Cơ Cấu, Tổ Chức Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Bộ Máy:
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam Qua Các Thời Kỳ (Từ 1960 Đến 2022)
  • Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Ngành Kiểm Sát Nhân Dân (26/7/1960
  • Chưa Thống Nhất Bổ Sung Chức Năng Giám Định Tư Pháp Cho Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Và Cán Bộ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trung Quốc
  • Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân (điều 40)

    Gồm:

    1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

    3. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh).

    4. Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện).

    5. Viện kiểm sát quân sự các cấp.

    Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp (điều 41)

    1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao.

    3. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình.

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (điều 42)

    1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có:

    a) Ủy ban kiểm sát;

    b) Văn phòng;

    c) Cơ quan điều tra;

    d) Các cục, vụ, viện và tương đương;

    đ) Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, các cơ quan báo chí và các đơn vị sự nghiệp công lập khác;

    e) Viện kiểm sát quân sự trung ương.

    2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Thủ trưởng, các Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; công chức khác, viên chức và người lao động khác.

    Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao (điều 43)

    1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có:

    a) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    b) Các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    c) Một số Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết địnhtheo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    a) Chương trình, kế hoạch công tác của ngành Kiểm sát nhân dân;

    b) Dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước;

    c) Bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    d) Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Ủy ban thường vụ Quốc hội về những ý kiến của Viện trưởng không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm gửi Thủ tướng Chính phủ;

    đ) Xét tuyển người đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao đủ điều kiện dự thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp;

    e) Đề nghị Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuyển chọn, xem xét việc miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Xem xét, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    3. Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền tại khoản 2 Điều này. Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng.

    II. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (điều 44)

    1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có:

    a) Ủy ban kiểm sát;

    b) Văn phòng;

    c) Các viện và tương đương.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.

    Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (điều 45)

    1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có:

    a) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

    b) Các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

    c) Một số Kiểm sát viên.

    2. Số lượng thành viên Ủy ban kiểm sát, các Kiểm sát viên quy định tại điểm c khoản 1 Điều này do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

    a) Việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, chỉ thị, thông tư và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    b) Báo cáo tổng kết công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

    c) Xét tuyển người đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đủ điều kiện dự thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp;

    d) Xem xét, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

    4. Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền tại khoản 3 Điều này. Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    III. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (điều 46)

    1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có:

    a) Ủy ban kiểm sát;

    b) Văn phòng;

    c) Các phòng và tương đương.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.

    Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (điều 47)

    1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có:

    a) Viện trưởng;

    b) Các Phó Viện trưởng;

    c) Một số Kiểm sát viên.

    2. Số lượng thành viên Ủy ban kiểm sát, các Kiểm sát viên quy định tại điểm c khoản 1 Điều này do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.

    a) Việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, chỉ thị, thông tư và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

    b) Báo cáo tổng kết công tác với Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp;

    c) Xét tuyển người đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện đủ điều kiện dự thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp;

    d) Xem xét, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    4. Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền tại khoản 3 Điều này. Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    IV. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (điều 48)

    1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có văn phòng và các phòng; những nơi chưa đủ điều kiện thành lập phòng thì có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc.

    2. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.

    (Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014)

    Cẩm nang pháp luật do các luật sư biên soạn, là tài sản trí tuệ của công ty luật hợp danh Ecolaw, có ý nghĩa và chỉ sử dụng cho mục đích tham khảo. Do pháp luật Việt Nam thường xuyên thay đổi, bổ sung, nên có thể trong một số trường hợp, tại thời điểm quý vị đọc, nội dung bài viết sẽ không còn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật, bổ sung khi có sự thay đổi của pháp luật, nhưng không bảo đảm kịp thời và đầy đủ hết.

    Lưu ý: Bài viết trên thuộc lĩnh vực “Tố tụng dân sự, hình sự, hành chính”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát
  • Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Hoạt Động Tố Tụng Dân Sự
  • Giới Thiệu Viện Kiểm Sát Tỉnh Tuyên Quang
  • Mô Hình Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Nhìn Từ Thực Tiễn Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Hiện Nay
  • Ra Mắt Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Tại
  • Nguyên Tắc Và Cơ Cấu Tổ Chức, Hoạt Động Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ngành Kiểm Sát
  • Công Tác Tham Mưu Trong Quá Trình Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ngành Kiểm Sát Nhân Dân
  • Kinh Tế Chính Trị Mac
  • Chức Năng Của Kinh Tế Chính Trị Mác
  • Đối Tượng, Phương Pháp, Chức Năng Của Kinh Tế Chính Trị Mác
  • Viện kiểm sát nhân dân là một trong những bộ phận hợp thành hệ thống cơ quan của bộ máy nhà nước của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân trong tổ chức và hoạt động cấu thành một hệ thống tương đối chặt chẽ riêng.

    Bên cạnh việc là một trong những bộ phận hợp thành hệ thống cơ quan của bộ máy nhà nước của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân trong tổ chức và hoạt động cấu thành một hệ thống tương đối chặt chẽ riêng. Do đó, cũng như các hệ thống cơ quan khác, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung. Song, do có vị trí, chức năng và nhiệm vụ mang tính đặc thù nên hệ thống các Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù, nhằm bảo đảm cho các Viện kiểm sát hoạt động có hiệu quả cao hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Những nguyên tắc đó được quy định ở Điều 138 Hiến pháp năm 1992 và Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Cụ thể là:

    – Nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương.

    Thứ nhất, nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành.

    Tìm hiểu tổ chức bộ máy nhà nước ta, dễ dàng nhận thấy rằng, các cơ quan nhà nước ở địa phương một mặt trực thuộc Chính phủ hoặc Bộ chủ quản, mặt khác lại trực thuộc Hội đồng nhân dân hoặc ủy ban nhân dân địa phương. Nguyên tắc này được gọi là nguyên tắc phụ thuộc hai chiều.

    Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta (cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây) không được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều trên, mà theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành. Có thể thấy cách tổ chức và hoạt động này được thực hiện theo tư tưởng của V.I.Lê nin. Theo ông, Viện kiểm sát không được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều, mà nó phải và chỉ trực thuộc vào một cơ quan trung ương duy nhất. Ông cho rằng, pháp chế phải thống nhất.

    Trong một Nhà nước, một đạo luật được ban hành không thể có nhiều cách áp dụng khác nhau, vin cớ vào các đặc điểm riêng biệt của địa phương. Một nền pháp chế thống nhất sẽ bảo đảm sự hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, thống nhất của cả một bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Viện kiểm sát nhân dân, với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, có nhiệm vụ bảo đảm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước, không nên để bị phụ thuộc vào các cơ quan Nhà nước ở địa phương, vì như thế sẽ có nguy cơ sinh ra tình trạng “cát cứ” trong hoạt động thi hành pháp luật. Do đó, nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp chế, Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 vẫn tiếp tục khẳng định lại nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành.

    Theo nguyên tắc này, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 138 Hiến pháp năm 1992 và Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002). Viện trưởng, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Phó Viện trưởng viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và khu vực, điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân đều do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức (Điều 9 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002).

    Như vậy, tất cả các Viện kiểm sát nhân dân từ trên xuống dưới tạo thành một hệ thống thống nhất. Mọi hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân , dù ở cấp nào, đều đặt dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân phải chịu trách nhiệm cá nhân về toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát do mình lãnh đạo trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của toàn ngành kiểm sát trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Chủ Tịch nước.

    Thứ hai, nguyên tắc không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương.

    Trong tổ chức và hoạt động của mình, Viện kiểm sát nhân dân hoàn toàn không lệ thuộc vào bất cứ một cơ quan Nhà nước nào ở địa phương. Nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành. Để đảm bảo tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa và hạn chế, ngăn chặn, loại trừ tình trạng “phép vua thua lệ làng”, một yêu cầu khách quan được đặt ra là hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân phải được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc không lệ thuộc vào bất kỳ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương. Có quan điểm cho rằng, nguyên tắc này biến Viện kiểm sát nhân dân thành một hệ thống cơ quan Nhà nước có những quyền hạn quá lớn, đứng ngoài mọi sự giám sát. Suy nghĩ như vậy biểu hiện một cách nhìn nhận chưa toàn diện về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân. Nguyên tắc này nhằm tạo điều kiện để ngành kiểm sát nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Theo Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được đặt dưới sự giám sát toàn diện, thường xuyên và chặt chẽ của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước (Điều 139 Hiến pháp năm 1992; Điều 7 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992).

    Nội dung nguyên tắc Viện kiểm sát nhân dân không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương thể hiện ở chỗ: Các Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách độc lập, không chịu sự chi phối bởi các cơ quan nhà nước ở địa phương, mà chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Khi hoạt động, các Viện kiểm sát nhân dân chỉ phụ thuộc vào Hiến pháp, các đạo luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Điều đó cũng có nghĩa là các cơ quan nhà nước ở địa phương không có quyền can thiệp vào hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

    Về mặt tổ chức, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định bộ máy và biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện trưởng, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên các Viện kiểm sát nhân dân địa phương.

    Nói Viện kiểm sát nhân dân địa phương không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương không có nghĩa là khẳng định hệ thống cơ quan này hoạt động biệt lập hoàn toàn, không có quan hệ gì với các cơ quan nhà nước ở địa phương. Nhà nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung quyền lực, có sự phân công phân nhiệm rành mạch, rõ ràng. Để bảo đảm hoạt động đạt hiệu quả cao, các cơ quan nhà nước luôn luôn có sự phối hợp chặt chẽ toàn diện và nhịp nhàng với nhau. Do đó, trong hoạt động của mình, Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước khác ở địa phương, hỗ trợ cho nhau để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung của Nhà nước.

    Để đảm bảo sự phối hợp này, Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

    2002 đã quy định Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải báo cáo về tình hình chấp hành pháp luật trước Hội đồng nhân dân cùng cấp. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương cần phải tham gia đầy đủ, tích cực và chủ động các cuộc họp của Hội đồng nhân dân. Một mặt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương báo cáo trước Hội đồng nhân dân, trả lời chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân về tình hình chấp hành pháp luật ở địa phương và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương. Mặt khác, qua thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng kiến nghị với Hội đồng nhân dân về việc phòng ngừa tội phạm và những biểu hiện vi phạm pháp luật, phối hợp hoạt động để bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất ở địa phương

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

    Cơ cấu của hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân hiện nay về cơ bản được tổ chức như hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân của Hiến pháp 1992, sau khi đã có sự cắt bỏ những bộ phận đảm nhiệm chức năng kiểm sát chung.

    Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Chương X Hiến pháp năm 1992 sửa đổi và tại các chương VII, VIII Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Các Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta tạo thành một hệ thống thống nhất, bao gồm:

    – Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    – Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    – Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

    – Các Viện kiểm sát quân sự (Điều 30 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân).

    Theo Điều 31 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các kiểm sát viên và các điều tra viên. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra theo sự giới thiệu của Chủ tịch nước. Các Phó Viện trưởng, kiểm sát viên, và các điều tra viên Viện Kiểm sát tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

    Các thành phần trên của Viện kiểm sát tối cao được cơ cấu thành: Uỷ ban kiểm sát, các Cục, Vụ, Viện kiểm sát quân sự trung ương. Bên cạnh các cơ cấu có tính chuyên môn nghiệp vụ nói trên còn các cơ cấu giúp việc. Đó là Văn phòng, Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát.

    Ủy ban Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Viện kiểm sát gồm có: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, và một số kiểm sát viên.

    Nghị quyết của Uỷ ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Uỷ ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc Hội hoặc Chủ Tịch nước.

    Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là người lãnh đạo thống nhất toàn bộ hệ

    thống Viện kiểm sát nhân dân. Theo Điều 33 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

    2002, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

    1. Lãnh đạo việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác kiểm sát và xây dựng Viện kiểm sát nhân dân về mọi mặt; quyết định những vấn đề về công tác kiểm sát không thuộc thẩm quyền của Uỷ ban kiểm sát;

    2. Ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư, điều lệ, quy chế, chế độ công tác áp dụng

    3. Chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành kiểm sát;

    4. Quy định bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn; quyết định bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân địa phương; quy định bộ máy làm việc của Viện kiểm sát quân sự sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ quốc phòng và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn;

    5. Chỉ đạo việc xây dựng và trình dự án luật, dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh khi thấy cần thiết cho việc áp dụng thống nhất pháp luật;

    6. Trình Chủ Tịch nước ý kiến của mình về những trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình;

    7. Tổ chức việc thống kê tội phạm;

    8. Tham dự các phiên họp của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao bàn về

    việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

    Các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng thực thi nhiệm vụ theo sự phân công của Viện trưởng..

    Do Uỷ ban kiểm sát có tư cách pháp lý mới, quan hệ giữa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Uỷ ban kiểm sát cũng có những nét khác so với trước. Các nghị quyết của ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban kiểm sát biểu quyết tán thành. Trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Uỷ ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số nhưng Viện trưởng có quyền báo cáo lên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Điều bổ sung mới này vừa bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, vừa phát huy được sức mạnh trí tuệ của tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân, giúp cho việc quyết định các vấn đề quan trọng được chính xác.

    – Bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn có các Cục, Vụ, Viện. Bộ máy làm việc này thừa lệnh Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố.

    Dưới Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và các Kiểm sát viên, do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có Uỷ ban kiểm sát, các phòng và Văn phòng (Điều 34 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, 2002).

    Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có: Viện trưởng; Các Phó Viện trưởng; và một số Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương họp do

    – Việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác, chỉ thị, thông tư và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh;

    – Báo cáo tổng kết công tác với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp;

    – Những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động quan trọng;

    – Những vấn đề quan trọng khác do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định.

    Nghị quyết của Uỷ ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban kiểm sát biểu quyết tán thành; trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Uỷ ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định những vấn đề không thuộc thẩm quyền của Uỷ ban kiểm sát (Điều 35 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002).

    Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bộ máy làm việc gồm các Phòng nghiệp vụ và Văn phòng, tương ứng với các khâu công tác kiểm sát.

    Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện được tổ chức rất đơn giản gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và các Kiểm sát viên được chia thành các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng, các Phó Viện trưởng phụ trách.

    Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện không có ủy ban kiểm sát và các phòng nghiệp vụ mà chỉ có các bộ phận công tác do Viện trưởng, Phó Viện trưởng và một số kiểm sát viên phụ trách, theo sự phân công của Viện trưởng.

    Cũng như Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân cùng cấp về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương, về công tác của Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương.

    Các Viện kiểm sát quân sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật. Các Viện kiểm sát quân sự gồm có Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực.

    Căn cứ vào nhiệm vụ của quân đội trong từng thời kỳ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất với Bộ trưởng Bộ quốc phòng và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc thành lập Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực.

    Viện kiểm sát quân sự trung ương thuộc cơ cấu Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, có nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác kiểm sát trong Quân đội trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Bài viết được thực hiện bởi: thạc sĩ, luật sư Phạm Ngọc Minh – Giám đốc Công ty Luật TNHH Everest, Giảng viên khoa Luật kinh tế – Trường Đại học Hòa Bình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nên Mở Rộng Quyền Của Cơ Quan Kiểm Sát?
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Và Cán Bộ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa
  • Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Giải Mã Quy Trình Kiểm Soát Cho Các Nhà Quản Lý
  • Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị Ở Các Tổ Chức
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Và Cán Bộ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trung Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Thông Qua Các Tờ Trình, Đề Án Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
  • Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Được Quy Định Như Thế Nào?
  • 1.2. Vị Trí, Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Bộ Máy Nhà Nước
  • Cần Quy Định Rõ Hơn Vị Trí, Chức Năng Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Vị Trí Pháp Lý Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CÁN BỘ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂNTS. Trần Văn Trung Phó Viện trưởng Viện khoa học kiểm sát-VKSNDTC 1. Vài nét về sự ra đời và phát triển của cơ quan Viện kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA

    Trong lịch sử phát triển lâu dài của chế độ phong kiến ở Trung Quốc, ngay từ triều đại nhà Hán (năm 206 trước Công nguyên đến năm 265 sau Công nguyên) đã có một cơ quan mang tên YU SHI có nhiệm vụ giám sát các quan chức trong triều đình. Về sau, YU SHI còn được giao nhiệm vụ giám sát tư pháp và hoạt động xét xử. Đến triều đại nhà Thanh, mô hình bộ máy nhà nước, trong đó có cơ quan công tố từ phương Tây mà đặc biệt là Pháp đã được áp dụng tại Trung Quốc. Theo Luật tổ chức xét xử Da Li Yuan (Toà án), cơ quan kiểm sát được gọi là cục công tố được thành lập ở tất cả các toà án với nhiệm vụ truy tố, giám sát xét xử và giám sát thi hành án. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, chức năng công tố đã chính thức tách rời khỏi chức năng xét xử.

    Ngày 10 tháng 10 năm 1911, triều đình phong kiến nhà Thanh bị lật đổ, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. Bên cạnh những tư tưởng mới về tự do, dân chủ, về luật pháp của các nước Âu, Mỹ mới du nhập vào Trung Quốc, tư tưởng và thói quen xét xử của đất nước phong kiến hàng nghìn năm vẫn hiện hữu, không dễ gì xoá bỏ. Vì vậy, luật pháp Trung Quốc giai đoạn này có sự pha trộn, kết hợp giữa các mô hình. Hệ thống cơ quan công tố cũng không phải là ngoại lệ. Luật tổ chức Toà án năm 1921 đã thành lập một hệ thống công tố độc lập, tách rời với cơ cấu của Toà án. Viện công tố có nhiệm vụ: điều tra tội phạm, khởi tố và thực hành quyền công tố, hỗ trợ tư tố và chỉ đạo thi hành án hình sự.

    Đến năm 1927, quy định về Toà án tối cao được ban hành. Theo quy định này, các viện công tố được thành lập gắn với toà án như mô hình của Pháp.

    Đến năm 1931, Viện công tố được giao thêm nhiệm vụ giám sát các quan chức nhà nước. Đây là sự kết hợp giữa truyền thống luật Châu Âu lục địa và truyền thống luật Trung Quốc.

    Sau khi Cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo giành thắng lợi, Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập (1/10/1949), dưới sự ảnh hưởng to lớn của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô – viết (Liên Xô), Trung Quốc đã tiếp thu mô hình và những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy và hoạt động của Nhà nước Liên Xô vào việc tổ chức bộ máy nhà nước của mình. Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát cũng không phải là ngoại lệ, theo đó, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là cơ quan giám sát pháp luật, được thành lập theo địa giới hành chính nhưng độc lập với hệ thống cơ quan hành chính và cơ quan Toà án, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương (đặt ở 3 cấp hành chính là: tỉnh, thành phố và huyện) và Viện kiểm sát chuyên ngành. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát cao nhất của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc) bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Chế độ lãnh đạo trong ngành kiểm sát được thực hiện là chế độ lãnh đạo theo ngành dọc, Viện kiểm sát địa phương phải phục tùng sự lãnh đạo của Viện kiểm sát cấp trên và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm.

    Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1954 (Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Trung Hoa) và Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1954, khi bàn về Viện kiểm sát, có quan điểm cho rằng cần quy định Viện kiểm sát chịu chế độ lãnh đạo song trùng (phụ thuộc vào Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương). Tuy nhiên, Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1954 được ban hành vẫn giữ nguyên nguyên tắc lãnh đạo trong ngành kiểm sát là Viện kiểm sát địa phương chỉ phục tùng sự lãnh đạo của Viện kiểm sát cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Vào những năm cuối của thập niên 50, nhiều ý kiến cho rằng phải xem lại các quy định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp. Thậm chí, còn xuất hiện quan điểm mạnh mẽ hơn, cho rằng cần bỏ cơ quan kiểm sát và quyền kiểm sát. Kết quả là vào năm 1961, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện việc nhập cơ quan kiểm sát vào cơ quan công an và đến năm 1968, hệ thống cơ quan viện kiểm sát Trung Quốc chính thức bị bãi bỏ. Hiến pháp năm 1975 của Trung Quốc quy định rõ ” chức năng của cơ quan kiểm sát do cơ quan công an thực hiện “. Thực chất, cơ quan công an chỉ đảm nhiệm thêm chức năng công tố mà cụ thể là truy tố kẻ phạm tội ra toà, còn các nhiệm vụ khác của cơ quan kiểm sát không có cơ quan nào đảm nhiệm.

    Từ năm 1976, Cách mạng văn hoá chấm dứt, mở ra kỷ nguyên tái thiết luật pháp ở Trung Quốc. Cơ quan Viện kiểm sát ở Trung Quốc được khôi phục trở lại. Sự khôi phục cơ quan kiểm sát được đánh dấu bằng Hiến pháp năm 1978, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1979, và sau đó, được tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1982, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1983, 1995. Theo các quy định này, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được thành lập ở trung ương và ở các địa phương (đến cơ quan hành chính cấp thứ tư), độc lập với cơ quan Toà án, có chức năng giám sát việc chấp hành pháp luật. So với Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1954, quy định về Viện kiểm sát theo Hiến pháp năm 1982, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1983 có nhiều thay đổi, thể hiện ở những điểm lớn sau:

    Thứ nhất, khẳng định chế độ lãnh đạo song trùng, theo đó, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương do Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và Đại hội đại biểu nhân dân địa phương lãnh đạo.

    Thứ hai, thu hẹp chức năng, thẩm quyền của cơ quan kiểm sát đối với các vụ án dân sự và quyền giám sát đối với tố tụng hành chính, kinh tế, xã hội; Viện kiểm sát tập trung chủ yếu vào giải quyết các vụ án hình sự.

    2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 2.1. Vài nét về tổ chức nhà nước của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

    Thứ ba, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm sát trong việc giám sát, điều tra, truy tố; Viện kiểm sát chịu trách nhiệm điều tra các vụ án tham nhũng và tội phạm chức vụ.

    Mặc dù Trung Quốc là một quốc gia đa đảng nhưng từ khi lãnh đạo cách mạng thành công và thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1949), Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Trung Quốc. Từ đó đến nay, mặc dù có những thăng trầm nhưng Trung Quốc vẫn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác trong việc tổ chức bộ máy nhà nước của mình.

    2.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

    Bộ máy nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa như các nước xã hội chủ nghĩa trước kia chứ không theo nguyên tắc phân quyền (thường được gọi là “tam quyền phân lập”) như đa số quốc gia trên thế giới. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân mà đại diện là Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) và Đại hội đại biểu nhân dân địa phương (Hội đồng nhân dân). Đây là những cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Chính phủ được xác định là cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính cao nhất. Toà án là cơ quan xét xử và Viện kiểm sát là cơ quan giám sát pháp luật. Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao đều do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra, theo nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Các cơ quan nhà nước này chỉ phối hợp với nhau chứ không có chức năng giám sát lẫn nhau như trong cơ chế phân quyền. Mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của Trung Quốc tương tự như mô hình của nước ta hiện nay.

    2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ

    Ở Trung Quốc, Viện kiểm sát không thuộc Chính phủ như đa số quốc gia trên thế giới, mà là một hệ thống cơ quan riêng biệt. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Viện kiểm sát được coi là cơ quan tư pháp chứ không phải là cơ quan hành pháp. Các Viện kiểm sát địa phương không thuộc hệ thống các cơ quan hành chính ở địa phương nhưng lại chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân địa phương-cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

    Điều 129 Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định “Viện kiểm sát nhân dân Trung hoa là cơ quan giám sát pháp luật của Nhà nước…”. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã quy định cụ thể chức năng, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân như sau:

    (1) Thực hiện quyền kiểm sát đối với các vụ án phản quốc, chia rẽ đất nước và các vụ án phạm tội to lớn, phá hoại nghiêm trọng việc thực hiện thống nhất chính sách, pháp luật, pháp lệnh, quy chế hành chính của Nhà nước.

    (2) Tiến hành điều tra đối với các vụ án hình sự được trực tiếp thụ lý.

    (3) Kiểm sát việc điều tra vụ án hình sự do cơ quan công an tiến hành; quyết định việc bắt giữ, truy tố hoặc miễn tố đối với các vụ án do cơ quan công an điều tra; thực hiện việc giám sát xem hoạt động điều tra của cơ quan công an có hợp pháp hay không.

    (4) Khởi tố và hỗ trợ truy tố đối với các vụ án hình sự; thực hiện giám sát hoạt động xét xử của Toà án nhân dân xem có tuân thủ đúng pháp luật hay không.

    (5) Thực hiện giám sát đối với việc chấp hành phán quyết và quyết định của các vụ án hình sự, hoạt động của trại giam, nơi tạm giam và cơ quan cải tạo lao động có hợp pháp hay không.

    Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc bảo vệ quyền tố cáo của công dân đối với các nhân viên nhà nước vi phạm pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp luật đối với những người xâm phạm quyền thân thể, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân (Điều 6).

    Khác với nước ta, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa không quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát cũng như của kiểm sát viên mà trên cơ sở những quy định trên, trong từng lĩnh vực cụ thể, các văn bản pháp luật chuyên ngành (Luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng dân sự… ) sẽ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong các lĩnh vực đó.

    Trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

    – Kiểm sát điều tra: Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố của cơ quan công an; phê chuẩn lệnh bắt giữ của cơ quan công an; kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra của cơ quan công an và điều tra viên… bảo đảm việc điều tra được thực hiện đúng pháp luật; khắc phục tình trạng bắt giữ trái phép, ép cung, bức cung, hãm hại báo thù, khám xét trái phép, xâm phạm thân thể, quyền dân chủ của công dân…

    – Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp điều tra các tội phạm tham nhũng, chủ yếu là điều tra các tội tham ô, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội vì vụ lợi, cán bộ cơ quan nhà nước không làm tròn nhiệm vụ, lợi dụng chức quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân…

    Viện kiểm sát nhân dân các cấp đều có một bộ phận làm nhiệm vụ điều tra tội phạm tham nhũng. Tương tự như các nước khác, những người này là kiểm sát viên chứ không phải là điều tra viên như ở nước ta. Trong hoạt động điều tra, họ có quyền yêu cầu cơ quan công an và các cơ quan chuyên môn khác hỗ trợ khi cần thiết.

    – Truy tố người phạm tội ra trước Toà án để xét xử, luận tội và đưa ra mức hình phạt.

    – Kiểm sát xét xử hình sự: giám sát tính hợp pháp trong các phán quyết và quyết định của Toà án nhân dân, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật.

    Trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ giám sát pháp luật đối với các hoạt động xét xử (Điều 14 Luật tố tụng dân sự). Trên thực tế, Viện kiểm sát nhân dân chỉ tập trung kiểm sát các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện bản án, quyết định đó có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích xã hội thì kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để yêu cầu Toà án xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm. Khi xét xử lại, Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia phiên toà (Điều 188 Luật tố tụng dân sự).

    Trong lĩnh vực giam, giữ và cải tạo, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo. Các Viện kiểm sát cơ sở (quận, huyện) có bộ phận biệt phái tại nơi tạm giữ, tạm giam và cải tạo để thường xuyên giám sát việc chấp hành pháp luật của cơ quan công an.

    3. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

    Trong lĩnh vực thi hành án, Viện kiểm sát có nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan thi hành án dân sự, bảo đảm việc thi hành án của cơ quan thi hành án đúng pháp luật.

    Điều 130 Hiến pháp quy định: “Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp, Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sát nhân dân chuyên ngành khác”.

    3.1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa quy định hệ thống, cơ cấu tổ chức Viện kiểm sát Trung Hoa như sau:

    Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát cao nhất của Nhà nước, có chức năng giám sát pháp luật và lãnh đạo Viện kiểm sát địa phương các cấp, Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện chức năng giám sát pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện pháp luật được đúng đắn và thống nhất.

    Để thực hiện chức năng này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

    – Chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Uỷ ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc;

    – Đệ trình các dự án pháp luật tới Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc;

    – Lãnh đạo các Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện công tác kiểm sát, xây dựng cơ chế hoạt động kiểm sát;

    – Tiến hành điều tra các vụ án phức tạp như tham nhũng, hối lộ, xâm phạm quyền dân chủ của công dân, các vụ thiếu trách nhiệm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi và những vụ án khác mà cần thiết phải được thông qua và xem xét một cách trực tiếp; Lãnh đạo các Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc tiến hành hoạt động điều tra;

    – Xem xét và phê chuẩn việc bắt và khởi tố bị can theo quy định của pháp luật, chỉ đạo Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc xem xét, phê chuẩn việc bắt kẻ tình nghi phạm tội và khởi tố bị can;

    – Chỉ đạo Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong hoạt động giám sát việc xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính theo quy định của pháp luật;

    – Đối với các bản án, quyết định của Toà án các cấp đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thì có quyền kháng nghị lên Toà án nhân dân tối cao;

    – Kiểm tra các quyết định của Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện quyền kiểm sát, có quyền sửa lại các quyết định không đúng pháp luật;

    – Đề xuất các phương án cải cách hệ thống cơ quan kiểm sát trên toàn quốc, tiến hành việc cải cách hệ thống cơ quan kiểm sát sau khi được cơ quan có thẩm quyền thông qua phương án cải cách; lập kế hoạch và hướng dẫn kỹ năng kiểm sát, đưa vào thử nghiệm, đánh giá và áp dụng trên toàn quốc;

    – Giải thích pháp luật trong lĩnh vực công tác kiểm sát;

    – Xây dựng điều lệ, quy chế, quy định những điều khoản chi tiết trong công tác kiểm sát;

    – Thực hiện quyền quản lý về nhân sự đối với các Viện kiểm sát cấp dưới, xác định biên chế của các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát chuyên ngành;

    – Đệ trình Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Viện trưởng cấp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát chuyên ngành; đề nghị với Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc miễn nhiệm và thay thế Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Uỷ viên Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát các cấp thấp hơn;

    – Tổ chức và hướng dẫn công tác giáo dục, đào tạo trong các cơ sở đào tạo của ngành kiểm sát và với các cán bộ kiểm sát;

    – Xây dựng kế hoạch và hướng dẫn hoạt động lập kế hoạch, đầu tư tài chính, trang thiết bị của hệ thống cơ quan kiểm sát;

    Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm:

    – Văn phòng;

    – Ban Chính trị;

    – Tổng cục chống tham nhũng;

    – Vụ kiểm sát hình sự;

    – Vụ kiểm sát giam giữ;

    – Vụ kiểm sát hành chính, dân sự;

    – Vụ kiểm sát khiếu nại, tố cáo;

    – Vụ kiểm sát thi hành án;

    – Trung tâm thông tin;

    – Vụ kiểm sát vận tải đường sắt;

    – Cục kỹ thuật kiểm sát;

    – Viện nghiên cứu chính sách, pháp luật;

    – Cục thanh tra;

    – Cục giáo dục rèn luyện cán bộ;

    – Cục đối ngoại;

    – Cục kế hoạch tài vụ và trang thiết bị;

    – Cục quản lý hành chính sự vụ;

    – Cục cán bộ lão thành.

    Ngoài ra, còn có các đơn vị trực thuộc như: Nhà xuất bản kiểm sát, Báo kiểm sát, Viện nghiên cứu lý luận kiểm sát, Viện nghiên cứu khoa học kĩ thuật kiểm sát, Học viện bồi dưỡng cán bộ kiểm sát cao cấp…

    Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên, thư ký, cảnh sát tư pháp và các nhân viên hành chính, nhân viên hậu cần, kỹ thuật.

    3.2. Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương

    Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu và bãi miễn; nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, nhưng không quá hai nhiệm kỳ. Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bổ nhiệm và bãi miễn.

    Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương bao gồm:

    Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương gồm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương (cấp thứ 2); Viện kiểm sát nhân dân thành phố thuộc tỉnh, châu tự trị… (cấp thứ 3); Viện kiểm sát nhân dân huyện, khu trực thuộc thành phố (cấp cơ sở).

    Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp bao gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên, thư ký, cảnh sát tư pháp và các nhân viên hành chính, nhân viên hậu cần, kỹ thuật.

    4. Cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân 4.1. Tiêu chuẩn kiểm sát viên

    Viện kiểm sát chuyên ngành là cơ quan kiểm sát đặc biệt được thành lập trong hệ thống tổ chức ngành kiểm sát. Trong những năm 1980, ở Trung Quốc tồn tại 3 viện kiểm sát chuyên ngành là: Viện kiểm sát vận tải, Viện kiểm sát đường sắt và Viện kiểm sát quân sự. Hiện nay, chỉ còn tồn tại Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sát đường sắt trong hệ thống Viện kiểm sát chuyên ngành. Viện kiểm sát quân sự là cơ quan giám sát pháp luật chuyên môn được thành lập trong Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa, thực hiện quyền kiểm sát đối với tội phạm trong lĩnh vực quân sự và các vụ án phạm tội hình sự khác do quân nhân tại ngũ thực hiện. Trong hoạt động của mình, Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tổng cục Chính trị quân giải phóng nhân dân Trung Hoa. Viện kiểm sát đường sắt chịu trách nhiệm giám sát pháp luật trong lĩnh vực đường sắt.

    Kiểm sát viên là chức danh pháp lý chủ yếu trong Viện kiểm sát nhân dân, người thực thi chủ yếu các nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân. Theo Luậtcán bộ kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Điều 10), để có thể trở thành kiểm sát viên cần có đủ các tiêu chuẩn sau đây:

    – Có quốc tịch Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;

    – Tán thành Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;

    – Tròn 23 tuổi;

    – Có tố chất chính trị, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức tốt đẹp (chưa từng bị kết án hình sự hoặc bị khai trừ khỏi chức vụ);

    – Khoẻ mạnh;

    – Tốt nghiệp ngành luật của trường đại học hoặc tốt nghiệp trường đại học không thuộc ngành luật nhưng có kiến thức chuyên ngành luật và đã công tác tròn 2 năm hoặc đã có bằng đại học luật và công tác tròn 1 năm. Người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật thì không bị hạn chế bởi thời gian công tác nói trên.

    4.2. Cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm

    Nhân viên kiểm sát trước khi thi hành luật này, nếu không đủ điều kiện quy định về trình độ nêu trên thì phải được đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa, việc bầu, bổ nhiệm, bãi miễn Viện trưởng, Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên… Viện kiểm sát nhân dân được quy định như sau:

    Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu và bãi miễn.

    Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Nếu tiếp tục được bầu, nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng không được vượt quá 2 nhiệm kỳ.

    Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc căn cứ vào đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.

    Đại hội đại biểu nhân dân các cấp ở địa phương bầu và bãi miễn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Việc bầu hoặc bãi miễn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương phải báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên để đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cấp đó phê chuẩn.

    Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cấp đó bổ nhiệm và miễn nhiệm.

    Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp. Nếu tiếp tục được bầu, nhiệm kỳ của Viện trưởng cũng không được vượt quá 2 nhiệm kỳ.

    Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có thể bãi bỏ, thay thế Viện trưởng, Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới.

    5. Nội dung cải cách cơ quan Viện kiểm sát ở Trung Quốc trong thời gian tới

    Trợ lý kiểm sát viên và thư ký của Viện kiểm sát nhân dân các cấp do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm. Sau khi được Viện trưởng phê chuẩn, trợ lý kiểm sát viên có thể làm thay nhiệm vụ của kiểm sát viên.

    Một là, hoàn thiện chế độ giám sát nhân dân đối với hoạt động của Viện kiểm sát. Thực tế hoạt động điều tra, truy tố các vụ án tham nhũng, các vụ án lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội của Viện kiểm sát đã được Đảng, nhà nước và nhân dân đánh giá cao. Bên cạnh đó, dư luận xã hội cũng đánh giá quyền lực của Viện kiểm sát là rất lớn, song hoạt động điều tra của Viện kiểm sát đối với những vụ án này còn thiếu sự giám sát để bảo đảm quá trình điều tra, truy tố tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật. Hiện nay, pháp luật chưa quy định cơ chế giám sát hữu hiệu đối với hoạt động của Viện kiểm sát, do vậy phải tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan có thẩm quyền, của nhân dân. Chẳng hạn khi Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, không truy tố người bị tình nghi ra trước Toà án để xét xử thì đòi hỏi phải có sự giám sát của nhân dân và sự giám sát của bản thân nội bộ Viện kiểm sát v.v… Quá trình cải cách đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm đối với các Viện kiểm sát và cán bộ, kiểm sát viên trong thực thi nhiệm vụ, phải thực hiện chế độ công khai hoá mọi hoạt động công tác của kiểm sát viên khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

    Hai là, tăng cường chức năng giám sát các hoạt động tố tụng (khởi tố, bắt, giữ, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, bảo đảm sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, kiên quyết chống những hành vi vi phạm quyền dân chủ của công dân, vi phạm nhân quyền. Khắc phục tình trạng có nhiều vụ án cơ quan điều tra không phát hiện, khởi tố do vậy còn bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, các cơ quan quản lý cũng có xu hướng không xử lý hình sự mà giữ lại để xử lý hành chính, do vậy phát hiện được vi phạm nhưng không chuyển cho cơ quan điều tra để điều tra, xử lý mà muốn giữ lại để xử lý nội bộ.

    Viện kiểm sát phải nâng cao chất lượng công tác điều tra, xử lý các tội phạm tham nhũng, các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước.

    Tăng cường phát hiện vi phạm của cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra, nhất là các hành vi bức cung, nhục hình, xử lý nghiêm minh đối với các trường hợp bức cung, nhục hình, vi phạm quyền dân chủ của công dân.

    Tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ án tử hình bảo đảm thủ tục thi hành án đúng pháp luật.

    Ba là, tăng cường chế độ giám sát trong nội bộ các hoạt động của Viện kiểm sát các cấp, bảo đảm hoạt động kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử được tiến hành khoa học và chặt chẽ. Thực hiện nhất thể hoá các thao tác nghiệp vụ trong công tác kiểm sát khởi tố, kiểm sát điều tra. Tăng cường sự quản lý chỉ đạo đối với hoạt động khởi tố, điều tra của cơ quan điều tra. Tập trung giải quyết triệt để những vụ án trọng điểm, phức tạp.

    Thực hiện quy phạm hoá các thao tác nghiệp vụ, bảo đảm mọi hoạt động nghiệp vụ thống nhất.

    Bốn là, hoàn thiện hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát. Tăng cường quản lý của Viện trưởng các cấp đối với cán bộ, kiểm sát viên thuộc quyền. Thực hiện nghiêm túc chế độ tuyển dụng công khai thông qua thi tuyển. Cán bộ, kiểm sát viên cấp trên phải được lựa chọn từ cán bộ, kiểm sát viên ưu tú của Viện kiểm sát cấp dưới. Thực hiện chế độ phân loại cán bộ kiểm sát theo ba loại: cán bộ nghiệp vụ, cán bộ hành chính và cán bộ chuyên môn kỹ thuật. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kiểm sát viên, bảo đảm cho cán bộ, kiểm sát viên có khả năng độc lập trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

    Có chế độ đãi ngộ thoả đáng để thu hút nhân tài cho ngành kiểm sát và thu hút cán bộ đến công tác ở những vùng khó khăn (miền Tây Trung Quốc).

    Năm là, tăng cường hiện đại hoá trang thiết bị, phương tiện làm việc để nâng cao chất lượng, hiệu quả các khâu công tác kiểm sát (trang bị máy vi tính cho tất cả cán bộ kiểm sát), sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật để phục vụ công tác kiểm sát, nối mạng trong hệ thống Viện kiểm sát toàn quốc, tin học hoá hoạt động kiểm sát, mọi hoạt động từ khởi tố, bắt giữ, điều tra, truy tố đều được đưa lên mạng để giám sát, kiểm tra hoạt động trong nội bộ cơ quan Viện kiểm sát.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chưa Thống Nhất Bổ Sung Chức Năng Giám Định Tư Pháp Cho Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
  • Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Ngành Kiểm Sát Nhân Dân (26/7/1960
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam Qua Các Thời Kỳ (Từ 1960 Đến 2022)
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Bộ Máy:
  • Cơ Cấu, Tổ Chức Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Cấu, Tổ Chức Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Bộ Máy:
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam Qua Các Thời Kỳ (Từ 1960 Đến 2022)
  • Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Ngành Kiểm Sát Nhân Dân (26/7/1960
  • Chưa Thống Nhất Bổ Sung Chức Năng Giám Định Tư Pháp Cho Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
  • 1. Trả lời cho câu hỏi viện kiểm sát là gì ?

    Có thể hiểu một cách đơn giản nhất, viện kiểm sát là cơ quan chức năng có trách nhiệm và quyền hạn thực hiện công tố . Cùng với tòa án, cơ quan này thuộc nhánh tư pháp trong bộ máy nhà nước. Viện kiểm sát được chia thành nhiều cấp bậc khác nhau. Trong đó, viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan có thẩm quyền cao nhất. Ngoài ra, còn có các viện kiểm sát trực thuộc địa phương như : viện kiểm sát tỉnh ( thành phố), viện kiểm sát quận (huyện).

    Viện kiểm sát là một cơ quan được quốc hội giao quyền trực tiếp về thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước và công dân trên địa bàn. Sau khi hiến pháp năm 1992 được sửa đổi vào năm 2002, viện kiểm sát còn có thêm chức năng thực hiện quyền công tố theo luật tố tụng hình sự quy định.

    1.2. Viện kiếm sát tiếng anh là gì?

    Chắc hẳn các bạn , đặc biệt là các bạn ngành luật có quan tâm tên tiếng anh của viện kiểm sát là gì đúng không? Nó là một ngôn ngữ chuyên ngành mà nhất định các bạn ngành luật phải biết để phục vụ cho quá trình học tập và làm việc. Viện kiểm soát có tên tiếng anh là procuracy, tên đầy đủ của viện kiểm sat nhân dân sẽ là people procuracy.

    2. Cơ cấu tổ chức và chức năng của viện kiểm sát

    2.1. Các chức năng của viện kiểm sát

    Hiểu một cách nôm na, viện kiểm sát sẽ thực hiện quyền công tố và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp đối với đơn vị hành chính được phân công đảm nhiệm.

    Thực hiện quyền công tố là chức năng quan trọng của viện kiểm sát. Trong một phiên tòa xét xử, chúng ta thường sẽ thấy có luật sư và kiểm sát viên. Nếu như luật sư đóng vai trò bào chữa cho người phạm tội thì kiểm sát viên lại căn cứ vào các bằng chứng phạm tội nhằm buộc tội những đối tượng này. Viện kiểm sát sẽ có sự kết hợp chặt chẽ với tòa án nhân dân các cấp để đảm bảo việc xét xử diễn ra công bằng, minh bạch nhất.

    Đối với chức năng kiểm sát, viện kiểm sát cần phải kiểm tra tính hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp và thực hiện ngay tại thời điểm vừa tiếp nhận thông tin tố giác, kiến nghị khởi tố.

    Có thể hiểu rằng, Viện kiểm sát có chức năng bảo vệ hiến pháp, pháp luật, bảo vệ cho lẽ phải, công bằng và quyền lợi của nhân dân. Cơ quan này có sự phối kết hợp với Tòa án nhân dân đảm bảo các vấn đề kiện tụng được diễn ra công bằng nhất, và hướng tới mục tiêu không có oan sai.

    2.2. Cơ cấu tổ chức của viện kiểm sát

    Viện kiểm sát bao gồm 4 cấp bậc : Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân cấp cao ( các viện kiểm sát này đặt tại 3 thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng), viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố và viện kiểm sát nhân dân cấp quận, huyện.

    Trong viện kiểm sát, người đứng đầu là viện trưởng đảm nhiệm công tác phân công, điều hành công việc của các kiểm sát viên, đồng thời tham gia vào các trọng án có nhiều tình tiết phức tạp. Bên dưới viện trưởng viện kiểm sát là viện phó hỗ trợ viện trưởng trong quá trình làm việc và điều hành các kiểm sát viên. Các kiểm sát viên sẽ nhận sự phân công của cấp trên để tham gia giải quyết các vụ án trên địa bàn phụ trách.

    2.3. Viện kiểm sát có quyền gì

    Quyền kháng nghị

    Viện kiểm sát nhân dân dùng quyền kháng nghị khi nào? Trong trường hợp mà hành vi,bản án , quyết định của cơ quan , cá nhân có thẩm quyết trong hoạt động tư pháp có hành vi đặc biệt nghiêm trọng vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, xâm phạm đến lơi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp phasp của tổ chức, cá nhân thì lúc đó viện kiểm sát nhân dân sẽ phải kháng nghị lên các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật

    Quyền kiến nghị

    Viện kiểm sát nhân dân dùng quyền kháng nghị khi nào? Trong trường hợp mà hành vi,bản án , quyết định của cơ quan , cá nhân có thẩm quyết trong hoạt động tư pháp có hành vi đặc biệt nghiêm trọng vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, xâm phạm đến lơi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp phasp của tổ chức, cá nhân thì lúc đó viện kiểm sát nhân dân sẽ phải kháng nghị lên các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật

    3. Sự khác biệt giữa viện kiểm sát và tòa án nhân dân

    Về chức năng, viện kiểm sát sẽ tiến hành kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hiện quyền công tố. Trong khi đó, toà án nhân dân sẽ có vai trò xét xử và thực hiện quyền tư pháp.

    Tòa án sẽ là cơ quan đưa ra quyết định tuyên án dựa theo các căn cứ của hai bên viện kiểm sát và luật sư. Như vậy, viện kiểm sát sẽ đóng vai trò tìm hiểu một chuyên án và tìm những chứng cứ để buộc tội nếu như người bị tố giác thực sự vi phạm. Tuy nhiên, cơ quan này không phải là người đưa ra quyết định cuối cùng đối với người phạm tội.

    4. Điều kiện để trở thành một kiểm sát viên

    4.1. Điều kiện về bằng cấp

    Để có thể trở thành một kiểm sát viên, tiêu chí đầu tiên bạn cần đáp ứng được chính là có trình độ về cử nhân Luật trở lên. Sau khi tốt nghiệp các trường thuộc chuyên ngành Luật như Đại học Luật Hà Nội, đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, hoặc một số các trường đại học có đào tạo chuyên ngành Luật như đại học Kinh tế Quốc Dân, Đại học Quốc Gia khoa Luật, bạn hoàn toàn có thể tham dự các kỳ thi công chức ngành kiểm sát để trở thành những kiểm sát viên làm việc trong các viện kiểm sát các cấp.

    4.2. Điều kiện về lý lịch

    Gần giống như các ngành công an, quân đội, ngành kiểm sát sẽ tiến hành điều tra lý lịch khá “chặt”. Khi nộp hồ sơ thi tuyển vào ngành này, các bạn cần phải đảm bảo có một lý lịch ” sạch”, bản thân và bố mẹ, ông bà, anh, chị, em không vi phạm pháp luật, không có những hành vi chống phá Đảng và Nhà nước.

    4.3. Điều kiện về sức khỏe

    Nghề kiểm sát viên có áp lực công việc khá lớn. Vì vậy, các bạn cần phải có sức khỏe đảm bảo thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu công việc. Trước khi tham dự kỳ thi nghiệp vụ kiểm sát và kỳ thi công chức, bạn cần phải trải qua vòng sơ tuyển sức khỏe. Nếu bạn đảm bảo về chiều cao, cân nặng và không mắc các bệnh truyền nhiễm, bệnh nan y nguy hiểm, bạn sẽ có cơ hội đi vào “vòng tiếp theo”.

    5. Phương thức thi tuyển để trở thành nhân viên của viện kiểm sát

    Để có thể trở thành nhân viên của viện kiểm sát, các bạn phải trải qua những kỳ thi khá gắt gao.

    Sau khi có bằng cử nhân luật, các bạn có nguyện vọng muốn làm việc tại viện kiểm sát cần phải tham dự kỳ thi công chức và kỳ thi riêng của ngành kiểm sát. Đề thi rất đa dạng về tất cả các mảng kiến thức nói chung và kiến thức của ngành Luật nói riêng. Ngoài ra, các bạn cần phải tham dự thi tiếng Anh, tin học và một số bộ môn khác theo yêu cầu.

    Kết quả thi sẽ được xét theo độ dốc, từ cao xuống thấp, nếu bài thi của bạn đạt được điểm số cao hơn so với các đối thủ, chắc chắn, bạn sẽ giành được tấm vé vào làm việc tại viện kiểm sát- là mơ ước của rất nhiều các sinh viên tốt nghiệp ngành luật.

    Tuy nhiên, trước khi thi tuyển, các bạn cần phải đảm bảo bản thân đáp ứng được tất cả điều kiện của ngành, tránh tình trạng đã trúng tuyển nhưng lại lý lịch gia đình hoặc sức khỏe bản thân lại không đáp ứng được yêu cầu công việc.

    6. Học viện kiểm sát ra có việc làm không?

    7. Trường học viện kiểm sát ở đâu?

    Trường có tên là Đại học kiểm sát hà nội , trường là cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trực thuộc Viện kiểm soát nhân dân tối cao. Đại học kiểm sát Hà Nội là cái tên khá mới trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam vì vậy chắc nhiều bạn vẫn không biết trường ở đâu đúg không? Trường được đặt tại trụ sở : phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Và hiện tại chỉ có một cơ sở duy nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Hoạt Động Tố Tụng Dân Sự
  • Giới Thiệu Viện Kiểm Sát Tỉnh Tuyên Quang
  • Mô Hình Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Nhìn Từ Thực Tiễn Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Hiện Nay
  • Ra Mắt Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Tại
  • Về Câu Nói Của M.gorki: “văn Học Là Nhân Học”
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Và Cán Bộ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Mở Rộng Quyền Của Cơ Quan Kiểm Sát?
  • Nguyên Tắc Và Cơ Cấu Tổ Chức, Hoạt Động Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ngành Kiểm Sát
  • Công Tác Tham Mưu Trong Quá Trình Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ngành Kiểm Sát Nhân Dân
  • Kinh Tế Chính Trị Mac
  • 1. Vài nét về sự ra đời và phát triển của cơ quan Viện kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

    … Đến triều đại nhà Thanh, mô hình bộ máy nhà nước, trong đó có cơ quan công tố từ phương Tây mà đặc biệt là Pháp đã được áp dụng tại Trung Quốc. Theo Luật tổ chức xét xử Da Li Yuan (Toà án), cơ quan kiểm sát được gọi là cục công tố được thành lập ở tất cả các toà án với nhiệm vụ truy tố, giám sát xét xử và giám sát thi hành án. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, chức năng công tố đã chính thức tách rời khỏi chức năng xét xử.

    Ngày 10 tháng 10 năm 1911, triều đình phong kiến nhà Thanh bị lật đổ, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. Bên cạnh những tư tưởng mới về tự do, dân chủ, về luật pháp của các nước Âu, Mỹ mới du nhập vào Trung Quốc, tư tưởng và thói quen xét xử của đất nước phong kiến hàng nghìn năm vẫn hiện hữu, không dễ gì xoá bỏ. Vì vậy, luật pháp Trung Quốc giai đoạn này có sự pha trộn, kết hợp giữa các mô hình. Hệ thống cơ quan công tố cũng không phải là ngoại lệ. Luật tổ chức Toà án năm 1921 đã thành lập một hệ thống công tố độc lập, tách rời với cơ cấu của Toà án. Viện công tố có nhiệm vụ: điều tra tội phạm, khởi tố và thực hành quyền công tố, hỗ trợ tư tố và chỉ đạo thi hành án hình sự.

    Đến năm 1927, quy định về Toà án tối cao được ban hành. Theo quy định này, các viện công tố được thành lập gắn với toà án như mô hình của Pháp.

    Đến năm 1931, Viện công tố được giao thêm nhiệm vụ giám sát các quan chức nhà nước. Đây là sự kết hợp giữa truyền thống luật Châu Âu lục địa và truyền thống luật Trung Quốc.

    Sau khi Cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo giành thắng lợi, Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập (1/10/1949), dưới sự ảnh hưởng to lớn của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô – viết (Liên Xô), Trung Quốc đã tiếp thu mô hình và những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy và hoạt động của Nhà nước Liên Xô vào việc tổ chức bộ máy nhà nước của mình. Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát cũng không phải là ngoại lệ, theo đó, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là cơ quan giám sát pháp luật, được thành lập theo địa giới hành chính nhưng độc lập với hệ thống cơ quan hành chính và cơ quan Toà án, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương (đặt ở 3 cấp hành chính là: tỉnh, thành phố và huyện) và Viện kiểm sát chuyên ngành. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát cao nhất của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc) bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Chế độ lãnh đạo trong ngành kiểm sát được thực hiện là chế độ lãnh đạo theo ngành dọc, Viện kiểm sát địa phương phải phục tùng sự lãnh đạo của Viện kiểm sát cấp trên và của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm.

    Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1954 (Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Trung Hoa) và Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1954, khi bàn về Viện kiểm sát, có quan điểm cho rằng cần quy định Viện kiểm sát chịu chế độ lãnh đạo song trùng (phụ thuộc vào Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương). Tuy nhiên, Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1954 được ban hành vẫn giữ nguyên nguyên tắc lãnh đạo trong ngành kiểm sát là Viện kiểm sát địa phương chỉ phục tùng sự lãnh đạo của Viện kiểm sát cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Vào những năm cuối của thập niên 50, nhiều ý kiến cho rằng phải xem lại các quy định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp. Thậm chí, còn xuất hiện quan điểm mạnh mẽ hơn, cho rằng cần bỏ cơ quan kiểm sát và quyền kiểm sát. Kết quả là vào năm 1961, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện việc nhập cơ quan kiểm sát vào cơ quan công an và đến năm 1968, hệ thống cơ quan viện kiểm sát Trung Quốc chính thức bị bãi bỏ. Hiến pháp năm 1975 của Trung Quốc quy định rõ ” chức năng của cơ quan kiểm sát do cơ quan công an thực hiện “. Thực chất, cơ quan công an chỉ đảm nhiệm thêm chức năng công tố mà cụ thể là truy tố kẻ phạm tội ra toà, còn các nhiệm vụ khác của cơ quan kiểm sát không có cơ quan nào đảm nhiệm.

    Từ năm 1976, Cách mạng văn hoá chấm dứt, mở ra kỷ nguyên tái thiết luật pháp ở Trung Quốc. Cơ quan Viện kiểm sát ở Trung Quốc được khôi phục trở lại. Sự khôi phục cơ quan kiểm sát được đánh dấu bằng Hiến pháp năm 1978, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1979, và sau đó, được tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1982, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1983, 1995. Theo các quy định này, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được thành lập ở trung ương và ở các địa phương (đến cơ quan hành chính cấp thứ tư), độc lập với cơ quan Toà án, có chức năng giám sát việc chấp hành pháp luật. So với Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1954, quy định về Viện kiểm sát theo Hiến pháp năm 1982, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1983 có nhiều thay đổi, thể hiện ở những điểm lớn sau:

    Thứ nhất, khẳng định chế độ lãnh đạo song trùng, theo đó, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương do Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và Đại hội đại biểu nhân dân địa phương lãnh đạo.

    Thứ hai, thu hẹp chức năng, thẩm quyền của cơ quan kiểm sát đối với các vụ án dân sự và quyền giám sát đối với tố tụng hành chính, kinh tế, xã hội; Viện kiểm sát tập trung chủ yếu vào giải quyết các vụ án hình sự.

    Thứ ba, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm sát trong việc giám sát, điều tra, truy tố; Viện kiểm sát chịu trách nhiệm điều tra các vụ án tham nhũng và tội phạm chức vụ.

    2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 2.1. Vài nét về tổ chức nhà nước của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

    Mặc dù Trung Quốc là một quốc gia đa đảng nhưng từ khi lãnh đạo cách mạng thành công và thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1949), Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Trung Quốc. Từ đó đến nay, mặc dù có những thăng trầm nhưng Trung Quốc vẫn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác trong việc tổ chức bộ máy nhà nước của mình.

    Bộ máy nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa như các nước xã hội chủ nghĩa trước kia chứ không theo nguyên tắc phân quyền (thường được gọi là “tam quyền phân lập”) như đa số quốc gia trên thế giới. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân mà đại diện là Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) và Đại hội đại biểu nhân dân địa phương (Hội đồng nhân dân). Đây là những cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Chính phủ được xác định là cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính cao nhất. Toà án là cơ quan xét xử và Viện kiểm sát là cơ quan giám sát pháp luật. Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao đều do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra, theo nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Các cơ quan nhà nước này chỉ phối hợp với nhau chứ không có chức năng giám sát lẫn nhau như trong cơ chế phân quyền. Mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của Trung Quốc tương tự như mô hình của nước ta hiện nay.

    2.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

    Ở Trung Quốc, Viện kiểm sát không thuộc Chính phủ như đa số quốc gia trên thế giới, mà là một hệ thống cơ quan riêng biệt. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Viện kiểm sát được coi là cơ quan tư pháp chứ không phải là cơ quan hành pháp. Các Viện kiểm sát địa phương không thuộc hệ thống các cơ quan hành chính ở địa phương nhưng lại chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân địa phương-cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

    2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ

    Điều 129 Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định “Viện kiểm sát nhân dân Trung hoa là cơ quan giám sát pháp luật của Nhà nước…”. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã quy định cụ thể chức năng, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân như sau:

    (1) Thực hiện quyền kiểm sát đối với các vụ án phản quốc, chia rẽ đất nước và các vụ án phạm tội to lớn, phá hoại nghiêm trọng việc thực hiện thống nhất chính sách, pháp luật, pháp lệnh, quy chế hành chính của Nhà nước.

    (2) Tiến hành điều tra đối với các vụ án hình sự được trực tiếp thụ lý.

    (3) Kiểm sát việc điều tra vụ án hình sự do cơ quan công an tiến hành; quyết định việc bắt giữ, truy tố hoặc miễn tố đối với các vụ án do cơ quan công an điều tra; thực hiện việc giám sát xem hoạt động điều tra của cơ quan công an có hợp pháp hay không.

    (4) Khởi tố và hỗ trợ truy tố đối với các vụ án hình sự; thực hiện giám sát hoạt động xét xử của Toà án nhân dân xem có tuân thủ đúng pháp luật hay không.

    (5) Thực hiện giám sát đối với việc chấp hành phán quyết và quyết định của các vụ án hình sự, hoạt động của trại giam, nơi tạm giam và cơ quan cải tạo lao động có hợp pháp hay không.

    Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc bảo vệ quyền tố cáo của công dân đối với các nhân viên nhà nước vi phạm pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp luật đối với những người xâm phạm quyền thân thể, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân (Điều 6).

    Khác với nước ta, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa không quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát cũng như của kiểm sát viên mà trên cơ sở những quy định trên, trong từng lĩnh vực cụ thể, các văn bản pháp luật chuyên ngành (Luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng dân sự… ) sẽ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong các lĩnh vực đó.

    Trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

    – Kiểm sát điều tra: Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố của cơ quan công an; phê chuẩn lệnh bắt giữ của cơ quan công an; kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra của cơ quan công an và điều tra viên… bảo đảm việc điều tra được thực hiện đúng pháp luật; khắc phục tình trạng bắt giữ trái phép, ép cung, bức cung, hãm hại báo thù, khám xét trái phép, xâm phạm thân thể, quyền dân chủ của công dân…

    – Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp điều tra các tội phạm tham nhũng, chủ yếu là điều tra các tội tham ô, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội vì vụ lợi, cán bộ cơ quan nhà nước không làm tròn nhiệm vụ, lợi dụng chức quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân…

    Viện kiểm sát nhân dân các cấp đều có một bộ phận làm nhiệm vụ điều tra tội phạm tham nhũng. Tương tự như các nước khác, những người này là kiểm sát viên chứ không phải là điều tra viên như ở nước ta. Trong hoạt động điều tra, họ có quyền yêu cầu cơ quan công an và các cơ quan chuyên môn khác hỗ trợ khi cần thiết.

    – Truy tố người phạm tội ra trước Toà án để xét xử, luận tội và đưa ra mức hình phạt.

    – Kiểm sát xét xử hình sự: giám sát tính hợp pháp trong các phán quyết và quyết định của Toà án nhân dân, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật.

    Trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ giám sát pháp luật đối với các hoạt động xét xử (Điều 14 Luật tố tụng dân sự). Trên thực tế, Viện kiểm sát nhân dân chỉ tập trung kiểm sát các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện bản án, quyết định đó có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích xã hội thì kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để yêu cầu Toà án xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm. Khi xét xử lại, Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia phiên toà (Điều 188 Luật tố tụng dân sự).

    Trong lĩnh vực giam, giữ và cải tạo, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo. Các Viện kiểm sát cơ sở (quận, huyện) có bộ phận biệt phái tại nơi tạm giữ, tạm giam và cải tạo để thường xuyên giám sát việc chấp hành pháp luật của cơ quan công an.

    Trong lĩnh vực thi hành án, Viện kiểm sát có nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan thi hành án dân sự, bảo đảm việc thi hành án của cơ quan thi hành án đúng pháp luật.

    3. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân

    Điều 130 Hiến pháp quy định: “Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp, Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sát nhân dân chuyên ngành khác”.

    Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa quy định hệ thống, cơ cấu tổ chức Viện kiểm sát Trung Hoa như sau:

    3.1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát cao nhất của Nhà nước, có chức năng giám sát pháp luật và lãnh đạo Viện kiểm sát địa phương các cấp, Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện chức năng giám sát pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện pháp luật được đúng đắn và thống nhất.

    Để thực hiện chức năng này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

    – Chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Uỷ ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc;

    – Đệ trình các dự án pháp luật tới Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc;

    – Lãnh đạo các Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện công tác kiểm sát, xây dựng cơ chế hoạt động kiểm sát;

    – Tiến hành điều tra các vụ án phức tạp như tham nhũng, hối lộ, xâm phạm quyền dân chủ của công dân, các vụ thiếu trách nhiệm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi và những vụ án khác mà cần thiết phải được thông qua và xem xét một cách trực tiếp; Lãnh đạo các Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc tiến hành hoạt động điều tra;

    – Xem xét và phê chuẩn việc bắt và khởi tố bị can theo quy định của pháp luật, chỉ đạo Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc xem xét, phê chuẩn việc bắt kẻ tình nghi phạm tội và khởi tố bị can;

    – Chỉ đạo Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong hoạt động giám sát việc xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính theo quy định của pháp luật;

    – Đối với các bản án, quyết định của Toà án các cấp đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thì có quyền kháng nghị lên Toà án nhân dân tối cao;

    – Kiểm tra các quyết định của Viện kiểm sát địa phương và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thực hiện quyền kiểm sát, có quyền sửa lại các quyết định không đúng pháp luật;

    – Đề xuất các phương án cải cách hệ thống cơ quan kiểm sát trên toàn quốc, tiến hành việc cải cách hệ thống cơ quan kiểm sát sau khi được cơ quan có thẩm quyền thông qua phương án cải cách; lập kế hoạch và hướng dẫn kỹ năng kiểm sát, đưa vào thử nghiệm, đánh giá và áp dụng trên toàn quốc;

    – Giải thích pháp luật trong lĩnh vực công tác kiểm sát;

    – Xây dựng điều lệ, quy chế, quy định những điều khoản chi tiết trong công tác kiểm sát;

    – Thực hiện quyền quản lý về nhân sự đối với các Viện kiểm sát cấp dưới, xác định biên chế của các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát chuyên ngành;

    – Đệ trình Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Viện trưởng cấp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát chuyên ngành; đề nghị với Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc miễn nhiệm và thay thế Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Uỷ viên Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát các cấp thấp hơn;

    – Tổ chức và hướng dẫn công tác giáo dục, đào tạo trong các cơ sở đào tạo của ngành kiểm sát và với các cán bộ kiểm sát;

    – Xây dựng kế hoạch và hướng dẫn hoạt động lập kế hoạch, đầu tư tài chính, trang thiết bị của hệ thống cơ quan kiểm sát;

    Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm:

    – Văn phòng;

    – Ban Chính trị;

    – Tổng cục chống tham nhũng;

    – Vụ kiểm sát hình sự;

    – Vụ kiểm sát giam giữ;

    – Vụ kiểm sát hành chính, dân sự;

    – Vụ kiểm sát khiếu nại, tố cáo;

    – Vụ kiểm sát thi hành án;

    – Trung tâm thông tin;

    – Vụ kiểm sát vận tải đường sắt;

    – Cục kỹ thuật kiểm sát;

    – Viện nghiên cứu chính sách, pháp luật;

    – Cục thanh tra;

    – Cục giáo dục rèn luyện cán bộ;

    – Cục đối ngoại;

    – Cục kế hoạch tài vụ và trang thiết bị;

    – Cục quản lý hành chính sự vụ;

    – Cục cán bộ lão thành.

    Ngoài ra, còn có các đơn vị trực thuộc như: Nhà xuất bản kiểm sát, Báo kiểm sát, Viện nghiên cứu lý luận kiểm sát, Viện nghiên cứu khoa học kĩ thuật kiểm sát, Học viện bồi dưỡng cán bộ kiểm sát cao cấp…

    Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên, thư ký, cảnh sát tư pháp và các nhân viên hành chính, nhân viên hậu cần, kỹ thuật.

    Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu và bãi miễn; nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, nhưng không quá hai nhiệm kỳ. Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bổ nhiệm và bãi miễn.

    3.2. Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương

    Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương bao gồm:

    Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương gồm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương (cấp thứ 2); Viện kiểm sát nhân dân thành phố thuộc tỉnh, châu tự trị… (cấp thứ 3); Viện kiểm sát nhân dân huyện, khu trực thuộc thành phố (cấp cơ sở).

    Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp bao gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên, thư ký, cảnh sát tư pháp và các nhân viên hành chính, nhân viên hậu cần, kỹ thuật.

    3.3. Viện kiểm sát chuyên ngành

    Viện kiểm sát chuyên ngành là cơ quan kiểm sát đặc biệt được thành lập trong hệ thống tổ chức ngành kiểm sát. Trong những năm 1980, ở Trung Quốc tồn tại 3 viện kiểm sát chuyên ngành là: Viện kiểm sát vận tải, Viện kiểm sát đường sắt và Viện kiểm sát quân sự. Hiện nay, chỉ còn tồn tại Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sát đường sắt trong hệ thống Viện kiểm sát chuyên ngành. Viện kiểm sát quân sự là cơ quan giám sát pháp luật chuyên môn được thành lập trong Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa, thực hiện quyền kiểm sát đối với tội phạm trong lĩnh vực quân sự và các vụ án phạm tội hình sự khác do quân nhân tại ngũ thực hiện. Trong hoạt động của mình, Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tổng cục Chính trị quân giải phóng nhân dân Trung Hoa. Viện kiểm sát đường sắt chịu trách nhiệm giám sát pháp luật trong lĩnh vực đường sắt.

    4. Cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân 4.1. Tiêu chuẩn kiểm sát viên

    Kiểm sát viên là chức danh pháp lý chủ yếu trong Viện kiểm sát nhân dân, người thực thi chủ yếu các nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân. Theo Luậtcán bộ kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Điều 10), để có thể trở thành kiểm sát viên cần có đủ các tiêu chuẩn sau đây:

    – Có quốc tịch Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;

    – Tán thành Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;

    – Tròn 23 tuổi;

    – Có tố chất chính trị, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức tốt đẹp (chưa từng bị kết án hình sự hoặc bị khai trừ khỏi chức vụ);

    – Khoẻ mạnh;

    – Tốt nghiệp ngành luật của trường đại học hoặc tốt nghiệp trường đại học không thuộc ngành luật nhưng có kiến thức chuyên ngành luật và đã công tác tròn 2 năm hoặc đã có bằng đại học luật và công tác tròn 1 năm. Người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật thì không bị hạn chế bởi thời gian công tác nói trên.

    Nhân viên kiểm sát trước khi thi hành luật này, nếu không đủ điều kiện quy định về trình độ nêu trên thì phải được đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    4.2. Cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm

    Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa, việc bầu, bổ nhiệm, bãi miễn Viện trưởng, Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên… Viện kiểm sát nhân dân được quy định như sau:

    Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu và bãi miễn.

    Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Nếu tiếp tục được bầu, nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng không được vượt quá 2 nhiệm kỳ.

    Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc căn cứ vào đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương.

    Đại hội đại biểu nhân dân các cấp ở địa phương bầu và bãi miễn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Việc bầu hoặc bãi miễn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương phải báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên để đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cấp đó phê chuẩn.

    Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cấp đó bổ nhiệm và miễn nhiệm.

    Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương trùng với nhiệm kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp. Nếu tiếp tục được bầu, nhiệm kỳ của Viện trưởng cũng không được vượt quá 2 nhiệm kỳ.

    Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có thể bãi bỏ, thay thế Viện trưởng, Phó Viện trưởng, uỷ viên Uỷ ban kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới.

    Trợ lý kiểm sát viên và thư ký của Viện kiểm sát nhân dân các cấp do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm. Sau khi được Viện trưởng phê chuẩn, trợ lý kiểm sát viên có thể làm thay nhiệm vụ của kiểm sát viên.

    5. Nội dung cải cách cơ quan Viện kiểm sát ở Trung Quốc trong thời gian tới

    Một là, hoàn thiện chế độ giám sát nhân dân đối với hoạt động của Viện kiểm sát. Thực tế hoạt động điều tra, truy tố các vụ án tham nhũng, các vụ án lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội của Viện kiểm sát đã được Đảng, nhà nước và nhân dân đánh giá cao. Bên cạnh đó, dư luận xã hội cũng đánh giá quyền lực của Viện kiểm sát là rất lớn, song hoạt động điều tra của Viện kiểm sát đối với những vụ án này còn thiếu sự giám sát để bảo đảm quá trình điều tra, truy tố tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật. Hiện nay, pháp luật chưa quy định cơ chế giám sát hữu hiệu đối với hoạt động của Viện kiểm sát, do vậy phải tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan có thẩm quyền, của nhân dân. Chẳng hạn khi Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, không truy tố người bị tình nghi ra trước Toà án để xét xử thì đòi hỏi phải có sự giám sát của nhân dân và sự giám sát của bản thân nội bộ Viện kiểm sát v.v… Quá trình cải cách đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm đối với các Viện kiểm sát và cán bộ, kiểm sát viên trong thực thi nhiệm vụ, phải thực hiện chế độ công khai hoá mọi hoạt động công tác của kiểm sát viên khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

    Hai là, tăng cường chức năng giám sát các hoạt động tố tụng (khởi tố, bắt, giữ, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, bảo đảm sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, kiên quyết chống những hành vi vi phạm quyền dân chủ của công dân, vi phạm nhân quyền. Khắc phục tình trạng có nhiều vụ án cơ quan điều tra không phát hiện, khởi tố do vậy còn bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, các cơ quan quản lý cũng có xu hướng không xử lý hình sự mà giữ lại để xử lý hành chính, do vậy phát hiện được vi phạm nhưng không chuyển cho cơ quan điều tra để điều tra, xử lý mà muốn giữ lại để xử lý nội bộ.

    Viện kiểm sát phải nâng cao chất lượng công tác điều tra, xử lý các tội phạm tham nhũng, các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước.

    Tăng cường phát hiện vi phạm của cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra, nhất là các hành vi bức cung, nhục hình, xử lý nghiêm minh đối với các trường hợp bức cung, nhục hình, vi phạm quyền dân chủ của công dân.

    Tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ án tử hình bảo đảm thủ tục thi hành án đúng pháp luật.

    Ba là, tăng cường chế độ giám sát trong nội bộ các hoạt động của Viện kiểm sát các cấp, bảo đảm hoạt động kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử được tiến hành khoa học và chặt chẽ. Thực hiện nhất thể hoá các thao tác nghiệp vụ trong công tác kiểm sát khởi tố, kiểm sát điều tra. Tăng cường sự quản lý chỉ đạo đối với hoạt động khởi tố, điều tra của cơ quan điều tra. Tập trung giải quyết triệt để những vụ án trọng điểm, phức tạp.

    Thực hiện quy phạm hoá các thao tác nghiệp vụ, bảo đảm mọi hoạt động nghiệp vụ thống nhất.

    Bốn là, hoàn thiện hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát. Tăng cường quản lý của Viện trưởng các cấp đối với cán bộ, kiểm sát viên thuộc quyền. Thực hiện nghiêm túc chế độ tuyển dụng công khai thông qua thi tuyển. Cán bộ, kiểm sát viên cấp trên phải được lựa chọn từ cán bộ, kiểm sát viên ưu tú của Viện kiểm sát cấp dưới. Thực hiện chế độ phân loại cán bộ kiểm sát theo ba loại: cán bộ nghiệp vụ, cán bộ hành chính và cán bộ chuyên môn kỹ thuật. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kiểm sát viên, bảo đảm cho cán bộ, kiểm sát viên có khả năng độc lập trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

    Có chế độ đãi ngộ thoả đáng để thu hút nhân tài cho ngành kiểm sát và thu hút cán bộ đến công tác ở những vùng khó khăn (miền Tây Trung Quốc).

    Năm là, tăng cường hiện đại hoá trang thiết bị, phương tiện làm việc để nâng cao chất lượng, hiệu quả các khâu công tác kiểm sát (trang bị máy vi tính cho tất cả cán bộ kiểm sát), sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật để phục vụ công tác kiểm sát, nối mạng trong hệ thống Viện kiểm sát toàn quốc, tin học hoá hoạt động kiểm sát, mọi hoạt động từ khởi tố, bắt giữ, điều tra, truy tố đều được đưa lên mạng để giám sát, kiểm tra hoạt động trong nội bộ cơ quan Viện kiểm sát.

    Sáu là, cải cách thể chế quản lý và phân phối tài chính trong ngành kiểm sát. Theo quy định, tài chính của các Viện kiểm sát địa phương do địa phương phân bổ và vì vậy, các Viện kiểm sát cấp cơ sở và Viện kiểm sát miền núi hiện nay cũng gặp rất nhiều khó khăn về tài chính. Trong quá trình cải cách, nhà nước từng bước thực hiện đưa kế hoạch kinh phí nghiệp vụ của Viện kiểm sát vào ngân sách địa phương. Từng bước nghiên cứu định ra tiêu chuẩn, tài chính cơ bản để giải quyết khó khăn về tài chính trong các cơ quan Viện kiểm sát, nhất là Viện kiểm sát cấp cơ sở.

    TS. Trần Văn TrungPhó Viện trưởng Viện khoa học kiểm sát

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Giải Mã Quy Trình Kiểm Soát Cho Các Nhà Quản Lý
  • Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị Ở Các Tổ Chức
  • Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị
  • Một Số Vấn Đề Về Tổ Chức Bộ Máy Và Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Được Quy Định Trong Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992
  • Chức Năng, Quyền Hạn, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Khi Kiểm Sát Điều Tra Vụ Án Hình Sự
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Lễ Tân Khách Sạn
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Các Bộ Phận Trong Khách Sạn
  • Khám Phá Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Các Bộ Phận Trong Khách Sạn
  • Nhiệm Vụ Của Từng Bộ Phận Trong Khách Sạn
  • Tìm hiểu về chức năng của Viện kiểm sát

    Quy định về chức năng, nhiệm vụ của VKS

    Viện kiểm sát là gì? Viện kiểm sát có chức năng nhiệm vụ và quyền hạn như thế nào. Đây là vấn đề mà không chỉ người theo học pháp lý cần tìm hiểu mà mỗi người dân cũng nên nắm rõ để phục vụ cho những nhu cầu pháp lý trong cuộc sống.

    1. Viện kiểm sát là gì?

    Theo Thư viện Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì viện kiểm sát được định nghĩa như sau:

    “Viện kiểm sát có chức năng thực hiện quyền công tố. Viện kiểm sát và tòa án là hai cơ quan thuộc nhánh Tư pháp trong bộ máy nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp).

    Viện kiểm sát nhân dân chính là một Cơ quan nhà nước đảm nhiệm chức năng kiểm sát việc các cơ quan khác của nhà nước từ cấp bộ trở xuống, các tổ chức kinh tế – xã hội, các đơn vị vũ trang cho đến công dân có đảm bảo tuân thủ pháp luật hay không. Đồng thời Viện kiểm sát nhân dân còn thực hành quyền công tố, đảm nhiệm công tác điều tra tội phạm do luật tố tụng hình sự quy định.

    Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam được tổ chức một các hệ thông, gồm các cơ quan: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương, các Viện kiểm sát quân sự. Nguyên tắc hoạt động trong hệ thống tuân thủ nguyên tắc:

    Những viện trưởng của viện kiểm sát cấp dưới sẽ chịu sự lãnh đạo của viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp trên.

    Các viện trưởng của viện kiểm sát nhân dân tại địa phương và quân sự sẽ chịu sự lãnh đạo của viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Đất nước Việt Nam là đất nước theo hệ thống xã hội chủ nghĩa. Bộ máy của nhà nước thuộc hệ thống của các nước xã hội chủ nghĩa, được xây dựng nên dựa theo nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, chính nhân dân sẽ là người thực hiện quyền lực thông qua những cơ quan đại diện cho nhân dân là Hội đồng nhân dân ở các cấp.

    2. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát

    Vốn là một hệ thống độc lập, Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam được tổ chức với bốn cấp. Đó là:

    Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    Viện kiểm sát nhân dân cấp cao: có 3 Viện kiểm sát cấp cao đặt tại 3 thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.

    Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Mỗi tỉnh sẽ có một viện kiểm sát cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vậy nên cả nước có tất cả 63 Viện kiểm sát ở cấp này.

    Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hiện nay có khoảng 191 Viện kiểm sát cấp huyện.

    Ngoài ra thuộc vào hệ thống của Viện kiểm sát nhân dân sẽ có Viện kiểm sát quân sự. Trong đó, Viện kiểm sát quân sự sẽ bao gồm:

    • Viện kiểm sát quân sự Trung ương
    • Viện kiểm sát quân sự cấp Quân khu, Quân chủng,…
    • Viện kiểm sát quân sự ở các cấp Khu vực

    3. Chức năng của Viện kiểm sát

    Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng, đó là: Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp.

    Để hiểu rõ hơn chức năng của Viện kiểm sát nhân dân chúng ta cần đi sâu phân tích từng chức năng nêu trên:

    1.1.Chức năng thực hành quyền công tố:

    Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

    Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm: Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.

    Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định; Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật; Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố; Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố bằng các công tác sau đây: Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm; Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; Điều tra một số loại tội phạm; Thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.

    1.2 Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp:

    Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

    Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm: Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật; Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

    Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu để Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp; Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp; Xử lý vi phạm; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp; Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.

    Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các công tác sau đây: Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn truy tố; Kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự; Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự; Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính; Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền; Kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp.

    4. Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân:

    Bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    Ngoài ra, Viện KSND còn thực hiện một số công tác: Thống kê tội phạm; xây dựng pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; Đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu khoa học; hợp tác quốc tế và các công tác khác để xây dựng Viện kiểm sát nhân dân.

    5. Quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân:

    Quyền kháng nghị:

    Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị. Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật.

    Quyền kiến nghị:

    Theo đó, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân được cụ thể hóa trong Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính và trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ thống nhất./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Những Hiểu Biết Cơ Bản Về Viện Kiểm Sát
  • 1.3. Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Về Ý Nghĩa Ba Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Văn Học Nghệ Thuật Và Chức Năng
  • Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Của Viện Kinh Tế Xây Dựng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phím Chức Năng Trong Tiếng Tiếng Anh
  • #1 Phòng Học Đa Năng Là Gì ? Tại Sao Phải Sử Dụng Phòng Học Đa Năng ?
  • Phòng Ban Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Từng Vựng Tiếng Anh Chủ Đề Trường Học
  • Phát Huy Hiệu Quả Của Phòng Chức Năng Trong Nhà Trường
  • Viện Kinh tế xây dựng là đơn vị sự nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Xây dựng, thực hiện các chức năng: nghiên cứu chiến lược và cơ chế, chính sách về kinh tế và thị trường phục vụ công tác quản lý nhà nước ngành Xây dựng; nghiên cứu khoa học, thông tin, đào tạo, hợp tác quốc tế và thực hiện các hoạt động tư vấn về kinh tế và thị trường trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, bao gồm: quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao; nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng và các dịch vụ công.

    Viện Kinh tế xây dựng có tư cách pháp nhân, có con dấu để giao dịch, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật.

    Viện Kinh tế xây dựng thực hiện 18 nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Quyết định 1007/QĐ-BXD.

    Về cơ cấu tổ chức của Viện Kinh tế xây dựng.

    Theo Quyết định, Viện Kinh tế xây dựng có 18 đơn vị gồm:1. Văn phòng; 1.2. Phòng Nghiên cứu Chiến lược và cơ chế quản lý kinh tế ngành (gọi tắt là Phòng Cơ chế); 3. Phòng Nghiên cứu Giá và thị trường xây dựng (gọi tắt là Phòng Giá xây dựng); 4. Phòng Nghiên cứu Chỉ tiêu, định mức kinh tế – kỹ thuật (gọi tắt là Phòng Định mức); 5. Phòng Nghiên cứu Kinh tế đầu tư xây dựng (gọi tắt là Phòng Đầu tư); 6. Phòng Nghiên cứu Kinh tế phát triển đô thị (gọi tắt là Phòng Đô thị); 7. Phòng Nghiên cứu Kinh tế hạ tầng kỹ thuật (gọi tắt là Phòng Hạ tầng); 8. Phòng Nghiên cứu Kinh tế xây dựng nước ngoài (gọi tắt là Phòng Nước ngoài); 9. Phòng Kế hoạch và quản lý khoa học; 10. Phòng Tài chính – Kế toán; 11. Trung tâm Thông tin; 12. Trung tâm Đào tạo và hợp tác quốc tế; 13. Trung tâm Tư vấn kinh tế đầu tư xây dựng; 14. Trung tâm Tư vấn định giá và kiểm toán đầu tư xây dựng;15. Trung tâm Kinh tế xây dựng miền Trung; 16. Phân viện Kinh tế xây dựng miền Nam; 17. Viện Kinh tế nhà ở và thị trường bất động sản; 18. Tạp chí Kinh tế xây dựng.

    Các Viện, Phân viện và Trung tâm trực thuộc Viện Kinh tế xây dựng là các đơn vị sự nghiệp có thu, hạch toán phụ thuộc. Tuỳ theo năng lực hoạt động và yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ, các Viện, Phân viện, Trung tâm trực thuộc Viện được khắc con dấu theo mẫu quy định để giao dịch, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và ngân hàng theo sự uỷ quyền, phân cấp quản lý tài chính kế toán của Viện trưởng Viện Kinh tế xây dựng và các quy định của pháp luật.

     

    Trung tâm Thông tin

    Nguồn: Quyết định 1007/QĐ-BXD.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giám Đốc Công An Tỉnh Làm Việc Với Phòng Cảnh Sát Kinh Tế
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đoàn Kinh Tế
  • Công Cụ Điều Tiết Kinh Tế Vĩ Mô Quan Trọng Của Chính Phủ
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bql
  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Ban Quản Lý Khu Kinh Tế
  • Cơ Cấu, Tổ Chức Của Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Cấp Huyện

    --- Bài mới hơn ---

  • Pháp Lệnh Công An Xã Số 06/2008/pl
  • Phó Chủ Tịch Xã Làm Thay Chức Năng Của Tòa Án
  • Người Xã Đội Trưởng Quên Mình Vì Nhiệm Vụ
  • Cần Nghiên Cứu Chặt Chẽ, Kỹ Lưỡng Quy Định Về Ban Chỉ Huy Quân Sự Cấp Xã, Thôn Đội Trưởng Trong Dự Án Luật Dân Quân Tự Vệ (Sửa Đổi)
  • Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Mối Quan Hệ Công Tác Của Các Đảng Bộ, Chi Bộ Cơ Sở Xã Phường, Thị Trấn
  • Cơ cấu, tổ chức của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện trong hoạt động điều tra hình sự được quy định tại Khoản 2 Điều 17 Thông tư 28/2014/TT-BCA về công tác điều tra hình sự trong Công an nhân dân. Cụ thể là:

    Giám đốc Công an cấp tỉnh căn cứ tình hình tội phạm, cơ sở vật chất, số lượng cán bộ, số lượng điều tra viên của địa phương, đề xuất Bộ trưởng Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân) xem xét, quyết định tổ chức bộ máy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện cho phù hợp. Việc tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

    a) Mỗi đội điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện tối thiểu phải có 03 (ba) điều tra viên. Khi chưa đủ 03 (ba) điều tra viên thì chưa thành lập đội mới;

    b) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện chỉ tổ chức 01 (một) đội điều tra thì lấy tên chung là đội Cảnh sát điều tra. Đội này thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện, trong đó có một tổ chuyên trách thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đội Điều tra tổng hợp;

    c) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện tổ chức 02 (hai) đội điều tra thì thành lập đội Điều tra tổng hợp; sáp nhập đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và lấy tên gọi là đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy;

    d) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện tổ chức 03 (ba) đội điều tra thì thành lập đội Điều tra tổng hợp, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, sáp nhập đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và lấy tên gọi là đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy;

    đ) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện tổ chức 04 (bốn) đội điều tra thì thành lập đội Điều tra tổng hợp, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy.

    Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện được tổ chức tại mỗi quận, huyện trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) theo quyết định của Bộ trưởng Bộ công an. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện thực hiện chức năng quản lý tình hình an ninh, trật tự và phòng ngừa, trấn áp tội phạm tại địa bàn quận, huyên theo thẩm quyền và theo sự phân công của Giám đốc Công an cấp tỉnh.

    Căn cứ vào tình hình tội phạm, cơ sở vật chất, số lượng cán bộ, điều tra viên tại các quận, huyện trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mà Giám đốc Công an cấp tỉnh đề xuất Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, quyết định tổ chức bộ máy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện có từ 01 (một) đến 04 (bốn) đội điều tra theo quy định pháp luật.

    Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Marketing Là Gì? Vai Trò Và Công Việc Trong Doanh Nghiệp
  • Quản Trị Marketing: Khái Niệm, Vai Trò Và Công Việc Liên Quan
  • Hoạt Động Marketing Và Marketing Trong Việc Đẩy Mạnh Tiêu Thụ Sản Phẩm
  • Social Media Là Gì? Những Kiến Thức Các Đặc Điểm Cần Nắm Rõ
  • 3 Chức Năng Quan Trọng Của Một Phần Mềm Email Marketing
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Viện Kiểm Sát Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • 1.3. Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Những Hiểu Biết Cơ Bản Về Viện Kiểm Sát
  • Chức Năng, Quyền Hạn, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Khi Kiểm Sát Điều Tra Vụ Án Hình Sự
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Lễ Tân Khách Sạn
  • Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh), Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện) và các Viện kiểm sát quân sự các cấp (bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu) và Viện kiểm sát quân sự khu vực).

    Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

    Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

    Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:

    – Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội;

    – Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.

    Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

    Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm:

    – Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật;

    – Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ;

    – Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh;

    – Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Ý Nghĩa Ba Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Văn Học Nghệ Thuật Và Chức Năng
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì?
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm Mỹ. Anh (Chị) Hiểu Gì Về Ba Chức Năng Đó? Phân Tích Một Tác Phẩm Tr
  • Chức Năng Của Văn Học
  • Thế Mạnh Của Cơ Cấu Tổ Chức Theo Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Kiểu Cơ Cấu Tổ Chức Trong Một Doanh Nghiệp
  • Quy Định Về Tổ Chuyên Gia Và Tổ Thẩm Định Trong Đấu Thầu
  • Điều Kiện Làm Thành Viên Tổ Chuyên Gia, Tổ Thẩm Định Thầu Trong Đấu Thầu
  • Điều Kiện Tham Gia, Trách Nhiệm, Nhiệm Vụ Của Tổ Chuyên Gia Đấu Thầu
  • Hướng Dẫn Quy Định Về Nhân Sự Tổ Chuyên Gia Và Tổ Thẩm Định Trong Đấu Thầu ?
  • Cơ cấu chức năng là cơ cấu tổ chức quản trị mà các nhiệm vụ quản trị được phân chia cho các đơn vị riêng biệt theo chức năng quản trị và hình thành nên những người lãnh đạo được chuyên môn hoá, chỉ đảm nhận một chức năng nhất định.

    Các bộ phận chức năng được phân chia theo tính chất tổ chức. Chẳng hạn các bộ phận chức năng của một bệnh viện được phân chia khác hẳn so với các bộ phận trong một công ty sản xuất giấy hoặc công ty thương mại.

    Đặc điểm cơ cấu chức năng là mối liên hệ giữa các nhân viên trong tổ chức rất phức tạp.

    Người thừa hành nhiệm vụ phải nhận mệnh lệnh từ người đứng đầu tổ chức và cả từ những chuyên gia chức năng khác nhau. Các chuyên gia lãnh đạo nhân viên theo lĩnh vực chuyên môn mà họ phụ trách.

    – Thúc đẩy sự chuyên môn hoá kỹ năng, tay nghề. Các nhà quản trị chức năng có cơ hội nâng cao kỹ năng, tay nghề trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Rất khác mô hình khác như mô hình theo ma trận hay dự án, mỗi một bộ phận hoặc nhân viên có nhiều “vai”, do sự phân công rất rõ và chuyên môn hóa rất rõ trong mô hình này, để làm tròn nhiệm vụ, đòi hỏi bộ phận phải rất sâu về nghiệp vụ, đồng thời mô hình này cũng tạo điều kiện để bộ phận sâu về nghiệp vụ do hằng ngày đều chỉ làm những nhiệm vụ được phân công và lặp đi lặp lại.

    – Các nhà quản trị có thể gia tăng hiệu quả hoạt động thông qua sự phối hợp với các đồng nghiệp trong cùng bộ phận. Trong cơ cấu theo chức năng, các bộ phận gần như phân rõ quyền lực và có lằn ranh công việc rất rõ, nên mỗi bộ phận như một “vương quốc” mà tại đó các “thần dân” rất gắn kết với nhau. Đồng thời người quản lý bộ phận phải chịu trách nhiệm cao nhất về năng suất lao động của bộ phận, nên họ thường tập trung vào sự phối hợp, tính nhịp nhàng cũng như hiệu quả của bộ phận mình.

    – Giảm sự lãng phí các nguồn lực và gia tăng sự hợp tác trong cùng bộ phận. Điều này đã quá rõ, do sự nhịp nhàng và chuyên môn hóa, nên ăng suất rất cao, từ đó giảm khá nhiều chi phí về nguồn lực trong cùng bộ phận.

    – Việc lãnh đạo chỉ chú trọng vào những công việc hàng ngày, giảm sự truyền thông, trao đổi giữa các bộ phận. Do đó, có thể tạo ra sự xung đột về thứ tự ưu tiên giữa các bộ phận.

    – Rất khó khăn trong việc phối hợp giữa các bộ phận. Khi không có sự thống nhất giữa các chuyên gia ở các bộ phận khác nhau,việc phối hợp, hợp tác với các bộ phận khác sẽ khó khăn.

    – Người đứng đầu tổ chức mất nhiều thời gian để phối hợp hoạt động của các thành viên thuộc những bộ phận khác nhau. Mặt khác, người thừa hành mệnh lệnh cùng một lúc phải nhận nhiều mệnh lệnh. Thậm chí có những mệnh lệnh trái ngược nhau.

    Mong rằng câu trả lời giải đáp một phần thắc mắc của bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vụ Tổ Chức Cán Bộ
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Vụ Tổ Chức Cán Bộ
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Tổ Chức Bộ Máy Ban Tổ Chức Trung Ương
  • Ban Tổ Chức Trung Ương
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Tổ Chức Cán Bộ (Phòng 7)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100