Lý Thuyết Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da Sinh 8

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Da
  • Nhận Biết Ngay Chức Năng Và Cấu Tạo Của Da
  • Lý Thuyết Sinh Học Lớp 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
  • Trà Đen Là Gì? Tác Dụng Của Trà Đen Trong Làm Đẹp
  • Trà Đen Là Gì? Tác Dụng Của Trà Đen Cho Sức Khỏe
  • – Cấu tạo da gồm 3 lớp: lớp biểu bì, lớp bì (trung bì) và lớp mỡ dưới da (hạ bì).

    Lớp biểu bì bào gồm: tầng sừng và tầng tế bào sống

    + Nằm ở ngoài cùng của da.

    + Gồm những tế bào chết đã hóa sừng xếp sít nhau và dễ bong ra.

    – Vào mùa hanh khô, ta thường thấy những vảy nhỏ trắng bong ra như phấn trắng đó chính là tế bào lớp ngoài cùng của da đã chết và hóa sừng bong ra.

    + Nằm dưới lớp sừng.

    + Lớp tế bào có khả năng phân chia tạo ra các tế bào mới thay thế lớp tế bào ở lớp sừng đã bong ra.

    + Có chứa sắc tố qui định màu sắc da. Tạo nên các màu da khác nhau

    – Các tế bào ở lớp tế bào sống dễ hấp thụ tia UV của ánh sáng mặt trời → sạm da, đen da (hình thành sắc tố melanin)… thậm chí có thể gây ung thư da → cần phải bảo vệ da, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời quá lâu.

    * Các sản phẩm của da

    – Lông và móng là sản phẩm của da. Chúng được sinh ra từ các túi cấu tạo bởi các tế bào của tầng tế bào sống.

    + Tóc tạo nên lớp đệm không khí để chống tia tử ngoại, điều hòa nhiệt độ

    + Lông mày ngăn mồ hôi và nước

    * Lưu ý: ta không nên lạm dụng kem, phấn, nhổ bỏ lông mày, dùng bút chì kẻ lông mày tạo dáng vì

    + Khi lạm dụng kem, phấn sẽ gây bít các lỗ chân lông và lỗ tiết chất nhờn, tạo điều kiện cho vi khuẩn bám vào da và phát triển gây bệnh da cho.

    + Không nên nhổ bỏ lông màu vì lông mày có vai trò ngăn không cho mồ hôi và nước chảy xuống mắt nếu nhổ bỏ lông mày thì nước và mồ hôi chảy xuống mắt có thể gây đau mắt và các bệnh về mắt.

    – Cấu tạo từ các sợi mô liên kết bện chặt, gồm có: thụ quan, tuyến nhờn, cơ co chân lông, lông và bao lông, tuyến mồ hôi, dây thần kinh, mạch máu và rất nhiều các thành phần khác.

    Ví dụ: sợi collagen giúp da đàn hồi tạo nên sự săn chắc của da. Mức độ đàn hồi của các sợi collagen phụ thuộc vào từng lứa tuối làm biến đổi hình thái của da.

    – Lớp bì có vai trò giúp cho:

    + Da luôn mềm mại và không thấm nước vì: các sợi mô liên kết bện chặt với nhau và trên da có nhiều tuyến nhờn tiết chất nhờn.

    + Trên da có các thụ cảm nằm dưới da, có dây thần kinh nên ta nhận biết được nóng, lạnh, độ cứng, mềm của vật mà ta tiếp xúc.

    + Da có phản ứng khi trời quá nóng hoặc quá lạnh: khi trời nóng: mao mạch dưới da dãn → tuyến mồ hôi tiết nhiều mồ hôi; khi trời lạnh: mao mạch dưới da co → cơ chân lông co lại.

    – Đặc điểm: chứa mỡ dự trữ, có vai trò cách nhiệt

    Da là lớp màng sinh học, không chỉ là vỏ bọc ngoài cơ thể mà còn có nhiều chức năng khác nhau:

    – Điều hòa nhiệt độ cơ thể: giữ cho cơ thể luôn ở mức 37 0 C

    – Bài tiết chất độc cơ thể: ure, ammonia, acid uric…

    – Tạo vitamin D: giúp cho sự tăng trưởng và phát triển của xương

    – Giữ ẩm cho cơ thể: tránh sự bốc hơi nước làm khô da

    – Thu nhận cảm giác: nhờ vào những thụ cảm thể mà da có những cảm giác nóng, lạnh, đau…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Cấu Tạo Của Da Và Các Loại Da
  • Bài 41. Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
  • Microsoft Word Là Gì? Chức Năng Chính Của Microsoft Word Là Gì?
  • Phân Biệt Telephone, Cell Phone, Smartphone, Cellular Phone
  • Sự Khác Nhau Giữa Apple Watch Series 4 Bản Cellular Và Gps Là Gì?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Thận?

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 7 Thuốc Bổ Thận Tốt Nhất Hiện Nay Cho Nam Giới 2022
  • Cách Lựa Chọn Thực Phẩm Chức Năng Bổ Thận An Toàn Nhất
  • Thực Phẩm Chức Năng Giúp Bổ Thận Tráng Dương Kanka Nhật Bản
  • 12 Loại Thực Phẩm Giúp Bổ Thận Tốt Nhất Được Bác Sĩ Khuyên Dùng
  • Thực Phẩm Chức Năng Bổ Thận Rizin Nhật Bản Cải Thiện Sinh Lý Nam Giới ( Hộp 30 Viên )
  • Thận (ở động vật được gọi là cật) là một cơ quan bài tiết chính trong hệ tiết niệu. Mỗi người có hai quả thận, có nhiều chức năng.

    Thận là một bộ phận quan trong trong hệ tiết niệu, có hình hạt đậu nằm trong khoang bụng sau phúc mạc đối xứng nhau qua cột sống, ngang đốt sống ngực T11 đến đốt thắt lưng L3. Thận phải nằm hơi thấp hơn thận trái khoảng 1 đốt sống, mặt trước thận nhẵn bóng, mặt sau sần sùi.

    Cặp động mạch thận cung cấp máu cho các quả thận, bắt nguồn từ động mạch chủ bụng, và chảy vào các cặp tĩnh mạch thận. Mỗi quả thận tiết nước tiểu vào niệu quản, là cấu trúc cặp đôi dẫn nước tiểu vào bàng quang. Tuyến nội tiết thượng thận nằm phía trên mỗi quả thận.

    Mỗi quả thận của người được cấu tạo từ khoảng 1 triệu đơn vị chức năng của thận là nephron. Chỉ cần 25% số nephron hoạt động bình thường cũng đảm bảo được chức năng của thận. Chiều dài một nephron là 35-50 mm. Tổng chiều dài của toàn bộ nephron của hai thận có thể lên tới 70-100 km. Người ta chia nephron thành 2 loại:

    • Nephron vỏ: có cầu thận nằm ở vùng vỏ thận, có quai Henle ngắn và cắm vào phần ngoài của tủy thận. Khoảng 85% số nephron là nephron loại này.
    • Nephron cận tủy: cầu thận nằm ở nơi vùng vỏ tiếp giáp với phần tủy thận, có quai Henle dài và cắm sâu vào vùng tủy thận. Các nephron này rất quan trọng đối với việc cô đặc nước tiểu nhờ hệ thống nhân nồng độ ngược dòng.

    Mỗi đơn vị chức năng thận gồm cầu thận và các ống thận.

    Vùng vỏ thận

    Cầu thận có thể quan sát được trên kính lúp, thấy rõ ở phần vỏ gồm các chấm đỏ, nhỏ li ti, đường kính 0,2 mm

    Nang cầu thận hay còn gọi là bọc Bowman là một túi lõm trong có búi mạch. Bọc Bowman thông với ống lượn gần. Búi mạch gồm các mao mạch (khoảng 20-40) xuất phát từ tiểu động mạch đến cầu thận và ra khỏi bọc Bowman bằng tiểu động mạch đi. Biểu mô cầu thận dẹt, dày khoảng 4 micromet.

    Cột thận là phần vỏ, dày khoảng 4mm bao gồm các hạt thận, nằm giữa các tháp thận.

    Nhu mô thận gồm hai phần có màu sắc khác nhau: phần vỏ màu đỏ nhạt ở phía ngoài và phần tủy đỏ thẫm ở phía trong.

    Vùng tủy thận

    Tháp thận là một khối hình nón có đáy hướng về vỏ thận và có đỉnh hướng về bể thận. Đỉnh của tháp thận gọi là gai thận hay nhú thận. Tháp thận thường có nhiều hơn nhú thận. Mỗi quả thận có khoảng 12 gai thận. Trên gai thận có nhiều lỗ nhỏ, từ 15 đến 20 lỗ, là các lỗ của các ống góp mở vào đài thận. Mỗi thận có thể gồm hàng chục tháp thận, được tạo bởi một phần các ống thận.

    Các ống thận

    • Ống lượn gần là đoạn tiếp nối với bọc Bowman nằm ở vùng vỏ, có một đoạn cong và một đoạn thẳng.
    • Quai Henle là phần tiếp theo ống lượn gần. Nhánh xuống của quai Henle mảnh, đoạn đầu nhánh lên mảnh và đoạn cuối dày.
    • Ống lượn xa nối tiếp quai Henle, nằm ở vùng vỏ.
    • Ống góp không thuộc đơn vị thận nhưng có chức năng nhận dịch lọc từ một số đơn vị chức năng của thận để đổ vào bể thận.

    Thận có nhiều chức năng quan trọng như:

    • Lọc máu và chất thải là chức năng chính của thận. Thận sẽ lọc các chất thải và chỉ giữa lại protein và các tế bào máu. Chất thải sẽ được tiết ra vào dịch lọc để hình thành nước tiểu.
    • Bài tiết nước tiểu: nước tiểu được tạo thành ở các đơn vị chức năng của thận. Trước tiên là quá trình lọc máu qua màng lọc ở vách mao mạch ở cầu thận để tạo thành nước tiểu đầu ở nang cầu thận. Động mạch thận đưa 1 lít máu vào thận trong 1 phút, 40% là hồng cầu không qua được lỗ lọc. Và chỉ có 60% trong số đó tức 600ml huyết tương vào cầu thận mỗi phút, nhưng khi đó ở động mạnh đi chỉ còn 480ml, nên có 120ml lọt qua lỗ lọc sang nang cầu thận để tạo thành nước tiểu đầu. Vì vậy mỗi ngày sẽ có khoảng 172 lít nước tiểu đầu được hình thành.
    • Tiếp theo là quá trình hấp thu lại. Quá trình này đã biến 172 lít nước tiểu đầu thành nước tiểu chính thức mỗi ngày. Các chất độc hại còn sót trong 480ml huyết tương qua cầu thận vào trong động mạch đi sẽ được lọc tiếp ở ống thận nhờ quá trình bài tiết tiếp. Nước tiểu chính thức sẽ được đổ vào bể thận, xuống ống dẫn nước tiểu rồi được tích trữ trong bàng quang, và cuối cùng được thải ra ngoài nhờ ống đái.
    • Điều hòa thể tích máu: thận có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát khối lượng dịch ngoại bào có trong cơ thể bằng cách sản xuất nước tiểu. Khi chúng ta uống nhiều nước thì lượng nước tiểu sẽ tăng lên và ngược lại.
    • Ngoài ra thận còn có vai trò nội tiết do bài tiết hormon renin tham gia điều hòa huyết áp và sản xuất erythropoietin có tác dụng làm tủy xương tăng sản xuất hồng cầu khi oxy mô giảm. Thận còn tham gia vào quá trình chuyển hóa vitamin D3 và chuyển hóa glucose từ các nguồn không phải hydrat carbon trong trường hợp bị đói ăn lâu ngày và bị nhiễm acid hô hấp mạn tính

    Những thói quen gây hại cho thận như

    • Lạm dụng thuốc giảm đau bằng việc sử dụng lâu dài hoặc liều lượng lớn các loại thuốc kháng viêm giảm đau như aspirin, indomethacin, acetaminophen sẽ gây hại cho thận.
    • Uống quá nhiều đồ uống không tốt cho sức khỏe như: nước ngọt, nước có ga, trà đặc, rượu bia. Hầu hết chúng đều được lọc qua thận và gan. Vì vậy, uống quá nhiều sẽ làm tăng gánh cho thận và các cơ quan tiêu hóa.
    • Nhịn tiểu là thói quen của rất nhiều người, do quá bận rộn với công việc, hay ngại đứng dậy đi tiểu để cố làm nốt việc. Điều này sẽ khiến cho nước tiểu bị giữ lại lâu trong bàng quang, có thể dẫn đến nhiễm trùng đường tiết niệu và viêm đài bể thận.
    • Uống quá ít nước: nếu không uống nước trong một thời gian dài, lượng nước tiểu sẽ giảm đi đồng nghĩa với việc các chất thải và độc tố có trong nước tiểu sẽ tăng lên. Dẫn tới các bệnh như sỏi thận. thận ứ nước…
    • Ăn nhiều muối

    Các biện pháp giúp cho thận luôn khỏe mạnh

    • Uống nhiều nước: mỗi ngày cần uống tối thiểu 2 lít nước. Khi cơ thể không được cung cấp đủ nước, thận và máu sẽ không hoạt động tốt, thận sẽ không thể tạo ra các áp lực nước đủ lớn để thải độc tố ra ngoài qua đường tiết niệu.
    • Ăn các loại thực phẩm tốt cho cơ thể như các loại trái cây, rau củ quả giúp thận loại bỏ acid dư thừa ra khỏi cơ thể và bài tiết trong nước tiểu. Một số thực phẩm tốt cho thận: táo, lòng trắng trứng, bắp cải, súp lơ, tỏi, ớt chuông, quả nam việt quất…
    • Giảm tiêu thụ muối và protein: natri và protein là cần thiết để duy trì cân bằng chất lỏng, nhưng nếu dư thừa trong cơ thể quá nhiều mà không được đào thải thì sẽ gây ra bệnh thận, cao huyết áp có thể dẫn tới đột quỵ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Hay Không Mối Liên Quan Giữa Thận Với Liệt Dương?
  • Tạng Thận Trong Đông Y
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Arn Vận Chuyển Pot
  • Quá Trình Dịch Mã Baithaoluannhom3 Ppt
  • Giáo Án Sinh Học 9 Bài Mối Quan Hệ Giữa Gen Và Arn Giáo Án Điện Tử Sinh Học 9
  • Chức Năng Của Thận Là Gì? Đặc Điểm Và Cấu Tạo Của Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Thận Trên Cơ Thể Người Là Gì?
  • Chức Năng Của Thận Mà Nhiều Người Còn Chưa Biết
  • Thận Nằm Ở Đâu? Chức Năng, Vị Trí, Vai Trò Của Thận
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Màng Sinh Chất
  • Màng Sinh Chất (Màng Tế Bào)
  • Thận là bộ phận đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể. Chức năng của thận là gì? Một trong những chức năng quan trọng nhất của thận là lọc máu và đào thải chất độc ra ngoài. Vậy những chức năng khác của thận là gì? Đặc điểm cấu tạo của thận như thế nào?

    Cấu tạo của thận

    Thận là cơ quan bài tiết chính của hệ tiết niệu, nằm sát thành sau của bụng và ở hai bên cột sống gần cơ thắt lưng chính. Thận nằm ngang đốt ngực cuối cùng đến đốt thắt lưng L3 trong khung xương sườn. Thận phải nằm thấp hơn so với thận bên trái khoảng 1 đốt sống.

    Thận có hình hạt đậu màu nâu nhạt, mỗi quả thận có kích thước chiều dài khoảng 10-12.5 cm, rộng 5-6cm, dày 3-4cm và có trọng lượng khoảng 170g. Mặt trước của thận nhẵn bóng còn mặt sau thì sần sùi, có bờ lồi và bờ lõm. Ở chính giữa thận trái và thận phải có một chỗ lõm sâu gọi là rốn thận.

    Mỗi quả thận được cấu tạo từ 1,2 triệu nephron, đơn vị chức năng của thận. Chỉ cần 25% tổng số lượng nephron hoạt động bình thường thì chức năng thận sẽ được đảm bảo. Mỗi nephron có chiều dài là 35-50mm, tổng chiều dài toàn bộ nephron của 2 thận có thể lên tới khoảng 70-100km. Nephron được chia thành 2 loại là Nephron vỏ và Nephron cận tủy. Trong đó:

    • Nephron vỏ: Chiếm 85% tổng số nephron, có cầu thận nằm ở vùng vỏ thận, có quai Henle ngắn và cắm bên ngoài tủy thận.
    • Nephron cận tủy: Giữ vai trò quan trọng trong việc cô đặc nước tiểu nhờ hệ thống nhân nồng độ ngược dòng. Cầu thận nằm ở khu vực vùng vỏ tiếp giáp với phần tủy thận, có quai Henle dài và cắm sâu vào tủy thận

    Thận bao gồm 2 vùng là vùng vỏ và vùng tủy. Vùng vỏ nằm ở vị trí ngoài cùng của thận, có màu đỏ hoặc đỏ sẫm, dày khoảng 7-10mm. Vùng tủy và các bể thận là phần kế tiếp chứa nhiều mô mỡ, mạch máu và dây thần kinh. Mỗi đơn vị chức năng của thận bao gồm cầu thận và các ống thận.

    Cầu thận thuộc phần vỏ thận, nếu nhìn qua kính lúp có thể thấy các chấm đỏ li ti với đường kính khoảng 0,2mm. Nang cầu thận (hay còn gọi là bọc Bowman) là một túi lõm bên trong có búi mạch thông với ống lượn gần. Búi mạch gồm khoảng 20-40 mao mạch, xuất phát từ tiểu động mạch đến cầu thận và ra khỏi bọc Bowman bằng tiểu động mạch.

    Ống thận bao gồm ống lượn xa, ống lượn gần và quai Henle. Ống lượn gần sẽ nhận dịch lọc từ nang đổ sang, dẫn đến quai Henle, chuyển đến ống lượn xa của quai Henle rồi đổ vào ống góp. Ống góp không thuộc đơn vị thận mà chỉ có chức năng nhận dịch lọc từ một số nephron, sau đó đổ vào bể thận.

    • Ống lượn gần là đoạn tiếp nối với bọc Bowman ở phần vỏ thận, bao gồm 1 đoạn cong và 1 đoạn thẳng.
    • Quai Henle là phần tiếp theo của ống lượn gần. Quai Henle gồm 1 nhánh xuống mảnh, đoạn đầu nhánh lên mảnh, còn đoạn cuối dày.
    • Ống lượn xa là phần nối tiếp quai Henle và cũng nằm ở vùng vỏ.

    4 chức năng của thận bạn cần biết

    Chức năng chính của thận là lọc máu, loại bỏ các chất cặn bã ra ngoài theo đường nước tiểu. Ngoài ra, thận còn có các chức năng khác như bài tiết nước tiểu, điều hòa thể tích máu và chức năng nội tiết.

    Lọc máu và chất thải

    Vai trò chủ yếu của thận là lọc bỏ các chất thải ra khỏi cơ thể. Tất cả máu trong cơ thể sẽ đi qua thận theo chu kỳ dao động từ 20-25 lần/ngày và phân chia thành các mao mạch li ti bện chặt vào nephron. Sau đó, thận sẽ đưa các chất thải ra ngoài cơ thể dưới dạng nước tiểu thông qua niệu quản.

    Bài tiết nước tiểu

    Nước tiểu được tạo thành bởi các đơn vị chức năng thận. Bắt đầu từ quá trình lọc máu qua màng lọc ở vách mao mạch ở cầu thận để tạo thành nước tiểu đầu. Sau đó, động mạch thận đưa 1 lít máu vào thận và chỉ 60% được đưa vào cầu thận mỗi phút. Tuy nhiên 60% huyết tương ở động mạch đi chỉ còn 480ml nên có khoảng 120ml lọt qua lỗ lọc sang nang cầu thận để tạo thành nước tiểu đầu.

    Sau đó lượng nước tiểu này sẽ được hấp thu lại để trở thành nước tiểu chính thức. Nước tiểu chính thức sau đó được đổ vào bể thận, xuống ống dẫn nước tiểu rồi được tích trữ trong bàng quang, cuối cùng được thải ra ngoài nhờ ống đái.

    Điều hòa thể tích máu

    Thận còn giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát khối lượng dịch ngoại bào trong cơ thể thông qua việc sản xuất nước tiểu. Khi cơ thể chúng ta được cung cấp nhiều nước thì lượng nước tiểu sẽ tăng lên và ngược lại, lượng nước tiểu sẽ ít đi nếu chúng ta uống ít nước.

    Chức năng nội tiết

    Thận bài tiết hormone renin có tác dụng tham gia điều hòa huyết áp và sản xuất erythropoietin giúp tăng sản xuất hồng cầu ở tủy xương khi oxy mô giảm. Ngoài ra, thận còn tham gia vào quá trình chuyển hóa vitamin D3 và Glucose từ các nguồn không phải hydrat carbon khi cơ thể phải nhịn đói lâu ngày hoặc nhiễm acid hô hấp mạn tính.

    Lưu ý để có thận khỏe mạnh

    Thận giữ vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc duy trì sự sống của con người. Thận khỏe sẽ giúp cơ thể bài tiết chất thải ra ngoài cơ thể và nếu thận yếu, các chất độc sẽ đọng lại bên trong cơ thể gây tắc nghẽn và làm tổn thương thận nghiêm trọng.

    Chính vì vậy, làm thế nào để bảo vệ thận khỏe mạnh, chức năng của thận hoạt động tốt là vấn đề được rất nhiều người quan tâm và tìm hiểu.

    Xây dựng lối sống lành mạnh

    Hoạt động của thận ảnh hưởng rất nhiều từ lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng hằng ngày. Chính vì vậy, người bệnh cần điều chỉnh các thói quen sinh hoạt để tránh gây tổn thương đến thận. Một số điều mà bạn cần lưu ý về lối sống sinh hoạt bao gồm:

    • Uống đủ lượng nước cần thiết mỗi ngày để hỗ trợ quá trình thanh lọc các chất thải ra ngoài cơ thể.
    • Không nên làm việc quá sức dẫn đến tình trạng stress vì điều này sẽ càng làm tăng gánh nặng lên thận.
    • Việc luyện tập thể dục sẽ giúp duy trì cơ thể cân đối, tăng sức dẻo dai và phòng ngừa tăng huyết áp.
    • Không hút thuốc lá bởi đây là chất có thể làm tổn thương mạch máu hoặc làm giảm lượng máu trong thận.
    • Không nên lạm dụng các loại thuốc kê đơn bởi có thể gây tổn thương đến thận.

    Ăn uống khoa học

    Thận giống như chiếc máy bơm hoạt động suốt ngày để thải độc ra khỏi cơ thể. Vì vậy, để giảm tải áp lực cho thận, bạn nên kiêng các thực phẩm giàu protein, kali, photphat, đồ ăn quá ngọt, nhiều dầu mỡ hoặc quá mặn.

    Ngoài ra, các loại thức ăn nhanh, đồ uống có cồn và đồ ăn đóng hộp… chứa rất nhiều calo nhưng lại ít khoáng chất và vitamin, khiến cơ thể suy yếu, tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh suy thận phát triển cũng cần hạn chế thu nạp vào cơ thể.

    Thay vào đó, bạn nên lựa chọn các loại thực phẩm giàu khoáng chất, vitamin, magie, sắt… để tăng cường chức năng và hoạt động của thận. Cụ thể, những thực phẩm giúp khỏe thận bệnh nhân có thể tham khảo là:

    • Trái cây: Bơ, đu đủ, bưởi, táo, dứa, lê, nho… Tránh ăn các loại trái cây như quả dứa, quả chuối, cam, quýt…
    • Rau củ: cải bắp, cải xoăn, cải thảo, súp lơ, ớt chuông đỏ, măng tây…
    • Nước uống: nước ép cà rốt, nước dừa,…

    Chế độ dinh dưỡng khoa học, lối sống lành mạnh kết hợp với việc luyện tập các bài tập thể dục thường xuyên sẽ giúp nâng cao sức khỏe, tăng cường chức năng của thận hiệu quả. Đồng thời, người bệnh nên đi kiểm tra sức khỏe định kỳ để biết được thận vẫn hoạt động bình thường và phát hiện sớm nếu thận có vấn đề.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Arn
  • Bài 2. Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Tin Học 12 Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Thận Trong Cơ Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • 👩⚕️💉👨⚕️các Chức Năng Của Thận Trong Cơ Thể Con Người
  • Thận Và Chức Năng Của Thận
  • Viêm Đài Bể Thận: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Giãn Đài Bể Thận Là Bệnh Gì, Có Nguy Hiểm Không? Xem Ngay Giải Đáp Của Chuyên Gia Tại Đây
  • Các Phương Pháp Đánh Giá Chức Năng Bài Tiết Của Thận
  • Thận thực hiện các chức năng quan trọng ảnh hưởng đến tất cả các bộ phận của cơ thể, và tham gia vào các hoạt động phức tạp giúp cho phần còn lại của cơ thể cân bằng. Khi thận bị tổn thương do bệnh tật, các cơ quan khác cũng bị ảnh hưởng theo.

    Các vấn đề về thận có thể bắt nguồn từ nhiễm trùng đường tiết niệu dẫn đến suy thận. Những tiến bộ khoa học trong ba thập kỷ qua đã cải thiện khả năng chẩn đoán và điều trị cho những người bị bệnh thận.

    Ngay cả khi thận không còn hoạt động, các phương pháp điều trị như lọc máu và ghép tạng đã mang lại hy vọng và cuộc sống mới theo nghĩa đen cho hàng trăm ngàn người trên thế giới.

    Thông tin nhanh về thận

    • Thận giúp duy trì sự cân bằng nội môi của cơ thể, bao gồm huyết áp.
    • Chạy thận nhân tạo được áp dụng để lọc máu nếu thận mất hầu hết chức năng.
    • Thận tiết ra một số kích thích tố.
    • Một số thuốc giảm đau có thể làm hư thận.

    Cấu tạo của quả thận

    2 quả thận có chiều dài khoảng 10 – 12cm, rộng 5 – 7cm, dày 3 – 4cm nằm ở mặt sau của khoang bụng, ở mỗi bên của cột sống. Do sự bất đối xứng gây ra bởi gan, thận bên phải thường nhỏ và thấp hơn một chút so với quả thận bên trái.

    Mỗi thận nặng từ 125 đến 170 gram (g) ở nam giới và 115 đến 155 g ở phái nữ. Mặt trước thận nhẵn bóng còn mặt sau thì sần sùi. Xung quanh mỗi quả thận có hai lớp chất béo đóng vai trò bảo vệ. Trên đầu mỗi quả thận là tuyến thượng thận.

    Bên trong thận là một số thùy hình kim tự tháp, bao gồm vỏ thận bên ngoài và một tủy thận bên trong. Theo giữa các phần này là “nephron”, cấu trúc tạo ra nước tiểu của thận. Mỗi quả thận của người được cấu tạo từ hơn một triệu nephron (đơn vị thận).

    Mỗi nephron gồm có cầu thận và ống thận:

    Cầu thận bao gồm: Quản cầu Malpighi và nang Bowman (túi bọc quản cầu). Quản cầu Malpighi có khoảng 50 mao mạch xếp thành khối hình cầu. Ngăn cách giữa mao mạch và nang Bowman là một màng lọc mỏng để lọc các chất từ mao mạch chuyển sang.

    Ống thận bao gồm: Quai Henle (ống hình chữ U), ống lượn gần và xa. Dịch lọc từ nang đổ vào ống lượn gần (uốn khúc) dẫn đến quai Henle. Ở đầu lên của quai Henle tiếp với ống lượn xa cũng là một ống uốn khúc để chuyển dịch lọc vào ống góp. Ống góp không thuộc nephron, nó có nhiệm vụ nhận dịch lọc để đổ vào bể thận.

    Máu đi vào thận thông qua các động mạch và tĩnh mạch thận. Thận là cơ quan tương đối nhỏ nhưng chúng nhận được tới 25% sản lượng của tim. Mỗi thận bài tiết nước tiểu thông qua một ống gọi là niệu quản dẫn đến bàng quang.

    Vì sao thận lại quan trọng như thế?

    Hầu hết mọi người đều biết về chức năng chính của thận là loại bỏ các chất thải và chất lỏng dư thừa ra khỏi cơ thể thông qua nước tiểu. Nhưng ít ai biết các quy định quan trọng về hàm lượng muối, kali và axit của cơ thể cũng được thực hiện bởi quả thận.

    Ngoài ra, thận cũng sản xuất hormone và vitamin ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan khác. Việc sản xuất nước tiểu bao gồm các bước bài tiết và tái hấp thu rất phức tạp. Quá trình này là cần thiết để duy trì sự cân bằng ổn định của các hóa chất trong cơ thể.

    6 chức năng chính của thận

    Mỗi người có hai quả thận, mỗi quả có kích thước bằng nắm tay người lớn nằm ở hai bên cột sống ngay dưới lồng xương sườn. Mặc dù chúng hơi nhỏ, nhưng thận thực hiện rất nhiều chức năng quan trọng và phức tạp giúp giữ cho phần còn lại của cơ thể được cân bằng.

    Một số chức năng chính của thận:

    • Giúp loại bỏ chất thải và chất lỏng dư thừa
    • Lọc máu, giữ một số hợp chất và loại bỏ các hợp chất không cần thiết khác
    • Kiểm soát việc sản xuất hồng cầu
    • Sản xuất vitamin kiểm soát sự tăng trưởng
    • Giải phóng hormone giúp điều hòa huyết áp
    • Giúp điều chỉnh huyết áp, hồng cầu và lượng chất dinh dưỡng nhất định trong cơ thể, chẳng hạn như canxi và kali.

    Lọc máu và bài tiết chất thải

    Một số chất thải được loại bỏ qua thận và xuất ra ngoài thông qua nước tiểu. Hai hợp chất chính được loại bỏ là:

    • Urê, được tạo ra từ sự phân hủy protein
    • Axit uric từ sự phân hủy của axit nucleic

    Tái hấp thu chất dinh dưỡng

    Chất dinh dưỡng từ máu được tái hấp thu và vận chuyển đến nơi cần thiết. Những chất khác được tái hấp thu để giúp duy trì sự cân bằng.

    Nó được gọi là tái hấp thu mà không phải hấp thụ, bởi vì các hợp chất đã được hấp thụ một lần thông qua ruột.

    Các chất được tái hấp thu bao gồm:

    Duy trì độ pH

    Ở người, mức pH phù hợp là từ 7,38 đến 7,42. Nếu dưới mức này một chút, cơ thể sẽ đi vào trạng thái thiếu máu, và nếu cao hơn sẽ bị nhiễm kiềm.

    Bên ngoài phạm vi này, các protein và enzyme bị phân hủy và không thể hoạt động nữa. Trong trường hợp tiêu cực, điều này có thể dẫn đến tử vong.

    Thận và phổi giúp giữ độ pH luôn ở mức ổn định trong cơ thể con người. Phổi làm điều này bằng cách kiểm soát nồng độ carbon dioxide.

    Còn thận quản lý nó thông qua hai quá trình:

    Tái hấp thu và phục hồi bicarbonate từ nước tiểu: Bicarbonate được sử dụng để trung hòa axit. Thận có thể giữ lại nó nếu pH đang bình ổn hoặc giải phóng nếu mức axit tăng lên.

    Bài tiết các ion hydro và axit cố định: Các axit cố định hoặc không bay hơi là bất kỳ axit nào không được tạo ra bởi cacbon dioxit. Chúng là kết quả của sự chuyển hóa không hoàn toàn của carbohydrate, chất béo và protein. Chúng bao gồm axit lactic, axit sulfuric và axit photphoric.

    Quy định Osmolality

    Osmolality là thước đo cân bằng nước điện giải của cơ thể. Nói cách khác, đó là tỷ lệ giữa chất lỏng và khoáng chất trong cơ thể. Mất nước là nguyên nhân chính gây mất cân bằng điện giải.

    Nếu độ thẩm thấu huyết tương tăng lên, vùng dưới đồi trong não (Hypothalamus) phản ứng bằng cách truyền một thông điệp đến tuyến yên. Điều này lần lượt giải phóng hormone chống bài niệu (ADH).

    Để đáp ứng với ADH, thận tạo ra một số thay đổi, bao gồm:

    • Tăng nồng độ nước tiểu
    • Tăng tái hấp thu nước
    • Mở lại các phần của ống thu gom thông thường không thấm nước, cho phép nước trở lại vào cơ thể
    • Giữ lại urê trong tủy thận thay vì đào thải nó, vì nó thu hút nước

    Điều hòa huyết áp

    Thận điều chỉnh huyết áp khi cần thiết, nhưng chúng có trách nhiệm điều chỉnh chậm hơn. Hệ renin-angiotensin điều chỉnh áp lực động mạch trong thời gian dài bằng cách tác động đến khoang dịch ngoại bào, hoặc chất lỏng bên ngoài tế bào.

    Chúng làm điều này bằng cách giải phóng một hormone co mạch gọi là angiotensin II. Hormone này hoạt động với các chức năng khác để tăng khả năng hấp thu natri của thận.

    Điều này có hiệu quả làm tăng kích thước của khoang dịch ngoại bào và làm tăng huyết áp. Bất cứ thứ gì làm thay đổi huyết áp đều gây tổn hại đến thận theo thời gian, bao gồm rượu bia, hút thuốc và béo phì.

    Tiết ra các hợp chất hoạt tính

    Thận tiết ra một số chất sinh lý quan trọng bao gồm:

    Erythropoietin: Hormone này giúp kiểm soát erythropoiesis, hoặc sản xuất các tế bào máu đỏ. Gan cũng tạo ra erythropoietin, nhưng thận là cơ quan sản xuất chính ở người lớn. Hormone này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc chữa lành vết thương và phản ứng với tổn thương thần kinh.

    Renin: Đây là một protein protease aspartic và là enzyme được tiết ra bởi thận. Nó giúp làm trung gian giãn nở các động mạch và thể tích huyết tương, bạch huyết và dịch kẽ.

    Calcitriol: Đây là chất chuyển hóa có hoạt tính của vitamin D. Nó làm tăng mức độ canxi hấp thụ bởi ruột và tăng tái hấp thu phốt phát trong thận.

    Cách thức hoạt động của thận

    1. Máu đi vào thận qua động mạch từ tim
    2. Máu được làm sạch bằng cách đi qua hàng triệu bộ lọc có trong thận
    3. Chất thải đi qua niệu quản và được lưu trữ trong bàng quang dưới dạng nước tiểu
    4. Máu mới được làm sạch trở lại hệ thống bằng đường tĩnh mạch
    5. Bàng quang trở nên đầy và nước tiểu đi ra khỏi cơ thể qua niệu đạo.

    Thận thực hiện công việc duy trì sự sống của chúng ta bằng cách lọc khoảng 200 quart (khoảng 190 lít) chất lỏng mỗi 24 giờ. Khoảng 2 quart được loại bỏ khỏi cơ thể dưới dạng nước tiểu, trong khi phần còn lại, khoảng 198 quart được giữ lại trong cơ thể. Nước tiểu chúng ta bài tiết đã được lưu trữ trong bàng quang trong khoảng 1 đến 8 giờ.

    Các dấu hiệu cảnh báo bệnh thận

    Có nhiều loại bệnh thận và chúng thường ảnh hưởng đến cả hai quả thận. Nếu khả năng lọc máu của thận bị tổn thương do bệnh tật, chất thải và chất lỏng dư thừa sẽ tích tụ trong cơ thể, gây sưng tấy nghiêm trọng và các triệu chứng suy thận khác.

    Mặc dù có nhiều loại bệnh thận không gây ra các triệu chứng rõ ràng cho đến khi bệnh tiến triển nặng, nhưng 6 dấu hiệu cảnh báo sau đây có thể giúp ích cho bạn trong việc xác định tình trạng của mình:

    • Huyết áp cao
    • Đi tiểu thường xuyên hơn, đặc biệt là vào ban đêm; tiểu khó hoặc đau buốt.
    • Bọng mắt, sưng phù tay và chân.
    • Có máu hoặc protein trong nước tiểu.
    • Xét nghiệm máu creatinine cho kết quả lớn hơn 1,2 đối với nữ và 1,4 đối với nam.
    • Tốc độ lọc cầu thận (GFR – Glomerular Filtration Rate) dưới 60

    Hãy tham khảo bài viết sau đây nếu bạn muốn biết thêm thông tin về các dấu hiệu của bệnh thận:

    Ngoài ra, nếu trong gia đình bạn có người bị suy thận hoặc nếu bạn trên 60 tuổi, điều quan trọng là phải đi kiểm tra thận thường xuyên. Khi gặp bác sĩ, hãy kể cho họ nghe bất kỳ triệu chứng nào mà bạn gặp phải để được chẩn đoán chính xác.

    Cách duy trì thận khỏe mạnh

    Áp dụng chế độ ăn uống cân bằng: Nhiều vấn đề về thận là do huyết áp cao và đái tháo đường, vì vậy việc duy trì chế độ ăn uống lành mạnh có thể ngăn chặn nhiều nguyên nhân phổ biến gây bệnh thận. Chế độ ăn nhiều rau quả (ớt chuông đỏ, cải bắp, tỏi, cải xoăn) và ngũ cốc được khuyến khích để duy trì huyết áp và ngăn ngừa tiểu đường.

    Tập thể dục thường xuyên: Tập thể dục 30 phút mỗi ngày có thể giảm nguy cơ cao huyết áp và béo phì, gây áp lực lên sức khỏe của thận.

    Uống nhiều nước: Nước đóng một vai trò rất quan trọng trong cơ thể. Một người trên 50kg nên uống khoảng 2.5 lít nước mỗi ngày.

    Chất bổ sung: Hãy thận trọng, vì không phải tất cả các chất bổ sung và vitamin đều có lợi. Một số có thể gây hại cho thận nếu sử dụng quá mức.

    Muối: Hạn chế lượng muối ăn trong một ngày, tối đa là 2.300 miligram natri mỗi ngày.

    Rượu: Tiêu thụ nhiều hơn một ly rượu mỗi ngày có thể gây hại cho thận và cản trở hoạt động của chúng.

    Hút thuốc: Khói thuốc lá làm co thắt các mạch máu. Nếu không được cung cấp máu đầy đủ, thận sẽ không thể hoàn thành công việc bình thường của chúng.

    Thuốc không theo toa: Một số loại thuốc không cần toa bác sĩ không có nghĩa là nó là vô hại. Việc lạm dụng các loại thuốc như ibuprofen và naproxen có thể làm hư thận.

    Sàng lọc thận: Bất cứ ai bị huyết áp cao hoặc tiểu đường nên xem xét sàng lọc thận thường xuyên để giúp phát hiện bất kỳ vấn đề sức khỏe nào có thể xảy ra.

    Bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch: Theo dõi các chỉ dẫn của bác sĩ về việc quản lý những bệnh lý này có thể giúp bảo vệ thận trong thời gian dài.

    Kiểm soát giấc ngủ và căng thẳng: Một người nên ngủ 7 đến 8 tiếng mỗi đêm, và tham gia các hoạt động thư giãn nhằm giảm căng thẳng, tăng cường sức khỏe tổng thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Của Gan Và Thận
  • Chức Năng Của Thận Và Các Phương Pháp Bảo Vệ Thận Không Phải Ai Cũng Cần Biết
  • Ở Người Bị Suy Thận Phải Lọc Máu Khi Nào: Một Số Lưu Ý Bạn Nên Biết
  • Nang Thận Phải Ở Nam Giới Và Những Biến Chứng Nguy Hiểm Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Thận Nằm Ở Đâu Và Có Cấu Tạo Thế Nào?
  • Lý Thuyết Sinh Học Lớp 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da

    --- Bài mới hơn ---

  • Trà Đen Là Gì? Tác Dụng Của Trà Đen Trong Làm Đẹp
  • Trà Đen Là Gì? Tác Dụng Của Trà Đen Cho Sức Khỏe
  • Tỏi Đen Là Gì Vậy Nhỉ, Tại Sao Nên Dùng Tỏi Đen Mỗi Ngày ?
  • 5 Chức Năng Của Hộp Đen Ô Tô Bạn Cần Biết
  • Xạ Đen Là Thảo Dược Gì? Công Dụng Và Chức Năng Như Thế Nào?
  • Bài: Cấu tạo và chức năng của da

    A. LÝ THUYẾT

    I. CẤU TẠO CỦA DA

    – Cấu tạo da gồm 3 lớp: lớp biểu bì, lớp bì (trung bì) và lớp mỡ dưới da (hạ bì).

    Lớp biểu bì bào gồm: tầng sừng và tầng tế bào sống

    + Nằm ở ngoài cùng của da.

    + Gồm những tế bào chết đã hóa sừng xếp sít nhau và dễ bong ra.

    – Vào mùa hanh khô, ta thường thấy những vảy nhỏ trắng bong ra như phấn trắng đó chính là tế bào lớp ngoài cùng của da đã chết và hóa sừng bong ra.

    + Nằm dưới lớp sừng.

    + Lớp tế bào có khả năng phân chia tạo ra các tế bào mới thay thế lớp tế bào ở lớp sừng đã bong ra.

    + Có chứa sắc tố qui định màu sắc da. Tạo nên các màu da khác nhau

    – Các tế bào ở lớp tế bào sống dễ hấp thụ tia UV của ánh sáng mặt trời → sạm da, đen da (hình thành sắc tố mealin)… thậm chí có thể gây ung thư da → cần phải bảo vệ da, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời quá lâu.

    – Lông và móng là sản phẩm của da. Chúng được sinh ra từ các túi cấu tạo bởi các tế bào của tầng tế bào sống.

    + Tóc tạo nên lớp đệm không khí để chống tia tử ngoại, điều hòa nhiệt độ

    + Lông mày ngăn mồ hôi và nước

    * Lưu ý: ta không nên lạm dụng kem, phấn, nhổ bỏ lông mày, dùng bút chì kẻ lông mày tạo dáng vì

    + Khi lạm dụng kem, phấn sẽ gây bít các lỗ chân lông và lỗ tiết chất nhờn, tạo điều kiện cho vi khuẩn bám vào da và phát triển gây bệnh da cho.

    + Không nên nhổ bỏ lông màu vì lông mày có vai trò ngăn không cho mồ hôi và nước chảy xuống mắt nếu nhổ bỏ lông mày thì nước và mồ hôi chảy xuống mắt có thể gây đau mắt và các bệnh về mắt.

    – Cấu tạo từ các sợi mô liên kết bện chặt, gồm có: thụ quan, tuyến nhờn, cơ co chân lông, lông và bao lông, tuyến mồ hôi, dây thần kinh, mạch máu và rất nhiều các thành phần khác.

    Ví dụ: sợi collagen giúp da đàn hồi tạo nên sự săn chắc của da. Mức độ đàn hồi của các sợi collagen phụ thuộc vào từng lứa tuối làm biến đổi hình thái của da.

    – Lớp bì có vai trò giúp cho:

    + Da luôn mềm mại và không thấm nước vì: các sợi mô liên kết bện chặt với nhau và trên da có nhiều tuyến nhờn tiết chất nhờn.

    + Trên da có các thụ cảm nằm dưới da, có dây thần kinh nên ta nhận biết được nóng, lạnh, độ cứng, mềm của vật mà ta tiếp xúc.

    + Da có phản ứng khi trời quá nóng hoặc quá lạnh: khi trời nóng: mao mạch dưới da dãn → tuyến mồ hôi tiết nhiều mồ hôi; khi trời lạnh: mao mạch dưới da co → cơ chân lông co lại.

    – Đặc điểm: chứa mỡ dự trữ, có vai trò cách nhiệt

    II. CHỨC NĂNG CỦA DA

    Da là lớp màng sinh học, không chỉ là vỏ bọc ngoài cơ thể mà còn có nhiều chức năng khác nhau:

    – Điều hòa nhiệt độ cơ thể: giữ cho cơ thể luôn ở mức 37 0 C

    – Bài tiết chất độc cơ thể: ure, ammonia, acid uric…

    – Tạo vitamin D: giúp cho sự tăng trưởng và phát triển của xương

    – Giữ ẩm cho cơ thể: tránh sự bốc hơi nước làm khô da

    – Thu nhận cảm giác: nhờ vào những thụ cảm thể mà da có những cảm giác nóng, lạnh, đau…

    B. TRẮC NGHIỆM

    Câu 1: Lớp nào nằm ngoài cùng, tiếp xúc với môi trường trong cấu trúc của da?

    A. Lớp biểu bì

    B. Lớp bì

    C. Lớp mỡ dưới ra

    D. Lớp mạch máu

    Câu 2: Đặc điểm nào không có ở tầng sừng của da?

    A. Dễ bong

    B. Tế bào chết

    C. Chứa hạt sắc tố

    D. Tế bào xếp sít nhau

    Câu 3: Lỗ chân lông co vào được là nhờ hoạt động của bộ phận nào?

    A. Dây thần kinh

    B. Tuyến nhờn

    C. Cơ co lỗ chân lông

    D. Mạch máu

    Câu 4: Bộ phận nào không xuất hiện ở cấu trúc của da?

    A. Thụ cảm

    B. Lớp mỡ

    C. Dây thần kinh

    D. Thụ quan ánh sáng

    Câu 5: Vai trò của lớp mỡ dưới da là gì?

    A. Lớp cách nhiệt

    B. Một sản phẩm của các tế bào da

    C. Nơi chứa chất thải từ các tế bào da tầng trên

    D. Nuôi dưỡng các dây thần kinh

    Câu 6: Lông và móng có bản chất là gì?

    A. Một loại tế bào trong cấu trúc da

    B. Sản phẩm của các túi cấu tạo từ tầng tế bào sống

    C. Các thụ quan

    D. Một mảng mô tăng sinh

    Câu 7: Chức năng nào không được thực hiện bởi da người?

    A. Hô hấp

    B. Điều hòa thân nhiệt

    C. Bảo vệ

    D. Tạo vẻ đẹp cho cơ thể

    A. Do ảnh hưởng của nhiệt độ

    B. Do lớp sắc tố dưới da

    C. Do di truyền

    D. Do độ dày của lớp mỡ dưới da

    Câu 9: Hạt sắc tố da có trong cấu trúc nào của da?

    A. Lông

    B. Lớp mỡ

    C. Tầng tế bào sống

    D. Thụ quan

    Câu 10: Vì sao da có thể điều hòa thân nhiệt? Chọn câu trả lời sai

    A. Do da có thụ quan nhiệt độ

    B. Do da có cơ đóng mở lỗ chân lông

    C. Mạch máu dưới da có thể co hoặc dãn

    D. Da có lớp sừng bên ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Biết Ngay Chức Năng Và Cấu Tạo Của Da
  • Tìm Hiểu Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Da
  • Lý Thuyết Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da Sinh 8
  • Chức Năng, Cấu Tạo Của Da Và Các Loại Da
  • Bài 41. Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
  • Sinh Học 8 Bài 8: Cấu Tạo Và Tính Chất Của Xương

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Loại Thuốc Xương Khớp Hà Quốc Tốt Nhất Hiện Nay
  • Thuốc Xương Khớp Hàn Quốc Loại Nào Tốt? Giá Tiền Và Cách Dùng
  • Phục Hồi Chức Năng Xương Khớp Sau Tai Nạn Cực Dễ
  • Khoa Phcn Cơ Xương Khớp Bệnh Viện Phục Hồi Chức Năng Thái Bình
  • Khoa Phục Hồi Chức Năng Cơ Xương Khớp
  • Tóm tắt lý thuyết

    a. Cấu tạo xương dài

    Cấu tạo một xương dài gồm có:

      Hai đầu xương là mô xương xếp có các nan xương xếp theo kiểu vòng cung, tạo ra các ô trống chứa tủy đỏ. Bọc hai đầu xương là lớp sụn.

      Đoạn giữa là thân xương. Thân xương hình ống, cấu tạo từ ngoài vào trong có: màng xương mỏng, tiếp đến là mô xương cứng, trong cùng là khoang xương. Khoang xương chứa tủy xương, ở trẻ em là tủy đỏ; ở người già tủy đỏ được thay bằng mô mỡ màu vàng nên gọi là tủy vàng.

      • Lớp màng xương, ở ngoài cùng, gồm 2 lớp: lớp ngoài (ngoại cốt mạc) là lớp mô liên kết sợi chắc, mỏng, dính chặt vào xương, có tính đàn hồi, trên màng có các lỗ nhỏ. Lớp trong gồm nhiều tế bào sinh xương (tạo cốt bào) có nhiều mạch máu và thần kinh đến nuôi xương. Nhờ lớp tế bào này mà xương có thể lớn lên, to ra.
      • Phần xương đặc: rắn, chắc, mịn, vàng nhạt.
      • Phần xương xốp: do nhiều bè xương bắt chéo nhau chằng chịt, để hở những hốc nhỏ trông như bọt biển
      • Phần tủy xương: nằm trong lớp xương xốp. Có 2 loại tủy xương:
        • Tủy đỏ là nơi tạo huyết, có ở trong các hốc xương xốp (ở thai nhi và trẻ sơ sinh tủy đỏ có ở tất cả các xương)
        • Tủy vàng chứa nhiều tế bào mỡ, chỉ có trong các ống tủy ở thân xương dài người lớn, bên trong cùng lớp xương xốp.

    b. Chức năng của xương dài

    c. Cấu tạo xương ngắn và xương dẹt

      Đối với xương ngắn:

      • Hình dáng và cấu tạo nói chung giống xương dài, nhưng cấu tạo chủ yếu là mô xương xốp. (Ví dụ: xương ngón tay, ngón chân…)
      • Cấu tạo cũng tương tự như cấu tạo ở đầu xương dài: ngoài là một lớp xương đặc, mỏng; trong là một khối xương xốp chứa tủy đỏ.

    • Đối với xương dẹt:
      • Là những xương rộng, mỏng với 2 bản xương đặc nằm 2 bên, giữa là mô xương xốp. (Ví dụ: xương bả vai, các xương ở hộp sọ).
      • Có cấu tạo gồm 2 bản xương đặc, giữa là một lớp xương xốp.
    • Riêng đối với các xương sọ: bản ngoài rất chắc, bản trong giòn và dễ vỡ, lớp xương xốp ở giữa mang tên riêng là lõi xốp (diploe).

    Xương to ra về bề ngang là nhờ các tế bào màng xương phân chia tạo ra những tế bào mới đẩy vào trong và hóa xương.

    Ở tuổi thiếu niên và nhất là ở tuổi dậy thì thì xương phát triển nhanh. Đến 18-20 tuổi (với nữ) hoặc 20-25 tuổi (với nam) xương phát triển chậm lại. Ở tuổi trưởng thành, sụn tăng trưởng, không còn khả năng hóa xương, do đó người không cao thêm. Người già, xương bị phân hủy nhanh hơn nhờ sự tạo thành, đồng thời tỉ lệ cốt giao giảm, vì vậy xương xốp, giòn, dễ gãy và sự phục hồi xương gãy diễn ra rất chậm, không chắc chắn.

    • Trong xương có 2 thành phần chủ yếu:
      • Thành phần hữu cơ: chiếm 30% gồm prôtêin, lipit, mucopolysaccarit.
      • Chất vô cơ: chiếm 70% gồm nước và muối khoáng, chủ yếu là CaCO3, Ca3(PO4)2. Các thành phần hữu cơ và vô cơ liên kết phụ thuộc lẫn nhau đảm bảo cho xương có đặc tính đàn hồi và rắn chắc. Nhờ đó xương có thể chống lại các lực cơ học tác động vào cơ thể. Xương người lớn chịu được áp lực 15kg/mm2, gấp khoảng 30 lần so với gạch, hoặc tương đương với độ cứng của bê tông cốt sắt.
    • Tỉ lệ các thành phần hóa học của xương ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau. Tỉ lệ đó phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, tuổi tác, bệnh lý. Cơ thể càng non, chất hữu cơ trong xương càng nhiều nên xương trẻ em mềm dẻo hơn. Khi về già, tỉ lệ vô cơ tăng dần lên nên xương dòn, dễ gãy.
    • Nếu thiếu sinh tố D và phốt pho thì xương không có khả năng giữ được muối Canxi, làm xương mềm, dễ biến dạng. Trường hợp thức ăn thiếu Canxi, thì cơ thể tạm thời huy động Canxi từ xương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Cơ Xương Khớp
  • Một Số Lưu Ý Khi Sử Dụng Thực Phẩm Chức Năng Bổ Xương Khớp Glucosamine
  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh U Ác Của Xương Hàm Dưới Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội
  • Tiêu Xương Hàm Là Gì Và Giải Pháp Khắc Phục Ra Sao Tốt
  • Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Gãy Xương Hàm Dưới
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Tuyến Thượng Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Giả Phẫu, Sinh Lý, Bệnh Lý Tuyến Thượng Thận
  • Tuyến Thượng Thận Và Vai Trò Đối Với Sức Khỏe
  • Tuyến Thượng Thận Là Gì Và Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Sinh Ly Va Benh Ly Tuyen Thuong Than,tuyen Tuy Tinh Hoan
  • Chức Năng Sinh Lý Và Bệnh Lý Của Tạng Tâm.
  • Tuyến thượng thận gồm hai tuyến nằm ở đầu trước hai quả thận. Tuyến chia làm hai miên: miền tuỷ và miền vỏ. Mỗi miền tiết ra các loại hormon khác nhau. Miền tuỷ thuộc loại mô ưa crôm, miền vỏ thuộc loại tổ chức gian thận. Miền tuỷ chịu sự chi phối trực tiếp của thần kinh giao cảm. Những sợi giao cảm sau khi vào tuyến thì tạo thành bó thần kinh dày đặc ở dưới màng của miền tuỷ. Mỗi một sợi chi phối một số lượng tế bào ưa crôm nhất định. Sự chi phối thần kinh đối với miền tuỷ biến miền tuỷ thượng thận như là một hạch giao cảm lớn. Những sợi giao cảm vào miền tuỷ là sợi trước hạch.

    Miền vỏ chia làm 3 lớp và tính từ ngoài vào trong là các lớp cầu, dậu, lưới và mỗi lớp tiết ra các loại hormon khác nhau.

    Miền tuỷ thượng thận tiết ra 2 hormon, đó là adrenaline (epinephrin) và noradrenaline (norepinephrin). Năm 1901,Takanin và Aldroch đã điều chế được adrenaline dưới dạng kết tinh và đến năm 1904 đã có thể tổng hợp nhân tạo hormon này. Adrenaline là sản phẩm chuyển hoá của amino acid có tên là thyrosine. Sau đó một thời gian người ta tìm được noradrenaline. Đến năm 1949, cấu trúc hoá học của nó được xác định và nó chính là tiền thân của adrenaline.

    Adrenaline (A) và noradrenaline (N) tồn tại đồng thời trong miền tuỷ thượng thận với tỷ lệ thông thường là A/N = 4/1. Trong trạng thái sinh lý bình thường mỗi phút ở chó có thể tiết ra 0,3-0,6 mmg adrenaline /1kg thể trọng.

    Adrenaline làm tim đập nhanh, mạnh, tăng dẫn truyền hưng phấn cho tim. Noradrenaline ảnh hưởng đến tim không rõ. Đối với mạch máu và huyết áp thì ngược lại noradrenaline có tác dụng mạnh hơn nhiều so với adrenaline. Chỉ cần tiêm 1/10 vạn mmg noradrenaline cho 1 kg thể trọng chó, thỏ, người là có thể làm tăng huyết áp.

    Cả adrenaline và noradrenaline đều gây co mạch, nhưng adrenaline chỉ gây co mạch máu da, còn noradrenaline gây co mạch toàn thân làm cho áp suất tâm thu và áp suất tâm trương đều tăng, sức cản ngoại vi cũng tăng làm huyết áp tăng mạnh. Adrenaline làm tăng lưu lượng máu tuần hoàn, tăng áp suất tâm thu nhưng không ảnh hưởng đến áp suất tâm trương.

    b. Đối với cơ trơn nội tạng

    Cả hai hormon đều có tác dụng như nhau nhưng noradrenaline thì yếu hơn và cụ thể như sau:

    Làm giãn cơ trơn dạ dày, ruột, túi mật, khí quản nhánh và bóng đái. Làm co hoặc dãn cơ trơn tử cung, và tác dụng này khác nhau từng loại động vật và trạng thái sinh lý. Làm co cơ phản xạ đồng tử mắt gây giãn đồng tử, làm co cơ dựng lông. Riêng Adrenaline làm co cơ trơn lá lách, gây co nhỏ lá lách (để tống máu vào hệ tuần hoàn khi cơ thể hoạt động, khi hưng phấn).Tăng bài tiết mồ hôi.

    c. Đối với trao đổi đường

    Cả hai hormon đều làm tăng đường huyết, nhưng tác dụng của adrenaline mạnh gấp 20 lần noradrenaline. Hormon nhóm này kích thích phân giải glycogen dự trữ ở gan thành glucose, làm tăng đường huyết. Ở cơ, nó xúc tác phân giải glycogen thành acid lactic. Làm tăng cao nồng độ acid lactic huyết. Cơ chế tác động thông qua AMP vòng như đã nói ở trên.

    Adrenaline làm giảm bạch cầu ái toan. Tác dụng này của noradrenaline không rõ. Đối với hệ thần kinh trung ương Adrenaline làm tăng tính hưng phấn của hệ thần kinh trung ương. Nó kích thích sự tăng tiết ACTH của thuỳ trước tuyến yên. Từ đó kích thích hormon glucocorticoid của vỏ thượng thận, làm tăng phản ứng phòng vệ của cơ thể. Adrenaline còn tăng khả năng xúc tác cho phản ứng ôxi hoá – khử trong cơ thể. Tác dụng của adrenaline và noradrenaline trên các cơ quan nó trên thường không bền vì chúng nhanh chóng bị phá huỷ bởi các enzyme aminoxidase, tyrosinase.

    Trong điều kiện bình thường cắt miền tuỷ thượng thận không làm con vật chết. Nhưng cho động vật thí nghiệm vào phòng lạnh mà cắt thì con vật chết ngay vì nó không còn khả năng phản ứng đề kháng tích cực nữa.

    e. Điều hoà hoạt động miền tuỷ thượng thận

    Hoạt động của miền tuỷ thượng thận chịu sự chi phối của thần kinh giao cảm. Những kích thích đau, lạnh, nóng, xuất huyết, vận động, thay đổi môi trường đột ngột đều tác dụng lên các thụ quan tương ứng, theo đường cảm giác vào thần kinh trung ương (tuỷ sống, hành tuỷ, vùng dưới đồi, vỏ não) lệnh truyền ra theo dây thần kinh nội tạng (sợi giao cảm trước hạch) đến kích thích miền tuỷ thượng thận tiết adrenaline và noradrenaline. Những thay đổi về nội môi như giảm huyết áp, hạ đường huyết cũng kích thích lên các thụ quan áp lực và hoá học trong thành mạch máu. Xung động thần kinh truyền vào các trung ương thần kinh nói trên, lệnh truyền ra theo đường giao cảm đến kich thích miền tuỷ thượng thận tiết ra hormon.

    Miền vỏ tuyến thượng thận gồm 3 lớp đó là lớp cầu, lớp dậu và lớp lưới. Mỗi lớp tiết ra một loại hormon khác nhau và chúng có tác dụng khác nhau. Thần kinh chi phối miền vỏ cũng phát ra từ dây tạng lớn và tập trung chủ yếu ở lớp cầu, còn lớp dậu và lớp lưới chịu ảnh hưởng chủ yếu từ hệ thống mạch quản của tuyến. Hormon miền thượng thận thuộc loại steroid có bản chất lipid. Hormon thuộc lớp cầu có tên chung là mineral corticoid gồm hai hormon là aldosterone và desoxy-corticosterone (DOC).

    Tác dụng sinh lý của hai hormon này tham gia điều hoà trao đổi muối, nước bằng cách xúc tác cho quá trình tái hấp thu chủ động natri ở ống thận nhỏ (kèm theo clorua và nước) và tăng cường bài tiết kali.Tác dụng của aldosterone mạnh gấp 30 – 120 lần desoxy corticosterone. Do giữ natri kèm theo giữ clorua và nước, nên nếu nó được tiết nhiều sẽ gây hiệu ứng tích nước gian bào và có thể gây phù thũng. Mineral corticoid còn xúc tiến sự hấp thu natri ở dạ dày và ruột

    Aldosterone cũng có tác dụng lên chuyển hoá đường nhưng hiệu quả không bằng hormon nhóm glucocorticoid của lớp dậu. Trong các bệnh gây phù thũng như các bệnh về gan, tim, thận thì lượng aldosterone trong máu tăng cao.

    Hormon thuộc lớp dậu có tên chung là glucorticoid gồm 3 hormon quan trọng là cortisol, corticosterone và cortisone. Trong đó cortisol có hoạt tính mạnh nhất. Tác dụng sinh lý của nhóm hormon thể hiện ở các khía cạnh sau.

    – Tác dụng lên trao đổi đường

    Hormon thúc đẩy sự tạo hợp glucose và glycogen, làm tăng đường huyết, nhưng không phải từ glucid mà từ sự phân giải protein và lipid. Hormon thúc đẩy dị hoá protein, lipid đến acid axetic, rồi thông qua cầu axetyl-coA mà đi ngược con đường đường phân yếm khí để tạo hợp glycogen và glucose. Tiêm nhiều cortisol gây hiệu ứng tăng đường huyết và đường niệu là do cơ chế trên gây ra. Nhóm hormon này xét theo khía cạnh chức năng thì nó đối kháng với sự xuất tiết insulin bằng cách ức chế tế bào β của đảo tuỵ nên hiệu ứng đường huyết và đường niệu càng trầm trọng. Tác dụng tăng đường huyết cuả nhóm hormon này còn thông qua cơ chế hoạt hoá enzyme phosphatase kiềm ở thành ruột để làm tăng hấp thu glucose qua thành ruột; đồng thời làm giảm sự sử dụng glucose ở gan và cơ. Ức chế sự chuyển acid pyruvic vào chu trình Kreb và ức chế cả quá trình đường phân yếm khí. Hormon còn ức chế hoạt tính của enzyme hexokinase. Nếu tiêm insulin thì loại trừ được tác dụng và con đường đường phân sử dụng glucose vẫn tiếp tục.

    – Tác dụng lên trao đổi protein

    Glucocorticoid thúc đẩy sự phân giải protein để lấy nguyên liệu tạo hợp glycogen và glucose thông qua cơ chế hoạt hoá các enzyme tách và chuyển amin desaminase và transaminase, tạo thành các xeto acid để từ đó biến thành glucogen và glucose. Song nếu dùng liều thấp thì glucocorticoid lại xúc tác cho sự tổng hợp protein. Người ta thấy rằng sau khi cắt bỏ tuyến thượng thận thì sự kết hợp S35 cystein vào protein bị giảm xuống. Nếu tiêm glucocorticoid thì khôi phục lại sự kếp hợp amino acid đó vào protein mô biểu bì da lông. Cắc bỏ tuyến thượng thận còn gây giảm sự kết hợp N-15 của glyxin vào protein gan và C-14 của lecine vào protein mô cơ.

    – Tác dụng lên trao đổi lipid

    Với liều vừa phải, glucocorticoid ức chế sự tích luỹ mỡ, tăng cường sự phân giải axit béo mạch dài làm giải phóng nhiều axit béo tự do trong máu. Một điều đáng chú ý là hormon thúc đẩy tạo hợp glucogen nhưng không làm chuyển hoá glucogen thành lipid.

    Tuy nhiên trong một số trường hợp khi tiêm liều cao và kéo dài hormon có tác dụng thúc đẩy sự hấp thụ axit béo bậc cao, kể cả những hạt mỡ nhũ tương qua thành ống tiêu hoá, kích thích đồng hoá lipid, gây hôị chứng béo phì vì cortisol.

    Dùng nhiều glucocorticoid có thể gây tích natri và nước sinh phù thũng, vì vậy khi dùng cortisol nên ăn nhạt ở người trong bệnh nhược năng vỏ thượng thận có thể gây mất nhiều natri và nước.

    – Tác dụng chống đỡ với những yếu tố stress

    Glucocoriticoid của lớp dậu vỏ thượng thận cùng với adrenaline, noradrenaline của miền tuỷ có vai trò lớn trong phản ứng stress, hoạt động trong hệ thống vùng dưới đồi- tuyến yên- tuyến thượng thận. Cơ chế của phản ứng được trình bày như sau:

    Cơ thể động vật và người thường xuyên chịu tác động bất thường của ngoại cảnh về các yếu tố như vật lý, hoá học, và sinh vật học khác nhau. Ví dụ: trời nóng, lạnh đột ngột, khi bị đánh đau, bị giật điện, bị ong đốt hoặc đột nhiên gặp kẻ thù hoặc thú giữ tấn công và ở người lúc cãi nhau, khi đợi lệnh xung phong ngoài mặt trận, khi hồi hộp đợi chờ điều gì sắp xảy ra, khi quá sung sướng được gặp lại người thân sau bao năm xa cách v.v.

    Tất cả những yếu tố bất thường đó thường xuyên “chờ chực” đã kích thích vào cơ thể để và để thích ứng, cơ thể phải phát sinh hàng loạt những phản ứng phối hợp bằng hai giai đoạn đối kháng đó là đề kháng tích cực và đề kháng phòng ngự, gọi chung là phản ứng stress.

    Giai đoạn đề kháng tích cực: Là giai đoạn xuất hiện đầu tiên, tức thời, nghĩa là xuất hiện nhanh, chấm dứt cũng nhanh, nhưng rất cần thiết, chủ động và thích ứng ngay còn gọi là đề kháng tích cực. Vỏ não ngay sau khi nhận được những kích thích mạnh của ngoại cảnh (thông qua các giác quan) phát xung động thần kinh đi xuống trung khu giao cảm cấp cao ở vùng dưới đồi (hypothalamus) và trung khu giao cảm cấp thấp ở trong sừng bên chất xám tuỷ sống. Từ các trung khu này, luồng xung động truyền theo các dây thần kinh giao cảm đến kích thích tăng cường hoạt động một số cơ quan như tim đập nhanh, hô hấp tăng, máu ngoài da co lại, huyết áp tăng, đồng tử giảm, lông dựng đứng.

    Hiệu quả tác dụng của thần kinh giao cảm tăng lên gấp bội, làm các mô ưa crôm ở miền tuỷ thượng thận tăng tiết adrenaline và noradrenaline. Dưới tác dụng đồng thời của 2 loại hormon này trong máu, làm tăng trương lực cơ tim và tim được nuôi dưỡng tốt hơn. Nhịp tim và sức co bóp của tim tăng lên, tăng lưu lượng tuần hoàn máu, mạch máu não giãn, não được trợ sức để tăng hưng phấn và chỉ huy mọi hoạt động, mạch máu cơ vân giãn và tăng dinh dưỗng và hoạt động bắp thịt. Trong lúc đó mạch máu ngoài da và mạch máu nội tạng co lại, để điều hoà phân bố lượng máu, nhằm tiết kiệm năng lượng.

    Adrenaline còn làm giãn nở phế quản để tăng lượng thông khí phổi, nó còn làm giảm đồng tử mắt để “nhìn rõ kẻ thù ” tập trung sự chú ý vào đối phương, đặc biệt nó làm co cơ dựng cơ lông để chống lạnh hoặc đe doạ kẻ thù. Một tác dụng quan trọng khác của adrenaline trong giai đoạn đề kháng tích cực này là huy động glucogen từ gan ra máu chuyển thành glucose để cung cấp tạo năng lượng, kịp thời nâng cao sức đề kháng tích cực của cơ thể.

    Những biểu hiện bên ngoài của con vật như nhe răng khi mèo gặp chó, đỏ mắt tía tai, mồ hôi thoát đầy, thở dồn, đánh trống ngực như khi hai người cãi cọ, xung đột nhau, là những biểu hiện tình trạng căng thẳng của cơ thể, xuất hiện vào giai đoạn đầu của phản ứng stress.

    Giai đoạn đề kháng phòng ngự: Có thể nói, ở giai đoạn đề kháng tích cực, cơ thể động vật và người khi gặp các stress, đã tung ra một cơ chế chống lại hiệu quả có thể để quyết giáng “một đòn phủ đầu vào đối phương” bước đầu ngăn chặn kẻ thù tấn công, nhưng chưa thẳng hẳn (trong trường hợp yếu tố stress có cường độ mạnh. Muốn tiếp tục “cuộc chiến” thì cơ thể phải biết bảo toàn, duy trì và bổ xung lực lượng vì “cuộc chiến đấu” còn phải kéo dài, phải tiếp tục ngay bằng giai đoạn đề kháng phòng ngự. Adrenaline sau khi đã tiêu tốn khá nhiều, liền tạo một mối quan hệ ngược dương tính lên vùng dưới đồi, để kích thích bài tiết yếu tố giải phóng CRF. Đến lượt mình, yếu tố này đi xuống thuỳ trước tuyến yên, kích thích bài tiết ACTH. Hormon này đi xuống kích thích miền vỏ thượng thận tiết glucocorticoid chất có hoạt tính mạnh nhất là cortisol, để tạo nên sức đề kháng phòng ngự của cơ thể. Tại sao cortisol lại có vai trò lớn như vậy? Vì chính cortisol có tác dụng làm giảm tính thấm của màng tế bào (trừ tế bào não). Ta biết rằng, tế bào cơ tiêu dùng glucose rất nhiều, nên việc ngăn cản glucose đi vào tế bào cơ là cách tiết kiệm năng lượng tốt nhất. Một cách khác, nhằm tiết kiệm glucose dùng vào việc thiêu đốt để tạo năng lượng, cortisol còn giúp tháo dỡ cả protein, chuyển nó thành glucose bổ xung cho quá trình huy động năng lượng.

    Sự tăng tiết cortisol của lớp dậu vỏ thượng thận, một mặt tiết kiệm năng lượng cho cơ thể để kéo dài cuộc “đọ sức”, để cầm cự với địch thủ (yếu tố stress), mặt khác nó hạn chế chứng viêm, ngăn cản sự tiếp xúc kháng nguyên với kháng thể có tác dụng giảm khả năng nhiễm bệnh. Nếu như giai đoạn đề kháng tích cực xảy ra một cách kịch liệt, dồn sức, chi dùng nhiều năng lượng thì đề kháng phòng ngự sẩy ra một cách thầm lặng, kéo dài giúp cho cơ thể thoát được ” tai qua nạn khỏi ” và phục hồi trở lại bình thường. Nếu chuyển qua giai đoạn đề kháng phòng ngự rồi, mà cơ thể vẫn không thích ứng với stress, thì cơ thể sẽ lâm vào trạng thái suy kiệt. Có những trường hợp, khi đề kháng tích cực diễn ra quá kịch liệt, thì sau đó cơ thể sẽ bị suy kiệt và cơ thể động vật có thể chết ngay không kịp chuyển sang giai đoạn đề kháng phòng ngự. Thí dụ bị đánh đau quá, động vật có thể bị ngất đi. Hay trường hợp các vận động viên thể thao chạy quá sức, dừng lại đột ngột ngã lăn ra chết do tim ngừng đập, không phương cứu chữa. Trong y học và thú y, người ta tìm cách tránh giai đoạn đề kháng tích cực vì đôi khi quá kịệt sức và muốn để cơ thể động vật thích ứng kéo dài bằng đề kháng phòng ngự đặng vượt qua cơn hiểm nghèo.

    Gây mê, gây tê trước khi mổ, tiêm thuốc chống đau khi bị tổn thương, hoặc cho uống thuốc ngủ để quên đi những cơn đau đều là những biện pháp áp dụng thực tiễn theo phương pháp đó.

    Tác dụng chống viêm và dị ứng: Đây là tác dụng rất quan trọng của loại hormon này. Nó làm giảm bạch cầu ái toan nhưng lại làm tăng bạch cầu trung tính và kích thích sản sinh hồng cầu. Vì lý do đó cortisol có tác dụng mạnh trong việc hạn chế chứng viêm và dị ứng (nhất là đối với người).

    Lớp lưới tiết ra nhóm hormon có tên chung là androcorticoit, bao gồm hormon dehydroandosteron, andrenosteron, androstendion và 11-hydroxy-androstendion. Tác dụng của chúng tương tự hormon sinh dục đực androgene (nhưng yếu hơn nhiều và ước chừng bằng 1/5 tác dụng của androgene ). Hormon nhóm này làm tăng đồng hoá protein bằng cách tăng tích luỹ nitơ. Ngoài ra chúng cũng có tác dụng tăng tái hấp thu P , K, Na và CL lại trong cơ thể.Ở con đực lớp lưới chỉ tồn tại và hoạt động mạnh ở kỳ trước tuổi thành thục về tính. Đến tuổi này, do có hormon sinh dục thay thế, nên lớp lưới kém hoạt động và phần nào bị thoái hoá. Ở con cái, nếu có quá nhiều hormon lớp lưới sẽ làm cho con vật mang tính đực.

    Điều hoà hoạt động miền vỏ thượng thận

    – Điều hoà hoạt động lớp cầu

    Trước đây người ta cho rằng hormon ACTH của thuỳ trước tuyến yên cũng ảnh hưởng luôn cả lớp vỏ thượng thận nhưng sau khi người ta thấy không phải hoàn toàn như thế. Mãi đến năm 1964 mới tìm được ở tuyến tùng tiết ra 2 chất, trong đó một chất làm tăng, một chất làm giảm hoạt động của lớp cầu, nhằm điều hoà hoạt động của lớp cầu. Ngày nay người ta xác định ảnh hưởng của ACTH đến lớp cầu chỉ ở mức duy trì sự phát dục của lớp cầu, còn hoạt động tiết hormon của nó chịu ảnh hưởng ít của ACTH. Sự thay đổi nồng độ của natri trong máu có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của lớp cầu và khi natri trong máu đi qua thận, kích thích cầu thận tiết renin, chất này biến angiotensinogen vô hoạt máu trong thành angiotenxin I, rồi thành anggiotenxin II hoạt động. Chất này vừa gây tăng huyết áp vừa kích thích lớp cầu tiết hormon aldosterone. Hormon này làm tăng tái hấp thu chủ động natri ở ống thận nhỏ để tiết kiệm ion này cho máu. Vòng tác dụng chung này gọi là hệ thống renin – angiotenxin – aldosterone. Nếu cơ thể mất nhiều muối natri và nước do ra mồ hôi nhiều sẽ làm tăng tiết aldosterone. Ngược lại nếu ăn nhiều muối thì sự tiết aldosterone giảm.

    – Điều hoà hoạt động lớp dậu

    Sự phát dục và hoạt động của lớp dậu miền vỏ thượng thận, chịu sự khống chế chặt chẽ của hệ thống dưới vùng dưới đồi – tuyến yên – vỏ thượng thận. Khi nồng độ glucocorticoid trong máu giảm sẽ kích thích vào cơ quan nhận cảm hoá học trong thành mạch máu, nhậy cảm nhất là ở cung động mạch chủ và túi động mạch cổ, luồng xung động thần kinh truyền vào vùng dưới đồi, gây tiết yếu tố giải phóng CRF. Yếu tố này, kích thích tuyến yên tiết ACTH. Hormon này đến lược mình nhập vào máu đến kích thích lớp dậu vỏ thượng thận tiết glucocorticoid cho đến khi nó đạt mức trung bình thì thôi. Khi nồng độ glucocorticoid trong máu tăng, theo cơ chế điều hoà liên hệ ngược, làm giảm tiết hormon này ở lớp dậu, cho đến khi đạt mức trung bình mới thôi. Giữa hai miền tuỷ và thượng thận cũng có mối quan hệ với nhau. Khi có những kích thích đột ngột gây phản ứng stress, trước hết miền tuỷ thượng thận tiết adrenaline và noradrenaline để tạo nên phản ứng đề kháng tích cực (như tăng nhịp tim, tăng đường huyết, tăng huyết). Sau đó chính adrenaline tạo một mối quan hệ ngược dương tích lên vùng dưới đồi, kích thích bài tiết CRF, để tăng bài tiết ACTH của thuỳ trước tuyến yên, từ đó làm tăng bài tiết cortisol ở lớp dậu miền vỏ tuyến thượng thận và tạo nên phản ứng đề kháng phòng ngự của cơ thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Sinh Lý Của Tạng Phế
  • Chức Năng Sinh Lý Của Tạng Can Y Học Cổ Truyền Việt Nam
  • Chức Năng Sinh Lý Của Tạng Can
  • Trong Tế Bào Thực Vật Những Cấu Trúc Dưới Tế Bào Nào Chứa Axit Nucleic ? Hãy Nêu Đặc Điểm Cấu Tạo Và Chức Năng Chủ Yếu Của Các Cấu Trúc Đó?
  • Nêu Cấu Tạo Và Chức Năng Của Các Bào Quan Trong Tế Bào Câu Hỏi 82627
  • Tuyến Thượng Thận: Cấu Tạo Và Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chuyển Chữ Thường Sang In Hoa Trong Word 2007 2010
  • Công Bố Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Sở Nội Vụ Tỉnh Thanh Hóa
  • Sở Nội Vụ Tỉnh Tuyên Quang
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Sở Ngoại Vụ Thành Phố Hà Nội
  • Giới Thiệu Về Sở Ngoại Vụ
  • Cơ thể con người xảy ra vô số phản ứng hóa học hàng để thực hiện các hoạt động sống. Các hoạt động nội môi luôn xảy ra ăn khớp, hài hòa với nhau đảm bảo cơ thể khỏe mạnh. Để đạt được điều đó cần có các cơ quan đảm nhận chức năng cân bằng nội môi. Có thể kể đến thận, gan, tuyến giáp, tuyến thượng thận… Bài viết này chúng ta cùng tìm hiểu về tuyến thượng thận. Một cơ quan tuy nhỏ nhưng có vai trò hết sức quan trọng trong điều hòa hoạt động sống.

    1. Vị trí của tuyến thượng thận

    • Tuyến thượng thận là tuyến nội tiết nằm ở phía trên quả thận. Mỗi người có hai quả thận, do đó chúng ta có hai tuyến thượng thận.
    • Tuyến thượng thận nằm sâu sau phúc mạc. Nó là tuyến nội tiết có vai trò quan trọng đối với hoạt động sống của cơ thể.
    • Tuyến thượng thận tiết ra hormone tham gia các quá trình chuyển hoá phức tạp. Các hoạt động của tuyến này mang tính sống còn với cơ thể.
    • Các tuyến thượng thận được bao quanh bởi một bao chất béo và nằm trong cân mạc thận , cũng bao quanh thận. Một vách ngăn yếu (vách) của mô liên kết ngăn cách các tuyến với thận. Các tuyến thượng thận nằm ngay dưới cơ hoành, gắn vào lớp vỏ của cơ hoành bởi cân mạc thận.

    2. Cấu trúc giải phẫu của tuyến thượng thận

    • Kích thước tuyến khoảng bằng quả óc chó. Mỗi tuyến thượng thận có một phần bên ngoài (vỏ thượng thận) và một phần bên trong (tủy thượng thận). Tế bào trong những vùng khác nhau của tuyến này tạo những hormone khác nhau.
    • Ở người, tuyến thượng thận phải có hình chóp, trong khi bên trái là hình bán nguyệt lớn hơn. Tuyến thượng thận có chiều rộng khoảng 3 cm, chiều dài 5,0 cm và chiều dày lên tới 1,0 cm. Trọng lượng kết hợp của chúng ở một người trưởng thành dao động từ 7 đến 10 gram. Các tuyến có màu vàng.

    2.1. Miền vỏ

    Vỏ thượng thận gồm 3 lớp: lớp cầu, lớp bó và lớp lưới. Mỗi lớp tiết một nhóm hormon khác nhau.

    • Lớp cầu (Zona glomerulosa)

      • Vùng ngoài cùng của vỏ thượng thận là lớp cầu. Nó nằm ngay dưới nang xơ của tuyến. Các tế bào trong lớp này tạo thành các nhóm hình bầu dục. Những nhóm này được ngăn cách bởi các sợi mô liên kết mỏng từ nang xơ của tuyến và mang mao mạch rộng.
      • Lớp cầu tiết hormon điều hòa các muối khoáng (các chất điện giải). Trong đó, quan trọng nhất là hormon aldosteron. Hormon này có tác dụng giữ các ion Na+ và K+ trong máu ổn định, giúp điều hòa huyết áp. Aldosterone đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa huyết áp lâu dài.

    • Lớp bó (Zona fasciculata)

      • Nó là lớp lớn nhất trong ba lớp, chiếm gần 80% thể tích của vỏ thượng thận. Trong zona fasciculata, các tế bào được sắp xếp theo các cột hướng về phía tủy. Các tế bào chứa nhiều giọt lipid, ty thể dồi dào và mạng lưới nội chất trơn phức tạp.

      • Lớp bó tiết hormon nhóm corticoid đường. Chúng đóng vai trò trong quá trình chuyển hóa đường glucose. Ngoài ra chúng còn giúp ức chế quá trình viêm. Hormon chủ yếu của nhóm này là cortisol. Cortisol là hormon có tác dụng chuyển hóa glucose từ protein và lipit. Khi cơ thể cần, dưới tác dụng của Cortisol, glucose có thể được tổng hợp từ axit amin và axit béo do sự phân giải của protein và lipit.

    • Lớp lưới (Zona reticularis)

      • Lớp vỏ trong cùng, nằm liền kề với tủy. Các tế bào nhỏ của nó tạo thành các dây và cụm không đều. Chúng được cách nhau bởi các mao mạch và mô liên kết. Các tế bào chứa một lượng tương đối nhỏ tế bào chất và các giọt lipid.
      • Lớp lưới tiết hormon điều hòa sinh dục nam, trong đó chủ yếu là androgen. Ngoài ra còn có một lượng không đáng kể estrogen. Androgen có tác dụng lên sự phát triển các đặc tính nam. Trong quá trình phát triển phôi, sự phân hóa giới tính nam chủ yếu là do tác dụng của androgen. Đến tuổi dậy thì, androgen cùng với hormon tinh hoàn (testosteron) kích thích cơ quan sinh dục phát triển. Tuyến trên thận ở nữ cũng tiết loại hormon này. Nếu tiết nhiều trong thời kì còn là thai nhi, có thể phát triển tính nam. Tức là thể hiện ở cơ quan sinh sản về bề ngoài giống nam giới.

    2.2. Miền tủy

    • Tủy thượng thận nằm ở trung tâm của tuyến thượng thận, và được bao quanh bởi vỏ thượng thận. Tủy thượng thận là nguồn hormon catecholamines chính của cơ thể. Khoảng 20% ​​noradrenaline (norepinephrine) và 80% adrenaline (epinephrine) được tiết ra ở đây.
    • Tủy thượng thận được điều khiển bởi hệ thống thần kinh giao cảm thông qua các sợi có nguồn gốc từ tủy sống ngực , từ đốt sống T5 đến T11. Vì vậy nó được coi là một hạch giao cảm chuyên biệt . Tuy nhiên, không giống như các hạch giao cảm khác, tủy thượng thận thiếu các khớp thần kinh riêng biệt và giải phóng dịch tiết trực tiếp vào máu.
    • Khi bị kích thích, các tế bào tuyến tiết ra adrenalin và noradenalin. Các Hormon này có tác dụng giống với thần kinh giao cảm. Nhưng hiệu quả có tác dụng kéo dài hơn khoảng mười lần. Nguyên do vì chúng bị phân hủy chậm hơn chất dẫn truyền thần kinh. Tác dụng của hormon tủy thượng thận là làm tăng nhịp tim, tăng lực co tim, tăng nhịp thở, dãn phế quản, tăng huyết áp, tăng đường huyết.

    3. Chức năng của tuyến thượng thận

    3.1. Corticosteroid

    • Mineralocorticoids (như là aldosterone)

    Có tác dụng giúp điều hòa huyết áp và cân bằng điện giải. Hormon điều hòa bằng cách quản lý sự cân bằng kali và natri trong cơ thể. Ở thận, aldosterone tác động tăng tái hấp thu natri và bài tiết cả ion kali và hydro. Lượng natri có trong cơ thể ảnh hưởng đến thể tích ngoại bào, từ đó ảnh hưởng đến huyết áp.

    • Glucocorticoids

    Hormon này còn ức chế hệ thống miễn dịch và tác dụng chống viêm. Cortisol làm giảm khả năng của các nguyên bào xương để tạo ra mô xương mới. Ngoài ra nó còn làm giảm sự hấp thu canxi trong đường tiêu hoá. Điều này có nghĩa lượng Glucocorticoid quá nhiều có thể gây loãng xương.

    Glucocorticoids chịu ảnh hưởng điều tiết của trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận (HPA). Sự tổng hợp glucocorticoids được kích thích bởi hormon vỏ thượng thận (ACTH) –  giải phóng từ tuyến yên trước. Đổi lại, việc sản xuất ACTH được kích thích bởi sự hiện diện của hormone corticotropin (CRH)-được giải phóng bởi các tế bào thần kinh của vùng dưới đồi.

    3.2. Catecholamines

    Các tuyến thượng thận sẽ chịu trách nhiệm cho hầu hết các adrenaline lưu thông trong cơ thể, nhưng chỉ có một lượng noradrenaline lưu hành. Những hormone này được giải phóng bởi tủy thượng thận, nơi chứa một mạng lưới mạch máu dày đặc.

    Adrenaline và noradrenaline hoạt động toàn cơ thể, với các tác dụng bao gồm tăng huyết áp và nhịp tim. Ngoài ra, nó còn chịu trách nhiệm cho phản ứng đấu tranh chống tác nhân có hại. Hoạt động này được đặc trưng bởi việc thở nhanh và nhịp tim, tăng huyết áp và co thắt mạch máu ở nhiều bộ phận của cơ thể.

    3.3. Androgens

    Androgens được sản xuất bởi lớp trong cùng của vỏ thượng thận. Hormon này được chuyển đổi thành hormone giới tính với đầy đủ chức năng trong tuyến sinh dục và các cơ quan đích khác.

    4.1. Suy vỏ thượng thận (Addison)

    Có 4 triệu chứng chính:

    • Da sạm đen: giống màu chì, da thường thâm ở các vùng:

      • Chỗ da không được che kín.
      • Nơi da thường bị cọ xát (cùi tay, đầu gối, vai, nơi cọ xát, dải rút và thắt lưng).
      • Niêm mạc cũng bị xám đen (niêm mạc môi, lưỡi).

    • Mệt nhọc: sức cơ giảm đi nhanh chóng. Dùng lực kế để thử sức cơ người bệnh bóp lần đầu, sức bóp có thể bình thường. Các lần bóp kế tiếp, sức bóp giảm đi nhanh. Khi làm việc, người bệnh chóng bị mệt mỏi, sự mệt mỏi tăng lên trong đợt tiến triển.
    • Huyết áp hạ. Người bệnh bị nhức đầu hoa mắt, có xu hướng thỉu đi.
    • Gầy, sút nhanh. Trong vài tháng có thể sút 3 – 4 kg.

    4.2. Cường vỏ thượng thận loại chuyển hóa (Cushing)

    Bệnh Cushing do cường tế bào ưa Bazơ của thuỳ trước tuyến yên kích thích vỏ thượng thận. Hội chứng Cushing do cường Hormon vỏ thượng thận. Bệnh hay hội chứng đều có triệu chứng giống nhau. Triệu chứng nổi bật nhất là sự biến dạng của người bệnh:

    • Mặt béo tròn, húp cả mắt, má phình, cằm đôi, cổ cũng béo tròn. Thân cũng béo, bụng to phệ, vú to, lưng có từng cục mỡ.
    • Trong khi đó, trái lại các chi trên và chi dưới nhỏ đi, gầy khẳng khiu.
    • Da mặt đỏ hồng, hơi tím ở má. Nhưng đặc biệt là các nếp răn dài, đỏ thẫm hơn da bình thường. Các nếp răn dài này thường thấy ở bụng dưới, lưng, vú.
    • Xuất hiện những nếp rạn da ở hai bên bẹn và dưới vú.
    • Lông mọc nhiều, ngay cả nơi không có nay cũng thấy như: đàn bà mọc râu mép như đàn ông.
    • Huyết áp tăng cao: số tối đa có thể tới 15 – 20cmHg, tối thiểu từ 10 – 14cm Hg.
    • Mệt nhọc, làm người bệnh không muốn vận động.
    • Rối loạn tình dục: đàn ông có thể liệt dương, đàn bà mất kinh.

    4.3. Cường Adrosteron tiên phát (Conn)

    • Tăng huyết áp thường xuyên, cả tối đa lẫn tối thiểu.
    • Cơn kiểu Têtani: cơn xảy ra từng đợt.
    • Rối loạn cơ, cơn mệt mỏi cơ, có khi gây bại liệt, có khi bị liệt kiểu liệt chu kỳ gia đình. Cơn liệt kéo dài một giờ, một vài ngày và khỏi không để lại triệu chứng.
    • Uống nhiều, đái nhiều.

    4.4. Cường Adrogens

    Bệnh cảnh lâm sàng tuỳ theo giới, tuổi, tuỳ theo sự bất thường nhiều hay ít hocmon. Tuy nhiên ta có thể gặp mấy triệu chứng sau:

    • Thay đổi tính chất sinh dục. Phụ nữ bị nam hoá: tinh hoàn ẩn (cryprochide), và lỗ đái ở thấp. Ở con trai: thấy bệnh cảnh của chứng sinh dục tảo pháp.

    4.5. Cường tủy thượng thận (Pheocromoxytom)

    Triệu chứng chủ yếu là tăng huyết áp. Có thể thấy hai loại triệu chứng:

    • Cơn kịch phát: xảy ra do người bệnh làm gắng sức. Kéo dài từ một vài phút đến một vài giờ. Người ta quan sát thấy:

      • Người bệnh xanh nhợt: ra mồ hôi, buồn nôn và nôn mửa, nước bọt tiết nhiều.
      • Có cảm giác ù tai, kiến bò các đầu chi, các bắp thịt bị chuột rút, mờ mắt, mất tiếng. Xuất hiện cơn co giật hoặc liệt thoáng qua.
      • Thường thấy trống ngực đánh mạnh, huyết áp tăng cao và nhanh, nhất là huyết áp tối thiểu. Cơn huyết áp cao có thể gây ra phù phổi chảy máu não hoặc màng não.

    • Các triệu chứng thường xuyên: Giữa các cơn kịch phát, có thể thấy:

      • Thỉnh thoảng có sốt nhẹ do tăng chuyển hóa cơ bản.
      • Tăng huyết áp thường xuyên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Tính Năng Nổi Bật Của Máy Giặt Electrolux Mà Nhiều Người Chưa Biết
  • Các Chế Độ Giặt Của Máy Giặt Electrolux Đời Hiện Nay
  • Có Nên Mua Máy Giặt Có Chức Năng Sấy Khô Hay Không?
  • 7 Mẹo Sử Dụng Bảng Điều Khiển Máy Giặt Dễ Dàng
  • Các Tính Năng Của Máy Giặt
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Sinh Lý Của Gan

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Loại Trái Cây Tốt Nhất Để Trị Gan Nhiễm Mỡ Bạn Cần Biết
  • Chức Năng Của Gan Trong Cơ Thể Là Gì?
  • Chức Năng Của Gan Trong Cơ Thể Là Gì
  • 👩⚕️💉👨⚕️ Chức Năng Gan Trong Cơ Thể Người
  • Gan Và Chức Năng Của Gan Trong Cơ Thể Con Người
  • Gan có cấu tạo như thế nào?

      Gan là một cơ quan tạng lớn nhất của cơ thể con người, nặng khoảng 1.500g, nằm ở phía bên phải ổ bụng và đượcc chia thành hai thuỳ trái và phải. Thuỳ phải to hơn thuỳ trái.

      Phía trên, gan tiếp giáp với cơ hoành, phía dưới là ruột non và ruột già. Phía trước bên phải tiếp giáp với dạ dày, phía sau bên phải là thận phải. Mặt dưới gan có túi mật.

      Các cơ quan trong cơ thể như thận, não… đều nhận máu trực tiếp từ tim, duy nhất có gan vừa nhận máu từ tim thông qua động mạch gan vừa nhận máu trực tiếp từ đường tiêu hóa qua một mạch máu lớn là tĩnh mạch cửa.

    Cấu tạo của gan

      Gan của một người bình thường có khoảng 100 tỷ tế bào. Khi xem dưới kính hiển vi, ta sẽ thấy gan được tạo nên từ nhiều tiểu thuỳ gan có hình lục giác là tĩnh mạch trung tâm, nơi hội tụ các dãy tế bào gan. Đầu kia của dãy tế bào gan là khoang cửa, nơi chứa các nhánh của tĩnh mạch cửa, động mạch gan và ống mật. Ở giữa các dãy tế bào gan là các cấu trúc xoang mạch dẫn lưu máu từ khoang cửa đi đến tĩnh trung tâm. Các dãy tế bào gan này lại xếp chồng lên nhau thành từng lớp.

      Giữa các đường rãnh tĩnh mạch chứa dịch mật do gan tiết ra với các chất thải qua mật. Mật lại theo các đường rãnh này đổ về ống mật ở khoảng cửa, rồi vào những ống mật lớn hơn. Sau đó mật lại tiếp tục đi qua ống gan trái, ống gan phải, ống mật chủ và cuối cùng là ruột non giúp tiêu hóa các chất.

    Chức năng của gan là gì?

      Gan là một bộ phận đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của con người nhưng vẫn còn rất nhiều người chưa hiểu rõ gan có chức năng gì, chức năng gan là gì.

      Gan được ví như nhà máy năng lượng của cơ thể, nhà máy này làm việc liên tục không ngừng nghỉ để chuyển hóa các chất đưa vào cơ thể qua đường ăn, uống, hít thở, tiếp xúc qua da. Tại đây, 3 chất được chuyển hóa mạnh mẽ nhất tại gan là protein, lipid, glucid.

    Chức năng chuyển hóa của gan

      ♦ Chuyển hóa glucid: Chất đường (Glucid) là thành phần chính có trong cơm, bánh mì… Trong cấu tạo và nhiệm vụ của gan, glucid cung cấp năng lượng giúp cơ thể tiến hành mọi hoạt động như đi, đứng, suy nghĩ… Sau khi ăn, chất đường được men axit trong dạ dày chuyển hóa glucid thành glucose để đi vào máu và chuyển tiếp thành glucogen dự trữ. Khi cơ thể bị tụt đường huyết, gan sẽ phân giải glucogen thành glucose cung cấp cho cơ thể.

      ♦​ Chuyển hóa protein: Chất đạm (protein) có trong thịt cá, đậu hũ… Sau khi ăn vào, chất đạm từ thức ăn sẽ được chuyển hóa thành những chất đơn giản hơn như là các axit amin để dễ dàng được hấp thụ vào máu. Khi các axit amin này đến gan, chúng sẽ được gan tổng hợp thành nhiều loại chất đạm quan trọng khác nhau cần thiết cho hoạt động của cơ thể.

      ♦​ Chức năng chuyển hóa lipid: Lipid là chất béo bao gồm cả cholesterol và gan chính là nơi kiểm soát sự tạo ra và bài tiết cholesterol này. Để hoạt động của các tế bào được hoàn hảo, nồng độ cholesterol cần phải duy trì ở mức ổn định.

      Một trong những chức năng chính của gan là lọc những chất độc trong máu ra khỏi cơ thể bằng cách biến đổi và khử độc chúng. Những chất độc sẽ được gan loại bỏ qua đường nước tiểu hoặc đường mật.

      Tế bào gan liên tục bài tiết ra dịch mật. Dịch mật chứa nhiều chất nhưng có hai thành phần quan trọng là:

    Gan có chức năng bài tiết dịch mật

      ♦​ Muối mật: Là chất giúp cho mỡ khi ăn vào có thể tan được trong nước. Điều này sẽ giúp cho quá trình tiêu hóa và hấp thụ chất mỡ được tốt hơn. Nếu không có muối mật, có thể 40% chất béo sẽ không được hấp thụ. Ngoài ra, muối mật còn giúp hấp thu những vitamin tan trong mỡ như vitamin A, D, E, K.

      ♦​ Sắc tố mật: Gan không chỉ bài tiết các chất được sản xuất từ gan mà còn bài tiết những chất được tạo ra từ nơi khác. Một trong những chất này là biliribin hay còn được gọi là sắc tố mật.

      Ngoài ra các chức năng trên, gan còn có chức năng chuyển hóa thuốc men, tích trữ vitamin…

      Tóm lại, gan là một cơ quan đảm nhiệm rất nhiều chức năng quan trọng và phức tạp của sự sống. Một khi gan bị tổn thương sẽ dẫn đến suy giảm chức năng gan. Lúc này, cần tiến hành kiểm tra chỉ số chức năng gan để có các biện pháp bảo vệ gan, tăng cường chức năng gan kịp thời, tránh tình trạng gan bị tổn thương quá mức gây viêm gan, xơ gan, ung thư gan, thậm chí dẫn đến tử vong.

      Để kiểm tra chỉ số chức năng gan chính xác, nhanh chóng, bạn có thể lựa chọn đến Phòng Khám đa khoa Hồng Phong. Đây là một trong những địa chỉ chuyên khoa gan uy tín tại TPHCM được Sở Y tế cấp phép hoạt động và đông đảo người bệnh tin tưởng lựa chọn.

      Nếu còn điều gì chưa rõ về cấu tạo và chức năng sinh lý của gan hoặc chức năng nội tiết của gan thì vui lòng liên hệ Phòng Khám Hồng Phong để được tư vấn miễn phí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Loại Thuốc Bổ Giải Độc Gan Tốt Nhất Hiện Nay?
  • 5 Loại Thuốc Bổ Gan Của Nhật Tốt Nhất 2022
  • Thuốc Bổ Gan Hepalyse Ex 200 Viên “chính Hãng” Của Nhật Bản
  • Thuốc Bổ Gan Hepalyse Ex 240 Viên Nhật Bản Mẫu
  • Top 10+ Thuốc Bổ Gan, Mát Gan, Giải Độc Gan Tốt Nhất Của Mỹ, Úc, Nhật Bản
  • Cấu Tạo , Chức Năng Sinh Lý , Vị Trí Của Thận Nằm Ở Đâu

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Sinh Lý Tạng Thận
  • Cách Chèn Số Mũ Trong Word, Gõ Chỉ Số Trên Dưới Word 2013, 2022, 2010,
  • Hướng Dẫn Định Dạng Phông Chữ, Thay Đổi Độ Giãn Và Tạo Chữ Nghệ Thuật Trong Word
  • Sinh Học 9 Bài 18: Prôtêin
  • Hướng Dẫn Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Nội Vụ
  • Tham vấn y khoa : lê minh lộc

    Thận là một cơ quan trong hệ tiết niệu, là cơ quan bài tiết chính của hệ tiết niệu trong cơ thể. Vị trí của thận là nằm sát thành sau của bụng, ở hai bên cột sống gần cơ thắt lưng chính. Hai bên thận nằm ngang đốt ngực cuối cùng (T12) đến đốt thắt lưng L3 trong khung xương sườn. Thận phía bên phải nằm hơi thấp hơn so với thận ở bên trái khoảng 1 đốt sống.

    Thận có hình hạt đậu màu nâu nhạt, mặt trước nhẵn bóng còn mặt sau sần sùi, có một bờ lồi, một bờ lõm. Mỗi quả thận có kích thước chiều dài khoảng 10 – 12.5 cm, rộng 5-6 cm, dày 3-4 cm và nặng khoảng 170g.

    Cấu tạo của thận

    Cấu tạo của thận gồm: ở chính giữa bờ cong phía trong là phần rốn thận, ở đây có ống niệu, dây thần kinh và mạch máu; vùng ngoài cùng là phần vỏ có màu đỏ sẫm do có nhiều mao mạch, dày khoảng 7-10mm; phần kế tiếp là phần tủy và bể thận có chứa các mô mỡ, mạch máu và dây thần kinh.

    Mỗi quả thận của người được cấu tạo từ 1,2 triệu đơn vị thận (nephron). Đây vừa là đơn vị cấu tạo vừa là đơn vị chức năng của thận. Mỗi đơn vị chức năng thận gồm có cầu thận và ống thận.

    Cầu thận gồm quản cầu Malpighi và nang Bowman. Bowman là một túi bọc quản cầu, thành nang có nhiều lỗ nhỏ. Quản cầu Malpighi có dạng khối hình cầu được tạo thành từ khoảng 50 mao mạch xếp song song. Ngăn cách giữa nang và mao mạch là một màng lọc mỏng, có chức năng lọc các chất từ mao mạch sang nang.Mỗi quả thận của người được cấu tạo từ 1,2 triệu đơn vị thận (nephron).

    Ống thận gồm ống lượn xa, ống lượn gần và quai Henle. Dịch lọc từ nang đổ vào ống lượn gần, sau đó đi đến quai Henle. Ở đầu lên của quai Henle tiếp với ống lượn xa, từ ống lượn xa dịch lọc đổ vào ống góp. Ống góp không thuộc đơn vị thận, nó có chức năng nhận dịch lọc từ một số nephron để đổ vào bể thận.

    Chức năng sinh lý của thận

    Chức năng chính của thận là lọc máu và các chất thải. Thận sẽ lọc các chất thải chỉ giữa lại protein và các tế bào máu. Các chất thải được tiết ra, vào dịch lọc để hình thành nước tiểu.

    Chức năng điều hòa thể tích máu: thận có vai trò quan trọng trong kiểm soát khối lượng dịch ngoại bào trong cơ thể bằng cách sản xuất nước tiểu. Khi chúng ta uống nhiều nước thì lượng nước tiểu sẽ tăng lên và ngược lại.

    Thận giúp hòa các chất hòa tan trong máu, độ pH của dịch ngoại bào và quá trình tổng hợp của các tế bào má: thận giúp điều hòa nồng độ các ion có trong máu. Ngoài ra, thông qua việc tổng hợp vitamin D để hỗ trợ kiểm soát lượng icon canxi trong máu.

    Vị trí của thận nằm ở đâu trên cơ thể người ?

    Bộ phận thận của chúng ta nằm ở thành sau bụng và phúc mạc trên cơ thể , 2 bên trái phải của cột sống lưng. Mép trên của thận ngang với xương ngực số 11 và 12, mép dưới gần đốt sống eo số 3. Ở trạng thái bình thường thận phải nằm thấp hơn một chút so với thận trái.

    Ngoài ra vị trí thận cũng có thể di chuyển thay đổi trên cơ thể người khoảng từ 1 – 2 cm do tác động của cơ thể khi hô hấp. Nhưng cũng có lúc mỗi khi bạn đi kiểm tra sức khỏe, lại thấy thận nằm ở vị trí rất thấp.

    Thận nằm trên cơ thể người giữ vai trò gì ?

    Để tìm hiểu rõ hơn về cơ quan thận trên cơ thể người thì tiếp theo chúng ta cùng nhau tìm hiểu kĩ hơn về vai trò, công dụng của thận trong cơ thể .

    • Loại bỏ các sản phẩm giáng hóa của protein có trong thực phẩm, để từ đó tạo ra tiến trình vận động của các khối có bắp.
    • Giữ cân bằng dịch có trong cơ thể: Các khoáng chất trong cơ thể cần phải được duy trì ở trạng thái cân bằng. Bởi nếu có 1 sự chênh lệch về 1 chất nào đó sẽ dẫn tới những dấu hiệu bất thường.
    • Hoạt hóa vitamin D tăng khả năng hấp thụ canxi của cơ thể, tăng cường sự vững chắc cho xương.
    • Một số hormon thiết yếu được giải phóng và cung cấp vào cho máu, hay còn trợ giúp tủy xương tạo ra hồng cầu.

    Một số bệnh lý về thận gây nguy hiểm

    Thận cũng như các cơ quan khác trong cơ thể, nếu không được chú ý chăm sóc cũng sẽ rất dễ gặp phải các bệnh nguy hiểm như :

    • Viêm cầu thận
    • Thận ứ nước
    • Suy thận
    • Sỏi thận
    • Nhiễm khuẩn, nghẽn tắc hay bệnh bẩm sinh đường tiết niệu
    • Lạm dụng các loại thuốc chống viêm, kháng sinh cũng gây ảnh hưởng trực tiếp tới thận

    Để phát hiện sớm bệnh thận trên cơ thể người nhanh và chính xác thì có ba cách: thử nước tiểu, thử máu, đo huyết áp thường xuyên.

    Lưu ý khi điều trị bệnh thận

    • Áp dụng các biện pháp loại bỏ muối, nước thừa và các chất giáng hóa trong cơ thể, trong trường hợp phát hiện ra thận bị giảm chức năng.
    • Dùng các loại thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ.
    • Tăng cường tập luyện rèn luyện sức khỏe.

    Khi đã xác định được vị trí của thận, bạn sẽ rất dễ dàng xác định đau thận ở vị trí nào.

    Do đó, việc dùng thuốc bổ thận tráng dương Đông y trên vẫn có nhược điểm vì là kinh nghiệm chung và lâu đời, chưa thực sự phù hợp với từng thể trạng quý ông hiện đại. Người dùng thì thừa, người lại thiếu rất khó dung hòa.

    Hư thì bổ

    Nắm rõ được điều này, PGS. BS Nguyễn Trọng Nghĩa và các lương y tại phòng chẩn trị YHCT Tâm Minh Đường sau nhiều năm nghiên cứu đã đưa ra bài thuốc Cao Bổ Thận đem lại hiệu quả bổ thận tráng dương cao.

    Thực thì tả

    Cao Bổ Thận Tâm Minh Đường dựa trên nguyên tắc trị liệu ” Hư thì bổ, thực thì tả” lựa chọn lục vị thuốc bổ khác nhau để bù đắp phần hư thiếu, điều hòa thiên thắng, lập lại cân bằng trong cơ thể.

    Các vị thuốc bổ thận tráng dương cẩu tích, tơ hồng xanh, xích đồng có tính ôn dùng bảy phần bổ ba phần công giúp bù đắp phần thận hư, khôi phục chức năng sinh lý. Ngay sau đó bài thuốc tiến đến bồi bổ thận, hòa hoãn âm dương thì các vị thuốc tức khắc không còn công hiệu tránh gây ra tình trạng mất cân bằng.

    Đối với bệnh thực thì các loại thảo dược cỏ xước, dây đau xương, tục đoạn hướng tới bảy phần công ba phần bổ để mở đường đuổi tà khí giúp duy trì sức khỏe thận tinh.

    Địa chỉ để tiện liên hệ:

    Nhờ những ưu điểm vượt trội chỉ sau từ 1 – 3 liệu trình, bài thuốc bổ thận Cao Bổ kích thích sức khỏe, trong đó có hệ sinh dục tự phục hồi khả năng chứ không phải là sự thay thế như dùng liệu pháp hoóc-môn sinh dục của y học hiện đại.

    Đặc biệt năm 2022 bài thuốc Cao Bổ Thận Tâm Minh Đường đã nhận giải thưởng Thương hiệu an toàn vì sức khỏe cộng đồng. Đây là minh chứng cho hiệu quả của bài thuốc bổ thận Đông y đối với sức khỏe người bệnh.

    Miền Bắc: Phòng chẩn trị YHCT Tâm Minh Đường: 138 Khương Đình – Thanh Xuân – HN

    Giấy phép hoạt động: 595/SYT-GPHĐ

    Hotline: 0983.34.0246

    Miền Nam: Phòng chẩn trị YHCT An Dược: 325/19 đường Bạch Đằng – Phường 15 – Q.Bình Thạnh – TP. HCM

    Điện thoại: 0903.876.437

    • Đau thận ở vị trí nào
    • Vị trí của thận
    • 4 chức năng của thận
    • Vị trí thận sau lưng
    • Cấu tạo của thận
    • Sỏi thận nằm ở đâu
    • Hình thể ngoài của thận
    • Chức năng sinh lý của thận

    Nguồn : 2bacsi.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Sinh Lý Của Thận
  • Chức Năng Sinh Lý Của Tạng Thận
  • Chức Năng Sinh Lý Của Tạng Thận..thuốc Biệt Dược Uy Tín
  • Nobel Hóa Học 2009: Nghiên Cứu Cấu Trúc Và Chức Năng Của Ribosome
  • Tìm Hiểu Về Cấu Trúc, Chức Năng Của Ribosome Liên Kết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100