Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước ?

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề 1:tổ Chức Hành Chính Bộ Máy Nhà Nước
  • Tìm Hiểu Nội Dung Của Chế Độ Chi Ngân Sách Về Xây Dựng Cơ Bản, Đánh Giá Thực Tiễn áp Dụng Và Đề Xuất Các Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Ngân Sách Cho Lĩnh Vực Xây Dựng Cơ Bản Ở Việt Nam
  • Quản Lý Hành Chánh Nhà Nước
  • Em Hãy Cho Biết Bản Chất Của Nhà Nước Ta Là Gì? Bộ Máy Nhà Nước Gồm Những Cơ Quan Nào? Nêu Cụ Thể Từng Cơ Quan?
  • Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Thể Hiện Khái Niệm Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Việt Nam(Có Thể Sử Dụng Màu Để Tô) Câu Hỏi 234497
  • Bộ máy hành chính nhà nước là tổng thể các cơ quan chấp hành – điều hành do Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân các cấp lập ra để quản lí toàn diện hoặc quản lí ngành, lĩnh vực trong cả nước hoặc trên phạm vi lãnh thổ nhất định.

    Bộ máy hành chính nhà nước thường là bộ phận phát triển và phức tạp nhất của bộ máy nhà nước của một quốc gia. Bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo đơn vị hành chính từ trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ.

    Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước được đặt dưới sự giám sát trực tiếp và thường xuyên của các cơ quan quyền lực nhà nước, đại biểu đại diện của nhân dân cả nước hoặc từng địa phương và sự giám sát của nhân dân.

    Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được Hiến pháp và các luật tổ chức nhà nước quy định. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước gồm chính phủ, các bộ và Uỷ ban nhân dân các cấp, ban, ngành trực thuộc. Những cơ quan này giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, phạm vi thẩm quyền không bị giới hạn trong ngành hay lĩnh vực. Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp là những cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thống nhất quản lí các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước. Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lí hành chính toàn diện trên địa bàn lãnh thổ tương ứng.

    Các bộ, ban, ngành thực hiện chức năng quản lí nhà nước về ngành hay lĩnh vực công tác trên phạm vi lãnh thổ nhất định với cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền độc lập. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các cơ quan loại này do Chính phủ quy định nên sự thay đổi, điều chỉnh diễn ra khá thường xuyên nhằm đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn quản lí nhà nước nói chung và quản lí hành chính nhà nước nói riêng trong từng thời kì.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổ Chức Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Tinh Gọn, Hiệu Lực, Hiệu Quả
  • Bản Chất Của Nhà Nước Chủ Nô Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Bản Chất Của Nhà Nước
  • Các Học Thuyết Tiêu Biểu Về Nguồn Gốc Của Nhà Nước
  • Phân Tích Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng Của Nhà Nước.
  • Khái Niệm Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • 120 Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật ( Phần 1)
  • Phân Biệt Cơ Quan Nhà Nước Với Cơ Quan Của Tổ Chức Khác
  • So Sánh Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Với Cơ Quan Quyền Lực Nhà Nước
  • So Sánh Các Quy Định Về Văn Hóa, Giáo Dục, Khoa Học Trong Hiến Pháp Trung Quốc Và Hiến Pháp Một Số Nước Đông Nam Á – Những Kinh Nghiệm Có Thể Tiếp Thu
  • Viên Dầu Cá Hồi Omega
  • Trong nền hành chính nhà nước, với tính cách là một thể

    thống nhất về mặt cơ cấu tổ chức, các cơ quan hành chính nhà nước, là các bộ

    phận hợp thành giữ vị trí vô cùng quan trọng. Trên phương diện lý luận về nhà

    nước, bộ máy hành chính nhà nước được hiểu là hệ thống các cơ quan nhà nước

    thực hiện chức năng của nền hành chính nhà nước-chức năng chấp hành và điều

    hành, các cơ quan đó được gọi là cơ quan hành chính nhà nước.

     

    Do

    sự khác biệt về chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và xã hội nên bộ máy

    hành chính nhà nước ở các quốc gia khác nhau được tổ chức không giống nhau. Vì

    vây, nhiều tác giả cũng có cách tiếp cận khác nhau về bộ máy hành chính nhà

    nước cụ thể là:

    Theo

    Từ điển Luật học: “Bộ máy hành chính nhà nước là tổng thể hệ thống các cơ quan

    chấp hành và điều hành lập ra để quản lý toàn diện hoặc quản lý ngành, lĩnh vực

    trong cả nước hoặc trên phạm vi lãnh thổ nhất định. Bộ máy hành chính thường là

    bộ phận phát triển và phức tạp nhất của bộ máy nhà nước của một quốc gia. Bộ

    máy hành chính Nhà nước được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo đơn vị hành

    chính từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ.

    Như

    vậy, các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập trên cơ sở luật định để

    thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn trong từng lĩnh vực nhất định. Là một bộ

    phận quan trọng trong bộ máy nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước còn có những

    dấu hiệu đặc thù, nhờ đó chúng ta có thể phân biệt với các cơ quan khác của nhà

    nước.

    Thứ

    nhất, cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quản lý hành chính

    nhà nước – hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động mang tính dưới luật;

    Thứ

    hai, cơ quan hành chính nhà nước có phạm vi thẩm quyền nhất định giới hạn trong

    lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước do pháp luật quy định;

    Thứ

    ba, các cơ quan hành chính nhà nước có mối liên hệ trong hệ thống trực thuộc,

    cấp trên cấp dưới tạo thành một hệ thống thống nhất từ trung ương đến cơ sở.

    Ngoài

    ra, từ cách tiếp cận trên có thể thấy rằng; đứng đầu cơ quan hành chính nhà

    nước là Chính phủ. Chính vì vậy, để hoàn thành tốt những nhiệm vụ trên, chính

    phủ phải được tổ chức thành một bộ máy thống nhất với các bộ phận cấu thành hợp

    lý để đảm đương các chức năng nhiệm vụ và quyền hạn trong từng lĩnh vực cụ thể.

    Bộ máy đó bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ… Đồng thời

    các cơ quan hành chính nhà nước trung ương, hoạt động quản lý việc thực hiện

    các nhiệm vụ chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh còn phải được

    tiến hành trong phạm vi từng địa phương. Để đảm trách nhiệm vụ này, một hệ

    thống các cơ quan quản lý hành chính địa phương được thiết lập trên từng đơn vị

    hành chính lãnh thổ của quốc gia.

    Theo,

    Từ điển Giải thích thuật ngữ hành chính thì bộ máy hành chính nhà nước là “hệ

    thống các cơ quan hành chính nhà nước hợp thành chỉnh thể thống nhất (Chính

    phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ…và ủy ban nhân dân các cấp, các sở, phòng…của

    Ủy ban nhân dân), có chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định rõ ràng, được

    tổ chức theo một trật tự thứ bậc và hoạt động trong mối quan hệ truyền đạt,

    điều phối, kiểm tra…để thực hiện quyền hành pháp và quản lý, điều hành mọi mặt

    đời sống xã hội của một quốc gia”.

    Như

    vậy, có thể thấy bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống tổ chức lớn nhất

    bao gồm nhiều vấn đề quan trọng mà bất cứ tổ chức nào khác đều không có. Hay

    nói cách khác, tổ chức bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống đặc biệt, vừa

    chứa dựng bên trong có những nguyên tắc chung vềkhoa học tổ chức, vừa có đặc

    điểm của bộ máy cai trị mang tính quyền lực công, vừa chứa đựng các yếu tố

    thuộc về khoa học tổ chức quản lý, nhưng nó cũng có những đặc trưng riêng biệt

    mà các tổ chức thông thường không có, đó là hoạt động mang tính công quyền

    (thực hiện quyền hành pháp). Ví dụ (Luật tổ chức Chính Phủ Việt Nam năm 2001,

    sửa đổi năm 2022).

    Hoạt

    động của bộ máy hành chính nhà nước được đặt dưới sự giám sát trực tiếp và

    thường xuyên của các cơ quan quyền lực nhà nước. Bộ máy hành chính nhà nước

    được thành lập trên cơ sở pháp luật, chịu sự chỉ đạo điều hành của cơ quan hành

    chính cao nhất, trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành để nhằm thực

    hiện chức năng quản lý, đưa đường lối, chính sách, chủ trương của giai cấp cầm

    quyền vào cuộc sống.

    Bộ

    máy hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của hệ thống tổ chức bộ máy

    nhà nước, thực thi một trong ba ngành của quyền lực nhà nước. Bộ máy hành chính

    nhà nước được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là

    chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện quyền hành pháp. Để thực thi quyền hành

    pháp hiệu lực và hiệu quả cao nhất, bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức và

    hoạt động theo nguyên tắc thứ bậc, cấp trên lãnh đạo, chỉ đạo, cấp dưới phục

    tùng, tuân lệnh và chịa sự kiểm soát của cấp trên trong hoạt động. Bộ máy hành

    chính nhà nước mặc dù là một bộ máy thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến

    địa phương, song nó thường được chia thành hai bộ phận: một là, bộ máy hành

    chính nhà nước ở Trung ương tức là bộ máy của Chính phủ và các cơ quan thuộc

    chính phủ có vai trò quản lý nền hành chính toàn quốc; hai là, bộ máy hành

    chính nhà nước ở địa phương-bao gồm toàn bộ các cơ quan hành chính nhà nước tại

    địa phương nhằm thực thi nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước tại địa phương.

    Bộ máy hành chính nhà nước Trung ương và địa phương có thể được hiểu như sau:

    Bộ

    máy hành chính Trung ương: Là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước trung

    ương hợp thành chỉnh thể thống nhất (chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ

    quan thuộc chính phủ…) có chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định, thực

    hiện quyền hành pháp ở trung ương.

    Trong

    cơ cấu nhà nước, Chính phủ có một vai trò hết sức quan trọng. Ở các nước trên

    thế giới, Chính phủ có thể có các tên gọi khác nhau, như Chính phủ, Nội các,

    Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng nhà nước…, nhưng khái quát nhất, Chính phủ là cơ

    quan được lập ra để tổ chức thực hiện trên thực tế quyền lực nhà nước, tiến hành

    hoạt động quản lý, điều hành và đứng đầu hệ thống các cơ quan hành chính nhà

    nước.

    Trong

    cơ cấu tổ chức của chính phủ bao gồm: Các bộ, cơ quan ngang bộ. Trong công

    trình nghiên cứu này gọi chung là cấp bộ. Bộ được hiểu và sử dụng theo nhiều

    cách khác nhau. Tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ thuật ngữ hành chính. Bộ là cơ

    quan hành chính cấp trung ương, có chức năng điều hành, chỉ đạo và quản lý công

    việc của chính phủ trong phạm vi toàn xã hội, cả nước, có quyền thay mặt chính

    phủ trong lĩnh vực, ngành được giao. Bộ là

    cơ quan hành chính cấp trung ương mà người đứng đầu thông thường là nhân vật chính

    trị hoặc chính trị gia.

    “Bộ và cơ quan ngang bộ là bộ máy chính phủ,

    có chức năng tham mưu cho chính phủ và quản lý vĩ mô đối với ngành, lĩnh vực trên

    phạm vi cả nước”.

    Theo

    thuật ngữ hành chính: “Bộ là cơ quan của chính phủ được thành lập theo quy định

    của pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành (đa ngành),

    lĩnh vực nhất định trên phạm vi cả nước”[20, tr 12]. Bộ là cơ quan hành chính ở

    cấp trung ương, chịu trách nhiệm điều hành và vạch ra chiến lược phát triển ở

    một hay một số lĩnh vực nhất định. Là cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước về

    mặt hành pháp và là cơ quan thẩm quyền riêng.

    Trong

    chính phủ, ngoài các bộ quản lý ngành, lĩnh vực là những đơn vị chủ yếu tiến

    hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước, còn có các cơ quan thuộc chính phủ

    được thành lập để thực thi một số hoạt động cụ thể của nhà nước hoặc được trao

    một số chức năng quản lý nhà nước, nhưng không có  quyền ban hành các văn

    bản quy phạm pháp luật. Những cơ quan này được  thành lập nhằm thực thi

    những điều quy định của Hiến pháp và pháp luật trên lĩnh vực cụ thể mà các bộ

    không có hoặc thực hiện hạn chế. Ở các nước, loại cơ quan này thường được gọi

    là các cơ quan độc lập, do người đứng đầu hành pháp lập. Một số cơ quan là

    những nhóm quản lý có quyền giám sát nhưng khu vực đặc biệt của nền kinh tế.

    Một số cơ quan khác cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho chính phủ hoặc

    cho xã hội.

    quan thuộc chính phủ làm việc theo chế độ thủ trưởng. Thủ trưởng cơ quan thuộc

    chính phủ chịu trách nhiệm trước chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các công

    việc được giao. Việc thành lập cơ quan thuộc chính phủ linh hoạt hơn việc thành

    lập các bộ. Số lượng các cơ quan thuộc chính phủ tùy thuộc vào việc thiết kế tổ

    chức bộ máy chính phủ trong từng nhiệm kỳ. 

    Bộ

    máy hành chính địa phương: Bộ máy hành chính địa phương có thể được hiểu trên

    hai phương diện: phương diện thứ nhất là “tập hợp tất cả các tổ chức hành chính

    địa phương, hay nói cách khác, đó là hệ thống của các tổ chức hành chính địa

    phương (cơ quan hành chính địa phương); phương diện thứ hai là một thực thể

    hoạt động quản lý các vấn đề trên một địa phương nhất định. Có thể là những

    thực thể quản lý chung các vấn đề (Ủy ban nhân dân); cũng có thể là quản lý một

    vấn đề cụ thể”.

     

    BẢN ĐỒ HUYỆN NHO QUAN

     

    select

    Đăng nhập

    • Tên đăng nhập

    • Mật khẩu

    • Mã kiểm tra

    • Quên mật khẩu

      Đăng ký

    Thống kê truy cập

    • Đang online:

      3

    • Hôm nay:

      73

    • Trong tuần:

      13 616

    • Tất cả:

      1 812 369

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Đặc Điểm Cơ Bản Nhà Nước Và Bộ Máy Nước Chxhcn Việt Nam
  • Bản Chất, Đặc Điểm, Xu Hướng Vận Động Của Chủ Nghĩa Tư Bản Hiện Đại
  • Quản Lý Nhà Nước Về Quốc Phòng
  • Chuyên Đề 1:tổ Chức Hành Chính Bộ Máy Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Nội Dung Của Chế Độ Chi Ngân Sách Về Xây Dựng Cơ Bản, Đánh Giá Thực Tiễn áp Dụng Và Đề Xuất Các Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Ngân Sách Cho Lĩnh Vực Xây Dựng Cơ Bản Ở Việt Nam
  • Quản Lý Hành Chánh Nhà Nước
  • Em Hãy Cho Biết Bản Chất Của Nhà Nước Ta Là Gì? Bộ Máy Nhà Nước Gồm Những Cơ Quan Nào? Nêu Cụ Thể Từng Cơ Quan?
  • Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Thể Hiện Khái Niệm Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Việt Nam(Có Thể Sử Dụng Màu Để Tô) Câu Hỏi 234497
  • Các Kiểu Nhà Nước Trong Lịch Sử
  • 1. Mục tiêu:

    – Kiến thức: Nắm được những kiến thức cơ bản về Bộ máy nhà nước, nguyên tắc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và chức năng của bộ máy hành chính nhà nước

    – Kỹ năng: Biết vận dụng những kiến thức về bộ máy hành chính nhà nước vào tìm hiểu rõ cơ cấu, nguyên tắc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam

    – Thái độ: Tin tưởng vào sự điều hành đất nước của bộ máy hành chính nhà nước, chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của Nhà nước và các cấp chính quyền.

    2. Mô tả nội dung:

    Chuyên đề cung cấp những kiến thức cơ bản về bộ máy nhà nước như khái niệm, nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, đặc điểm của cơ quan nhà nước. Đồng thời nghiên cứu kiến thức chung về bộ máy hành chính nhà nước (khái niệm, đặc trưng, cơ cấu tổ chức, các bộ phận cấu thành…) từ đó vận dụng vào việc tìm hiểu bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    3. Nội dung

    I. Bộ máy nhà nước

    1. Khái niệm bộ máy Nhà nước

    Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ Trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của nhà nước.

    Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, truyền thống dân tộc, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội mỗi nước sẽ có cách thức tổ chức bộ máy nhà nước riêng cho quốc gia mình.

    Ví dụ: Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở trung ương gồr m có Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao; ở địa phương có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp

    2. Các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước

    Bộ máy nhà nước được tổ chức theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo cho sự vận hành của bộ máy nhà nước được thống nhất, đồng bộ và hiệu quả. Các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước chính là cơ sở kiến tạo nên bộ máy nhà nước, tạo ra sự khác biệt giữ bộ máy nhà nước này với bộ máy nhà nước khác. Đây thực chất là những nguyên tắc chi phối mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước: Lập pháp, hành pháp và tư pháp dựa trên việc phân bổ quyền lực nhà nước theo các hướng khác nhau:

    – Một là, quyền lực nhà nước được phân chia thành ba nhóm quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp), giao cho ba cơ quan nhà nước khác nhau độc lập nắm giữ (còn được gọi là nguyên tắc tam quyền phân lập)

    Mô hình tổ chức bộ máy thực thi quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập mô tả ở sơ đồ 1.

    Ở đây, các bộ phận cấu thành bộ máy thực thi ba loại quyền lực nhà nước: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp tách rời nhau, không phụ thuộc vào nhau và hoạt động một cách độc lập.

    Phần lớn Bộ máy nhà nước tư sản được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền. Theo đó, Nghị viện nắm quyền lập pháp, Chính phủ nắm quyền hành pháp và Tòa án nắm quyền tư pháp. Các cơ quan này vừa thực hiện quyền năng của mình vừa kiểm soát các nhánh quyền lực khác.

    Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước dựa trên tam quyền phân lập, nhưng giữa các bộ phận cấu thành thực thi các loại quyền lực đó có những phần liên hệ với nhau một cách mềm dẻo.

    Sơ đồ 2: Tam quyền phản lập mềm dẻo

    Giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành từ bộ máy thực thi quyền lực nhà nước có sự phối kết hợp với nhau.

    – Hai là quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia (còn gọi là nguyên tắc tập quyền).

    Theo nguyên tắc này quyền lực nhà nước tập trung vào cơ quan đại diện cao nhất. Ví dụ: Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền tổ chức ra các cơ quan nhà nước khác ở trung ương và có quyền giám sát tối cao.

    Mỗi cơ quan nhà nước đều có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng nhưng khi các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng riêng của mình là nhằm góp phần thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

    Ví dụ: cơ quan điều tra thực hiện chức năng điều tra, cơ quan Viện kiểm sát thực hiện chức năng công tố, Tòa án thực hiện chức năng xét xử. Điều này

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước ?
  • Tổ Chức Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Tinh Gọn, Hiệu Lực, Hiệu Quả
  • Bản Chất Của Nhà Nước Chủ Nô Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Bản Chất Của Nhà Nước
  • Các Học Thuyết Tiêu Biểu Về Nguồn Gốc Của Nhà Nước
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Bảng Mô Tả Công Việc Giám Sát Nhà Hàng Khách Sạn
  • Bản Mô Tả Công Việc Giám Sát F&b Trong Khách Sạn
  • Đề Tài Mẫu: Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Hàng Trong Hoạt Động Du Lịch
  • Bai 1 Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Nhiệm Vụ Của Chi Uỷ, Bí Thư Chi Bộ Bai 1 Ppt
  • ỦNG HỘ WEBSITE BẰNG CÁCH BẤM “ĐĂNG KÝ” OR “SUBSCIREBE” KÊNH YOUTUBE ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ KINH PHÍ DUY TRÌ WEBSITE VÀ ĐĂNG TẢI NHIỀU TÀI LIỆU MỚI CHO BẠN.

    CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Chức năng.

    – Thực hiện công tác tuyển dụng nhận sự đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, chiến lược của công ty.

    – Tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác thực hiện quản lý nhân sự, đào tạo và tái đào tạo.

    – Tổ chức việc quản lý nhân sự toàn công ty.

    – Xây dựng quy chế lương thưởng, các biện pháp khuyến khích – kích thích người lao động làm việc, thực hiện các chế độ cho người lao động.

    – Chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, qui định, chỉ thị của Ban Giám đốc.

    – Nghiên cứu, soạn thảo và trình duyệt các qui định áp dụng trong Công ty, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty – các bộ phận và tổ chức thực hiện.

    – Phục vụ các công tác hành chánh để BGĐ thuận tiện trong chỉ đạo – điều hành, phục vụ hành chánh để các bộ phận khác có điều kiện hoạt động tốt.

    – Quản lý việc sử dụng và bảo vệ các loại tài sản của Công ty, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.

    – Tham mưu đề xuất cho BGĐ để xử lý các vấn đề thuộc lãnh vực Tổ chức-Hành chánh – Nhân sự.

    2. Chức năng.

    – Thực hiện công tác tuyển dụng nhận sự đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, chiến lược của công ty.

    – Tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác thực hiện quản lý nhân sự, đào tạo và tái đào tạo.

    – Tổ chức việc quản lý nhân sự toàn công ty.

    – Xây dựng quy chế lương thưởng, các biện pháp khuyến khích – kích thích người lao động làm việc, thực hiện các chế độ cho người lao động.

    – Chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, qui định, chỉ thị của Ban Giám đốc.

    – Nghiên cứu, soạn thảo và trình duyệt các qui định áp dụng trong Công ty, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty – các bộ phận và tổ chức thực hiện.

    – Phục vụ các công tác hành chánh để BGĐ thuận tiện trong chỉ đạo – điều hành, phục vụ hành chánh để các bộ phận khác có điều kiện hoạt động tốt.

    – Quản lý việc sử dụng và bảo vệ các loại tài sản của Công ty, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.

    – Tham mưu đề xuất cho BGĐ để xử lý các vấn đề thuộc lãnh vực Tổ chức-Hành chánh – Nhân sự.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Nhà Nước
  • Những Điều Cần Biết Khi Chọn Mua Mainboard
  • Bo Mạch Chủ Trên Máy Tính Là Gì?
  • Motherboard, Mainboard Là Gì Và Có Tác Dụng Gì?
  • Motherboard Là Gì? Chức Năng Của Bo Mạch Chủ Là Gì?
  • Tổ Chức Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Tinh Gọn, Hiệu Lực, Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Là Gì ? Khái Niệm Về Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước ?
  • Chuyên Đề 1:tổ Chức Hành Chính Bộ Máy Nhà Nước
  • Tìm Hiểu Nội Dung Của Chế Độ Chi Ngân Sách Về Xây Dựng Cơ Bản, Đánh Giá Thực Tiễn áp Dụng Và Đề Xuất Các Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Ngân Sách Cho Lĩnh Vực Xây Dựng Cơ Bản Ở Việt Nam
  • Quản Lý Hành Chánh Nhà Nước
  • Em Hãy Cho Biết Bản Chất Của Nhà Nước Ta Là Gì? Bộ Máy Nhà Nước Gồm Những Cơ Quan Nào? Nêu Cụ Thể Từng Cơ Quan?
  • Ngày đăng: 29/04/2018 01:22

    Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình, Trưởng ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ kiểm tra công tác cải cách hành chính tại Quảng Ninh. Ảnh: Báo Công thương

    Các chủ trương, quan điểm về cải cách bộ máy nhà nước của Đảng và Nhà nước được hình thành, phát triển và cụ thể hóa trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII năm 1995 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định rõ 3 nội dung của cải cách hành chính là cải cách thể chế, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Tiếp đó, các quan điểm của Đảng đối với cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước lại được thể hiện rõ trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX; Nghị quyết Trung ương 4 và 5 khóa X. Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 09/02/2007 về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị – xã hội (Nghị quyết Trung ương 4 khóa X) với một số quan điểm như: kiện toàn tổ chức bộ máy phải bảo đảm các cơ quan trong hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh gọn, khắc phục tình trạng quan liêu, trùng lắp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ hoặc tổ chức không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi tổ chức, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị; kiện toàn tổ chức bộ máy phải bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, vững mạnh, đủ sức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; các bộ và cơ quan ngang bộ nói chung thực hiện chức năng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực; vừa bảo đảm sự ổn định cần thiết, vừa đổi mới để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước.

    Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (năm 2007) thông qua Nghị quyết về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước (Nghị quyết Trung ương 5 khóa X) đã xác định: “Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước”. Trong đó, một số nội dung, quan điểm, giải pháp về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước được đặt ra, đó là: tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại và đúng với vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất; tiếp tục hình thành bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; giảm phù hợp số đầu mối các bộ, cơ quan ngang bộ; khắc phục tình trạng bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ, ngành; không giữ các cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước; chỉ duy trì một số cơ quan cần thiết thuộc Chính phủ là đơn vị sự nghiệp.

    Nghị quyết Đại hội lần thứ XII năm 2022 của Đảng khẳng định nhiệm vụ trọng tâm với mục tiêu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong đó, một số nhiệm vụ trọng tâm có tác động quan trọng, ảnh hưởng lớn đến nhiệm vụ xây dựng một nền hành chính năng động, trách nhiệm, hiện đại, như: “Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ”.

    Để bảo đảm đạt được các mục tiêu về kinh tế – xã hội, Đảng ta đã xác định nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng, trong đó có giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, mà cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước là một trong những nội dung rất quan trọng của cải cách hành chính. Đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước theo tinh thần cải cách hành chính là nhiệm vụ rộng lớn, phức tạp, có tính cách mạng, được tiến hành trong điều kiện còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý nhà nước trong cơ chế kinh tế mới. Việc thực hiện tốt chức năng của nền hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nền hành chính nhà nước với thị trường; xây dựng đồng bộ, nâng cao chất lượng và tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống pháp luật, thể chế; tổ chức bộ máy; đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ, điều đó thể hiện quyết tâm xây dựng một nền hành chính năng động và trách nhiệm, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.

    Để cải cách tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước phải giải quyết nhiều vấn đề về nghiên cứu lý luận, khảo sát và tổng kết thực tiễn về cơ chế và chính sách, về tổ chức và cán bộ, đồng thời, cần được xem xét tổng thể tất cả các yếu tố, thông qua đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế trong thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước về cải cách hành chính, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về cải cách hành chính, từ đó đề xuất phương hướng, nhiệm vụ để tạo lập một nền hành chính đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế, xây dựng tổ chức bộ máy hành chính nhà nước gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm người đứng đầu.

    Thời gian qua, triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X, Chính phủ đã đề ra các chương trình, kế hoạch cải cách hành chính mang tính toàn diện, đồng bộ và chỉ đạo triển khai một cách quyết liệt. Qua đó, nền hành chính đã có chuyển biến tích cực theo hướng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, năng động, trách nhiệm, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của người dân, xã hội và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    2. Kết quả cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước trong thời gian qua

    Một là, thể chế về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước từng bước được hoàn thiện. Hiệu lực, hiệu quả quản lý của hệ thống hành chính được nâng cao, tính thống nhất, công khai, minh bạch của nền hành chính được cải thiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước có sự điều chỉnh phù hợp, bảo đảm quản lý nhà nước và phục vụ xã hội. Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ là cơ quan hành pháp, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi) năm 2022 đã bổ sung nhiều nội dung nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động và phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của Chính phủ trong tình hình mới. Chính phủ đã ban hành các Quy chế làm việc của Chính phủ tại các văn bản, như: Nghị định số 179/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007; Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16/02/2012 và Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01/10/2016, qua đó thường xuyên cập nhật, sửa đổi, bổ sung các quy định cần thiết cho phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chỉ đạo, điều hành, hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống hành chính nhà nước nói riêng.

    Hai là, trên cơ sở thể chế về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước được ban hành, đã điều chỉnh một bước quan trọng về chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp để khắc phục những chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Đã phân định rõ thẩm quyền những việc phải trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; những việc do bộ, ngành tự quyết định và chịu trách nhiệm. Một số công việc trước đây do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải quyết, nay đã được chuyển cho các bộ, ngành Trung ương và phân cấp cho chính quyền địa phương thực hiện(1). Cùng với việc đẩy mạnh phân cấp, Chính phủ đã tập trung giải quyết các vấn đề có tính chiến lược, tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các nhiệm vụ đã phân cấp cho địa phương. Tổ công tác do Thủ tướng Chính phủ thành lập, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về thực hiện nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện các nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng giao; kiểm tra các bộ, cơ quan, địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng đã đạt được một số kết quả tích cực.

    Ba là, giai đoạn từ năm 2007 – 2022, đã có nhiều cải cách mạnh mẽ về tổ chức bộ máy, giảm đầu mối, bỏ cấp trung gian, hình thành bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, khắc phục sự chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ quản lý nhà nước. Từ nhiệm kỳ Chính phủ khóa XII đến nay duy trì cơ cấu Chính phủ ổn định với 30 bộ, cơ quan, gồm: 22 bộ, cơ quan ngang bộ; 08 cơ quan thuộc Chính phủ. Theo đó, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các bộ, ngành Trung ương đã được phân định rõ ràng, cơ bản khắc phục được những chồng chéo, trùng lắp, từng bước thực hiện nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện. Các bộ, cơ quan ngang bộ chủ yếu tập trung xây dựng thể chế, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện chính sách, pháp luật, quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực; hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm thuộc phạm vi quản lý theo phân công của Chính phủ và quy định của pháp luật; từng bước tách chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực với chức năng quản lý, giám sát của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và quản lý sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Để bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước đối với các hoạt động sự nghiệp của các cơ quan thuộc Chính phủ, Chính phủ đã phân công các thành viên Chính phủ trực tiếp chỉ đạo và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực về các hoạt động của các cơ quan thuộc Chính phủ.

    Bốn là, đã phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý của các bộ, ngành và xác định rõ tiêu chí thành lập các tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ như cục, vụ, tổng cục; cơ cấu tổ chức bên trong của bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý và tính chất hoạt động. Cụ thể là:

    – Quy định cụ thể các tiêu chí để thành lập vụ, cục, tổng cục thuộc bộ; tiêu chí thành lập các vụ, cục thuộc tổng cục. Hạn chế việc thành lập mới các tổng cục, cục thuộc bộ.

    – Quy định cục thuộc bộ chỉ có một loại với tiêu chí thành lập được áp dụng thống nhất đã thể hiện sự đổi mới trong cách thức tiếp cận và thiết kế tổ chức bộ máy thuộc bộ.

    – Quản lý chặt chẽ số lượng phòng trong vụ (theo hướng cơ bản không để cấp phòng trong vụ, chỉ thành lập phòng trong vụ có nhiều mảng công tác hoặc khối lượng công việc lớn theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số 123/2016/NĐ-CP), phòng và chi cục thuộc cục thuộc bộ (quy định cụ thể trong Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng bộ), chi cục thuộc cục của tổng cục thuộc bộ (quy định cụ thể trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng tổng cục thuộc bộ), hạn chế được tổ chức trung gian không cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.

    – Đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu các tổng cục và tổ chức tương đương, cục, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ được quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh lãnh đạo, quản lý của các đơn vị thuộc cấp mình quản lý, bảo đảm nguyên tắc cấp nào quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức thì cấp đó quyết định bổ nhiệm, cách chức để gắn thẩm quyền với trách nhiệm.

    Năm là, các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ công tác quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực thuộc bộ, như: nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực; báo; tạp chí; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; thông tin hoặc tin học được quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ; các đơn vị sự nghiệp công lập khác hiện có thuộc bộ được rà soát, sắp xếp phù hợp với quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực và định hướng đổi mới cơ chế tự chủ và đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP). Đây là Nghị định quan trọng, tạo khung pháp lý để các bộ quản lý về lĩnh vực sự nghiệp xây dựng, trình Chính phủ ban hành cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm phù hợp với tính chất, đặc điểm từng ngành, lĩnh vực. Đồng thời, Chính phủ khuyến khích thành lập các tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc các thành phần ngoài nhà nước, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế, khoa học…

    Sáu là, số lượng các tổ chức quản lý chuyên ngành có xu hướng chuyển đổi từ các tổ chức chỉ thực hiện chức năng tham mưu (vụ) sang loại hình tổ chức vừa thực hiện chức năng tham mưu, vừa tổ chức thực thi (cục) theo phân cấp, ủy quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển thực tế đòi hỏi và nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước các chuyên ngành, lĩnh vực.

    Bảy là, các cơ quan chuyên môn ở địa phương được sắp xếp, tổ chức lại phù hợp với sự sắp xếp, điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức Chính phủ các khoá, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt và theo xu hướng thu gọn đầu mối, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính; phân định rõ hơn chức năng và mô hình tổ chức của chính quyền đô thị với chính quyền ở nông thôn để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2022 được ban hành đã quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương: tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; hiện đại, minh bạch, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; quy định về phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền, ủy quyền cho chính quyền địa phương. Theo đó, tính thống nhất và thông suốt của hệ thống hành chính nhà nước được bảo đảm trên cơ sở xác định rõ vị trí, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong hệ thống cơ quan nhà nước. Về quy hoạch tổng thể đơn vị hành chính các cấp và về kiện toàn thống nhất hệ thống cơ quan chuyên môn của các cấp chính quyền đạt được nhiều kết quả khả quan.

    Tám là, chủ trương tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị đã được thể hiện trong Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2022; chính quyền địa phương được quy định rõ, cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn, theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để tránh tình trạng dồn việc về cấp cơ sở; nhiệm vụ quyền hạn của chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực hiện quản lý theo lãnh thổ; ở địa bàn đô thị chú trọng thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực. Trong giai đoạn này, đã thực hiện việc thí điểm việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường. Căn cứ kết luận của Trung ương, Chính phủ đã trình và Quốc hội thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2022, theo đó, tất cả các đơn vị hành chính quy định tại khoản 1, Điều 110 Hiến pháp năm 2013 đều tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, đồng thời chấm dứt thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường kể từ ngày 01/01/2016.

    3. Những tồn tại, hạn chế

    Tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động của nền hành chính, nhưng tốc độ cải cách còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn và mục tiêu đề ra. Bộ máy hành chính cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả là một trong những điểm nghẽn của nền hành chính đối với phát triển kinh tế – xã hội của nước ta thời gian qua, cụ thể như sau:

    Một là, việc đổi mới chức năng, nhiệm vụ của cả bộ máy hành chính nhà nước còn chậm, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương chưa thật sự thống nhất, thông suốt. Tình trạng mệnh lệnh hành chính chưa được chấp hành một cách nghiêm túc, kỷ luật, kỷ cương hành chính lỏng lẻo và sự tuỳ tiện, thiếu quy định rõ ràng về quy trình giải quyết công việc ở các cơ quan hành chính vẫn còn.

    Hai là, tuy đã được tích cực sắp xếp, kiện toàn qua các nhiệm kỳ Chính phủ nhưng đến nay tổ chức bộ máy bên trong của một số bộ, cơ quan ngang bộ vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian; chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan hành chính nhà nước tuy đã cơ bản khắc phục được sự chồng chéo, nhưng trên một số lĩnh vực vẫn còn giao thoa, đan xen hoặc phân công chưa thực sự phù hợp hoặc chưa đủ rõ, dẫn đến khó xác định trách nhiệm khi có vấn đề xảy ra.

    Ba là, công tác phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước có mặt còn hạn chế. Thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực còn phức tạp, rườm rà, chậm được khắc phục.

    Bốn là, việc quy định thành lập tổ chức trong các luật chuyên ngành hoặc trong nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật cũng như trong các đề án, dự án, chương trình,… làm phát sinh tăng đầu mối tổ chức, gây trở ngại cho việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo yêu cầu cải cách hành chính.

    Năm là, việc chuyển giao một số nhiệm vụ từ cơ quan hành chính nhà nước cho các tổ chức xã hội thực hiện còn hạn chế. Tổ chức bộ máy và biên chế công chức tại các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương chưa giảm, tinh giản biên chế còn gặp nhiều khó khăn. Chưa thực hiện việc chuyển một số nhiệm vụ thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có đủ điều kiện dân sự hóa cho các bộ quản lý như Nghị quyết Trung ương đã đề ra. Phân cấp quản lý nhà nước chưa được thực hiện triệt để, nghiêm túc.

    Sáu là, việc lập và quản lý theo quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực chưa được coi trọng, dẫn đến làm tăng cả về tổ chức và biên chế (số lượng người làm việc) trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Một số chính sách là điều kiện quan trọng để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập (như học phí, viện phí…), cũng như nhiều định mức kinh tế kỹ thuật, tiêu chuẩn ngành còn thiếu (định mức giờ giảng, định mức biên chế theo lĩnh vực, ngành, nghề…), chưa được ban hành hoặc sửa đổi kịp thời; các định mức chi và cơ chế quản lý chi chậm đổi mới, chưa gắn với kết quả hoạt động nên hạn chế tính tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp. Đây là nguyên nhân làm chậm quá trình đẩy mạnh xã hội hóa đối với một số lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công. Việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành và chất lượng hoạt động sự nghiệp của đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn nhiều lúng túng, chưa có hệ thống đánh giá kết quả hoạt động thích hợp với đặc thù của từng ngành, lĩnh vực.

    4. Phương hướng, nhiệm vụ cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn tới

    Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và những yêu cầu chủ quan, khách quan của bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội trong thời gian tới, để xây dựng một nền hành chính năng động, trách nhiệm, hiện đại, xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả cần tiếp tục triển khai thực hiện những nhiệm vụ sau:

    Một là, tăng cường vai trò, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong từng cơ quan, đơn vị là điều kiện quan trọng đảm bảo sự thành công của cải cách hành chính nói chung, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nói riêng. Người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp cần tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính, chịu trách nhiệm chính về kết quả cải cách hành chính. Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ và cơ quan hành chính địa phương các cấp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

    Hai là, việc thành lập các tổ chức hành chính trong hệ thống các cơ quan quan hành chính cần được thực hiện trên cơ sở đáp ứng các tiêu chí, điều kiện cụ thể theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Nội vụ (cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về lĩnh vực tổ chức bộ máy).Thực hiện nguyên tắc phân công quản lý nhà nước “một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính”. Theo đó, lĩnh vực tổ chức bộ máy được Chính phủ phân công cho Bộ Nội vụ quản lý, thì Bộ Nội vụ thực hiện nhiệm vụ chủ trì và chịu trách nhiệm chính về quản lý tổ chức bộ máy, tránh tình trạng thiếu tính thống nhất về mô hình tổ chức trong cùng hệ thống.

    Ba là, Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đối với các quy định về tổ chức bộ máy và biên chế cần được quy định thống nhất trong các văn bản pháp luật thuộc chuyên ngành tổ chức nhà nước. Thực tiễn cho thấy, việc hình thành tổ chức hành chính thường gắn với phát sinh các quy trình, thủ tục hành chính. Vì vậy, để thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính theo Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2022-2017, định hướng đến năm 2022, ngoài việc rà soát, loại bỏ các thủ tục không cần thiết, đơn giản hóa và hiện đại hóa thủ tục hành chính, cần tăng cường quản lý chặt chẽ đối với tổ chức hành chính, đặc biệt là các tổ chức hành chính được thiết kế quản lý theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương (tổng cục và tổ chức tương đương).

    Bốn là, triển khai thực hiện có hiệu quả Luật tổ chức Chính phủ năm 2022 và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2022, theo đó, điều chỉnh chức năng của Chính phủ cho phù hợp với yêu cầu của cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đó xác định rõ thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chính quyền địa phương. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, tổ chức để bảo đảm không chồng chéo, trùng lặp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, giữa Trung ương và địa phương. Sáp nhập những cơ quan, tổ chức có cùng hoặc tương đồng về chức năng, nhiệm vụ. Không nhất thiết Trung ương có tổ chức, cơ quan nào thì địa phương có tổ chức, cơ quan đó. Nghiên cứu từng bước khắc phục nhiều bộ máy trong hệ thống chính trị và các cơ quan có chức năng tương đồng. Bảo đảm nguyên tắc một việc, trên một địa bàn chỉ giao cho một cơ quan, tổ chức chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính, không bỏ trống nhiệm vụ quản lý nhà nước.

    Năm là, quy định cụ thể nguyên tắc “ba định” trong thành lập tổ chức là: xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức mới dự kiến được thành lập có trùng lắp với tổ chức hiện có hay không, trên cơ sở đó xác định mô hình tổ chức được thành lập và quyết định số lượng biên chế của tổ chức mới đó. Đồng thời, quy định cụ thể nguyên tắc thành lập tổ chức, khung cơ cấu, số lượng cơ quan, tổ chức trực thuộc một ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; nguyên tắc thành lập tổ chức, khung cơ cấu, số lượng cơ quan, tổ chức trực thuộc cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (kể cả cơ cấu các đơn vị bên trong các cơ quan, tổ chức này). Các bộ, cơ quan ngang bộ khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan mình, trong đó, kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy tinh gọn, giảm cấp trung gian, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, đáp ứng đúng các tiêu chí về thành lập vụ, cục, tổng cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ.

    Sáu là, phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương để giải quyết các công việc về an ninh trật tự, phát triển kinh tế – xã hội đáp ứng nhu cầu của nhân dân địa phương. Nghiên cứu hợp nhất các cơ quan chuyên môn có phạm vi, đối tượng quản lý về ngành, lĩnh vực có mối quan hệ liên thông với nhau để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương, bảo đảm phù hợp với quy định của Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2022, đáp ứng yêu cầu quản lý của chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn. Chính phủ thực hiện tốt vai trò kiến tạo phát triển, lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội, tập trung thực hiện ba vấn đề cơ bản: hoạch định chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia; đưa ra các tiêu chuẩn về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước; giám sát kiểm tra chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, cá nhân trong việc thực hiện các tiêu chuẩn do Chính phủ và bộ quản lý ngành, lĩnh vực trong việc thực hiện các tiêu chuẩn.

    TS. Nguyễn Trọng Thừa – Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Trưởng ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ

    Ghi chú:

    ([1]) Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 21/3/2016 về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    1. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị Trung ương lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị – xã hội.

    2. Nghị quyết số 17-NQ/TW của Hội nghị Trung ương lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.

    3. Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2022.

    4. Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011- 2022.

    5. Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2022 – 2022.

    6. Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    7. Quyết định số 2218/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW.

    8. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

    9. Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

    10. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

    11. Báo cáo tổng kết đánh giá các nghị quyết của Đảng về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

    12. Báo cáo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 30/7/2007 của Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; sơ kết Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

    13. Báo cáo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Của Nhà Nước Chủ Nô Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Bản Chất Của Nhà Nước
  • Các Học Thuyết Tiêu Biểu Về Nguồn Gốc Của Nhà Nước
  • Phân Tích Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng Của Nhà Nước.
  • Về Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Trong Cơ Chế Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước
  • Bộ Chính Trị Ban Hành Quy Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy Trung Tâm Chính Trị Cấp Huyện

    --- Bài mới hơn ---

  • Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Chỉ Đạo Triển Khai Công Văn Số 5469
  • Bộ Câu Hỏi Trắc Nghiệm Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu, Tổ Chức Của Bộ
  • Tăng Cường Năng Lực Tham Mưu, Đề Xuất Chính Sách Trong Xây Dựng Thể Chế, Thực Thi Pháp Luật Của Văn Phòng Chính Phủ
  • Chớ Xem Thường Khi Trẻ Có Vấn Đề Về Chức Năng Điều Hành
  • Chức Năng Điều Hành Của Não Và Rối Loạn Chức Năng Điều Hành Của Não
  • Trung tâm chính trị cấp huyện có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị – hành chính; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức, kỹ năng và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội cho cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn cấp huyện, không thuộc đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng lịch sử Đảng và lịch sử đảng bộ của địa phương; tham gia phối hợp trong công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận theo yêu cầu của cấp ủy.

    7 nhiệm vụ của Trung tâm chính trị cấp huyện: 1.Đào tạo sơ cấp lý luận chính trị – hành chính; bồi dưỡng các chương trình lý luận chính trị cho các đối tượng theo quy định; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện. 2. Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới về chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và một số lĩnh vực khác cho cán bộ đảng (là cấp ủy viên cơ sở), cán bộ chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cơ sở. 3. Bồi dưỡng chính trị cho đối tượng phát triển đảng; lý luận chính trị cho đảng viên mới; nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên cơ sở. 4. Tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng và lịch sử đảng bộ địa phương. 5. Tổ chức thông tin về tình hình thời sự, chính sách,… cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở. 6. Tham gia phối hợp trong công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học theo yêu cầu của cấp ủy và phục vụ giảng dạy, học tập. 7. Thực hiện một số nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của cấp ủy cấp huyện.

    Về tổ chức bộ máy, Trung tâm chính trị cấp huyện có đội ngũ cán bộ gồm giám đốc (trưởng ban tuyên giáo cấp ủy cấp huyện là giám đốc trung tâm chính trị cấp huyện theo chế độ kiêm nhiệm), một số phó giám đốc và giảng viên chuyên trách; biên chế từ 4 đến 6 người, thuộc biên chế của các cơ quan đảng của cấp ủy cấp huyện, do ban thường vụ cấp ủy cấp huyện xem xét, quyết định trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ, tổng số dân và cán bộ, đảng viên trên địa bàn.

    Trung tâm chính trị cấp huyện được thực hiện chế độ giảng viên kiêm nhiệm để phục vụ công tác giảng dạy.

    Về con dấu, thể thức văn bản, văn bằng, chứng chỉ: Trung tâm chính trị cấp huyện được sử dụng con dấu, thể thức văn bản, văn bằng, chứng chỉ theo hệ thống của tổ chức đảng và theo quy định của Đảng.

    Giám đốc Trung tâm chính trị cấp huyện ký và cấp các loại văn bằng, chứng chỉ của các chương trình thuộc chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng được giao; văn bằng có giá trị, là điều kiện để xếp ngạch, bậc cán bộ, công chức, viên chức theo quy định.

    Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo nội dung đào tạo về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống trung tâm chính trị cấp huyện. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương về nội dung đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng tại trung tâm; phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xây dựng khung chương trình sơ cấp lý luận chính trị giảng dạy tại trung tâm chính trị cấp huyện, bảo đảm tính liên thông, kế thừa, tránh trùng lắp giữa các chương trình đào tạo lý luận chính trị.

    Ban tuyên giáo tỉnh ủy, thành ủy phối hợp với trường chính trị tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm về hướng dẫn chuyên môn đối với trung tâm.

    Cấp ủy cấp huyện trực tiếp lãnh đạo thực hiện về nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; về tổ chức bộ máy và biên chế; về chế độ, chính sách cho cán bộ, giảng viên, học viên; về thực hiện quy chế quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và việc đầu tư cơ sở vật chất, cấp kinh phí hoạt động cho trung tâm.

    Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 185-QĐ/TW, ngày 03/9/2008 của Ban Bí thư khóa X./.

    Xem toàn văn Quy định số 208-QĐ/TW:

    Anh Cao

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trắc Nghiệm Quản Lý Học
  • Chức Năng Tổ Chức Trong Quản Trị Học
  • 7 Kỹ Năng Đặc Biệt Dành Cho Nhà Lãnh Đạo Hiện Đại
  • Khóa Học Chiến Lược Nhân Sự Dành Cho Lãnh Đạo, Giám Đốc
  • Vai Trò Của Nhà Quản Trị Trong Doanh Nghiệp
  • Tiếp Tục Cải Cách Tổ Chức Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Tinh Gọn, Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Dự Thi Cải Cách Thủ Tục Hành Chính
  • Lai Châu Thi “tìm Kiếm Sáng Kiến, Giải Pháp Cải Cách Hành Chính”
  • 21 Sáng Kiến Được Trao Giải “chung Tay Cải Cách Thủ Tục Hành Chính”
  • Cuộc Thi “tìm Hiểu Sáng Kiến, Giải Pháp, Mô Hình Về Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Và Thực Hiện Cơ Chế Một Cửa, Một Cửa Liên Thông” Năm 2022
  • Tổ Chức Cuộc Thi “tìm Kiếm Sáng Kiến, Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Tỉnh Phú Yên Năm 2022
  • (ĐCSVN) – Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27/11/2017 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (Nghị quyết số 18-NQ/TW) đã đề ra mục tiêu tổng quát: “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương”.

    Căn cứ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tại Nghị quyết số 18-NQ/TW và Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27/11/2017 của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW (Kế hoạch số 07-KH/TW), Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (Nghị quyết số 56/2017/QH14), Chính phủ ban hành Chương trình hành động triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    Về tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động trong việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) phối hợp chặt chẽ với tổ chức đảng và cấp ủy cùng cấp tổ chức triển khai, nghiên cứu, quán triệt các nội dung của Nghị quyết số 18-NQ/TW, Kế hoạch số 07-KH/TW, Nghị quyết số 56/2017/QH14 trong toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc thẩm quyền quản lý.

    Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các bộ, cơ quan, địa phương, cơ quan truyền thông, báo chí làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, tạo đồng thuận trong xã hội, phát huy tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu, nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân để thực hiện thắng lợi mục tiêu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    Tổ chức triển khai có hiệu quả Kết luận số 86-KL/TW ngày 24/1/2014 của Bộ Chính trị về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ, Kết luận số 202-TB/TW ngày 26/5/2015 của Bộ Chính trị về Đề án “Thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng” và Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 05/12/2017 của Chính phủ về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 140/2017/NĐ-CP).

    Về tổ chức, sắp xếp các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước, Chính phủ yêu cầu Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ rà soát, sắp xếp, tinh gọn đầu mối bên trong, giảm cơ bản số lượng tổng cục, cục, chi cục, vụ, phòng; không thành lập tổ chức mới, không thành lập phòng trong vụ, trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền quyết định. Giảm tối đa các ban quản lý dự án. Kiên quyết hợp nhất, sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập để thu gọn đầu mối, giảm biên chế.

    Bên cạnh đó, thực hiện tinh giản biên chế theo lộ trình, giảm số lượng cấp phó của các đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế tại cơ quan mình và quy định của Đảng, Chính phủ; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được giao quản lý một số lĩnh vực được tổ chức theo ngành dọc, như: Thuế, hải quan, kho bạc nhà nước, bảo hiểm xã hội… tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức theo khu vực liên tỉnh hoặc liên huyện để thu gọn đầu mối, tinh giản biên chế.

    Bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của tổng cục và tổ chức tương đương thuộc cơ quan mình, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành; rà soát, sắp xếp lại các tổ chức phối hợp liên ngành, nhất là các tổ chức có bộ phận giúp việc chuyên trách và các ban quản lý dự án báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    Bộ Quốc phòng, Bộ Công an nghiên cứu, xây dựng đề án rà soát, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng quân đội, công an theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tinh giản biên chế phù hợp trong điều kiện mới; bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, phù hợp với quy định chung của hệ thống chính trị và tính đặc thù của từng lực lượng, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; Bộ Công an nghiên cứu, sắp xếp thu gọn đầu mối cơ quan điều tra đáp ứng yêu cầu công tác điều tra hình sự, phòng, chống tội phạm và phù hợp với tổ chức, hoạt động của viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân theo tinh thần cải cách tư pháp.

    Chính phủ cũng yêu cầu các địa phương có trách nhiệm chủ động rà soát, sắp xếp giảm các tổ chức phối hợp liên ngành, ban quản lý dự án (thực hiện từ năm 2022 và hoàn thành trong năm 2022).

    Bên cạnh đó, thực hiện thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân ở cấp tỉnh; thực hiện thí điểm hợp nhất Văn phòng cấp ủy với Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện ở những nơi có điều kiện theo quy định (thực hiện từ năm 2022).

    Đồng thời, xây dựng đề án, trình cấp có thẩm quyền và triển khai sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và sáp nhập các thôn, tổ dân phố theo quy định (thực hiện từ năm 2022); xây dựng đề án, trình cấp có thẩm quyền quyết định và thực hiện thí điểm mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo ở những nơi có điều kiện (thực hiện từ năm 2022); thực hiện khoán kinh phí chi phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố (thực hiện từ năm 2022).

    Chủ động sơ kết và tiếp tục thực hiện mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố (thực hiện từ năm 2022 và hoàn thành trong năm 2022); rà soát, sắp xếp lại tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định khung của Chính phủ; sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực và nhu cầu của thị trường, xã hội; thực hiện tinh giản biên chế theo lộ trình, giảm số lượng cấp phó của các cơ quan, tổ chức, đơn vị phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương (thực hiện từ năm 2022).

    Thủ tướng yêu cầu thực hiện tốt cả 4 khâu phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến, qua đó tạo động lực thúc đẩy các phong trào thi đua, mang lại hiệu quả thiết thực.

    Ngay từ đầu năm, tổ chức phát động đợt thi đua đặc biệt, đồng loạt ra quân triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 2022 của từng bộ, ngành và địa phương. Tổ chức các phong trào thi đua phải có mục tiêu thiết thực, cụ thể, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị.

    Các Bộ ngành, địa phương phải thường xuyên, coi trọng việc phát hiện kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, sáng tạo và có nhiều hình thức để biểu dương, động viên, nhân rộng. Thực hiện tốt cả 4 khâu phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến. Qua đó tạo động lực thúc đẩy các phong trào thi đua, mang lại hiệu quả thiết thực; phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông, báo chí trong phát hiện, tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến, nhân tố, mô hình mới.

    Thực hiện tốt và nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, bảo đảm kịp thời, đúng quy định; lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, thực hiện công tác chuyên môn làm tiêu chí khen thưởng; thực hiện công khai, minh bạch và dân chủ trong bình xét, lựa chọn những tập thể, cá nhân thật sự tiêu biểu, xuất sắc để khen thưởng, tránh khen thưởng tràn lan, vận dụng các quy định của pháp luật để khen thưởng; tạo sự chuyển biến tích cực trong khen thưởng cho các đơn vị cơ sở, công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp như lấy ý kiến rộng rãi về việc khen thưởng cho các tập thể, cá nhân để nắm bắt thông tin trước khi đề nghị khen thưởng; tập trung rà soát, giải quyết dứt điểm những hồ sơ tồn đọng trong khen thưởng kháng chiến, phong tặng và truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

    Đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng, nghiên cứu, tham mưu đề xuất sửa đổi Luật Thi đua, khen thưởng; phát huy vai trò của các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể trong lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp thực hiện, bảo đảm công tác thi đua khen thưởng thực chất, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tổ chức các phong trào thi đua và thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về thi đua, khen thưởng; sớm kiện toàn Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương để đảm bảo hiệu quả hoạt động.

    Trong năm 2022, công tác thi đua, khen thưởng trong cả nước đã đạt được nhiều kết quả tích cực, bám sát và góp phần thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với những nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Các phong trào thi đua đã được đổi mới, nội dung phong phú, hình thức đa dạng, bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, được các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia hưởng ứng.

    Thông qua các phong trào thi đua yêu nước, các cơ quan bộ, ngành, địa phương và các cơ quan thông tấn, báo chí đã có nhiều hình thức tuyên truyền, tôn vinh, biểu dương những điển hình tiên tiến, nhân tố mới, mô hình mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo thêm động lực và góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị, được dư luận xã hội đánh giá cao.

    Công tác khen thưởng được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện kịp thời, khen thưởng thông qua phát hiện điển hình, nhân tố mới trong phong trào thi đua, khen thưởng đột xuất, khen cho người lao động được quan tâm và bước đầu đạt kết quả tích cực…/.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Nhà Nước Trên Địa Bàn Tỉnh Kon Tum Năm 2022
  • Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Nhà Nước
  • Hướng Dẫn Viết Bài Thu Hoạch Cải Cách Hành Chính Ở Cơ Sở
  • Một Số Giải Pháp Về Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Trong Điều Kiện Hiện Nay
  • Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Trong Đảng, Bài 3: Triển Khai Thực Hiện Nhiều Giải Pháp
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Các Hình Thức Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Hình Thức Và Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Và Phân Loại
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Pháp Là Gì ? Khái Niệm Về Cơ Quan Hành Pháp
  • Cơ quan hành chính nhà nước là gì? Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước? Đặc điểm chung của cơ quan hành chính nhà nước với cơ quan nhà nước? Đặc điểm riêng của cơ quan hành chính nhà nước? Phân loại cơ quan hành chính nhà nước?

    Khi nghiên cứu về địa vị pháp lý hành chính của cơ quan hành chính nhà nước chúng ta cần nhớ và trình bày được định nghĩa cơ quan hành chính nhà nước, phân tích được những đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước, phân loại cơ quan hành chính nhà nước và xác định chính xác các cơ quan hành chính nhà nước trong bộ máy hành chính nhà nước.

    Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phân hợp thành của bộ máy nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng hành pháp (quản lý hành chính nhà nước). Nghiên cứu địa vị pháp lý hành chính của cơ quan hành chính nhà nước nhằm xác định vai trò của cơ quan hành chính nhà nước với tư cách là chủ thể của pháp luật hành chính và chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính trong quản lý hành chính nhà nước.

    Khi tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, tùy từng trường hợp cụ thể mà cơ quan hành chính nhà nước sẽ là chủ thể quản lý hành chính nhà nước tức là chủ thể mang quyền lực nhà nước hay là đối tượng quản lý hành chính nhà nước tức chủ thể không mang quyền lực hành chính. Tuy nhiên, dù ở tư cách nào thì cơ quan hành chính nhà nước cũng là chủ thể chủ yếu, quan trọng nhất trong quan hệ pháp luật hành chính.

    2. Đặc điểm chung của cơ quan hành chính nhà nước với cơ quan nhà nước

    Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận của bộ máy nhà nước nên cũng có các đặc điểm chung của cơ quan nhà nước như sau:

    – Cơ quan hành chính nhà nước cơ quyền nhân danh Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiên các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. Biểu hiện của tính quyền lực nhà nước đó là: Cơ quan hành chính nhà nước có quyền ban hành các văn bản pháp luật như nghị định, quyết định, chỉ thị và có thể được áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính nhà nước nhất định.

    – Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Nói cách khác, cơ quan hành chính nhà nước có tính độc lập tương đối về cơ cấu – tổ chức (có cơ cấu bộ máy và quan hệ công tác bên trong của cơ quan được quy định trước hết quy định trước hết nhiệm vụ, chức năng, thể hiện vai trò độc lập)… Cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật như Luật tổ chức Chính phủ 2022, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2022,…

    – Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên quy định của pháp luật, có chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước mà quan hệ đó được quy định bởi thẩm quyền nhất định do pháp luật quy định – đó là tổng thể những quyền, nghĩa vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực – pháp lý mà nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt cơ quan hành chính nhà nước với cơ quan không phải của nhà nước vì những cơ quan, tổ chức đó không có thẩm quyền được quy định trong pháp luật.

    – Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức, được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008.

    Ngoài những đặc điểm chung với cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có các đặc điểm riêng được quyết định bởi chính bản chất hoạt động chấp hành – điều hành thông qua các đặc trưng này và có thể phân biệt cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan nhà nước khác.

    – Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành (đó là những hoạt động được tiến hành trên cơ sở Luật và để thi hành Luật) nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Như vậy, hoạt động chấp hành – điều hành hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước.

    Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như: Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của tòa án nhân dân, chức năng kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục… Việc thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước là nhằm hoàn thành chức năng quản lý hành chính nhà nước.

    – Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ Trung ương đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước.

    – Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành.

    – Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước.

    4. Phân loại cơ quan hành chính nhà nước

    – Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, cơ quan hành chính nhà nước được chia thành hai loại là cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

    Cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương bao gồm: Chính Phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ. Đây là những cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, điều hành các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương ban hành có hiệu lực trong cả nước.

    Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, gồm: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã. Những cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có chức năng quản lý hành chính nhà nước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trên phạm vi lãnh thổ tương ứng được giới hạn bởi sự phân chia địa giới hành chính. Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ban hành thường chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ thuộc quyền quản lý hành chính nhà nước của cơ quan hành chính nhà nước địa phương đó.

    – Căn cứ vào thẩm quyền, cơ quan hành chính nhà nước được chia thành cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn.

    Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung, gồm: Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp. Các cơ quan hành chính nhà nước này có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, có phương thức lãnh đạo kết hợp giữa lãnh đạo tập thể với lãnh đạo thủ trưởng cá nhân đứng đầu. Ví dụ: Chính phủ quản lý hành chính nhà nước theo phương thức lãnh đạo kết hợp sự lãnh đạo chung của Chính phủ với lãnh đạo của Thủ tướng Chính phủ.

    Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành – điều hành, cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Là Gì?
  • Câu 4 Trang 80 Sgk Gdcd 11
  • Đề Kiểm Tra 1 Tiết Môn Gdcd Lớp 11 Năm 2014
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 9: Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Giải Gdcd 11 Bài 9: Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Tổ Chức Nhân Sự Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tổ Chức Là Gì?
  • Khái Niệm Và Cơ Cấu Tổ Chức
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Của Công Đoàn Việt Nam
  • Tổ Chức, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Công Đoàn Việt Nam
  • Qđnd Việt Nam Có Các Quân Chủng Nào?
  • Chương 4Các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của nền hành chínhCơ quan quản lý nguồn nhân lực chung của nền hành chính nhà nước.Cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ)Cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương (tỉnh, huyện, xã)Cơ quan quản lý nguồn nhân lực chung của nền hành chính nhà nước.(xem sách)Tên gọi các cơ quan quản lý nguồn nhân lực chung.Tổ chức cơ quan quản lý nguồn nhân lực chungChức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan quản lý nguồn nhân lực (xem sách)Chính phủUỷ ban nhân dân tỉnhUỷ ban nhân dân huyệnUỷ ban nhân dân xãBan tổ chức cán bộ chính phủBan tổ chức chính quyền tỉnhBan tổ chức chính quyền huyệnBan tổ chức trung ươngBan tổ chức tỉnh ủyBan tổ chức huyện ủySự phân cấp quản lý trong hoạt động quản lý nhân sự giữa các cấp cơ quan hành chính2) – 3) xem sách p.101-108Cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ)Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của BộCơ cấu tổ chức cơ quan quản lý nguồn nhân lực của Bộ Trong hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước trung ương bao gồm nhiều loại khác nhau ( như đã nghiên cứu trong môn “tổ chức bộ máy hành chính nhà nước”.Nguồn nhân lực chung cho cả hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được quản lý và điều tiết bởi chính sách nhân sự vĩ mô do nhiều cơ quan nhà nước và cơ quan quản lý nguồn nhân lực chung ban hành.Do hoạt động quản lý của mỗi cơ quan hành chính có những nét khác biệt nên việc quản lý nguồn nhân lực của chúng vừa có những nét chung vừa có những nét cụ thể riêng.Sự hình thành các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính nhà nước gắn liền với lịch sử phát triển của các cơ quan hành chính nhà nước đó (bộ, cơ quan ngang bộ, và các loại cơ quan khác)Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn cụ thể, có thể hình thành các bộ phận ở các cấp độ khác nhau trong cơ cấu tổ chức chung của Bộ. Có thể là một vụ-thông thường là vụ tổ chức – cán bộ.Tên gọi của vụ nầy cũng có thể khác nhau: vụ tổ chức – cán bộ là tên gọi tương đối phổ biến; cũng có thể gọi là Vụ lao động – tiền lương – cán bộ hay Vụ tổ chức – cán bộ và đào tạo. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của BộDựa trên quy định chung của hệ thống văn bản pháp luật của cơ quan nhân sự trung ương (quản lý nhân sự mang tính thống nhất).Dựa trên một số quy định cụ thể (riêng) theo quy chế hoạt động và tổ chức của cơ quan.Nghiên cứu, tham mưu, tư vấn cho người đứng đầu đơn vị về công tác nhân sự và tổ chức. Cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý nguồn nhân lực của Bộ Các cơ quan quản lý nhân sự của các bộ trước đây thường được tổ chức thành các bộ phận chức năng thực hiện các chức năng nhân sự riêng lẻ như đã nêu trên.Các đơn vị chức năng nhân sự cụ thể gọi chung là phòng. Trong quá trình cải cách hệ thống tổ chức nói chung và các cơ quan nhân sự nói riêng, các chuyên viên (cán bộ quản lý nhân sự) trực tiếp thực hiện chức năng nhân sự dưới sự lãnh đạo chung của một người.Tổ chức thông thường của một đơn vị quản lý nhân sự mô tả theo sơ đồ sau:Lãnh đạo Vụ tổ chức-cán bộPhòng tuyển dụngPhòng bố trí cán bộPhòng lưu trữPhòng đào tạoPhòng quan hệ lao độngCán bộ làm việc trong vụ tổ chức – cán bộCán bộ làm việc trong vụ tổ chức – án bộCác cơ quan quản lý nguồn nhân lực (có thể gọi là bộ phận) của cơ quan hành chính nhà nước thường được theo nguyên tác chức năng. Nhiều chức năng của quản lý nguồn nhân lực được giao cho các đơn vị chức năng trong một cơ quan phụ thuộc vào chức năng trao cho cơ quan nầy.Nhiều bộ thành lập đơn vị đào tạo, bồi dưỡng người lao động của Bộ mình dưới hình thức các đơn vị đào tạo ( trường hay trung tâm đào tạo, bồi dưỡng các bộ). Những đơn vị nầy trên thực tế không thực hiện chức năng quản lý nhân sự của bộ; đó chỉ là cơ quan sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn cho người lao động làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng. Ơû nhiều nước, các trung tâm, trường nầy không thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ.Cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương (tỉnh, huyện, xã)Các cơ quan quản lý nguồn nhân lực ở địa phươngMối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nguồn nhân lực trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.Các cơ quan quản lý nguồn nhân lực ở địa phươngChính quyền địa phương các cấp có nhân sự riêng của mình. Tuỳ thuộc vào sự phân cấp quản lý nhân sự trong các cơ quan nhà nước mà chính quyền địa phương được quản lý nhân sự đến mức độ nào. Đó chính là sự phân cấp quản lý nhân sự các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng.Hệ thống chính quyền địa phương của mỗi nước được tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau. Tuỳ thuộc vào mức độ phân chia quyền lực giữa các cấp chính tuyền địa phương mà vấn đề nhân sự của các cấp chính quyền địa phương cũng sẽ khác nhau.Những nước theo mô hình hệ thống thứ bậc trong việc tổ chức chính quyền địa phương, vấn đề nhân sự của các cơ quan hành chính nhà nước tại các địa phương thường do cơ quan nhân sự chung quyết định.Những nước theo mô hình chính quyền địa phương tự qủan thì mức độ tự quyết về vấn đề nhân sự tuỳ thuộc vào mức độ quyề tự trị được trao. Một số nước nhân sự bầu cử do hội đồng bầu cử quyết định; trong khi đó, một số nước, kết quả bầu cử thường do cấp chính quyền cao hơn phê duyệt.Chính phủUỷ ban nhân dân tỉnhUỷ ban nhân dân huyệnUỷ ban nhân dân xãBan tổ chức cán bộ chính phủBan tổ chức chính quyền tỉnhBan tổ chức chính quyền huyệnBan tổ chức trung ươngBan tổ chức tỉnh ủyBan tổ chức huyện ủySự phân cấp quản lý trong hoạt động quản lý nhân sự giữa các cấp cơ quan hành chínhNgười lao động làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở nhiều nước được quản lý thống nhất. Trong khi đó ở một số nước, nhân sự làm việc cho các cơ quan hành chính trung ương được quản lý bằng những văn bản quy phạm pháp luật riêng; nhân sự làm việc tại các cấp chính quyền địa phương do địa phương quy định.Trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, cơ quan (bộ phận) quản lý nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của hệ thống đó.ví dụ: trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, cấp tỉnh có cơ quan quản lý nguồn nhân lực của tỉnh là Ban tổ chức chính quyền tỉnh. Các vấn đề nhân sự trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước do Ban nầy trực tiếp tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh để thực hiện. Bên cạnh đó, do thể chế chính trị ở nước ta, ở tỉnh còn có Ban tổ chức tỉnh uỷ, là cơ quan quản lý nhân sự chung nhất đối với tất cả những người lao đôïng làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nói riêng.Ơû cấp huyện cũng có cơ cấu tương tự. Phòng tổ chức chính quyền huyện có trách nhiệm quản lý những người lao động làm việc trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện. Phòng tổ chức huyện uỷ thực hiện chức năng quản lý nguồn nhân lực nói chung của cả hệ thống các cơ quan nhà nước trên địa bàn huyện.Nhân sự làm việc ở chính quyền địa phương cấp xã ở Việt nam có những nét đặc trưng riêng (vấn đề nầy được nghiên cứu riêng).Cấp xã không có tổ chức thực hiện quản lý nhân sự câùp xã. Đây cũng là một vấn đề quan tâm hiện chúng tôi thống kê, trung bình mỗi xã có khoảng 150 người hưởng các chế độ phụ cấp nhà nước. Họ không chính thức thuộc biên chế và không được xem như người của nhà nước (biên chế) nhưng trên thực tế có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước tại xã cũng như các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Nếu không quản lý (cả việc đào tạo, bồi dưỡng họ) thì sẽ hạn chế sự đóng góp của đội ngũ nầy).Mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nguồn nhân lực trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.Mối quan hệ giữa các cơ quan qủan lý nguồn nhân lực trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thiết lập trên cơ sở phân cấp hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong tổng thể nền chính. Mối quan hệ nầy có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau.Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nguồn nhân lực chung (trung ương) với các đơn vị quản lý nhân sự của các bộ, ngành và chính quyền địa phương. Mối quan hệ nầy được xác lập trên cơ sở phân cấp quản lý như đã nêu trên. Luật tổ chức Chính phủ quy định mối quan hệ nầy.Mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhân sự của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương. Đó là: mối quan hệ giữa Ban tổ chức cán bộ chính phủ với các Vụ tổ chức cán bộ của các Bộ , ngành ở trung ương.Mối quan hệ giữa ban tổ chức chính quyền tỉnh với các bộ phận (phòng tổ chức cán bộ) của các sở, ban ngành tại tỉnh.Mối quan hệ giữa Phòng tổ chức chính quyền huyện với các đơn vị thuộc huyện.Mối quan hệ của các bộ phận quản lý nhân sự với nhau trong sự hợp tác, trao đổi kinh nghiệm quản lý và có thể tạo cơ hội để thuyên chuyển công tác trong các bộ, ngành.Mối quan hệ giữa các đơn vị tản quyền trung ương với địa phương trong phát triển và khai thác, sử dụng nguồn nhân lực.Mối quan hệ giữa các cơ quan nhân sự của Đảng, các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội khác.Mối quan hệ giữa quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội – thừơng do một cơ quan quản lý hành chính nhà nước thực hiện ( Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội) với các cơ quan quản lý nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính khác.Đây là vấn đề cần được quan tâm. Quản lý nguồn lao động xã hội là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước. Đó là phương thức, cách thức tác động của nhà nước đến nguồn lao động xã hội nhằm làm cho nó phát triển phù hợp với đòi hỏi chung của xã hội về lao động. Luật pháp của các nước đều đưa ra những quy định về quản lý nhà nước nguồn lao động xã hội.Bộ Luật Lao động nước ta quy định: quản lý nhà nước về lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:Nắm cung cầu và sự biến động cung cầu lao động làm cơ sở để quyết định chính sách quốc gia, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bố và sử dụng lao động toàn xã hội;Ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật lao động;Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình quốc gia về việc làm, di dân xây dựng các vùng kinh tế mới; đưa người đi làm việc ở nước ngoài;Quyết định các chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, vệ sinh lao động và các chính sách khác về lao động xã hội; về xây dựng mối quan hệ lao động trong cac doanh nghiệp;Tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học vêø lao động, thống kê, thông tin về lao động và thị trường lao động, về mức sống, thu nhập của người lao động;Thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động và xử lý các vi phạm pháp luật lao động, giải quyết các tranh chấp lao động theo quy định của bộ luật nầy;Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với nước ngoài và tổ chức quốc tế trong lĩng vực lao động;Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước.Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về lao động đối với các ngành và các địa phương trong cả nước.Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình. Cơ quan lao động địa phương giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về lao động theo sự phân cấp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và Công đoàn các cấp tham gia giám sát việc quản lý Nhà nước về lao động theo quy định của pháp luật.Nhà nước tạo điều kiện cho người lao động sử dụng lao động được tham gia ý kiến với các cơ quan nhà nước về các vấn đề quản lý và sử dụng lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Tín Dụng Đối Với Các Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Fintech
  • Phát Triển Doanh Nghiệp Xã Hội Trong Cung Ứng Dịch Vụ Tài Chính Vi Mô Đáp Ứng Nhu Cầu Về Vốn Cho Hộ Gia Đình, Cá Nhân Và Doanh Nghiệp Siêu Nhỏ Ở Việt Nam
  • Bàn Về Các Chủ Thể Cung Cấp Dịch Vụ Tài Chính Vi Mô Ở Việt Nam
  • Phát Triển Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Chính Sách Bảo Hiểm Tiền Gửi
  • Tổ Chức Hoạt Động Tín Dụng Đối Với Các Tổ Chức Tài Chính Vi Mô Và Fintech Tại Việt Nam
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Là Gì? Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước
  • Chuyên Đề 1: Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Công Đoàn Bảo Vệ Người Lao Động Như Thế Nào?
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam
  • Cơ quan hành chính nhà nước – chủ thể quản lý hành chính nhà nước quan trọng nhất. Quản lý hành chính nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước.

    Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước quan trọng nhất là bởi vì:

    1. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chủ yếu được coi là chức năng của cơ quan hành chính nhà nước

    Trong bộ máy nhà nước, mỗi hệ thống cơ quan có chức năng khác nhau và chức năng của cơ quan hành chính nhà nước chính là chức năng quản lý hành chính nhà nước (thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành). Biểu hiện của tính chất chấp hành là mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật. Tính chất điều hành được thể hiện ở hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền để đảm bảo các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế.

    Để thực hiện chức năng này, cơ quan hành chính nhà nước tiến hành hoạt động quản lý trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, thông tin, thể tha, du lịch; quản lý nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường… thông qua các hình thức quản lí hành chính nhà nước như: ban hành văn bản quy phạm pháp luật; ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật; thực hiện những hoạt động khác mang tính chất pháp lý; áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp; thực hiện những tác động về nghiệp vụ – kỹ thuật.

    Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước khác nhau mang tính chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể như các Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc có chức năng quản lí hành chính nhà nước về những ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước như Chính phủ. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng chỉ thực hiện trong phạm vi nhất định, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như:

    Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của tòa án nhân dân, chức năng kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội… Và việc thực hiện hoạt động đó là nhằm hoàn thành chức năng quản lý hành chính nhà nước. Đồng thời thông qua hoạt động chấp hành – điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước sẽ đảm bảo việc thực hiện pháp luật trong thực tiễn.

    2. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước thường xuyên nhất

    Các quan hệ thuộc phạm vi quản lý hành chính nhà nước bao gồm ba nhóm cơ bản, cụ thể là:

    – Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

    – Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình.

    – Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định.

    Có thể nói nhóm quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước là nhóm các quan hệ quản lí phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành- điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Bởi vì đây là nhóm quan hệ diễn ra thường xuyên nhất trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

    Nhóm quan hệ thứ ba cũng không phải nhóm quan hệ chủ đạo mà chỉ phát sinh trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định. Như vậy có thể thấy rằng chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước một cách thường xuyên nhất.

    3. Các cơ quan hành chính nhà nước tham gia quản lý hành chính nhà nước với số lượng lớn

    Trong hệ thống các cơ quan của bộ máy nhà nước thì cơ quan hành chính nhà nước chiếm số lượng lớn nhất. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở theo Luật tổ chức Chính phủ năm 2001.

    Nếu căn cứ vào phạm vi lãnh thổ thì cơ quan hành chính nhà nước gồm có: Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương gồm Chính phủ thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên toàn bộ lãnh thổ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ thực hiện chức năng của ngành mà mình đảm nhiệm.

    Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương gồm ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực trong phạm vi địa giới hành chính nhất định của địa phương mình. Các cơ quan hành chính nhà nước này có mối liên hệ mật thiết, thống nhất, chặt chẽ với nhau khi tham gia vào các hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Giúp cơ quan hành chính thực hiện tốt chức năng của mình là đội ngũ cán bộ, công chức khá lớn trong khi các chủ thể khác chỉ có một hoặc một số tham gia quản lí hành chính

    4. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có đầy đủ quyền năng để thực hiện tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước

    + Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    + Ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật.

    + Thực hiện những hoạt động khác mang tính chất pháp lý.

    + Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp.

    + Thực hiện những tác động về nghiệp vụ – kỹ thuật.

    Trong số các hình thức trên thì những hình thức mang tính chất pháp lý như: ban hành văn bản quy phạm phá luật, ban hành văn bản áp dụng pháp luật và thực hiện những hoạt động khác mang tính chất pháp lý có vai trò quan trọng, là những hình thức quản lý hành chính nhà nước trực tiếp. Và không phải tất cả các chủ thể quản lý hành chính nhà nước đều có thể thực hiện bởi nó được pháp luật quy định rất cụ thể về chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục cũng như hiệu lực thi hành. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước, với những thẩm quyền được pháp luật quy định cụ thể mới có thể tiến hành tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước nêu trên đặc biệt là hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    Trong các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan hành chính nhà nước quy định những quy tắc chung trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước, xác định rõ thẩm quyền cũng như thủ tục tiến hành hoạt động của các chủ thể quản lý… Có rất nhiều văn bản như Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; Quyết định, chỉ thị của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Ủy ban nhân dân v.v…

    Thông qua việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cơ quan hành chính nhà nước không những tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để thực hiện chức năng của mình mà còn quy định thẩm quyền của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước khác. Đồng thời vai trò điều chỉnh của hoạt động chấp hành quyền lực nhà nước qua đó được thể hiện một cách tương đối đầy đủ và sáng tạo.

    Như vậy có thể thấy rằng phạm vi hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước và khả năng sử dụng nó nhằm điều chỉnh các mặt khác nhau của hoạt động chấp hành-điều hành là rất lớn. Và cần phải thấy rằng, trong giai đoạn hiện nay, cơ quan hành chính nhà nước ban hành một số lượng khổng lồ các văn bản quy phạm pháp luật để điều chính hầu hết các lĩnh vực, các mặt khác nhau của đời sống xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Nhà Quản Trị
  • Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Quản Trị
  • Các Chức Năng Quản Trị
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100