Top 15 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Chính Của Gân Lá / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Gân Lá Là Gì? Có Những Loại Nào, Chức Năng, Tác Dụng / 2023

GÂN LÁ LÀ GÌ?

Giống như bộ xương sống của con người, gân lá cũng đóng vai trò là khung xương với cấu tạo tương tự như cuống là có tác dụng giúp nâng đỡ cho phiến lá.

Có nhiều kiểu gân lá thường gặp trong tự nhiên như: gân song song, gân lông chim, gân chân vịt, gân hình cung, gân tỏa tròn… Mỗi một loại sẽ có hình dạng khác nhau, cụ thể sẽ được trình bày ở phần tiếp sau đây.

CÁC KIỂU GÂN LÁ

Thế giới thực vật rất đa dạng gồm có vô vàn loài cây khác nhau. Mỗi loại cây sẽ có những đặc trưng riêng. Lá cây cũng đa dạng không kém. Lá cây gồm 2 loại gân là gân chính và gân phụ. Trong đó gân chính thì gồm có những loại với đặc điểm riêng như sau:

Gân lá hình cung

Gân lá hình cung thường gặp ở các cây một lá mầm là loại gân lá đặc trưng cho một số loài thực vật như quế, mã đề hay địa liền… Gân lá sẽ chạy dọc theo phiến lá, cong cong và chụm về phía đầu và cuống lá.

Trong tự nhiên, không khó để bắt gặp các loại cây có loại gân lá như thế này.

Gân song song

Lá có gân song song thường là phiến lá của các loài cây một lá mầm. Các gân chính của lá thường có độ dài và lớn như nhau, chạy song song dọc theo phiến lá từ cuống lá cho đến ngọn phiến, các gân chính này có thể được nối với nhau bằng những gân khác mảnh và nhỏ hơn.

Ở loại gân lá này, các bó mạch hầu như không lộ ra ngoài. Các cây có gân song song thường có phiến lá dài còn các cây có gân hình cung thì phiến lá sẽ tròn và ngắn hơn.

Đây là loại gân lá đặc trưng cho các cây thuốc họ lúa, lớp hành…

Trong một vài trường hợp cụ thể, gân hình cung còn được coi là một loại của gân song song (ví dụ như cây Mã đề)

Gân lá hình mạng

Đây là kiểu gân lá thường gặp ở các loại cây hai lá mầm. Các gân lá ở loại này có kích thước to nhỏ khác nhau, tạo thành một mạng lưới liên kết với nhau và phân nhánh rõ ràng. Ở lá có kiểu gân này, các gân lớn sẽ nổi lên ở mặt sau và các gân nhỏ hơn hầu như sẽ chìm ở mô của diệp lục của lá. Gân lá hình mạng bao gồm ba loại lá gân chân vịt, gân lông chim và gân lá hình lọng. Kiểu phân loại này sẽ dựa trên gân chính của phiến lá. Gân lá kiểu lông chim được xem là gân lá khởi sinh của loại gân hình mạng này.

Gân chân vịt

Lá có gân chân vịt thường có nhiều thùy. Số thùy của lá sẽ tương ứng với số gân chính trong lá. Những gân chính sẽ có kích thước gần như nhau, cùng xuất phát từ cuống lá và tỏa ra đi về phía các thùy riêng giống như chân vịt nên được gọi là gân chân vịt.

Kiểu gân lá này thường gặp ở các loại cây như sắn, khoai mì, đu đủ…

Gân lông chim

Các loại cây có gân lá hình lông chim thường có phiến lá thuôn hình tròn, hình quả trám, hình trứng hoặc bầu dục. Gân chính lớn nhất của lá sẽ nằm trên trục đối xứng, các gân phụ sẽ phân nhánh từ gân ra hai bên, trên mỗi gân phụ này lại tiếp tục phân nhánh đến từng tế bào lá một. Các gân phụ hai bên có thể song song, so le nhau hoặc đối nhau từng cặp một tùy loài.

Kiểu gân lá này thường gặp ở lá đài, lá mít và nhiều loại cây khác trong tự nhiên.

Gân lá hình lọng

Đây là kiểu gân lá khá đặc biệt do cuống lá gắn chính giữa phiến chứ không phải ở đầu phiến lá như hầu hết các loại cây khác. Gân lá sẽ đi từ cuống lá và tỏa tròn ra các bên nên kiểu gân lá này còn được gọi là gân lá tỏa tròn.

Kiểu gân lá này thường gặp ở các loài như lá sen, lá súng, lá khoai…

Các loại gân lá khác

Ngoài những loại gân lá kể trên, trong tự nhiên chúng ta còn có thể bắt gặp những kiểu gân lá đặc biệt khác như gân lá hình quạt hoặc loại lá chỉ có một gân duy nhất. Tuy nhiên, tần suất gặp các loại gân lá này sẽ ít hơn những loại khác.

Gân lá hình quạt có thể thấy ở các loại cây như cây rẻ quạt hoặc cây cọ

Cây chỉ có một gân duy nhất như lá thông.

CHỨC NĂNG CHÍNH CỦA GÂN LÁ

Gân lá cũng có chức năng nhất định trong quá trình sinh dưỡng của các loại cây. Trong gân lá sẽ gồm các bó mạch chứa mạch gỗ và mạch rây

Giống như con người, gân lá đóng vai trò như một khung xương sống có chức năng nâng đỡ và bảo vệ phiến lá. Đồng thời, nhờ hệ thống các bó mạch trong gân lá nên gân lá có chức năng vận chuyển và dẫn truyền các chất dinh dưỡng chất hữu cơ, sản phẩm quang hợp hô hấp và nhiều nguyên liệu khác nữa.

Cấu Trúc Và Chức Năng Của Lá Lách / 2023

Lách phủ màng huyết thanh, theo đó có vỏ xơ. Từ bên trong vỏ bọc sợi của xà lách khởi hành ( trabeculae). Các không gian giữa được điền với màu trắng và trabeculae bột giấy đỏ. Tủy trắng của lách Nó là một bộ sưu tập các mô bạch huyết, bố trí xung quanh động mạch trung ương ( Nang bạch huyết của lá lách).

Nang bạch huyết của lách phân biệt vùng periarterial, lớp manti và cạnh, hoặc biên, khu vực.

Khu vực Periarterialynaya Nó chiếm một phần nhỏ của nang xung quanh tiểu động mạch. Về chức năng, nó là chất tương tự okolokorkovomu hạch bạch huyết, và bao gồm T-lymphocytes và các tế bào interdigitiruyuschih, quá trình đó được tiếp xúc với các tế bào lympho T-. Vai trò interdigitiruyuschih tế bào là, chúng hấp thụ các kháng nguyên và kích thích sự phát triển và chuyển đổi blast của T-lymphocytes.

Lớp Mantle Nó bao gồm một nhỏ T- và B-lymphocytes, mà hình thành một loại vương miện, tẩy sợi lưới tròn đạo. Người ta tin, rằng khu này đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng miễn dịch dịch thể.

Nuôi Center nang giống hệt nhau cùng hạch nang. Nó bao gồm phát triển hạt nhân B-lymphoblasts, các tế bào lưới và đại thực bào. Với một số lượng lớn các đại thực bào trung tâm trông nang tươi sáng (Jet Center).

Marginal, hoặc khu vực marginalynaya – Là một phần của quá trình chuyển đổi giữa các bột màu trắng và đỏ. Nó bao gồm chủ yếu của T- và B-lympho và đại thực bào đơn, người gặp nhau lần đầu với các kháng nguyên. B tế bào lympho khu vực đó sau khi tiếp xúc với các đại thực bào biến đổi thành tế bào plasma.

Dây Billroth của Nó bao gồm sự kết thúc của các mao mạch, xoang tĩnh mạch và nằm giữa các sợi lưới, trong số đó là miễn phí cho các tế bào khác nhau. Một số lượng lớn các tế bào máu đỏ gắn liền với tủy đỏ. Trong các sợi lưới liên tục tìm thấy những mảnh của các tế bào đại thực bào, các loại ngũ cốc hay bụi, vi sinh vật và hemosiderin.

Các xoang lách lót bằng que nội mô. Các bức tường của các xoang (tại quá trình chuyển đổi vào tĩnh mạch) là zhomy cơ. Khi thư giãn các động mạch và tĩnh mạch dòng máu tự do zhomov tĩnh mạch, trong khi giảm máu của họ được lắng đọng trong xoang. Đây là sự phá hủy của các tế bào máu đỏ và hấp hối khoáng huyết thanh làm giàu và các chất hữu cơ. Relaxation zhomov thúc đẩy xuất cảnh của máu trong tĩnh mạch giường. Các dòng chảy của máu tĩnh mạch từ bột của lá lách xảy ra thông qua các tĩnh mạch trabecular, đại diện cho một khe hẹp, lót bằng nội mô, tạo điều kiện phát hành của máu, đồng thời giảm lách.

Lách là một cơ quan tạo máu phổ quát trong giai đoạn phôi thai phát triển, và sản xuất các tế bào lympho sau khi sinh. Với chức năng lymphopoiesis gắn kết chặt chẽ để phát triển khả năng miễn dịch của cơ thể lách. Các chức năng bảo vệ của lách cũng được thực hiện qua khả năng của mình để phagocytose hạt và vi sinh vật nước ngoài. Lách có tính lytic, và do đó nằm trong hồng cầu dùng nưa nó trải qua tán huyết.

Trong lá lách, trì hoãn máu và sắt. Kỳ vọng, mà nó tạo ra các chất, ức chế tủy xương tạo hồng cầu. Các thành phần tế bào của lá lách có dấu lấm chấm Nó rất khác nhau ngay cả trong trường hợp, nếu các chế phẩm được bào chế từ các phần khác nhau của cùng một lá lách.

Cytogram lách có dấu lấm chấm OK, %

Lymphoblasts – 0,1-0,2

Prolymphocytes và tế bào lympho – 60-85

Các tế bào lưới lớn – 0-0,1

Các tế bào lưới nhỏ (không xác định luôn luôn đáng tin cậy) – 1-10

Plazmoblasty, proplazmotsity và trưởng thành tế bào plasma – 0,1-0,8

Các đại thực bào – 0,1-0.2

Lipofagi – 0,1

Monocytes – 1,5-2,5

Rod-nội mô (tế bào tủy) – Từ 0,2-0,6

Basophils mô – 0-0,1

Myelocytes và metamyelocytes – 0-0,1

Neutrophil đâm và phân đoạn- hạt nhân granulotsity- 10-15

Bạch cầu hạt tăng bạch cầu eosin – 0,5-2

Bạch cầu hạt Basophilic – 0,1-1,5

Như vậy, giữa các yếu tố tế bào chiếm ưu thế các tế bào lá lách có dấu lấm chấm loạt lymphoid.

Từ tế bào lưới nên được ghi nhận lưới lớn và nhỏ. Các tế bào lưới lớn tìm thấy trong lá lách có dấu lấm chấm duy nhất trong bệnh lý (thiếu máu tán huyết, bệnh bạch cầu dòng tủy, vv. d.). Các tế bào lưới nhỏ Họ là một phần bình thường của splenogrammy, nhưng thường khó phân biệt với các tế bào lympho.

Tế bào Plasma trong splenogramme bình thường hiếm. Tuy nhiên, trong một số bệnh, đặc biệt là trong quá trình viêm mạn tính, số lượng của chúng đang tăng lên, nơi bạn có thể tìm thấy tất cả các hình thức chuyển tiếp.

Các đại thực bào (pigmentofagi, lipofagi, bacteriophage) hiếm khi được tìm thấy, basophils mô – thậm chí còn hiếm hơn, nhưng trong quá trình viêm mãn tính tăng số lượng của họ.

Rod-nội mô (tế bào tủy) cụ thể cho lá lách. Họ là hình bầu dục hoặc thon dài, hình thức đôi khi đuôi, đường kính 20-30 mm. Các nhân tế bào nhỏ gọn, adelomorphous, trong các tế bào trẻ có một hoặc hai nucleoli; tế bào chất là màu xám với một ánh tím, thường chứa haemosiderin. Lớp tế bào được sắp xếp. Chúng được gắn kết chặt chẽ, đó tạo điều kiện cho quá trình biệt hóa. Khi có tình trạng bệnh và tế bào đặt riêng. Trong các chế tế bào học phân biệt các tế bào nội mô lưới là khá khó khăn.

Tế bào huyết thanh. Chúng bao gồm mezoteliotsity, bao gồm màng huyết thanh của lá lách. Khi lá lách đâm mezoteliotsity có thể vào được có dấu lấm chấm. Thông thường mezoteliotsity có cụm nhỏ.

Tế bào máu. Erythrokaryocytes Thông thường, ngoài lá lách có dấu lấm chấm các tế bào máu trưởng thành có thể được phát hiện và cô lập myelocytes. Trong một số bệnh về máu và các rối loạn chức năng tạo máu của tủy xương (osteosclerosis, khối u tủy xương) lách tạo máu extramedullary quan sát.

Chức Năng Của Lá Gan Và Mức Độ Cholesterol / 2023

Cholesterol là nguyên nhân hàng đầu hình thành các mảng bám trên thành động mạch tác nhân gây cơn đau tim, đột quỵ, suy thận, suy giảm chức năng gan,.. Cholesterol có nhầu trong đạm động vật, gia cầm, các loại đồ ăn qua chiên xào dầu nhiều lần. Gan là cơ quan đầu tiên tổng hợp các loại chất béo từ cholesterol chuyển hóa sinh ra năng lượng, nuôi các tế bào trong cơ thể

Chức năng gan và mức độ cholesterol

Có một mối liên hệ trực tiếp giữa chức năng gan và mức cholesterol. Trong thực tế, vấn đề về gan có thể dẫn đến cholesterol cao trong máu của bạn và ngược lại. Nồng độ cholesterol cao có thể đóng góp cho một loạt các vấn đề sức khỏe mãn tính, chẳng hạn như bệnh tim mạch. Nếu bạn lo ngại về chức năng gan của bạn và mức cholesterol, tham khảo ý kiến bác sĩ của bạn về các lựa chọn điều trị có sẵn.

Chức năng của gan

Một trong những chức năng của gan là sản xuất mật, một chất lỏng giúp quá trình tiêu hóa chất béo và cholesterol. Nếu bạn tổn thương gan hoặc chức năng gan không còn khả năng lọc, hoặc chức năng này có thể trở nên kém, gia tăng mức độ cholesterol của bạn. Điều này có thể dẫn đến sự tích tụ của chất béo và cholesterol trong gan và máu của bạn. Ngược lại, mức cholesterol quá cao trong máu của bạn có thể gay suy gan và làm tổn hại một lá gan tốt.

Có 2 dạng tích tụ gan nhiễm mỡ làm rối loạn gây tổn hại chức năng gan, bao gồm người không dùng bia rượu, ăn uống bình thường vẫn tăng nồng độ cholesterol trong máu và một dạng là người dùng nhiều bia rượu gây ra nồng độ cholesterol trong máu cao.

Bệnh gan không chỉ có thể gây ra cholesterol và triglycerid cao, nhưng nó cũng có thể gây ra một sự tích tụ các động tố của cơ thể của bạn và thậm chí dẫn đến tử vong. Các vấn đề về gan khác có thể dẫn đến thiệt hại không thể khắc phụ gan của bạn. Nồng độ cholesterol cao có thể dẫn đến tổn thương gan hoặc bệnh gan nhiễm mỡ, cũng như các bệnh về tim (hở van tim) và tim mạch (xơ vữa động mạch, hẹp động mạch),..

Nhiều yếu tố khác có thể góp phần cholesterol cao và tổn thương gan. Ví dụ một số loại thuốc theo toa để làm giảm mức cholesterol của bạn – đặc biệt là niacin và statin – thực sự có thể gây tổn hại gan của bạn.

Ngoài bệnh gan, bạn có thể làm gia tăng cholesterol cao bằng cách ăn một chế độ ăn uống nhiều chất béo và các loại chất béo bão hòa được tìm thấy trong các loại thực phẩm từ thịt, sữa, thức ăn chiên xào và các loại thực phẩm chế biến khác, mì tôm,..

Tiêu thụ quá nhiều bia rượu cũng có thể ảnh hướng đến chứng năng gan của bạn, dẫn đến một vấn đề tiềm ẩn trong lá gan của bạn đó là cần thiết điều chỉnh mức cholesterol.

Phòng chống và giải pháp

Lối sống, chế độ ăn uống của bạn có thể đóng một vai trò quan trọng trong cả 2 chức năng gan của bạn và mức độ cholesterol của bạn. Đối với bệnh gan, bác sĩ sẽ thường khuyên bạn nên giảm mức cholesterol của bạn, giảm cân, tránh uống rượu bia và kiểm soát lượng đường trong máu nếu bạn có bệnh tiểu đường – điều cần thiế là phải có máy đo tiểu đường.

Tập thể dục thường xuyên, duy trì một trọng lượng cơ thể khỏe mạnh và ăn một chế độ ăn uống không chứa chất béo bão hóa, trans (có nhiều trong mì tôm và một số loại thực phẩm qua chiên xào dầu nhiều lần,..) có thể giúp giảm mức cholesterol của bạn.

Y KHOA KIM MINH

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Gân &Amp; Dây Chằng Đối Với Hệ Vận Động. / 2023

Hệ vận động rất quan trọng đối với cơ thể con người. Nhờ hệ vận động mà cơ thể con người có hình dạng nhất định, thể hiện được những động tác lao động, biểu lộ được những cảm xúc của mình. Trải qua thời kì dài tiến hóa, hệ vận động người được coi là tiến hóa nhất trong sinh giới nói chung và giới Động vật nói riêng.[1]

Để liên kết cơ và xương thành một hệ vận động thống nhất, tất cả các bó cơ được liên kết với xương thông qua gân và các xương được nối với nhau thông qua các dây chằng.

Gân và dây chằng giúp truyền lực từ cơ vào xương và từ xương vào xương để dễ dàng thực hiện các hình thức vận động của cơ thể. Do đó gân và dây chằng là cầu nối quan trọng, không thể thiếu trong hệ vận động hoàn thiện của con người.

Ngoài ra chính sự kết nối của cơ – gân – xương hay xương – dây chằng – xương như một cầu nối giúp cho cơ thể giảm thiểu được các chấn thương dưới tác động trực tiếp của lực quá lớn lên cơ thể, giúp phân tán các lực, bảo vệ và ổn định các khớp cũng như hệ vận động.

Cấu trúc và hoạt động của gân, dây chằng

Gân/dây chằng là một mô mềm, cấu tạo từ các sợi collagen tạo thành các bó sợi, mỗi bó được bao trong một lớp mô ( mô ngăn bó gân ) và tất cả các bó đó được bao trong bao gân để tạo thành gân thực sự.Vỏ hoạt dịch chỉ có mặt ở một số gân nhất định như gân xương chày sau, gân cơ gấp ở cổ tay.

Sợi collagen chiếm tỷ lệ 86% trọng lượng khô của gân, bao gồm chủ yếu là các sợi collagen typ I (95-99%) và collagen typ II ( 1-5%). Còn các sợi elastatin chỉ chiếm tỷ lệ 2% nhưng giúp gân có tính co giãn, linh động.

Chất nền bao gồm glucosaminglycan (chủ yếu là chondroitin sulfat), proteoglycan và glucoprotein mang điện tích âm nên kết hợp với collagen mang điện tích dương tạo nên 1 cấu trúc bền vững, giúp liên kết các sợi collagen thành bó lớn và có vai trò phục hồi lại vị trí ban đầu của sợi collagen do ái lực (e+) – (e-) từ đó quyết định tới hình dạng và cấu trúc collagen, do vậy là chức năng cơ học của gân.

Thành phần tế bào sắp xếp dọc theo các sợi collagen gồm tế bào gân chưa trưởng thành và tế bào gân trưởng thành ( 90-95%), có chức năng sinh tổng hợp collagen và các chất nền ngoài tế bào.

Ngoài ra còn có các tế bào sụn, tế bào hoạt dịch và biểu mô.

Tổn thương gân, dây chằng và mức độ phục hồi

Trên thực tế Gân & dây chằng là nơi chịu đựng tình trạng quá tải và sự va chạm thường xuyên nhất trong vận động hàng ngày và đặc biệt trong các động tác lặp đi lặp lại, hoạt động thể thao, vận động sai tư thế hay sự thoái hóa gân do tuổi tác dễ dẫn tới viêm gân, viêm bao gân, tổn thương cấu trúc gân, thậm chí rách gân, đứt gân. [3]

Tế bào da ( 75% là collagen) chỉ mất 28 ngày để thay mới hoàn toàn ( ở độ tuổi 20-30 tuổi). Trong khi đó, theo sinh lý thông thường, thời gian đổi mới của collagen trong gân là từ 50-100 ngày do hoạt động chuyển hóa hạn chế và số lượng mạch máu nuôi dưỡng gân rất ít.Gân được tạo nên từ rất nhiều sợi collagen, khi có tổn thương, quá trình phục hồi và tái tạo gân trở nên phức tạp, kéo dài ít nhất là 6 tháng tới 1 năm thậm chí lâu hơn.