Chức Năng Của Pháp Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Giá Trị Của Pháp Luật Nhìn Dưới Góc Độ Xã Hội
  • Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Quận 1 Chức Năng Thời Gian Làm Việc
  • Phòng Y Tế Cấp Huyện: Bỏ Thì Thương, Vương Thì Tội
  • Chức Năng Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Là Gì?
  • Giới Thiệu Vị Trí Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Kinh Tế & Hạ Tầng Huyện Kon Plông
  • Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt tác động chủ yếu của pháp luật phản ánh bản chất giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật.

    Pháp luật có ba chức năng chủ yếu:

    Một là, chức năng điều chỉnh

    Chức năng điều chỉnh của pháp luật thể hiện vai trò và giá trị xã hội của pháp luật. Pháp luật được đặt ra nhằm hướng tới sự điều chỉnh các quan hệ xã hội. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội. Mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Như vậy pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội.

    Hai là, chức năng bảo vệ

    Chức năng bảo vệ là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn hành vi xâm phạm tính mạng sức khoẻ con người bị xử lý theo Luật hình sự, hnàh vi gây thiệt hại tài sản buộc phải bồi thường theo Luật dân sự.

    Ba là, chức năng giáo dục

    Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật. Việc giáo dục có thể được thực hiện thông qua tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể thông qua việc xử lý những cá nhân, tổ chức vi phạm (phạt những hành vi vi phạm giao thông, xét xử những người phạm tội hình sự,…).

    Xuất phát từ các vấn đề đã phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa pháp luật như sau: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Pháp Luật, Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam Hiện Nay
  • Chức Năng Của Phòng Nội Vụ Thuộc Ủy Ban Huyện?
  • Oppo F9 Chính Hãng 64Gb Ram 4Gb
  • Thay Màn Hình Oppo F9 Chuẩn Zin Với Giá Kịch Sàn Tại Tphcm
  • Đánh Giá Camera Kép Trên Oppo F9: Có Ngon Như Quảng Cáo?
  • Chức Năng Của Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • 【Havip】Bản Chất Của Pháp Luật Là Gì?
  • Cơ Cấu Tổ Chức, Biên Chế Của Báo Pháp Luật Việt Nam
  • Làm Rõ Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Lực Lượng Cảnh Sát Biển Việt Nam
  • Bản Chất Và Vai Trò Của Pháp Luật
  • Văn Bản Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Văn Bản Pháp Luật?
  • Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt hoạt động chủ yếu của pháp luật thể hiện bản chất giai cấp và ý nghĩa xã hội của pháp luật.

    Pháp luật có các chức năng sau:

    1) Thể hiện ý chí và bảo vệ quyền lợi của các chủ thể nắm quyền lực nhà nước. Các chủ thể nắm quyền lực nhà nước trong các giai đoạn lịch sử khác nhau có thể là giai cấp chủ nô, vua, quan và các tầng lớp quý tộc phong kiến, giai cấp tư sản hoặc tất cả các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội;

    2) Quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan nhà nước, các thiết chế chính trị – xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân và con người;

    3) Điều chỉnh các quan hệ trong xã hội nhằm thiết lập và duy trì một trật tự xã hội nhất định;

    4) Giáo dục các công dân và cá nhân trong xã hội.

    Khi thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập một trật tự xã hội nhất định, pháp luật có thể tác động lên ý thức của con người bằng các biện pháp khuyến khích các hành vi có ích cho xã hội (như quy định về việc tặng thưởng các danh hiệu cao quý), trừng phạt các hành vi vi phạm pháp luật (như quy định các hình phạt tiền, cấm cư trú, trục xuất, quản thúc, lao động cải tạo, phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình…) qua đó pháp luật giáo dục con người thành các công dân và cá nhân tốt cho xã hội. Như vậy, ngoài các chức năng đã trình bày trên, pháp luật còn có chức năng giáo dục con người.

    • Yêu cầu phản tố là gì ? Quy định về yêu cầu phản tố(09/11)
    • Yêu cầu của đương sự là gì ? Quy định về yêu cầu của đương sự(09/11)
    • Yếu tố nước ngoài là gì ? Quy định pháp luật về yếu tố nước ngoài ?(09/11)
    • Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là gì ?(09/11)
    • Ý thức pháp luật là gì ? Quy định về ý thức pháp luật(09/11)
    • Ý thức công dân là gì ? khái niệm ý thức công dân được hiểu thế nào ?(09/11)
    • Ý chí nhà nước là gì ? Khái niệm ý chí nhà nước hiểu thế nào cho đúng ?(09/11)
    • Xử phạt vi phạm hành chính là gì ? Quy định về xử phạt vi phạm hành chính(09/11)
    • Xử lý vi phạm pháp luật là gì ? Quy định về xử lý vi phạm pháp luật(09/11)
    • Xử lý vi phạm kỷ luật lao động là gì ? Quy định về xử lí vi phạm kỷ luật lao động(09/11)
    • Bộ máy nhà nước là gì ? Khái niệm về bộ máy nhà nước ?
    • Vi phạm pháp luật là gì ? Quy định về hành vi vi phạm pháp luật
    • Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội là gì ? Quy định về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Công Thương Theo Quy Định Pháp Luật
  • Đề Tài Phân Tích Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tiểu Luận Phân Tích Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Phân Tích Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chức Năng Của Pháp Luật Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Tiêu Chí Đánh Giá Tác Động Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • 3Pl Là Gì? 4Pl Là Gì? So Sánh Giữa 3Pl Và 4Pl
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 12
  • Học Bảng Tuần Hoàn Hóa Học Từ Phần Mềm Pl Table
  • Vai Trò Của Pháp Luật Trong Đời Sống Xã Hội
  • Đời sống xã hội ngày càng phát triển thì pháp luật ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng. Pháp luật được xem là phương tiện không thể thiếu để bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng.

    Chức năng của pháp luật là gì?

    Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt hoạt động chủ yếu của pháp luật thể hiện bản chất giai cấp và ý nghĩa xã hội của pháp luật.

    Pháp luật gồm có 03 chức năng cơ bản đó là: chức năng điều chỉnh, chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục. Ở mỗi chức năng thì lại được thể hiện một cách khác nhau. Trong đó:

    – Đối với chức năng điều chỉnh:

    Pháp luật thể hiện ý chí và bảo vệ quyền lợi của các chủ thể nắm quyền lực nhà nước. Các chủ thể nắm quyền lực nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau có thể là giai cấp chủ nô, vua, quan và các tầng lớp quý tộc phong kiến, giai cấp tư sản hoặc tất cả các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội.

    – Đối với chức năng bảo vệ pháp luật:

    Như tại phần mở đầu có đề cập, pháp luật bảo vệ các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh. Quan hệ xã hội trong thực tế thì rất nhiều và đa dạng do đó các hành vi xâm phạm quan hệ xã hội thường xảy ra. Khi đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tài pháp luật.

    – Đối với chức năng giáo dục của pháp luật:

    Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện qua sự tác động qua lại của pháp luật vào ý thức của con người, làm cho con người có những xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật. Việc giáo dục có thể được thực hiện thông qua hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể thông qua việc xử lý vi phạm từ những cá nhân, tổ chức vi phạm (phạt những hành vi vi phạm giao thông, xét xử những người phạm tội hình sự…).

    Những tác động của pháp luật đối với với xã hội

    Hiểu được khái niệm chức năng của pháp luật là gì? Chúng ta tiếp tục tìm hiểu về những tác động cuả pháp luật đối với đời sống xã hội, cụ thể như sau:

    – Pháp luật được xem là thước đo trong mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực. Pháp luật bảo đảm cho những chủ thể ngang quyền với nhau được thực hiện những nhu cầu về quyền lựa chọn hành vi và trách nhiệm của mình thông qua các phạm trù pháp lý.

    – Pháp luật là công cụ và là cơ sở để nhận thức xã hội. Xuất phát từ tính quy phạm của pháp luật đã hình thành và phát triển trong lịch sử, chúng ta có thể hình dung của các quan hệ xã hội của xã hội loài người từ khi phân chia thành giai cấp đến nay. Nó duy trì một trật tự xã hội mà trong đó các giai cấp và các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, đấu tranh với nhau cùng tồn tại, tạo tiền đề cần thiết cho sự phát triển xã hội.

    – Pháp luật khi được chính thức ban hành có giá trị và đăng tải thông tin, định hướng hành vi xã hội, tác động mạnh mẽ vào ý thức và tâm lý xã hội

    CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

    1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Với Nền Hành Chính Nhà Nước Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Hoạt Động Bài Tiết Nước Tiểu Lớp 3 Ke Hoach Bai Day Doc
  • Bài 11. Vệ Sinh Cơ Quan Bài Tiết Nước Tiểu
  • Tổng Quan Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Ngành Tư Pháp Theo Quy Định Pháp Luật Hiện Hành
  • Chức Năng Của Pháp Luật Và Các Kiểu Pháp Luật Trong Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Đặc Điểm Trong Ý Thức Pháp Luật Của Đội Ngũ Cán Bộ Cấp Cơ Sở Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Ý Thức Pháp Luật Của Người Dân Việt Nam
  • Ý Thức Pháp Luật Và Pháp Chế
  • Phương Pháp So Sánh Trong Luật So Sánh
  • Khoa Học Luật So Sánh
  • Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt tác động chủ yếu của pháp luật phản ánh bản chất giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật.

    Pháp luật có ba chức năng chủ yếu:

    Một là, chức năng điều chỉnh

    Chức năng điều chỉnh của pháp luật thể hiện vai trò và giá trị xã hội của pháp luật. Pháp luật được đặt ra nhằm hướng tới sự điều chỉnh các quan hệ xã hội. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội. Mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Như vậy pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội.

    Hai là, chức năng bảo vệ

    Chức năng bảo vệ là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn hành vi xâm phạm tính mạng sức khoẻ con người bị xử lý theo Luật hình sự, hnàh vi gây thiệt hại tài sản buộc phải bồi thường theo Luật dân sự.

    Ba là, chức năng giáo dục

    Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật. Việc giáo dục có thể được thực hiện thông qua tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể thông qua việc xử lý những cá nhân, tổ chức vi phạm (phạt những hành vi vi phạm giao thông, xét xử những người phạm tội hình sự,…).

    Xuất phát từ các vấn đề đã phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa pháp luật như sau: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có nhà nước.

    Kiểu pháp luật là hình thái pháp luật được xác định bởi tập hợp các dấu hiệu, đặc trưng cơ bản của pháp luật thể hiện bản chất giai cấp, điều kiện tồn tại và phát triển của pháp luật trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin xem xét lịch sử xã hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên của sự thay thế một hình thái kinh tế – xã hội khác. Mỗi một hình thái kinh tế – xã hội là một kiểu lịch sử của xã hội được thiết lập trên cơ sở của một phương thức sản xuất.

    Pháp luật là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng. Bản chất, nội dung của pháp luật suy cho cùng là do cơ sở kinh tế quyết định, vì vậy để phân loại các kiểu pháp luật đã tồn tại trong lịch sử cần dựa vào hai tiêu chuẩn:

    (1) Dựa trên cơ sở kinh tế nào và quan hệ sản xuất.

    (2) Là sự thể hiện ý chí của giai cấp và củng cố quyền lợi của giai cấp nào trong xã hội.

    Là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của một xã hội nhất định, tương ứng với các hình thái kinh tế – xã hội có giai cấp có các kiểu pháp luật sau đây:

    Kiểu pháp luật chủ nô;

    Kiểu pháp luật phong kiến;

    Kiểu pháp luật tư sản;

    Kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa.

    Trong số các kiểu pháp luật đã và đang tồn tại trong lịch sử xã hội loài người, kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa đang trên con đường hình thành và phát triển, thể hiện ý chí của đa số nhân dân lao động trong xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng và đảm bảo giá trị của con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Ôn Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật (Có Đáp Án)
  • Sự Điều Chỉnh Hành Vi Con Người Của Pháp Luật Mang Tính
  • Bàn Về Chức Năng Của Luật Hình Sự
  • Văn Bản Quy Phạm Là Nguồn Quan Trọng Nhất Của Pháp Luật Việt Nam
  • Thủ Tục Thay Đổi Người Đại Diện Theo Pháp Luật
  • Thẩm Quyền Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013 Và Luật Tổ Chức Chính Phủ 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Luật Hiến Pháp
  • Vai Trò Và Đặc Điểm Hoạt Động Của Đại Biểu Quốc Hội
  • Bài Giảng Luật Hiến Pháp Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Vị Trí, Chức Năng Của Tòa Án Nhân Dân Trong Hiến Pháp Năm 2013
  • Vị Trí Pháp Lý Của Quốc Hội Trong Mối Quan Hệ Với Chính Phủ, Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Và Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
  • Ngày đăng: 23/12/2017 03:17

    Thẩm quyền của một cơ quan nhà nước là một khái niệm mang tính hệ thống, bao gồm các nghĩa vụ (trước nhà nước) và các quyền (đối với các đối tượng quản lý) thực hiện các nhiệm vụ, chức năng, các vấn đề nhất định… và các quyền hạn cụ thể để thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung đó (như: quyền ban hành văn bản pháp luật, thực hiện các biện pháp cưỡng chế, các hoạt động mang tính tổ chức kỹ thuật…).

    So với Hiến pháp năm 1992, thẩm quyền của Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013 có một số điểm mới chủ yếu sau đây:

    1) Về đơn vị hành chính: bỏ quyền hạn quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vì quyền hạn này đã được Hiến pháp 2013 trao cho UBTVQH (khoản 8 Điều 74); thay vào đó, bổ sung quyền hạn trình UBTVQH quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh (khoản 4); ngoài ra bổ sung quyền hạn trình Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

    2) Bổ sung tại khoản 2 quyền hạn đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, UBTVQH quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này. Đây là quyền hạn đặc trưng để thực hiện quyền hành pháp.

    3) Bổ sung tại khoản 4 quyền hạn trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ. Trước đây quyền hạn này Hiến pháp 1992 trao cho Thủ tướng Chính phủ.

    Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 95 Hiến pháp 2013 đã quy định nguyên tắc “Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số”, nên mọi quyết định thuộc thẩm quyền của Chính phủ (được hiểu là “thẩm quyền chung của Chính phủ”), về nguyên tắc, đều được quyết định theo đa số trên phiên họp toàn thể của Chính phủ. Tuy nhiên, thực tế lại không phản ánh đúng quy định này. Chỉ đơn cử: để thực hiện quy định tại khoản 1, 6 Điều 96 Hiến pháp 2013 thì không chỉ Chính phủ (nói chung), bao gồm cả tập thể Chính phủ, Thủ tướng và mọi thành viên khác, mà cả hệ thống bộ máy hành chính, phải chung sức thực hiện.

    1. Đề nghị của Chính phủ về xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Quốc hội, UBTVQH; các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội, dự án pháp lệnh, nghị quyết trình UBTVQH.

    2. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội dài hạn và hàng năm; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương hằng năm; quyết toán ngân sách nhà nước.

    3. Tình hình kinh tế – xã hội hằng tháng, 06 tháng, cả năm và những nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

    4. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ; việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; việc thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thuộc Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

    5. Chương trình công tác của Chính phủ hằng năm; kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và việc thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ.

    7. Những vấn đề cần thiết khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. (Điều 4).

    2. Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ

    Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ được quy định tại Điều 98 Hiến pháp năm 2013:

    Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

    1. Lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật;

    2. Lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia;

    3. Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

    4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, UBND, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị UBTVQH bãi bỏ;

    5. Quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên;

    6. Thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

    Trong nội dung điều này có thể thấy đa phần là quyền hạn cụ thể (chữ in nghiêng), còn lại là các quyền và nghĩa vụ chung (chữ in đứng) và như vậy là phù hợp vì cá nhân Thủ tướng cần được trao quyền giải quyết những công việc có tính chất cấp bách và cụ thể, ngoài những quyền hạn đặc trưng cho vai trò của người đứng đầu Chính phủ. Quy định của Khoản 6 Điều này nhằm phát huy tính dân chủ, công khai, thắt chặt quan hệ giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Nhân dân, tuy nhiên, đáng tiếc việc thực hiện các quy định này trên thực tế không thật sự rõ ràng.

    Quy định của Hiến pháp năm 2013 cho thấy sự tăng cường vai trò của Thủ tướng Chính phủ. Hiến pháp bổ sung thêm cho Thủ tướng quyền quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên (khoản 5 Điều 98).

    Bên cạnh đó, Luật năm 2022 còn trao cho Thủ tướng Chính phủ “quyết định các vấn đề khi còn có ý kiến khác nhau giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ” (khoản 1 điểm c, Điều 28); “Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định giao quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong trường hợp khuyết Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định giao quyền Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong trường hợp khuyết Chủ tịch UBND cấp tỉnh” (khoản 5 Điều 28);

    Ngoài ra, Quy chế năm 2022 quy định: “Trong trường hợp xét thấy cần thiết do tính chất quan trọng, cấp bách của công việc, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh” (điểm e khoản 2, Điều 5). Quy định này xuất phát từ tính chất của vị trí, vai trò chỉ đạo, điều hành hoạt động hành chính, bảo đảm sự thông suốt, kịp thời trong hoạt động hành chính của Thủ tướng Chính phủ.

    Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, quy định về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013, Luật năm 2022 còn một số hạn chế sau đây:

    1) Hiến pháp năm 2013 không phân định rõ thẩm quyền chung của Chính phủ với thẩm quyền của tập thể Chính phủ, do đó, nếu đặt Điều 96 Hiến pháp 2013 bên cạnh Điều 98 (mà không so sánh nội dung), thì dường như thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ hoàn toàn độc lập với thẩm quyền chung của Chính phủ. Thực tế, như đã phân tích, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ chỉ là để thực hiện thẩm quyền chung của Chính phủ, cũng như thẩm quyền của tập thể Chính phủ, bộ trưởng (với tư cách thủ trưởng bộ), UBND…

    2) Khoản 2 Điều 5 Luật năm 2022 về “Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ” quy định: “Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ…”. Quy định như vậy vô hình chung đã xếp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vào một thiết chế có chung thẩm quyền. Trong khi đó, Chính phủ có “thẩm quyền chung” và có hình thức hoạt động quan trọng của tập thể Chính phủ (gọi là “thẩm quyền của tập thể Chính phủ”), còn Thủ tướng Chính phủ có “thẩm quyền riêng”.

    Đúng ra, mục đích của quy định nêu trên là nhằm phân định rõ thẩm quyền giữa hình thức hoạt động của tập thể Chính phủ với hình thức hoạt động của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, UBND… trong thực hiện thẩm quyền của Chính phủ nói chung, tức là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhánh hành pháp, của quản lý nhà nước. Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, cần sửa đổi khoản 2 Điều 5 Luật năm 2022 như sau: “Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa tập thể Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách là thủ trưởng bộ” (vì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách là thành viên Chính phủ thì không có thẩm quyền riêng của mình).

    3) Bên cạnh sự cần thiết khôi phục lại Điều 19 Luật năm 2001 về những vấn đề thuộc thẩm quyền chung của Chính phủ phải được bàn bạc tập thể và biểu quyết theo đa số trên phiên họp Chính phủ, một vấn đề quan trọng khác là, Luật năm 2022 cần bổ sung quy định về vai trò “lấp lỗ hổng về thẩm quyền” của Thủ tướng Chính phủ đó là: “Thủ tướng Chính phủ có quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, trừ những vấn đề phải được giải quyết trên phiên họp của Chính phủ theo Điều…”.

    Cần lưu ý rằng, các Phó Thủ tướng Chính phủ không có thẩm quyền “riêng”, mà chỉ là người giúp Thủ tướng Chính phủ, được Thủ tướng Chính phủ phân công phụ trách một số lĩnh vực công tác. Các bộ trưởng, với tư cách là thủ trưởng của bộ thì bộ trưởng có có thẩm quyền riêng, nhưng với tư cách là thành viên Chính phủ cũng không có thẩm quyền “riêng”. Nói cách khác, ngoài phiên họp của tập thể Chính phủ, thì gánh nặng thực hiện thẩm quyền của Chính phủ (nói chung) được trao cho Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ.

    Tóm lại, để phân định thẩm quyền hợp lý trong nhánh hành pháp, quản lý nhà nước, cần phải có các sửa đổi sau đây:

    Thứ nhất, quy định về thẩm quyền chung của Chính phủ (không nên ghi là “thẩm quyền của Chính phủ” vì dễ nhầm lẫn với bộ phận thẩm quyền chung của Chính phủ phải được bàn bạc tập thể và biểu quyết theo đa số), tức là chỉ thay đổi tên điều, không bàn về nội dung; điều này thực chất là quy định về tất cả những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của quyền hành pháp, quản lý nhà nước.

    Thứ ba, quy định về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, theo đó: “Thủ tướng Chính phủ có quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền chung của Chính phủ, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể Chính phủ”. Đồng thời, quy định Thủ tướng Chính phủ có quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của bộ trưởng, UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh nhưng chỉ trong trường hợp các chủ thể này không giải quyết được hay giải quyết không kịp thời, không đạt yêu cầu và sau đó báo cáo Chinh phủ trong phiên họp gần nhất.

    PGS, TS. Nguyễn Cửu Việt, Nguyên Giảng viên trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

    Vì Chính phủ vốn là một tập thể, do đó có thể lập luận rằng, “thẩm quyền của tập thể Chính phủ” chính là “thẩm quyền của Chính phủ”.

    Theo: nclp.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí , Vai Trò, Chức Năng Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013
  • Quốc Hội Là Cơ Quan Đại Biểu Cao Nhất Của Nhân Dân, Cơ Quan Quyền Lực Nhà Nước Cao Nhất Của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Trước Thềm Kỳ Họp Đại Hội Đồng Lhq: ‘việt Nam Được Đánh Giá Là Một Đối Tác Mạnh Của Lhq’
  • Câu Nào Sau Đây Sai Khi Nói Về Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc
  • Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc Kỷ Niệm Ngày Liên Hợp Quốc
  • Chức Năng Của Quốc Hội Theo Pháp Luật Hiện Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Nhân Tế Bào?
  • Ruột Thừa Nằm Ở Bên Nào? Chức Năng Của Ruột Thừa
  • Ruột Thừa Là Gì, Nằm Ở Đâu, Có Chức Năng Gì Trong Cơ Thể?
  • Vai Trò Của Ruột Thừa Trong Hệ Miễn Dịch Và Hệ Tiêu Hóa
  • Giải Đáp: Ruột Thừa Có Tác Dụng Gì? Khi Nào Nên Cắt Bỏ?
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 2 MÔN LUẬT HIẾN PHÁP Đề tài: Chức năng của Quốc hội theo pháp luật hiện hành. Sinh viên: NGUYỄN LÂM SƠN Lớp: KT32B – MSSV KT32B016 Hà nội, 28/10/2008 MỤC LỤC Trang PHÂN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 1 Quốc hội là cơ quan duy nhất có chức năng lập hiên, lập pháp. 1 Quốc hội có chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nươc 2 3. Quốc hội có chức năng quy định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước 2 4. Chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. 3 PHẦN KẾT LUẬN 3 Chức năng của Quốc hội theo pháp luật hiện hành. * * * PHẦN MỞ BÀI Trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội chiếm một vị trí đặc biệt. Theo hiến pháp năm 1992 tất cả quyền lực của nhà nước CHXHCN Việt nam đều thuộc về nhân dân (điều 2) nhưng nhân dân không thể trực tiếp, thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước nên phải bầu ra một cơ quan đại biểu để thay mặt mình sử dụng quyền lực nhà nước. Vì vậy các cơ quan này được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có những chức năng quan trọng sau: thứ nhât là chức năng lập hiến, lập pháp, thứ hai: chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, thứ ba: quy định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, thứ tư là thục hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. PHẦN NỘI DUNG 1. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp Sở dĩ Quốc hội có chức năng này là xuất phát từ vị trí tính chất của nó đó là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, vì vậy chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành hiến pháp và luật đó là những văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất, điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất của nước ta. Các quy phạm pháp luật khác do các cơ quan nhà nước khác ban hành không được trái với tinh thần và nội dung của hiến pháp và luật. Khác với ở một số nước tư bản có sự phân biệt giữa quốc hội lập hiến vâ quốc hội lập pháp và giữa chúng có sự độc lập với nhau còn ở nước ta quyền lập hiến và lập pháp đều thuộc về Quốc hội. Quốc hội có quyền làm hiến pháp thì cũng có quyền sửa đồi hiến pháp, Quốc hội có quyền làm luật thì cũng có quyền sửa đồi luật. Để đảm bảo cho hoạt động này của Quốc hội được tiến hành thuận lợi và có hiệu quả pháp luật đã quy định cụ thể các bước chuẩn bị và quy trình thực hiện. Khi nghiên cứu hai bản hiến pháp năm 1980 và năm 1992 về vấn đề Quốc hội ta có thể dễ dàng nhận thấy ở hiến pháp năm 1992 đã quy định Quốc hội có quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đây là điểm mới mà hiến pháp năm 1980 chưa quy định hiến pháp năm 1992 bổ sung quyền này nhằm đảm bảo chức năng lập pháp của Quốc hội có hiệu quả hơn. 2. Quốc hội có chức năng quyết định những vẫn đề quan trọng của đất nước. Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Quốc hội có quyền quyết định những mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội những vẫn đề ” quốc kế dân sinh” những vấn đề về đối nội đối ngoại và vấn đề quốc phòng an ninh của đất nước. Quốc hội quyết định những vẫn đề hệ trọng đối với vận mệnh của đất nước như quyết định vấn đề chiến tranh, hoà bình. Quy dịnh tình trạng khẩn cấp quy định những chính sách dân tộc , tôn giáo, phê chuẩn hoặc bái bỏ các điều ước quốc tế do chủ tịch nước trực tiếp ký, phê chuẩn hoặc bái bỏ các điều ước quốc tế khác hoặc gia nhập theo đề nghị của chủ tịch nước… 3. Quốc hội có chức năng quy định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Quốc hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương. Bộ máy từ trung ương đến dịa phương, từ các cơ quan quyền lực nhà nươc đến các cơ quan quản lý nhà nước, từ cơ quan xét xử đến cơ quan kiểm sát được tổ chức theo mô hình nào, nguyên tắc tổ chức hoạt động ra sao đều do quốc hội xem xét lựa chọn,quyết định tại kỳ họp của mình và được thể hiện trong hiến pháp, luật tổ chức quốc hội, luật tổ chức chính phủ, luật tổ chức toà án nhân dân, luật tổ chức vịên kiểm sát nhân dân, luật tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân. Ngoài việc quy định chung về luật tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Quốc hội còn bầu miễn nhiễm, bãi nhiễm các chức danh quan trọng của nhà nước như chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chánh án toà án nhân dân tối cao, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, phê chuẩn đề nghị của chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiễm, cách chức các chức danh khác như bộ trưởng… Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ của chính phủ, thành lập mới, nhập chia, điều chỉnh địa giới hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành lập,giải tán các đơn vị hành chinh – kinh tế đặc biệt. 4. Chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. Theo chức năng nhiệm vụ của mình giám sát việc thực hiện hiến pháp và pháp luật do nhiều cơ quan nhà nước tiến hành như hội đồng nhân dân, viện kiểm sát nhân dân…nhưng sự giám sát của quốc hôi là sự giám sát cao nhất( giám sát tối cao). Quốc hội thực hiện chức năng này nhằm đảm bảo cho những quy định của hiển pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm minh và thống nhất. Quốc hội giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước ta hoạt động một cách nhịp nhàng, có hiệu quả không chồng chéo,chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, hách dịch cửa quyền. Quốc hội thực hiện chức năng giám sát thông qua việc xem xét báo cáo của chính phủ, toà án nhân dân tối cao, viên kiểm sát nhân đân tối cao; thông qua hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội và hoạt động của bản thân các đại biểu Quốc hội, đặc biệt là hoạt động chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội. KẾT LUẬN Như vậy qua sự phân tích về chức năng của Quốc hội như trên ta thấy Quốc hội là một cơ quan quyền lực nhà nược cao nhất mang chủ quyền nhà nước và chủ quỳên nhân dân. Mọi quyền lực nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội. Mọi công việc quan trọng của đất nước và của nhân dân có ý nghĩa toàn quốc đều do Quốc hội quyết định. Tuy nhiên để thực hiện được thật tốt các chức năng này và thực sự là một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất theo đúng nghĩa của nó và để tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì quốc hội phải có “thực chất” và “thực quyền”./. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Hiến pháp năm 1992. Luật tổ chức Quốc hội 2001. Luật về hoạt động giám sát của Quốc hôi. Quy chế hoạt động của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội. Chương XII – Quốc hội, Giáo trình luật híên pháp Việt nam, trường đại học Luật Hà nội, 2008. Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội, Nxb. CTQG, Hà nội, 2004. Mạng Internet.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Quốc Hội Theo Hiến Pháp 2013 Và Một Số Kiến Nghị Bảo Đảm Thực Hiện
  • Quốc Hội Có Những Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Gì?
  • Giải Bài Tập Tin Học 12
  • Thực Hiện Các Chức Năng Của Công Đoàn Khi Việt Nam Gia Nhập Cptpp
  • Nhiệm Vụ Của Công Đoàn Là Gì?
  • Căn Cứ Luật Tổ Chức Chính Quyền Đp Hay Luật Tổ Chức Hđnd

    --- Bài mới hơn ---

  • “ban Cán Sự Đảng Ubnd Tỉnh Tập Trung Dân Chủ, Kiên Quyết Trong Lãnh Đạo, Chỉ Đạo Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị”
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Lập Hồ Sơ Và Nộp Lưu Trữ Ubnd Cấp Quận Của Thành Phố Hà Nội
  • Quyết Định Của Ubnd Thành Phố Cần Thơ Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn
  • Quy Chế Làm Việc Của Văn Phòng Tỉnh Ủy
  • Văn Phòng Tỉnh Ủy Bình Dương
  • Thứ năm – 21/04/2016 07:59

    (Chinhphu.vn) – Kể từ ngày 1/1/2016, đối với văn bản của UBND và Chủ tịch UBND các cấp tại phần căn cứ pháp lý viện dẫn Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2022 làm cơ sở ban hành văn bản.

    Theo phản ánh của ông Đồng Văn Nam (Hải Phòng), kể từ ngày 1/1/2016, Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực thi hành và Luật Tổ chức HĐND và UBND hết hiệu lực. Điều 142 Luật Tổ chức chính quyền địa phương có quy định: “Uỷ ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân số 11/2003/QH11, Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cho đến khi bầu ra chính quyền địa phương ở huyện, quận, phường theo quy định của Luật này”.

    Ông Nam đề nghị giải đáp, TP. Hải Phòng là địa phương thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, vậy từ ngày 1/1/2016, khi UBND quận, phường ban hành các quyết định hành chính thì phần căn cứ ban hành ghi căn cứ theo Luật Tổ chức HĐND và UBND hay Luật Tổ chức chính quyền địa phương?

    Về vấn đề này, Bộ Nội vụ trả lời như sau:

    Ngày 19/6/2015, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Theo đó, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016 và bãi bỏ Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.

    Điều 142 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2022 có quy định tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND các cấp theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 cho đến khi bầu ra HĐND nhiệm kỳ 2022-2021.

    Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, kể từ ngày 1/1/2016, các văn bản của UBND và Chủ tịch UBND các cấp tại phần căn cứ pháp lý viện dẫn Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2022 làm cơ sở ban hành văn bản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Quả 3 Năm Triển Khai Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Một Số Điểm Mới Của Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Cổng Điện Tử Xã Bình Hải
  • Trách Nhiệm Của Ubnd Các Cấp Trong Hoạt Động Phòng Cháy Và Chữa Cháy
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Ủy Ban Nhân Dân Các Cấp Ở Nông Thôn
  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Luật Sư Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Vị Trí Vai Trò Và Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập 1)
  • Chức Năng Xã Hội Của Công Chứng Viên
  • Công Chứng Viên Là Gì? Những Điều Nên Biết Về Công Chứng Viên
  • Khẳng Định Vị Thế, Vai Trò Của Công Chứng Viên
  • Chức năng xã hội của Luật sư trong hoạt động tố tụng chính là thiên chức và sứ mệnh của Luật sư trong việc khẳng định những giá trị cơ bản làm nền tảng cho sự phát triển của xã hội. Chức năng này không phải tự nhiên mà có, bởi lẽ về bản chất, hoạt động hành nghề Luật sư trước hết phản ánh nhu cầu của các chủ thể về trợ giúp pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    Qua quá trình phát triển của nghề Luật sư, điều dễ nhận thấy là nghề Luật sư được hình thành từ cuộc đấu tranh chống áp bức, bất công xã hội. Chính từ hành động chống lại những bất công trong xã hội có giai cấp mà hình ảnh Luật sư xuất hiện như sự hiện diện của một đấng cứu thế, phản ánh ước vọng khát khao của các tầng lớp nhân dân về công bằng, dân chủ. Do đó, hoạt động của Luật sư không thể tách rời với các điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và mô hình tố tụng hình sự của mỗi quốc gia. Từ đó có thể thấy, các quan hệ pháp luật điều chỉnh chính là những tiền đề để nghề Luật sư tồn tại và phát triển.

    Chức năng xã hội được quy định tại Điều của Luật Luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012 như sau:

    Điều 3. Chức năng xã hội của luật sư [3]

    Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.”

    Vì vậy, chức năng xã hội của Luật sư được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng nhu cầu pháp lý của các chủ thể trong xã hội một cách minh bạch, giúp những chủ thể này nhận biết chân thực và chính xác các nhu cầu chính đáng của mình. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với Luật sư khi tham gia tố tụng là phải tuân thủ pháp luật, có kỹ năng, kỷ luật, có trình độ chuyên môn, tận tâm với khách hàng và còn phải là người có tấm lòng yêu thương con người, một lòng vì chính nghĩa, tin tưởng vào công bằng xã hội. Khi tham gia tố tụng, Luật sư được xem như người soi đường chỉ lối giúp phân định tính đúng sai trong xử sự của chủ thể nhằm đáp ứng mục tiêu phân xử công bằng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Với định hướng, xây dựng phát triển Việt Nam trở thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thông qua Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW chính là điều khẳng định nghề Luật sư trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay như một đòi hỏi tự thân của nền công lý và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Khi nói tới chức năng xã hội của Luật sư nói chung và hoạt động tư pháp nói riêng, cần đặt vị trí Luật sư trong các mối quan hệ chi phối đến hoạt động nghề nghiệp và xem xét các yếu tố này trong tổng thể các giá trị của sự phát triển dân chủ, quan niệm về sự công bằng, văn minh cũng như các thành tố khác tạo nên xã một xã hội dân chủ. Hoạt động của Luật sư trong tố tụng thời gian qua đã góp phần mang đến cho xã hội nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng những giá trị dân chủ, thông qua sự bình đẳng trong tranh tụng, đề xuất yêu cầu, đại diện hoặc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

    Chức năng xã hội của Luật sư còn được thể hiện thông qua hoạt động hành nghề trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng chính sách, công dân nơi vùng xa, vùng sâu, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn hay hoạt động trợ giúp pháp lý theo chỉ định của cơ quan tố tụng.

    Như vậy, có thể khẳng định yếu tố tín nhiệm đối với nghề Luật sư luôn là điều kiện tiên quyết, đòi hỏi quá trình phấn đấu không ngừng trong tiến trình hoạt động hành nghề. Luật sư luôn phải ý thức được trách nhiệm xã hội của nghề nghiệp, luôn đảm bảo lấy việc phụng sự công lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng làm tôn chỉ thực hiện hoạt động nghề nghiệp, thực hiện trên cơ sở pháp luật, lấy uy tín làm gốc. Đây chính là yêu cầu nội tại, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình và hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ Luật sư.

    nguồn chúng tôi

    ” Luật Luật sư 2006 sửa đổi 2012

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư Trong Hoạt Động Tố Tụng
  • Chức Năng Xã Hội Của Luật Sư ( Tập1)
  • Chức Năng Của Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã Được Giao Giám Sát Người Hưởng Án Treo
  • Làm Sao Để Nhận Biết Thực Phẩm Chức Năng Thật
  • Top Thực Phẩm Chức Năng Mỹ Được Ưa Chuộng Hàng Đầu
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ,quyền Hạn Của Ubnd Xã
  • Tìm Kiếm Và Thay Thế Trong Microsoft Word
  • Usb Type C Là Gì? Có Giúp Sạc Và Truyền Dữ Liệu Nhanh Hơn Không?
  • Các Cổng Kết Nối Trên Điện Thoại
  • Usb Wifi Là Gì? Chức Năng Của Usb Wifi Có Gì Đặc Biệt?
  • 48973

    Chức năng của mỗi bộ môn khoa học được phản ánh một cách phong phú ở mối quan hệ và sự tác động qua lại của chính môn khoa học ấy với hoạt động thực tiễn xã hội. Người ta căn cứ vào nhu cầu của xã hội trong sự nhận thức và tác động đến thực tiễn xã hội để xác định chức năng của một môn khoa học. Chức năng của xã hội học pháp luật được quy định bởi nhu cầu phát triển trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và con người. Chức năng của xã hội học pháp luật bao gồm:

    Chức năng nhận thức

    Chức năng nhận thức của xã hội học pháp luật trước hết thể hiện ở chỗ, Xã hội học pháp luật trang bị cho người nghiên cứu môn học cách thức tiếp cận nghiên cứu các quy luật và tính quy luật của quá trình phát sinh, hoạt động và phát triển của pháp luật bằng trí thức xã hội học có việc nghiên cứu hệ thống các khái niệm, lý thuyết và phương pháp của môn học. Trong khi chỉ ra những quy luật khách quan của sự kiện, hiện tượng pháp luật, xã hội học pháp luật đã tạo ra những tiền đề để nhận thức triển vọng phát triển cao hơn của sự kiện, hiện tượng được nghiên cứu cũng như các mặt, các lĩnh vực sinh nhật của nó.

    Hoạt động điều tra, khảo sát xã hội học pháp luật cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp cho việc nhận thức một cách khách quan, Toàn diện, đầy đủ và chính xác về nguồn gốc, bản chất của pháp luật; thực trạng của hệ thống pháp luật; về trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của giai cấp, các tầng lớp xã hội; về tình hình vi phạm pháp luật ở từng thời điểm, từng khu vực địa lý nhất định.

    Nghiên cứu xã hội học pháp luật nhằm làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến các hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, hậu quả của hành vi sai lệch giúp cho các cá nhân, nhóm xã hội nhận thức đầy đủ hơn vị thế, vai trò của mình, từ đó có thái độ, hành vi phù hợp với các quy định chuẩn mực pháp luật, phát huy tính tích cực xã hội, hạn chế hành vi sai lệch.

    Xã hội học pháp luật còn là cơ sở phát triển tư duy khoa học, tạo điều kiện hình thành thói quen suy xét mọi hiện tượng xã hội và quá trình phức tạp trên cơ sở thực nghiệm khoa học. Đặc biệt, xem luyện kỹ năng cho các chủ thể có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước tác phong nắm bắt kịp thời thông tin, cụ thể, sâu sắc về các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống và xu hướng biến đổi của các quan hệ xã hội, chỉ ban hành pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật khi có đầy đủ thông tin và những luận chứng khoa học về nó.

    Chức năng thực tiễn của xã hội học pháp luật có quan hệ mật thiết với chức năng nhận thức. Việc nghiên cứu xã hội học pháp luật không chỉ đơn thuần là vận dụng vào nhận thức hiện thực các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong thực tiễn mà quan trọng là đưa ra các giải pháp đúng đắn, Kịp thời kiểm soát các sự kiện, hiện tượng đó. Sự phong phú, đa dạng của xã hội học pháp luật cả ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, c ca ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, các của các văn bản pháp luật, của các văn bản pháp luật.

    Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, xã hội học pháp luật cùng cố và xây dựng những luận cứ khoa học giúp cho đảng và nhà nước hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn, kịp thời phù hợp với tình hình phát triển xã hội ở từng giai đoạn cụ thể. Quá trình xây dựng pháp luật đòi hỏi phải nghiên cứu sâu sắc thực tiễn xã hội, các quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội; đặc điểm dân cư, nhu cầu của các tầng lớp, các nhóm nghề nghiệp; dân tộc, giới tính, trình độ học vấn. Thông tin từ các cuộc khảo sát xã hội học sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp. Các cuộc khảo sát xã hội học pháp luật trên thế giới cho thấy, nhân tố chính làm giảm hiệu quả của pháp luật không phải là do sự thiếu vắng các cơ chế thực hiện pháp luật mà do sự không tương thích của pháp luật với những đòi hỏi khách quan trong việc điều tiết các lợi ích của xã hội. Sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân vào công việc xây dựng pháp luật sẽ đảm bảo được đầy đủ và toàn diện lợi ích, Ý nguyện của nhân dân và sẽ tạo điều kiện để đảm bảo thực hiện pháp luật nghiêm minh và có hiệu quả sau này. Thực tế đã cho thấy, các đề xuất về pháp luật như nâng giá điện, thu phí đối với xe mang biển xuống máy tính và Hà Nội, quy định vòng ngực, cân nặng đối với người tham gia giao thông hãy đề xuất xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam… gặp phải sự phản đối gay gắt của dư luận do không phù hợp với lợi ích của đông đảo người dân.

    Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật về những mặt, khía cạnh của đời sống pháp luật cung cấp những thông tin được phản ánh từ cơ sở thực tiễn đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giúp họ cập nhật thường xuyên những thông tin cần thiết, kịp thời phát hiện được những mâu thuẫn, xung đột hay những sai lệch từ đó tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật.

    Chức năng dự báo

    – Trên cơ sở kết quả khảo sát thu thập thông tin, xử lý thông tin, các nhà xã hội học pháp luật phân tích tính logic, tính khách quan, nhận diện các sự kiện, hiện tượng pháp luật trong quá khứ và hiện tại, từ đó đưa ra các dự báo khoa học để làm sáng tỏ triển vọng phát triển xa hơn của những sự kiện, hiện tượng pháp luật trong tương lai.

    – Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, xã hội học pháp luật thu thập thông tin định tính, định lượng đánh giá dự báo tác động pháp luật giúp các chủ thể có thẩm quyền nhận biết những khả năng có thể xảy ra khi văn bản pháp luật được ban hành. Đặc biệt là đối với các dự thảo, dự án luật, các nghiên cứu của xã hội học pháp luật sẽ làm sáng tỏ các điều kiện cụ thể mà ở đó các văn bản pháp luật đang được dự thảo hoặc sắp ban hành. Từ việc đánh giá tác động pháp luật đối với thực tiễn xã hội, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra phương án, các giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật, chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

    – Dựa vào kết quả đánh giá thực trạng và ý thức pháp luật của các nhóm xã hội, về hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, tội phạm và hiệu quả của các biện pháp đấu tranh phòng, chống hành vi sai lệch, tìm ra nguyên nhân để đưa ra những dự báo về diễn biến tình hình vi phạm pháp luật và phạm tội trong tương lai, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các biện pháp hạn chế hành vi sai lệch và tội phạm.

    Chức năng dự báo của xã hội học pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật. Việc hiểu biết sự kiện hiện tại và xu hướng phát triển đó trong tương lai là yếu tố cần thiết giúp cho các cơ quan nhà nước thông qua các quyết định một cách đúng đắn. Lựa chọn một giải pháp tôi yêu khánh liền với việc nhận thức đúng đắn những hậu quả pháp lý và xã hội của việc ban hành quy định đó, cũng như môi trường mà ở đó quyết định được ban hành sẽ được thực hiện trong tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Chứng Viên Và Tiêu Chuẩn Công Chứng Viên Theo Quy Định Hiện Nay
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Chứng Viên Theo Quy Định
  • Công Chứng Viên Với Vai Trò Là Bổ Trợ Viên Tư Pháp
  • Đề Cương Giới Thiệu Luật Công Chứng Năm 2014
  • Để Công Chứng Viên Xứng Đáng Là “người Gác Cổng”…
  • Chức Năng Của Tài Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Một Giám Đốc Tài Chính?
  • Giám Đốc Tài Chính Cfo Là Gì? Vai Trò, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cfo
  • Giám Đốc Tài Chính Là Ai? Tất Cả Cần Thiết
  • Mô Tả Công Việc Vị Trí Giám Đốc Tài Chính
  • Giám Đốc Điều Hành Và Tổng Giám Đốc
  • Kết quả

    Chức Năng Của Tài Chính:

    Chức năng của tài chính là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính, nó mở ra nội dung của tài chính và vạch rõ tác dụng xã hội của tài chính. Chức năng của tài chính là khả năng bên trong, biểu lộ tác dụng xã hội của nó và tác dụng đó chỉ có thể có được với sự tham gia nhất thiết của con người.

    Tài chính vốn có hai chức năng cơ bản, chức năng phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới dạng hình thái tiền tệ và chức năng giám đốc bằng tiền đối với toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội (gọi tắt là chức năng giám đốc).

    1. Chức năng phân phối

    Phân phối của cải xã hội, trải qua quá trình phân phối lần đầu và nhiều lần phân phối lại.

    – Phân phối lần đầu là phân phối tiến hành trong lĩnh vực sản xuất vật chất, hình thành nên quỹ bù đắp tư liệu sản xuất, những khoản thu nhập ban đầu cho người lao động và thu nhập thuần tuý của xã hội (thu nhập thuần tuý của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, dân cư và thu nhập thuần tuý tập trung của Nhà nước).

    Trong các tổ chức kinh tế, sản phẩm làm ra sau khi tiêu thụ và thu được tiền, được tiến hành phân phối. Một phần được sử dụng để bù đắp vốn cố định và vốn lưu động đã tiêu hao. Một phần trả lương cho người lao động. Một phần nộp cho Nhà nước dưới hình thức các loại thuế. Một phần nộp quỹ bảo hiểm xã hội. Phần còn lại để hình thành nên các quỹ của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và phân chia lợi tức cho người góp vốn.

    Phân phối lần đầu, mới chỉ tạo ra những khoản thu nhập cơ bản, chưa thể đáp ứng nhu cầu của xã hội. Do đó phải trải qua quá trình phân phối lại.

    Phân phối lại thu nhập là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản được hình thành qua phân phối lần đầu, để đáp ứng nhu cầu tích luỹ và tiêu dùng của toàn xã hội (các ngành không sản xuất: Quân đội, Giáo dục, Y tế…).

    Mục đích của phân phối lại là:

    . Bổ sung thêm vào Ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho toàn xã hội.

    . Tạo ra nguồn thu nhập cho các lĩnh vực không sản xuất vật chất và những người làm việc trong các lĩnh vực đó.

    . Điều hoà thu nhập giữa các ngành, giữa các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư.

    . Điều tiết các hoạt động kinh tế trên phạm vi vĩ mô.

    Phân phối lại được tiến hành thông qua ba biện pháp: Biện pháp tài chính – tín dụng, biện pháp giá cả và hoạt động phục vụ. Trong đó, biện pháp tài chính – tín dụng giữa vai trò trunng tâm.

    2. Chức năng giám đốc

    Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình phân phối của cải xã hội thành các quỹ tiền tệ và sử dụng chúng theo các mục đích đã định.

    Như vậy, đối tượng giám đốc của tài chính là quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thái tiền tệ – quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung theo các mục tiêu đã định.

    Cùng với việc xác định đối tượng, cần thiết phải chỉ ra những đặc điểm của giám đốc tài chính.

    – Thứ nhất: Giám đốc của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua sử dụng chức năng thước đo giá trị và chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ trong vận động của tiền vốn để tiến hành giám đốc.

    – Thứ hai: Giám đốc bằng tiền của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính – các chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ các hoạt động của xã hội và của các doanh nghiệp.

    – Thứ ba: Giám đốc bằng tiền của tài chính còn được thực hiện đối với sự vận động của tài nguyên trong xã hội.

    Thực hiện chức năng giám đốc, tài chính nhằm mục đích sau:

    – Bảo đảm cho các cơ sở kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế phát triển theo những mục tiêu định hướng của Nhà nước.

    – Đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm môt cách có hiệu quả, tiết kiệm tới mức tối đa các yếu tố sản xuất trong xã hội.

    – Bảo đảm sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.

    – Bảo đảm việc chấp hành pháp luật trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Nội dung Giám đốc tài chính, gồm có những nội dung chính sau:

    – Giám đốc tài chính trong quá trình thành lập và thực hiện kế hoạch Ngân sách Nhà nước.

    – Giám đốc tài chính trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế và hợp đồng kinh tế.

    – Giám đốc tài chính trong quá trình cấp phát, cho vay và thanh toán vốn đầu tư XDCB.

    Ngoài ra, Giám đốc tài chính còn được thực hiện trong các hộ kinh tế dân cư.

    Giám đốc tài chính dù thực hiện ở đâu, cũng đều là sự giám đốc toàn diện mặt giá trị đối với quá trình hình thành phân phối và sử dụng các nguồn vốn trong quá trình hoạt động của từng khâu và trong toàn xã hội.

    Hai chức năng của tài chính có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau, trong đó việc thực hiện chức năng phân phối là tiền đề để thực hiện chức năng giám đốc, và ngược lại việc thực hiện tốt chức năng giám đốc sẽ tạo điều kiện để thực hiện chức năng phân phối tốt hơn.

    Trên cơ sở nhận thức được bản chất, chức năng của tài chính, hoạt động của tài chính mới phát huy được vai trò của nó trong nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gia Đình Việt Nam Trong Cơn Bão Của Thời Đại
  • Chức Năng Gan Bảo Nguyên
  • Co So Tu Nhien Cua Tam Li
  • Cơ Sở Xã Hội Của Tâm Lý Con Người
  • Chuyên Đề Giáo Dục Hoà Nhập
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100