính quyền địa phương hay trung ương. Tiền vốn thu được chủ yếu để cho vay bất động sản với thời hạn dài. Sự khác biệt về phạm vi hoạt động giữa các hiệp hội tiết kiệm và cho vay với các ngân hàng thương mại hầu như không đáng kể.

    Chúng đã trở thành những đối thủ cạnh tranh đáng gờm của các ngân hàng thương mại trong nhiều lĩnh vực. Tự học xuất nhập khẩu

    Ngân hàng tiết kiệm được thành lập với mục đích huy động các khoản tiền tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội. Chủ nhân của các ngân hàng tiết kiệm cũng chính là những người gửi tiền tiết kiệm. Khởi đầu có một nhóm người đứng ra khởi xướng thành lập ngân hàng. Sau khi tạm đủ số người hưởng ứng, họ họp đại hội cổ đông, soạn thảo ra điều lệ hoạt động và xin giấy phép thành lập. Những cổ đông này hầu hết là người bỏ những khoản tiền tiết kiệm đầu tiên vào để tạo thành vốn hoạt động của ngân hàng. Kể từ đó về sau, mỗi khi có thêm khoản tiền tiết kiệm mới, họ lại tiếp tục gửi vào ngân hàng và khi cần có tiền để kinh doanh hoặc tiêu dùng, họ lại đi vay từ chính ngân hàng đó. Có một điều cần chú ý là ngân hàng không mở rộng thêm cổ đông, do đó những người tham gia gửi tiền tiết kiệm sau này sẽ là khách hàng chứ không phải là chủ nhân. Hàng năm lợi tức của ngân hàng nếu không nhập vào tài sản của ngân hàng thì sẽ được chia cho những người gửi tiết kiệm và sáng lập ra ngân hàng.

    Phương thức hoạt động của ngân hàng tiết kiệm mang tính tương trợ là chủ yếu, chứ không như ngân hàng thương mại là nhằm mục đích kinh doanh là chính

    Vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng tiết kiệm là từ tiền gửi tiết kiệm của dân chúng hoặc là vốn đóng góp của các nhà hảo tâm với tính chất hỗ trợ người nghèo là chính hơn là đóng góp để kiếm lời. Loại ngân hàng này không phát hành các công cụ nợ để vay vốn của công chúng và cũng hầu như không vay của các tổ chức nước ngoài hay NHTW, trừ trường hợp đặc biệt thiếu tiền mặt.

    Do tính chất đặc biệt của vốn huy động, các ngân hàng tiết kiệm cho vay rất thận trọng.

    Ở Việt nam không có ngân hàng tiết kiệm riêng biệt, hầu như tất cả các ngân hàng thương mại đều có bộ phận quỹ tiết kiệm để huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư nhằm hình thành nguồn vốn chung của ngân hàng thương mại.

    Quỹ tín dụng là một trung gian tài chính, được thành lập theo hình thức góp vốn cổ phần và hoạt động theo nguyên tắc tập thể, tự nguyện, hợp tác và bình đẳng. Các thành viên của quỹ góp tiền vào quỹ dưới hình thức mua các thẻ thành viên (tương tự như cổ phiếu) có mệnh giá bằng nhau.

    Sau đó, họ cùng nhau bầu ra người quản lý. Các thành viên của quỹ sẽ được hưởng quyền vay tiền của quỹ khi cần. Khi cần thêm vốn, quỹ lại phát hành thêm thẻ thành viên và tiếp nhận thêm những thành viên mới. Thông thường quỹ không cho người ngoài vay tiền.

    Ngoài cho các thành viên vay, quỹ cũng có thể đầu tư vào chứng khoán.

    Theo Điều 64 Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng hợp tác được huy động vốn của các thành viên và của các tổ chức cá nhân để cho các thành viên vay. Việc cho các đối tượng không phải là thành viên vay phải được

    Đại hội thành viên hoặc Đại hội đại biểu chấp thuận và không được vượt quá tỷ lệ tối đa do Ngân hàng Nhà nước quy định”.

    II. Các công ty tài chính (Finance companies)

    Các trung gian tài chính này huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu, hay thương phiếu. Các công ty tài chính cung ứng chủ yếu các loại tín dụng trung hạn và dài hạn

    Nếu như hoạt động của các ngân hàng thương mại chủ yếu là tập hợp các khoản tiền gửi nhỏ để cho vay các khoản tiền lớn, thì các công ty tài chính lại huy động những khoản tiền lớn rồi chia ra để cho vay những khoản nhỏ. Một điểm khác biệt nữa là công ty tài chính không được huy động các dạng tiền gửi như như ngân hàng thương mại cũng như không được thực hiện các dịch vụ thanh toán.

    Trên thế giới có ba loại hình công ty tài chính chủ yếu sau:

    + Công ty tài chính bán hàng (Sale finance company): Các công ty tài chính này gián tiếp cấp tín dụng cho người tiêu dùng để mua các món hàng từ một nhà bán lẻ hoặc từ một nhà sản xuất nào đó. Tín dụng được cấp dưới hình thức: các doanh nghiệp bán hàng trả góp cho khách hàng theo hợp đồng mẫu do công ty tài chính loại này cung cấp, sau đó hợp đồng được bán lại cho công ty tài chính. Như vậy khoản nợ của khách hàng với nhà sản xuất hoặc nhà bán lẻ đã chuyển thành khoản nợ của khách hàng đối với công ty tài chính. Các công ty tài chính loại này thường do các công ty sản xuất hay các nhà phân phối bán lẻ thành lập nên nhằm hỗ trợ cho hoạt động tiêu thụ hàng hoá của mình.

    + Công ty tài chính tiêu dùng (Consumer finance company): Công ty tài chính loại này cung ứng phần lớn nguồn vốn của mình cho các gia đình và cá nhân vay vào mục đích mua sắm hàng hoá tiêu dùng như các đồ đạc nội thất (giường, tủ…) và các đồ gia dụng (tủ lạnh, máy giặt…) hoặc sửa chữa nhà cửa. Hầu hết các khoản cho vay đều được trả góp định kỳ. Một cách cho vay khác là cấp thẻ tín dụng cho khách hàng để họ mua sắm ở hệ thống cửa hàng bán lẻ. Do các khoản vay của loại công ty tài chính này khá rủi ro nên công ty thường chỉ cho vay những khoản tiền nhỏ và với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường. Khách hàng của các công ty tài chính tiêu dùng vì vậy cũng thường là những người không thể tìm được khoản tín dụng từ những nguồn khác và do vậy họ thường phải chịu lãi suất cao hơn thông thường. Các công ty tài chính loại này có thể do các ngân hàng thành lập nên hoặc hoạt động độc lập dưới hình thức công ty cổ phần.

    + Công ty tài chính kinh doanh (Business finance company): Công ty tài chính loại này cấp tín dụng cho các doanh nghiệp dưới các hình thức như: Bao thanh toán – Công ty cấp tín dụng dưới hình thức mua lại các khoản phải thu của doanh nghiệp; Cho thuê tài chính – Công ty cấp tín dụng dưới hình thức mua các máy móc thiết bị mà khách hàng yêu cầu rồi cho khách hàng thuê; v.v…

    Các khoản phải thu thường là tiền bán trả chậm hàng hoá hay dịch vụ. Do cần tiền ngay, các doanh nghiệp ký kết trước với công ty tài chính một hợp đồng trong đó công ty tài chính sẽ mua lại với giá chiết khấu tất cả các khoản thu chưa đến hạn thanh toán của mình phát sinh trong một khoảng thời gian nhất định.

    Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là công ty tài chính thuê mua với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê, các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng. Trong nghiệp vụ cho thuê tài chính, bên cho thuê sẽ mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê. Bên thuê có nghĩa vụ bảo dưỡng, sửa chữa tài sản thuê trong thời hạn thuê và không được dùng tài sản thuê để cầm cố, thế chấp hoặc để bảo đảm cho bất kỳ một nghĩa vụ tài chính nào.

    Do nhu cầu chuyên môn hoá, trên thực tế còn xuất hiện các công ty tài chính chuyên hoạt động trong lĩnh vực bao thanh toán hay cho thuê tài chính

    III. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng (Contractual Savings Instutions)

    Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng là những trung gian tài chính thu nhận vốn theo định kỳ trên cơ sở các hợp đồng đã ký kết với khách hàng. Do số tiền và thời gian phải thanh toán có thể dự đoán được khá chính xác nên các trung gian tài chính này có xu hướng đầu tư số vốn thu nhận được vào các tài sản có tính lỏng thấp, đặc biệt là các chứng khoán dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu hoặc các khoản vay trả góp mua bất động sản.

    Công ty bảo hiểm có chức năng chủ yếu là cung cấp phương tiện để bảo vệ các hộ gia đình hoặc các hãng kinh doanh trước những tổn thất về tài chính do những rủi ro nhất định gây ra thông qua việc cung cấp các hợp đồng bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người mua một khoản tiền nhất định trong trường hợp xảy ra rủi ro.

    Các rủi ro được bảo hiểm bao gồm các tai nạn, mất trộm, cháy, ốm đau, mất khả năng làm việc, chết.

    Các công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm để thành lập nên quỹ bảo hiểm phục vụ cho mục đích bồi thường. Do hầu hết các khoản phí bảo hiểm đều được thu hết trước khi bồi thường nên công ty bảo hiểm có một khoảng thời gian từ dưới 1 năm cho tới hàng chục năm để sử dụng quỹ bảo hiểm. Tiền trong quỹ bảo hiểm khi chưa dùng để bồi thường sẽ được đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản hoặc thực hiện các hoạt động đầu tư tài chính khác như góp vốn liên doanh, thành lập công ty chứng khoán, cung cấp các khoản tín dụng trực tiếp…

    Các quỹ trợ cấp hưu trí được thành lập với mục đích giúp cho người lao động khi về hưu có được những khoản thu nhập ổn định thông qua cung cấp các chương trình lương hưu

    Các chương trình lương hưu này quy định những khoản đóng góp định kỳ của những người tham gia vào chương trình trong thời gian những người này còn đang làm việc để khi về hưu họ sẽ được nhận tiền trợ cấp hưu trí được trả một lần khi về hưu hoặc trả định kỳ đều đặn cho đến khi chết.

    Các chương trình lương hưu không chỉ được đóng góp bởi những người lao động mà cả các chủ thuê lao động và thậm chí cả chính phủ.

    Hoạt động của các quỹ hưu trí không chỉ đảm bảo khoản thu nhập thường xuyên ổn định cho những người về hưu mà còn góp phần lưu chuyển vốn nhàn rỗi đến những nơi có nhu cầu về vốn.

    Các chương trình lương hưu được chia làm hai loại:

    • Loại căn cứ vào mức độ đóng góp: là chương trình lương hưu trong đó số tiền nhận được của những người tham gia phụ thuộc vào số tiền đã đóng góp và khoản tiền lời từ việc đầu tư các khoản đóng góp đó.
    • Loại căn cứ vào mức độ trợ cấp: là chương trình lương hưu trong đó số tiền người tham gia được hưởng khi về hưu được xác định không căn cứ vào mức độ đóng góp mà vào thời gian làm việc và mức lương của người đó. Loại chương trình này có hạn chế là có thể xảy ra trường hợp số tiền mà người tham gia đóng góp không đủ để trả cho số tiền mà họ sẽ nhận được sau khi về hưu.

    Ngoài ra, các chương trình lương hưu còn quy định thời gian tối thiểu phải tham gia đóng góp hoặc số năm tối thiểu phải làm việc tại một công ty để được nhận lương hưu từ quỹ trợ cấp hưu trí của công ty đó.

    Sự phát triển của các quỹ trợ cấp hưu trí nhận được sự hỗ trợ tích cực từ phía chính phủ thông qua các chính sách ưu đãi về thuế.

    Các quỹ trợ cấp hưu trí hoạt động dưới hai hình thức sau:

    Các chương trình trợ cấp hưu trí tư nhân: Các chương trình này do các công ty thành lập nhằm mục đích hỗ trợ cho những người lao động trong công ty. Các chương trình này sẽ do một ban quản lý quỹ chịu trách nhiệm điều hành bao gồm các hoạt động thu tiền đóng góp, chi trả lương hưu và thực hiện việc đầu tư bằng nguồn vốn quỹ. Các chương trình này cũng có thể được uỷ thác cho ngân hàng hoặc công ty bảo hiểm nhân thọ quản lý.

    Các chương trình trợ cấp hưu trí công cộng: Các chương trình này còn có tên gọi khác là Bảo hiểm xã hội. Hầu hết tất cả những người lao động và chủ thuê lao động bị bắt buộc phải tham gia chương trình này. Phần đóng góp được xác định trên cơ sở mức lương của người lao động. Người lao động và chủ thuê lao động sẽ chia nhau đóng góp.

    Bảo hiểm xã hội không chỉ chi trả lương hưu mà cả chi phí khám chữa bệnh và trợ cấp mất sức lao động. Cũng như các chương trình trợ cấp hưu trí tư, các chương trình trợ cấp hưu trí công đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt tiền để chi trả do những khoản chi trả bảo hiểm xã hội không hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ đóng góp trước đây của người hưởng lợi cũng như do tỷ lệ người già tăng nhanh trong xã hội. Thực tế này đòi hỏi nhiều nước phải cải cách các chương trình

    Bảo hiểm xã hội theo hướng tư nhân hoá hoặc đa dạng hoá hình thức đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro hơn nhưng mức sinh lời cao hơn như cổ phiếu và trái phiếu công ty.

    III. Các trung gian đầu tư (Investment intermediaries)

    Các trung gian đầu tư là các trung gian tài chính chuyên hoạt động trong lĩnh vực đầu tư.

    Chức năng chủ yếu của các ngân hàng đầu tư là giúp đỡ các doanh nghiệp, chính phủ huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán. Các ngân hàng đầu tư còn hỗ trợ cho việc hợp nhất giữa các công ty hoặc giúp một công ty này mua lại một công ty khác

    Các ngân hàng đầu tư hỗ trợ cho việc phát hành chứng khoán thông qua các hoạt động:

    • Trước tiên là tư vấn cho các công ty nên phát hành cổ phiếu hay trái phiếu để huy động vốn, nếu phát hành trái phiếu thì nên phát hành với thời hạn bao lâu, lãi suất của trái phiếu ở mức nào?
    • Một khi các công ty quyết định xong về loại chứng khoán sẽ phát hành, các ngân hàng đầu tư sẽ đứng ra bảo lãnh đợt phát hành chứng khoán (underwrite the securities), tức là cam kết sẽ mua các chứng khoán với một mức giá xác định, rồi sau đó đem bán ra thị trường thứ cấp.

    Ở Việt nam, các ngân hàng thương mại cũng không được phép trực tiếp tham gia vào hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán nhưng được phép thành lập các công ty chứng khoán hoạt động độc lập để thực hiện các hoạt động như các ngân hàng đầu tư.

    Nếu như các ngân hàng đầu tư hỗ trợ cho các công ty lớn huy động vốn thì các công ty đầu tư mạo hiểm chuyên hỗ trợ cho các doanh nghiệp mới thành lập. Các doanh nghiệp này không chỉ thiếu về vốn mà cả kinh nghiệm quản lý. Vì vậy các công ty đầu tư mạo hiểm không chỉ giúp họ huy động vốn mà còn cung cấp các dịch vụ tư vấn.

    Các công ty đầu tư mạo hiểm sẽ rót vốn của mình vào doanh nghiệp và giúp đỡ ban giám đốc điều hành công ty phát triển đến một mức độ nhất định, có thể phát hành cổ phần trực tiếp ra thị trường. Khi đó công ty đầu tư mạo hiểm sẽ bán số cổ phần mà mình nắm giữ ra công chúng rồi chuyển sang một dự án đầu tư mạo hiểm khác.

    Bên cạnh các quỹ đầu tư tương hỗ đầu tư vào cả cổ phiếu và trái phiếu, còn xuất hiện các quỹ chuyên đầu tư vào từng loại chứng khoán

    • Các quỹ đầu tư mở (open-end fund) liên tục phát hành thêm chứng chỉ đầu tư mới khi có người muốn đầu tư vào quỹ hoặc hoàn lại vốn cho các chứng chỉ cũ theo giá trị tài sản ròng của chúng. Giá trị tài sản ròng của mỗi chứng chỉ đầu tư của quỹ đầu tư mở bằng tổng giá trị thị trường của các chứng khoán mà quỹ đó nắm giữ chia cho tổng số chứng chỉ đã phát hành của quỹ.
    • Các quỹ đầu tư đóng chỉ huy động vốn một lần từ các nhà đầu tư trong lần phát hành chứng chỉ đầu tư ra công chúng lúc thành lập. Quỹ đầu tư đóng không phát hành thêm chứng chỉ đầu tư để huy động thêm vốn và cũng không chấp nhận hoàn vốn cho các chứng chỉ này. Các chứng chỉ đầu tư của quỹ đầu tư đóng được mua bán trên thị trường như các cổ phiếu thường. Khác với chứng chỉ đầu tư của quỹ đầu tư mở, giá của các chứng chỉ của quỹ đầu tư đóng có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị tài sản ròng của chúng, tuỳ thuộc vào các yếu tố như tính lỏng của các chứng chỉ này và trình độ quản lý quỹ.

    Các quỹ đầu tư này hoạt động tương tự như các quỹ đầu tư tương hỗ trên thị trường vốn. Điểm khác biệt là đối tượng đầu tư của các quỹ này là các công cụ tài chính có chất lượng cao trên thị trường tiền tệ như: Tín phiếu kho bạc, thương phiếu và các chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng. Do các chứng khoán mà quỹ đầu tư nắm giữ thường có thời hạn ít hơn 6 tháng và những biến động về giá trị thị trường của các chứng khoán này khá nhỏ nên các quỹ đầu tư này cho phép các chứng chỉ đầu tư được hoàn vốn với giá cố định.

    Lợi nhuận từ những thay đổi về giá trị thị trường của các chứng khoán được trả cho người đầu tư dưới dạng lãi suất. Do các chứng chỉ đầu tư được hoàn vốn với mức giá cố định nên các quỹ này cho phép các nhà đầu tư được ký phát séc với số tiền phải cao hơn mức tối thiểu do quỹ quy để thanh toán từ tài khoản của quỹ đầu tư mở tại một ngân hàng thương mại. Với đặc tính này, các chứng chỉ quỹ đầu tư tương hỗ thị trường tiền tệ có chức năng như là tiền gửi thanh toán tại ngân hàng nhưng lại được hưởng mức lãi suất cao hơn.

    Các công ty này còn được gọi là các công ty quản lý đầu tư. Hoạt động chủ yếu của các công ty này là quản lý các quỹ tiền tệ tập trung như các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí hoặc tài sản của các cá nhân, doanh nghiệp hay chính phủ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cic Là Gì? Nợ Xấu Là Gì? Những Liên Quan Đến Cic
  • Những Câu Đố 20/10, Tổng Hợp Đố Vui 20 Tháng 10, Phụ Nữ Việt Nam
  • Tổng Hợp Các Câu Hỏi
  • 30 Câu Hỏi Và Trả Lời Phỏng Vấn Vị Trí Quản Lý Chất Lượng
  • Tác Dụng Của Tổ Yến Với Người Già Là Gì?
  • Chức Năng Của Tài Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Một Giám Đốc Tài Chính?
  • Giám Đốc Tài Chính Cfo Là Gì? Vai Trò, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cfo
  • Giám Đốc Tài Chính Là Ai? Tất Cả Cần Thiết
  • Mô Tả Công Việc Vị Trí Giám Đốc Tài Chính
  • Giám Đốc Điều Hành Và Tổng Giám Đốc
  • Kết quả

    Chức Năng Của Tài Chính:

    Chức năng của tài chính là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính, nó mở ra nội dung của tài chính và vạch rõ tác dụng xã hội của tài chính. Chức năng của tài chính là khả năng bên trong, biểu lộ tác dụng xã hội của nó và tác dụng đó chỉ có thể có được với sự tham gia nhất thiết của con người.

    Tài chính vốn có hai chức năng cơ bản, chức năng phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới dạng hình thái tiền tệ và chức năng giám đốc bằng tiền đối với toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội (gọi tắt là chức năng giám đốc).

    1. Chức năng phân phối

    Phân phối của cải xã hội, trải qua quá trình phân phối lần đầu và nhiều lần phân phối lại.

    – Phân phối lần đầu là phân phối tiến hành trong lĩnh vực sản xuất vật chất, hình thành nên quỹ bù đắp tư liệu sản xuất, những khoản thu nhập ban đầu cho người lao động và thu nhập thuần tuý của xã hội (thu nhập thuần tuý của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, dân cư và thu nhập thuần tuý tập trung của Nhà nước).

    Trong các tổ chức kinh tế, sản phẩm làm ra sau khi tiêu thụ và thu được tiền, được tiến hành phân phối. Một phần được sử dụng để bù đắp vốn cố định và vốn lưu động đã tiêu hao. Một phần trả lương cho người lao động. Một phần nộp cho Nhà nước dưới hình thức các loại thuế. Một phần nộp quỹ bảo hiểm xã hội. Phần còn lại để hình thành nên các quỹ của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và phân chia lợi tức cho người góp vốn.

    Phân phối lần đầu, mới chỉ tạo ra những khoản thu nhập cơ bản, chưa thể đáp ứng nhu cầu của xã hội. Do đó phải trải qua quá trình phân phối lại.

    Phân phối lại thu nhập là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản được hình thành qua phân phối lần đầu, để đáp ứng nhu cầu tích luỹ và tiêu dùng của toàn xã hội (các ngành không sản xuất: Quân đội, Giáo dục, Y tế…).

    Mục đích của phân phối lại là:

    . Bổ sung thêm vào Ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho toàn xã hội.

    . Tạo ra nguồn thu nhập cho các lĩnh vực không sản xuất vật chất và những người làm việc trong các lĩnh vực đó.

    . Điều hoà thu nhập giữa các ngành, giữa các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư.

    . Điều tiết các hoạt động kinh tế trên phạm vi vĩ mô.

    Phân phối lại được tiến hành thông qua ba biện pháp: Biện pháp tài chính – tín dụng, biện pháp giá cả và hoạt động phục vụ. Trong đó, biện pháp tài chính – tín dụng giữa vai trò trunng tâm.

    2. Chức năng giám đốc

    Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình phân phối của cải xã hội thành các quỹ tiền tệ và sử dụng chúng theo các mục đích đã định.

    Như vậy, đối tượng giám đốc của tài chính là quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thái tiền tệ – quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung theo các mục tiêu đã định.

    Cùng với việc xác định đối tượng, cần thiết phải chỉ ra những đặc điểm của giám đốc tài chính.

    – Thứ nhất: Giám đốc của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua sử dụng chức năng thước đo giá trị và chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ trong vận động của tiền vốn để tiến hành giám đốc.

    – Thứ hai: Giám đốc bằng tiền của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính – các chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ các hoạt động của xã hội và của các doanh nghiệp.

    – Thứ ba: Giám đốc bằng tiền của tài chính còn được thực hiện đối với sự vận động của tài nguyên trong xã hội.

    Thực hiện chức năng giám đốc, tài chính nhằm mục đích sau:

    – Bảo đảm cho các cơ sở kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế phát triển theo những mục tiêu định hướng của Nhà nước.

    – Đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm môt cách có hiệu quả, tiết kiệm tới mức tối đa các yếu tố sản xuất trong xã hội.

    – Bảo đảm sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.

    – Bảo đảm việc chấp hành pháp luật trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Nội dung Giám đốc tài chính, gồm có những nội dung chính sau:

    – Giám đốc tài chính trong quá trình thành lập và thực hiện kế hoạch Ngân sách Nhà nước.

    – Giám đốc tài chính trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế và hợp đồng kinh tế.

    – Giám đốc tài chính trong quá trình cấp phát, cho vay và thanh toán vốn đầu tư XDCB.

    Ngoài ra, Giám đốc tài chính còn được thực hiện trong các hộ kinh tế dân cư.

    Giám đốc tài chính dù thực hiện ở đâu, cũng đều là sự giám đốc toàn diện mặt giá trị đối với quá trình hình thành phân phối và sử dụng các nguồn vốn trong quá trình hoạt động của từng khâu và trong toàn xã hội.

    Hai chức năng của tài chính có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau, trong đó việc thực hiện chức năng phân phối là tiền đề để thực hiện chức năng giám đốc, và ngược lại việc thực hiện tốt chức năng giám đốc sẽ tạo điều kiện để thực hiện chức năng phân phối tốt hơn.

    Trên cơ sở nhận thức được bản chất, chức năng của tài chính, hoạt động của tài chính mới phát huy được vai trò của nó trong nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gia Đình Việt Nam Trong Cơn Bão Của Thời Đại
  • Chức Năng Gan Bảo Nguyên
  • Co So Tu Nhien Cua Tam Li
  • Cơ Sở Xã Hội Của Tâm Lý Con Người
  • Chuyên Đề Giáo Dục Hoà Nhập
  • Các Chức Năng Chính Của Một Ngân Hàng Trung Ương

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Chức Năng Chính Của Gan Trong Cơ Thể
  • 5 Chức Năng Quan Trọng Của Gan ·
  • Ngân Hàng Thương Mại Là Gì? Chức Năng Và Vai Trò Của Nhtm
  • Bản Chất Của Tín Dụng Ngân Hàng
  • Hoạt Động Ngân Hàng Là Gì? Khái Quát Về Hoạt Động Ngân Hàng?
  • Các ngân hàng trung ương được coi là trung tâm của hệ thống ngân hàng, cũng như mối liên hệ giữa các tổ chức tín dụng ở tất cả các cấp. Nó thiết lập một khuôn khổ pháp lý chung và cơ sở pháp lý cho các hoạt động của các ngân hàng, thông qua đó người cho vay không thể chỉ giao tiếp trong nước, mà còn bên ngoài nó, có nghĩa là, để thực hiện các giao dịch quốc tế. Đó là lý do tại sao các chức năng ngân hàng trung ương phải được thực hiện bởi chúng trực tuyến là rất cần thiết cho nền kinh tế nói chung và vị thế của mình trên sân khấu thế giới.

    ngân hàng trung ương của nước này sẽ chỉ làm việc một cách hiệu quả khi chính phủ sẽ ban cho Người quyền đưa ra quyết định của riêng mình. Như vậy, chỉ có không can thiệp đầy đủ của nhà nước sẽ tạo ra một hệ thống chất lượng trong lĩnh vực ngân hàng hoạt động. Càng ít áp lực từ chính phủ để các ngân hàng trung ương, càng lớn khả năng của mình để kịp thời thực hiện tất cả các nhiệm vụ của nó. Nhưng cùng lúc đó một cách hợp pháp tất cả các tài sản của ngân hàng là tài sản nhà nước.

    chức năng ngân hàng trung ương có thể được liệt kê trong một thời gian dài, kể từ khi định hướng các hoạt động của nó rất đa dạng. Các chính của họ là giám sát hoạt động của các tổ chức tài chính khác, việc duy trì đồng tiền quốc gia, các tổ chức lưu thông tiền, việc thành lập khu bảo tồn vàng của đất nước và bảo tồn của nó. Nhưng điều quan trọng nhất để phân biệt các ngân hàng trung ương từ một loạt các thương mại, nó là quyền phát thải tiền tệ của dấu hiệu, có thể được thực hiện ở các cấp độ khác của hệ thống ngân hàng.

    Nếu chúng ta nói về một chức năng như vậy của các ngân hàng trung ương, như việc xử lý dự trữ ngoại hối của nhà nước, thì chúng ta có thể yên tâm nói rằng nó giúp duy trì nền kinh tế của nước này ở mức độ thích hợp. Tuy nhiên, cần lưu ý tính chất kép, bởi vì ngoài việc hỗ trợ các lĩnh vực kinh tế có khả năng can thiệp của chính phủ quá gần trong tín dụng và lĩnh vực tài chính. Bên cạnh đó, ngân hàng trung ương là một loại ống dẫn giữa chính phủ và các tổ chức cho vay khác, bởi vì nó có trách nhiệm tuân thủ nghiêm ngặt và thực hiện các mục tiêu thiết lập chính sách tiền tệ.

    Có một công cụ tuyệt vời, mà các chức năng cơ bản được thực hiện bởi các ngân hàng trung ương. Theo kích thước khác nhau như đề cập đến tỷ lệ chiết khấu. Ví dụ, nếu có một nhu cầu để giảm cung tiền, Ngân hàng Trung ương quyết định tăng lãi suất mà tại đó nó làm cho các khoản vay cho các ngân hàng thương mại. Theo đó, sau này buộc phải thay đổi các điều khoản của các doanh nghiệp và cá nhân vay. Tương tự như vậy hành động trong trường hợp thiếu hụt tiền trong lưu thông, nhưng lãi suất giảm, làm giảm đáng kể chi phí của các khoản vay do tổ chức tín dụng khác.

    Các chức năng của Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga chất lượng được thực hiện bởi sự hình thành quỹ dự trữ bắt buộc. Hội đồng quản trị theo quyết định của nó đặt ra tỷ lệ phần trăm mà phải được gửi vào tài khoản của tổ chức tín dụng với Ngân hàng Trung ương. Công cụ này cho phép bạn điều chỉnh đúng số lượng tiền trong lưu thông cũng FORT coi là một bảo hiểm tốt và tài sản thế chấp. Vì vậy, nếu có nhu cầu để củng cố các điều kiện hoạt động của các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính làm tăng kích thước của các khoản khấu trừ bắt buộc.

    Các chức năng chính của ngân hàng trung ương có thể được thực hiện bằng một loạt các công cụ. Nó là cần thiết phải chú ý duy nhất để kiểm soát cứng trên sự năng động của các kết quả từ việc sử dụng một phương pháp cụ thể. Nó phải tuân thủ các quy định kỹ thuật mà cung cấp hiệu ứng rộng. Sau đó, việc thực hiện các chức năng trên sẽ được thực hiện tự động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Thức Y Học Archives
  • Các Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Gan
  • Ngân Hàng Thương Mại Tiếng Anh Là Gì? Các Chức Năng Chính Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Tìm Hiểu Sơ Lược Về Gan Và Chức Năng Của Gan
  • Tài Liệu Ôn Thi Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội: Lịch Sử Hình Thành, Chức Năng, Nhiệm Vụ
  • Chức Năng Của Ban Tài Chính Công Đoàn Các Cấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Tổ Chức Hoạt Động Của Uỷ Ban Kiểm Tra Công Đoàn Nhiệm Kỳ Xi Mục Tiêu Nhiệm Vụ Nhiệm Kỳ Đại Hội Xii
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Uỷ Ban Kiểm Tra Công Đoàn Các Cấp
  • Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Kiểm Tra Công Đoàn Các Cấp Là Gì?
  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ubkt Cđcs
  • Quy Chế Làm Việc Của Ủy Ban Kiểm Tra Công Đoàn Trường Đại Học Cntt&tt Khóa V, Nhiệm Kỳ 2012
  • Xin cho biết về nhiệm vụ của kế toán CĐCS và kế toán CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở? Hoài Thương (Hà Nội)

      Điều 20, chương IV, quy chế quản lý tài chính CĐ quy định:

      Ban tài chính LĐLĐ cấp tỉnh, thành phố và tương đương: Thực hiện nhiệm vụ thu kinh phí CĐ theo phân cấp của Tổng LĐLĐVN. Chỉ đạo, hướng dẫn các CĐ cấp dưới, các đơn vị trực thuộc xây dựng và thực hiện dự toán thu, chi tài chính hằng năm; xét duyệt và tổng hợp dự toán, quyết toán năm báo cáo Tổng LĐLĐVN xét duyệt.

      Thực hiện chức năng giám đốc tài chính, thông qua công tác tài chính giúp ban thường vụ chỉ đạo thực hiện các mặt công tác của CĐ. Hướng dẫn, kiểm tra tài chính CĐ cấp dưới, các đơn vị trực thuộc. Tham mưu giúp ban thường vụ tổ chức quản lý và hướng dẫn CĐ cấp dưới hoạt động kinh tế CĐ. Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tài chính CĐ cấp dưới và các đơn vị trực thuộc.

      Thực hiện công tác kế toán, thống kê, tổng hợp tình hình thu, chi và quản lý tài chính, tài sản đơn vị kế toán cấp tổng dự toán; thu, chi, quản lý tài chính, tài sản và làm công tác kế toán của cơ quan LĐLĐ cấp tỉnh, thành phố và tương đương; tổ chức chi, thanh – quyết toán, theo dõi kinh phí chi phục vụ hoạt động của các đơn vị do cấp mình quản lý chưa thành lập CĐCS đã đóng kinh phí CĐ theo quy định của Tổng LĐLĐVN.

      Kế toán CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở: Chỉ đạo, hướng dẫn các CĐCS, các đơn vị trực thuộc xây dựng và thực hiện dự toán hằng năm; xét duyệt và tổng hợp dự toán, quyết toán của CĐ cấp dưới báo cáo LĐLĐ cấp tỉnh, thành phố và tương đương xét duyệt.

      Thực hiện nhiệm vụ thu kinh phí CĐ theo phân cấp của LĐLĐ cấp tỉnh, thành phố và tương đương; tổ chức chi, thanh – quyết toán, theo dõi kinh phí chi phục vụ hoạt động của các đơn vị do cấp mình quản lý chưa thành lập CĐCS đã đóng kinh phí CĐ theo quy định của Tổng LĐLĐVN.

      Thực hiện công tác kế toán, thống kê của đơn vị kế toán CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở. Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tài chính của CĐ cấp mình và cấp dưới.

      Kế toán CĐCS, nghiệp đoàn: Lập dự toán hằng năm báo cáo BCH, ban thường vụ CĐCS, nghiệp đoàn gửi cấp trên xét duyệt. Tổ chức thực hiện dự toán, làm công tác kế toán, thống kê, lập báo cáo quyết toán gửi cấp trên xét duyệt. Phục vụ công tác kiểm tra, kiểm toán thu, chi tài chính CĐ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Công Tác Nữ Công Năm 2022
  • Cẩm Nang Hoạt Động Của Ban Chấp Hành Công Đoàn Cơ Sở
  • Trách Nhiệm Và Quyền Hạn Của Ban Chấp Hành Công Đoàn Cơ Sở!
  • Cơ Cấu, Tổ Chức Của Ban Chấp Hành Công Đoàn ? Tổ Chức Ban Chấp Hành Công Đoàn Tại Doanh Nghiệp ?
  • Thông Báo: Về Việc Phân Công Nhiệm Vụ Các Ủy Viên Ban Chấp Hành, Các Ban Công Tác Của Công Đoàn Trường Đhsp Hà Nội Khóa Xvi, Nhiệm Kỳ 2014
  • “bật Mí” Chức Năng Của Rơle Trung Gian Trong Công Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Rơ Le Nhiệt Là Gì ?
  • Rơ Le (Relay) Trung Gian Là Gì ? Cấu Tạo Và Ứng Dụng Trong Công Nghiệp
  • Có Bao Nhiêu Cách Hủy Sms Banking Agribank Nhanh Chóng?
  • Cách Bật Và Sử Dụng Airdrop Trên Macbook
  • Cách Cấu Hình Và Sử Dụng Airdrop Trên Iphone Và Macbook
  • Chức năng của rơle trung gian trong công nghiệp

    Rơle trung gian (Relay trung gian) là loại thiết bị có chức năng chuyển mạch tín hiệu điều khiển và khuếch đại chúng với kích thước nhỏ. Thiết bị được lắp đặt ở vị trí trung gian nằm giữa thiết bị điều khiển công suất nhỏ và thiết bị công suất lớn hơn.

    Rơ le trung gian được sử dụng rộng dãi, vì vậy mà rơ le được sản xuất và phân thành nhiều loại như: rơ le trung gian 12V, 220V, rơ le trung gian 8 chân và 12 chân.

    Cấu tạo và nguyên lý làm việc của rơ le trung gian trong mạch điều khiển

    – Cấu tạo của rơ le trung gian bao gồm 2 phần chính là: cuộn hút (nam châm điện) và mạch tiếp điểm (mạch lực).

    + Nam châm điện : Bao gồm lõi thép động, lõi thép tĩnh và cuộn dây. Cuộn dây được dùng để cuộn cường độ, điện áp hoặc cuộn cả điện áp lẫn cường độ. Trong đó, lõi thép động được định vị bằng vít điều chỉnh găng bởi lò xo.

    + Tiếp điểm: Bao gồm tiếp điểm nghịch có vai trò đóng cắt tín hiệu thiết bị tải với dòng nhỏ được cách ly với cuộn hút.

    Nguyên lý hoạt động của rơ le trung gian đến mạch điều khiển

    – Nguyên lý hoạt động

    + Để tạo ra được từ trường hút, thì dòng điện cần chạy qua rơ le trung gian, sau đó dòng điện chạy qua cuộn dây tạo thành từ trường hút. Giúp tạo đòn bẩy làm đóng hoặc mở tiếp điểm điện và làm thay đổi trạng thái của rơ le trung gian. Tùy vào thiết kế mà số tiếp điểm điện sẽ thay đổi khác nhau.

    + Rơ le trung gian có 2 mạch hoạt động là: mạch điều khiển cuộn dây cho dòng chạy qua hay không và mạch điều khiển dòng điện có qua rơ le hay không.

    Giống như bộ bảo vệ tủ lạnh thì khi điện yếu thì rơ le sẽ tự động ngắt điện, nhưng khi điện ổn định thì nó sẽ cấp điện lại bình thường . Hoặc bộ ắc quy cho ô tô hay xe máy máy phát điện khỏe thì rơ le trung gian sẽ đóng mạch nạp của ắc quy. Hay như rơ le khí nén được sử dụng trong máy nén khí. Trong máy nén khí công nghiệp, thì rơ le có nhiệm vụ làm ngắt điện giúp bảo vệ và duy trì hoạt động và toàn bộ hệ thống của máy không cho áp suất bị quá thấp hay vượt mức quá cao.

    Rơ le khí nén được cấu tạo và sử dụng trong máy nén khí

    Vai trò của Rơ le trung gian trong mạch điện điều khiển có vai trò rất quan trọng giúp:

    – Có nhiệm vụ nhận các tín hiệu sử dụng 2 vị trí trở lên.

    R ơ le trung gian chất lượng có lượng tiếp điểm là khá nhiều ( 4 – 6 tiếp điểm) giúp vừa đóng và mở dòng điện) vì vậy mà thường được sử dụng để truyền tín hiệu khi r ơ le chính không có khả năng đóng và ngắt . Rơ le còn được dùng để chia tín hiệu đến nhiều bộ phận khác trong hệ thống sơ đồ mạch điện điều khiển.

    Không những vậy, rơ le còn được làm phần tử đầu ra và cách ly được điện áp giữa các phần chấp hành như: điện xoay chiều, điện áp lớn với phần điều khiển để truyền tín hiệu cho bộ phận phía sau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Tổng Quan Về Rơ Le (Relay) Dễ Hiểu Nhất
  • Rơle Là Gì? Chức Năng Và Có Mấy Loại Rơle Trong Thực Tế?
  • Ý Nghĩa Mã Số Các Relay Bảo Vệ Theo Ansi
  • Rơ Le Là Gì? Cấu Tạo Chức Năng Và Công Dụng
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Nfc Trên Điện Thoại Android
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100