Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Nói Quá (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Nói Quá Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Bài Nói Quá Lớp 8, Ngữ Văn 8
  • Ngữ Văn 8: 4 Dạng Bài Thường Gặp Ở Chuyên Đề Nói Quá, Nói Giảm
  • 1 Bài Thơ Có Sử Dụng Biện Pháp Nói Quá
  • ai bít các câu ca dao tục ngữ có sử dụng nói quá hok nè

    1) Gánh cực mà đổ lên non

    Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

    2) Bao giờ cây cải làm đình

    Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

    3) Đêm nằm lưng chẳng tới giường

    4) Con rận bằng con ba ba

    Đêm đêm nó ngáy cả nhà thất kinh

    5) Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    ( Nguyễn Du )

    6) Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn

    7) Tấc đất , tấc vàng

    *********Ca dao có sử dụng biện pháp nói quá :

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    *********Thành ngữ có sử dụng biên pháp tu từ nói quá:

    – Đen như cột nhà cháy

    – Gầy như que củi

    – Đi guốc trong bụng

    – Xoay trời chuyển đất

    – Khoẻ như voi

    – Chậm như rùa

    – Bầm gan tím ruột

    – Mặt xanh nanh vàng

    Thanks giùm tớ cái háh…..post nhìu mỏi tay wá ch0y luz

    1) Đêm thnág năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    2) Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    (Nguyễn Du)

    3) Gánh cực mà đổ lên non

    Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

    4) Bao giờ cây cải làm đình

    Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

    5) Đêm năm lưng chẳng tới giường

    6) Con rận bằng con ba ba

    Đêm đêm nó gáy cả nhà thất thanh

    ***Ngoài ra bạn có thể vào trang web

    – http://baigiang.**********

    -http://giâon.**********

    Để biết dc thêm trí thức

    THanks giùm mình cái háh…..post mõi cả tay rùi nềh

    Bài này hoàn chỉnh là thế này cơ mà:

    Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

    Đêm ngủ thì ngáy o..o

    choongf yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà

    Chồng yêu chồn bảo về nhà đỡ cơm

    Tre^n đầu những rác cùng rơm

    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Tiếng Việt: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Bài 9. Nói Quá Thanh Vawn 8 Doc
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Hình Ảnh Người Lao Động Trên Biển Trong “đoàn Thuyền Đánh Cá”
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Lao Động Trong 3 Khổ Cuối Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Cảm Nhận Khổ Đầu Và Khổ Cuối Trong Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ (Nói Quá, Nói Giảm Nói Tránh)

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Đề: Nói Quá, Nói Giảm, Nói Tránh
  • Soạn Bài: Nói Giảm, Nói Tránh
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa
  • Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022
  • TRƯỜNG thCs TÂN THANH TÂY

    Trường THCS TAN THANH TAY

    NGỮ VĂN Tiết 37,38:

    Chủ đề :

    Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá:

    * Ví dụ (sgk /101)

    * Ghi nhớ (sgk/102)

    Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại

    mức độ, quy mô, tính chất của sự vật,

    hiện tượng được miêu tả để nhấn

    mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu

    cảm.

    2. Nói giảm nói tránh:

    * Ví dụ (sgk / 107,108)

    -Nói quá : là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng

    -Nói khoác : nói không có cơ sở, không có trong sự thật / nói láo, bịa chuyện

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá:

    2. Nói giảm nói tránh:

    * Ví dụ (sgk / 107,108)

    * Ghi nhớ (sgk / 108)

    Nói giảm nói tránh là một

    biện pháp tu từ dùng cách

    diễn đạt tế nhị, uyển chuyển,

    tránh gây cảm giác quá đau

    buồn, ghê sợ, nặng nề ;

    tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    Trường THCS TAN THANH TAY

    NGỮ VĂN Tiết 37,38:

    Chủ đề :

    Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá :

    Nói quá là biện

    pháp tu từ phóng đại

    mức độ, quy mô, tính

    chất của sự vật, hiện

    tượng được miêu tả để

    nhấn mạnh, gây ấn

    tượng, tăng sức biểu

    cảm.

    Thế nào là nói quá?

    * Củng cố lý thuyết

    LT 4/103: Các thành ngữ so sánh có dùng biện pháp nói quá

    LT 6/103: Phân biệt biện pháp tu từ nói quá với nói khoác

    – Nhanh như chớp

    – Cao như núi

    – Trắng như bông

    – Khỏe như voi

    – Đẹp như tiên…

    -Nói quá : là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng

    -Nói khoác : nói không có cơ sở, không có trong sự thật / nói láo, bịa chuyện

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá :

    Nói quá là biện pháp tu từ

    phóng đại mức độ, quy mô, tính

    chất của sự vật, hiện tượng

    được miêu tả để nhấn mạnh, gây

    ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    2. Nói giảm nói tránh:

    Nói giảm nói tránh là một biện

    pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế

    nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm

    giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng

    nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    Thế nào là nói giảm nói tránh ?

    * Củng cố lý thuyết

    Nêu thêm một số cách nói tương tự (LT3/109)

    Trong trường hợp nào thì không nên dùng

    cách nói giảm nói tránh ?

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá :

    Nói quá là biện pháp tu từ

    phóng đại mức độ, quy mô, tính

    chất của sự vật, hiện tượng

    được miêu tả để nhấn mạnh, gây

    ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    2. Nói giảm nói tránh:

    Nói giảm nói tránh là một biện

    pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế

    nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm

    giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng

    nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102. Tìm biện pháp nói quá và giải

    thích ý nghĩa của chúng trong các ví

    dụ sau :

    a) Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

    (Hoàng Trung Thông, Bài ca vỡ đất)

    b) Anh cứ yên tâm, vết thương chỉ

    sướt da thôi. Từ giờ đến sáng em có

    thể đi lên đến tận trời được.

    (Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng)

    c) Cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử

    nhũn mời hắn vào nhà xơi nước.

    ( Nam Cao, Chí Phèo)

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102. Biện pháp nói quá và ý

    nghĩa của chúng trong các ví dụ

    :

    a) Sỏi đá cũng thành cơm :

    niềm tin vào sức lao động của

    con người

    b) Lên đến tận trời : đi bất cứ

    nơi đâu

    c) Thét ra lửa : quát tháo, hống

    hách khiến ai cũng sợ

    a) Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

    (Hoàng Trung Thông, Bài ca vỡ đất)

    b) Anh cứ yên tâm, vết thương chỉ

    sướt da thôi. Từ giờ đến sáng em có

    thể đi lên đến tận trời được.

    (Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng)

    c) Cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn

    mời hắn vào nhà xơi nước.

    ( Nam Cao, Chí Phèo)

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102.

    2/108.

    2/102. Điền các thành ngữ

    sau đây vào chỗ trống để

    tạo nên biện pháp tu từ nói

    quá: bầm gan tím ruột, chó

    ăn đá gà ăn sỏi, nở từng

    khúc ruột, ruột để ngoài

    da, vắt chân lên cổ.

    a) Ở nơi … thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

    b) Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng …

    c) Cô Nam tính tình xởi lởi, …

    d) Lời khen của cô giáo làm cho nó …

    e) Bọn giặc hoảng hồn … mà chạy.

    a) Ở nơi chó ăn đá gà ăn sỏi thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

    b) Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng bầm gan tím ruột.

    c) Cô Nam tính tình xởi lởi, ruột để ngoài da.

    d) Lời khen của cô giáo làm cho nó nở từng khúc ruột.

    e) Bọn giặc hoảng hồn vắt chân lên cổ mà chạy.

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102.

    2/108.

    2/102.

    1/108. Điền các từ ngữ

    nói giảm nói tránh sau

    đây vào chỗ trống : đi

    nghỉ, khiếm thị, chia

    tay nhau, có tuổi, đi

    bước nữa.

    a) Khuya rồi, mời bà đi nghỉ .

    b) Cha mẹ em chia tay nhau từ ngày em còn rất bé, em về ở với bà ngoại.

    c) Đây là lớp học cho trẻ em khiếm thị .

    d) Mẹ đã có tuổi rồi, nên chú ý giữ gìn sức khỏe.

    e) Cha nó mất, mẹ nó đi bước nữa, nên chú nó rất thương nó.

    a) Khuya rồi, mời bà …

    b) Cha mẹ em … từ ngày em còn rất bé, em về ở với bà ngoại.

    c) Đây là lớp học cho trẻ em …

    d) Mẹ đã … rồi, nên chú ý giữ gìn sức khỏe.

    e) Cha nó mất, mẹ nó …, nên chú nó rất thương nó.

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102.

    2/108.

    2/102.

    1/108.

    3/102. Đặt câu với các thành ngữ dùng

    biện pháp nói quá sau đây: nghiêng

    nước nghiêng thành, dời non lấp biển,

    lấp biển vá trời, mình đồng da sắt,

    nghĩ nát óc.

    5/103. Viết một đoạn văn hoặc làm

    một bài thơ có dùng biện pháp nói

    quá.

    * Tham khảo :

    – Thúy Kiều là người có sắc

    đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

    – Sơn Tinh có tài dời non lấp biển.

    – Chuyện ấy còn khó hơn cả việc lấp biển vá trời.

    – Tôi đâu phải mình đồng da sắt đâu mà không biết đau.

    – Bài tập này khó quá, nghĩ nát óc mà chưa giải ra nữa.

    Trường THCS TAN THANH TAY

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm (Chi Tiết)
  • Đề Thi Khảo Sát Chất Lượng Đầu Năm Môn Ngữ Văn Lớp 12 Trường Thpt Thuận Thành Số 1, Bắc Ninh Năm Học 2022
  • Tác Dụng Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Hát “một Đời Người Một Rừng Cây”
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Những Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Sau: Khi Nghĩ Về Một Đời Người Tôi Thường Nhớ Về Một Rừng Cây. Khi Nghĩ Về Một Rừng Cây Tôi Thường Nhớ Về Nhiều Người
  • Bài 25. Các Thành Phần Chính Của Câu
  • Một Số Phương Tiện Và Biện Pháp Tu Từ Trong Ca Dao Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Tiện Và Biện Pháp Tu Từ Biểu Thị Khoa Trương Trong Tác Phẩm Của Mạc Ngôn
  • Phân Tích Đoạn Thơ Sau Trong Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Của Huy Cận: Mặt Trời Xuống Biển Như Hòn Lửa,… Dàn Đan Thế Trận Lưới Vây Giăng.
  • ✅ Tôi Đi Học
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Sử Dụng Đất Canh Tác Ở Phường Cẩm Thượng, Thành Phố Hải Dương
  • Luận Văn Chuyên Đề Giải Pháp Bảo Vệ Và Sử Dụng Hợp Lý Nguồn Tài Nguyên Đất
  • MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    1.1. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao chiếm một vị

    trí quan trọng. Ca dao là tiếng nói phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm của

    quần chúng nhân dân, phản ánh lịch sử xã hội, và do vậy, nó là một kho tài

    liệu phong phú về phong tục, tập quán trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và

    tinh thần của nhân dân lao động. Nội dung trữ tình của ca dao hết sức phong

    phú. Ta bắt gặp trong ca dao những “tiếng tơ đàn” ngân lên những giai điệu

    về tình yêu đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi, tiếng hát than thân,

    tiếng cười trào lộng… Xét về hình thức, ca dao là kho kinh nghiệm quí báu

    trong lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ. Không phải ngẫu nhiên, nhiều nhà thơ tài

    năng ở các thời đại khác nhau đã tìm thấy ở ca dao những bài học sáng tạo

    đáng giá. Ta mới hiểu vì sao, đối với ngành Ngữ văn lâu nay, việc học tập,

    tìm hiểu, nghiên cứu ca dao vẫn chưa hề mất tính thời sự. Từ những góc nhìn

    khác nhau, các nhà nghiên cứu không ngừng cho ra đời các công trình có giá

    trị về mảng đề tài này.Tuy thế, ca dao Việt Nam, nhất là bộ phận ca dao thuộc

    các vùng miền vẫn ẩn chứa những vấn đề thú vị, đòi hỏi được tìm hiểu kĩ

    lưỡng, sâu sắc thêm.

    1.2. Trên tấm “bản đồ văn hóa dân gian Việt Nam” miền đất Nam Bộ

    có nhiều nét đặc thù. Bộ phận ca dao của vùng đất này là một minh chứng

    sinh động. Với những gì đã sưu tập được, ta có thể thấy tính đa dạng, phong

    phú và đặc sắc của ca dao Nam Bộ ở cả phương diện nội dung lẫn hình thức

    biểu hiện.Trong thực tế, việc nghiên cứu ca dao Nam Bộ vẫn chưa được tiến

    hành đầy đủ, đúng với những gì lẽ ra nó được tìm hiểu. Chọn vấn đề Một số

    phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao Nam Bộ làm đề tài luận văn

    thạc sĩ, chúng tôi muốn đi sâu vào một trong những biểu hiện đa dạng và đặc

    sắc nhất của hình thức ca dao vùng này, nhằm khám phá sâu sắc thêm các giá

    trị tiềm ẩn, cắt nghĩa sức sống lâu bền của nó, đồng thời hiểu được những nét

    2

    riêng về văn hoá của một vùng đất. Đặt vấn đề này trong bối cảnh nghiên cứu

    của ngành Ngữ văn hiện nay, chúng tôi cho rằng đây là sự lựa chọn có ý

    nghĩa.

    1.3. Hiện nay, trong chương trình Ngữ văn THPT và nhất là bậc đại học, ca

    dao được đưa vào giảng dạy và học tập với số lượng tác phẩm đáng kể. Các

    nhà soạn sách giáo khoa đã có quan điểm đúng khi chú ý đến ca dao của người

    Kinh và của các tộc người thiểu số, của vùng Bắc cũng như vùng Trung và Nam

    Bộ. Việc có mặt các tác phẩm ca dao thuộc nhiều vùng miền khác nhau như vậy

    mới phản ánh được sự đa sắc của nó. Trước tình hình ấy, sự lựa chọn đề tài nghiên

    cứu của chúng tôi có thêm ý nghĩa thực tiễn. Nếu công trình thực sự có chất

    lượng, giải quyết tốt nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, chắc chắn sẽ góp phần thiết thực

    nhất định cho việc tìm hiểu, học tập ca dao ở các bậc học trong nhà trường.

    2. Lịch sử vấn đề

    Việc tìm hiểu tu từ nghệ thuật (nghiên cứu ở phương tiện tu từ ngữ nghĩa)

    trong ca dao đã và đang được nhiều người quan tâm từ hai góc độ: lý luận và

    nghiên cứu ứng dụng. Tất nhiên, trong những công trình, bài viết mang tính lý

    luận vẫn có những ví dụ minh họa như là một phần ứng dụng. Ngược lại, trong

    những công trình ứng dụng, không thể thiếu những luận điểm lý thuyết.

    Cho đến nay, đã có không ít công trình với những tính chất và qui mô

    khác nhau về ca dao Nam Bộ. Ca dao dân ca Nam Bộ (Bùi Mạnh Nhị chủ biên,

    Nxb chúng tôi 1984) là một cuốn sưu tập, nhưng cũng đã phác họa được đôi nét

    về đặc điểm nghệ thuật của bộ phận ca dao này. Cuốn Ca dao Đồng Tháp Mười

    (Đỗ Văn Tân, Sở VH – TT Đồng Tháp, 1984) đã tập hợp trên 900 câu ca dao một thành công đáng kể trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá

    dân tộc ở vùng Đồng Tháp Mười. Giang Minh Đoán có Kiên Giang qua ca dao

    (Nxb chúng tôi 1997) sưu tầm 272 câu ca dao về thiên nhiên, con người ở vùng

    đất Kiên Giang, qua đó, tác giả nêu lên một số nét trong phong tục tập quán của

    vùng sông nước, khu sinh thái U Minh Thượng. Tập thể tác giả của Khoa Ngữ

    3

    4

    miệt vườn, ruộng rẫy, các hiện tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ… Đặc biệt, bài viết

    đề cập rất cụ thể về thế giới nghệ thuật trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ: thiên

    nhiên và các hiện tượng so sánh, ẩn dụ, biểu tượng… Tác giả xác định: “thiên

    nhiên thay đổi trong tiến trình khai phá thì văn hóa dân gian cũng in dấu rõ nét”.

    Đề tài đã góp phần tìm hiểu những đặc điểm riêng của văn hóa vùng đất Nam Bộ.

    Bùi Thị Tâm – tác giả luận văn thạc sĩ với đề tài Những đặc điểm ngôn ngữ trong

    ca dao đồng bằng sông Cửu Long (1998) – đã nghiên cứu sự phong phú và đa

    dạng của lớp từ ngữ mang sắc thái địa phương, đặc điểm câu và câu thơ trong

    ngôn ngữ ca dao đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, luận văn cũng đề cập một

    số công thức mang ý nghĩa biểu trưng như so sánh, ẩn dụ mặc dù công công trình

    không đi sâu nghiên cứu các phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao . Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã phân

    loại, miêu tả các biểu tượng nghệ thuật thông qua các hình thức so sánh nổi, ẩn dụ

    tu từ trong ca dao, đồng thời trình bày cấu tạo và vai trò của chúng đối với thi pháp

    ca dao người Việt trong luận án tiến sĩ Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền

    thống người Việt (2002) đề cập đến những hình ảnh quen thuộc

    với người dân vùng sông nước nơi đây là chiếc ghe, con đò, dòng sông, chiếc cầu…

    Trong luận án tiến sĩ Biểu trưng trong ca dao Nam Bộ (2004), Trần Văn Nam đã

    nghiên cứu về biểu trưng trong ca dao xét trên bình diện thi pháp học, từ đó, tác giả

    đã nêu bật vai trò của các biểu trưng trong việc thể hiện đặc điểm văn hóa của vùng

    đất và con người Nam Bộ .

    5

    6

    4. Mục đích nghiên cứu

    – Nhận diện một cách đầy đủ các phương tiện và biện pháp tu từ được sử

    dụng ở ca dao Nam Bộ, phân tích giá trị biểu đạt; so sánh, đối chiếu để làm nổi

    bật những nét riêng, đặc sắc của ca dao Nam Bộ so với ca dao các vùng miền

    khác, từ đó, thấy được những nét riêng trong bản sắc văn hóa của vùng đất này.

    – Vận dụng thao tác phân tích ngôn ngữ học vào việc tiếp cận tác phẩm

    ca dao, rút ra những nguyên tắc cần thiết cho việc đọc hiểu ca dao đang đặt ra

    trong nhà trường hiện nay.

    5. Phương pháp nghiên cứu

    Triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng và phối hợp các phương pháp

    chính sau đây:

    – Phương pháp thống kê,

    – Phương pháp hệ thống,

    – Phương pháp phân tích ngôn ngữ học,

    – Phương pháp so sánh,

    – Phương pháp nghiên cứu liên ngành.

    Cấu trúc luận văn

    Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai thành 3 chương:

    Chương 1: Ca dao và vấn đề nghiên cứu hình thức nghệ thuật của ca dao.

    Chương2: Một số phương tiện tu từ trong ca dao Nam Bộ.

    Chương 3: Một số biện pháp tu từ trong ca dao Nam Bộ.

    Sau cùng là Tài liệu tham khảo.

    7

    Chương 1

    CA DAO

    VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT

    CỦA CA DAO

    1.1. Ca dao và các hướng nghiên cứu ca dao ở Việt Nam

    1.1.1. Khái quát về ca dao Việt Nam

    Trong ngành nghiên cứu Ngữ văn nước ta, ca dao là đối tượng được

    nghiên cứu khá sớm và đạt nhiều thành tựu. Riêng vấn đề thuật ngữ, khái

    niệm ca dao đã được lí giải ở nhiều công trình.

    Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm cho rằng: “Ca dao (ca:

    hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân

    gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân” .

    Các tác giả công trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 viết: “Ca dao là

    những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân

    tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm” .

    Các nhà nghiên cứu văn học dân gian Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên cho

    rằng: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt. Theo cách hiểu thông thường thì ca

    dao là lời của các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy, hoặc ngược

    lại là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca” .

    Phong cách học có vai trò to lớn trong việc nghiên cứu, xác định cái đẹp

    của ngôn ngữ; nghiên cứu tác dụng trở lại của hình thức ngôn ngữ đối với nội

    15

    dung diễn đạt tức là cũng nghiên cứu sự lựa chọn, sử dụng các phương tiện

    ngôn ngữ phù hợp nhất với nội dung tư tưởng, tình cảm trong những điều kiện

    hoàn cảnh giao tiếp nhất định.

    Muốn cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ, cần khảo sát, phân loại và

    miêu tả có hệ thống phương tiện tu từ và biện pháp tu từ được sử dụng trong văn

    bản. Qua đó, chúng ta sẽ thấy được giá trị nghệ thuật của các phương tiện tu từ và

    biện pháp tu từ ấy trong việc biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tác phẩm văn học.

    Do đó, phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý

    nghĩa sữ vật – lôgic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ; còn

    biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện

    ngôn ngữ, không kể trung hòa hay tu từ (còn được gọi là diễn cảm) trong một ngữ

    cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ.

    1.3.2. Vấn đề tu từ nghệ thuật trong ca dao

    Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ là khái niệm cơ sở của phong cách

    học. Mọi hoạt động ngôn ngữ đều có mục đích, phương tiện (công cụ) biện pháp

    (cách thức) nhất định. Muốn cảm nhận, chiếm lĩnh giá trị đích thực của tác phẩm

    văn học cần phải nắm vững và đánh giá được chức năng và vai trò của phương

    tiện tu từ và biện pháp tu từ – những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị thẩm mĩ.

    Phân loại, phân tích đánh giá được các phép tu từ là nắm chắc chìa khóa để mở

    cánh cửa đi vào cảm thụ giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn chương.

    Phương tiện và biện pháp tu từ là những yếu tố quan trọng tạo nên vẻ

    đẹp của tác phẩm văn học dân gian, nhất là thơ ca trữ tình. Do yêu cầu biểu

    đạt của nó, ca dao là thể loại mà ở đó, các phương tiện và biện pháp tu từ

    được sử dụng một cách rộng rãi nhất.

    Chỉ cần đọc qua ca dao của bất cứ vùng đất nào, có thể dễ dàng nhận thấy

    tác giả dân gian thật phóng túng về phương diện tu từ. Về tu từ ngữ âm, cách gieo

    vần, tạo nhịp, phối ứng thanh điệu, sử dụng từ láy, phép điệp âm… là những biện

    pháp được dùng với tần suất cao. Về tu từ từ vựng, có thể nhận thấy sự khác biệt

    16

    của các lớp từ mang dấu ấn phong cách như từ địa phương, từ địa danh, từ nghề

    nghiệp, từ thi ca, từ sinh hoạt… trong ca dao thuộc mọi chủ để. Về tu từ ngữ nghĩa,

    so sánh, nhân hóa, thậm xưng, chơi chữ, nói giảm, nói tránh… là những biện pháp

    rất được ưa dùng trong ca dao. Về tu từ cú pháp, phép song song, phép lặp, câu

    hỏi tu từ… cũng được sử dụng nhiều. Có thể khẳng định, ca dao là mảnh đất màu

    mỡ cho việc nghiên cứu các biện pháp và phương tiện tu từ trong văn học.

    Từ trước đến nay, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, thi pháp học đã ít

    nhiều đề cập đến vấn đề tu từ trong ca dao trữ tình Việt Nam như Vũ Ngọc Phan,

    Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Hoàng Tiến Tựu, Triều Nguyên… Các tác

    giả đã đưa ra những kiến giải, kết luận có giá trị về đặc điểm tu từ, màu sắc tu từ

    trong các tác phẩm văn chương nói chung, trong ca dao nói riêng dưới ánh sáng

    của phong cách học, thi pháp học. Các tác giả đã đánh giá sắc thái tu từ qua việc

    lựa chọn, sử dụng các phương tiện, biện pháp tu từ qua các mặt từ vựng, ngữ

    nghĩa, ngữ pháp và ngữ âm, từ đó, đưa ra những kết luận khoa học có giá trị.

    1.4. Ca dao Nam Bộ và việc sử dụng các hình thức nghệ thuật trong

    ca dao Nam Bộ

    1.4.1. Vài nét về vùng đất và con người Nam Bộ

    1.4.1.1. Vài nét vùng đất Nam Bộ

    Nam Bộ là một vùng đất cuối cùng phía Nam của Tổ quốc – miền đất vừa rất

    cổ lại vừa rất mới. Từ lâu đã có những nền văn hóa độc đáo nằm rải trên một địa

    bàn rộng lớn ở cả vùng trên, vùng dưới lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long.

    Trước thế kỷ XVI, miền đất này chìm trong hoang sơ của rừng rậm, sình lầy… Từ

    đầu thế kỉ XVII, cùng với số dân bản địa ít ỏi và thưa thớt (chủ yếu là người Chăm

    và người Khơ-me), những người Việt lớp trước và lớp sau, bằng nhiều con đường

    vượt bể, xuyên rừng, băng núi, với mọi nỗ lực phi thường, đã đến miền đất này lật

    thêm những trang sử vàng chói lọi cho một thời kì khai phá mới.

    Từ đó tới nay, hơn 300 năm, trên vùng đất mới này của Tổ quốc đã trải qua

    những biến động lớn. Từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, cuộc khẩn hoang vĩ đại nhất

    17

    của dân tộc ta về chiều rộng cũng như chiều sâu. Trận thủy chiến vang lừng của

    nghĩa quân Tây Sơn đã tiêu diệt năm vạn quân Xiêm xâm lược. Nơi đây, chứng

    kiến sự nổi dậy và ngã gục của triều đình phong kiến nhà Nguyễn; chứng kiến bước

    đường xâm lược và sự thất bại nhục nhã của thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Chính

    nơi này, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được giữ gìn và phát huy rực rỡ,

    phong phú. Thực dân Pháp xâm lược nước ta, thực hiện chính sách “chia để trị”,

    chia nước Việt Nam thành 3 kì: Bắc kì, Trung kì, Nam kì. Trái với ý đồ của kẻ thù,

    nhân dân ta với tư tưởng và tình cảm hướng về một cội nguồn, một chỉnh thể thống

    nhất giữa các miền của Tổ quốc. “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông

    có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi” (Hồ Chí Minh).

    Xét về mặt địa lí tự nhiên, vùng đất Nam Bộ bao gồm 17 tỉnh từ Bình Phước

    trở xuống phía nam và hai thành phố là thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần

    Thơ. Miền đất Nam Bộ đã hình thành hai khu vực lớn: Đông Nam Bộ và Tây Nam

    Bộ. Nối liền hai khu vực đó là thành phố Hồ Chí Minh. Đông Nam Bộ rộng khoảng

    26.000 km2 , bao gồm các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà

    Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh. Vùng đất này cao, phù sa cổ đệm giữa cao

    nguyên với châu thổ Cửu Long; có những ngọn núi thưa thớt xen giữa các triền đồi

    đất đỏ hoặc đất xám trùng điệp, lượn sóng nhấp nhô, rừng bạt ngàn, ít sông rạch.

    Những cư dân người Việt đã cư ngụ đầu tiên ở mảnh đất này trước khi lấn xuống

    đồng bằng sông Cửu Long. Còn Tây Nam Bộ với diện tích hơn 40.000 km2, bao gồm

    các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Hậu

    Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ.

    Nhìn chung, vùng Tây Nam Bộ được khai thác muộn hơn Đông Nam Bộ. Nếu như

    trước đây, cư dân bản địa không thể khai phá rộng rãi và cư ngụ lâu dài ở châu thổ

    sông Cửu Long, buộc phải thu mình trên những giồng đất, gò đồi, thì sau này, những

    cư dân Việt đã làm được điều đó. Đồng bằng Tây Nam Bộ hay còn gọi là đồng bằng

    sông Cửu Long. Là sản phẩm bồi tụ của sông Cửu Long – một trong mười con sông

    lớn nhất thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long tương đối thấp, bằng phẳng, khí hậu

    18

    mát mẻ, điều hòa quanh năm, là châu thổ phì nhiêu, trung tâm công nghiệp lớn nhất

    của nước ta. Trên đồng bằng này có nhiều dòng chảy tự nhiên, tạo nên một mạng lưới

    sông rạch chi chít. Theo thời gian con người đã đan thêm vào hệ thống đường thủy tự

    nhiên ấy những hệ thống kênh đào dày đặc, phục vụ cho các mục đích kinh tế, văn

    hóa, quốc phòng. Hiếm có nơi nào mà đời sống con người lại gắn bó mật thiết với

    sông nước như ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, ở vùng đồng bằng sông

    Cửu Long còn có những cánh đồng mênh mông, màu mỡ – vựa lúa của nước ta và

    khu vực Đông Nam Á. Chính điều kiện tự nhiên và con người nơi đây đã góp phần

    quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền văn học dân gian đồng bằng sông

    Cửu Long, trong đó có ca dao Nam Bộ.

    Theo lịch sử, trước kia nơi đây vốn là lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân

    Lạp. Thời chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn, vùng đất này là xứ Gia Định, mới được

    khai khẩn từ thế kỷ 17. Năm 1698, xứ Gia Định được chia thành 3 dinh: PhiênTrấn,

    Trấn Biên và Long Hồ. Vua Gia Long nhà Nguyễn gọi vùng này là Gia Định

    Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (tức là

    Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường và Hà Tiên. Năm 1834, vua Minh Mạng gọi

    là Nam Kỳ. Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định, mở đầu cuộc xâm lược

    đất Việt Nam. Ngày 13 tháng 4 năm 1862, triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đông

    Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) nhượng cho Pháp. Năm 1867, Pháp

    đơn phương tuyên bố toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp. Từ đó, Nam Kỳ

    được hưởng quy chế thuộc địa, với chính quyền thực dân, đứng đầu là một thống

    đốc người Pháp. Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên

    bang Đông Dương. Tháng 3 năm 1945, Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ

    thành Nam Bộ. Năm 1945, thời Đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim

    tuyên bố sáp nhập Nam Kỳ lại thành một bộ phận của nước Việt Nam độc lập. Sau

    khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ đó ra mắt

    ngày 25 tháng 8 năm 1945 do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Sau cuộc đảo chính

    Pháp tại Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật đã tuyên bố trao lại

    19

    quyền độc lập cho Việt Nam do vua Bảo Đại cai trị. Cùng với việc thành lập chính

    phủ, vua Bảo Đại cũng cho phân vùng lãnh thổ Việt Nam thành 3 khu vực hành

    chính, trong đó Nam Bộ là khu vực tương ứng với Nam Kì cũ. Thực dân Pháp nổ

    súng ở Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945 rồi dần dần đánh rộng ra chiếm lại Nam

    Bộ. Chính phủ Nam Kỳ quốc được thành lập theo sự chỉ đạo của Pháp hòng tách

    Nam Bộ ra khỏi Việt Nam với tên Nam Kỳ Quốc. Không đánh bại được Việt Minh,

    Pháp phải dựng “giải pháp Bảo Đại”, công nhận nền độc lập và sự thống nhất của

    Việt Nam. Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ

    phiếu thông qua việc trả Nam Bộ cho Việt Nam. Nam Bộ trở thành lãnh thổ nằm

    trong Quốc gia Việt Nam.

    Trải qua hơn 300 năm với nhiều tên gọi khác nhau, cuối cùng tên gọi Nam

    Bộ dùng để chỉ mảnh đất phía Nam của Tổ quốc. Nam Bộ là tên gọi được sử dụng

    lâu dài nhất cho đến ngày nay.

    Văn hóa Nam Bộ được tính mốc là năm 1623 khi vua Chân Lạp cho chúa

    Nguyễn di dân Việt đến định cư ở Prey Kụr (thành phố Hồ Chí Minh hiện nay).

    Vùng đất Nam Bộ bấy giờ chỉ là một vùng hoang dại với hệ thống đất đai trũng,

    úng, sình lầy và sông rạch chằng chịt. Bắt đầu từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp,

    Cửa Tiểu, Cửa Đại trở vào, dân cư chủ yếu là người Chăm và Khơ- me. Cuối thế

    kỷ 17, chúa Nguyễn tiếp nhận một đoàn người Hoa đến quy thuận và cho họ đến

    khai phá và định cư ở Biên Hoà – Đồng Nai. Tiếp đó mộ dân từ Quảng Bình vào

    và chia đặt doanh, huyện, lập hộ tịch. Như vậy, phải gần một thế kỷ sau Nam Bộ

    mới bước đầu được định hình một vùng văn hóa. Một nền văn hóa vùng miền

    hình thành qua thời gian một thế kỷ không phải là dài và khi người Việt đến vùng

    đất mới mang theo hành trang với vốn văn hóa đúc kết hàng ngàn năm của dân tộc

    Việt đã góp phần tạo nên nền tảng của hệ giá trị văn hóa Nam Bộ. Những giá trị

    trải qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội trong lịch sử, dần

    tạo nên những giá trị của nền văn hóa Nam Bộ như hiện nay.

    20

    Đất Nam Bộ cũng là một vựa lúa chính, đồng thời là vựa trái cây nổi tiếng

    với đủ các chủng loại hoa quả miền nhiệt đới. Từ chôm chôm, vú sữa, măng cụt,

    sầu riêng cho đến mít, chuối, xoài, ổi, nhãn, cam, quít… Mỗi địa phương đều có bảo

    tồn loại sản vật riêng, đa dạng và phong phú. Với ưu thế sông ngòi, kênh rạch chằng

    chịt, bưng biền ngập nước mênh mông là nơi sinh sống lý tưởng của rắn rết, cá sấu,

    rùa , ba ba, tôm, cá, cua, còng… và cả các loại chim chóc nữa. Nam Bộ tập trung

    nhiều món ăn ngon, nhiều sản vật lạ từ lâu đó đi vào kho tàng văn học dân gian.

    Nam Bộ là vùng đất vừa có bề dày lịch sử văn hóa lại vừa giàu sức trẻ do

    các tộc người ở đây đang dày công gây dựng nên. Từ vị thế địa lý, văn hóa, Nam

    Bộ đang trở thành trung tâm của quá trình tiếp biến văn hóa. Điều đó phần nào tạo

    cho vùng đất này những nét đặc thù, diện mạo mới đối với các vùng văn hóa khác

    ở Việt Nam. Hệ giá trị văn hóa Nam Bộ là truyền thống văn hóa dân tộc và những

    giá trị cốt lõi hình thành phong cách văn hóa riêng của vùng. Tính mở của một

    vùng đất mới đã làm nên tính năng động, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm của người

    dân Nam Bộ. Tính mở là cơ sở cho việc tiếp nhận và tiếp biến thành công nhiều

    giá trị văn hóa cao và tiến tới một nền văn minh hiện đại.

    Như vậy, vùng đất Nam Bộ hiện lên với vẻ hoang sơ nhưng rất cởi mở thuần

    hậu và chất phác,… Những nét độc đáo về địa hình sông nước và văn hóa của vùng

    “đất trẻ” đã tạo nên một Nam Bộ với sức sống riêng: mạnh mẽ, độc đáo và hấp dẫn.

    1.4.1.2. Vài nét về con người Nam Bộ

    Khi nghiên cứu ca dao Nam Bộ, chúng ta cần tìm hiểu về con người và

    tính cách đặc trưng của con người nơi đây. Bởi vì, ca dao Nam Bộ đã nêu bật

    được những nét tính cách, văn hóa, ngôn ngữ một cách rõ nét nhất. Khi

    nghiên cứu về tính cách người Việt ở Nam Bộ, các nhà nghiên cứu đều thống

    nhất cho rằng người Nam Bộ rất năng động sáng tạo, hào hiệp trong cuộc

    sống, hiếu khách, bình đẳng trong giao tiếp, ít bảo thủ, yêu nước nồng nàn,

    trọng nhân nghĩa, bộc trực, thẳng thắn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 1:biện Pháp Rèn Luyện Và Bảo Vệ Vận Động Câu 2:các Thành Phần Của Máu, Chức Năng Của Huyết Tương Và Hồng Cầu Câu 3: Nêu Môi Trường Trong Cơ Thể Câu 4:phân
  • Ôn Thi Tn Thpt Quốc Gia 2022 Môn Địa Lý 12. Trắc Nghiệm
  • Bệnh Sán Lá Gan Trên Gia Súc Và Cách Phòng Trị
  • Bệnh Sán Lá Gan Ở Trâu Bò
  • Giáo Án Sinh Học 7
  • Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ (Nói Quá, Nói Giảm Nói Tránh) Chu De Cac Bptt 8 Ppt

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản T
  • Soạn Bài Lớp 8: Nói Quá Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 8 Học Kì I
  • Soạn Bài Lớp 8: Nói Quá
  • Soạn Bài Tập Đọc: Tiếng Đàn Ba
  • Triệt Sản Nữ Bằng Phương Pháp Nào
  • TRƯỜNG thCs TÂN THANH TÂY

    Trường THCS TA�N THANH TA�Y

    NGỮ VĂN Tiết 37,38:

    Chủ đề :

    Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá:

    * Ví dụ (sgk /101)

    * Ghi nhớ (sgk/102)

    Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại

    mức độ, quy mô, tính chất của sự vật,

    hiện tượng được miêu tả để nhấn

    mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu

    cảm.

    2. Nói giảm nói tránh:

    * Ví dụ (sgk / 107,108)

    -Nói quá : là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng

    -Nói khoác : nói không có cơ sở, không có trong sự thật / nói láo, bịa chuyện

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá:

    2. Nói giảm nói tránh:

    * Ví dụ (sgk / 107,108)

    * Ghi nhớ (sgk / 108)

    Nói giảm nói tránh là một

    biện pháp tu từ dùng cách

    diễn đạt tế nhị, uyển chuyển,

    tránh gây cảm giác quá đau

    buồn, ghê sợ, nặng nề ;

    tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    Trường THCS TA�N THANH TA�Y

    NGỮ VĂN Tiết 37,38:

    Chủ đề :

    Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá :

    Nói quá là biện

    pháp tu từ phóng đại

    mức độ, quy mô, tính

    chất của sự vật, hiện

    tượng được miêu tả để

    nhấn mạnh, gây ấn

    tượng, tăng sức biểu

    cảm.

    Thế nào là nói quá?

    * Củng cố lý thuyết

    LT 4/103: Các thành ngữ so sánh có dùng biện pháp nói quá

    LT 6/103: Phân biệt biện pháp tu từ nói quá với nói khoác

    – Nhanh như chớp

    – Cao như núi

    – Trắng như bông

    – Khỏe như voi

    – Đẹp như tiên…

    -Nói quá : là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng

    -Nói khoác : nói không có cơ sở, không có trong sự thật / nói láo, bịa chuyện

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá :

    Nói quá là biện pháp tu từ

    phóng đại mức độ, quy mô, tính

    chất của sự vật, hiện tượng

    được miêu tả để nhấn mạnh, gây

    ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    2. Nói giảm nói tránh:

    Nói giảm nói tránh là một biện

    pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế

    nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm

    giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng

    nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    Thế nào là nói giảm nói tránh ?

    * Củng cố lý thuyết

    Nêu thêm một số cách nói tương tự (LT3/109)

    Trong trường hợp nào thì không nên dùng

    cách nói giảm nói tránh ?

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    1. Nói quá :

    Nói quá là biện pháp tu từ

    phóng đại mức độ, quy mô, tính

    chất của sự vật, hiện tượng

    được miêu tả để nhấn mạnh, gây

    ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    2. Nói giảm nói tránh:

    Nói giảm nói tránh là một biện

    pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế

    nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm

    giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng

    nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102. Tìm biện pháp nói quá và giải

    thích ý nghĩa của chúng trong các ví

    dụ sau :

    a) Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

    (Hoàng Trung Thông, Bài ca vỡ đất)

    b) Anh cứ yên tâm, vết thương chỉ

    sướt da thôi. Từ giờ đến sáng em có

    thể đi lên đến tận trời được.

    (Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng)

    c) Cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử

    nhũn mời hắn vào nhà xơi nước.

    ( Nam Cao, Chí Phèo)

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102. Biện pháp nói quá và ý

    nghĩa của chúng trong các ví dụ

    :

    a) Sỏi đá cũng thành cơm :

    niềm tin vào sức lao động của

    con người

    b) Lên đến tận trời : đi bất cứ

    nơi đâu

    c) Thét ra lửa : quát tháo, hống

    hách khiến ai cũng sợ

    a) Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

    (Hoàng Trung Thông, Bài ca vỡ đất)

    b) Anh cứ yên tâm, vết thương chỉ

    sướt da thôi. Từ giờ đến sáng em có

    thể đi lên đến tận trời được.

    (Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng)

    c) Cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn

    mời hắn vào nhà xơi nước.

    ( Nam Cao, Chí Phèo)

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102.

    2/108.

    2/102. Điền các thành ngữ

    sau đây vào chỗ trống để

    tạo nên biện pháp tu từ nói

    quá: bầm gan tím ruột, chó

    ăn đá gà ăn sỏi, nở từng

    khúc ruột, ruột để ngoài

    da, vắt chân lên cổ.

    a) Ở nơi … thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

    b) Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng …

    c) Cô Nam tính tình xởi lởi, …

    d) Lời khen của cô giáo làm cho nó …

    e) Bọn giặc hoảng hồn … mà chạy.

    a) Ở nơi chó ăn đá gà ăn sỏi thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

    b) Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng bầm gan tím ruột.

    c) Cô Nam tính tình xởi lởi, ruột để ngoài da.

    d) Lời khen của cô giáo làm cho nó nở từng khúc ruột.

    e) Bọn giặc hoảng hồn vắt chân lên cổ mà chạy.

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102.

    2/108.

    2/102.

    1/108. Điền các từ ngữ

    nói giảm nói tránh sau

    đây vào chỗ trống : đi

    nghỉ, khiếm thị, chia

    tay nhau, có tuổi, đi

    bước nữa.

    a) Khuya rồi, mời bà đi nghỉ .

    b) Cha mẹ em chia tay nhau từ ngày em còn rất bé, em về ở với bà ngoại.

    c) Đây là lớp học cho trẻ em khiếm thị .

    d) Mẹ đã có tuổi rồi, nên chú ý giữ gìn sức khỏe.

    e) Cha nó mất, mẹ nó đi bước nữa, nên chú nó rất thương nó.

    a) Khuya rồi, mời bà …

    b) Cha mẹ em … từ ngày em còn rất bé, em về ở với bà ngoại.

    c) Đây là lớp học cho trẻ em …

    d) Mẹ đã … rồi, nên chú ý giữ gìn sức khỏe.

    e) Cha nó mất, mẹ nó …, nên chú nó rất thương nó.

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    I. KHÁI NIỆM:

    II. LUYỆN TẬP:

    1/102.

    2/108.

    2/102.

    1/108.

    3/102. Đặt câu với các thành ngữ dùng

    biện pháp nói quá sau đây: nghiêng

    nước nghiêng thành, dời non lấp biển,

    lấp biển vá trời, mình đồng da sắt,

    nghĩ nát óc.

    5/103. Viết một đoạn văn hoặc làm

    một bài thơ có dùng biện pháp nói

    quá.

    * Tham khảo :

    – Thúy Kiều là người có sắc

    đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

    – Sơn Tinh có tài dời non lấp biển.

    – Chuyện ấy còn khó hơn cả việc lấp biển vá trời.

    – Tôi đâu phải mình đồng da sắt đâu mà không biết đau.

    – Bài tập này khó quá, nghĩ nát óc mà chưa giải ra nữa.

    Trường THCS TA�N THANH TA�Y

    Tiết 37,38 Chủ đề : Các biện pháp tu từ

    (Nói quá; Nói giảm nói tránh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Năm Thành Ngữ So Sánh Có Dùng Biện Pháp Nói Quá
  • Soạn Bài Nói Quá Môn Ngữ Văn 8 Trang 101 Ngắn Gọn Nhất: 1. Tìm Biện Pháp Nói Quá Và Giải Thích Ý Nghĩa Của Chúng Trong Các Ví Dụ Sau
  • 1 Bài Thơ Có Sử Dụng Biện Pháp Nói Quá
  • Ngữ Văn 8: 4 Dạng Bài Thường Gặp Ở Chuyên Đề Nói Quá, Nói Giảm
  • Soạn Bài Nói Quá Lớp 8, Ngữ Văn 8
  • Suy Nghĩ Của Em Về Cái Chết Của Lão Hạc Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nói Quá

    --- Bài mới hơn ---

  • Suy Nghĩ Của Em Về Cái Chết Của Lão Hạc Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nói Quá Tài Liệu Học Tập
  • Soạn Bài: Nói Giảm Nói Tránh
  • Thao Giảng: Nói Giảm Nói Tránh Noi Giam Noi Tranh Ppt
  • Dạng Bài Tập Về Biện Pháp Tu Từ; Nghệ Thuật Dùng Từ, Đặt Câu
  • Đoạn Văn Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Tu Từ
  • Suy nghĩ của em về cái chết của Lão Hạc có sử dụng biện pháp tu từ nói quá

    Cái chết của lão Hạc không phải là sự manh động, tiêu cực. Lão đã rất bền bỉ, đã gắng để sống: “Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc” mà không được. Bi kịch là thế đấy. Nếu không muốn sống thì lão đã không phải cố duy trì sự sống bằng mọi cách như thế. Lão có thể tự sát ngay sau khi ủy thác cho ông giáo mảnh vườn và tiền làm tang. Dường như, trong mòn mỏi, lão vẫn cố chờ điều gì… Tình cảm lão trao cho con như biển Thái Bình, lão chờ con trai trở về, biết đâu trong những ngày gắng sống ấy nó trở về! Không thể chờ thêm được nữa, cuối cùng (tận đến cuối cùng) thì lão Hạc phải chấp nhận một sự thật của chính mình, để lão không vi phạm lẽ sống của lão: muốn sống mà vẫn tự chết. Tại sao lão tự trọng đến “hách dịch” như thế cơ chứ? Lão có thể cậy nhờ để sống qua ngày cơ mà, dân gian chẳng đã từng nói ” hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau” là gì! Đến ngay tiền làm ma cho mình lão còn không động đến nữa là cậy nhờ! Thế mới là lão Hạc. Cậu Vàng chết để có thêm 5 đồng vào 25 đồng thành 30 đồng lão gửi ông giáo làm tang nếu lão có mệnh hệ nào. “Đâu vào đấy” là cay đắng thế ư? Khi con chó phải chết, lão Hạc mong hóa kiếp cho nó; đến khi lão chết, con chó còn là 5 đồng để tiễn đưa hương hồn lão. Cơ cực đến thế là cùng. Chẳng gì khác, xã hội thực dân nửa phong kiến đen tối đã đẩy cuộc sống người nông dân đến đường cùng; cái nghèo khó, cùng cực đã đẩy lão Hạc đến một lựa chọn đau đớn, nghiệt ngã

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Đề Thi Hsg Tỉnh Môn Ngữ Văn 9( Chuẩn) De Thi Hsgtinh Van 9 Co Dap An Doc
  • Sử Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Miêu Tả
  • Skkn Sử Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Miêu Tả
  • Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Câu Hỏi Tu Từ Dễ Không? Phân Biệt Câu Hỏi Tu Từ Và Biện Pháp Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Thi Công Chống Thấm Mạch Dừng, Mạch Ngừng Khi Đổ Bê Tông
  • Hướng Dẫn Thi Công Băng Cản Nước Pvc Waterstop Tại Tphcm
  • Thi Công Rọ Đá Thảm Đá Công Trình Nông Nghiệp Xây Dựng
  • Hướng Dẫn Thi Công Băng Cản Nước Chống Thấm
  • Giải Pháp Chống Thấm Sàn Hầm, Vách Tường Hầm, Chống Thấm Ngược
  • KHÁI NIỆM CÂU HỎI TU TỪ

    Câu hỏi tu từ là một dạng câu hỏi không yêu cầu trả lời. Đó chính là loại câu hỏi hướng suy nghĩ của người đọc vào nội dung nhất định nhằm tăng khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc. Và tăng cường sức biểu cảm cho bài thơ, văn.

    Câu hỏi tu từ là loại câu hỏi được dùng nhiều trong văn học nghệ thuật. Dạng câu hỏi này không nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời, làm rõ vấn đề. Mà nhằm mục đích khẳng định lại, nhấn mạnh nội dung mà người nói người viết muốn gửi gắm.

    Trong câu hỏi tu từ ý nghĩa nghi vẫn không phải là quan trọng, ý nghĩa tình thái bổ sung mới là ý nghĩa mà người viết (nói) muốn nhấn mạnh và người đọc (nghe) cần phải chú ý. Hỏi chỉ là cách thức thể hiện chứ không phải mục đích”

    “Một thói quen cổ truyền trong việc xem xét câu nghi vấn là nêu lên hiện tượng trong câu nghi vấn tu từ học. Đó là cách dùng câu nghi vấn không cần câu trả lời và nhiều khi hỏi về những điều đã biết, nhằm thu hút sự quan tâm và làm cho thế văn trở nên hoạt bát”

    Ví dụ về câu hỏi tu từ trong thơ văn:

    Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?

    Có thể thấy câu hỏi tu từ trên, tác giả không dùng để hỏi. Mục đích của câu thơ trên là để cảm thán, khẳng định vẻ đẹp của cô gái.

    CÂU HỎI TU TỪ WIKI

    Tu từ học là nghệ thuật nói chuyện, nhằm mục đính tăng cường khả năng trình bày, thuyết phục và động viên những đối tượng tiếp thu nhất định của người nói và người viết trong những tình huống cụ thể

    CÂU HỎI TU TỪ TRONG THƠ

    Đó là dạng câu hỏi được đặt ra mà không cần câu trả lời hoặc câu trả lời nằm ngay chính trong câu hỏi, thường dùng trong văn thơ. Trong lời nói bình thường ngoai đời cũng hay gặp câu hỏi tu từ nhưng mà là loại bình dân.

    CÂU HỎI TU TỪ CÓ TÁC DỤNG GÌ

    Là đặt câu hỏi nhưng không đòi hỏi câu trả lời mà nhằm nhấn mạnh một ý nghĩa khác.

    CÂU HỎI TU TỪ TRONG TIẾNG ANH

    “Câu hỏi tu từ” dịch ra tiếng Anh là rhetorical question.

    Rhetorical question là dạng câu hỏi để gây ấn tượng chứ chẳng phải để trả lời.

    Ví dụ:

    When a speaker states, “How much longer must our people endure this injustice?”, no formal answer is expected.

    Khi một người phát biểu: “Mọi người của chúng ta còn phải chịu đựng sự bất công này bao lâu nữa?” Không có câu trả lời chính thức được mong đợi.

    HIỆU QUẢ CỦA CÂU HỎI TU TỪ

    Biểu hiện của câu hỏi tu từ:

    Có hình thức nghi vấn.

    Ngầm ẩn một nội dung khẳng định hoặc phán đoán.

    Mục đích là nhằm khẳng định, nhấn mạnh ý của người nói. Hay đôi khi là ẩn dụ, nói lái đi ý kiến chê trách về một vấn đề nào đó.

    Tùy vào mục đích người sử dụng, câu hỏi tu từ hầu như đều mang lại hiệu quả tức thì. Nhưng đôi khi, người nghe không hiểu dụng ý của người nói. Câu hỏi tu từ sẽ mất đi tác dụng.

    SOẠN BÀI CÂU HỎI TU TỪ

    Câu hỏi tu từ cũng vậy, muốn nhấn mạnh thì đưa thẳng chủ thể trữ tình vào và cảm thán.

    Hạnh phúc nào không là hạnh phúc đầu tiên?

    Tôi nói thế bao giờ?

    PHÂN BIỆT CÂU HỎI TU TỪ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ

    Biện pháp tu từ:

    Khi nói và viết ngoài những cách sử dụng ngôn ngữ thông thường còn có thể sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt gọi là biện pháp tu từ.

    Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ nào đó (từ, câu, văn bản) trong một ngôn ngữ cảnh cụ thể nhằm mục đích tạo ra một hiệu quả nhất định với người đọc, người nghe như ấn tượng về một hình ảnh, một cảm xúc, một thái độ…

    So với cách sử dụng ngôn ngữ thông thường, sử dụng biện pháp tu từ đúng sẽ tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt và biểu cảm.

    Biện pháp tu từ trong văn bản nghệ thuật

    Trong tiếng Việt, các biện pháp tu từ rất phong phú, đa dạng. Do khả năng biểu đạt, biểu cảm đặc biệt, các biện pháp tu từ rất được chú trọng sử dụng trong những văn bản nghệ thuật.

    Với một văn bản nghệ thuật, người ta có thể sử dụng một hoặc nhiều biện pháp tu từ khác nhau và thậm chí có thể khai thác tối đa sức mạnh nghệ thuật của một vài biện pháp tu từ nào đó.

    Góp phần tạo nên dấu ấn cá nhân độc đáo trong nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nói Quá Là Gì? Tác Dụng Của Nghệ Thuật Nói Quá
  • Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Tốt Nhất
  • Đây Chính Là Cách Tránh Thai Tự Nhiên, An Toàn Hiệu Quả Mà Không Cần Dùng Thuốc
  • Tránh Thai Tự Nhiên Bằng Cách Cho Con Bú
  • Sau Sinh, Biện Pháp Tránh Thai Nào Được Các Mẹ Ưa Dùng Nhất?
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm, Nói Tránh

    --- Bài mới hơn ---

  • Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng Của Nói Giảm Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cho Ví Dụ
  • Cách Viết Đoạn Văn Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ
  • Xác Định Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương Chỉ Ra Giá Trị Thẩm Mĩ Của Nó Trong Mạch Cảm Xúc Bài Thơ Bằng Đoạn Văn 10 Câu Có Sử
  • Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)
  • Nguyễn Khuyến và Dương Khuê là hai người bạn rất thân với nhau, mỗi người một cách sống khác nhau. Khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, Nguyễn Khuyến từ quan không hợp tác với Pháp, Dương Khuê vẫn ở lại làm quan. Mặc dù vậy, hai người vẫn giữ tình bạn thân thiết, gắn bó không hề thay đổi. Năm 1902, Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến nghe tin đã làm bài thơ khóc bạn, mở đầu bằng những câu thơ đầy xúc động:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây ngan ngác ngậm ngùi lòng ta”

    “Bác Dương” là cách xưng hô đối với những người bạn cao tuổi, vừa tha thiết vừa kính trọng. Tác giả nén đau thương trong hình thức tu từ nói giảm, nói tránh. Đây là phương thức diễn đạt tế nhị trong hoàn cảnh mà người nói không tiện nói ra vì sợ phũ phàng hoặc xúc phạm đến người nghe. Nói giảm là phương thức trái với ngoa dụ, phóng đại.

    Khi nói về cái chết, để giảm bớt nỗi đau buồn, người ta nói: cụ tôi về năm ngoái, cụ ấy đã đi rồi… Nguyễn Khuyến đã dùng hình ảnh “thôi đã thôi rồi”, vừa giản dị, vừa thể hiện được tình cảm của mình phải kìm nén lòng thương tiếc. Có lẽ sẽ không thể có cách diễn đạt nào hợp lý, sâu sắc hơn có thể thay thế cho cụm từ “thôi đã thôi rồi”. Nó vừa diễn tả sự thảng thốt, bàng hoàng, vừa như một lời than đau đớn, xót xa, nghẹn ngào. Nhà thơ cố gắng nén đau thương trong hình thức tu từ nhã ngữ, vậy mà tình cảm đau thương tang tóc vẫn nhuốm cả không gian “nước mây ngan ngác ngậm ngùi lòng ta”. Những từ láy: “man mác”, “ngậm ngùi” càng biểu lộ rõ hơn nỗi buồn đau trong lòng thi nhân. Lòng người buồn nhuốm sầu sang cảnh vật. Nguyễn Du cũng đã từng viết lên quy luật tự nhiên ấy:

    “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

    Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

    Nỗi đau mất bạn được Nguyễn Khuyến diễn tả một cách tự nhiên, chân thực mà cảm động. Có lẽ thế mà “Khóc Dương Khuê” được xem là bài thơ hay nhất về tình bạn. Và nếu Trung Quốc có những câu chuyện Bá Nha – Chung Tử Kì bất hư trong lịch sử thì nước ta có Lưu Bình – Dương Lễ, tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cũng sống mãi trong lòng độc giả với bài thơ “Khóc Dương Khuê”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệu Quả Tu Từ Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Ngô Văn Phú
  • Đặt Câu Có Sử Dụng Biện Pháp Điệp Ngữ
  • (Nêu Khái Niệm , Biện Pháp Tu Từ,phân Loại ,tác Dụng, Ví Dụ),so Sánh ,ẩn Dụ,nhân Hóa,hoán Dụ,nói Quá ,nói Giảm Nói Tránh Điệp Ngữ, Chơi Chữ
  • Tác Dụng Của 12 Biện Pháp Tu Từ Câu Hỏi 153226
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Suy Nghĩ Của Em Về Cái Chết Của Lão Hạc Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nói Quá Tài Liệu Học Tập

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Nói Giảm Nói Tránh
  • Thao Giảng: Nói Giảm Nói Tránh Noi Giam Noi Tranh Ppt
  • Dạng Bài Tập Về Biện Pháp Tu Từ; Nghệ Thuật Dùng Từ, Đặt Câu
  • Đoạn Văn Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Tu Từ
  • Đề Kiểm Tra Môn Văn 15 Phút Lớp 9 Học Kì 1: Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Ví Dụ Sau
  • Cái chết của lão Hạc không phải là sự manh động, tiêu cực. Lão đã rất bền bỉ, đã gắng để sống: “Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc” mà không được. Bi kịch là thế đấy. Nếu không muốn sống thì lão đã không phải cố duy trì sự sống bằng mọi cách như thế. Lão có thể tự sát ngay sau khi ủy thác cho ông giáo mảnh vườn và tiền làm tang. Dường như, trong mòn mỏi, lão vẫn cố chờ điều gì… Tình cảm lão trao cho con như biển Thái Bình, lão chờ con trai trở về, biết đâu trong những ngày gắng sống ấy nó trở về! Không thể chờ thêm được nữa, cuối cùng (tận đến cuối cùng) thì lão Hạc phải chấp nhận một sự thật của chính mình, để lão không vi phạm lẽ sống của lão: muốn sống mà vẫn tự chết. Tại sao lão tự trọng đến “hách dịch” như thế cơ chứ? Lão có thể cậy nhờ để sống qua ngày cơ mà, dân gian chẳng đã từng nói “hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau” là gì! Đến ngay tiền làm ma cho mình lão còn không động đến nữa là cậy nhờ! Thế mới là lão Hạc. Cậu Vàng chết để có thêm 5 đồng vào 25 đồng thành 30 đồng lão gửi ông giáo làm tang nếu lão có mệnh hệ nào. “Đâu vào đấy” là cay đắng thế ư? Khi con chó phải chết, lão Hạc mong hóa kiếp cho nó; đến khi lão chết, con chó còn là 5 đồng để tiễn đưa hương hồn lão. Cơ cực đến thế là cùng. Chẳng gì khác, xã hội thực dân nửa phong kiến đen tối đã đẩy cuộc sống người nông dân đến đường cùng; cái nghèo khó, cùng cực đã đẩy lão Hạc đến một lựa chọn đau đớn, nghiệt ngã

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Của Em Về Cái Chết Của Lão Hạc Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nói Quá
  • Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Đề Thi Hsg Tỉnh Môn Ngữ Văn 9( Chuẩn) De Thi Hsgtinh Van 9 Co Dap An Doc
  • Sử Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Miêu Tả
  • Skkn Sử Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Miêu Tả
  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu
  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh
  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Câu hỏi tu từ là gì sẽ có tất cả những điều mà bạn quan tâm ngay sau đây. Có thể nói, câu hỏi tu từ là câu có hình thức nghi vấn nhưng không đòi hỏi trả lời.

    1. Khái niệm về câu hỏi tu từ là gì?

    Về câu hỏi tu từ, bạn cần lưu ý một số điểm như khái niệm câu hỏi tu từ là gì, đặc điểm của câu hỏi tu từ.

    1.1. Định nghĩa về câu hỏi tu từ

    Câu hỏi tu từ là câu hỏi được đặt ra nhưng không nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời hoặc câu trả lời đã nằm ngay trong câu hỏi, nhằm nhấn mạnh nội dung người dùng muốn gửi gắm. Câu hỏi tu từ được đặt ra nhằm tập trung sự chú ý của người nghe, người đọc vào một mục đích cụ thể nào đó. Do đó, câu hỏi tu từ về hình thức là một câu hỏi nhưng thực chất đó là câu phủ định có cảm xúc hay câu khẳng định.

    Loại câu này thường được dùng nhiều trong các văn bản nghệ thuật, có tác dụng làm cho lời văn trở nên sinh động, đem lại cho người đọc những tưởng tượng lý thú. Trong cuộc sống hàng ngày, người ta bắt gặp câu hỏi tu từ được mọi người dùng trong giao tiếp với nhau.

    Trong tiếng Anh, câu hỏi tu từ (Rhetorical question) là một dạng câu hỏi dùng để gây ấn tượng chứ không nhằm mục đích chờ đợi câu trả lời từ người hỏi.

    Như vậy, câu hỏi tu từ trong tiếng Anh cũng có tác dụng gần tương tự như cách sử dụng trong tiếng Việt phải không nào.

    1.2. Đặc điểm của câu hỏi tu từ

    Câu hỏi tu từ có những đặc điểm mà bạn cần ghi nhớ để phân biệt so với các dạng câu văn khác, cụ thể bao gồm:

    * Câu hỏi tu từ được thể hiện với hình thức nghi vấn với một dấu hỏi ở cuối câu

    * Câu hỏi tu từ sẽ luôn ngầm ẩn một nội dung phán đoán phủ định hoặc khẳng định của người đặt câu hỏi.

    * Người ta dùng câu hỏi tu từ nhằm mục đích khẳng định, nhấn mạnh ý mà mình muốn nói. Hoặc dùng câu hỏi tu từ theo cách ẩn dụ, nói lái đi để thể hiện ý kiến chê trách điều gì đó.

    * Câu hỏi tu từ có chứa từ phủ định nhưng có nội dung khẳng định ngầm với mệnh đề tương ứng. Ngược lại, những câu không có từ phủ định nhưng nội dung lại ngầm thể hiện ý phủ định của mệnh đề tương ứng.

    * Câu hỏi tu từ bao gồm câu hỏi tu từ có giá trị phủ định và câu hỏi tu từ có giá trị phủ định.

    Tóm lại, câu hỏi tu từ được sử dụng nhằm mang lại hiệu quả trực tiếp nếu người nghe hiểu. Nếu họ không hiểu, câu hỏi tu từ sẽ bị mất đi tác dụng của nó.

    2. Phân biệt câu hỏi tu từ với biện pháp tu từ

    Nếu câu hỏi tu từ là câu hỏi được đặt ra nhằm mục đích nhấn mạnh vào hàm ý nhất định nào đó mà không đòi hỏi câu trả lời. Trong khi đó, biện pháp tu từ dùng trong văn nói và viết bằng cách sử dụng ngôn ngữ một cách đặc biệt, khác thường trong một đơn vị ngôn ngữ về từ, câu hay văn bản trong ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi cảm, gợi hình cho diễn đạt, tạo ấn tượng với người đọc về một cảm xúc, một hình ảnh hay câu chuyện trong tác phẩm.

    Biện pháp tu từ được người ta dùng nhằm mục đích tạo nên những giá trị biểu cảm, biểu đạt đặc biệt so với cách sử dụng ngôn ngữ thông thường. Bạn có thể tìm thấy biện pháp tu từ trong văn bản gồm biện pháp tu từ về từ và biện pháp tu từ về cú pháp.

    Trong đó, biện pháp tu từ trong văn bản nghệ thuật được sử dụng rất đa dạng và phong phú. Những người nghệ sĩ của ngôn từ thường áp dụng các biện pháp tu từ trong văn bản để tăng tính nghệ thuật cho tác phẩm của mình, góp phần tạo nên dấu ấn cá nhân cho tác phẩm.

    Biện pháp tu từ bao gồm biện pháp tu từ về cú pháp và biện pháp tu từ về từ với nhiều loại khác nhau.

    2.1. Một số biện pháp tu từ về từ

    Như vậy, biện pháp tu từ rất đa dạng so với câu hỏi tu từ và được sử dụng mang tính nghệ thuật cao trong các tác phẩm văn học làm gia tăng tính biểu đạt, biểu cảm cũng như tạo sự hấp dẫn cho các tác phẩm.

    2.2. Một số biện pháp tu từ về cú pháp

    • Biện pháp tu từ về cú pháp dưới dạng câu hỏi tu từ
    • Biện pháp tu từ về cú pháp dưới dạng đảo trật tự cú pháp hay còn gọi là đảo ngữ
    • Biện pháp tu từ về cú pháp dưới dạng liệt kê
    • Biện pháp tu từ về cú pháp dưới dạng câu đặc biệt.
    • Biện pháp tu từ về cú pháp dưới dạng điệp cấu trúc câu

    3. Phân biệt câu hỏi tu từ với câu hỏi thường

    So với câu hỏi tu từ, câu hỏi thường là câu dùng để hỏi thông tin nhằm mục đích làm sáng tỏ một nội dung nào đó mà người hỏi chờ đợi câu trả lời từ người được hỏi. Do đó, trong câu nghi vấn sẽ gồm ít nhất 2 chủ thể là người hỏi và người được hỏi. Đó là câu hỏi trực tiếp, trong đó người hỏi nêu câu hỏi còn người được hỏi nghe câu hỏi và trả lời. Hoặc là câu hỏi gián tiếp qua một công cụ nào đó như nêu câu hỏi qua thư và câu trả lời qua thư từ người được hỏi. Câu nghi vấn thường được dùng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày.

    Trong khi đó, câu hỏi tu từ được dùng nhiều trong lĩnh vực văn học – nghệ thuật, được người hỏi đưa ra không nhằm mục đích tìm hiểu, muốn làm rõ vấn đề cũng như không cần câu trả lời mà chỉ nhằm mục đích khẳng định, nhấn mạnh nội dung nào đó mà tác giả muốn gửi gắm qua câu hỏi ấy. Đối với câu hỏi tu từ, có thể xác định người đặt câu hỏi nhưng không xác định rõ người được hỏi là ai.

    Câu nghi vấn có nhiều dạng câu hỏi khác nhau, được tác giả Cao Xuân Hạo (2004) chia thành các loại câu hỏi của tiếng Việt như sau:

    * Câu hỏi chính danh bao gồm:

    + Câu hỏi có/không

    + Câu hỏi chuyên biệt giống một câu trần thuật có yếu tố nghi vấn.

    + Câu hỏi hạn định

    + Câu hỏi siêu ngôn ngữ mở đầu là “có phải” và cuối câu có từ “không”

    + Câu hỏi phái sinh có cuối câu là từ “đúng không”/(có) phải không/chứ/phỏng/sao/hả?

    * Câu hỏi có tính chất cầu khiến không mong đợi thông tin mà muốn yêu cầu người khác theo cách phi ngôn ngữ.

    * Câu hỏi có giá trị khẳng định với những từ ngữ đặt ở cuối câu như chứ sao? Chứ ai? Chứ còn gì nữa?…

    * Câu nghi vấn có tính chất phủ định

    * Câu nghi vấn có tính chất ngờ vực, phỏng đoán hay ngần ngại với những từ ngữ như không biết, phải chăng, biết, liệu, hay là,…

    * Câu nghi vấn có tính chất cảm thán với những từ ngữ nghi vấn như bao nhiêu, biết mấy, sao … thế,…

    4. Câu hỏi tu từ trong tiếng Anh

    Trong tiếng Anh, câu hỏi tu từ hay Rhetorical question là những câu nghi vấn có dấu hỏi ở cuối câu nhưng không đòi hỏi câu trả lời. Người ta thường dùng dạng câu hỏi này để chỉ ra một điều gì đó để xem xét hay để làm rõ một tình huống. Câu hỏi tu từ có cách dùng khác so với dạng câu hỏi yes/no hay câu hỏi về thông tin với các từ như what, where, which, why, how many/much/far/often/etc, when/what time. Trong ngôn ngữ tiếng Anh, câu hỏi tu từ sẽ dùng trong các trường hợp sau đây:

    4.1. Câu hỏi tu từ dùng để thu hút sự chú ý

    Để thu hút sự chú ý, các câu hỏi tu từ sẽ dùng để chỉ ra điều gì đó quan trọng và ý nghĩa ngụ ý của nó. Dạng câu hỏi tu từ này không nhằm tìm kiếm câu trả lời mà muốn đưa ra một tuyên bố nào đó.

    4.2. Câu hỏi tu từ nhằm biểu hiện một tâm trạng không tốt

    Người ta có thể dùng câu hỏi tu từ để thể hiện tâm trạng không tốt hay trầm cảm.

    Ví dụ: Where did you go wrong? -Meaning: I don’t understand why I’am having so many difficulties lately. (Tôi đã làm gì sai? – Có nghĩa là: Tôi không hiểu tại sao mình gặp nhiều khó khăn gần đây.)

    4.3. Câu hỏi tu từ dùng để chỉ một tình huống không tốt

    Người ta có thể dùng các câu hỏi tu từ để chỉ ra một tình huống không tốt. Trong trường hợp này, câu hỏi tu từ mang ý nghĩa hoàn toàn khác biệt.

    Ví dụ: What can I do about that teacher? – Meaning: I can’t do anything. Because, the teacher isn’t very helpful. (Tôi có thể làm gì với giáo viên đó chứ? – Có nghĩa là: Tôi không thể làm gì được. Vì giáo viên đó không hữu ích.)

    4.4. Câu hỏi tu từ dạng phủ định với câu hỏi Yes/No tu từ nhằm hướng đến một việc tích cực

    Dạng câu hỏi tu từ phủ định có thể dùng để gợi ý một tình huống mang tính tích cực. Ví dụ: Won’t I be excited to see you? – Meaning: I will be excited to see you (Không phải tôi rất phấn khích khi nhìn thấy bạn? – Có nghĩa là: Tôi rất phấn khích khi nhìn thấy bạn.

    4.5. Câu hỏi tu từ cho câu hỏi lớn trong cuộc sống

    Ở dạng này, câu hỏi tu từ đưa ra một câu hỏi để cho mọi người cùng suy nghĩ.

    Nói chung, dù trong tiếng Việt hay trong tiếng Anh, câu hỏi tu từ là dạng câu có dấu hỏi ở cuối nhưng không nhằm mục đích để hỏi mà để thể hiện một ý ngầm nào đó của người nói.

    Câu hỏi tu từ là gì đã được trả lời khá đầy đủ và dễ hiểu trong những phần ở trên để các bạn thuận tiện tham khảo. Bạn cần hiểu khái niệm về dạng câu hỏi này và những hình thức, cách sử dụng ra sao để nắm được đầy đủ nội dung kiến thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • Phương Pháp Bơm Tinh Trùng Vào Tử Cung (Iui) Là Gì?
  • Thụ Tinh Nhân Tạo Iui Là Gì? Các Bước Chuẩn Bị, Quy Trình Và Chi Phí
  • Tìm Hiểu Phương Pháp Iui Là Gì Và Những Điều Bạn Nên Biết
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí
  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • Đồng Chí (Đầy Đủ) Dong Chi Ppt
  • Đề bài: Câu ca dao nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến:

    Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?

    Hình ảnh so sánh ở đây có gì đặc biệt? Qua đây, em thấy cuộc đời người phụ nữ ngày xưa như thế nào?

    Bài giảng: Những câu hát than thân – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

    Bài văn mẫu

    Câu ca dao trên nằm trong mảng đề tài than thân trách phận mà nhiều câu có cấu trúc khá giống nhau ở cách mở đầu bằng hai chữ đầy xót xa, ngậm ngùi: Thân em…

    Trong xã hội phong kiến xưa kia, quan niệm trọng nam kinh nữ đã biến cuộc đời người phụ nữ thành chuỗi bi kịch kéo dài. Biết than cùng ai, biết ngỏ cùng ai? Trời thì cao mà đất thì dày. Thôi thì đành giãi bày qua tiếng hát, lời ru chan chứa nước mắt:

    Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?

    Xuất xứ câu ca dao này là ở miền Nam, xứ sở của sông ngòi, kênh rạch. Cây bần thường mọc ở ven bờ. Trái bần non có vị chua chua, chát chát, xát mỏng chấm mắm ăn thay rau. Trái già rụng xuống nước, bập bềnh trôi nổi theo sóng. Ngay cái tên gọi cũng chỉ rõ nó là loại cây tầm thường (bần: nghèo), chẳng có mấy giá trị.

    Người phụ nữ chân lấm tay bùn nhìn trái bần trôi mà cám cảnh, thấy mình nào có khác chi?! Trái bần trôi hoàn toàn phụ thuộc vào gió, vào sóng. Gió nhẹ, sóng êm thì từ từm thanh thản, chẳng may gió dập, sóng dồi thì cũng đành cam chịu cảnh ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, biết tấp vào đâu? Vào bờ bến nào để đổi thay số phận?

    Không được làm chủ bản thân, người phụ nữ buộc phải lâm vào cảnh: Cũng đành nhắm mắt đưa chân, Mà xem con tạo đưa vần đến đâu. Luật tam tòng khắc nghiệt trói buộc họ, biến họ thành những con người cam chịu định mệnh bất công: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử và thực tế thì người phụ nữ đã bị xã hội khinh rẻ, coi thường. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra mặc cảm tự ti từ bao đời nay ở người phụ nữ.

    Có điều gì đó thật xót xa, buồn thảm trong hình ảnh so sánh: Thân em như trái bần trôi . Trái bần trôi dập dềnh theo dòng sông vô định, còn người phụ nữ nghèo thì cũng nổi trôi trong vòng đời vô định. Hiện thực nghiệt ngã, tương lai mở mịt, không một chút vui, không một niềm hi vọng. Câu ca dao với hình tượng gợi cảm và âm điệu ngậm ngùi đã gợi lên số phận hẩm hiu đáng thương của người phụ nữ nghèo khổ trong xã hội phong kiến cũ.

    Ta hãy thử hình dung trong tâm tưởng một trưa hè ở đồng bằng Nam Bộ, gió thổi lao xao trong rừng đước, rừng tràm; chợt nghe tiếng ru con vọng ra từ ngôi nhà nhỏ ven sông lẫn với tiếng võng đưa kẽo kẹt: Ầu ơ… Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu? Câu hỏi vừa là nỗi băn khoăn muôn thuở không lời giải đáp, vừa là lời than thân trách phận buồn đến não nề. Nhìn những trái bần nổi chìm theo sóng, ta sẽ thấm thía và rúng động đến tận sâu thẳm tâm hồn trước lời ru rưng rưng nước mắt của những người phụ nữ lao động nghèo khó trong một quá khứ chưa xa.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    nhung-cau-hat-than-than.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Bài Thơ: Thân Em Như Hạt Mưa Rào (Khuyết Danh Việt Nam)
  • Hệ Thống Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 6
  • Chuyên Đề : Vội Vàng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100