Chỉ Ra Phép Ẩn Dụ Trong Câu Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè…

--- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ
  • Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ
  • Dốc Lên Khúc Khuỷu, … Nhà Ai Pha Luông Mưa Xa Khơi. Đây Là Một Khổ Thơ Tuyệt Bút Của Quang Dũng Trong Bài Tãy Tiến. Hãy Bình Giảng Để Làm Nổi Rõ
  • Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ
  • Đằng Sau Câu Thơ ‘em Là Ai? Cô Gái Hay Nàng Tiên?’ Là Một Tội Ác Tày Trời Không Phải Ai Cũng Biết
  • Mong rằng vài câu lúc trà dư sẽ giúp bạn tham khảo được đôi dòng:

    Nếu như ta đã từng biết đến trong “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du với một mùa xuân “Cỏ non xanh dợn chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”, với sắc màu rực rỡ, tươi sáng mênh mông của một mùa thu “Long lanh đáy nước in trời, Thanh xây khói biếc non phơi bóng vàng” thì giờ đây một lần nữa chúng ta lại được biết đến cũng trong nơi ấy “Truyện Kiều” có một mùa đầy ánh lửa và khắc khoải tiếng chim quyên:

    “Dưới trăng quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập lòa đâm bông”.

    Thiên nhiên trong “Truyện Kiều” rất đỗi quen thuộc với tôi hay bạn và cũng rất đỗi quen thuộc với tâm hồn con người Việt Nam. Nhà thơ như một hoạ sĩ tài ba phối sắc, tạo hình, dựng cảnh… mỗi nết phác thảo đều là những nét thần tình, đem đến cho người đọc nhiều rung cảm, xúc cảm khôn nguôi.

    Nhìn vào thi liệu thì bức tranh mùa hè đã được Đại thi hào Nguyễn Du vẽ vào lúc chớm hè. Tại sao ta lại khẳng định như vậy? Điều đó là bởi khi ta cứ tưởng mình đang còn đứng và hưởng thụ cái không khí ấm áp và mượt mà “cỏ non xanh dợn chân trời” bỗng đâu chợt nghe tiếng quyên khắc khoải thì mới giật mình và thốt lên là “đã” – ồ tiếng chim quyên đã gọi hè về mà mình cứ tưởng đang thì xuân tươi. Hơn nữa ngoài kia hoa lựu mới chỉ “lập lòe” chứ không phải cái khí thế của hè đã căng tràn mà để “thạnh lựu hiên còn phun thức đỏ”; hoa lựu cũng mới chỉ đang rộn ràng chuyển độ hè sang. Và với tiếng chim quyên, với màu hoa lựu Nguyễn Du cũng nhắc nhở chúng ta, nói với chúng ta rằng cái oi bức, rực nóng của mùa hè cũng đã bắt đầu.

    Ngày xưa tôi yêu “Truyện Kiều” của Nguyễn Du bởi nơi ấy tôi biết đến những thân phận “Chữ tài liền với chữ tại một vần”, biết đến vẻ đẹp nghiêng nước, nghiêng thành của “hai ả tố nga”, biết đến những trận đòn ngứa ghẻ hờn ghen của Hoạn thư tác quái, đến với sự chung tình đến chân tình của chàng họ Kim đợi chờ người thương 15 năm lưu lạc và vô cùng biết bao điều nữa. Nay tôi lại càng thêm yêu “Truyện Kiều” bởi nơi ấy còn có một bức tranh đêm trăng mùa hè gọi mời, quyến rũ âm thanh tha thiết của chim quyên, bởi không gian huyền ảo của không gian bàng bạc; bức tranh bí ẩn cần khám phá bởi sự lập loè ẩn hiện của hoa lựu đỏ trong tán lá xanh .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1: Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Sau: 1. Trăm Năm Đành Lỗi Hẹn Hò Cây Đa Bến Cũ Con Đò Khác Đưa 2. Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè Đầu
  • Bật Mí Về Phương Pháp Học Văn Đạt Hiệu Quả Cao
  • Một Số Biên Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Phân Tích Cảm Hứng Về Đất Nước Qua Hai Đoạn Thơ Sau: “quân Đi Điệp Điệp Trùng Trùng Ánh Sao Đầu Súng Bạn Cùng Mũ Nan. Dân Công Đỏ Đuốc Từng Đoàn Bước Chân Nát
  • Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ
  • Chỉ Ra Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Các Đoạn Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Phép Tu Từ Trong Bài Ca Dao: “trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen … Gần Bùn Mà Chẳng Hôi Tanh Mùi Bùn”
  • Bài Thơ: Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen (Khuyết Danh Việt Nam)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Ở Chương Trình Lớp 7
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Mọc Giữa Dòng Sông Xanh…
  • Đọc Văn Bản Và Trả Lời Câu Hỏi : Mười Tay Bồng Bồng Con Nín Con Ơi Dưới Sông Cá Lội, Ở Trên Trời Chim Bay Ước Gì Mẹ…
  • a,trong dam gi dep bang sen

    la xanh bong trang lai chen nhi vang

    nhi vang bong trang la xanh

    gan bun ma chang hoi tanh mui bun

    hay chi ra cac bien phap nghe thuat va nwu ngan gon tac dung cua tung bphap nghe thuat

    a,trong dam gi dep bang sen

    la xanh bong trang lai chen nhi vang

    nhi vang bong trang la xanh

    gan bun ma chang hoi tanh mui bun

    Người dân Việt Nam có lẽ không ai không thuộc bài ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen” (đã trích dẫn ở trên). Và đương nhiên, bài thơ đó gắn liền trong tiềm thức của độc giả như một biểu tượng về những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam.

    Bài ca dao được khen ngợi bởi sự “chơi chữ”, phối màu rất hài hòa ” Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh” . Tuy nhiên, theo G.S Trần Đình Sử, chính việc chỉ chú ý đến màu sắc trong bài ca dao đã khiến giá trị của loài hoa sen bị hạ thấp.

    Trên thực tế, hoa sen không hề thu hút bởi màu sắc hài hòa nhã nhặn mà chủ yếu loài hoa đó khiến người ta phải lưu luyến, vấn vương bởi thứ mùi hương nhẹ nhàng, thanh tao, quý phái.

    Chính cái đẹp vô hình của hoa sen đã thổi hồn cho bao nét đẹp văn hóa của người Việt. Tương truyền, mỗi sáng tinh mơ, chúa Trịnh Sâm thường cho người ra Hồ Tây, hứng từng giọt sương trên lá sen để pha trà. Những giọt sương tinh khiết kết tinh của đất trời, qua một đêm lại được ngấm thêm cái hương thanh, hương lành từ lá sen khiến cho ấm trà mạn của người Việt trở nên thiêng liêng, trong trẻo hơn bao giờ hết.

    Cũng chẳng phải vô tình mà người ta thường dùng lá sen để gói cốm – một thứ quà của lúa non. Thứ quà, thứ hương mộc mạc của cánh đồng được sen ấp iu, gìn giữ, phả vào đấy một mùi hương thoát tục khiến những hạt cốm đã thanh, nay còn thanh hơn, đã ngọt, nay còn ngọt hơn.

    Có thể nhiều người sẽ cho rằng luận điểm trên đưa ra là thiếu sót bởi câu cuối cùng của bài thơ ” Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” đề cập đến vấn đề hương thơm của hoa một cách gián tiếp. Tuy gần bùn tanh hôi nhưng hoa sen vẫn giữ nguyên cho mình một “khoảng cách cao quý” để không bị ám thứ mùi trần tục của bùn tanh đó.

    Tuy nhiên, xét cho cùng thì mùi hương của hoa sen trong câu thơ ” Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ” cũng chỉ được nhắc đến khi có sự đối sánh với cái hôi tanh của bùn mà không hề quan tâm đến hương thơm của chính loài hoa đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen Biện Pháp Tu Từ
  • Mấy Biện Pháp Tu Từ, Hãy Kể Tên Chúng (Kiến Thức Lớp 8)
  • Ôn Tập Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 8: Chuyên Đề Biện Pháp Tu Từ Và Câu
  • Phân Tích Tác Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Vựng Trong Những Câu Mặt Trời Xuống Biển Như Hòn Lửa…
  • Hãy Nêu Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Ánh Trăng
  • Câu Thơ Cuối Trăng Nhòm Khe Cửa Ngắm Nhà Thơ Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Nói Với Con
  • Bài Thơ Nói Với Con
  • Nêu Giá Trị Nội Dung, Nghệ Thuật Của Bài Nói Với Con
  • Bài Thơ: Nói Với Con (Y Phương
  • Nêu Và Phân Tích Những Biện Pháp Nghệ Thuật Làm Nổi Bật Vẻ Đẹp Trong Phong Cách Hồ Chí Minh Qua Văn Bản “phong Cách Hồ Chí Minh” Của Lê Anh Trà Viết Thành Đoạn
  • Câu Thơ Cuối Trăng Nhòm Khe Cửa Ngắm Nhà Thơ Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, Hãy Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Phép Đối Trong Hai Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Câu Thơ Rải Rác Biên Cương Mồ Viễn Xứ Sử Dụng Những Biện Pháp Nghệ Thuật , Câu Thơ Thứ Hai Của Bài Qua Đèo Ngang Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Một Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Quả Dừa – Đàn Lợn Con Nằm Trên Cao Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Bác Nằm Trong Giấc Ngủ Bình Yên Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, Câu Thơ Sương Chùng Chình Qua Ngõ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Hãy Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Khổ , 2 Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Phân Tích 2 Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Câu Thơ Nào Sử Dụng Bút Pháp Nghệ Thuật ước Lệ Tượng Trưng, ở Bài Thơ Ngắm Trăng Bác Ngắm Trăng Trong Hoàn Cảnh Nào, Nội Dung Bài Ngắm Trăng, Nêu Và Phân Tích Tính Trội Của Nhóm Các Thể Loại Báo Chí Chính Luaann Nghệ Thuật, De Tài Cuối Khóa Thuc Trang Chung Thục Tai Ubnd Xã Và Bien Phap Khắc Phuc, Nghệ Thuật Chiến Dịch Chiến Thuật Của Đảng Qua 2 Cuộc Chiến Chống Pháp Mĩ, Nội Dung Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Mối Quan Hệ Xã Hội Cuối, Bien Phap To Chuc Day Hoc Nhom Theo Mo Hinh Truong Hoc Moi Viet Nam, Dàn ý 8 Câu Cuối Chinh Phụ Ngâm, Truyện Cười Suy Ngẫm, 8 Câu Thơ Cuối Bài Chinh Phụ Ngâm, Văn Bản Ngắm Trăng, Bài Thơ Ngắm Trăng, Truyện Cười Đáng Suy Ngẫm, Nghệ Thuật Nội Dung Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá, Nội Dung Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá, Phân Tích 8 Câu Cuối Bài Chinh Phụ Ngâm, Hãy Giải Thích Cơ Sở Của Biện Pháp Kỹ Thuật Sau Phải Làm Đất Thật Tơi Xốp, Giáo Trình Công Nghệ Chế Biến Sữa Và Các Sản Phẩm Từ Sữa. Nhà Xuất Bản Khoa Học Kỹ Thuật. 2008, Câu Thơ Nào Nói Lên Hoàn Cảnh Ngắm Trăng Của Bác, Câu Thơ Nào Trong Bài Thơ ông Đồ Sử Dụng Thành Công Nghệ Thuật Tả Cảnh Ngụ , Khoa Học, Công Nghệ Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp, Hãy Phân Tích Dụng ý Nghệ Thuật Của Hệ Thống Câu Hỏi Trong Bài Thơ Đây Thôn , Quy Định Kỹ Thuật Về Thăm Dò, Đánh Giá Trữ Lượng Đá Khối Sử Dụng Làm ốp Lát Và Mỹ Nghệ, Câu Thơ Dịch Sát Nghĩa Nhất Trong Bài Thơ Ngắm Trăng Là Câu Nào, Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Thúy Kiều ở 16 Câu Cuối, Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Của Thúy Kiều Trong 16 Câu Cuối, Trang Chủmẫu Đơn Xin Phép Dựng Rạp Tổ Chức Đám Cưới, Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Thuý Kiều 16 Câu Cuối Trao Duyên, Bàn Về Nội Dung Của Một Bản Hiến Pháp (phần Cuối), Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Của Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Trao Duyên ở 16 Câu Thơ Cuối, Những Biện Pháp Trong Quá Trình Giảng Dạy An Toàn Gt Cho Nụ Cười Ngày Mai, Quy Trình Sản Xuất Nhôm Định Hình Và Các Thuật Ngữ, Thực Trạng áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay, Nội Dung Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư, Nội Dung Bài Thơ Xa Ngắm Thác Núi Lư, Noi Dung, Bien Phap Xay Dung Chi Uy, Chi Bo Tsvm; Cong Tac Giao Duc, Quan Ly Ren Luyen Va Phat Trien, Noi Dung, Bien Phap Xay Dung Chi Uy, Chi Bo Tsvm; Cong Tac Giao Duc, Quan Ly Ren Luyen Va Phat Trien, Hực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Anh/chị Hãy Trình Bày Quan Điểm Của Mình Về Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao, Anh/chị Hãy Trình Bày Quan Điểm Của Mình Về Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao , Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phogphongf Thủ Huyện, Về Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Biên Bản Xác Minh Hiện Trạng Sử Dụng Đất, Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tại Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Khóa Luận Tốt Nghiệp: Một Số Biện Pháp Marketing Nâng Cao Hiệu Quả Xuất Khẩu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ, 4 Nội Dung 7 Biện Pháp Xây Dựng Chính Quy, Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Biên Bản Kiểm Tra Xác Minh Hiện Trạng Sử Dụng Đất Và Tài Sản Gắn Liền Với, 1 Bài Thơ Có Sử Dụng Biện Pháp Nói Quá, Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ ẩn Dụ, Câu Thơ Gần Xa Nô Nức Yến Anh Đã Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì, Câu Thơ Rừng Mơ ôm Lấy Núi Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì, Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ, Bài Giảng Biện Pháp Sử Dụng Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất, Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng, Đơn Yêu Cầu áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Thực Trạng Nguyên Nhân Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Bài Tập Nhóm Môn Xã Hội Học Pháp Luật, Hãy Kể Tên Một Số Món ăn Được Chế Biến Bằng Phương Pháp Không Sử Dụng Nh, Hãy Kể Tên Và Cho Ví Dụ Các Phương Pháp Chế Biến Thực Phẩm Có Dùng Nhiệt, Câu Thơ Lũ Bướm Vàng Lơ Đãng Lướt Bay Qua (anh Thơ) Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nào, Câu Thơ Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nào, 5 Câu Thơ Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nào, Phương Pháp Làm Việc Nhóm, Nghị Quyết Hướng Dẫn áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Thầy/cô Đã Có Những Biện Pháp Gì Để Thu Hút Học Sinh Làm Quen Và Hứng Thú Học Tập Với Nội Dung Các B, Mẫu Số 5 Bảng Tổng Hợp Số Liệu áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Hành Chính, 4 Nhóm Giải Pháp Nghị Quyết Tw4, Giải Pháp Nâng Cao Làm Việc Nhóm, Biên Bản Họp Nhóm, Biện Pháp Tổ Chức Thực Hiện Xây Dựng Thôn Bản Vững Mạnh, Phương Pháp Giải Bài Toán Nhiệt Nhôm, Biên Bản Làm Việc Nhóm Hlu, Biên Bản Bầu Nhóm Trưởng, Mẫu Biên Bản Cuộc Họp Nhóm, Biên Bản Làm Việc Nhóm, Đề Tài: Các Biện Pháp Quản Lý Nhằm Đẩy Mạnh ứng Dụng Cntt Trong Dạy Học Tại Trường Thpt Hoà Phú, Chi, Đề Tài: Các Biện Pháp Quản Lý Nhằm Đẩy Mạnh ứng Dụng Cntt Trong Dạy Học Tại Trường Thpt Hoà Phú, Chi, Đề Tài: Các Biện Pháp Quản Lý Nhằm Đẩy Mạnh ứng Dụng Cntt Trong Dạy Học Tại Trường Thpt Hoà Phú, Chi, Nghệ Thuật Bon Sai, Văn Học & Nghệ Thuật Anh Ngữ, Nghệ Thuật Spa, 3 Nhóm Giải Pháp Nghị Quyết Trung ương 4, Biên Bản Thảo Luận Nhóm,

    Câu Thơ Cuối Trăng Nhòm Khe Cửa Ngắm Nhà Thơ Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, Hãy Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Phép Đối Trong Hai Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Câu Thơ Rải Rác Biên Cương Mồ Viễn Xứ Sử Dụng Những Biện Pháp Nghệ Thuật , Câu Thơ Thứ Hai Của Bài Qua Đèo Ngang Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Một Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Quả Dừa – Đàn Lợn Con Nằm Trên Cao Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Bác Nằm Trong Giấc Ngủ Bình Yên Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, Câu Thơ Sương Chùng Chình Qua Ngõ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Hãy Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Khổ , 2 Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Phân Tích 2 Câu Thơ Cuối Bài Ngắm Trăng, Câu Thơ Nào Sử Dụng Bút Pháp Nghệ Thuật ước Lệ Tượng Trưng, ở Bài Thơ Ngắm Trăng Bác Ngắm Trăng Trong Hoàn Cảnh Nào, Nội Dung Bài Ngắm Trăng, Nêu Và Phân Tích Tính Trội Của Nhóm Các Thể Loại Báo Chí Chính Luaann Nghệ Thuật, De Tài Cuối Khóa Thuc Trang Chung Thục Tai Ubnd Xã Và Bien Phap Khắc Phuc, Nghệ Thuật Chiến Dịch Chiến Thuật Của Đảng Qua 2 Cuộc Chiến Chống Pháp Mĩ, Nội Dung Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Mối Quan Hệ Xã Hội Cuối, Bien Phap To Chuc Day Hoc Nhom Theo Mo Hinh Truong Hoc Moi Viet Nam, Dàn ý 8 Câu Cuối Chinh Phụ Ngâm, Truyện Cười Suy Ngẫm, 8 Câu Thơ Cuối Bài Chinh Phụ Ngâm, Văn Bản Ngắm Trăng, Bài Thơ Ngắm Trăng, Truyện Cười Đáng Suy Ngẫm, Nghệ Thuật Nội Dung Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá, Nội Dung Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá, Phân Tích 8 Câu Cuối Bài Chinh Phụ Ngâm, Hãy Giải Thích Cơ Sở Của Biện Pháp Kỹ Thuật Sau Phải Làm Đất Thật Tơi Xốp, Giáo Trình Công Nghệ Chế Biến Sữa Và Các Sản Phẩm Từ Sữa. Nhà Xuất Bản Khoa Học Kỹ Thuật. 2008, Câu Thơ Nào Nói Lên Hoàn Cảnh Ngắm Trăng Của Bác, Câu Thơ Nào Trong Bài Thơ ông Đồ Sử Dụng Thành Công Nghệ Thuật Tả Cảnh Ngụ , Khoa Học, Công Nghệ Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp, Hãy Phân Tích Dụng ý Nghệ Thuật Của Hệ Thống Câu Hỏi Trong Bài Thơ Đây Thôn , Quy Định Kỹ Thuật Về Thăm Dò, Đánh Giá Trữ Lượng Đá Khối Sử Dụng Làm ốp Lát Và Mỹ Nghệ, Câu Thơ Dịch Sát Nghĩa Nhất Trong Bài Thơ Ngắm Trăng Là Câu Nào, Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Thúy Kiều ở 16 Câu Cuối, Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Của Thúy Kiều Trong 16 Câu Cuối, Trang Chủmẫu Đơn Xin Phép Dựng Rạp Tổ Chức Đám Cưới, Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Thuý Kiều 16 Câu Cuối Trao Duyên, Bàn Về Nội Dung Của Một Bản Hiến Pháp (phần Cuối), Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Của Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Trao Duyên ở 16 Câu Thơ Cuối, Những Biện Pháp Trong Quá Trình Giảng Dạy An Toàn Gt Cho Nụ Cười Ngày Mai, Quy Trình Sản Xuất Nhôm Định Hình Và Các Thuật Ngữ, Thực Trạng áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay, Nội Dung Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư, Nội Dung Bài Thơ Xa Ngắm Thác Núi Lư, Noi Dung, Bien Phap Xay Dung Chi Uy, Chi Bo Tsvm; Cong Tac Giao Duc, Quan Ly Ren Luyen Va Phat Trien, Noi Dung, Bien Phap Xay Dung Chi Uy, Chi Bo Tsvm; Cong Tac Giao Duc, Quan Ly Ren Luyen Va Phat Trien,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Thơ: Người Ngắm Trăng Soi Ngoài Cửa Sổ, Trăng Nhòm Khe Của Ngắm Nhà Thơ
  • Bài Thơ Ngắm Trăng (Hồ Chí Minh)
  • Bài Thơ Khi Con Tu Hú (Tố Hữu)
  • Bài Văn Bức Tranh Thiên Nhiên Trong Bài Thơ “khi Con Tu Hú” Của Nhà Th
  • Bài 19. Khi Con Tu Hú
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Thơ: Người Ngắm Trăng Soi Ngoài Cửa Sổ, Trăng Nhòm Khe Của Ngắm Nhà Thơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Thơ Cuối Trăng Nhòm Khe Cửa Ngắm Nhà Thơ Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Nói Với Con
  • Bài Thơ Nói Với Con
  • Nêu Giá Trị Nội Dung, Nghệ Thuật Của Bài Nói Với Con
  • Bài Thơ: Nói Với Con (Y Phương
  • Câu 3:

    -Từ những ý thơ của Người,lúc nào ta cũng thấy toát lên một phong thái ung dung,là tinh thần lạc quan trong cuộc sống Cách Mạng đầy gian khổ.Dù trong hoàn cảnh “cháo bẹ rau măng” hay “bàn đá chông chênh”,thi nhân vẫn vui vẻ mà viết lên rằng: “Cuộc đời Cách Mạng thật là sang”.

    -Không chỉ có bài thơ Tức cảnh Pác Bó,Tẩu Lộ(Đi đường) cũng thể hiện ý chí của người chiến sĩ Cách Mạng này.Những câu thơ như chứa một sức mạnh ngàn cân.Dù đang trên đường đi với bao xiềng xích trên người,ấy vậy mà Người vẫn không nghĩ đến nỗi khó khăn hiện tại ấy,vẫn cất lên cái tâm hồn thi sĩ của mình,vẫn ung dung ngắm nhìn cảnh núi non:

    “Tẩu lộ tài chi tẩu lộ nan/Núi cao rồi lại núi cao trập trùng”

    -Hồ Chí Minh là một thi nhân có tình yêu gắn liền với thiên nhiên.Những hình ảnh trong bài thơ này đã chứng mình điều đó.Có thể kể tiêu biểu đó là bài thơ Ngắm Trăng với hình ảnh nhân-nguyệt,nguyệt-nhân.(“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,Nguyệt tòng song thích khán thi gia”).Dường như cái chấn song kia không thể ngăn cách giữa hai người bạn là vầng trăng và thi sĩ.Cả hai như đối xứng với nhau,nhìn nhau thật lâu,thật thân thiết.Dù ở trong mọi hoàn cảnh,tình cảm của Bác vẫn không đổi,vẫn luôn dành tấm lòng cho thiên nhiên như một người bạn đồng hành.

    -Thiên nhiên gắn bó với bác trong từng nguồn cảm hứng,trong từng câu thơ không chỉ với tư cách là một người bạn,mà còn là một người mang lại cho Người những bài học cuộc đời rất quý giá mà giản dị.Đọc Đi đường,ta nhận ra điều đó.Núi cứ trùng trùng điệp điệp mọc ra trước mắt,như muốn ngăn bước chân người đi(“Trùng san chi ngoại hựu trùng san/Trùng san đăng đáo cao phong hậu”).Và rồi cuối cùng,khi vượt qua bao núi non ấy,trước mắt ta dường như là cả một khoảng trời mênh mông trong tầm mắt:”Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”.Từ việc “tẩu lộ” đơn thuần,ta cũng ngẫm ra được một chân lí hết sức giản dị mà thấu đáo:Hãy vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn để có được niềm vui chiến thắng,đặc biệt là vượt lên để chiến thắng bản thân mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Ngắm Trăng (Hồ Chí Minh)
  • Bài Thơ Khi Con Tu Hú (Tố Hữu)
  • Bài Văn Bức Tranh Thiên Nhiên Trong Bài Thơ “khi Con Tu Hú” Của Nhà Th
  • Bài 19. Khi Con Tu Hú
  • Phân Tích Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Tho Khi Con Tu Hú
  • Bố Cục, Biện Pháp Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá

    --- Bài mới hơn ---

  • Nói Phóng Đại Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Nói Quá Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Bệnh Cho Đàn Gia Súc, Gia Cầm Trong Thời Điểm Chuyển Giao Mùa
  • Một Số Kết Quả Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo
  • “Bắt Mạch” Tham Nhũng Trong Giáo Dục
  • Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận là bài thơ trong chương trình Văn 9 em hãy tìm bố cục bài thơ và nêu một số biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ đó.

    1. Bố cục bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

    Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá có thể chia làm 3 phần:

    – Hai khổ đầu: Quang cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi khi một ngày đang kết thúc.

    – Bốn khổ tiếp theo: Quang cảnh đoàn thuyền đánh cá hoạt động trong một đêm trăng.

    – Khổ thơ cuối cùng: Cảnh đoàn thuyền đánh cá quay về là lúc bình minh bắt đầu lên, một ngày mới bắt đầu.

     

    2. Biện pháp nghệ thuật bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

    Mỗi đoạn thơ trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đều có những biện pháp nghệ thuật riêng.

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa

    Sóng đã cài then đêm sập cửa”

    “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

    Câu hát căng buồm với gió khơi”

    Tác giả tạo ra các hình ảnh gắn kết các sự vật, hiện tượng lại với nhau đó là câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui cho người lao động, chính câu hát đã biến thành sức mạnh kết với với gió biển làm căng cánh buồm giúp con thuyền lướt sóng ra khơi trong đêm.

    “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”  tác giả sử dụng hình ảnh nhân hóa, tiếng thở của đêm chính là nhịp thở của thủy triều và tiếng rì rào của sóng biển. Những ngôi sao trên bầu trời phản chiếu xuống mặt nước được sóng biển nâng lên hạ xuống một cách hùng vĩ.

    Trong bài thơ tác giả sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật bao gồm so sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Chính điều này làm nổi bật hình ảnh những người đánh cá ra khỏi thật hùng vĩ.

    Lớp 9 –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cầm Máu Và Băng Bó Vết Thương
  • Trắc Nghiệm Gdqp 11 Bài 7 (Có Đáp Án) – Đề Số 1
  • Giáo Dục Quốc Phòng
  • Cách Giảm Mỡ Bụng Tại Nhà Hiệu Quả Cho Nữ Chỉ Trong 1 Tuần
  • 10 Cách Giảm Mỡ Bụng Sau Sinh Cấp Tốc, Đơn Giản, Hiệu Quả 100%
  • Chỉ Ra Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Rằm Tháng Giêng

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoàn Cảnh Sáng Tác,nội Dung Nghệ Thuật Cảnh Khuya,rằm Tháng Giêng
  • Bài Thơ Rằm Tháng Giêng
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Lớp 7 Cực Hay
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu
  • * Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật a. Cảnh khuya – Nội dung Bài Cảnh khuya viết bằng chữ quốc ngữ mang đậm chất hiện đại. Cũng vẫn là khung cảnh của núi rừng Việt Bắc, mở đầu bằng hình ảnh “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Tiếng suối trong hay tiếng hát trong? Có lẽ cả hai. Sự so sánh bất ngờ, thú vị đó đã tạo nên hình ảnh thơ rất sinh động, giàu hình ảnh và mang không khí ấm áp, gần gũi của con người giữa khung cảnh thiên nhiên tĩnh lặng của chiến khu. Có nhiều nhà thơ khi miêu tả tiếng suối so sánh với các hiện tượng thiên nhiên như: Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. (Nguyễn Trãi) Hồ Chí Minh so sánh tiếng suối với tiếng hát một cách rất tinh tế, gợi cảm. Hình ảnh so sánh này khiến cho âm thanh của tiếng suối xa càng trở nên gần gũi, thân mật với con người, tạo giọng điệu trẻ trung, trong trẻo. Cách so sánh của tác giả rất độc đáo và thể hiện tư duy mới mẻ trong thơ: lấy con người làm chuẩn mực để so sánh với thiên nhiên, làm cho âm thanh thiên nhiên cũng trở nên gần gũi, thân quen. Tiếp theo đó là sự hài hoà giữa cảnh vật: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Cảnh vật thiên nhiên huyền ảo, hài hoà, lồng vào nhau để tôn lên vẻ đẹp của nhau. Dòng thơ thứ hai có thể hình dung theo hai cách: ánh trăng chiếu vào vòm cổ thụ, bóng lồng vào bóng hoa hoặc ánh trăng chiếu rọi vào các vòm lá cổ thụ in bóng xuống mặt đất như muôn ngàn bông hoa. Trong Chinh phụ ngâm khúc, Đoàn Thị Điểm viết “Hoa dãi nguyệt nguyệt in một tấm/ Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông”. Ta có thể hình dung bức tranh nhiều tầng lớp, đường nét, hình khối đa dạng nhưng rất hài hoà. Có dáng hình vươn toả của vòm cổ thụ, trên cao lấp loáng ánh trăng, dưới mặt đất, bóng cây, trăng, hoa, lá in vào tạo thành những bông hoa thêu dệt. Bức tranh có sự hài hoà hai màu sáng tối, đen trắng mà tạo nên vẻ lung linh, chập chờn, ấm áp mà gần gũi. Hai câu thơ rất giàu giá trị biểu cảm, câu đầu là thi trung hữu nhạc, câu sau là thi trung hữu hoạ. Trong khung cảnh thiên nhiên hữu tình ấy xuất hiện hình ảnh con người, chính là hình ảnh thi nhân. Trước vẻ đẹp của thiên nhiên, nhà thơ say mê chiêm ngưỡng mà chưa ngủ. Dòng thứ tư bất ngờ mở ra chiều sâu mới trong tâm hồn nhà thơ: thao thức còn chính là vì lo cho vận mệnh đất nước, hay chính là vì thức đến canh khuya lo việc nước mà Bác gặp ánh trăng rừng tuyệt đẹp. Giữa cảnh vật đó là hình ảnh nhà thơ – hình ảnh vị lãnh tụ lo lắng cho dân, cho nước không ngủ được. Trong thơ của Bác, có nhiều cảnh mất ngủ, đã diễn tả tấm lòng yêu nước, thương dân, trách nhiệm của vị lãnh tụ. Thơ của Bác đã diễn tả một cách chân thành và giản dị những tình cảm thiêng liêng với dân tộc, với nhân dân, đó cũng là phong cách thơ độc đáo của Người. – Nghệ thuật Bài thơ kết hợp nhiều biện pháp nghệ thuật, nổi bật là phép so sánh (đã phân tích ở phần Nội dung). Phép điệp ngữ (“lồng”, “chưa ngủ”) nối kết hai tâm trạng, bộc lộ chiều sâu nội tâm. Dòng cuối ngắt nhịp 2/5 độc đáo để nhấn mạnh tâm trạng của Bác “vì lo nỗi nước nhà”. Thơ của Hồ Chủ tịch tiêu biểu cho phong cách trữ tình cách mạng, kết hợp hài hoà giữa chất: cổ điển và hiện đại: cổ điển ở từ ngữ, thể thơ, hình ảnh thơ nhưng hiện đại ở tư tưởng, nội dung. b. Rằm tháng riêng – Nội dung Đây là bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ viết đúng tiết rằm tháng giêng năm 1948 ở chiến khu Việt Bắc. Bài thơ viết bằng chữ Hán, có bốn câu, nhưng có thể nói mỗi câu là một nét khắc hoạ tinh tế cảnh sắc thiên nhiên và cảm xúc của con người trước thiên nhiên kì vĩ. Và từ năm 2002, Hội Nhà văn Việt Nam lấy ngày rằm tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam thì người yêu thơ càng có dịp hiểu thêm, yêu mến thêm hồn thơ Hồ Chí Minh. Phiên âm viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt còn bản dịch thơ viết theo thể lục bát và có thêm những tính từ miêu tả như lồng lộng (dòng 1) và bát ngát cùng với động từ ngân (dòng 4). Một số từ ngữ của bản dịch không được dịch sát nghĩa với nguyên tác (kim dạ, chính viên, xuân thuỷ, yên ba thâm xứ). Trong bài Rằm tháng giêng, Bác thưởng trăng trên khói sóng nơi “yên ba thâm xứ” cõi sâu kín bí mật trên dòng sông giữa núi rừng chiến khu. Người đang thưởng ngoạn trăng không chỉ mang cốt cách như các tao nhân mặc khách ngày xưa mà còn là người chiến sĩ cách mạng, vị lãnh tụ đang “bàn bạc việc quân”. Ta có thể hình dung khung cảnh bầu trời cao rộng, trong trẻo, nổi bật trên bầu trời ấy là vầng trăng tròn đầy, toả sáng khắp trời đất. Cách miêu tả trong bài thơ vẫn theo truyền thống của bút pháp thơ cổ phương Đông: chú ý đến toàn cảnh và sự hoà hợp, thống nhất trong cái toàn thể chứ không đi vào miêu tả chi tiết, gợi nhiều hơn tả. Cảnh đêm Rằm tháng giếng nổi bật với ánh trăng rằm trên sông nước, có không gian bát ngát, tràn đầy sức xuân. Cả dòng thơ thứ hai tràn ngập sắc xuân với ba chữ xuân liên tiếp: Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên. Bác như một tao nhân mặc khách thưởng xuân nhẹ nhàng, yên bình. Trong khung cảnh đó thật bất ngờ lại diễn ra cuộc họp bàn việc quân, việc chính trị, một công việc quan trọng và hết sức bí mật. Đối chiếu với nguyên tác, hai chữ “yên ba” có nghĩa là khói sóng. Phần dịch thơ là giữa dòng mới chỉ ra được nơi luận bàn việc quân nhưng nó đã bỏ mất cái mịt mù hư thực huyền bí thiêng liêng của cảnh khuya. Đây là một thi liệu cổ được Bác vận dụng rất sáng tạo làm cho bài thơ mang phong vị Đường thi nhưng ba chữ đàm quân sự lại làm cho vần thơ mang màu sắc hiện đại và không khí lịch sử của thời đại. Đặt trong hoàn cảnh ấy, chúng ta thấy rõ sự bình tĩnh, chủ động, lạc quan của vị lãnh tụ. Phong thái ấy toát ra từ những rung cảm tinh tế, dồi dào trước thiên nhiên, đất nước. Mặc dù phải ngày đêm lo nghĩ việc nước, nhiều đêm không ngủ, nhưng không phải vì thế mà tâm hồn nhà thơ quên rung cảm trước vẻ đẹp của một đêm trăng sáng, một tiêng suối trong, hay cảnh trời nước bao la dưới trăng rằm tháng giêng. Phong thái ung dung còn thể hiện ở con thuyền của vị lãnh tụ sau lúc bàn bạc việc quân trở về, lướt đi phơi phới chở đầy ánh trăng. Tác giả sử dụng thể thất ngôn tứ tuyệt rất nhuần nhị, tạo cảnh thiên nhiên tươi đẹp với ánh trăng lộng lẫy, tràn đầy sắc xuân. Thể thơ thất ngôn hàm súc, lời ít ý nhiều, tạo sức gợi của ngôn từ, hình ảnh. Nhà thơ đã có sự kết hợp miêu tả và biểu cảm, vừa mang màu sắc cổ điển và hiện đại. – Nghệ thuật Bài thơ là sự kết hợp hài hòa phong cách cổ điển và hiện đại. Những thi liệu cổ điển của bài thơ như con thuyền, vầng trăng, sông xuân, trời xuân, khói sóng,… đã tạo nên không khí thưởng ngoạn của các tao nhân mặc khách. Không gian núi rừng tĩnh lặng, không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thơ phú mà “đàm quân sự”. * Ý nghĩa a. Cảnh khuya Qua bài thơ, chúng ta thấy chân dung nhà thơ – chiến sĩ, người nghệ sĩ say đắm cảnh trời, nhạy bén, tinh tế nhưng vẫn đau đáu một lòng với đất nước, với thời đại. b. Rằm tháng giêng Bài thơ như một đoá hoa đẹp trong vườn hoa dân tộc, là tinh hoa kết tụ từ tâm hồn, trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh. Hình ảnh con thuyền của vị lãnh tụ lướt đi phơi phới chở đầy ánh trăng rất lãng mạn, thể hiện một tâm hồn nghệ sĩ trong con người chiến sĩ. Qua đó, Bác cũng thể hiện sự rung cảm tinh tế và phong thái ung dung, lạc quan, yêu đời trong kháng chiến gian khổ… P/s: Tham khảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghệ Thuật Và Biện Pháp Tu Từ Trong Chiều Tối (Hồ Chí Minh)
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Hai Bài Thơ Qua Đèo Ngang Và Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Hay Nhất
  • Bài Thơ Quê Hương (Tế Hanh)
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8
  • 4Div 2 Chỉ Ra Các Biện Pháp Nghệ Th…

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • Bài Tập Đọc Bài Thơ Sau Và Thực Hi…
  • Giá Trị Của Phép Tu Từ Trùng Ngữ Trong Văn Chính Luận
  • Ba Bước Nhận Diện Và Phân Tích Một Biện Pháp Tu Từ
  • Đề Đọc Hiểu Về Cảnh Ngày Hè Nguyễn Trãi
  • Bình ngô đại cáo được sáng tác vào cuối năm 1427, thời điểm nghĩa quân Lam Sơn giành được thắng lợi huy hoàng, tiêu diệt 15 vạn viện binh của giặc Minh xâm lược do Liễu Thăng và Mộc Thạnh dẫn đầu. Vương Thông buộc phải viết thư xin hàng và rút quân về nước, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo để công bố cho nhân dân về việc đã dẹp yên giặc Minh xâm lược, đồng thời nó cũng đóng vai trò như là một bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra một triều đại mới, triều đại thịnh thế của nhà Hậu Lê, mở ra kỷ nguyên mới độc lập, tự do cho dân tộc. Bình Ngô đại cáo được đọc vào đầu năm 1428. Về ý nghĩa nhan đề “Bình Ngô đại cáo”, ở đây có thể lý giải rằng vua Minh là người đất Ngô, nên khi nói “Bình Ngô” ta sẽ hiểu rằng là bình định quân Minh xâm lược. Hoặc một cách hiểu khác, thì trước đây vào thời tam quốc, nước Ngô là nước đã cai trị nước ta một cách tàn ác và vô nhân đạo, cái tên “giặc Ngô” hay nước hay “nước Ngô” đã trở thành một loại từ khóa ám ảnh với nhân dân ta bao đời, thế nên khi nói đến giặc Ngô tức là nói đến thứ giặc xâm lược tàn bạo và độc ác. “Đại cáo” tức là bản cáo lớn, ở đây Nguyễn Trãi muốn khẳng định đại đạo của dân tộc “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo” vốn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tác phẩm. Thứ hai nữa “đại cáo” này còn gắn liền với thể loại văn bản đương đại của nhà Minh, có ý nghĩa pháp luật, tác giả muốn khẳng định rằng đây cũng là một văn kiện pháp luật của Đại Việt, có giá trị, ý nghĩa tương đương với văn kiện pháp luật của nhà Minh, khẳng định nền độc lập của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bình Ngô Đại Cáo Phần 2 Dễ Hiểu Nhất
  • Tổng Hợp 10 Biện Pháp Tu Từ + Sách Tham Khảo Ngữ Văn Cấp 3
  • Đề Thi Thử Môn Văn Thpt Quốc Gia Số 23
  • Đề Bài: Đọc – Hiểu “Bài Ca Ngất Ngưỡng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Ẩn Dụ Là Gì, Hoán Dụ Là Gì? Cho Ví Dụ Và Có Mấy Loại
  • Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Mặt Trời Xuống Biển Như Hòn Lửa…

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm)
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn 2022 Thpt Ngô Sĩ Liên
  • Luận Văn Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Và Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh
  • Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Và Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh
  • Bài 10. Nói Giảm Nói Tránh
  • Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ: Mặt trời xuống biển như hòn lửa:

    • Hình tượng hóa hình ảnh mặt trời trong buổi hoàng hôn.
    • Thể hiện sự tưởng tượng đặc sắc của nhà thơ Huy Cận về hình ảnh mặt trời trong buổi hoàng hôn.
    • Thể hiện xúc cảm của nhà thơ trong buổi chiều khi nhìn thấy mặt trời từ từ khuất dần dưới mặt nước biển.
    • Tạo một tiền đề để làm nổi bật hình ảnh người ngư dân trong hai câu cuối của khổ thơ: Mặt trời khuất dần trên mặt biển như kết thúc một ngày lao động; trong khi đó, đây lại là thời điểm người ngư dân bắt đầu cho một buổi lao động mới: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa/ Sóng đã cài then đêm sập cửa”, nhưng “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi” và trong tâm thế “Câu hát căng buồm cùng gió khơi

    2)Gợi ý:

    Dù tuổi đời còn nhỏ nhưng những chú bé này đã có những nhận thức sâu sắc về thực trạng của đất nước mình, cũng từ đó mà mang quyết tâm đấu tranh, góp sức vào công cuộc giải phóng đất nước, quê hương. Vì còn nhỏ nên những chú bé này không thể cầm súng ra trận địa đấu tranh trực tiếp với quân giặc mà làm những công việc đơn giản nhưng cũng không kém phần nguy hiểm, đó là những chú bé liên lạc viên, là người truyền báo tin tức cho quân ta từ vùng này sang vùng kia, trận địa này sang trận địa kia. Ta cũng phải thấy được đây là công việc rất nguy hiểm bởi tính bảo mật của thông tin cũng như việc phải đương đầu với sự giám sát của kẻ thù.

    -Vẻ nghịch ngợm của cậu bé Lượm này còn thể hiện ngay trong cái dáng đội mũ của mình, chiếc mũ ca lô không được đội một cách nghiêm chỉnh mà bị làm cho lệch đi, có thể đây là do cậu bé cố tình đội như vậy hoặc do mải mê vui đùa trên đường làm nhiệm vụ mà chiếc mũ vô tình bị gió làm cho lệch. Trái hẳn với tính chất công việc, cậu bé Lượm lúc nào cũng yêu đời, cậu hút sáo, chân chạy nhảy như con “chim chích” trên đường. Trong không khí dữ dội của chiến tranh vào thời điểm mà bài thơ được ra đời, hình ảnh yêu đời vô tư, ngây thơ của cậu bé thật gần gũi, chân thực gợi cho người đọc cảm giác đây là một đứa trẻ đang vui chơi chứ không phải làm nhiệm vụ.

    -Vậy là chú bé Lượm đã ra đi, sự hồn nhiên yêu đời của chú bé chỉ còn lại trong hồi ức của nhà thơ cũng như trong tâm trí của người đọc. Hình ảnh Lượm nằm trên lúa khiến cho người đọc rơi nước mắt vì thương cảm, đau lòng vì chú bé đáng yêu ấy đã hi sinh sinh mạng bé nhỏ của mình, đó là sự dâng hiến cho quê hương, cho đất nước, dù có mất đi rồi thì hồn của cậu bé vẫn vương vấn nơi cánh đồng thơm mùi lúa. Dù mất đi rồi thì Lượm vẫn cậu bé Lượm mãi sống trong tâm trí của người đọc, đó là một hình ảnh thật đẹp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Đề Đọc Hiểu : Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Tác Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ Đầu Bài Thơ ” Mùa Xuân Nho Nhỏ ” Câu Hỏi 342045
  • Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Của Thanh Hải ( Bài 2).
  • Tổng Hợp Câu Hỏi Bài Thơ: Mùa Xuân Nho Nhỏ (Thanh Hải)
  • Tìm Ra Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Thơ: Mùa Xuân Nho Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ “mùa Xuân Nho Nhỏ” Của Thanh Hải
  • Câu Thơ Một Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào
  • Giải Thích Một Cây Làm Chẳng Nên Non Ba Cây Chụm Lại Nên Hòn Núi Cao
  • Một Cây Làm Chẳng Nên Non, Ba Cây Chụm Lại Nên Hòn Núi Cao. Hãy Chứng Minh Nội Dung Câu Tục Ngữ Bằng Những Dẫn Chứng Rút Ra Từ Lịch Sử Bảo Vệ Và Xây Dựng Tổ Quốc Của Nhân Dân Ta.
  • Bài Văn Hay Chứng Minh Về Ý Nghĩa Câu Tục Nghĩ Một Cây Làm Chẳng Lên Non
  • Với nét bút khoáng đạt, bức tranh mùa xuân thiên nhiên được nhà thơ phác họa bằng những hình ảnh tự nhiên, giản dị mà gợi cảm:

    “Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc”.

    + Xứ Huế vào xuân với “dòng sông xanh”, với “bông hoa tím biếc”. Sắc xanh hiền hòa của sông điểm xuyết nét chấm phá của bông hoa tím biếc gợi một sắc xuân tươi tắn, rực rỡ mà vẫn rất mực bình dị, dân dã mang đậm chất Huế.

    + Động từ “mọc” được đảo lên đầu câu thơ gợi ấn tượng đậm nét về vẻ đẹp duyên dáng, và sức sống mạnh mẽ của bông hoa mùa xuân. Có thể là bông hoa lục bình, cũng có thể là bông trang, bông súng. Với sắc màu tím biếc mang nét đặc trưng của xứ Huế mộng mơ như đang vươn lên, đang trỗi dậy. Hoa tím biếc mọc trên dòng sông xanh – cái hài hòa, tự nhiên của màu sắc đem đến vẻ đẹp dịu nhẹ, thanh mát, say người của thiên nhiên ban tặng.

    – Bức tranh mùa xuân xứ Huế không chỉ tươi tắn sắc màu mà còn rộn rã âm thanh:

    “Ơi con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời”.

    Tiếng hót của chim chiền chiện mở ra một không gian mùa xuân cao vời và trong lành. Với từ cảm thán “Ơi” và lời hỏi “Hót chi”, Thanh Hải đã đưa vào lời thơ giọng điệu ngọt ngào, dịu nhẹ, thân thương của người dân xứ Huế, diễn tả cảm xúc vui say đến ngỡ ngàng trước một mùa xuân tươi đẹp – một mùa xuân giàu chất thơ.

    – Trước mùa xuân thiên tươi đẹp, cảm xúc của thi nhân được gợi tả bằng những câu thơ giàu chất tạo hình:

    ” Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng”.

    + Đây là một hình ảnh đẹp – đẹp trong cách diễn đạt cảm xúc một cách tự nhiên, giản dị mà giàu sức biểu cảm. “Giọt long lanh rơi” có phải giọt sương, giọt nắng, giọt mưa , hay chính là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện đã ngưng đọng thành hình, thành khối, thành sức sống mùa xuân có sắc màu lóng lánh? Rõ ràng, âm thanh tiếng chim vô hình, vô ảnh vốn được cảm nhận bằng thính giác đã được hữu hình, hữu ảnh thành vật thể được cảm nhận bằng thị giác và xúc giác. Phép tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được thi nhân vận dụng tài hoa, tinh tế qua trí tưởng tượng phong phú.

    + Trong cảm xúc của nhà thơ, âm thanh tiếng chim đồng nội trở thành giọt vui, giọt hạnh phúc ở đời đáng được nâng niu, trân trọng, để rồi: “Tôi đưa ta tôi hứng”. Lập lại hai lần đại từ “tôi” trong câu thơ năm chữ trở thành nhịp 3/2 cùng cử chỉ “hứng” đã diễn tả chân thực tâm trạng say sưa, ngây ngất của con người trước cảnh đất trời vào xuân.

    “Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ

    + Các điệp ngữ “mùa xuân”, “lộc”, “người” như trải rộng khung cảnh hiện thực gắn với cuộc sống lao động, chiến đấu của nhân dân.

    + Nhà thơ đã sáng tạo cặp hình ảnh sóng đôi để nói về hai lực lượng chủ yếu của Cách mạng, hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước: người chiến sĩ và người lao động – bảo vệ và xây dựng đất nước.

    + Ẩn dụ “Lộc” tượng trưng cho vẻ đẹp mùa xuân và sức sống mãnh liệt của đất nước. Người lính khoác trên lưng vành lá ngụy trang xanh biếc mang theo sức sống của mùa xuân, sức mạnh của dân tộc để bảo vệ Tổ quốc. Người nông dân đem sức lao động cần cù , nhỏ giọt mồ hôi làm nên màu xanh của ruộng đồng.

    “Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao.”

    – Nghệ thuật điệp ngữ “tất cả”, các từ láy “hối hả”, “xôn xao” làm nổi bật không khí náo nức, khẩn trương của đất nước khi bước vào mùa xuân mới.

    “Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước”

    + Với nghệ thuật hoán dụ “Đất nước bốn ngàn năm” : biểu hiện bề dày truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, một dân tộc cần cù, chịu khó, không chấp nhận dưới sự bóc lột của đế quốc xâm lăng, sẵn sàng anh dũng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ tổ quốc.

    + Phép tu từ so sánh được nhà thơ sử dụng vô cùng đặc sắc, làm ý thơ hàm súc – “Đất nước như vì sao”. Sao là nguồn sáng kì diệu của thiên hà, là vẻ đẹp lung linh của bầu trời đêm, là hiện thân của sự vĩnh hằng trong vũ trụ. So sánh như thế là tác giả đã ca ngợi đất nước đẹp lung linh tỏa sáng như vì sao với tư thế đi lên.

    “Ta làm con chim hót Ta làm một cành hót Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến”.

    – Để bày tỏ lẽ sống của mình, ngay từ những câu thơ mở đầu đoạn, Thanh Hải đã đem đến cho người đọc cái giai điệu ngọt ngào, êm ái của những thanh bằng liên tiếp “ta”-“hoa”-“ca”.

    – Điệp từ “ta” được lặp đi lặp lại thể hiện một ước nguyện chân thành, thiết tha. Động từ “làm”-“nhập” ở vai trò vị ngữ biểu lộ sự hoá thân đến diệu kỳ – hoá thân để sống đẹp, sống có ích.

    – Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống để bày tỏ ước nguyện: con chim, một cành hoa, một nốt trầm.

    – Với cách sử dụng đại từ này, nhà thơ đã khẳng định giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng và cái chung.

    “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”.

    – Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ Thanh Hải rất chính xác, tinh tế và gợi cảm: làm một mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng hiến cho cuộc đời. “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, biểu lộ một cuộc đời đáng yêu, một khát vọng sống cao đẹp.Mỗi người hãy làm một mùa xuân, hãy đem tất cả những gì tốt đẹp, tinh tuý của mình, dẫu có nhỏ bé để góp vào làm đẹp cho mùa xuân đất nước.

    – Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy một thái độ chân thành, khiêm nhường, lấy tình thương làm chuẩn mực cho lẽ sống đẹp, sống để cống hiến đem tài năng phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

    – Điệp từ: “Dù là” như nhấn mạnh ước nguyện cống hiến cho đời của tác giả là không kể thời gian, tạo âm điệu thơ sâu lắng, ý nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Tả Tâm Trạng Trong Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Chuyên Đề Luyện Tập Làm Văn Thuyết Minh Có Sử Dụng Các Biện Pháp Nghệ Thuật Và Yếu Tố Miêu Tả
  • Thuyết Minh Về Con Trâu Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Và Yếu Tố Miêu Tả.
  • Thuyết Minh Về Con Mèo Có Sử Dụng Miêu Tả & Biện Pháp Nghệ Thuật
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân.

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà
  • Đặc Điểm Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ “vội Vàng”
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác.
  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Đặc sắc nghệ thuật trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

    Sông Đà có mang vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng – là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa.

    – Dáng vẻ dòng sông đầy thơ mộng: Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trừ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc tung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân…Sông Đà như một áng tóc mun dài ngàn ngàn vạn vạn sải.

    – Sắc màu nước biển đổi kì ảo theo từng mùa: Mùa xuân dòng sông xanh ngọc bích, mùa xuân từ từ chín đỏ.

    Đặc sắc nghệ thuật trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

    – Bài tùy bút đã sửdụng những kiến thức liên ngành đa dạng: lịch sử, địa lí, võ thuật, điện ảnh, hội hoạ, điêu khắc…

    – Nghệ thuật nhân hoá, so sánh của nhà văn rất táo bạo. Mỗi so sánh trong tác phẩm thực sự là một phát hiện sắc sảo, độc đáo về sông Đà.

    – Ngôn ngữ rất phong phú, tinh tế, chính xác, câu văn giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu.

    Chứng minh rằng Nguyễn Tuân đã quan sát công phu và tìm hiểu kĩ năng khi viết về Người lái đò sông Đà.

    – Tác phẩm Người lái đò sông Đà thể hiện sự quan sát công phu và tìmhiểu kĩ càng của nhà văn trên các phương diện sau:

    – Tác giả đã miêu tả sông Đà vói tất cả những chi tiết rất cụ thể, sinh động và thực tế.

    – Tác giả miêu tả từ nhiều góc độ quan sát: từ trên máy bay để thấy sông Đà như một sợi dây thừng.

    Hãy nêu nhận xét về nghệ thuật xây dụng hình tượng người lái đò cũng như nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Tuân trong phần này.

    Nguyễn Tuân là nhà văn có tài tạo dựng không khí, đem đến cho tác phẩm bằng nghệ thuật miêu tả một sự sống động như sự việc đang diễn ra thật, lối thuật kể đầy kịch tính, mạch văn dồn dập, từ ngữ biến hoá làm cho người đọc thấy lôi cuốn, hấp dẫn có cảm giác như đang trực tiếp chứng kiến sự việc. Nhà văn đã thể hiện một cách tài hoa tất cả các tâm, trí, lực, tất cả sự điêu luyện, tinh xảo nhà nghề của người lái đò. Theo Nguyễn Tuân, chỉ có thứ huân chương lao động siêu hạng của cuộc sống tặng cho ông đò mới thực sự xứng đáng (dấu tròn ở ngực).

    Trong thiên tuỳ bút, tác giả đã dùng những biện pháp nghệ thuật nào để khắc hoạ một cách ẩn tượng hình ảnh con sông Đà hung bạo?

    a) Tìm đến sông Đà, Nguyễn Tuân trước hết phát hiện ở con sông vẻ đẹp hung bạo, dữ dội. Đoạn văn trích tập trung miêu tả cái hung bạo của con sông qua cảnh thác nước và trận địa đá trên sông Đà.

    – Cảnh đá bờ sông dựng vách thành: Mặt sông quãng ấy lúc đúng ngọ mói thấy mặt trời (so sánh: vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu; quan sát hình dung: khoảng cách nhẹ nhàng tưởng như đứng từ bờ này ném nhẹ hòn đá sang bờ bên kia… Những cảm giác tác giả muốn truyền cho người đọc rất ấn tượng: ngồi trong khoang đò quãng ấy, mùa hè cũng cảm thấy lạnh, nhà văn nói cái hẹp, cái tối của vách đá bờ sông để tôn lên sự hùng vĩ hiểm trở của sông Đà quãng lòng sông hẹp…). Tác giả đã sử dụng biện pháp tô đậm, cường điệu.

    – Khi miêu tả ghềnh sông, Nguyễn Tuân sử dụng cấu trúc câu trùng điệp nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô sóng, cuồn cuộn lòng gùn ghè suốt năm như đòi nợ xuýt bất kỳ người lái đò nào qua đây. Tác giả dùng biện pháp vừa cường điệu vừa nhân hóa.

    – Đoạn miêu tả những hút nước trên sông được Nguyễn Tuân tái hiện những cảm giác mạnh dành cho kĩ xảo điện ảnh… Tất cả chứng tỏ khả năng quan sát và sự hình dung, liên tưởng tuyệt vời. Ở đây tác giả dùng biện pháp so sánh, thể nghiệm…

    – Đoạn miêu tả “thác nước” và “thạch trận” sông Đà.

    + Âm thanh dữ dội, đầy những tiếng réo gào. “Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo, gần mãi lại réo to mãi lên”. Tiếng thác được ví như tiếng rống của “một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu tre nứa nổ lừa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Người đọc có thể cảm nhận được sự lồng lộn, giận dữ của con sông qua một thứ ngôn từ có sức nóng, có màu sắc. Tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh.

    + Hình ảnh: “Sóng bọt trắng xoá cả một chân trời đa’ cho thấy sự mịt mùng của sóng nước. Đá: ngàn năm mai phục, khi con thuyền tới thì chồm cả dậy, vồ lấy thuyền, mặt hòn nào cũng ngỗ ngược, nhăn nhúm, méo mó đến dừ tợn; đá bày “thạch trận”, sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn với đá tướng, đá quân, những tường vây mà sóng nước tạo ra chỉ chờ con thuyền sơ hở để đưavào cửa tử chết chóc… Nước: reo hò vang dậy, làm thành viên đá để bè gãy cán chèo vũ khí trên tay ông đò, đánh đến mòn đòn độc hiểm. Khi đối mặt, sôngtích tắc sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng sà xuống mà châm lửa vào đầu sóng làm hoa mắt. Ngay cả khi đã thua thì mặt các hòn đá cũng hết sức đáng sợ: cái mặt xanh lè vì thất vọng (Nhân hoá).

    b) Tóm lại, bằng các biện pháp nhân hoá, so sánh, tô đậm, phối hợp với việc sử dụng ngôn ngữ giàu chất tạo hình, gợi hình, những liên tường kì thú,táo bạo, khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức của nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực: nghệ thuật, võ thuật, quân sự những câu văn có sức nén, sức dồn, độ căng, độ giãn đã giúp Nguyễn Tuân khắc họa một cách ấn tượng về một con sông hung bạo, người đọc có thể hình dung sông Đà như có một linh hồn, một thứ thiên nhiên mà có nhiều lúc như Nguyễn Tuân nói: trông nó ra thành “diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một” của con người Tây Bắc, gợi liên tưởng tới câu đồng dao về thần sông, thần núi trong truyện cổ:

    Núi cao sông hãy còn dài

    Năm năm báo oán, đời đòi đánh ghen

    Ở đây người đọc vẫn nhận ra “chất Nguyễn” (tức phong cách riêng của Nguyễn Tuân) trong nhân vật của Nguyễn Tuân: có chút gì đó hơi khinh bạc tài tử. Như vậy, chính cái hùng vĩ, dữ dội của sóng, thác, nước Đà là yếu tố tôn ông lái đò lên hàng “oai phong tối thượng”. Đó là điều kiện để nhân vật Nguyễn Tuân thểhiện các ngón nghề của mình. Thiên nhiên Tây Bắc đẹp đẽ, kì thú, những con người Tây Bắc thực sự là thứ “vàng mười” của đất nước, tài hoa như vậy mới “trị” được con sông này, bắt nó phục vụ cho cuộc sống của mình.

    Hình ảnh con sông Đà trong bài tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

    Tác phẩm Sông Đà, với mười lăm tùy bút, là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc vào năm 1958 của Nguyễn Tuân, đã ghi nhận nhiều bức tranh sinh động và nhiều hình ảnh nghệ thuật đầy sức hấp dẫn, đậm đà cảm hứng lãng mạn trong sáng.

    Một trong các tùy bút đó là Người lái đò Sông Đà. Bài văn đầy ắp những tư liệu địa lí, lịch sử như ngọn nguồn của sông Đà, những địa thế đặc biệt, những con thác dữ, lịch sử đấu ừanh cách mạng của nhân dân vùng cao Tây Bắc, đồng thời miêu tả hình ảnh con sông Đà bằng một phong cách nghệ thuật độc đáo.

    a) Sông Đà hung bạo, hiểm ác

    a1. Sông Đà hung bạo

    Nét dữ dội đầu tiên của con sông là những thác nước gầm réo muôn đời:

    – Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng mộtngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lừa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng.

    – Con sông chợt trở nên hung bạo hon khi sóng nước reo hò làm thanh điệu cho đá, mặt nước hò la vang dậy quanh mình ùa vào mà bẻ gãy cán chèo (…).Có lúc chúng đội cả thuyền lên.

    a2. Sông Đà hiếm ác

    Có những quãng sông đầy thác ghềnh, lòng sông như bày một thạch trận chực nuốt chìm những con thuyền non tay lái:

    Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông, đòi ăn chết cái thuyền…

    Phép nhân hóa được tận dụng để tả thạch trận mà khúc sông đã bày ra theo một chiến thuật hiểm ác:

    Vòng đầu vừa rồi nói mởra năm trận, có bồn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh này nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai tăng thêm nhiều cửa tà để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn.

    Bên cạnh hình ảnh hung bạo, hiểm ác là hình ảnh con sông Đà hiền hòa, thơ mộng, hai bờ sông tràn đầy cảnh sắc tươi vui.

    b. Sông Đà thơ mộng, hiền hòa bỉ. Con sông thơ mộng được mô tả từ trên cao

    Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mấy trời Tây Bắc…

    Nước sông đổi thay tùy mùa: Mùa xuân dòng xanh như ngọc bích… Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ…

    b2. Con sông hiền hòa

    Có những quãng ven sông lặng lờ: Hình như tò đời Lí, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi và bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.

    Nét hiền hòa ấy làm cho cảnh vật trở nên gợi cảm, làm cho khách trên đò chợt mơ màng như nghe tiếng con hươu đang thủ thỉ: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương (…)” trong tưởng tượng của tác giả.

    Biện pháp nhân hóa và ẩn dụ được vận dụng: Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải…

    c) Hai bờ sông Đà tràn ngập cảnh sắc tươi vui của một cuộc sống mới đang bắt đầu, nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa (…) một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm (…), đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi.

    Nhìn chung, cái đẹp của sông Đà có khi do nhũng nét hùng tráng, dữ dội, có khi từnhững dáng nét, thanh sắc êm dịu, mượt mà được thể hiện bằng một phong cách độc đáo, tài hoa với những hình ảnh chọn lọc, tàng ngôn từ chăm chút, câu, đoạn văn giàu tính nhạc.

    Nguyễn Tuân nhìn thiên nhiên và con người trong hoàn cảnh khác nghiệt, đồng thời cảm nhận thiên nhiên và con người ở cả phương diện thẩm mĩ, tài hoa.

    Sông Đà nói chung và Người lái đò sông Đà chính là áng thơ trữ tình bầng văn xuôi ca ngợi Tổ quốc giàu đẹp, thê hiện niềm tin yêu cuộc sông mới đang diễn ra trên đất nước ta.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bức Tranh Thu Trong Bài Thơ Sang Thu, Bài
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Sang Thu
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Bài Cổng Trường Mở Ra
  • Cảm Nhận Về Khổ 3 Bài Thơ Nhớ Rừng Lớp 8 Hay Nhất
  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Thứ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100