Chức Năng, Nhiệm Vụ Chủ Yếu Của Viettel

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Chiến Lược Kinh Doanh Của Tập Đoàn Viettel
  • Luận Văn Hoạch Định Chiến Lược Kinh Doanh Của Công Ty Tnhh Nhà Nước Một Thành Viên Công Trình Viettel Giai Đoạn 2007
  • Quy Chế Cán Bộ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
  • Hiện Nay Điều Kiện Để Làm Phó Bí Thư Đoàn Xã Là Gì ?
  • Gd Cd: Bộ Tài Liệu Nv Về Ct Chi Đoàn
  • Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của VIETTEL được quy định như thế nào? Xin chào Ban biên tập, tôi là Hạ Thảo hiện đang sống và làm việc tại Đồng Nai. Tôi hiện đang tìm hiểu về tập đoàn viễn thông quân đội. Vậy Ban biên tập cho tôi hỏi chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của VIETTEL được quy định như thế nào? Vấn đề này được quy định cụ thể tại văn bản nào? Mong Ban biên tập giải đáp giúp tôi. Chân thành cảm ơn và chúc sức khỏe Ban biên tập.

      Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của VIETTEL được quy định tại Khoản 2 Điều 4 Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ – Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội ban hành kèm theo Nghị định 05/2018/NĐ-CP, cụ thể:

      a) Về quốc phòng, an ninh:

      – Trực tiếp xây dựng, quản lý hạ tầng mạng lưới viễn thông, bảo đảm hạ tầng mạng lưới viễn thông của VIETTEL làm nhiệm vụ vu hồi, dự phòng cho mạng thông tin quân sự trong thời bình và chuyển sang phục vụ quốc phòng, an ninh khi có tình huống; sẵn sàng bảo đảm thông tin liên lạc khi có yêu cầu và đảm bảo nhiệm vụ thông tin quân sự khác.

      – Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất, lắp ráp, sửa chữa sản phẩm, trang thiết bị, khí tài, vật tư quốc phòng theo yêu cầu, nhiệm vụ của Nhà nước và Bộ Quốc phòng giao.

      b) Về sản xuất kinh doanh:

      – Trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề được giao, kết hợp với chức năng đầu tư tài chính theo quy định của pháp luật.

      – Đầu tư vào các công ty con, các công ty liên kết ở trong nước và nước ngoài; chi phối các công ty con thông qua vốn, nghiệp vụ, công nghệ, thương hiệu, thị trường hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ này.

      – Thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu phần vốn của VIETTEL tại các công ty con, công ty liên kết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của VIETTEL theo hợp đồng liên kết đối với các công ty tự nguyện liên kết.

      Chào thân ái và chúc sức khỏe!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Vai Trò, Trách Nhiệm, Thẩm Quyền Của Trưởng Đoàn Thanh Tra
  • Cà Mau: Đổi Trưởng Đoàn Thanh Tra Vì Có Vợ Làm Ở Đơn Vị Được Thanh Tra
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Trưởng Đoàn Thanh Tra Chuyên Ngành
  • Tiêu Chuẩn Của Trưởng Đoàn Thanh Tra
  • Trách Nhiệm Của Đoàn Thanh Tra Chuyên Ngành
  • Chức Năng Chủ Yếu Của Đường Glucôzơ Là :

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Trắc Nghiệm Sinh 8 Bài 46: Trụ Não, Tiểu Não, Não Trung Gian
  • Phân Biệt Dác Gỗ, Lõi Gỗ, Vân Gỗ Trong Gỗ Tự Nhiên
  • Gỗ Công Nghiệp Lõi Xanh Có Tốt Và An Toàn Hay Không
  • Phân Loại Chi Tiết Về Các Loại Gỗ Trong Xưởng Mộc
  • Nhân Tế Bào Gian Kỳi. Đại Cương: Nhân, Với Chức Năng Chủ Yếu Là Một
  • Chủ đề :

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Chức năng chủ yếu của đường glucôzơ là :
    • Sự biểu hiện triệu chứng thiếu Kali của cây là:
    • Trong quang hợp, các nguyên tử ôxi của CO2 cuối cùng sẽ có mặt ở
    • Trong dạ dày của động vật nhai lại, vi sinh vật cộng sinh tiết ra enzim tiêu hoá xenlulôzơ chủ yếu ở đâu?
    • Vì sao ở cá, nước chảy từ miệng qua mang theo một chiều?
    • Sự hô hấp diễn ra trong ty thể tạo ra:
    • Nước được vận chuyển ở thân chủ yếu là:
    • Vùng điều hoà của gen cấu trúc nằm ở vị trí nào của gen?
    • Mã di truyền mang tính thoái hóa nghĩa là:
    • Đặc điểm nào là không đúng đối với quá trình nhân đôi ở tế bào nhân thực?
    • Một đoạn ADN có chiều dài 81600A0 thực hiện nhân đôi đồng thời ở 6 đơn vị khác nhau.
    • Phiên mã là quá trình:
    • Thành phần nào làm khuôn cho quá trình dịch mã ?
    • Điều hoà hoạt động của gen là
    • Ở sinh vật nhân sơ gen không hoạt động khi
    • Dạng đột biến thường sử dụng để lập bản đồ gen là:
    • Khái niệm đột biến gen là :
    • Gen A dài 4080Å bị đột biến thành gen a .
    • Cấu trúc nhiễm sắc thể ở sinh vật nhân sơ
    • Sợi cơ bản trong cấu trúc siêu hiển vi của NST ở sinh vật nhân thực có đường kính bằng:
    • Cho nhiễm sắc thể có cấu trúc và trình tự các gen ABCDE*FGH ( dấu* biểu hiện cho tâm động), đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể tạo ra nhiễm sắc thể có cấu trúc ABCBCDE*FGH thuộc dạng đột biến
    • Dạng đột biến nào góp phần tạo nên sự đa dạng giữa các thứ, các nòi trong loài?
    • Sự kết hợp giữa giao tử 2n với giao tử n của loài tạo thể
    • Ở ngô, bộ nhiễm sắc thể 2n = 20. Có thể dự đoán số lượng nhiễm sắc thể đơn trong một tế bào của thể bốn đang ở kì sau của quá trình nguyên
    • 1. 82,50%. 2. 89,06%. 3. 15,00%. 4. 9,38%.
    • Nếu các cặp alen nằm trên các cặp nhiễm sắc thể tương đồng khác nhau thì
    • Trong một quần thể, xét 4 gen: gen 1 có 3 alen, gen 2 có 3 alen, hai gen này cùng nằm trên một nhiễm sắc thể thường, gen 3 và gen 4 đều có 2 alen, hai gen này cùng nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X không có đoạn tương đồng trên Y.
    • Trong tế bào, các gen nằm trên cùng một nhiễm sắc thể
    • Sự trao đổi chéo không cân giữa 2 cromatit khác nguồn gốc trong một cặp nhiễm sắc thể tương đồng có thể làm xuất hieenh dạng đột biến:
    • 7A-B- : 8A-bb : 3aaB- : 2aabb
    • Thỏ bị bạch tạng không tổng hợp được sắc tố mêlanin nên lông màu trắng là hiện tượng di truyền:
    • Ở một loài thực vật, tính trạng màu sắc hoa do hai gen không a len quy định.
    • Các tính trạng được quy định bởi gen lặn nằm trên nhiễm sắc thể Y
    • Ở 1 loài động vật, mỗi gen quy định 1 tính trạng, alen trội là trội hoàn toàn, mọi diễn biến nhiễm sắc thể ở hai giới như nhau.
    • Phép lai đã giúp Coren phát hiện ra sự di truyền qua tế bào chất là:
    • Nhận định không đúng khi nói về mức phản ứng?
    • Đặc điểm nào là không đúng khi nói về quần thể tự phối ?
    • Một quần thể ngẫu phối có tần số tương đối của các alen (frac{A}{a} = frac{6}{4}) thì tỉ lệ phân bố kiểu gen trong quần thể ở trạng thái cân bằng di truyền là:
    • Người đàn ông nhóm máu A ở một quần thể cân bằng di truyền có tỉ lệ người mang nhóm máu O là 4% và nhóm máu B là 21%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 28. Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hoa
  • Vai Trò Của Tuyến Yên Trong Hệ Thống Nội Tiết
  • Hội Chứng Cường Chức Năng Tuyến Yên
  • Ngành Xã Hội Học Là Gì? Bạn Đã Hiểu Về Nó Chưa?
  • Xã Hội Học Là Gì? Cơ Hội Tìm Việc Trong Ngành Ra Sao?
  • Chức Năng Chủ Yếu Của Thịt Lá Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tự Sự Là Gì? Sự Việc Trong Văn Tự Sự Có Vai Trò Và Được Trình Bày Như Thế Nào? Câu Hỏi 41526
  • Soạn Bài Chủ Đề Và Dàn Bài Của Bài Văn Tự Sự
  • Trắc Nghiệm Văn 6 Trac Nghiem Van 62 Doc
  • Phân Biệt Cách Dùng Who, Whom Và Whose Trong Tiếng Anh
  • Vắc Xin Việt Nam Được Who Công Nhận Đạt Tiêu Chuẩn Xuất Khẩu
  • Chủ đề :

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Cấu trúc nào làm cho tế bào thực vật có hình dạng nhất định?
    • Ý nghĩa của sự lớn lên và phân chia tế bào thực vật?
    • Trong các thành phần của tế bào, thành phần nào quan trọng nhất?
    • Từ một tế bào ban đầu, qua 3 lần phân bào liên tiếp sẽ tạo ra mấy tế bào con?
    • Người ta thu hoạch cà rốt, củ cải vào thời điểm nào?
    • Những loại rau ăn lá, ăn thân cần bón nhiều loại phân gì?
    • Những loại cây trồng lấy củ cần bón nhiều loại phân gì?
    • Bộ phận nào của rễ có chức năng chủ yếu hấp thụ nước và muối khoáng?
    • Trong những nhóm cây sau đây, nhóm cây nào gồm toàn cây thân rễ?
    • Thân cây dài ra là do đâu?
    • Theo vị trí của thân trên mặt đất: Thân được chia ra làm các loại nào?
    • Thân non có màu xanh, có tham gia quang hợp được vì trong tế bào của nó có đặc điểm gì?
    • Không nên bấm ngọn đối với loại cây nào?
    • Nguyên liệu lá cây sử dụng để chế tạo tinh bột là gì?
    • Khi đi trồng cây hoặc cấy lúa người ta cần tỉa bớt lá, cành để làm gì?
    • Lỗ khí có những chức năng gì?
    • Thời gian cây xanh thực hiện quá trình hô hấp là bao nhiêu?
    • Chức năng chủ yếu của thịt lá là gì?
    • Lỗ khí thường tập trung nhiều ở đâu?
    • Khi quang hợp cây xanh đã tạo ra những sản phẩm nào?
    • Phiến lá màu lục, dạng bản dẹt, rộng và xếp so le nhau trên các mấu thân giúp lá điều gì?
    • Trong quá trình hô hấp lá cây lấy khí nào của không khí?
    • Người ta thường trồng khoai lang bằng bộ phận nào của cây?
    • Loại lá nào sau đây có khả năng sinh sản tự nhiên?
    • Ở một số cây xanh, các phần khác nhau của cơ quan sinh dưỡng có khả năng tạo thành cây mới là gì?
    • Hoa cái là những hoa như thế nào?
    • Hoa lưỡng tính là những hoa có đặc điểm ra sao?
    • Bộ phận nào không phải là cơ quan sinh dưỡng của thực vật?
    • Hoa đơn tính là hoa có đặc điểm ra sao?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 46. Trụ Não. Tiểu Não. Não Trung Gian
  • Bài 46. Trụ Não, Tiểu Não, Não Trung Gian
  • Câu 1. Ở Người, Bộ Phận Nào Nằm Giữa Trụ Não Và Đại Não ? * 1 Điểm A. Não Trung Gian. B. Tủy Sống. C. Hạch Thần Kinh. D. Tiểu Não. Câu 2. Liền Phía Sau Trụ Não
  • Báo Giá Máy Dán Cạnh Gỗ Công Nghiệp 4
  • Sàn Nhựa Giả Gỗ Tự Dán Giá Rẻ
  • Vai Trò, Chức Năng Của Một Số Kết Cấu Hạ Tầng Thương Mại Chủ Yếu

    --- Bài mới hơn ---

  • Mô Tả Công Việc Giám Đốc Siêu Thị
  • Chức Năng Và Sự Tiện Dụng Của Những Loại Kệ Siêu Thị
  • Tận Dụng Tối Đa Chức Năng Của Giá Kệ Siêu Thị
  • R&d Là Gì? Các Kỹ Năng Cần Có Của Một R&d
  • R&d Là Gì? Doanh Nghiệp Của Bạn Có Thực Sự Cần Bộ Phận R&d?
  • Như trên đã phân tích, trong dài hạn và ở Việt Nam, Kết cấu hạ tầng thương mại sẽ ngày càng phát triển đa dạng về loại hình. Tuy nhiên, do đặc điểm phân bố dân cư, do tập quán tiêu dùng và thu nhập của người dân, trên thị trường nội địa, dự báo loại hình Kết cấu hạ tầng thương mại chủ yếu đến năm 2025 vẫn là KCHTTM phục vụ bán lẻ (chợ, siêu thị và TTTM) và Kết cấu hạ tầng thương mại bán buôn (chủ yếu là chợ bán buôn, chợ đầu mối nông sản). Bên cạnh đó, không kém phần quan trọng là sự phát triển của TT logistics, một loại hình phục vụ đa dạng các hoạt động của ngành thương mại. Do vậy, phần sau đây phân tích vai trò và chức năng cơ bản các loại hình chủ yếu nói trên.

    Vai trò, chức năng của chợ

    Chợ được hiểu một cách thống nhất trong nhiều tài liệu khác nhau. Theo Đại từ điển tiếng Việt, chợ là nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày hoặc những buổi nhất định . Với vai trò là loại hình Kết cấu hạ tầng thương mại phổ biến ở nước ta, chợ được hiểu là một công trình được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nhau, được hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông và đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định. Nguồn cung và nguồn cầu, nhu cầu giao lưu, trao đổi hàng hóa và dịch vụ bằng tiền hoặc hiện vật đều được hiện hữu tại chợ. Nói cách khác, chợ là nơi tập trung hoạt động mua bán hàng hóa giữa người sản xuất, người buôn bán và người tiêu dùng.

    Với những đặc điểm như trên, vai trò của chợ được thể hiện trong những mặt cơ bản sau đây:

    Thứ nhất, về mặt kinh tế, chợ là kênh phân phối hàng hóa quan trọng. Hoạt động của các chợ làm tăng ý thức về kinh tế hàng hóa cho người dân, rõ nét nhất là ở miền núi, vùng cao, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi.

    Đối với vùng nông thôn, chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hóa, tập trung thu gom các sản phẩm, hàng hóa phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho các thị trường tiêu thụ lớn trong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng cho nông dân và một số loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp.

    Ở thành thị, chợ cũng là nơi cung cấp hàng hóa tiêu dùng, lương thực thực phẩm chủ yếu cho các khu vực dân cư.

    Bên cạnh đó, dù không lớn song chợ cũng là một nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

    Phân theo loại chợ, bên cạnh chợ bán lẻ, vai trò của chợ bán buôn, chợ đầu mối là nguồn cung cấp thay thế cho các nhà bán lẻ độc lập, bảo đảm minh bạch về giá cả, thúc đẩy vệ sinh an toàn thực phẩm. Chợ đầu mối là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hóa lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kính tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác.

    Thứ hai, về mặt xã hội, chợ là nơi tạo công ăn, việc làm và thu nhập cho một bộ phận không nhỏ dân cư trên địa bàn. Sự hình thành chợ kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành nghề sản xuất. Đây cũng là tiền đề để tạo nên sự hội tụ, tập trung về nhân lực để làm ăn, buôn bán, qua đó tạo cơ hội cho việc hình thành các khu phố thương mại quanh chợ và không ít nơi trở thành đô thị sầm uất.

    Thứ ba, chợ đóng vai trò giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nên nét riêng biệt cho vùng miền, địa phương.

    Chợ là nơi phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, phong tục tập quán của một vùng dân cư. Tính văn hóa ở chợ được thể hiện rõ nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa và ở một số loại chợ đặc thù như chợ nổi, chợ đêm, …

    Đối với chính quyền địa phương, mỗi chợ có vị trí quan trọng trong công tác tuyên truyền, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào ở rải rác và chợ là điểm/phiên chợ là dịp tụ tập đông người dân. Tại chợ có đại diện của các lứa tuổi, các dân tộc từ các thôn bản. Do vậy, đây là nơi rất hiệu quả để phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, phổ biến cách làm ăn, kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật nuôi, kiến thức thường thức về sức khỏe, vệ sinh, ….

    Tóm lại, chợ có vai trò là nơi để mua (tiêu thụ) sản phẩm đầu ra, thu hồi vốn, bán (cung ứng) vật tư đầu vào, phản ánh tín hiệu của thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng, chợ đóng vai trò định hướng cho sản xuất, thúc đẩy sản xuất và tái sản xuất không ngừng phát triển.

    Đồng thời, chợ có vai trò là nơi để bán (cung ứng) hàng tiêu dùng cho cộng đồng cư dân, định hướng cho tiêu dùng, thúc đẩy tiêu dùng ngày càng phát triển cả về lượng và chất, về qui mô và trình độ, về chiều rộng và chiều sâu.

    Với khái niệm và vai trò như trên, công năng (hay chức năng) của chợ là để thực hiện (hay cung cấp) một cách tập trung và trực tiếp các dịch vụ như: Mua, bán hàng hóa; hình thành giá cả thị trường của hàng hóa; kiểm soát chất lượng hàng hóa; tạo giá trị gia tăng cho hàng hóa; xúc tiến thương mại, quảng bá giới thiệu sản phẩm, tiếp cận thị trường; các dịch vụ bổ sung, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác.

    Theo Từ điển Kinh tế thị trường, siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác . Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam thì định nghĩa siêu thị là một loại cửa hàng tổng hợp bán lẻ với diện tích bán hàng quy mô lớn và nhiều ngành hàng khác nhau, được trang bị các phương tiện hiện đại để chuyển tải hàng, tổ chức di chuyển hàng và người trong phạm vi cửa hàng, thoả mãn việc thanh toán nhanh cho hàng nghìn lượt khách mua trong một giờ :

    * Phối hợp phân chia hàng: Hàng hóa được vận chuyển đến TT logistics từ nhiều nhà cung cấp khác nhau, sau đó được kết hợp lại để vận chuyển cho các khách hàng khác nhau. Phối hợp phân chia hàng gắn liền với hoạt động phân loại, phân chia hay trộn lẫn. Trong trường hợp này TT logistics không chỉ đóng vai trò là điểm lưu kho hàng mà còn là điểm chuyển giao hàng.

    * Tạo ra giá trị logistics gia tăng: TT logistics còn là nơi tạo ra giá trị gia tăng logistics. Giá trị này thông thường được cung cấp bởi các công ty logistics tạo ra cho sản phẩm cuối cùng.

    * Một số chức năng khác như: TT logistics là nơi thực hiện các thủ tục hải quan, thông quan, kiểm tra kiểm soát hàng hóa,… cũng như các chức năng quản lý nhà nước khác theo quy định đối với hoạt động logistics nội địa và hoạt động logistics quốc tế. TT logistics có thể đóng vai trò là depot cho các phương tiện vận tải, người điều khiển và quản lý phương tiện vận tải, duy tu, bảo dưỡng sửa chữa phương tiện vận tải, điều chỉnh lịch trình khai thác phương tiện và sử dụng thay thế hoán đổi nhân lực trong hoạt động vận tải, phân phối cho phù hợp. TT logistics cũng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng như ăn, nghỉ, dịch vụ tư vấn, dịch vụ tài chính-tín dụng, cho thuê văn phòng,… TT logistics còn có thể cung cấp dịch vụ cho hoạt động bán lẻ các sản phẩm cuối cũng như các linh phụ kiện cho khách hàng cuối, mang lại lợi ích và hiệu quả sản xuất kinh doanh cho cả khách hàng cuối cũng như nhà sản xuất phân phối.

    Với khái niệm và chức năng như trên, vai trò cơ bản của TT logistics là giảm thời gian luân chuyển của hàng hóa trong chuỗi cung ứng, giảm chi phí logistics, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cũng như hoàn thiện chất lượng dịch vụ logistics.

    Vai trò, chức năng của một số Kết cấu hạ tầng thương mại chủ yếu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trọn Bộ Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng R&d
  • R&d Là Gì? Các Công Việc Của Bộ Phận R&d Trong Doanh Nghiệp
  • Resort Là Gì? Yếu Tố Tạo Thành Resort
  • Phân Khu Chức Năng Trong Khu Nghỉ Dưỡng
  • Resort Là Gì? Đặc Điểm Kinh Doanh Mô Hình Resort
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Chủ Yếu Của Lực Lượng Hải Quân Nhân Dân Việt Nam?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Tướng Ngô Xuân Lịch Thăm Và Làm Việc Tại Quân Chủng Hải Quân
  • Nghị Định 10/cp Tổ Chức, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Quản Lý Thị Trường
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Cần Nắm Về Resort Và Spa
  • Cơ Cấu Tổ Chức Và Chức Năng Tại Thanh Lâm Resort
  • Vai Trò, Nhiệm Vụ Của Phòng R&d Trong Nhà Máy Sản Xuất Thực Phẩm Chức Năng Là Gì?
  • (Tin Môi Trường) – Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, là một phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý của Chính phủ và sự quản lý, chỉ huy của Bộ Quốc phòng.

    Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, là một phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý của Chính phủ và sự quản lý, chỉ huy của Bộ Quốc phòng.

    Quân chủng Hải quân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc; duy trì sự ổn định trên các vùng biển, đảo; giữ vững chủ quyền, không để xảy ra xung đột, tạo điều kiện thuận lợi, yên tâm cho các lực lượng trên biển; phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng bảo vệ tốt việc thăm dò, khai thác dầu khí và các hoạt động kinh tế biển; tích cực, chủ động thực hiện tốt vai trò làm nòng cốt trong các hoạt động phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên biển, nhất là trên các vùng biển xa; thực sự là chỗ dựa tin cậy, vững chắc cho các hoạt động kinh tế biển.

    Quân chủng Hải quân không ngừng củng cố, xây dựng lực lượng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của toàn Quân chủng; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao; xây dựng Quân chủng Hải quân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

    Bắt đầu từ ngày 29/12/2013, Tin Môi Trường sẽ lần lượt giới thiệu nội dung phần hỏi – đáp được trích từ cuốn sách “100 câu hỏi đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam” do Ban Tuyên giáo xuất bản, nhằm giúp các bạn trẻ Việt Nam hiểu thấu đáo các vấn đề về tài nguyên và môi trường biển; về không gian biển, đảo của đất nước; về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển, đảo; về chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với những vấn đề biển, đảo và Biển Đông.

    Trên cơ sở những nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc, những người Việt Nam trẻ tuổi sẽ là những sứ giả tạo nên sự kết nối, sức lan tỏa trong toàn xã hội, thúc đẩy, tạo nên những hành động thiết thực trong cộng đồng, vì biển, đảo quê hương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • ​5 Nhiệm Vụ Của Hải Quân Trong Tình Hình Biển Đông Phức Tạp
  • Thủ Tướng Giao 5 Nhiệm Vụ Cho Quân Chủng Phòng Không
  • Chủ Tịch Nước Thăm Và Làm Việc Với Quân Chủng Phòng Không
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Quân Chủng Phòng Không
  • Bản Mô Tả Công Việc Quản Đốc Sản Xuất
  • Hướng Dẫn Tư Vấn Các Chức Năng Chủ Yếu Của Máy Đếm Tiền Tại Phùng Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Lưu Ý Khi Sử Dụng Máy Đếm Tiền Hà Nội
  • Tính Năng Nổi Bật Của Máy Đếm Tiền Bạn Nên Biết
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Máy Đếm Tiền Silicon Mc
  • Giải Đáp: Nên Mua Máy Đếm Tiền Loại Nào Rẻ Và Bền Nhất?
  • Máy Đếm Tiền Thông Thường Và Máy Đếm Tiền Phát Hiện Tiền Giả Nên…
  • Trong hoạt động giao dịch của các ngân hàng hay hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, máy đếm tiền là một thiết bị điện tử văn phòng không thể thiếu được. Máy đếm tiền ngày nay không chỉ là một thiết bị đếm tiền đơn giản như xưa mà còn được trang bị các tính năng mới, giúp cho hoạt động đếm tiền của máy nhanh chóng và tiện dụng hơn.

    Phân biệt tiền giả và siêu giả: Tính năng này chỉ xuất hiện trên các thiết bị cao cấp, để tính năng này hoạt động hiệu quả các nhà sản xuất phải trang bị hàng loạt các cảm biến, cùng với đó là kho dữ liệu lớn giúp máy nhận biết các đặc điểm của tiền giả trong quá trình đếm và thông báo cho người dùng. Đa phần tiền giả khó có thể phát hiện bằng mắt thường vì vậy tính năng phát hiện tiền giả của máy đếm tiền là hết sức quan trọng.

    Cộng dồn: Sau mỗi lần đếm 1 bó tiền máy sẽ tự động lưu số tiền đó để cộng dồn với số tiền khi đếm ở bó tiền sau, tính năng hữu phát huy tác dụng nhất trong trường hợp đếm tiền với số tiền lớn của cùng một khách hàng hay tổng kết tổng số tiền chi tiêu trong một ngày.

    Đếm ngoại tệ: Bên cạnh VND, máy đếm tiền còn đếm được rất nhiều loại tiền tệ khác nhau như USD( đô la Mỹ), JPY (Yên Nhật), GBP (bảng Anh), EUR (đồng euro),.. sử dụng phổ biến tại Việt Nam. Chính vì thế máy đếm tiền có tính năng đếm được nhiều loại tiền khác nhau sẽ giúp hoạt động đếm ngoại tệ dễ dàng hơn thay vì đếm bằng tay gây mất không ít thời gian.

    Phân biệt mệnh giá: Giúp người đếm tiền có thể phát hiện các tờ tiền có mệnh giá khác nhau trong một bó tiền nhờ đó có thể biết được số tiền chính xác nhất, số tờ theo từng mệnh giá khác nhau.

    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cửa Bắc, Đặng Dung, Đặng Tất, Đào Tấn, Độc Lập
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngô Văn Sở, Nguyễn Chế Nghĩa, Nguyễn Gia Thiều
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nam Ngư, Ngõ Gạch, Ngô Quyền, Ngõ Trạm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lý Quốc Sư, Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Mã Mây
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lương Văn Can, Lý Đạo Thành, Lý Nam Đế
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Liên Trì, Lò Rèn, Lò Sũ, Lương Ngọc Quyến
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Thạch, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Văn Linh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hồng Hà, Hồng Phúc, Lãn Ông, Lê Lai, Lê Phụng Hiểu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Vải, Hàng Vôi, Hồ Hoàn Kiếm, Hỏa Lò
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Thiếc, Hàng Thùng, Hàng Tre, Hàng Trống
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Nón, Hàng Phèn, Hàng Quạt, Hàng Rươi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Mắm, Hàng Mành, Hàng Muối, Hàng Ngang
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Khay, Hàng Khoai, Hàng Lược, Hàng Mã
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Gai, Hàng Giấy, Hàng Giầy, Hàng Hòm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Khắc Cần, Nguyên Khiết
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thiện Thuật
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Châu Long, Chu Văn An, Chùa Một Cột, Cơ Xá
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Bà Huyện Thanh Quan, Bắc Sơn, Cao Bá Quát
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phố Vọng, Vọng Đức, Vọng Hà, Yên Thái
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tràng Thi, Tràng Tiền, Triệu Quốc Đạt, Trương Hán Siêu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Phú, Trần Quang, Trần Quốc Toản
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tống Duy Tân, Trần Nguyên Hãn, Trần Nhật Duật
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thợ Nhuộm, Thuốc Bắc, Tố Tịch, Tông Đản
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quán Sứ, Tạ Hiện, Thanh Hà, Thanh Yên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phúc Tân, Phùng Hưng, Phùng Hưng Trong
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phan Đình Phùng, Phan Huy Chú, Phủ Doãn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ô Quan Chưởng, Phạm Sư Mạnh, Phan Bội Châu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Xí, Nhà Chung, Nhà Hỏa, Nhà Thờ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Thiệp, Nguyễn Tử Giàn, Nguyễn Văn Tố
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Điếu, Hàng Đồng, Hàng Đường, Hàng Gà
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Cót, Hàng Da, Hàng Đào, Hàng Dầu, Hàng Đậu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Cá, Hàng Cân, Hàng Chai, Hàng Chiếu, Hàng Chĩnh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thọ Lão, Tô Hiến Thành, Trần Bình Trọng, Trần Cao Vân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thể Giao, Thi Sách, Thiền Quang, Thịnh Yên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tăng Bạt Hổ, Tây Kết, Thái Phiên, Thanh Nhàn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quỳnh Lôi, Quỳnh Mai, Tạ Quang Bửu, Tân Lạc
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phù Đổng Thiên Vương, Phùng Khắc Khoan, Quang Trung
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phạm Đình Hổ, Phạm Ngũ Lão, Phan Chu Trinh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Quyền, Nguyễn Thượng Hiền
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Cao, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Mai Hắc Đế, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Bỉnh Khiêm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Văn Hưu, Lò Đúc, Lương Yên, Mạc Thị Bưởi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Gia Định, Lê Ngọc Hân, Lê Quý Đôn, Lê Thanh Nghị
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hương Viên, Lạc Trung, Lãng Yên, Lê Đại Hành
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hồ Xuân Hương, Hoa Lư, Hòa Mã, Hồng Mai
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Đại Nghĩa, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông, Trần Xuân Soạn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Buồm, Hàng Bút
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hai Bà Trưng, Hàm Tử Quan, Hàng Bạc, Hàng Bè
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đồng Xuân, Đường Thành, Gia Ngư, Hạ Hồi, Hà Trung
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đinh Liệt, Đình Ngang, Đông Thái, Đinh Tiên Hoàng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Điện Biên Phủ, Đinh Công Tráng, Đinh Lễ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cửa Nam, Dã Tượng, Đặng Thái Thân, Đào Duy Từ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Chương Dương, Chương Dương Độ, Cổ Tân, Cửa Đông
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cầu Đất, Cầu Đông, Chả Cá, Chân Cầm, Chiến Thắng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cấm Chỉ, Cao Thắng, Cầu Chương Dương
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ấu Triệu, Bảo Khánh, Bảo Linh, Bát Đàn, Bát Sứ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Yên Bái 1, Y.E.C Xanh, Yên Lạc, Yết Kiêu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Vạn Kiếp, Vĩnh Tuy, Võ Thị Sáu, Vũ Hữu Lợi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Triệu Việt Vương, Tuệ Tĩnh, Vân Đồn, Vân Hồ I
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàm Long, Hàn Thuyên, Hàng Bài, Hàng Chuối
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đốc Ngữ, Đội Cấn, Đội Nhân, Giang Văn Minh
    • Bảo hành sửa máy đếm tiền ViKi 2080, 5580, 5588
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Biên Giang, Bùi Bằng Đoàn, Đa Sĩ, Đại An, Do Lộ, Yên Phúc
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Yên Nội, Ao Sen, Ba La, Bạch Thái Bưởi, Bế Văn Đàn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thụy Phương, Trung Tựu, Văn Tiến Dũng, Văn Trì
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Sùng Khang, Tân Nhuệ, Tân Phong, Thanh Lâm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngọa Long, Nhật Tảo, Phan Bá Vành, Phú Minh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Tăng Bí, Kẻ Vẽ, Kỳ Vũ, Lê Văn Hiến
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đỗ Nhuận, Đức Thắng, Hoàng Công Chất, Hoàng Liên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tu Hoàng, Vũ Quỳnh, Châu Đài, Đăm, Đặng Thùy Trâm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tố Hữu, Trần Hữu Dực, Trần Văn Cẩn, Trần Văn Lai
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tân Mỹ, Đại lộ Thăng Long, Thanh Bình, Thiên Hiền
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Xuân Nguyên, Phú Đô, Phúc Diễn, Sa Đôi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Miếu Đầm, Miêu Nha, Ngọc Trục, Nguyễn Đổng Chi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông, Mễ Trì, Mễ Trì Thượng
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Ba Đình hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Hoàn Kiếm hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Viki 680, BC 2600, 5388, BC 501
    • Sửa lỗi máy đếm tiền XINDA 2131L, 1000J, 2166L
    • Sửa máy đếm tiền Xinda Super BC 18, 0181L, 2136F, 2105F
    • Sửa chữa máy đếm tiền XINDA SUPER BC-28, BC – 21F, 2166F, BC – 19
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền XINDA SUPER BC 31F, BC-31, BC-28F
    • Sửa máy đếm tiền Xinda 2165F, XINDA SUPER BC35 tại hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Huyện Thanh Oai, Thanh Trì, Thường Tín, Ứng Hòa
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Huyện Phúc Thọ, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Huyện Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Huyện Đan Phượng, Huyện Đông Anh, Huyện Gia Lâm
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Hà Đông, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền tại nhà Quận Tây Hồ, Long Biên, Cầu Giấy, Đống Đa
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoài Thanh, Hòe Thị, Hữu Hưng, Lưu Hữu Phước
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đỗ Xuân Hợp, Đồng Me, Dương Đình Nghệ, Hàm Nghi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đình Thôn, Đại Linh, Cương Kiên, Đỗ Đình Thiện
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Vạn Bảo, Văn Cao, Vạn Phúc, Vĩnh Phúc, Yên Ninh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Huy Liệu, Trần Tế Xương, Trấn Vũ, Trúc Bạch
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thành Công, Thanh Niên, Tôn Thất Đàm, Tôn Thất Thiệp
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quán Thánh, Sơn Tây, Tân Ấp, Thanh Báo, Thanh Bảo
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phan Huy Ích, Phan Kế Bính, Phó Đức Chính, Phúc Xá
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Núi Trúc, Ông Ích Khiêm, Phạm Hồng Thái, Phạm Huy Thông
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Văn Ngọc
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Khắc Nhu, Nguyễn Tri Phương
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngũ Xã, Nguyễn Biểu, Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Công Hoan
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nam Tràng, Nghĩa Dũng, Ngọc Hà, Ngọc Khánh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Liễu Giai, Linh Lang, Mạc Đĩnh Chi, Nam Cao
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Kim Mã, Kim Mã Thượng, Lạc Chính, Lê Hồng Phong
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hòe Nhai, Hùng Vương, Thành Công, Khúc Hạo
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Yên Phụ, An Dương, Yên Thế, An Dương Vương, An Thành 2
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Âu Cơ, Đặng Thai Mai, Dốc Tam Đa, Mai Xuân Thưởng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Bùi Xuân Phái, Cao Xuân Huy, Cầu Cốc, Châu Văn Liêm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thượng Thụy, Võ Chí Công, Đường Bưởi, Trích Sài
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Võ Quý Huân, Cống Vị, Điện Biên, Trịnh Công Sơn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đức Diễn, Xuân Phương, Thị cấm, Phú Kiều
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phú Diễn, Trại gà, Kiều mai, Tây tựu, Nhổn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tôn Thất Thuyết, Liên Mạc, Thượng Cát, Mễ Trì
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tây Mỗ, Xuân Đỉnh, Đại Mỗ, Lê Quang Đạo
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phương Canh, Tân Xuân, Trung Văn, Phùng Khoang
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Mỹ Đình, Nguyễn Cơ Thạch, Ngân Hàng, Nông Lâm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cổ Nhuế, Đỗ Đức Dục, Đồng Bát, Đông Ngạc
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Võng Thị, Xuân Diệu, Xuân La, Cầu Diễn, Cầu thăng long
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quảng Bá, Tây Hồ, Thụy Khuê, Tô Ngọc Vân, Ven Hồ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nghi Tàm, Nguyễn Hoàng Tôn, Nước Phần Lan, Phú Gia
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hàng Bún, Hàng Than, Hoàng Diệu, Hoàng Hoa Thám
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đoàn Trần Nghiệp, Đội Cung, Đông Mác, Đồng Nhân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Sâm, Lạc Long Quân, Đường láng, Hòa Lạc
    • Sửa máy đếm tiền xu Balion NH-150 uy tín hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền Xiudun 2010W ở hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Xiudun XD-2300 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Kaixun KX-993H1 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Kaixun KX-996A1 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Cashscan CS-9900 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-201 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Nanxing NX-520 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền NANXING NX-838A uy tín hà nội
    • Địa chỉ sửa máy đếm tiền Korus 05 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 2008A uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-203 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-305S uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Cashscan CS-26 ở hà nội
    • Sửa máy đếm tiền 3D-DMS- 2010A uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Minh Giám, Hoàng Ngân, Hoàng Quốc Việt
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Duy Tân, Hồ Tùng Mậu, Hoa Bằng, Hoàng Đạo Thúy
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Đức Thọ, Lê Văn Lương, Mai Dịch, Nghĩa Tân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Quan Hoa, Cầu Giấy, Chùa Hà, Dịch Vọng
    • Sửa máy đếm tiền ZJ-A11 uy tín tại hà nội
    • Sửa máy đếm tiền WJD – 06 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Viki 5388 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Henry HL-308B uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Henry HL-3500UV uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền 3D 2010B uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền 3D 9600 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Bill Counter BC-501 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Bill Counter ZJ 6900B uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-304S uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Cashscan CS-900A uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Cashscan CS-800 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 2200C uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 2250C uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-A32 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-B528 uy tín hà nội
    • Sửa máy kiểm tra tiền Silicon DL-01 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-B52 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-2550 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-2450B uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-2350BN uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Silicon MC-9900 uy tín hà nội
    • Yếu tố bảo an của tiền polyme
    • Khái niệm máy đếm tiền
    • Tiền giả polymer 200.000 đồng giống như thật
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 2500 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 8000 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Mingrui DC-03B2 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Korus 01 uy tín hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền Korus 03 uy tín hà nội
    • Chuyên sửa máy đếm tiền kiểu đứng CASHCAN CH-620 uy tín hà nội
    • Dịch vụ sửa máy đếm tiền DC-3000 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-303 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XiuDun XD-2000J uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-202 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-102 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-307S uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH-3112 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền Balion NH 3110 uy tín hà nội
    • Sửa máy đếm tiền XIUDUN 668E uy tín hà nội
    • Cách phân biệt tiền giả VNĐ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Khả Trạc, Nguyễn Khang, Nguyễn Khánh Toàn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đầm Trấu, Đê Trần Khát Chân, Đỗ Hành, Đỗ Ngọc Du
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Trần Quang Diệu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thịnh Hào , Thịnh Quang, Tôn Đức Thắng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tây Sơn, Thái Hà, Thái Thịnh, Thanh Miếu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Pháo Đài Láng, Phương Mai, Quốc Tử Giám
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phạm Ngọc Thạch, Phan Phù Tiên, Phan Văn Trị
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Như Đổ, Nguyễn Phúc Lai, Nguyễn Thái Học
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyên Hồng, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Lương Bằng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngô Sĩ Liên, Ngô Tất Tố, Nguyễn Chí Thanh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lê Trực, Lương Định Của, Lý Văn Phúc, Mai Anh Tuấn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Kim Hoa, Láng Hạ, La Thành, Lê Duẩn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Khâm Thiên, Khương Thượng, Kim Liên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Ngọc Phách, Hoàng Tích Trí, Huỳnh Thúc Kháng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hồ Giám, Hồ Văn Chương, Hoàng Cầu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Quí Cáp, Trịnh Hoài Đức, Trúc Khê
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trung Liệt, Văn Hương, Văn Miếu, Vĩnh Hồ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cảm Hội, Cao Đạt, Cầu Lạc Trung, Đại Cồ Việt
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Bạch Đằng, Bạch Mai, Bùi Ngọc Dương, Bùi Thị Xuân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tựu Liệt, Vĩnh Hưng, Yên Sở, Bà Triệu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tam Trinh, Tân Mai, Tây Trà, Thanh Đàm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Khoái, Nguyễn Tam Trinh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Chính, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Duy Trinh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngọc Hồi, Ngũ Nhạc, Nguyễn An Ninh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Mai Động, Mai Khai, Minh Khai, Nam Dư
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Kim Ngưu, Lĩnh Nam, Lương Khánh Thiện
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Giáp Bát, Giáp Nhị, Hoàng Mai, Kim Đồng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Định Công Thượng, Đoàn Kết, Đông Thiên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Xã Đàn, An Xá, Đại Từ, Đặng Xuân Bảng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Võ Văn Dũng, Vũ Ngọc Phan, Vũ Thạnh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Giảng Võ, Hàng Cháo, Hào Nam, Hồ Đắc Di
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đoàn Thị Điểm, Đông Các, Đông Tác
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đặng Văn Ngữ, Đào Duy Anh, Đê La Thành
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Việt Hưng, Vũ Xuân Thiều, Bùi Xương Trạch
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Thạch Bàn, Trường Lâm, Tư Đình, Vạn Hạnh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Văn Linh, Phú Viên, Sài Đồng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Sơn, Nguyễn Văn Cừ
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Ngọc Lâm, Ngọc Thụy, Nguyễn Cao Luyện
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lệ Mật, Long Biên, Ngô Gia Khảm, Ngô Gia Tự
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Xuân Thủy, Yên Hòa, Đức Giang, Hoa Lâm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trung Kính, Trung Yên 1, 10, 10A, 10B, 11
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Thái Tông, Trần Tử Bình, Trung Hòa
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Trần Duy Hưng, Trần Quốc Hoàn, Trần Quý Kiên
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Tô Hiệu, Trần Bình, Trần Cung, Trần Đăng Ninh
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phạm Thận Duật, Phạm Tuấn Tài, Phạm Văn Đồng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Văn Huyên, Phạm Hùng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Pháp Vân, Chính Kinh, Cù Chính Lan
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cự Lộc, Định Công, Giải Phóng, Giáp Nhất
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Đại La, Đặng Tiến Đông, Đặng Trần Côn
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Cát Linh, Cầu Gỗ, Chùa Bộc, Chùa Láng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Vũ Trọng Phụng, Vương Thừa Vũ, Bích Câu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Triều Khúc, Trường Chinh, Vũ Hữu
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Phương Liệt, Tô Vĩnh Diện, Trần Điền
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Xiển, Nhân Hòa, Phan Đình Giót
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Ngọc Nại, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Trãi
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Lương Thế Vinh, Ngụy Như Kon Tum, Nguyễn Huy Tưởng
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Kim Giang, Lê Trọng Tấn, Lê Văn Thiêm
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Khương Đình, Khương Hạ, Khương Trung
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hoàng Văn Thái, Hồng Liên, Khuất Duy Tiến
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Hạ Đình, Hoàng Đạo Thành, Hoàng Đạo Thúy
    • Sửa máy đếm tiền tại nhà Nguyễn Ngọc Vũ, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Thị Định

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tpcn Dùng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Estroven 60V
  • Thảo Dược Và Thực Phẩm Chức Năng Cho Tuổi Mãn Kinh
  • Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh
  • 6 Lầm Tưởng Về Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh
  • Top 6 Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Và Hướng Dẫn Sử Dụng
  • Sinh Lý Và Bệnh Chủ Yếu Của Tạng Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Thực Phẩm Chức Năng Hỗ Trợ Sinh Lý Đàn Ông Tốt Nhất
  • C Program To Convert String To Lowercase Without Using Strlwr()
  • Phím End Trên Bàn Phím Có Tác Dụng Gì?
  • Trắc Nghiệm Sinh Học 10 Bài 5 Có Đáp Án.
  • Sở Nội Vụ Tphcm Hoàn Thành Các Nhiệm Vụ Trong Công Tác Tổ Chức, Biên Chế
  • Mọi biểu hiện sinh lý, bệnh lý của ngũ tạng, lục phủ đều thông qua hệ thống kinh lạc đưa đến các tổ chức cơ quan toàn thân, kết thành một chỉnh thể hữu cơ.

    Ngũ tạng: Tâm – Can – Tỳ – Phế – Thận.

    Lục phủ: Đảm – Vị – Đại trường – Tiểu trường – Bàng quang – Tam tiêu.

    Khái niệm Đông y về công năng của lục phủ, ngũ tạng cơ bản cũng giống như. Tây y nhưng có những điểm khác rất lớn, ví dụ như Tây y không có tạng khí tương ứng vớ Tam tiêu, do đó chúng ta không thể nghĩ đơn giản mà đem khái niệm tạng khí của Đông y so với Tây y, đem tạng khí của Tây y gán vào Đông y được.

    Cơ sở của học thuyết Tạng Phủ là thực tiễn lâm sàng lâu dài mà phát triển thành lý luận, vì vậy nó có ý nghĩa chỉ đạo trọng yếu về chẩn trị bệnh tật trong Đông y. Tuy nhiên, trong đó có một số vấn đề mà bản chất chưa được rõ ràng, cần được chỉnh lý, nâng cao lên một bước.

    SINH LÝ VÀ BỆNH CHỦ YẾU CỦA TẠNG PHỦ

    Cơ thể con người là chinh thể, giữa ngũ tạng và lục phủ có mối quan hệ phức tạp. Chúng có công năng riêng, song lại phối hợp chặt chẽ với nhau. Chức năng của chúng là:

    Ngũ tạng chứa giữ Tinh khí. Lục phủ hấp thụ thủy cốc, phân biệt trong đục, đào thải cặn bã. Ngoài ra còn có Não – Tủy – Xương – Mạch – Mật – Dạ con, có những chức năng gần giống với Tạng và Phủ nên được phân riêng thành một loại gọi là: “Phủ kỳ hằng” (phủ lạ thường).

    Tâm là chủ soái của lục phủ, ngũ tạng con người, nó có địa vị đứng đầu trong các tạng phủ. Các tạng phủ khác đều hoạt động hợp đồng, điều hòa với Tâm, cho nên Tâm là chủ soái của lục phủ, ngũ tạng.

    1. Sinh lý và bệnh lý tạng tâm

    a. Tâm chủ thần chí: Tâm chủ quản các hoạt động tinh thần, ý thức, tư duy, tương đương với hoạt động tinh thần, thần kinh cao cấp. Nếu công năng chủ thần chí của Tâm bình thường thì tinh thần của con người bình thường, tỉnh táo, thần chí rõ ràng. Nếu như Tâm không bình thường thi phát sinh những bệnh chứng như: Hồi hộp, thổn thức, sợ hãi, hay quên, mất ngủ, phát cuồng, cời cợt không ngừng, hôn mê, nói nhảm.

    b. Tâm chủ huyết mạch: Tâm và mạch vốn nối liền với nhau. Huyết dịch có thể tuần hoàn trong mạch quản là nhờ vào khí của Tâm thôi động. Tâm khí mạnh, trực tiếp ảnh hưởng đến vận hành của máu, vì vậy nó thể hiện trên mạch chẩn. Tâm khí bất túc, mạch sẽ nhỏ, yếu, vô lực. Khí đến không đều, mạch luật không chỉnh, loạn nhịp (gọi là Súc, Kết, Đại).

    c. Tâm kỳ hoa khai khiếu ở lưỡi, ở mặt (thấy rõ Tâm thể hiện ở lưỡi, ở mặt):

    Sự phân bố huyết mạch trên mặt và lưỡi rất phong phú, vì vậy công năng của Tâm có bình thường hay không sẽ phản ảnh đầy đủ thành màu sắc ở mặt và lưỡi. Khi bình thường thì sắc mặt hồng nhuận và sáng sủa, sắc lưỡi hồng nhạt. Khi Tâm khí bất túc, tuần hoàn không trơn tru thì sắc mặt trắng bợt hoặc xanh tím, không sáng sủa, sắc lưỡi tím xám không tươi; Tâm hỏa quá vượng, lưỡi hồng tía hoặc sinh lở loét. Khi đàm mê Tâm khiếu, có thể thấy lưỡi cứng không nói, vì thế mới có câu: “Lưỡi là mầm của Tâm”.

    d. Tâm quan hệ với mồ hôi. Tâm và mồ hôi có quan hệ rất mật thiết, cho nên mới có câu: “Mồ hôi là tân dịch của Tâm”. Người bệnh dùng thuốc phát hãn quá liều, hoặc do nguyên nhân nào đó mất nhiều mồ hôi, đều có thể làm tổn hại tới Tâm dương, thậm chí làm xuất hiện những chứng trạng nghiêm trọng như: “Đại hãn, vong dương” (ra nhiều mồ hôi mất thân nhiệt)

    đ. Tâm bào: Tâm bào cũng gọi là Tâm bào lạc (màng ngoài) vì ở bên ngoài Tâm. Do Tâm là nội tạng tối trọng yếu nên ở ngoài phải có một lớp cơ quan bao bọc để bảo vệ nó. Thông thường khi ngoại tà phạm Tâm, nói chung là phạm vào tâm bào trước. Như bệnh ôn nhiệt. khi sốt cao, mê man, nói nhảm, chính là biểu hiện của nhiệt nhập Tâm bào lạc. Vì vậy Tâm bào chủ yếu là chỉ sự hoạt động của thần kinh cao cấp.

    2. Sinh lý và bệnh lý của tiểu trường

    Công năng của tiểu trường chủ yếu là nhận đồ ăn từ dạ dày chuyển sang, tiếp tục tiêu hóa, phân biệt “trong”, “đục”. Trong, là chỉ một phần đồ ăn đã được tinh hóa (thủy cốc chi tinh), từ Tiểu trường (sau khi hấp thụ) chuyển vận sang Tỳ. Đục, là chỉ phần cặn bã của đồ ăn lừ Tiểu trường đưa xuống Đại trường hoặc chuyển qua Bàng quang. Khi Tiểu trường có bệnh, ngoài ảnh hưởng về công năng tiêu hóa, hấp thụ ra, lại còn xuất hiện tiểu tiện dị thường.

    3. Tâm và Tiểu trường thông qua quan hệ kinh lạc cấu thành quan hệ biểu lý. Nếu Tâm hỏa vượng thịnh, thấy xuất hiện chứng trạng Tâm phiền, đầu lưỡi đỏ đau, miệng lở loét, nứt tiểu tiện ít mà đỏ, có khi đái ra máu. Hiện tượng bệnh lý này gọi là Tâm di nhiệt sang Tiểu trường (nhiệt ở Tâm chuyển sang Tiêu trờng).

    1. Sinh lý và bệnh lý tạng can

    a. Can chủ sơ tiết. Can có tác dụng thăng phát, thâu tiết∗, làm cho sự vận hành các phủ tạng khác được thông suốt.

    Nó chủ quản về thư giãn và điều đạt khí cơ phân bố toàn thân. Nếu Can khí sơ tiết, điều đạt thất thường, khí cơ không thư, có thể gây nên bệnh tật.

    Can khí uất kết thường dễ cáu, sườn ngực đầy tức, đau đầu, kinh nguyệt rối loạn. Nếu Can khí thăng phát thái quá là Can dương thượng cang sẽ thấy đầu váng, đau đầu, đỏ mắt, ù tai, điếc tai. Nếu can dương cang cực mà hóa hỏa sinh phong, tức có thể sinh hàng loạt chứng của trúng gió. Can khí thăng phát không đủ, cũng gây ra các chứng váng đầu, mất ngủ, tinh thần hoảng hốt.

    b. Can chủ tàng huyết . Can có công năng chứa giữ huyết dịch và điều tiết huyết lượng.

    Khi ta ngủ hoặc nghỉ ngơi, bộ phận huyết dịch quay về chứa giữa ở Can. Khi ta hoạt động, Can lại cung cấp huyết dịch cho mọi tổ chức cơ quan, dẫn đi toàn thân. Can tàng huyết, còn có ý nghĩa nữa là đề phòng xuất huyết. Nếu công năng tàng huyết có diễn biến xấu thì gây xuất huyết, thổ huyết, nục huyết (nôn ra máu, chảy máu cam).

    c. Can khai khiếu ra mắt. Can tàng huyết, mắt nhờ huyết mà thấy. Can có bệnh thường có ảnh hưởng đến tròng mắt. Can hư làm giảm thị lực, quáng gà, mờ mắt. Can hỏa thượng viêm thì mắt đỏ.

    d. Can chủ cân, kỳ hoa tại móng. Can chủ quản hoạt động của gân, chi phối hoạt động của bắp thịt và khớp xương trong toàn thân. Gân nhờ vào Can huyết nuôi dưỡng, nếu Can huyết bất túc không nuôi dưỡng được gân sẽ sinh ra đau gân, tê dại, khó co duỗi, co quắp. Nếu nhiệt cực dẫn động Can phong cũng có thể gây nên co giật. “Móng và Can cũng có quan hệ mật thiết. Can huyết đầy đủ thì móng tay hồng nhuận. Can huyết bất túc thì móng tay khô xác hoặc mỏng di, mền ra, gọi là “Kỳ hoa tại móng” (can thấy rõ ở móng).

    2. Sinh lý và bệnh lý của đảm

    Đảm là một trong sáu phủ, nhưng lại có công năng khác các tạng phủ khác nên gọi là “kỳ hằng chi phủ”. Bệnh của Đảm (mật) chủ yếu biểu hiện ở sườn đau, vàng da, đắng miệng, nôn nước đắng.

    3. Can và Đảm thông qua quan hệ kinh lạc cấu thành quan hệ biểu lý, Can và Đảm gần nhau nên khi có bệnh thì cũng ảnh hởng đến nhau, khi chữa bệnh thì chữa cả Can và Đảm. Trên cơ bản Can và Đảm bao quát công năng của gan, mật và một phần hệ thần kinh thực vật, hệ vận động, huyết dịch, thị giác.

    1. Sinh lý và bệnh lý của tỳ

    a. Tỳ chủ vận hóa: Tỳ chủ tiêu hóa, hấp thụ và vận chuyển đồ ăn. Đồ ăn vào dạ dày sau khi đã sơ bộ tiêu hóa, lại có Tỳ vận hóa thêm một bước, tạo thành chất tinh vi dễ hấp thụ, rồi được chuyển vận đi khắp cơ thể để nuôi dưỡng các tổ chức cơ quan toàn thân. Tỳ ngoài việc vận hóa đồ ăn đã tinh hóa ra, còn vận chuyển thủy thấp, cùng với Phế và Thận duy trì mức vừa đủ của chất lỏng trong cơ thể. Khi công năng vận hóa của Tỳ bình thường, tiêu hóa, hấp thụ tốt, Tỳ khí khỏe, thì khí huyết thịnh vượng, tinh lực dồi dào. Nếu như Tỳ hư thì vận hóa thất thường, khả năng tiêu hóa, hấp thụ (kiện vận) không tốt, sẽ xuất hiện chứng kém ăn, bụng trướng, ỉa lỏng, nhão. Có thể do chất lỏng vận chuyển bị trở ngại mà gây nên thủy thấp bị đình trệ, dẫn đến phù thũng hay đàm ẩm (do không sinh huyết tất sinh đàm lỏng hoặc dẻo ở dạ dày, đường ruột).

    b. Tỳ thống huyết. Tỳ có công.năng thống nhiếp huyết dịch toàn thân. Nếu Tỳ hư, công năng thống huyết diễn biến xấu cũng làm cho “huyết bất tùng kinh”* gây nên các chứng: xuất huyết; thổ huyết, nục huyết, băng lậu huyết, tiện huyết. Ngoài ra, còn có quan hệ sinh huyết rất mật thiết. Tỳ hư làm cho công năng sinh hóa huyết dịch giảm thấp, đưa đến bần huyết (thiếu máu, nghèo máu).

    c. Tỳ chủ tứ chi, cơ nhục, khai khiếu ra mồm, kỳ hoa ở môi: Tỳ mà vận hóa bình thường thủy cốc tinh vi nuôi dưỡng toàn thân thì sức ăn tăng tiến, cơ bắp đầy đặn khỏe mạnh, tay chân cứng cáp, mồm miệng hồng tươi. Tỳ khí hư yếu, vận hóa thất thường, thì sức ăn kém, cơ bắp gầy mòn, chân tay mềm yếu, môi trắng nhợt hoặc vàng, khô khan.

    2. Sinh lý và bệnh lý của vị

    Công năng chủ yếu của Vị !à chứa nạp thủy cốc, nghiền ngấu đồ ăn, nên gọi: “Vị là thủy cốc chi hải”**. Vị có bệnh thì xuất hiện chứng bụng trên đầy tức, đau đớn, ăn uống giảm, quặn bụng buồn nôn.

    3. Tỳ với Vị thông qua quan hệ kinh lạc mà cấu thành quan hệ biểu lý. Vị chủ nạp, Tỳ chủ vận hóa, phối hợp với nhau thành công năng sinh lý tiêu hóa, hấp thụ, vận chuyển dinh dưỡng. Tác dụng của Tỳ, Vị trong cơ thể con người chiếm địa vị trọng yếu, cho nên trên lâm sàng có câu nói: “Có Vị khí thì sống, không Vị khí thì chết” và câu “Tỳ, Vị là gốc của hậu thiên”. Nhưng Tỳ, Vị lại có những đặc điểm khác nhau: Tỳ chủ thăng, ưa táo, ghét thấp. Vị chủ giáng, ưa thấp, ghét táo, cả hai đều tương phản tương thành. Vị khí giáng, đồ ăn mới đi xuống, tiện cho việc tiêu hóa; Tỳ khí thăng, thủy cốc tinh vi mới có thể đi đến Phế, lại đưa rải khắp toàn thân, đến các tạng phủ. Nếu Vị khí không giáng mà lại ngược lên, sẽ gây ra quặn bụng, nôn mửa, ợ hơi, nấc và đau dạ dày. Tỳ khí không thăng, ma lại hãm xuống (trung khí hạ hãm) thì xuất hiện hụt hơi, nói yếu, ỉa chảy kéo dài, lòi dom, sa dạ dày, sa dạ con hoặc sa các tạng phủ khác.

    Tỳ thuộc âm, bản thân rất dễ sinh thấp. Tỳ không vận khỏe, thủy thấp đình ở trong, lại cũng rất dễ bị tà thấp xâm phạm. Nếu Tỳ bị ngoại thấp xâm phạm thì thấy phát sốt, nặng đầu, đau mình, tay chân rã rời, mệt mỏi, bụng trướng khó chịu, rêu lưỡi trắng dày, mạch nhu hoãn, khi chữa nên ôn tỳ, táo thấp.

    Vị thuộc dương, nói chung bệnh của Vị là Vị nhiệt, Vị hỏa, làm xuất hiện miệng khô, khát, kém ăn hoặc răng đau, lợi, răng chảy máu, thổ huyết, nục huyết. Chữa nên thanh nhiệt, giáng hỏa.

    Tlheo những điều nói về Vị thì Đông, Tây y đều nói giống nhau, nhưng Đông y nói về Tỳ bao gồm công năng và bệnh tật thuộc tiêu hóa, hấp thụ, đại tạ (thay thế vật chất), ổn định thể dịch và một phần tuần hoàn huyết dịch, so với bài giảng Tây y thì thật khác xa.

    1. Sinh lý và bệnh lý của phế

    a. Phế chủ khí : Phế giữ hô hấp, tiến hành thay đổi khí trong cơ thể, duy trì công năng hoạt động sống của con người. Mặt khác, Phế hướng về trăm mạch đa thủy cốc tinh vi phân bố toàn thân. Ngoài ra, Đông y cho rằng Phế chủ khí cả người, khí của lục phủ, ngũ tạng thịnh, suy đều có quan hệ mật thiết với Phế. Công năng của Phế diễn biến xấu sẽ gây nên bệnh tật chủ yếu ở đường hô hấp: Ho hen, mệt nhọc, tiếng nói nhỏ yếu, hụt hơi.

    b. Phế chủ túc giáng*, thông điều thủy đạo : Phế khí lấy thanh túc hạ giáng làm thuận, nếu Phế khí ngược lên sẽ phát sinh chứng ho hen. Sự vận hành chất lỏng trong người và bài tiết chẳng những cần sự vận hóa, chuyển đưa của Tỳ, còn cần sự túc giáng của Phế khí mới có thể thông điều thủy đạo mà chuyển đến Bàng quang. Nếu như Phế mất túc giáng cùng ảnh hưởng đến việc đại tạ** của thủy dịch, dẫn đến thủy thấp đình lưu, sinh ra khó đái và phù thũng. Do đó có câu: “Phế là thượng nguồn của thủy”. Phế khí không túc giáng được có khi quan hệ với Phế khí bế trở (Phế khí vướng tắc). Vì thế một số chứng suyễn và phù thũng thường phối hợp dùng thuốc khai phế khí như Ma hoàng, Tế tân, Khổ Hạnh nhân để chữa.

    c. Phế chủ bì mao : Phế và da dẻ cơ biểu có quan hệ mật thiết. Phế, Vệ khí đầy đủ thì cơ biểu kín chắc, da dẻ tươi sáng, sức chống đỡ của cơ thể mạnh mẽ, ngoại tà không dễ xâm phạm được. Khí của Phế, Vệ không vững, lỗ chân lông trống trải, dễ bị ngoại tà xâm phạm, thậm chí phạm thẳng vào Phế. Ngoài ra, nếu như cơ biểu không chắc, tinh dịch tiết ra ngoài, lại sinh ra mồ hôi và mồ hôi trộm.

    d. Phế khai khiếu ở mũi : Mũi và Phế thông nhau, mũi là cửa của hệ hô hấp. Khi Phế có bệnh thường sinh tắc mũi, chảy nước mũi, khó thở, có khi cánh mũi phập phồng.

    đ. Phế có quan hệ với tiếng nói : Tiếng nói phát sinh do tác dụng của Phế khí. Phế khí đủ thì tiếng nói vang, trong. Phế khí hư thì tiếng nói thấp, đục, nhỏ. Phong hàn phạm phế, Phế khí vướng tắc thì tiếng nói như câm. Bệnh lao do Phế tà làm tổn hại, hoặc do Phế khí tiêu hao quá mức cũng dẫn đến mất tiếng.

    2. Sinh lý và bệnh lý của đại trường

    Công năng chủ yếu của Đại trường là chuyển tống cặn bã, bài tiết phân. Đại trường có bệnh gây ra: Táo bón, bí ỉa, đau bụng, ỉa chảy, hoặc lị máu mủ.

    3. Phế và Đại trường thông qua kinh lạc cấu thành quan hệ biểu lý . Phế khí túc giáng thì công năng của Đại trường bình thường, đại tiện dễ dàng. Nếu đại tiện tích trệ thì cũng ảnh hưởng ngược lại sự túc giáng của Phế khí. Khi trị liệu trên lâm sàng, có khi chữa bệnh của Phế lại chữa từ Đại trường. Có khi chữa bệnh Đại trường lại kèm chữa bệnh của Phế. Như chữa bệnh bí ỉa, ngoài việc dùng thuốc thông tiện ra, còn dùng cả thuốc nhuận Phế hoặc giáng Phế cũng tốt. Có một số chứng thực nhiệt ở Phế, ngoài việc thanh Phế, còn cần thông đại tiện. Kết hợp cả hai việc này thường thu được kết quả rất tốt.

    Theo sinh lý và bệnh lý kể trên, về cơ bản Tây và Đông y đều giảng giống nhau. Nhưng Đông y giảng về Phế, ngoài công năng về hô hấp, lại bao quát một bộ phận tuần hoàn huyết dịch, trao đổi chất lỏng và công năng điều tiết thân nhiệt.

    1. Sinh lý và bệnh lý của thận

    a. Thận chủ tàng tinh : Công.năng của Thận là tàng tinh. Có thể chia làm hai loại: chứa “tinh” sinh dục, cũng là chủ quản việc sinh sản của con người. Mặt khác, còn chứa tinh của lục phủ, ngũ tạng, cũng là chủ quản việc sinh trưởng của con người, bao gồm sự phát dục và các hoạt động trọng yếu khác. Trên lâm sàng, số lớn bệnh Thận là chứng hư. Bệnh ở hệ sinh dục và có một số bệnh ở hệ nội tiết có thể dùng phép bồ Thận mà chữa.

    b. Thận chủ thủy : Thận là cơ quan trọng yếu để điều tiết và thay thế nước trong cơ thể, cho nên gọi Thận là “thủy tạng”. Thận có bệnh,.điều tiết nước không bình thường, làm khó đái, thủy dịch đình lưu, phù toàn thân, hoặc đái không ngừng, uống nhiều, đái nhiều, đái són, đái dầm.

    c. Thận chủ xương, sính tủy, thông về não : Thận tàng tinh, tinh sinh tủy. Thận và não có quan hệ. Thận tinh đầy đủ thì xương, tủy, não đều khỏe mạnh, chân tay nhanh nhẹn, có sức hành động linh lợi, tinh lực dồi dào, tai thông, mắt sáng. Thận tinh không đủ thường sinh ra động tác chậm chạp, xương mềm, sức yếu, thiếu máu hoặc choáng váng hay quên, cũng như trẻ em bị chứng trí lực phát triển chậm. Ngoài ra, răng là chỗ thừa của xương, nếu Thận khí hư suy thì răng lợi dễ bị lỏng lẻo và rụng.

    d. Thận chủ mệnh môn hỏa : Thận là thủy tạng, nhưng lại chứa mệnh môn hỏa (Thận dương là lực lượng chủ yếu duy trì sinh mệnh, có tên mệnh môn hỏa). Thận hỏa và Thận thủy (thận tinh), một âm, một dương, cùng nhau duy trì sinh dục và sinh trưởng, phát dục, cũng như công năng của các tạng phủ. Mệnh môn hỏa suy dẫn đến xuất tinh sớm, liệt dương, không đủ sức sưởi ấm Tỳ gây ra bệnh ỉa chảy mạn tính. Mệnh môn hỏa vượng sẽ xuất hiện mộng tinh, di tinh, tình dục tăng tiến, bứt rứt.

    đ. Thận chủ nạp khí : Hô hấp tuy do Phế chủ quản nhưng tất nhiên cần sự hiệp đồng của Thận. Thận có tác dụng hỗ trợ phế hít khí, giáng khí gọi là “nạp khí”. Nếu Thận không nạp khí sẽ sinh ra hư suyễn, ngắn hơi. Đặc điểm của loại hư suyễn này là thở nhiều, hít ít. Trị liệu lâm sàng cần theo cách bổ Thận.

    e. Thận kỳ hoa tại tóc : Lông tóc rơi rụng và sinh trưởng thường phản ánh sự thịnh suy của Thận khí. Thận khí thịnh vượng thì lông tóc tốt dày và đen bóng. Thận khí suy thì lông tóc thưa, rụng hoặc bạc mà khô xác.

    2. Sinh lý và bệnh lý của bàng quang

    Công năng chủ yếu của Bàng quang là chứa giữ và bài tiết nước tiểu. Nếu bàng quang có bệnh sinh ra đái són, đái vội, hoặc khi dứt bãi đái thấy đau.

    3. Thận và Bàng quang thông qua quan hệ kinh lạc mà cấu thành quan hệ biểu lý. Công năng bài tiết của Bàng quang mất bình thường có khi quan hệ tới bệnh của Thận. Như Thận hư không cố nhiếp*, cũng xuất hiện chứng đái không cầm hoặc đái dầm. Thận hư, khí hóa không kịp cũng ra bí đái hoặc đái khó.

    Theo sinh lý, bệnh lý kể trên, Đông y giảng về Thận, cơ bản bao quát công năng và bệnh tật ở hệ sinh dục, tiết niệu, bộ phận tạo máu, nội tiết và công năng của hệ thần kinh, khác vôi bài giảng Tây y. Còn Bàng quang trong bài giảng Đông, Tây y đều giống nhau.

    Tam tiêu là một trong lục phủ, gồm có Thượng tiêu, Trung tiêu và Hạ tiêu. Hình thái và công năng của Tam tiêu tới nay chưa có lý thuyết ổn định. Đại đa số cho rằng Thượng tiêu là Tâm, Phế, tương đương với công năng tạng khí ở lồng ngực. Trung tiêu chỉ Tỳ, Vị tương đương với công năng tạng khí ở bụng trên. Hạ tiêu chỉ Can, Thận, Bàng quang, Đại trường, Tiểu trường, tương đương với công năng tạng khí ở bụng dưới. Theo tác dụng sinh lý mà nói, Thượng tiêu như “sương”, chỉ tác đụng của Tâm, Phế đối với việc đưa rải chất dinh dưỡng. Trung tiêu như “giọt nước”, chỉ tác dụng vận hóa của Tỳ, Vị. Hạ tiêu như “cống rãnh”, chỉ tác dụng bài tiết của Thận và Bàng quang.

    Lý thuyết Tam tiêu biện chứng trong học thuyết ôn bệnh đã dùng Tam tiêu làm cương lĩnh để biện chứng phân loại bệnh và luận trị. So với ý nghĩa kể trên có chỗ khác nhau..

    Nữ tử bào gồm dạ con và phần phụ. Công năng chủ về chửa đẻ và kinh nguyệt. Nữ tử bào, Thận và Xung, Nhâm mạch có quan hệ rất mật thiết, cả 3 đều cùng giữ kinh nguyệt, chửa đẻ, sinh dục được bình thường. Thận tinh đầy đủ, Xung, Nhâm mạch thịnh thì kinh nguyệt, sinh dục bình thường. Thận tinh hao tổn, Xung nhâm mạch hư thì kinh nguyệt không đều, thậm chí không chửa đẻ.

    * Túc giáng: đưa xuống nghiêm chỉnh

    ** Đại tạ: thay cũ đổi mới

    * Huyết bất tùng kinh: huyết không đi theo kinh mạch

    ** Vị là thủy cốc chi hai: dạ dày là bể chứa nước và đồ ăn

    * Nhị âm: chỗ đái và chỗ ỉa, gọi là tiền âm và hậu âm

    ∗ Thang phát: Đưa lên. Thâu tiết: Gom về để hạn chế.

    HỌC THUYẾT TẠNG PHỦ – Sinh Lý Và Bệnh Chủ Yếu Của Tạng Phủ

    Học thuyết Tạng Phủ là một bộ phận quan trọng cấu thành lý luận của Đông y. Học thuyết này xuất phát từ quan điểm cơ thể hoàn chỉnh, cho rằng mọi biểu hiện sinh lý, bệnh lý của ngũ tạng, lục phủ đều thông qua hệ thống kinh lạc đưa đến các tổ chức cơ quan toàn thân, kết thành một chỉnh thể hữu cơ. Giữa tạng, phủ (ngũ tạng, lục phủ) về mặt sinh lý, cũng có tương hỗ giữ gìn, tương hỗ ức chế, khi sinh bệnh cùng nhau ảnh hưởng, cùng nhau chuyển hóa.

    Ngũ tạng: Tâm – Can – Tỳ – Phế – Thận.

    Lục phủ: Đảm – Vị – Đại trường – Tiểu trường – Bàng quang – Tam tiêu.

    Khái niệm Đông y về công năng của lục phủ, ngũ tạng cơ bản cũng giống như. Tây y nhưng có những điểm khác rất lớn, ví dụ như Tây y không có tạng khí tương ứng vớ Tam tiêu, do đó chúng ta không thể nghĩ đơn giản mà đem khái niệm tạng khí của Đông y so với Tây y, đem tạng khí của Tây y gán vào Đông y được.

    Cơ sở của học thuyết Tạng Phủ là thực tiễn lâm sàng lâu dài mà phát triển thành lý luận, vì vậy nó có ý nghĩa chỉ đạo trọng yếu về chẩn trị bệnh tật trong Đông y. Tuy nhiên, trong đó có một số vấn đề mà bản chất chưa được rõ ràng, cần được chỉnh lý, nâng cao lên một bước.

    SINH LÝ VÀ BỆNH CHỦ YẾU CỦA TẠNG PHỦ

    Cơ thể con người là chinh thể, giữa ngũ tạng và lục phủ có mối quan hệ phức tạp. Chúng có công năng riêng, song lại phối hợp chặt chẽ với nhau. Chức năng của chúng là:

    Ngũ tạng chứa giữ Tinh khí. Lục phủ hấp thụ thủy cốc, phân biệt trong đục, đào thải cặn bã. Ngoài ra còn có Não – Tủy – Xương – Mạch – Mật – Dạ con, có những chức năng gần giống với Tạng và Phủ nên được phân riêng thành một loại gọi là: “Phủ kỳ hằng” (phủ lạ thường).

    Tâm là chủ soái của lục phủ, ngũ tạng con người, nó có địa vị đứng đầu trong các tạng phủ. Các tạng phủ khác đều hoạt động hợp đồng, điều hòa với Tâm, cho nên Tâm là chủ soái của lục phủ, ngũ tạng.

    1. Sinh lý và bệnh lý tạng tâm

    a. Tâm chủ thần chí: Tâm chủ quản các hoạt động tinh thần, ý thức, tư duy, tương đương với hoạt động tinh thần, thần kinh cao cấp. Nếu công năng chủ thần chí của Tâm bình thường thì tinh thần của con người bình thường, tỉnh táo, thần chí rõ ràng. Nếu như Tâm không bình thường thi phát sinh những bệnh chứng như: Hồi hộp, thổn thức, sợ hãi, hay quên, mất ngủ, phát cuồng, cời cợt không ngừng, hôn mê, nói nhảm.

    b. Tâm chủ huyết mạch: Tâm và mạch vốn nối liền với nhau. Huyết dịch có thể tuần hoàn trong mạch quản là nhờ vào khí của Tâm thôi động. Tâm khí mạnh, trực tiếp ảnh hưởng đến vận hành của máu, vì vậy nó thể hiện trên mạch chẩn. Tâm khí bất túc, mạch sẽ nhỏ, yếu, vô lực. Khí đến không đều, mạch luật không chỉnh, loạn nhịp (gọi là Súc, Kết, Đại).

    c. Tâm kỳ hoa khai khiếu ở lưỡi, ở mặt (thấy rõ Tâm thể hiện ở lưỡi, ở mặt):

    Sự phân bố huyết mạch trên mặt và lưỡi rất phong phú, vì vậy công năng của Tâm có bình thường hay không sẽ phản ảnh đầy đủ thành màu sắc ở mặt và lưỡi. Khi bình thường thì sắc mặt hồng nhuận và sáng sủa, sắc lưỡi hồng nhạt. Khi Tâm khí bất túc, tuần hoàn không trơn tru thì sắc mặt trắng bợt hoặc xanh tím, không sáng sủa, sắc lưỡi tím xám không tươi; Tâm hỏa quá vượng, lưỡi hồng tía hoặc sinh lở loét. Khi đàm mê Tâm khiếu, có thể thấy lưỡi cứng không nói, vì thế mới có câu: “Lưỡi là mầm của Tâm”.

    d. Tâm quan hệ với mồ hôi. Tâm và mồ hôi có quan hệ rất mật thiết, cho nên mới có câu: “Mồ hôi là tân dịch của Tâm”. Người bệnh dùng thuốc phát hãn quá liều, hoặc do nguyên nhân nào đó mất nhiều mồ hôi, đều có thể làm tổn hại tới Tâm dương, thậm chí làm xuất hiện những chứng trạng nghiêm trọng như: “Đại hãn, vong dương” (ra nhiều mồ hôi mất thân nhiệt)

    đ. Tâm bào: Tâm bào cũng gọi là Tâm bào lạc (màng ngoài) vì ở bên ngoài Tâm. Do Tâm là nội tạng tối trọng yếu nên ở ngoài phải có một lớp cơ quan bao bọc để bảo vệ nó. Thông thường khi ngoại tà phạm Tâm, nói chung là phạm vào tâm bào trước. Như bệnh ôn nhiệt. khi sốt cao, mê man, nói nhảm, chính là biểu hiện của nhiệt nhập Tâm bào lạc. Vì vậy Tâm bào chủ yếu là chỉ sự hoạt động của thần kinh cao cấp.

    2. Sinh lý và bệnh lý của tiểu trường

    Công năng của tiểu trường chủ yếu là nhận đồ ăn từ dạ dày chuyển sang, tiếp tục tiêu hóa, phân biệt “trong”, “đục”. Trong, là chỉ một phần đồ ăn đã được tinh hóa (thủy cốc chi tinh), từ Tiểu trường (sau khi hấp thụ) chuyển vận sang Tỳ. Đục, là chỉ phần cặn bã của đồ ăn lừ Tiểu trường đưa xuống Đại trường hoặc chuyển qua Bàng quang. Khi Tiểu trường có bệnh, ngoài ảnh hưởng về công năng tiêu hóa, hấp thụ ra, lại còn xuất hiện tiểu tiện dị thường.

    3. Tâm và Tiểu trường thông qua quan hệ kinh lạc cấu thành quan hệ biểu lý. Nếu Tâm hỏa vượng thịnh, thấy xuất hiện chứng trạng Tâm phiền, đầu lưỡi đỏ đau, miệng lở loét, nứt tiểu tiện ít mà đỏ, có khi đái ra máu. Hiện tượng bệnh lý này gọi là Tâm di nhiệt sang Tiểu trường (nhiệt ở Tâm chuyển sang Tiêu trờng).

    1. Sinh lý và bệnh lý tạng can

    a. Can chủ sơ tiết. Can có tác dụng thăng phát, thâu tiết∗, làm cho sự vận hành các phủ tạng khác được thông suốt.

    Nó chủ quản về thư giãn và điều đạt khí cơ phân bố toàn thân. Nếu Can khí sơ tiết, điều đạt thất thường, khí cơ không thư, có thể gây nên bệnh tật.

    Can khí uất kết thường dễ cáu, sườn ngực đầy tức, đau đầu, kinh nguyệt rối loạn. Nếu Can khí thăng phát thái quá là Can dương thượng cang sẽ thấy đầu váng, đau đầu, đỏ mắt, ù tai, điếc tai. Nếu can dương cang cực mà hóa hỏa sinh phong, tức có thể sinh hàng loạt chứng của trúng gió. Can khí thăng phát không đủ, cũng gây ra các chứng váng đầu, mất ngủ, tinh thần hoảng hốt.

    b. Can chủ tàng huyết . Can có công năng chứa giữ huyết dịch và điều tiết huyết lượng.

    Khi ta ngủ hoặc nghỉ ngơi, bộ phận huyết dịch quay về chứa giữa ở Can. Khi ta hoạt động, Can lại cung cấp huyết dịch cho mọi tổ chức cơ quan, dẫn đi toàn thân. Can tàng huyết, còn có ý nghĩa nữa là đề phòng xuất huyết. Nếu công năng tàng huyết có diễn biến xấu thì gây xuất huyết, thổ huyết, nục huyết (nôn ra máu, chảy máu cam).

    c. Can khai khiếu ra mắt. Can tàng huyết, mắt nhờ huyết mà thấy. Can có bệnh thường có ảnh hưởng đến tròng mắt. Can hư làm giảm thị lực, quáng gà, mờ mắt. Can hỏa thượng viêm thì mắt đỏ.

    d. Can chủ cân, kỳ hoa tại móng. Can chủ quản hoạt động của gân, chi phối hoạt động của bắp thịt và khớp xương trong toàn thân. Gân nhờ vào Can huyết nuôi dưỡng, nếu Can huyết bất túc không nuôi dưỡng được gân sẽ sinh ra đau gân, tê dại, khó co duỗi, co quắp. Nếu nhiệt cực dẫn động Can phong cũng có thể gây nên co giật. “Móng và Can cũng có quan hệ mật thiết. Can huyết đầy đủ thì móng tay hồng nhuận. Can huyết bất túc thì móng tay khô xác hoặc mỏng di, mền ra, gọi là “Kỳ hoa tại móng” (can thấy rõ ở móng).

    2. Sinh lý và bệnh lý của đảm

    Đảm là một trong sáu phủ, nhưng lại có công năng khác các tạng phủ khác nên gọi là “kỳ hằng chi phủ”. Bệnh của Đảm (mật) chủ yếu biểu hiện ở sườn đau, vàng da, đắng miệng, nôn nước đắng.

    3. Can và Đảm thông qua quan hệ kinh lạc cấu thành quan hệ biểu lý, Can và Đảm gần nhau nên khi có bệnh thì cũng ảnh hởng đến nhau, khi chữa bệnh thì chữa cả Can và Đảm. Trên cơ bản Can và Đảm bao quát công năng của gan, mật và một phần hệ thần kinh thực vật, hệ vận động, huyết dịch, thị giác.

    1. Sinh lý và bệnh lý của tỳ

    a. Tỳ chủ vận hóa: Tỳ chủ tiêu hóa, hấp thụ và vận chuyển đồ ăn. Đồ ăn vào dạ dày sau khi đã sơ bộ tiêu hóa, lại có Tỳ vận hóa thêm một bước, tạo thành chất tinh vi dễ hấp thụ, rồi được chuyển vận đi khắp cơ thể để nuôi dưỡng các tổ chức cơ quan toàn thân. Tỳ ngoài việc vận hóa đồ ăn đã tinh hóa ra, còn vận chuyển thủy thấp, cùng với Phế và Thận duy trì mức vừa đủ của chất lỏng trong cơ thể. Khi công năng vận hóa của Tỳ bình thường, tiêu hóa, hấp thụ tốt, Tỳ khí khỏe, thì khí huyết thịnh vượng, tinh lực dồi dào. Nếu như Tỳ hư thì vận hóa thất thường, khả năng tiêu hóa, hấp thụ (kiện vận) không tốt, sẽ xuất hiện chứng kém ăn, bụng trướng, ỉa lỏng, nhão. Có thể do chất lỏng vận chuyển bị trở ngại mà gây nên thủy thấp bị đình trệ, dẫn đến phù thũng hay đàm ẩm (do không sinh huyết tất sinh đàm lỏng hoặc dẻo ở dạ dày, đường ruột).

    b. Tỳ thống huyết. Tỳ có công.năng thống nhiếp huyết dịch toàn thân. Nếu Tỳ hư, công năng thống huyết diễn biến xấu cũng làm cho “huyết bất tùng kinh”* gây nên các chứng: xuất huyết; thổ huyết, nục huyết, băng lậu huyết, tiện huyết. Ngoài ra, còn có quan hệ sinh huyết rất mật thiết. Tỳ hư làm cho công năng sinh hóa huyết dịch giảm thấp, đưa đến bần huyết (thiếu máu, nghèo máu).

    c. Tỳ chủ tứ chi, cơ nhục, khai khiếu ra mồm, kỳ hoa ở môi: Tỳ mà vận hóa bình thường thủy cốc tinh vi nuôi dưỡng toàn thân thì sức ăn tăng tiến, cơ bắp đầy đặn khỏe mạnh, tay chân cứng cáp, mồm miệng hồng tươi. Tỳ khí hư yếu, vận hóa thất thường, thì sức ăn kém, cơ bắp gầy mòn, chân tay mềm yếu, môi trắng nhợt hoặc vàng, khô khan.

    2. Sinh lý và bệnh lý của vị

    Công năng chủ yếu của Vị !à chứa nạp thủy cốc, nghiền ngấu đồ ăn, nên gọi: “Vị là thủy cốc chi hải”**. Vị có bệnh thì xuất hiện chứng bụng trên đầy tức, đau đớn, ăn uống giảm, quặn bụng buồn nôn.

    3. Tỳ với Vị thông qua quan hệ kinh lạc mà cấu thành quan hệ biểu lý. Vị chủ nạp, Tỳ chủ vận hóa, phối hợp với nhau thành công năng sinh lý tiêu hóa, hấp thụ, vận chuyển dinh dưỡng. Tác dụng của Tỳ, Vị trong cơ thể con người chiếm địa vị trọng yếu, cho nên trên lâm sàng có câu nói: “Có Vị khí thì sống, không Vị khí thì chết” và câu “Tỳ, Vị là gốc của hậu thiên”. Nhưng Tỳ, Vị lại có những đặc điểm khác nhau: Tỳ chủ thăng, ưa táo, ghét thấp. Vị chủ giáng, ưa thấp, ghét táo, cả hai đều tương phản tương thành. Vị khí giáng, đồ ăn mới đi xuống, tiện cho việc tiêu hóa; Tỳ khí thăng, thủy cốc tinh vi mới có thể đi đến Phế, lại đưa rải khắp toàn thân, đến các tạng phủ. Nếu Vị khí không giáng mà lại ngược lên, sẽ gây ra quặn bụng, nôn mửa, ợ hơi, nấc và đau dạ dày. Tỳ khí không thăng, ma lại hãm xuống (trung khí hạ hãm) thì xuất hiện hụt hơi, nói yếu, ỉa chảy kéo dài, lòi dom, sa dạ dày, sa dạ con hoặc sa các tạng phủ khác.

    Tỳ thuộc âm, bản thân rất dễ sinh thấp. Tỳ không vận khỏe, thủy thấp đình ở trong, lại cũng rất dễ bị tà thấp xâm phạm. Nếu Tỳ bị ngoại thấp xâm phạm thì thấy phát sốt, nặng đầu, đau mình, tay chân rã rời, mệt mỏi, bụng trướng khó chịu, rêu lưỡi trắng dày, mạch nhu hoãn, khi chữa nên ôn tỳ, táo thấp.

    Vị thuộc dương, nói chung bệnh của Vị là Vị nhiệt, Vị hỏa, làm xuất hiện miệng khô, khát, kém ăn hoặc răng đau, lợi, răng chảy máu, thổ huyết, nục huyết. Chữa nên thanh nhiệt, giáng hỏa.

    Tlheo những điều nói về Vị thì Đông, Tây y đều nói giống nhau, nhưng Đông y nói về Tỳ bao gồm công năng và bệnh tật thuộc tiêu hóa, hấp thụ, đại tạ (thay thế vật chất), ổn định thể dịch và một phần tuần hoàn huyết dịch, so với bài giảng Tây y thì thật khác xa.

    1. Sinh lý và bệnh lý của phế

    a. Phế chủ khí : Phế giữ hô hấp, tiến hành thay đổi khí trong cơ thể, duy trì công năng hoạt động sống của con người. Mặt khác, Phế hướng về trăm mạch đa thủy cốc tinh vi phân bố toàn thân. Ngoài ra, Đông y cho rằng Phế chủ khí cả người, khí của lục phủ, ngũ tạng thịnh, suy đều có quan hệ mật thiết với Phế. Công năng của Phế diễn biến xấu sẽ gây nên bệnh tật chủ yếu ở đường hô hấp: Ho hen, mệt nhọc, tiếng nói nhỏ yếu, hụt hơi.

    b. Phế chủ túc giáng*, thông điều thủy đạo : Phế khí lấy thanh túc hạ giáng làm thuận, nếu Phế khí ngược lên sẽ phát sinh chứng ho hen. Sự vận hành chất lỏng trong người và bài tiết chẳng những cần sự vận hóa, chuyển đưa của Tỳ, còn cần sự túc giáng của Phế khí mới có thể thông điều thủy đạo mà chuyển đến Bàng quang. Nếu như Phế mất túc giáng cùng ảnh hưởng đến việc đại tạ** của thủy dịch, dẫn đến thủy thấp đình lưu, sinh ra khó đái và phù thũng. Do đó có câu: “Phế là thượng nguồn của thủy”. Phế khí không túc giáng được có khi quan hệ với Phế khí bế trở (Phế khí vướng tắc). Vì thế một số chứng suyễn và phù thũng thường phối hợp dùng thuốc khai phế khí như Ma hoàng, Tế tân, Khổ Hạnh nhân để chữa.

    c. Phế chủ bì mao : Phế và da dẻ cơ biểu có quan hệ mật thiết. Phế, Vệ khí đầy đủ thì cơ biểu kín chắc, da dẻ tươi sáng, sức chống đỡ của cơ thể mạnh mẽ, ngoại tà không dễ xâm phạm được. Khí của Phế, Vệ không vững, lỗ chân lông trống trải, dễ bị ngoại tà xâm phạm, thậm chí phạm thẳng vào Phế. Ngoài ra, nếu như cơ biểu không chắc, tinh dịch tiết ra ngoài, lại sinh ra mồ hôi và mồ hôi trộm.

    d. Phế khai khiếu ở mũi : Mũi và Phế thông nhau, mũi là cửa của hệ hô hấp. Khi Phế có bệnh thường sinh tắc mũi, chảy nước mũi, khó thở, có khi cánh mũi phập phồng.

    đ. Phế có quan hệ với tiếng nói : Tiếng nói phát sinh do tác dụng của Phế khí. Phế khí đủ thì tiếng nói vang, trong. Phế khí hư thì tiếng nói thấp, đục, nhỏ. Phong hàn phạm phế, Phế khí vướng tắc thì tiếng nói như câm. Bệnh lao do Phế tà làm tổn hại, hoặc do Phế khí tiêu hao quá mức cũng dẫn đến mất tiếng.

    2. Sinh lý và bệnh lý của đại trường

    Công năng chủ yếu của Đại trường là chuyển tống cặn bã, bài tiết phân. Đại trường có bệnh gây ra: Táo bón, bí ỉa, đau bụng, ỉa chảy, hoặc lị máu mủ.

    3. Phế và Đại trường thông qua kinh lạc cấu thành quan hệ biểu lý . Phế khí túc giáng thì công năng của Đại trường bình thường, đại tiện dễ dàng. Nếu đại tiện tích trệ thì cũng ảnh hưởng ngược lại sự túc giáng của Phế khí. Khi trị liệu trên lâm sàng, có khi chữa bệnh của Phế lại chữa từ Đại trường. Có khi chữa bệnh Đại trường lại kèm chữa bệnh của Phế. Như chữa bệnh bí ỉa, ngoài việc dùng thuốc thông tiện ra, còn dùng cả thuốc nhuận Phế hoặc giáng Phế cũng tốt. Có một số chứng thực nhiệt ở Phế, ngoài việc thanh Phế, còn cần thông đại tiện. Kết hợp cả hai việc này thường thu được kết quả rất tốt.

    Theo sinh lý và bệnh lý kể trên, về cơ bản Tây và Đông y đều giảng giống nhau. Nhưng Đông y giảng về Phế, ngoài công năng về hô hấp, lại bao quát một bộ phận tuần hoàn huyết dịch, trao đổi chất lỏng và công năng điều tiết thân nhiệt.

    1. Sinh lý và bệnh lý của thận

    a. Thận chủ tàng tinh : Công.năng của Thận là tàng tinh. Có thể chia làm hai loại: chứa “tinh” sinh dục, cũng là chủ quản việc sinh sản của con người. Mặt khác, còn chứa tinh của lục phủ, ngũ tạng, cũng là chủ quản việc sinh trưởng của con người, bao gồm sự phát dục và các hoạt động trọng yếu khác. Trên lâm sàng, số lớn bệnh Thận là chứng hư. Bệnh ở hệ sinh dục và có một số bệnh ở hệ nội tiết có thể dùng phép bồ Thận mà chữa.

    b. Thận chủ thủy : Thận là cơ quan trọng yếu để điều tiết và thay thế nước trong cơ thể, cho nên gọi Thận là “thủy tạng”. Thận có bệnh,.điều tiết nước không bình thường, làm khó đái, thủy dịch đình lưu, phù toàn thân, hoặc đái không ngừng, uống nhiều, đái nhiều, đái són, đái dầm.

    c. Thận chủ xương, sính tủy, thông về não : Thận tàng tinh, tinh sinh tủy. Thận và não có quan hệ. Thận tinh đầy đủ thì xương, tủy, não đều khỏe mạnh, chân tay nhanh nhẹn, có sức hành động linh lợi, tinh lực dồi dào, tai thông, mắt sáng. Thận tinh không đủ thường sinh ra động tác chậm chạp, xương mềm, sức yếu, thiếu máu hoặc choáng váng hay quên, cũng như trẻ em bị chứng trí lực phát triển chậm. Ngoài ra, răng là chỗ thừa của xương, nếu Thận khí hư suy thì răng lợi dễ bị lỏng lẻo và rụng.

    d. Thận chủ mệnh môn hỏa : Thận là thủy tạng, nhưng lại chứa mệnh môn hỏa (Thận dương là lực lượng chủ yếu duy trì sinh mệnh, có tên mệnh môn hỏa). Thận hỏa và Thận thủy (thận tinh), một âm, một dương, cùng nhau duy trì sinh dục và sinh trưởng, phát dục, cũng như công năng của các tạng phủ. Mệnh môn hỏa suy dẫn đến xuất tinh sớm, liệt dương, không đủ sức sưởi ấm Tỳ gây ra bệnh ỉa chảy mạn tính. Mệnh môn hỏa vượng sẽ xuất hiện mộng tinh, di tinh, tình dục tăng tiến, bứt rứt.

    đ. Thận chủ nạp khí : Hô hấp tuy do Phế chủ quản nhưng tất nhiên cần sự hiệp đồng của Thận. Thận có tác dụng hỗ trợ phế hít khí, giáng khí gọi là “nạp khí”. Nếu Thận không nạp khí sẽ sinh ra hư suyễn, ngắn hơi. Đặc điểm của loại hư suyễn này là thở nhiều, hít ít. Trị liệu lâm sàng cần theo cách bổ Thận.

    e. Thận kỳ hoa tại tóc : Lông tóc rơi rụng và sinh trưởng thường phản ánh sự thịnh suy của Thận khí. Thận khí thịnh vượng thì lông tóc tốt dày và đen bóng. Thận khí suy thì lông tóc thưa, rụng hoặc bạc mà khô xác.

    2. Sinh lý và bệnh lý của bàng quang

    Công năng chủ yếu của Bàng quang là chứa giữ và bài tiết nước tiểu. Nếu bàng quang có bệnh sinh ra đái són, đái vội, hoặc khi dứt bãi đái thấy đau.

    3. Thận và Bàng quang thông qua quan hệ kinh lạc mà cấu thành quan hệ biểu lý. Công năng bài tiết của Bàng quang mất bình thường có khi quan hệ tới bệnh của Thận. Như Thận hư không cố nhiếp*, cũng xuất hiện chứng đái không cầm hoặc đái dầm. Thận hư, khí hóa không kịp cũng ra bí đái hoặc đái khó.

    Theo sinh lý, bệnh lý kể trên, Đông y giảng về Thận, cơ bản bao quát công năng và bệnh tật ở hệ sinh dục, tiết niệu, bộ phận tạo máu, nội tiết và công năng của hệ thần kinh, khác vôi bài giảng Tây y. Còn Bàng quang trong bài giảng Đông, Tây y đều giống nhau.

    Tam tiêu là một trong lục phủ, gồm có Thượng tiêu, Trung tiêu và Hạ tiêu. Hình thái và công năng của Tam tiêu tới nay chưa có lý thuyết ổn định. Đại đa số cho rằng Thượng tiêu là Tâm, Phế, tương đương với công năng tạng khí ở lồng ngực. Trung tiêu chỉ Tỳ, Vị tương đương với công năng tạng khí ở bụng trên. Hạ tiêu chỉ Can, Thận, Bàng quang, Đại trường, Tiểu trường, tương đương với công năng tạng khí ở bụng dưới. Theo tác dụng sinh lý mà nói, Thượng tiêu như “sương”, chỉ tác đụng của Tâm, Phế đối với việc đưa rải chất dinh dưỡng. Trung tiêu như “giọt nước”, chỉ tác dụng vận hóa của Tỳ, Vị. Hạ tiêu như “cống rãnh”, chỉ tác dụng bài tiết của Thận và Bàng quang.

    Lý thuyết Tam tiêu biện chứng trong học thuyết ôn bệnh đã dùng Tam tiêu làm cương lĩnh để biện chứng phân loại bệnh và luận trị. So với ý nghĩa kể trên có chỗ khác nhau..

    Nữ tử bào gồm dạ con và phần phụ. Công năng chủ về chửa đẻ và kinh nguyệt. Nữ tử bào, Thận và Xung, Nhâm mạch có quan hệ rất mật thiết, cả 3 đều cùng giữ kinh nguyệt, chửa đẻ, sinh dục được bình thường. Thận tinh đầy đủ, Xung, Nhâm mạch thịnh thì kinh nguyệt, sinh dục bình thường. Thận tinh hao tổn, Xung nhâm mạch hư thì kinh nguyệt không đều, thậm chí không chửa đẻ.

    * Túc giáng: đưa xuống nghiêm chỉnh

    ** Đại tạ: thay cũ đổi mới

    * Huyết bất tùng kinh: huyết không đi theo kinh mạch

    ** Vị là thủy cốc chi hai: dạ dày là bể chứa nước và đồ ăn

    * Nhị âm: chỗ đái và chỗ ỉa, gọi là tiền âm và hậu âm

    ∗ Thang phát: Đưa lên. Thâu tiết: Gom về để hạn chế.

    Theo thông tin y học Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Sinh Lý Và Bệnh Lý Của Tạng Phế.
  • Chức Năng Sinh Lý Và Bệnh Lý Của Tạng Tâm.
  • Sinh Ly Va Benh Ly Tuyen Thuong Than,tuyen Tuy Tinh Hoan
  • Tuyến Thượng Thận Là Gì Và Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Tuyến Thượng Thận Và Vai Trò Đối Với Sức Khỏe
  • Triệu Chứng Của Chức Năng Gan Suy Yếu

    --- Bài mới hơn ---

  • Triệu Chứng Gan Yếu Là Gì? Không Điều Trị Kịp Thời Tác Hại Như Thế Nào?
  • 20 Dấu Hiệu Cảnh Báo Từ Gan
  • Cảnh Báo 10 Dấu Hiệu Suy Giảm Chức Năng Gan
  • 5 Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Gan Quan Trọng
  • Tìm Hiểu 3 Nhóm Xét Nghiệm Chức Năng Gan Phổ Biến
  • Ngày nay khi đời sống vật chất được nâng cao thì nhu cầu của mọi người cũng nâng lên vì vậy cho nên gây nhiều bệnh lý khó kiểm soát được, trong đó gan được xem là “Nhà máy hóa chất” đảm nhận trọng trách vô cùng quan trọng cho cơ thể giúp điều hòa rất nhiều các phản ứng hóa sinh. Cho nên gan là một trong những bộ phận quan trọng của cơ thể đóng một vai trò chuyển hóa, tiêu hóa và thải độc.

    Khi chức năng này gặp vấn đề đồng nghĩa với việc mọi hoạt động của cơ thể cũng sẽ ảnh hưởng theo, muôn bảo vệ gan khỏe mạnh giúp các bộ phận khác hoạt động bình thường chúng ta nên hiểu biết về nó.

    Chức năng gan suy giảm?

    Gan được coi là nhà máy hóa chất của cơ thể và đóng vai trò của một nhà máy lọc và tinh chế, đồng thời gan đóng vai trò chính yếu trong việc loại bỏ ra khỏi máu các sản phẩm độc hại sinh ra từ ruột hay nội sinh (do cơ thể tạo ra). Gan chuyển đổi chúng thành những chất mà cơ thể có thể loại bỏ dễ dàng giúp ổn định các cảm xúc của con người.

    Chính vì vậy gan cũng như các cơ quan khác có thể bị tàn phá bởi virut, vi khuẩn, các loại bênh tật, hiện nay rối loạn chức năng gan là một vấn đề rất phổ biến mà nhiều người mắc phải và chỉ khi được xét nghiệm máu thì người bệnh mới phát hiện ra gan của mình bị suy giảm chức năng.

    Nếu không được phát hiện điều trị kịp thời khi chức năng gan suy giảm chức năng, sẽ gây biến chứng nguy hiểm khôn lường tới sức khỏe con người như có thể dẫn tới xơ gan, ung thư gan và ảnh hưởng lớn đến các cơ quan khác. Vì vậy, hãy cảnh giác với bệnh gan nếu cơ thể xuất hiện các dấu hiệu lạ.

    Dấu hiệu chức năng gan suy yếu

    Vàng da là biểu hiện đầu tiên khi gan bị tổn thương và có nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên:

    Vàng da sinh lý: Thường gặp khi trẻ được 1-7 ngày tuổi. Tuy nhiên, trẻ vẫn ăn ngủ bình thường và hiện tượng này sẽ tự hết, không cần điều trị và không nguy hiểm.

    Vàng da bệnh lý: Biểu hiện ở 3 giai đoạn như sau:

    • Vàng da trước gan (trước khi mật được tạo thành bởi gan): Do sự phá hủy hồng cầu làm tăng lượng hemoglobin quá mức khiến cho gan quá tải và không có khả năng liên hợp cũng như bài tiết tất cả Bilirubin dẫn đến chất này tăng lên trong máu và gây vàng da.
    • Vàng da tại gan: Khi cơ thể mắc các bệnh lý về gan như: viêm gan, xơ gan… khiến cho gan vượt quá khả năng chuyển hóa và đào thải Bilirubin dẫn đến vàng da.
    • Vàng da sau gan (sau khi mật được tạo ra trong gan): Do tắc nghẽn mật nên gan không cho bài tiết theo đường mật vào ruột dẫn đến vàng da.

    Men gan cao trên 40 UI/L có thể do: Uống nhiều rượu bia nhiều và kéo dài, nhiễm độc thảo dược, nhiễm độc thực phẩm, viêm gan virus, gan nhiễm mỡ… Biểu hiện: Đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, rối loạn chức năng tiêu hóa… Men gan cao dự báo sẽ giảm dần tuổi thọ, nếu kéo dài nguy cơ biến chứng như xơ gan, ung thư gan.

    Gan làm nhiệm vụ trung hòa độc tố và đào thải muối mật, nếu chức năng gan bị suy giảm, những tác nhân này bị tích tụ trong cơ thể và lắng đọng ở da, gây kích ứng và mẩn ngứa. Ngứa có thể khu trú chỉ ở một vùng da hoặc lan tỏa toàn thân, thỉnh thoảng mới xuất hiện nhưng cũng có thể kéo dài liên tục nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Bệnh nhân có cảm giác ngứa trên da nhưng nếu không gãi thì một lúc sau ngứa cũng mất đi.

    Nếu bạn đột nhiên có cảm giác bụng căng phồng, chướng bụng và kéo dài hơn chứng đầy hơi thông thường thì hãy tới gặp bác sĩ để xác định chính xác nguyên nhân. Khi áp lực gia tăng trong các mạch máu xung quanh gan có thể dẫn đến hiện tượng tích tụ chất dịch ở vùng bụng.

    Khi virus hoặc ký sinh trùng xâm nhập vào gan, chúng gây tổn hại và làm suy giảm chức năng của gan và có thể dẫn tới xơ gan và ung thư gan như viêm gan do siêu vi A, B và C. Viêm gan A thường lây truyền qua đường tiêu hóa (tiếp xúc với phân của người bệnh hay ăn thức ăn nhiễm bẩn), trong khi viêm gan B và C thường lây truyền qua đường máu, quan hệ tình dục hay tiếp xúc với các chất dịch của người bệnh.

    Thừa cân hoặc béo phì gây ảnh hưởng không chỉ về vóc dáng, thẩm mỹ mà nó còn gây ra các bệnh về gan và số lượng bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ đang gia tăng, đặc biệt là ở những người trong độ tuổi 40-50. Nếu tích tụ quá nhiều chất béo trong gan có thể gây suy giảm chức năng gan, xơ gan và ung thư gan. Vậy giải pháp nào tốt nhất khắc phục nó?

    Phòng và điều trị các bệnh gan thường gặp

    Nếu phát hiện sớm mình đã mắc phải bệnh lý trên, người bệnh cần tuân thủ đúng phác đồ điều trị của bác sĩ, đồng thời muốn có sức khỏe tốt chống lại bệnh cần kết hợp với một số biện pháp đơn giản hàng ngày để giúp cơ thể khỏe mạnh, hỗ trợ bảo vệ gan tốt hơn như:

    • Ăn nhiều rau tươi có màu xanh đậm như rau bina, bắp cải xanh, rau ngót.Và ăn các loại quả như: quả óc chó, quả bơ, quả mọng… và uống 2 lít nước/ngày.
    • Hạn chế đồ ăn cay vì chúng rất dễ làm cho hệ tiêu hóa bị “nóng”, gây mất cân bằng chức năng gan.
    • Tập thể dục thường xuyên và ngủ đủ giấc.
    • Quan trọng nhất, bắt buộc phải tuân thủ, hạn chế thức uống có cồn, gas, chất kích thích như rượu bia, cà phê…

    Bên cạnh đó, người bệnh nên sử dụng thảo dược hỗ trợ giúp làm thanh nhiệt giải độc gan hiệu quả, an toàn lành tính giúp gan luôn khỏe mạnh bảo vệ cơ thể toàn diện hơn.

    Bột sủi Live Cool – Giúp thanh nhiệt mát gan

    Sản phẩm được chiết xuất hoàn toàn từ các thảo dược tự nhiên như Atiso, rau má, linh chi đỏ, dưa gang, chanh, vitamin C… giúp thanh nhiệt, mát gan, đặc biệt lành tính, phù hợp với mọi người sử dụng không lo đến tác dụng phụ.

    Live Cool là dòng thực phẩm được các chuyên gia nghiên cứu đánh giá cao về độ an toàn, cũng như tác dụng bảo vệ sức khỏe với 100% thành phần chiết xuất từ 6 loại thảo mộc tự nhiên, đầu bảng giúp thanh nhiệt, giải độc.

    Sản phẩm mang tính đột phá trong thành quả nghiên cứu & phát triển sản phẩm của Công ty Cổ phần Nam Dược nhằm hỗ trợ thanh nhiệt, mát gan, giảm các triệu chứng mẩn ngứa, nổi mề đay, vàng da do chức năng gan kém.

    Live Cool không chỉ được nghiên cứu và sản xuất dựa trên tiêu chuẩn của Bộ Y tế, đầy đủ giấy tờ kiểm nghiệm và giấy phép lưu hành sản phẩm. Các công đoạn từ sản xuất, điều hành và phân phối cũng trải qua quá trình quản lý chặt chẽ và nghiêm ngặt, vì thế, ra mắt sản phẩm Live Cool là sự kiện quan trọng mang tầm chiến lược của Nam Dược, thể hiện sự không ngừng sáng tạo để cải tiến chất lượng, cũng như cho ra mắt các dòng sản phẩm mới, đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng và chăm sóc sức khỏe người tiêu dùng một cách tốt nhất, hiệu quả nhất.

    Chia sẻ với mọi người

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dấu Hiệu Nhận Biết Chức Năng Gan Suy Giảm
  • Sửa Lỗi Không Tìm Được Bạn Bè Quanh Đây Trên Zalo Với Vài Bước Đơn Giản
  • Suy Giảm Chức Năng Gan: Những Dấu Hiệu Nguy Hiểm
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Phòng Ngừa Suy Giảm Chức Năng Gan
  • Suy Giảm Chức Năng Gan: Dấu Hiệu, Nguyên Nhân, Cách Đối Phó
  • Nhân Tế Bào Gian Kỳi. Đại Cương: Nhân, Với Chức Năng Chủ Yếu Là Một

    --- Bài mới hơn ---

  • Máy Dán Cạnh Đa Chức Năng
  • ✅ Đề Kiểm Tra Sinh 6 Chương 3 (Số 1)
  • Sàn Nhựa Giả Gỗ Tự Dán Giá Rẻ
  • Báo Giá Máy Dán Cạnh Gỗ Công Nghiệp 4
  • Câu 1. Ở Người, Bộ Phận Nào Nằm Giữa Trụ Não Và Đại Não ? * 1 Điểm A. Não Trung Gian. B. Tủy Sống. C. Hạch Thần Kinh. D. Tiểu Não. Câu 2. Liền Phía Sau Trụ Não
  • NHÂN TẾ BÀO GIAN KỲ I. ĐẠI CƯƠNG:

     Nhân, với chức năng chủ yếu là một bào quan đặc biệt chứa các thông tin di truyền

    quyết định các cấu trúc và chức năng của tế bào, là đặc điểm tiến hóa quan trọng nhất

    của Eucaryot so với Procaryot. Nhân có 2 lớp màng bao bọc đồng tâm, phân cách khỏi

    bào tương, có dạng gần cầu, chiếm chừng 1/10 thể tích tế bào. Nói chung, mỗi tế bào

    Eucaryot chứa một nhân, nhưng cũng có nhiều ngoại lệ. Trùng đơn bào paramecium

    (trùng đế giày) thường xuyên có 2 nhân, một để di truyền cho tế bào con, một để “điều

    hành” các hoạt động thường xuyên cần đến thông tin di truyền chứa trong bộ gen. Một

    số loại nấm thường có nhiều gen trong một tế bào vì khi phân chia nhân, tế bào không

    kịp hình thành vách ngăn phân chia tế bào chất. Ở tế bào gan của người cũng thấy có

    hiện tượng này. Bạch cầu đa nhân thật ra là một tên gọi không chính xác nhưng vẫn

    phổ biến trong các nhà huyết học, các tế bào này chỉ có một nhân, nhưng nhìn dưới

    kính hiển vi quang học thấy nhân gồm nhiều “thùy”.

     Đối với tế bào Procaryot, không có nhân điển hình, mà chỉ có một vùng tập trung

    ADN, nhưng không có màng bao bọc, gọi là thể nhân (nucleoid). Cấu trúc nhân hoàn

    chỉnh, tách biệt phần còn lại của tế bào chất (bào tương) cho phép tế bào Eucaryot đạt

    được các lợi thế so với Procaryot:

    1) Lượng ADN chứa được lớn hơn nhiều. Mỗi tế bào Eucaryot chứa nhiều phân

    tử ADN, mỗi phân tử đều có kích thước rất dài so với phân tử ADN duy nhất

    của Procaryot. Số lượng ADN này dư thừa nhiều lần so với nhu cầu mã hóa tất

    cả các ARN và protein của cơ thể. Tế bào Eucaryot cũng có hệ thống các cấu

    trúc tơ sợi rất phát triển trong bào tương, tạo thành bộ xương tế bào, thực hiện

    các vận động của nguyên sinh chất. Giả sử ADN không được “đóng gói” trong

    nhân, chức năng vận động nói trên chắc khó mà thực hiện được.

    2) Quá trình phiên dịch mã di truyền (tổng hợp protein) được thực hiện trong

    bào tương, tách biệt với nhân là nơi xảy ra phiên mã (tổng hợp ARN). Sự tách

    rời hai quá trình về không gian và thời gian cho phép tế bào thực hiện thêm một

    số phản ứng hóa học để “cải biến” phân tử m-ARN trên đường vận chuyển từ

    nhân ra bào tương, trước khi nó được sử dụng làm khuôn để phiên dịch mã.

    Nhờ vậy tế bào Eucaryot thực hiện được sự điều hòa thể hiện gen một cách tinh

    vi hơn, thông qua hai giai đoạn phiên mã và phiên dịch mã.

     Trong bài này, chúng ta sẽ đi sâu mô tả cấu tạo và chức năng của từng thành phần

    của nhân. Các thành phần đó bao gồm:  Vỏ nhân, với hai lớp màng và khoang gian màng quanh nhân (khoang

    quanh nhân), có nhiều chỗ tạo thành các lỗ hổng (lỗ nhân). Chức năng chủ yếu

    của vỏ nhân là tạo thành hàng rào ngăn cách không cho các bào quan trong bào

    tương lọt vào trong nhân, nhưng vẫn đảm bảo dòng vận chuyển và trao đổi vật

    chất giữa nhân và bào tương một cách trật tự.

     Dịch nhân, bao gồm các chất tan và các đại phân tử (acid nucleic và

    protein) ở các trạng thái ngưng tụ với nhau, có độ bắt màu kiềm cao, gọi là chất

    nhiễm sắc. Chức năng chủ yếu của dịch nhân, hay đúng hơn là của các nhiễm

    sắc thể chứa trong đó, là chứa đựng các thông tin di truyền và tạo ra các phiên

    bản thông tin để gởi ra bào tương, quyết định thành phần protein đặc trưng sẽ

    xây dựng nhiều cấu trúc và thực thi nhiều chức năng khác nhau của tế bào. Một

    chức năng quan trọng khác của nhiễm sắc thể là truyền thông tin di truyền cho

    các tế bào con trong quá trình phân chia tế bào, chức năng này sẽ được đề cập

    trong một bài riêng (giảm phân).

     Hạch nhân hay nhân con, là khối hình cầu không có màng bao quanh

    nhưng bắt màu đậm đặc hơn so với dịch nhân, có chức năng chủ yếu là tổng

    hợp ARN của ribosom (r-ARN) và cũng là nơi hình thành các tiểu đơn vị

    ribosom.

    I. VỎ NHÂN VÀ SỰ VẬN CHUYỂN VẬT CHẤT GIỮA NHÂN VÀ BÀO

    TƯƠNG:

     Vỏ nhân (nuclear envelope) bao gồm

    hai lớp màng, gọi là màng trong và màng

    ngoài, như 2 mặt cầu đồng tâm bao bọc

    lấy nhân. Giữa hai lớp màng là khoang

    quanh nhân (perinuclear space).

     Màng ngoài nối với màng của lưới nội

    bào hạt và cũng có nhiều ribosom bám

    lên, giống như lưới nội bào hạt. Do đó,

    màng ngoài nhân (và khoang quanh nhân) cũng có chức năng thực hiện tổng hợp các protein đóng gói trong màng nội bào hoặc

    chế tiết ra khoang gian bào (như lưới nội bào hạt). Khoang quanh nhân liên thông với

    khoang chứa của lưới nội bào hạt. Trong quá trình phân chia tế bào, vỏ nhân dường

    như tan biến nhưng thật ra được chuyển thành lưới nội bào hạt. Sau đó, vỏ nhân lại

    được hình thành trở lại cũng từ các đoạn của lưới nội bào hạt.

     Về quan điểm tiến hóa, vỏ nhân cũng như lưới nội bào hạt có thể có nguồn gốc

    chung từ các đoạn lõm vào của màng sinh chất. Ở tế bào Procaryot, có thể thấy màng

    sinh chất lõm vào thành những cấu trúc gọi là mesosom. Nhiễm sắc thể của tế bào

    Procaryot tập trung vào vùng thể nhân và cũng gắn với màng nhưng trong trường hợp

    này là màng tế bào chứ không phải màng nhân.

     Vỏ nhân bị “dệt” vào giữa hai hệ thống mạng sợi. Từ phía ngoài bào tương, các

    siêu sợi trung gian của bộ xương tế bào đan khắp bề mặt vỏ nhân. Còn từ phía trong,

    màng trong của vỏ nhân được lớp một lớp mạng gọi là lamina, cấu tạo từ 3 loại protein

    sợi (lamin). Qua các sợi này, màng trong liên kết với dị nhiễm sắc của nhiễm sắc thể.

    Dị nhiễm sắc bao phủ gần như hết mặt trong vỏ nhân, nhưng lại chừa ra các khoảng

    trống xung quanh lỗ nhân là nơi vận chuyển các chất qua lại giữa nhân và bào tương.

     Màng ngoài và màng trong có cấu trúc hóa học khác nhau. Nhưng ở nhiều chỗ,

    chúng nối với nhau và chừa lại lỗ hổng không có màng, gọi là lỗ nhân (nuclear pore).  Những lỗ hổng này

    được lấp đầy bởi “phức hợp

    lỗ nhân”, gồm nhiều phân

    tử protein khác nhau, có

    tổng khối lượng khoảng 50-

    100 MD. Các protein này tạo thành các hạt có thể nhìn thấy được dưới kính hiển vi

    điện tử. Trên sơ đồ, ta thấy phức hợp lỗ nhân như bông cúc 8 cánh, với 8 cánh xung

    quanh và một hạt ở giữa. Mỗi cánh này thực ra gồm 3 hạt, phân bố thành 3 tầng.

    Chúng lấp gần kín lỗ nhân, chỉ chừa lại một kênh dài khoảng 15 nm, rộng khoảng

    9nm. Kênh này lại thường thấy bị nút kín bởi hạt trung tâm. Có lẽ hạt này là những

    phức hợp đang được vận chuyển qua lỗ nhân.

     Lỗ nhân kiểm soát sự trao đổi chất giữa nhân và bào tương. Các phân tử nhỏ có

    thể qua lại lỗ nhân khá dễ dàng. Chẳng hạn một protein có trọng lượng phân tử 17.000

    Daltons sẽ cân bằng nồng độ giữa nhân và bào tương chỉ sau hai phút. Ngược lại

    những hạt lớn như ribosom hoàn chỉnh thì không lọt qua lỗ nhân và bị giữ lại (ở bên

    ngoài bào tương, chứ không lọt vào trong nhân). Tuy vậy, cũng không thể nói rằng lỗ

    nhân có tác dụng như cái rây, tức là cấu trúc sàng lọc các hạt đi qua tùy theo kích

    thước của hạt. Các tiểu đơn vị ribosom mặc dù kích thước vượt xa đường kính kênh

    qua lỗ nhân, nhưng vẫn được nhân “xuất khẩu” ra bào tương một cách dễ dàng. Những

    enzym có trọng lượng phân tử lớn như ADN- và ARN-polymeraz (riêng mỗi tiểu đơn

    vị đã có trọng lượng phân tử 100.000 – 200.000 Daltons) cũng được nhân lấy từ bào tương. Như vậy, sự vận chuyển các hạt lớn qua lỗ nhân phải kèm theo sự mở rộng

    đường kính kênh. Cơ chế mở rộng đường kính kênh lỗ nhân ngày nay chưa thật rõ.

     Có các bằng chứng cho

    thấy rằng phức hợp lỗ nhân

    có chứa thụ thể nhận biết các

    đại phân tử và hạt khác nhau.

    Với các protein đã được tổng

    hợp trong bào tương và cần

    được nhập khẩu vào nhân, người ta đã xác định được rằng thụ thể nói trên tương tác

    với một đoạn oligopeptid tín hiệu, chứa từ 4 đến 8 acid amin bao gồm prolin và các

    gốc tích điện dương (lysin, arginin) được mã hóa trong thành phần cấu trúc bậc nhất

    của các protein đó. Protein đoạn oligopeptid nói trên (ví dụ histon, protein ribosom,

    tiểu đơn vị của ADN-polymeraz ) thì được thụ thể tiếp nhận và vận chuyển vào nhân,

    còn các protein bào tương thì không chứa đoạn oligopeptid này, do đó chỉ nằm lại bên

    ngoài bào tương. Quá trình mở rộng kênh cũng đòi hỏi tiêu thụ năng lượng ATP,

    nhưng cơ chế chưa được biết rõ.

     Sự vận chuyển qua lại lỗ nhân

    xảy ra khá mạnh mẽ, đặc biệt khi tế

    bào có tổng hợp nhiều đại phân tử.

    Ta hãy xem một con số ví dụ. Vỏ

    nhân tế bào động vật chứa trung bình 3000 – 4000 lỗ nhân (khoảng 11 lỗ trên mỗi micromet vuông). Khi tổng hợp ADN,

    nhân cần lấy từ bào tương khoảng 10

    6

    phân tử histon trong mỗi 3 phút, tính ra thì cứ

    mỗi phút có 100 phân tử histon đi qua 1 lỗ nhân.

     Còn để tổng hợp protein, mỗi phút nhân phải xuất qua mỗi lỗ nhân trung bình là 3

    tiểu đơn vị ribosom (mỗi tiểu đơn vị cũng chứa hàng chục phân tử protein và ARN).

    II. CÁC TRẠNG THÁI NGƯNG TỤ CỦA ADN TRONG NHÂN

     Bộ gen của tế bào Eucaryot chứa nhiều nhiễm sắc thể, mỗi nhiễm sắc thể chứa một

    phân tử ADN. Số lượng phân tử ADN trong mỗi bộ gen (mỗi nhân) bình thường là 2n

    (n là số nguyên khác nhau phụ thuộc vào mỗi loài). Mỗi phân tử này ngưng tụ với

    nhiều phân tử protein khác nhau trong đó protein kiềm (histon) chiếm tỷ lệ đa số. Khi

    tế bào phân chia, trạng thái ngưng tụ giữa ADN với protein sẽ đậm đặc nhất, khiến cho

    nhiễm sắc thể có thể nhìn thấy được dễ dàng dưới kính hiển vi quang học. Ở người, có

    2n = 46 nhiễm sắc thể, tức là mỗi nhân tế bào bình thường chứa 46 phân tử ADN. Mỗi

    phân tử này chứa từ 50Mb đến 250Mb (Megabaz = 1 triệu cặp baz nitơ). Nếu các phân

    tử này duỗi ra hoàn toàn dưới dạng chuỗi xoắn kép Watson-Crick, thì sẽ có chiều dài

    lý thuyết từ 1,7 đến 8,5 cm. Rõ ràng là chuỗi xoắn kép dài như vậy không thể chứa vừa

    trong nhân và rất dễ dàng bị đứt gãy. Trong thực tế thì ngay cả ở nhân gian kỳ, khi

    nhiễm sắc thể ở trạng thái phân tán, phân tử ADN vẫn không bị duỗi ra hoàn toàn, mà

    được đóng gói (ngưng tụ) vào các cấu trúc xoắn khác nhau. Sự ngưng tụ này thực hiện

    được nhờ có sự liên kết của ADN với nhiều loại protein khác nhau, trong đó chủ yếu là các protein kiềm (histon). Chất nhiễm sắc (chromatin)

    tồn tại dưới dạng chất dịch bắt màu kiềm trong nhân

    tế bào gian kỳ chính là hỗn hợp giữa ADN với các

    protein nói trên (gọi chung là protein nhiễm sắc thể).

    Nhiễm sắc thể Eucaryot ở trạng thái phân tán chất vẫn

    duy trì mức độ ngưng tụ nhất định thành các cấu trúc

    hạt và sợi mảnh.

    1. Nucleosom và sợi 10 nm:

     Ở trạng thái ngưng tụ ít nhất, nhiễm sắc thể có thể

    nhìn thấy được dưới kính hiển vi điện tử dưới dạng

    sợi mảnh có kích thước (bề dày) 10 nm.

     Dưới KHVĐT, sợi này trông như một chuỗi

    cườm, gồm các hạt nhỏ đường kính khoảng 10nm nối với nhau bằng sợi ADN. Hạt

    nhỏ nói trên gọi là nucleosom. Nucleosom là đơn vị cấu trúc cơ bản của phức hợp

    ADN-histon.

     Trong mỗi nucleosom, có 8 phân tử histon gồm 4 loại, ký hiệu H

    2A

    , H

    2B

    , H

    3

    và H

    4

    ,

    mỗi loại 2 phân tử. Mỗi phân tử histon chứa từ 107 đến 135 gốc acid amin, tức là

    thuộc loại protein phân tử lượng tương đối nhỏ. Histon có tính kiềm cao, vì có nhiều

    các gốc acid amin như Lysin, Arginin tích điện dương. Tám phân tử histon được xếp thành phức hợp lõi (octamer), có thể phân ly thành hai nửa (tetramer). Phức hợp lõi có

    đoạn ADN dài 146b cuốn khoảng hai vòng bên ngoài, được gọi là nucleosom. Đó là

    một hạt khá dẹt có đường kính 11nm. Sợi ADN nối giữa 2 nucleosom kế tiếp dài

    chừng vài chục bazơ nitơ được gọi là ADN nối (linker ADN). Tổng cộng hai vòng

    ADN cuốn quanh lõi histon và đoạn ADN nối tạo thành một chu kỳ lập lại của các

    nucleosom trên ADN, dài vào khoảng 200b. Như vậy, một gen cỡ trung bình dài

    chừng 10kb sẽ chứa khoảng 50 nucleosom. Bên ngoài mỗi nucleosom có thể có thêm

    một phân tử histon (H

    1

    ) được gắn một cách lỏng lẻo (dễ phân ly). Sự liên kết đồng thời

    các phân tử histon H

    1

    vào các nucleosom làm cho sợi 10nm ngưng tụ chặt hơn.

     Các histon lõi gắn rất chặt với ADN, ngay cả trong quá trình sao chép mã, cấu trúc

    nucleosom của nhiễm sắc thể vẫn không bị phân ly hoàn toàn.

     Người ta cho rằng khi tổng hợp ARN trên khuôn ADN, enzyn ARN-polymeraza

    chạy đến nucleosom nào thì lõi histon của nucleosom đó có thể phân ly tạm thời thành

    2 mảnh để cho enzym “làm việc”. Cơ chế “mở để làm việc tạm thời” đối các

    nucleosom có tính chất rất bảo tồn, không thay đổi trong suốt lịch sử tiến hóa của

    Eucaryot, do đó cấu trúc bậc nhất của các histon hầu như không có thay đổi nhiều giữa

    các loài.

    2. Sợi nhiễm sắc 30nm:  Histon H

    1

    liên kết vào mỗi nucleosom khiến cho sợi 10nm bị ngưng tụ chặt chẽ

    hơn và có thể hình thành một sợi lớn hơn, gọi là sợi nhiễm sắc 30nm. Mô hình cấu tạo

    trình bày trên hình, trong đó ta thấy sợi 10nm tạo thành một chuỗi xoắn (solenoid) có

    bề ngang chừng 30nm.

     Trong nhiễm sắc thể có những đoạn ADN tương đối dài không liên kết với histon

    và không ngưng tụ thành nucleosom. Các đoạn này rất nhạy cảm với ADN-aza. Phần

    lớn chúng nằm trong những vùng điều hòa gen. Tế bào càng có bộ gen hoạt động

    (nhiều gen mở) thì càng chứa nhiều đoạn như vậy. Tại đây, histon bị thay thế bằng các

    protein khác như protein acid, các protein HMG (High Mobility Group – nhóm protein

    có độ linh động cao). Trên sợi 30nm, ta thấy có những đoạn ngắt quãng, đó chính là

    các đoạn ADN liên kết với các protein nói trên. Liên kết giữa ADN với các loại

    protein khác lỏng lẽo hơn nhiều so với liên kết ADN-histon, do đó ADN tại vùng điều

    hòa gen ở trạng thái “mở” hơn

    đối với sự tiếp cận của enzym

    ARN-polymeraz cũng như

    ADN-aza.

    3. Ngưng tụ cấp cao

    hơn:

     Sau khi ngưng kết thành sợi

    30nm, phân tử ADN có thể xếp gọn lại với độ dài còn chừng 0,1cm. Tuy nhiên, chiều dài này vẫn còn lớn gấp khoảng

    100 lần đường kính của nhân. Trong thực tế, trên các nhiễm sắc thể của nhân gian kỳ,

    phần lớn các sợi nhiễm sắc 30 nm còn ngưng tụ tiếp tục thành các sợi nhiễm sắc có

    kích thước chừng 100nm (bề dày). Tuy nhiên, mô hình của cấu trúc này còn chưa rõ.

     Đối với nhân của tế bào đang phân chia, nhiễm sắc có thể được ngưng tụ một cách

    đậm đặc nhất. Sợi 30nm uốn lượn thành các vòng, mỗi vòng chứa chừng 20-100kb.

    Một dãy các vòng đó được nối với nhau bởi một trục protein. Dãy vòng này có bề dày

    chừng 300nm, chúng có thể gấp lại ở những đoạn nhất định và xếp thành cấu trúc cao

    hơn nữa (700nm). Cấu trúc 700nm ngưng tụ vào nhiễm sắc thể của nhân gián phân, ở

    trung kỳ nhiễm sắc thể này có bề rộng cỡ 1400nm và chỉ dài vài micromet (10

    -6

    m). So

    với chiều dài lý thuyết của ADN ở trạng thái duỗi hoàn toàn (1cm = 10

    -2

    m), kích thước

    nói trên được thu gọn cỡ 10000 lần với một trật tự hoàn hảo.

    4. Sự thể hiện gen:

     Sự thể hiện gen chính là một trong hai chức năng chính yếu nhất của nhiễm sắc

    thể. Chức năng thứ hai – tự sao chép và di truyền cho các tế bào con, sẽ đề cập trong

    các bài riêng biệt. Trong bài này, sẽ xem xét chức năng thể hiện gen, hay đúng hơn là

    giai đoạn đầu của nó được thực hiện trong nhân.

     Gen là một đoạn trong phân tử ADN của nhiễm sắc thể, mã hóa cho một

    polypeptid hay một phân tử ARN. Sự thể hiện của một gen là sự tạo ra các phân tử do nó mã hóa cấu trúc. Trong quá trình đó, thông tin di truyền chứa trong ADN được

    truyền sang phân tử ARN hay protein. Quá trình này thực hiện tuân theo Định đề

    trung tâm của sinh học phân tử.

     Dòng thông tin di truyền đi từ ADN đến protein qua hai giai đoạn:

     Phiên mã (sao chép mã, transcription): tổng hợp ARN trên ADN. Thứ tự

    nucleotid của ARN mới được tổng hợp là do thứ tự nucleotid trên ADN qui định.

     Phiên dịch mã (dịch mã, translation): tổng hợp protein trên ARN. Với tế bào

    Eucaryot, giai đoạn này xảy ra ngoài bào tương. Thứ tự của acid amin của

    polypeptid mới tổng hợp là do thứ tự các nucleotid trên mARN quy định.

     Trong tế bào Eucaryot, sự thể hiện gen được kiểm soát trên cả hai cấp phiên mã và

    phiên dịch mã. Sự phiên dịch mã sẽ được đề cập trong một bài riêng biệt. Trong bài

    này, chúng ta hãy xem xét sự thể hiện gen qua phiên mã.

    Dạng cơ bản:

    ADN ARN protein

    Dạng đầy đủ:

    ADN ARN protein  Tế bào Eucaryot có số lượng ADN dư thừa nhiều so với số lượng gen của nó. Chỉ

    có vài phần trăm ADN của nhiễm sắc thể là tạo thành các gen. Có thể tưởng tượng gen

    như những hòn đảo thông tin trong đại dương bao la gồm rất nhiều đoạn ADN “vô

    nghĩa” của nhiễm sắc thể. Nhưng ngay cả đối với các đoạn ADN-gen này, cũng chỉ có

    một phần nhỏ (khoảng 10%) là được phiên mã. Hoạt động phiên mã thường chỉ xảy ra

    trên những đoạn ADN ngưng tụ lỏng lẻo ở vùng đồng nhiễm sắc.

    a. Đồng nhiễm sắc và dị nhiễm sắc

     Dưới kính hiển vi quang học, tùy theo mức độ bắt màu kiềm ít hay nhiều mà chất

    nhiễm sắc được phân biệt thành đồng nhiễm sắc và dị nhiễm sắc. Dị nhiễm sắc

    (heterochromatin) là vùng có cấu trúc ngưng tụ đậm đặc (bắt màu rõ) ngay cả khi tế

    bào không phân chia (gian kỳ). Dị nhiễm sắc bao gồm dị nhiễm sắc vĩnh viễn và dị

    nhiễm sắc tạm thời.

     Dị nhiễm sắc vĩnh viễn (constitutive heterochromatin) là những đoạn nhiễm sắc

    thể ngưng tụ đậm đặc ở mọi loại tế bào trong cơ thể. Phần lớn những đoạn này bao

    gồm ADN có chuỗi nucleotid lặp đi lặp lại một cách đơn giản (ADN đồng hành =

    satellite DNA). Chúng tạo thành tâm nhiễm sắc thể, tức là vị trí mà khi tế bào phân

    chia, nhiễm sắc thể sẽ gắn với siêu ống của thoi nhiễm sắc. Dĩ nhiên, mỗi nhiễm sắc

    thể bình thường chỉ có một tâm.  Dị nhiễm sắc tạm thời (facultative heterochromatin) là những đoạn nhiễm sắc

    thể chỉ ngưng tụ ở một số tế bào trong cơ thể, hoặc là ở những giai đoạn nào đó của

    sự biệt hóa tế bào. Chúng cũng không được phiên mã, mặc dù ADN ở đây không

    phải là những chuỗi lặp lại đơn giản mà có thể chứa các gen thực thụ. Tế bào càng

    biệt hóa thì tỷ lệ dị nhiễm sắc tạm thời càng lớn; hay nói cách khác càng có nhiều

    gen bị khóa lại, không được thể hiện nữa. Nhiễm sắc thể X ở phụ nữ là một trường

    hợp đặc biệt mà tất cả các gen của nó bị khóa trong trạng thái dị nhiễm sắc tạm thời.

     Đồng nhiễm sắc (euchromatin) là phần còn lại của nhiễm sắc thể, nơi có chất

    nhiễm sắc ngưng tụ lỏng lẻo hơn, bắt màu kém hơn. Đồng nhiễm sắc cũng có thể chứa

    một số ADN không hoạt động phiên mã. Nhưng tất cả các đoạn ADN nào trên nhiễm

    sắc thể có phiên mã thì đều phải nằm ở trạng thái đồng nhiễm sắc. Ở tế bào người và

    các động vật có xương sống, các gen có phiên mã thường chiếm chừng 1/10 tổng số bộ

    gen. Ngay cả khi tế bào đang phân chia, nhiễm sắc thể ngưng tụ đậm đặc vẫn còn chứa

    những vùng chất nhiễm sắc hoạt động, vẫn nhạy cảm với tác dụng phân hủy của ADN-

    aza. Điều này chứng tỏ ADN ở đây liên kết lỏng lẻo hơn với histon.

     Tại vùng chất nhiễm sắc hoạt động phiên mã, thành phần protein có các đặc điểm

    khác với ở vùng không hoạt động:

     Histon H

    1

    phân ly khỏi sợi 10 nm.  Các histon khác bị khử bớt điện tích dương, do được gắn thêm các gốc acetyl và

    gốc phosphoryl (acid) vào chuỗi bên của các gốc acid amin kiềm (ví dụ lysin). Do

    vậy, lực hút tĩnh điện giữa các histon (bazơ) với các gốc phosphat (acid) của ADN

    bị giảm đi:

     Histon H

    2A

    bị thay thế bằng một tiểu phần phụ có cấu trúc bậc nhất khác với

    histon H

    2A

    thông thường.

     Sự có mặt của các protein thuộc nhóm rất linh động (HMG protein).

     Phiên mã (DNA transcription) là quá trình tổng hợp ARN trên khuôn AND nhờ

    các ARN-polymeraz khác nhau, trong đó thứ tự chuỗi polydeoxyribonucleotid được

    sao chép thành thứ tự chuỗi polyribonucleotid.

     Khác với tế bào Procaryot chỉ có một loại ARN-polymeraz làm nhiệm vụ tổng hợp

    mọi loại ARN, tế bào Eucaryot có 3 loại ARN-aza khác nhau, phiên mã các nhóm gen

    khác nhau:

     ARN-polymeraz I, tổng hợp các r-ARN lớn

     ARN-polymeraz II, tổng hợp các m-ARN

     ARN- polymeraz III, tổng hợp các phân tử ARN nhỏ như t-ARN và 5S-r-ARN  Các polymeraz này, cũng như ARN-polymeraz của Procaryot, đều là những phức

    hợp lớn (trọng lượng phân tử trên 500 kDalton), gồm nhiều chuỗi polypeptid khác

    nhau. Trong cấu trúc bậc nhất của các polypeptid này có nhiều đoạn tương đồng. Sự

    tổng hợp phân tử ARN trong mọi trường hợp đều bắt đầu từ đầu 5′

     Ba loại polymeraz của Eucaryot có thể phân biệt tùy theo độ nhạy cảm của chúng

    với alcaloid -amanitin. ARN-polymeraz II rất nhạy cảm, ARN-polymeraz I khá nhạy

    cảm, còn ARN-polymeraz III ít nhạy cảm nhất với -amanitin. Để dễ nhớ, có thể

    nhận xét rằng sản phẩm ARN tổng hợp ra càng dài thì enzym của quá trình tổng hợp

    càng nhạy cảm với -amanitin. Trước hết, ta hãy xem xét quá trình tổng hợp loại gen

    dài nhất, tức là gen của m-ARN, do ARN-polymeraz II thực hiện.

    b. Tổng hợp m-ARN:

     Phân tử m-ARN ở tế bào Eycaryot được tổng hợp với những đặc điểm khác với ở

    Procaryot:

     Được tổng hợp dưới dạng phân tử tiền m-ARN (hn-RNA = heterogeneous

    nuclear RNA = ARN dị thuần nhất trong nhân) dài hơn nhiều so với m-ARN

    “chín”.

     Tiền m-ARN trải qua nhiều cải biến hóa học và sẽ được cắt ngắn đi  m-ARN không được phiên dịch mã ngay mà còn phải chuyển ra bào tương

     Sự tổng hợp được tiến hành trên ADN gắn với histon, và do ARN-polymeraz II

    xúc tác.

     Nhiều phân tử ARN-polymeraz II có thể cùng đồng thời hoạt động trên một đơn vị

    phiên mã. Đơn vị phiên mã (transcription unit) là một đoạn của phân tử ADN, bắt màu

    bằng chuỗi nucleotid mang tín hiệu khởi phát, và kết thúc bằng chuỗi nucleotid tín

    hiệu kết thúc quá trình tổng hợp ARN. Mỗi đơn vị phiên mã thường là một gen. ARN-

    polymeraz đậu trên chuỗi nucleotid mang tín hiệu khởi phát với sự tham gia của một

    số protein (yếu tố khởi phát).

     Trong quá trình tổng hợp

    ARN, khi toàn bộ phức hợp

    chuyển dịch gần về phía chuỗi tín

    hiệu kết thúc thì tiền m-ARN

    thông tin càng được kéo dài ra. Do

    vậy, trên ảnh hiển vi điện tử, ta có

    thể thấy một cấu trúc giống như

    cây thông noel, với các cành là các

    phân tử tiền m-ARN đang kéo dài.

     Phân tử tiền m-ARN sau khi tổng hợp, hay đúng hơn là ngay trong khi đang được

    tổng hợp dở dang, đã chịu nhiều biến đổi hóa học. Ở trạng thái “chín”, khi đã chuyển

    ra bào tương, m-ARN khác nhiều so với phân tử tiền thân của nó:

     Ngay trong khi được tổng hợp, tiền m-ARN được bao bọc bởi các protein và

    các phức hợp của protein với các phân tử ARN nhỏ, cỡ dưới 250b. Các protein này

    tạo thành một lớp vỏ bảo vệ tiền m-ARN khỏi bị phân hủy, đồng thời cũng qui định

    luôn quá trình cải biến hóa học tiếp theo của tiền m-ARN.

     Đầu 5′ của tiền m-ARN được tổng hợp trước. Khi vừa được tổng hợp, nó liền

    được gắn thêm gốc methyl-guanin (MetG). Gốc này có tác dụng như một chiếc mũ

    bảo vệ cho tiền m-ARN khỏi bị phân hủy. Sau này, khi m-ARN được chuyển ra bào

    tương, MetG cũng tham gia vào quá trình khởi phát phiên dịch mã.

     Đuôi 3′ của tiền m-ARN được tổng hợp sau cùng, khi ARN-polymeraz II chạy

    đến đoạn tín hiệu kết thúc đơn vị phiên mã. Ở cách đuôi 3′ chừng 10-30b, có chuỗi

    thứ tự AAUAAA. Chuỗi này là tín hiệu để các enzym đặc hiệu tiến đến, cắt bỏ khúc

    đuôi 10-30b nói trên, và liền sau đó nối thêm một đoạn 100-200 gốc adenyl. Đoạn

    polyA này được tổng hợp nhờ enzym polyA-polymeraz hoạt động không có khuôn

    ADN.

     Phân tử tiền m-ARN mới tổng hợp có độ dài xấp xỉ độ dài của đơn vị phiên mã

    (trung bình 8kb, nhưng có thể tới hàng chục hay hàng trăm kb). So với chiều dài của m-ARN cần thiết cho việc mã hóa một protein (trung bình chứa 400 gốc acid amin, tức

    chỉ cần 1,2kb m-ARN để mã hóa), rõ ràng tiền m-ARN còn thừa rất nhiều. Vấn đề đặt

    ra là nó phải được cắt ngắn bớt trước khi chuyển ra bào tương để thực hiện chức năng

    phiên dịch mã. Như trên ta thấy, tiền m-ARN được gắn thêm đầu MetG và thêm đuôi

    polyA có tác dụng bảo vệ, như vậy sự cắt ngắn phải xảy ra từ giữa phân tử mà không

    phải từ hai đầu tận cùng.

     Các đoạn tiền m-ARN bị cắt bỏ được gọi là intron (in = bên trong, nằm lại nhân).

    Những đoạn còn lại (sẽ vận chuyển ra bào tương) gọi là exon (ex = ngoài, ra khỏi

    nhân). Exon là những đoạn mã hóa cho chuỗi polypeptid trong quá trình phiên dịch

    mã. Intron và exon cũng dùng để gọi tên các đoạn ADN trên gen tương ứng với các

    đoạn tiền m-ARN toàn vẹn khi intron bị cắt bỏ, các đầu mút của các exon phải được

    nối lại với nhau. Quá trình này được thực hiện nhờ sự uốn vòng của các intron.

     Vòng intron tương tác và gắn với một phức hợp ribonucleoprotein lớn, gọi là thể

    cắt nối (spliceosome). Sự cắt đoạn intron xảy ra gần như đồng thời với sự nối gắn đầu

    nút 3′ (donor) của exon này với đầu mút 5′ (aceptor) của exon kế tiếp.

     Rõ ràng, để đảm bảo thông tin di truyền không bị lệch lạc trong quá trình cắt nối

    nói trên, phải có sự nhận biết chính xác các đầu mút của các exon kế tiếp nhau. Sự

    nhận biết này được thực hiện nhờ thể cắt nối. Người ta cho rằng thể cắt nối có thể chứa

    các đoạn ARN tạo liên kết bổ xung với những đoạn chuỗi nucleotid đặc hiệu trên cấu

    trúc bậc nhất của tiền m-ARN (các đoạn đầu mút của các exon kế tiếp).  Intron bị cắt ra sẽ cùng với thể cắt nối phân ly khỏi tiền m-ARN, sau đó bị phân rã

    trong dịch nhân.

     Nhờ có cơ chế cắt bỏ intron và nối exon với nhau thành chuỗi m-ARN chính thức,

    cùng một đơn vị phiên mã (một gen) có thể được sử lý khác nhau để tạo thành các m-

    ARN có thành phần exon khác nhau. Như vậy, một gen có thể điều khiển tổng hợp ra

    các protein khác nhau. Lý thuyết một gen – một protein do Jacob và Monod đưa ra có

    thể đúng với Procaryot, nhưng lại không đúng với Eucaryot! Nhờ đó, tế bào Eucaryot

    đạt được sự linh hoạt (mềm dẻo) tối đa về phương diện thể hiện thông tin di truyền.

    c. Tổng hợp r-ARN và t-ARN:

     Nếu như sự thể hiện gen của protein được tiếp diễn qua hai giai đoạn (phiên mã –

    phiên dịch mã), trong đó qua phiên mã, một phiên bản gen tổng hợp ra nhiều phiên bản

    m-ARN và qua phiên dịch mã một phiên bản m-ARN lại tiếp tục tạo ra nhiều phiên

    bản protein nữa, thì đối với gen r-ARN và t-ARN, sự thể hiện chỉ qua một giai đoạn.

    Do đó mỗi gen trong trường hợp này chỉ điều khiển tổng hợp một số lượng tương đối

    ít sản phẩm. Để gia tăng số lượng sản phẩm của sự thể hiện gen, các gen này tồn tại

    trong nhiễm sắc thể dưới dạng nhiều phiên bản trùng lặp, giống hệt nhau. Hiện tượng

    này xảy ra cả ở tế bào Procaryot. Ví dụ, nhiễm sắc thể của E. coli chứa 7 phiên bản

    gen r-ARN. Nhưng với Eucaryot, sự dồi dào về số lượng ADN trong mỗi tế bào cho

    phép tăng số phiên bản lên hàng trăm. Các phiên bản này được gọi là các gen lặp

    (tandem gene), chúng nằm thành chuỗi kế tiếp nhau trên nhiễm sắc thể như thể các vận động viên, mỗi người tác động lên một cơ chế truyền động riêng (bàn đạp, đùi đĩa,

    xích) nhưng đều cùng hợp lực đẩy một cỗ xe tandem. Các gen lặp cách nhau bởi đoạn

    ADN ngắt câu (không phiên mã). Chuỗi các gen lặp của r-ARN có thể nằm trên nhiều

    nhiễm sắc thể khác nhau, trong các miền gọi là miền tổ chức hạt nhân của nhiễm sắc

    thể. Các gen này tiến hóa song hành với nhau, theo một cơ chế bảo tồn sao cho các

    phiên bản luôn luôn giống hệt nhau.

     Gen của 5S-r-ARN và các gen t-ARN tương đối ngắn và được phiên âm mã bởi

    ARN-polymeraz III. Còn 3 r-ARN còn lại thì có chung một đơn vị phiên mã, do ARN-

    polymeraz I điều khiển quá trình tổng hợp. ARN-polymeraz I điều khiển tổng hợp ra

    tiền r-ARN 45S (13kb). Phân tử 45S này liên kết với các phức hợp protein trong hạch

    nhân, sau đó được cắt lượt một số đoạn. Các đoạn còn lại (18S, 5, 8S, 28S) kết hợp với

    r-protein và 5S ARN để lắp ráp nên các tiểu đơn vị ribisom. Quá trình này, cũng như

    quá trình lắp ráp tiểu đơn vị ribosom, diễn ra trong hạch nhân.

    III. HẠCH NHÂN:

     Hạch nhân hay nhân con (nucleolus) ở tế bào gian kỳ là một khối cầu nằm trong

    nhân không có màng bao bọc, bắt màu đậm đặc hơn dịch nhân xung quanh. Tế bào ở

    trạng thái ít hoạt động thì hạch nhân rất nhỏ. Tế bào tổng hợp nhiều protein thì hạch

    nhân lớn hơn, có khi chiếm đến 1/4 thể tích nhân. Thành phần của nó gồm 3 vùng

    phân biệt được dưới kính hiển vi điện tử:  Tâm sợi, bắt màu nhạt, chứa ADN

     Thành phần sợi, bắt màu đậm, chứa các phân tử r-ARN đang tổng hợp dở

     Thành phần hạt, bắt màu nhạt hơn, chứa các hạt tiền ribosom đang được lắp ráp

    từ rARN và r-protein.

     Khi tế bào phân chia, hạch nhân tan biến ở trung kỳ và xuất hiện trở lại ở mạt kỳ

    dưới dạng nhiều hạch nhân nhỏ. Ở người, có thể thấy 10 hạch nhân nhỏ. Các hạch

    nhân nhỏ này sau đó kết hợp với nhau, cuối cùng chỉ còn lại một hạch nhân lớn.

     Hạch nhân hình thành từ các miền tổ chức hạch nhân của các nhiễn sắc thể. Ở

    người, có 10 nhiễm sắc thể chứa miền tổ chức hạch nhân. Mỗi miền tổ chức hạch nhân

    chính là một đoạn nhiễm sắc thể chứa chuỗi các gen lặp của r-ARN 45S. Mười nhiễm

    sắc thể này phân tán khắp dịch nhân gian kỳ, nhưng các đoạn chứa chuỗi các gen lặp

    đó thì luôn có xu hướng gắn với nhau vào chung một khối, tức là hạch nhân.

     Như vậy, hạch nhân là nơi tập trung các đoạn ADN (có thể của nhiều sắc thể khác

    nhau) chứa các gen lặp đang thực hiện việc tổng hợp r-ARN, với rất nhiều phân tử r-

    ARN còn đang tổng hợp dở hoặc vừa tổng hợp xong đã lập tức được gắn với các

    protein của ribosom (r-protein), tạo thành các tiểu đơn vị ribosom trước khi các hạt

    này được vận chuyển ra bào tương. CÂU HỎI TỰ LƯỢNG GIÁ:

    1. Hạch nhân có các tính chất sau đây, TRỪ MỘT:

    A. Tập trung các gen lắp ráp của r-ARN

    B. Chứa các hạt tiền ribosom

    C. Chứa các r-ARN đang tổng hợp

    D. Chứa DNA

    E. Chứa các m-ARN

    2. Các chất sau đây được vận chuyển qua lỗ nhân theo chiều từ trong ra ngoài:

    A. Men DNA-polymeraz

    B. Men ARN-polymeraz

    C. Tiểu đơn vị ribosom

    D. Ribosom E. Không câu nào kể trên

    3. Dị nhiễm sắc (heterochromatine) có các đặc điểm sau, TRỪ MỘT:

    A. Là vùng có cấu trúc ngưng tụ đậm đặc.

    B. Có thể ngưng tụ đậm đặc ở mọi loại tế bào trong cơ thể

    C. Có thể tạo thành tâm nhiễm sắc thể

    D. Nơi có chất nhiễm sắc ngưng tụ lỏng lẻo, bắt màu kém

    E. Chứa nhiều gen bị khoá lại

    4. Lỗ nhân có các tính chất sau, TRỪ MỘT:

    A. Kiểm soát sự trao đổi chất giữa nhân và bào tương

    B. Các phân tử nhỏ có thể qua lại lỗ nhân khá dễ dàng

    C. Có tác dụng sàng lọc các hạt đi qua tùy theo kích thước của hạt

    D. Các tiểu đơn vị ribosom được xuất khẩu qua lỗ nhân dễ dàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Loại Chi Tiết Về Các Loại Gỗ Trong Xưởng Mộc
  • Gỗ Công Nghiệp Lõi Xanh Có Tốt Và An Toàn Hay Không
  • Phân Biệt Dác Gỗ, Lõi Gỗ, Vân Gỗ Trong Gỗ Tự Nhiên
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Sinh 8 Bài 46: Trụ Não, Tiểu Não, Não Trung Gian
  • Chức Năng Chủ Yếu Của Đường Glucôzơ Là :
  • Chức Năng Của Hệ Bạch Huyết Suy Yếu Phải Làm Sao?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Hạch Bạch Huyết
  • Rối Loạn Chức Năng Bạch Huyết (Phù Bạch Huyết)
  • Tổng Quan Về Hệ Bạch Huyết
  • Nêu Chức Năng Của Huyết Tương, Bạch Cầu, Hồng Cầu, Tiểu Cầu?
  • Đặc Điểm Cấu Tạo, Chức Năng Của Tiểu Cầu Và Bạch Cầu Là Gì?
  • Tìm hiểu khái quát về hạch bạch huyết

    Hệ bạch huyết bao gồm hạch họng (amidan), tủy xương, tuyến ức, lá lách, hạch bạch huyết, các mạch bạch huyết. Những mạch này là các ống nhỏ được tạo thành mạng lưới dày các mao mạch bạch huyết ở dưới da.

    Hệ bạch huyết là một hệ thống tuần hoàn độc lập với hệ thống tuần hoàn máu cũng như với hệ thống miễn dịch. Tuy nhiên, hệ bạch huyết lại có mối liên hệ mật thiết với hệ miễn dịch.

    Hệ bạch huyết này cung cấp nhiều chức năng miễn dịch nhằm ngăn ngừa virus, nhiễm trùng, vết thương tích,… thậm chí là cả ung thư.

    Chức năng của hệ bạch huyết đó chính là cân bằng dịch thể, hấp thu chất béo và một số chất khác từ đường tiêu hóa, bảo vệ cơ thể.

    Ngoài ra, hệ bạch huyết cũng có vai trò quan trọng đối với làn da của bạn. Một khi hệ bạch huyết khỏe mạnh bạn sẽ có được làn da khỏe mạnh, tươi tắn. Ngược lại, khi chức năng của hệ bạch huyết bị tổn thương sẽ khiến da bị xỉn màu, lão hóa nhanh…

    Chức năng của hệ bạch huyết suy yếu phải làm sao?

    Để có một sức khỏe tốt cũng như một làn da đẹp bạn cần quan tâm và cải thiện hệ bạch huyết nếu chúng gặp trục trặc. Trong trường hợp chức năng của hệ bạch huyết suy yếu bạn nên lưu ý những vấn đề sau:

    Để hệ miễn dịch và hệ bạch huyết hoạt động tốt và khỏe mạnh bạn nên tránh những thực phẩm khó tiêu hóa và không tốt như: Các loại cà, đậu nành, sữa, động vật giáp xác…, thịt không đảm bảo vệ sinh, thực phẩm chế biến sẵn, các loại dầu thực vật tinh chế.

    Thay vào đó bạn nên tiêu thụ các thực phẩm giàu chất chống oxy hóa và có khả năng chữa viêm như: Các loại rau cải, thực phẩm giàu omega-3, các loại quả mọng, các loại hạt, dầu không tinh chế, thảo mộc và gia vị như nghệ, tỏi, gừng…

      Giảm tình trạng viêm và cải thiện lưu thông

    Để tăng quá trình thải độc tự nhiên của cơ thể cũng như giảm oxy hóa bạn nên áp dụng một chế độ ăn uống lành mạnh, không hút thuốc lá, ngủ đủ giấc…

    Theo các chuyên gia, hệ bạch huyết và hệ tuần hoàn có mối quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời. Một hệ bạch huyết khỏe mạnh sẽ giúp bạn nuôi dưỡng tốt cơ bắp, khớp và các tế bào khác.

    Do vậy, để giữ cho chức năng hệ bạch huyết và hệ tuần hoàn hoạt động tối ưu bạn cần nạp đủ chất dinh dưỡng thiết yếu như điện giải, khoáng chất, vitamin, chất chống oxy hóa.

    Chức năng của hệ bạch huyết hoạt động tốt nhất khi cơ thể của bạn vận động. Chính điều này giúp lưu thông các dịch lỏng và chất dinh dưỡng đi đến các tế bào.

    Nếu bạn ít vận động thì quá trình lưu thông sẽ bị trì trệ, khiến cho cơ bắp đau nhức, cứng cơ khớp và dễ gây bệnh.

    Các chuyên gia khuyên bạn nên tập thể dục thường xuyên với các môn thể thao như yoga, chạy bộ, đi bộ, khí công dưỡng sinh… sẽ giúp hệ bạch huyết của bạn khỏe mạnh. Ngoài ra, bạn có thể áp dụng phương pháp detox tắm bồn để giúp đào thải các chất độc ra khỏi cơ thể.

    Một trong những cách massage giúp hệ bạch huyết khỏe mạnh đó là massage lưu dẫn hệ bạch huyết. Đây là một liệu pháp giúp tế bào đào thải độc tố, đồng thời lưu thông bạch huyết rất tốt.

    Một trong những cách giúp cải thiện chức năng của hệ bạch huyết đó là xông hơi hồng ngoại. Phương pháp này sử dụng nhiệt từ tia ánh sáng và làm nóng trực tiếp cơ thể, từ đó điều tiết mồ hôi ngăn ngừa bệnh tim mạch, thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất…

    Để cải thiện chức năng hệ bạch huyết bạn cũng có thể sử dụng những thực phẩm chức năng như tinh bột nghệ, omega-3. Bên cạnh đó, các loại tinh dầu chanh, cây bạch, trầm hương… cũng mang đến nhiều lợi ích trong vấn đề cải thiện lưu thông máu và giảm sưng ở các hạch bạch huyết.

    Đó là những cách giúp cải thiện chức năng của hệ bạch huyết khi bị suy yếu. Hãy lưu ý và áp dụng ngay để có một hệ bạch huyết khỏe mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hạch Bạch Huyết Là Gì? Vai Trò, Cấu Tạo
  • Thế Nào Là Hệ Bạch Huyết? Chức Năng Và Cơ Chế Của Hệ Bạch Huyết
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Vòng Bạch Huyết Waldayer
  • Hệ Bạch Huyết Có Vai Trò Gì? Cấu Tạo Hệ Bạch Huyết Như Thế Nào?
  • Hệ Bạch Huyết Là Gì? Chức Năng Và Cơ Chế Hoạt Động
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100