Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Của Nhà Nước Đương Đại

--- Bài mới hơn ---

  • #1 Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Nội Dung Của Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay
  • Các Yếu Tố Tác Động Đến Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Chức Năng Tuyệt Vời Của Cổng Usb Otg Trên Android
  • Cáp Chuyển Đổi Công Nghệ Otg Dùng Cho Điện Thoại Android Hỗ Trợ Sạc Và Chức Năng Truyền Dữ Liệu Cùng Một Lúc (Xtm
  • Cách Group Và Ungroup Dữ Liệu Trong Pivot Table
  • CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC ĐƯƠNG ĐẠI – PHẦN 1

    CỦA NHÀ NƯỚC ĐƯƠNG ĐẠI (Phần 1) ThS. Nguyễn Thị Thu Na 1.1. Khái niệm và phân loại chức năng nhà nước đương đại

    Chức năng của nhà nước đương đại được xác định từ bản chất, vai trò của nhà nước trong đời sống xã hội. Và ngược lại, các chức năng nhà nước lại là sự biểu hiện cụ thể của bản chất và vai trò của nhà nước. Chức năng của nhà nước chịu ảnh hưởng lớn từ thực tế khách quan của tình hình chính trị, văn hoá, xã hội trong nước và quốc tế trong từng thời kì lịch sử cụ thể. Vì vậy, có thể hiểu: “Chức năng nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản, quan trọng nhất của nhà nước, phù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội”. Chức năng nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất nhà nước do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp trong xã hội quyết định.

    * Phân loại:

    – Căn cứ vào phạm vi hoạt động của chức năng nhà nước thì nhà nước chia làm 2 nhóm: Đối nội, đối ngoại:

    + Đối nội: là chức năng được thực hiện trong phạm vị nội bộ 1 đất nước như đảm bảo chế độ kinh tế, giữ an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trấn áp những phần tử chống chế độ.

    + Đối ngoại: Thể hiện vai trò của nhà nước với các nhà nước khác, dân tộc khác: phòng thủ đất nước chống giặc ngoại xâm, thiết lập mối bang giao với các nước khác, dân tộc khác.

    Các chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau. Việc xác định và thực hiện chức năng đối ngoại phải căn cứ vào tình hình thực hiện chức năng đối nội. Đồng thời kết quả của việc thực hiện chức năng đối ngoại sẽ tác động mạnh mẽ đến chức năng đối nội.

    – Để thực các chức năng nhà nước phải dựa vào pháp luật thông qua 3 hình thức chính là:

    + Xây dựng pháp luật.

    + Tổ chức thực hiện pháp luật.

    + Bảo vệ pháp luật.

    Các phương pháp hoạt động: tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà kết hợp việc sử dụng 2 phương pháp sau đây:

    + Phương pháp giáo dục: đây là phương pháp cơ bản dùng trong nhà nước còn phương pháp cưỡng chế đc sử dụng kết hợp thêm trên cơ sở giáo dục thuyết phục.

    + Phương pháp cưỡng chế: là phương pháp đc sử dụng rộng rãi trong các nhà nước bóc lột.

    – Căn cứ vào yếu tố pháp lý, chức năng nhà nước được chia làm 3 loại: chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    – Căn cứ vào vai trò của nhà nước phân thành chức năng giai cấp ( bảo vệ giai cấp thống trị), chức năng xã hội.

    1.2. Các biểu hiện của chức năng nhà nước đương đại 1.2.1. Chức năng xã hội của nhà nước đương đại

    Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, nhà nước tiếp cận dưới góc độ triết học có hai chức năng là chức năng giai cấp và chức năng xã hội. Chức năng giai cấp là chức năng bảo vệ lợi ích và địa vị thống trị của giai cấp cầm quyền. Chức năng xã hội là chức năng đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển. Là những nhà duy vật biện chứng nên trong khi nhấn mạnh chức năng giai cấp của nhà nước, Mác và Ăngghen không hề coi nhẹ chức năng xã hội của nhà nước.

    Theo đó, xét từ cội nguồn quyền lực, nhà nước là một công quyền “nảy sinh từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp”,”có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự”; là một bộ máy quản lý xã hội, có chức năng bảo đảm lợi ích chung của cả cộng đồng, xã hội. Những nhiệm vụ đó của nhà nước thuộc phạm vi chức năng xã hội – chức năng yêu cầu nhà nước phải thực hiện những nhiệm vụ vì sự tồn tại của cả xã hội.

    Chức năng xã hội của nhà nước là tất yếu, khách quan, mức độ thực hiện chức năng này phụ thuộc vào tính tiến bộ hay phản động của giai cấp cầm quyền. “Các giai cấp thống trị ở thời điểm phát triển đi lên của mình, đã thực hiện chức năng xã hội hoàn toàn xác định và chính nhờ điều đó họ mới trở thành giai cấp thống trị” . Ngược lại, các giai cấp cầm quyền khi trở nên lỗi thời, phản động thì thường quá coi trọng chức năng giai cấp, coi nhẹ chức năng xã hội, không quan tâm đến đời sống của người dân, đẩy người dân đến cảnh khốn cùng, đó là thời điểm báo hiệu địa vị thống trị bị lung lay và sắp sụp đổ, bởi “Sự thống trị giai cấp chỉ có thể tồn tại với điều kiện là nó đảm bảo cho được những người bị áp bức không bị nghèo túng đến cùng cực”. Khi “những người bị áp bức nghèo túng đến cùng cực” thì họ sẽ nổi dậy đấu tranh nhằm lật đổ nhà nước hiện tồn, thiết lập một nhà nước mới, có thể thực hiện chức năng xã hội tốt hơn.

    Từ đó có thể thấy, thực hiện tốt chức năng xã hội có vai trò vô cùng quan trọng trong việc củng cố địa vị thống trị của giai cấp cầm quyền, của lực lượng cầm quyền. Chính chức năng xã hội là cơ sở, điều kiện và phương thức thực hiện chức năng giai cấp như C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó”.

    Chức năng xã hội của nhà nước thể hiện ở hai nhóm nhiệm vụ cụ thể sau:

    Một là, nhà nước phải chăm lo những công việc chung của toàn xã hội, tất cả các giai cấp trong xã hội đều được hưởng lợi khi nhà nước thực hiện những công việc đó, ví dụ như: nhà nước bảo đảm trật tự an toàn xã hội; chống ô nhiễm môi trường, sinh thái; phòng chống lây lan dịch bệnh; xây dựng các công trình phúc lợi, công cộng…

    Hai là, nhà nước phải thỏa mãn ở mức độ nào đó nhu cầu của các giai tầng khác trong xã hội, tức là phải thực hiện những chính sách đem lại lợi ích cho các giai tầng bị trị ở mức độ nhất định, dù cho những chính sách đó có thể ảnh hưởng đến lợi ích trước mắt của giai cấp cầm quyền. Ví dụ như nhà nước phong kiến giảm tô, giảm thuế, mở kho lương cứu đói cho nông dân; nhà nước tư sản thực hiện chính sách “tăng lương giảm giờ làm” đối với giai cấp công nhân… Như vậy, chức năng xã hội là đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của tất cả các thành phần trong xã hội ở một mức độ nhất định nào đó.

    Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác về chức năng xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo Nhà nước ta đặc biệt coi trọng việc thực hiện chức năng xã hội. Người nêu rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân” và “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

    1.2.2. Chức năng giai cấp của nhà nước đương đại

    Nhà nước là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc xã hội, nó là sản phẩm của một chế độ kinh tế – xã hội nhất định. Sự phát triển của hạ long cơ sở quyết định sự phát triển của nhà nước. Tuy nhiên, những sự biến đổi của nhà nước không phải chỉ phụ thuộc vào những biến đổi trong cơ sở kinh tế của xã hội. Các điều kiện và yếu tố như đối sánh giai cấp mức độ gay gắt của những mâu thuẫn xã hội, các đảng phái chính trị, các trào lưu chính trị pháp lý… đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của nhà nước. Đồng thời, nhà nước luôn tác động mạnh mẽ đến cơ sở kinh tế, đến những điều kiện và quá trình phát triển của sản xuất xã hội cũng như đến các hiện tượng xã hội khác.

    Trong xã hội có giai cấp, để bảo vệ và thực hiện những lợi ích của mình, ngoài nhà nước ra, giai cấp thống trị còn thiết lập nhiều tổ chức chính trị xã hội khác nữa trong đó đáng chú ý nhất là các đảng phái chính trị. So với các tổ chức chính trị xã hội đó, nhà nước có một vai trò đặc biệt, nó nằm ở vị trí trung tâm giữa các tổ chức chính trị xã hội, bởi vì chỉ nhà nước mới có các cơ quan đặc biệt cùng với các phương tiện vật chất kèm theo như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tu… cho nên nó có thể tác động một cách mạnh mẽ và toàn diện đến đời sống xã hội. Sự tác động của nhà nước đến quá trình phát triển của xã hội được thực hiện thông qua việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị của giai cấp cầm quyền.

    Các chủ trương chính sách của nhà nước bao giờ cũng thể hiện một cách trực tiếp lợi ích kinh tế, chính trị của các giai cấp. Chẳng hạn, chính sách của nhà nước tư sản luôn luôn xuất phát từ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất tư bản chủ nghĩa, phản ánh và bảo vệ các lợi ích chung của giai cấp tư sản; chính sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất luôn phản ánh và bảo vệ lợi ích chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện những lợi ích cơ bản của giai cấp cho nên sự tham gia của nhà nước vào việc xác định nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, xác định phương hướng, hình thức và nội dung hoạt động của nhà nước là yếu tố quan trọng trong chính sách của nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Đặc Trưng Của Nhà Nước? Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Là Gì?
  • Các Công Cụ Hữu Ích Trong Quá Trình Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Bao Gồm Các Hoạt Động Nào?
  • Quản Lí Về Đất Đai Nhà Nước
  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Của Nhà Nước Đương Đại (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Puritan’s Pride Triple Omega 3 6 9 Fish & Flax Oils
  • ‘tôi Sẽ Không Uống Dầu Cá Nữa, Sau Khi Biết Sự Thật Phía Sau Ngành Công Nghiệp Này’
  • Cách Dùng Thuốc Omega 3, Tpcn Omega 3 Đúng Cách Và Đúng Liều Lượng
  • Cơ Thể Bạn Sẽ Ra Sao Khi Uống Dầu Cá Hàng Ngày?
  • CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC ĐƯƠNG ĐẠI (Phần 2)

    Nguyễn Thị Thu Na

    Bản chất nhà nước quy định chức năng nhà nước, nhưng thức tế còn có những yếu tố khác tác động đến chức năng nhà nước. Những yếu tố làm cho chức năng của nhà nước đương đại trở nên đa dạng, phức tạp tạo ra những sắc thái riêng của mội nhà nước cụ thể là những yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan, yếu tố lịch sử, yếu tố thời đại, yếu tố nội sinh, yếu tố ngoại sinh,..nhưng có những yếu tố diển hình tác động trực tiếp đến chức năng, để lại dấu ấn đậm nét trong các lĩnh vực hoạt động của các nhà nước.

    2.1. Các yếu tố bên trong:

    2.1.1 Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, kinh tế trong xã hội

    – Lực lượng sản xuất:

    Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của xã hội ở các thời kỳ nhất định. Về mặt cấu trúc, lực lượng sản xuất xã hội bao gồm hệ thống những tư liệu sản xuất mà người ta dùng cho sản xuất, trong đó quan trọng nhất là công cụ lao động. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế là những nhân tố ảnh không nhỏ đến chức năng nhà nước. Mỗi bước phát triển của đời sống kinh tế lại đặt ra yêu cầu mới có tính xác định cụ thể với bộ máy nhà nước. Từ đó, chức năng nhà nước cũng có sự biến đổi, đòi hỏi cần phải có nhận thức mới đầy đủ hơn về nó.

    Ví dụ, ở Việt Nam, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, trình độ lao động ngày càng tăng, dẫn đến số lượng sản phẩm càng nhiều, nền kinh tế đi lên để phù hợp với lực lượng sản xuất, đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách, chủ trương, cơ chế mới để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đúng với giai đoạn hiện tại.

    Chức năng kinh tế là một trong những chức năng quan trọng nhất của nhà nước và được hiểu là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trong tổ chức, điều tiết và quản lý nền kinh tế nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu vật chất của người dân, nhà nước và của toàn xã hội.

    Tổ chức, điều tiết, quản lý kinh tế là nhiệm vụ xuyên suốt của nhà nước trong mọi thời kỳ phát triển của lịch sử. Dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau, như: bản chất nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị, điều kiện cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên, trình độ nhận thức… các hình thức, phương thức thực hiện, mục đích thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước có thể khác nhau. Nhưng, ngay từ khi ra đời cho đến nay, sự tham gia của nhà nước vào các hoạt động kinh tế luôn có tính tất yếu, khách quan. Không thể có một nhà nước tồn tại tách biệt khỏi điều kiện cơ sở vật chất của xã hội. Cũng không thể có một xã hội có sự quản lý của nhà nước mà nền kinh tế lại đặt ra ngoài hoạt động của nhà nước. Ngay từ những bộ cổ luật đầu tiên của thế giới nhân loại đã biết đến các hình thức hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất, những quy định về thừa kế, quyền sở hữu nô lệ, quyền sở hữu ruộng đất của chủ nô cũng như của các giai cấp thống trị trong việc bảo vệ tư liệu sản xuất, tài sản của mình. Còn ở các nhà nước hiện đại, không thể thiếu những quy định của pháp luật về thị trường tài chính, về tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp, về hoạt động thương mại, về đăng ký, thành lập doanh nghiệp…

    Trong lịch sử cũng đã tồn tại quan điểm cho rằng, sự tham gia của nhà nước vào nền kinh tế là không cần thiết. Theo thuyết “Bàn tay vô hình”, sẽ tốt hơn nếu thị trường tự quyết định, tự điều chỉnh theo chính nhu cầu vốn có của nó mà không cần có sự can thiệp của nhà nước. Nhưng, thực tế lịch sử cho thấy, thiếu sự điều tiết của nhà nước nền kinh tế dễ bị tổn thương như thế nào. Nhưng ngay cả khi áp dụng lý thuyết này, nhà nước vẫn không đứng ngoài cuộc. Vai trò điều tiết của nhà nước lúc này là thông qua những quy định pháp lý về sự tự do hóa nền kinh tế, mở cửa thị trường, những quy định về các loại hình công ty, thương hội

    2.1.2. Cơ cấu – phân tầng xã hội, mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích trong xã hội

    Yếu tố này xuất phát từ sự ảnh hưởng của bản chất Nhà nước (tính xã hội) đến chức năng nhà nước và ảnh hưởng lớn đến chức năng Nhà nước. Cơ cấu phân tầng của xã hội càng phức tạp, tức xã hội càng nhiều giai cấp, thì nhà nước càng cần phát triển các chức năng để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích trong xã hội về kinh tế chính trị, xã hội…là cơ sở để nhà nước phát triển các chức năng của mình nhằm đảm bảo tính giai cấp và tính xã hội của Nhà nước.

    Khi nghiên cứu nguồn gốc Nhà nước ta thấy rằng nhà nước xuất hiện do 2 nguyên nhân: nguyên nhân kinh tế (sự xuất hiện chế độ tư hữu) và nguyên nhân xã hội (sự xuất hiện của giai cấp và mâu thuẫn giai cấp). Căn cứ vào đó có thể thấy bản chất nhà nước được thể hiện ở hai mặt, đó là tính giai cấp của nhà nước và vai trò xã hội.

    Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác đều thể hiện dưới ba loại quyền lực là quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và quyền lực tư tưởng. Trong đó, quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở để bảo đảm cho sự thống trị giai cấp. Quyền lực kinh tế co ý nghĩa quan trọng vì nó tạo ra cho người chủ sở hữu khả năng có thể bắt những người bị bóc lột phải phụ thuộc về mặt kinh tế. Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột. VÌ vậy, cần phải có nhà nước, một bộ máy cưỡng chế đặc biệt để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị về kinh tế và để đàn áp sự phản kháng của các giai cấp bị bóc lột. Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị. Nói cách khác, giai cấp thống trị đó trở thành chủ thể của quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị.

    Tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất của nhà nước. Tuy nhiên, với tư cách là bộ máy thực thi quyền lực công cộng nhằm duy trì trật tự và sự ổn định của xã hội, nhà nước còn thể hiện rõ nét tính xã hội của nó. Trong bất kỳ nhà nước nào, bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, nhà nước cũng phải chú ý đến lợi ích chung của xã hội, giải quyết những vấn đề mà đời sống xã hội đặt ra. Chẳng hạn: bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng và thực hiện hệ thống an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, chống thiên tai, dịch bệnh…

    Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.

    So với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp, nhà nước có một số đặc điểm riêng sau đây:

    + Nhà nước thiết lập một quyền lực công đặc biệt không hòa nhập với dân cư

    Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, quyền lực chưa tách khỏi xã hội mà gắn liền với xã hội, hòa nhập với xã hội chưa có giai cấp nên chưa có nhà nước. Quyền lực đó do toàn xã hội tổ chức ra, chưa mang tính giai cấp, phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng.

    Khi xuất hiện nhà nước, quyền lực công cộng đặc biệt được thiết lập. Chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị. Để thực hiện quyền lực này, nhà nước hình thành một bộ máy cưỡng chế để duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục vụ ý chí của giai cấp thống trị. Như vậy, quyền lực công cộng đặc biệt này đã tách khỏi xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc và chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị.

    Công cuộc đổi mới đất nước, sự phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tạo ra những tiền đề và đòi hỏi đổi mới, tăng cường phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương, nhằm phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, điều hành các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.

    Ví dụ, nhà nước chủ nô tồn tại hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ với mâu thuẫn giai cấp hết sức gay gắt nên một trong các chức năng nhà nước là duy trì sự thống của giai cấp chủ nô đối với giai cấp nô lệ. Đến Nhà nước xã hội chủ nghĩa không còn sự bóc lột giữa các giai cấp. Chức năng nhà nước là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện công bằng xã hội, giải quyết hài hòa các lợi ích giữa nhà nước, cá nhân và cộng đồng.

    2.1.3. Trình độ và trách nhiệm của các nhà chính trị, bộ máy nhà nước

    Trình độ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phán đoán và phương pháp giải quyết công việc. Trách nhiệm ảnh hưởng đến tính thần, ý thức làm việc,…của chủ thể. Trình độ và trách nhiệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có trình độ giúp các nhà chính trị nhận thức và hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình. Ngược lại trách nhiệm giúp nâng cao tinh thần tự giác học tập, rèn luyện để phát triển trìnhđộ, qua đó thực hiện công việc đặt ra nhanh chóng và đạt hiệu quả cao hơn. Hiện nay trong bộ máy nước Việt Nam còn tồn tại một bộ phận cán bộ nhà nước có trình độ hiểu biết kém, vô trách nhiệm…đã ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, khả năng thực hiện chức năng của nhà nước.

    Hoạt động của bộ máy công chức có ý nghĩa quyết định đến kết quả bộ máy nhà nước. Trong thời gian tiếp theo, cần tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với từng loại công chức giúp công chức có khả năng nắm vững các kiến thức chính trị, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, kiến thức hành chính, pháp luật, ngoại ngữ, tin học…đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.

    2.1.4. Lịch sử phát triển toàn dân tộc, truyền thống – văn hóa- tư tưởng

    Mỗi nhà nước có một lịch sử ra đời và phát triển riêng dẫn đến việc có những chức năng khác nhau, phù hợp với nó. Ví dụ, ở kiểu Nhà nước chủ nô, đểbảo vệ quyền lợi về tư liệu sản xuất cũng như địa vị của chủ nô, ngăn cản sự nổi dậy của nô lệ …Nhà nước phải có chức năng trấn áp sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp nhân dân lao động bằng quân sự. Đến kiểu Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa ra đời, do thực hiện mục tiêu tất cả quyền lực thuộc về tay nhân dân, chức năng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và con người ra đời và được thể hiện trong Hiến pháp. Các yếu tố truyền thống – văn hóa – tư tưởng là nguồn gốc của một số chức năng nhà nước nhất định.

    Ví dụ, ở Trung Quốc vua là thiên tử, có trách nhiệm “thế thiên hành đạo”, dân chúng luôn hết lòng phục vụ vua, coi vua là trung tâm. Điều này rất phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, dẫn đến việc duy trì sự thống trị về tư tưởng đối với quần chúng trở thành một chức năng của kiểu Nhà nước phong kiến, giúp Nhà nước quản lý và điều khiển quần chúng rất hiệu quả.

    2.2. Yếu tố bên ngoài

    Quyền con người, dân chủ hóa và toàn cầu hóa cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhiều chức năng nhà nước.

    Dựa trên việc thừa nhận quyền con người và xem xét nó trên mọi phương diện, các quốc gia xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế để đảm bảo cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất. Quá trình dân chủ hóa quốc gia diễn ra đòi hỏi các quốc gia phải có những chính sách, quy định đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa những người dân,phát huy quyền làm chủ của người dân… Trong thời đại ngày nay, khi toàn cầu hóa đã trở thành xu thế, sự hợp tác giữa các nước được thúc đẩy, các quá trình trao đổi, hợp tác kinh tế,tài chính,thương mại… giữa các quốc gia trở nên tích cực hơn,các nước chủ động và tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quyền con người, dân chủ hóa và toàn cầu hóa góp phần đẩy mạnh sự thực hiện và phát triển toàn diện của các chức năng Nhà nước như: chính trị, kinh tế, đối ngoại…

    Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay, nước nào đứng ngoài xu thế này sẽ khó có thể phát triển được. Đối với những nước đang phát triển, nghèo nàn, lạc hậu thì hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là một cơ hội tốt để thu hút nguồn vốn đầu tư, tiếp cận công nghệ tiên tiến, học hỏi trình độ quản lý hiện đại,… nhằm phát triển kinh tế – xã hội. Nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, Đảng ta chủ trương chủ động tham gia vào quá trình này.

    Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay là hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mà kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tất yếu dẫn tới nhiều thành phần xã hội, tức cơ cấu giai tầng trong kinh tế thị trường sẽ đa dạng và phong phú hơn. Đa dạng về thành phần xã hội tất sẽ đa dạng về lợi ích và nhu cầu. Đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính đáng và đa dạng của các thành phần trong xã hội thuộc về chức năng xã hội của nhà nước.

    Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã nảy sinh những vấn đề xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải cấp bách giải quyết như: nạn thất nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho người sản xuất kinh doanh chân chính; các tệ nạn xã hội, tội phạm mang tính quốc tế gia tăng, ảnh hưởng môi trường xã hội; do điều kiện địa lý, các vùng sâu, vùng xa có nguy cơ tụt hậu vì không thu hút được đầu tư; do lợi nhuận chi phối nên những nhóm ngành nghề rất cần cho xã hội nhưng lợi nhuận thấp dễ bị bỏ rơi,v.v.. Những vấn đề đó đang đòi hỏi Nhà nước phải nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Nội Dung Của Pháp Luật Việt Nam
  • Giám Định Của Ngân Hàng Nhà Nước Không Có Chức Năng Giám Định Thiệt Hại?
  • Chính Phủ Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Vai Trò Của Chính Phủ Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Vai Trò, Vị Trí, Chức Năng Quan Trọng Của Mình Trong Bộ Máy Nhà Nước Và Trong Đời Sống Xã Hội
  • Chức Năng Của Thận Là Gì? Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Bệnh Viêm Cầu Thận Cấp: Giật Mình Với Những Biến Chứng Không Ngờ!
  • Giải Vở Bài Tập Sinh Học 8
  • Chức Năng Của Thận Là Gì? Cấu Tạo Và Cần Biết
  • Vị Trí Của Thận Ở Đâu Trong Cơ Thể Con Người Bạn Có Biết?
  • Thận Dương Hư Và Âm Hư Nên Ăn Gì, Không Nên Ăn Gì ?
  • Chúng ta ai cũng biết rằng thận là cơ quan đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng để duy trì sự sống cho cơ thể. Vậy thận có chức năng gì và những yếu tố làm ảnh hưởng đến chức năng của thận mà bạn cần lưu ý

    Thận là một cặp cơ quan hình hạt đậu có trong tất cả các động vật có xương sống. Nhìn chung thận có chức năng loại bỏ các chất thải ra khỏi cơ thể để duy trì mức điện giải cân bằng và điều hòa huyết áp

    Thận thực hiện vai trò loại bỏ một số chất thải ra khỏi cơ thể thông qua nước tiểu. Hai hợp chất chính mà thận lọc đó là:

    • Ure: chất này tạo ra từ sự phân hủy protein
    • Axit uric: chất này có được từ sự phân hủy axit nucleic

    Tái hấp thu các chất dinh dưỡng

    Thận không những bài tiết chất thải mà một chức năng của thận khá quan trọng khác là tái hấp thu chất dinh dưỡng và duy trì cân bằng độ pH. Thận tái hấp thu các chất dinh dưỡng từ máu và vận chuyển chúng đến nơi có thể hỗ trợ tốt nhất cho sức khỏe. Thận cũng tái hấp thu các sản phẩm khác để giúp duy trì cân bằng nội môi

    Các sản phẩm được tái hấp thu bao gồm

    Ở người, mức pH chấp nhận được là từ 7,38 đến 7,42. Bên dưới ranh giới này, cơ thể rơi vào trạng thái axit hóa và bên trên nó là nhiễm kiềm. Ngoài phạm vi này, protein và enzyme bị phá vỡ và không thể hoạt động được nữa. Trong trường hợp cực đoan, điều này có thể gây tử vong.

    Thận và phổi là hai cơ quan giúp giữ độ pH ổn định trong cơ thể con người. Phổi đạt được điều này bằng cách kiểm duyệt nồng độ carbon dioxide. Thận điều chỉnh độ pH thông qua hai quá trình:

    Tái hấp thu và tái tạo bicarbonate từ nước tiểu: bicarbonate giúp trung hòa axit. Thận có thể giữ nó nếu độ pH chấp nhận được hoặc giải phóng nó nếu nồng độ axit tăng.

    Bài tiết các ion hydro và axit cố định: Axit cố định hoặc không bay hơi là bất kỳ axit nào không tạo ra do carbon dioxide. Chúng là kết quả của sự chuyển hóa không hoàn toàn của carbohydrate, chất béo và protein. Chúng bao gồm axit lactic, axit sulfuric và axit photphoric.

    Độ thẩm thấu là thước đo cân bằng nước điện giải của cơ thể hoặc tỷ lệ giữa chất lỏng và khoáng chất trong cơ thể. Mất nước là nguyên nhân chính gây mất cân bằng điện giải. Nếu độ thẩm thấu tăng trong huyết tương, vùng dưới đồi trong não sẽ phản ứng bằng cách gửi một thông điệp đến tuyến yên. Điều này dẫn đến giải phóng hormon chống bài niệu (ADH).

    Đáp ứng với ADH, thận thực hiện một số thay đổi, bao gồm:

    • Tăng nồng độ nước tiểu
    • Tăng tái hấp thu nước
    • Mở lại các phần của ống thu thập mà nước thường không thể xâm nhập, cho phép nước quay trở lại cơ thể
    • Giữ lại urê trong tủy thận chứ không phải bài tiết nó, vì nó hút vào

    Thận điều chỉnh huyết áp khi cần thiết, nhưng chúng chịu trách nhiệm điều chỉnh chậm hơn. Thận điều chỉnh áp lực dài hạn trong các động mạch bằng cách gây ra những thay đổi trong chất lỏng bên ngoài tế bào. Thuật ngữ y tế cho chất lỏng này là dịch ngoại bào.

    Bất cứ điều gì làm thay đổi huyết áp đều có thể làm hỏng thận theo thời gian, bao gồm tiêu thụ quá nhiều rượu, hút thuốc và béo phì.

    Chức năng bài tiết các hợp chất hoạt động của thận

    • Erythropoietin: chất này kiểm soát hồng cầu hoặc sản xuất các tế bào hồng cầu. Gan cũng sản xuất erythropoietin, nhưng thận là cơ quan sản xuất chính ra chất này
    • Renin: chất này giúp quản lý sự mở rộng của các động mạch và thể tích huyết tương, bạch huyết và dịch kẽ. Bạch huyết là một chất lỏng có chứa các tế bào bạch cầu, hỗ trợ hoạt động miễn dịch và dịch kẽ là thành phần chính của dịch ngoại bào.
    • Calcitriol: Đây là chất chuyển hóa có hoạt tính nội tiết tố của vitamin D. Nó làm tăng cả lượng canxi mà ruột có thể hấp thụ và tái hấp thu phosphate ở thận.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng của thận

    Bệnh tiểu đường là nguyên nhân số 1 của bệnh thận. Bệnh tiểu đường là căn bệnh khiến cơ thể bạn gặp khó khăn trong việc tạo hoặc sử dụng insulin. Insulin là một loại hormone (một chất hóa học mà cơ thể bạn tạo ra) giúp cơ thể bạn biến đường bạn ăn thành năng lượng. Khi cơ thể bạn không sử dụng insulin đúng cách, quá nhiều đường sẽ tồn tại trong máu, dẫn đến bệnh thận mãn tính theo thời gian

    Huyết áp cao là nguyên nhân số 2 của chức năng thận suy yếu. Huyết áp cao có nghĩa là tim của bạn đang làm việc quá sức để bơm máu. Khi máu chảy quá mạnh qua các mạch máu nhỏ trong thận của bạn, điều này có thể làm tổn thương những mạch nhỏ này. Theo thời gian, điều này có thể dẫn đến bệnh thận mãn tính.

    Chức năng của thận yếu dần đi qua năm tháng. Những người từ 60 tuổi trở đi sẽ mất dần chức năng thận. Họ dễ bị các bệnh về thận hơn vì tiểu đường và huyết áp cao

    Bệnh tim là khi tim bạn không hoạt động tốt như bình thường. Điều này làm cho thận khó khăn hơn khi thực hiện chức năng. Nếu thận của bạn làm việc quá sức, chúng có thể bị tổn thương

    Bị béo phì khiến bạn có nguy cơ cao hơn bị hai nguyên nhân lớn nhất gây ra bệnh thận: tiểu đường và huyết áp cao. Điều này có nghĩa là béo phì cũng khiến bạn có nguy cơ mắc bệnh thận cao hơn.

    Hút thuốc có thể gây ra huyết áp cao, là nguyên nhân lớn thứ hai của bệnh thận. Hút thuốc cũng gây tắc nghẽn trong cơ thể bạn. Khi một mạch máu bị chặn, thận của bạn không thể có được lưu lượng máu mà chúng cần, và điều này có thể gây ra thiệt hại, có thể dẫn đến bệnh thận mãn tính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuốc Bổ Thận Tăng Cường Sinh Lý Của Nhật Nào Tốt?
  • Bổ Thận Kanka Của Nhật Bản Giá Bao Nhiêu, Mua Ở Đâu?
  • Top 10+ Thuốc Bổ Thận Tráng Dương Cho Nam Tốt Nhất 2022
  • 5 Thực Phẩm Chức Năng Bổ Thận Cực Tốt Cho Nam Giới
  • Thực Phẩm Chức Năng Bổ Thận
  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Nội Dung Của Pháp Luật Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Của Nhà Nước Đương Đại (Phần 2)
  • Tiểu Luận Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Puritan’s Pride Triple Omega 3 6 9 Fish & Flax Oils
  • ‘tôi Sẽ Không Uống Dầu Cá Nữa, Sau Khi Biết Sự Thật Phía Sau Ngành Công Nghiệp Này’
  • Cách Dùng Thuốc Omega 3, Tpcn Omega 3 Đúng Cách Và Đúng Liều Lượng
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung của pháp luật Việt Nam. Bài tập học kỳ môn Lý luận nhà nước và pháp luật 9 điểm.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung của pháp luật Việt Nam. Bài tập học kỳ môn Lý luận nhà nước và pháp luật 9 điểm.

    Đặc trưng cho mỗi nhà nước chính là pháp luật, pháp luật là thước đo của hành vi được thực hiện bằng con đường nhà nước và mang tính quyền lực nhà nước. Ở Việt Nam, khi tiến hành cách mạng nhân dân ta đã xóa bỏ pháp luật thực dân, phong kiến, cùng với việc xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã từng bước xây dựng hệ thống pháp luật mới phù hợp với tình hình và điều kiện của đất nước. Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn phát triển và hoàn thiện cùng với sự phát triển của đất nước, đặc biệt trong thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền, pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có bước phát triển nhảy vọt cả về lượng và chất, từng bước đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Xét thấy vị trí và vai trò vô cùng quan trọng của pháp luật đối với nhà nước, em xin được chọn đề bài “Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung của pháp luật Việt Nam hiện nay” để phân tích, nghiên cứu, đồng thời cũng làm kết quả đánh giá cho quá trình học tập vừa qua.

    Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể. Nội dung của pháp luật chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có thể thấy sự ảnh hưởng rõ rệt nhất từ các yếu tố:

    Đường lối chính sách của Đảng định ra mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định, định ra những phương pháp cách thức cơ bản để có thể thực hiện những mục tiêu và phương hướng đó. Những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽ được nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế. Vì thế đường lối chính sách của Đảng là một trong những yếu tố có sức ảnh hưởng lớn nhất đến nội dung của pháp luật. Nội dung các quy định trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, từ hiến pháp, luật cho đến các văn bản dưới luật đều phải phù hợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng.

    Ở nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo đất nước thông qua các nghị quyết, các quyết sách chiến lược của Đảng. Pháp luật được thể chế hóa từ những nghị quyết của Đảng để lãnh đạo đất nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…Những năm qua, nhìn chung có thể thấy hệ thống pháp luật phản ánh khá trung thành và toàn diện đường lối chính sách của Đảng. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại một số quyết định của pháp luật không hoàn toàn phù hợp với quan điểm, đường lối chính sách của Đảng qua các nghị quyết chỉ thị gây ra một số hạn chế nhất định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giám Định Của Ngân Hàng Nhà Nước Không Có Chức Năng Giám Định Thiệt Hại?
  • Chính Phủ Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Vai Trò Của Chính Phủ Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Vai Trò, Vị Trí, Chức Năng Quan Trọng Của Mình Trong Bộ Máy Nhà Nước Và Trong Đời Sống Xã Hội
  • Chuyên Đề 4: Nền Hành Chính Và Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • Định Nghĩa, Đặc Điểm Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Marketing Dược

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Marketing
  • Bài 1: Hệ Thống Marketing
  • Marketing Căn Bản : Hệ Thống Và Nghiên Cứu Marketing
  • Hệ Thống Marketing Và Nghiên Cứu Marketing
  • 3 Chức Năng Quan Trọng Của Một Phần Mềm Email Marketing
  • Marketing dược thực chất là tổng hợp các chính sách chiến lược marketing của thuốc và nhằm thỏa mãn nhu cầu của bệnh nhân, nhằm phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Bản chất: thực hiện chăm sóc thuốc đáp ứng thỏa mãn cho nhu cầu điều trị hợp lý chứ.

    + Chiến lược marketing online

    1. Định nghĩa Marketing dược

    Marketing dược thực chất là tổng hợp các chính sách chiến lược marketing của thuốc và nhằm thỏa mãn nhu cầu của bệnh nhân, nhằm phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Bản chất: thực hiện chăm sóc thuốc đáp ứng thỏa mãn cho nhu cầu điều trị hợp lý chứ không phải chỉ sản xuất hay kinh doanh thuốc.

    Định nghĩa Marketing dược

    2. Đặc điểm Marketing dược

    Hoạt động Marketing dược đáp ứng 5 đúng: đúng thuốc, đúng số lượng, đúng nơi , đúng giá , đúng lúc

    1) Đúng thuốc: Xét theo góc độ trực tiếp, yêu cầu hệ thống marketing dược cung cấp thuốc đúng loại dược chất, đúng hàm lượng theo ghi trên nhãn, chính là phải đảm bảo chất lượng thuốc.

    2) Đúng số lượng thuốc: Marketing dược phải xác định được đúng số lượng thuốc sẽ sản xuất kinh doanh để tung ra thị trường. Phải xác định quy cách số lượng thuốc đóng gói sao cho phù hợp với thị trường mục tiêu (bệnh viện, hiệu thuốc bán lẻ …).

    3) Đúng nơi: Thứ nhất, với thuốc kê đơn do bác sĩ kể đơn và chỉ có dược sĩ được quyền phân phát. Hơn nữa, trách nhiệm của marketing trong nhiệm vụ “đúng nơi” là cần thiết phải duy trì mối quan hệ thương mại tốt với các phần tử khác của kênh phân phối. Vì vậy, những người bán lẻ, bán buôn và bệnh viện phải là một thể thống nhất với chính sách phân phối của nhà sản xuất.

    4) Đúng giá: Giá là một trong 4 chính xách của marketing – mix, và thực tế ở điều kiện kinh tế của nước ta thì giá là một yếu tố rất quan trọng. Đặc biệt thuốc là một loại hàng hóa tối cần, người tiêu dùng thường bắt buộc phải dùng cho điều trị bệnh tật. Hơn nữa tại nơi bán lẻ, thuốc là loại hàng gần như không có hiện tượng mặc cả.

    Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ chỉnh sửa luận văn , Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, … để giúp mình hoàn thành những bài luận đúng deadline? Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

    3. Các yếu tố ảnh hưởng đến Marketing dược:

    Môi trường vĩ mô: môi trường khoa học kỹ thuật, chính trị, kinh tế, xã hội… ảnh hưởng trực tiếp đến nhà sản xuất. Các nhà sản xuất thực hiện marketing dược nhằm phục vụ bệnh nhân. Bệnh nhân lại chịu sự chi phối của bác sỹ thông qua việc chẩn đoán bệnh, kê đơn nên bác sỹ là khách hàng mục tiêu của công ty dược phẩm.

    Ngoài ra, nhà sản xuất phải xem xét cả yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thuốc như: nhân khẩu, số lượng cán bộ y tế, mô hình bệnh tật, và các yếu tố kinh tế y tế (chi phí tiền thuốc trên đầu người, chi phí của bảo hiểm y tế…).

    Các yếu tố ảnh hưởng đến Marketing dược

    3. 1. Môi trường vĩ mô:

    3. 1.1. Môi trường dân số:

    Qui mô, mật độ và sự phân bổ dân cư, các xu hướng thay đổi về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp v.v… đều có ảnh hưởng lớn tới các quyết định Marketing của doanh nghiệp. Chúng ta hãy xem xét những xu hướng nhân chủng học quan trọng trên thế giới và ở Việt nam: Bùng nổ dân số: hiện tại dân sô thế giới khoảng 6 tỉ người và với tốc độ tăng 2% hàng năm thì trong vòng 30 năm tới, dân số sẽ tăng gấp đôi. Mặt khác, tốc độ tăng nhanh lại diễn ra ở các nước kém phát triền khiến tình trạng bất công, chênh lệch giàu ngèo càng trầm trọng.

    Dân số tăng nhanh thì sự khái thác các nguồn tài nguyên càng ráo riết và sẽ không có đủ tài nguyên để duy trì cuộc sống của quá đông dân cư như thế. Ở Việt nam, sau nhiều năm Kế hoạch hóa gia đình, bây giờ lại không hạn chế sinh đẻ khiến dân số đang có nguy cơ tăng nhanh trở lại, nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi còn nghèo và lạc hậu, khiến gánh nặng trợ cấp xã hội ngày một nặng nề.

    Hiện tượng già hóa dân cư ở các nước phát triển và trẻ hóa ở các nước kém phát triển: Nhật, Mỹ và các nước châu Âu đang lo ngại về tỉ lệ người già tăng nhanh, trong khi giới trẻ không chịu sinh đẻ nhiều, họ đang dùng mọi biện pháp ưu dãi cho những người sinh con, nhưng xu hướng sống tự do, độc lập không thích ràng buộc khiến giới trẻ thờ ơ với việc sinh con, hoặc nếu có thì chỉ sinh 1 hay 2 con.

    Mặt khác, khả năng sinh của họ ngày càng thấp đi do nhiều tác động. Trong khi đó, các nước đang hay kém phát triển thì tỉ lệ trẻ em và vị thành niên lại chiếm số đông. Điều này dẫn tới sự chuyển dịch về cơ cấu tiêu dùng: ở các nước phát triển thì nhu cầu về các dịch vụ và sản phẩm cho người cao tuổi tăng nhanh, trong khi ở các nước đang và kém phát triển thì các nhu cầu cho giáo dục và giải trí cho giới trẻ lại tăng cao.

    Ở Việt nam: độ tuổi từ 15-35 chiếm gần 60% dân số, cho thấy một thị trường trẻ và năng động, thích ứng nhanh với các sản phẩm mới. Sự thay đổi phân bổ dân cư: xu hướng đô thị hóa và làn sóng nhập cư tù nông thông lên thành thị diễn ra ở hầu hết các nước đang phát triển. Ở Việt nam, quá trình đô thị hóa và làn sóng nhập cư cũng gây ra nhiều ảnh hưởng cho thị trường tiêu dùng hàng hóa/dịch vụ. Rất nhiều người dân nông thôn ngày nay có thể tiếp cận và mua sắm các mặt hàng hiện đại qua người thân của họ di cư lên thành phố và mang về không chỉ hàng hóa mà lối sống thị dân

    3.1.2. Môi trường kinh tế:

    Sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế tác động trực tiếp tới sức mua và cơ cấu chi tiêu của dân chúng. Sức mua phụ thuộc vào mức thu nhập hiện tại, chỉ số giá cả, lạm phát v.v… Một minh chứng cụ thể là cuộc khủng hoàng kinh tế khởi phát từ Mỹ giữa năm 2008 và nhanh chóng lan rộng tòan cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức mua cho tới suốt năm 2009 tới nay mới có dấu hiệu phục hồi. Rất nhiều công ty lớn đã lâm vào cành phá sản hay đình trệ. Chính phủ nhiều nước phải bỏ ra cả tỉ đô la để kích cầu.

    Việt nam cũng bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp đã phải nỗ lực hết sức để có thể vượt qua. Cơ cấu tiêu dùng cũng phụ thuộc vào thu nhập bình quân đầu người. Ở các nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao thì chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu ( ăn uống, nhà ở…) chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ, còn phần lớn là vào các dịch vụ như : giải trí, du lịch v.v…chính vì thế mà tại các nước này các ngành dịch vụ rất phát triển, có khi chiếm tới 70% sản lượng xã hội. Còn ở các nước nghèo, kém phát triển như Việt nam, thì tới 80% thu nhập được dành cho các nhu cầu cơ bản, phần còn lại dành cho tiết kiệm, và chỉ có rất ít được dành cho các nhu cầu về dịch vụ.

    Lạm phát có ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc chi tiêu của dân chúng. Khi lạm phát tăng cao, người ta lại có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là tiêu dùng. Nhất là ở Việt nam đồng tiền luôn trượt giá khiến người dân tích trữ vàng và ngoại tệ mạnh nhiều hơn là gửi tiết kiệm, dẫn đến nhiều hệ lụy không hay khi tỷ giá ngoại tệ hay giá vàng có biến động. Nhiều giao dịch tại Việt nam được tính bằng ngoại tệ hay vàng, chứ không phải bằng tiền Việt, đến nỗi nhà nước phải có qui định về việc niêm yết giá bằng tiền Việt, chứ nếu không mua từ cái USP tới cái pin điện thoại cũng phải qui từ USD ra tiền Việt ( tất nhiên theo tỉ giá chợ đen).

    3.1.3. Môi trường tự nhiên

    Sản xuất càng phát triển thì các ảnh hưởng tới tự nhiên càng nhiều, và ngược lại những biến đổi trong môi trường tự nhiên cũng ảnh hưởng tới sản phẩm các công ty sản xuất và đưa ra thị trường. Nạn khan hiếm tài nguyên: dầu mỏ, vàng v.v… ngày càng khan hiếm, và việc biến động giá vàng, giá dầu mỏ rõ rang đã ảnh hưởng sâu sắc tới các nền kinh tế.

    Ngay nước và không khí, những nguồn tai nguyên tưởng như vô tận mà cũng đang trong nguy cơ bị khai thác cạn kiệt và các tổ chức bảo vệ môi trường đang phải tích cực cảnh báo về nguy cơ khan hiếm. Sự tăng giá năng lượng và tài nguyên: giá nguyên nhiên liệu ngày càng tăng khiến nhiều ngành sản xuất lao đao và cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua rõ ràng xuất phát từ việc giá dầu thế giới tăng lien tục và đột biến.

    Ô nhiễm môi trường: ô nhiễm môi trường nước và không khí, ô nhiễm tiếng ồn v.v.. đang là vấn nạn của thế giới và các tổ chức bảo vệ môi trường đang hoạt động tích cực để hạn chế tình trạng này. Bài học Vedan ở Việt nam cho ta thấy rõ một sản phẩm có thể bị người tiêu dùng lên án và tẩy chay khi nó góp phần làm ô nhiễm môi trường. Sự can thiệp của nhà nước vào việc sự dụng và tái chế tài nguyên: các nhóm dư luận xã hội luôn tạo áp lực đòi hòi nhà nước và các cơ quan quản lí kiểm soát chặt chẽ hơn nữa việc khai thác tà nguyên, tái chế nguyên nhiên liệu và bảo vệ môi trường. Ngày nay hiếm có doanh nghiệp nào dám công khai thoái thác các trách nhiệm này

    3.1.4. Môi trường khoa học kỹ thuật và công nghệ

    Khoa học kỹ thuật và công nghệ có ảnh hưởng to lớn tới sản xuất, kinh doanh và cả sự tiêu thụ. Các phát minh mới, các tiến bộ của khoa học kỹ thuật sẽ làm ra các sản phẩm mới, đồng thời làm này sinh các nhu cầu mới và làm triệt tiêu cá công nghệ cụ hay nhu cầu cũ. Ví dụ, phát minh ra máy ảnh kỹ thuật số gây ảnh hưởng năng cho việc chụp hình dùng phim cổ điển, máy photo copy và máy tính làm biến mất những chiếc máy chữ cũ kỹ…

    Khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng giúp chúng ta khám phá các khả năng vô tận như: công nghệ sinh học, robot, nghiên cứu vũ trụ…. Ngày nay, để thành công, các công ty phải không ngừng đầu tư cho R&D ( Research and Development: Nghiên cứu và Phát triển) để phát minh hay tiếp cận và vận dụng các công nghệ và kỹ thuật mới để không ngừng cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh. Ở Việt nam, công nghệ còn lạc hậu, nên nguy cơ tụt hậu là rất lớn, vì thế chúng ta cần đầu tư hơn cho giáo dục và thu hút chất xám để có thể phát triển một đội ngũ chuyên gia kỹ thuật và công nghệ giỏi.

    3.1.5. Môi trường chính trị – pháp luật

    Bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải hoạt động trong một thế chế chính trị nhất định và tuân thủ theo các hệ thống pháp luật, tuân thủ các cơ quan nhà nước và các nhóm gây ảnh hưởng ( hiệp hội…), các ảnh hưởng cộng đồng dân tộc, khu vực, và quốc tế. Hệ thống luật của một quốc gia bao gồm:

    – Hiến pháp, các bộ luật ( dân sự, hình sự, thương mại, thuế, lao động…)

    – Các chính sách và sự điều khiển, can thiệp của nhà nước tới doanh nghiệp Tại Việt nam, có ưu điểm là tính ổn định về chính trị cáo, không xảy ra đảo chính, bạo loạn nên thu hút được nhiều nhà đầu tư và làm cho các doanh nghiệp yên tâm sản xuất. Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật còn chưa hoàn thiện, các văn bản luật quá nhiều và chồng chéo khiến các doanh nghiệp rất vất vả để thực thi, thậm chí đôi khi còn tại điều kiện cho các cơ quan hành pháp nhũng nhiễu và làm khó doanh nghiệp.

    3.1.6. Môi trường văn hóa

    Chúng ta có thể hiểu về văn hóa vắn tắt thế này: Văn hóa là hệ thống các chuẩn mực, giá trị, qui tắc hành vi mà mọi thành viên phải tôn trọng và tuân theo. Ví dụ như khi bạn là sinh viên thì phải trang phục chỉnh tề (bỏ áo trong quần), đeo thẻ sinh viên và không hút thuốc, cho dù bạn có thích điều đó hay không cũng phải chấp nhận. Văn hóa ảnh hưởng rất lớn tới các quyết định Marketing dưới các góc độ sau:

    Văn hóa gốc và văn hóa phụ:

    Văn hóa gốc ở Việt nam là văn hóa Á đông, văn hóa dân tộc Việt nam với các đặc trưng như tính cộng đồng cao, truyền thống hiếu học, sự đùm bọc nhường cơm sẻ áo, tinh thần tôn sư trọng đạo v.v… Còn văn hóa phụ có thể là văn hóa vùng miền, ví dụ miền Bắc có văn hóa làng xã rất chặt chẽ, các giá trị gia đình luôn được đề cao ( như bữa cơm gia đình), cỏn miền Nam thì tự do và phóng khoáng hơn với các gia trị gia đình

    Văn hóa nghề nghiệp & văn hóa kinh doanh: mỗi nghề nghiệp lại có các chuẩn mực hành vị khác nhau. Một thầy giáo sẽ hành xử khác với một người lái taxi hay một anh thợ xây.

    Sự hội nhập – các yếu tố chấp nhận và tảy chay của một nền văn hóa với các văn hóa khác: Việt nam đang trong thời kỳ quá độ, đang mở cửa để hội nhập với thế giới. Dước tác động của internet và các phương tiện truyền thông khác, các yếu tố văn hóa ngoại lai xâm nhập và ảnh hướng lớn tới lối sống và hành vi tiêu dùng của người Việt, nhất là giới trẻ. Các xu hướng Hàn Quốc, Nhật bản trong mỹ phẩm và thời trang, trao lưu Hip Hop…. đang là những vấn đề gây nhiều tranh cãi.

    3.2. Môi trường vi mô

    3.2.1. Doanh nghiệp

    Phòng tài chính luôn quan tâm tới vấn đề nguồn vốn- tài sản, và việc sự dụng vốn cần thiết để thực hiện các kế hoạch Marketing, đòi hỏi người làm Marketing cần phải biết lập và hoạch định ngân sách cũng như các kế hoạch chi tiêu cho các hoạt động Marketing.

    Phòng kinh doanh luôn quan tâm tới việc nâng cao doanh số và mở rộng khách hàng. Suy cho cùng mọi hoạt động của Marketing cũng nhắm vào cùng mục tiêu ấy, cho nên Marketing luôn là sự hỗ trợ và phối hợp mật thiết nhất cho kinh doanh. Mặt khác, phòng kinh doanh là nơi cung cấp các thông tin nóng hổi và thực tế nhất từ thị trường cho những người làm Marketing.

    Bộ phận sản xuất luôn cần các định hướng từ Marketing để có kế hoạch sản xuất phù hợp và kịp thời. Ngược lại, những trục trặc từ sản xuất có thể ảnh hưởng nặng nề tới các hoạt động của Marketing ( ví dụ ảnh hưởng tới chương trình từng sản phẩm mới hay khuyến mãi v.v…)

    Từ những nhận xét ấy, chúng ta cần hiểu về khái niệm: Marketing nội bộ, tức là toàn bộ các nỗ lực tiếp thị nhắm tới toàn bộ nhân viên của công ty, không chỉ với tư cách là những người cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm dịch vụ, mà còn với tư cách những khách hàng đầu tiên. Công tác Marketing không phải là nhiệm vụ của riêng những người làm việc trong bộ phận Marketing, mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn bộ nhân viên của CÔNG TY.

    3.2.2. Những nhà cung ứng

    Những người cung ứng là những cá nhân hay công ty cung cấp cho doanh nghiệp (và cả cho các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp) những nguồn vật tư, nguyên liệu (có thể gọi là đầu vào), để sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ nhất định. Như vậy, sản phẩm cuối cùng của người này có thể là đầu vào của người kia. Ví dụ: Công ty Dệt Thái Tuấn sản xuất ra vải như các sản phẩm cuối cùng, thì những nhà của họ là các công ty sản xuất sợi, thuốc nhộm v.v…

    Tới lượt Thái Tuấn lại là nhà cung cấp cho các Công ty Thời trang hay May mặc sử dụng vải của Thái Tuấn để may quần áo. Như vậy, ta thấy các nhà cung cấp có thể ảnh hưởng tới chất lượng, giá thành và tiến trình sản xuất sản phẩm/dịch vụ. Nếu nhà cung cấp sợi chất lượng kém, giá cao hay chậm trễ tiến độ thì Thái Tuấn không thể dệt ra vải đẹp, chất lượng cao và giá thành hạ được. Như thế, Thái Tuấn cũng làm ảnh hưởng tới các Công ty may mặc, làm cho họ không thể có các sản phẩm quần áo mang tính cạnh tranh được.

    Mặt khác, nếu chúng ta không làm các công tác Marketing với nhà cung cấp, họ sẽ không hiểu chúng ta cần những gì để phục vụ và thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu. Chẳng hạn, chúng ta muốn mở quán cafe phục vụ sinh viên với giá rẻ, mà không làm rõ điều ấy với người bán café bột, thì họ có thể chào bán cho chúng ta loại café chồn hảo hạng rất đắt tiền thì chúng ta không thể nào sử dụng được cho kinh doanh có lãi.

    Công tác Marketing cho nhà cung cấp phải thực hiện tốt việc cung cấp các thông tin cần thiết về thị trường mục tiêu ( nhu cầu, khả năng thanh toán, nhân chủng học, địa ly, v.v…), các yêu cầu của doanh nghiệp về các nguyên liệu vật tư đầu vào tốt nhất để có thể thiết kế và sản xuất các sản phẩm phù hợp.

    3.2.3. Những môi giới trung gian

    Những môi giới trung gian bao gồm những cá nhân hay doanh nghiệp hỗ trợ cho việc phân phối, tiêu thụ, quảng bá hàng hóa/dịch vụ cho thị trường. Họ bao gồm: Những môi giới thương mại: là những cá nhân hay doanh nghiệp phân phối và bán lẻ, tìm kiếm và/hoặc trực tiếp bán sản phẩm. Ví dụ hệ thống môi giới thương mại của Unilever là hàng ngàn tiệm tạp hóa, các Đại lí, các nhà phân phối, các siêu thị…

    Tại sao doanh nghiệp cần có môi giới thương mại? Đó là vì không công ty nào có đủ khả năng tự thiết kế kênh phân phối bao trùm khắp thị trường. các môi giới thương mại đảm bảo tốt hơn, nhanh hơn các điều kiện thuận tiện về thời gian, địa điểm và thủ tục mua hàng cho các khách hàng mục tiêu, và tất nhiên với chi phí thường thấp hơn so với công ty tự làm.

    Những môi giới lưu thông hàng hóa: Các cá nhân hay tổ chức giúp lưu thông hàng hóa, vận chuyển từ nơi dự trữ tới nơi cần thiết. Các môi gới này có tác dụng trong việc bảo đảm sự an toàn, đẩy nhanh tiêu thụ hàng hóa, giảm chi phí trung gian và làm tăng lợi nhuận nếu doanh nghiệp lựa chọn các môi giới tốt.

    Những môi giới tổ chức tín dụng- tài chính: Các tổ chức hỗ trợ đầu tư, các ngân hàng, các công ty tín dụng, các công ty bảo hiểm… nhằm hỗ trợ công ty đầu tư và/bảo hiểm chống lại các rủi ro lien quan tới việc mua bán hàng hóa. Các môi giới này ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói chung, các môi giới trung gian này ảnh hưởng tới đầu ra của sản phẩm, cụ thể là ảnh hưởng tới giá bán lẻ, hình ảnh thương hiệu, uy tín công ty, tốc độ tiêu thụ v.v…

    Do vậy, công tác Marketing cho môi giới trung gian bao gồm việc cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin về thị trường, giáo dục thường xuyên về các quan điểm và định hướng hành động marketing của doanh nghiệp, phối hợp thực hiện và giám sát chặt chẽ các hoạt động của họ để hạn chế tối đa các rủi ro và sai sót có thể xảy ra.

    3.2.4. Khách hàng

    Nhìn chung có năm dạng thị trường khách hàng mà doanh nhiệp cần quan tâm nghiên cứu kỹ:

    Thị trường người tiêu dùng: những cá nhân, hộ dân, tổ chức mua hàng hóa/dịch vụ để sử dụng cho các nhu cầu tiêu dùng

    Thị trường các nhà sản xuất: các khách hàng mua hàng hóa/dịch vụ để sử dụng như đầu vào của sản xuất.

    Thị trường buôn bán trung gian: các cá nhân-tổ chức mua hàng hóa/dịch vụ để bán lại kiếm lời

    Thị trường Nhà nước: các cơ quan nhà nước mua hàng hóa/dịch vụ để sử dụng công cộng hay chuyển giao cho những người cần thiết

    Thị trường quốc tế: tất cả các đối tương như trên nhưng ở các nước khác. Ví dụ Công ty Thái Tuấn có các cửa hàng bán vải trực tiếp cho Người tiêu dùng, cũng có các khách hàng là các sạp vải tại các chợ, có các nhà may, công ty thời trang mua vải về làm nguyên liệu, cũng cung cấp vải cho các tổ chức từ thiện, các cơ quan nhà nước và cũng xuất khảu vải ra nhiều nước trên thế giới v.v…

    Khách hàng là mục tiêu cuối cùng của Marketing, mọi nỗ lực Marketing suy cho cùng cũng là nhằm thỏa mãn cao nhất các nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Công tác Marketing cho khách hàng luôn được coi trong, tuy nhiên cần tỉnh táo để không quá sa đà vào marketing cho khách hàng mà quên đi các yếu tố ảnh hưởng khác.

    3.2.5. Đối thủ cạnh tranh

    Muốn xác định rõ đối thủ cạnh tranh thì phải nghiên cứu người ta quyết định mua sản phẩm đó như thế nào. Ví dụ, các nhà marketing có thể phỏng vấn bạn Linh (nhân vật chính của chúng ta) về việc nếu Linh có 10 triệu thì bạn ấy sẽ quyết định mua sắm thế nào. Đầu tiên, Linh có vài nhu cầu cần thỏa mãn như: cần có phương tiện để đi học, cần có phương tiện để phục vụ học tập, hay cần phương tiện để liên lạc.

    Đó là các mong muốn mang tính cạnh tranh mà người tiêu dùng cần cân nhắc để thỏa mãn. Sau khi suy nghĩ, có thể Linh sẽ quyết định sẽ đầu tư 10 triệu đó cho phương tiện để đi học. Bây giờ Linh cần lựa chọn các loại hàng cạnh tranh có thể thỏa mãn nhu cầu ấy: xe đạp, xe đạp điện hay xe máy. Cân nhắc kỹ thì linh thấy xe máy là phù hợp và hấp dẫn nhất vì tính cơ động và tốc độ của nó so với hai loại kia.

    Tiếp đến, Linh sẽ phải lựa chọn các mặt hàng cạnh tranh trong cùng chủng loại để chọn loại xe máy nào có thể phục vụ tốt nhất trong ngân sách cho phép: xe tay ga, xe số, xe nhập khẩu hay ráp trong nước chúng tôi đã xác định là sẽ mua xe số, lắp ráp trong nước thì Linh sẽ cân nhắc tới các thương hiệu cạnh tranh: Honda, Suzuki, Yamaha, SYM v.v…

    Từ ví dụ trên chúng ta thấy rõ có 4 loại cạnh tranh cơ bản: đó là các sản phẩm có thể đáp ứng các mong muốn mang tính cạnh tranh cho người tiêu dùng (các sản phẩm thay thế để thay đổi nhu cầu), các sản phẩm khác chủng loại mà đều có thể thỏa mãn một nhu cầu cụ thề, các sản phẩm cùng chủng loại để cùng đáp ứng nhu cầu đó, và cuối cùng là các nhãn hiệu cạnh tranh trong cùng một mặt hàng.

    Công tác marketing ở đây cần nghiên cứu và làm rõ các nhu cầu và mong muốn cụ thể của thị trường, hiểu được các đối thủ cạnh tranh theo từng loại, thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ trong việc phục vụ các nhu cầu ấy từ đó tìm ra các ưu thế cạnh tranh để quảng bá và tuyên truyền cho ưu thế ấy nhằm thu hút sự quan tâm của khách hàng mục tiêu. Trong nhiều trường hợp, công ty cần tìm ra các thị trường ngách, các trận địa mà đối thủ bỏ trống hay chưa quan tấm tới, để tấn công.

    3.2.6. Công chúng

    1. Giới tài chính – đầu tư: có ảnh hưởng tới nguồn vốn của công ty, bao gồm các ngân hàng, các tổ chức tài chình – tín dụng, các quĩ đầu tư…Những bản cáo bạch, báo cáo tài chính minh bạch và tích cực là các công cụ tốt để thu hút thiện cảm của giới này. Ví dụ: để có thể vay tiền mở rộng sản xuất, Thái Tuấn phải có các báo cáo tài chính minh bạch, chứng minh được khả năng trả nợ của mình.

    2. Giới truyền thông: người ta thường gọi đây là quyền lực thứ tư, nó có sức mạnh rất lớn trong việc truyền bá thông tin, bao gồm các cơ quan truyền thông như báo chí, phát thanh truyền hình, các cơ quan ngôn luận. Để phục vụ giới này, các doanh nghiệp thường có bộ phận PR ( Press Relation) riêng biệt và chuyên trách. Ví dụ: Thái Tuấn phải luôn quan tâm tới giới truyền thông để đưa tin về các bộ sưu tập mới, các giải thưởng mà công ty có được hay các hoạt động xã hội, từ thiện của công ty…

    3. Giới cầm quyền ( các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương, các bộ ngành chủ quản…), những cơ quan này có ảnh hưởng tới các quyết định mang tính chiến lược của doanh nghiệp, và tới sự cạnh tranh chung của ngành. Ví dụ: các quyết định về hạn ngạch nhập khẩu vải có thể ảnh hưởng tới thị trường tiêu thụ của Thái Tuấn.

    4. Giới hoạt động xã hội: còn được gọi là các nhóm công dân hành động, ví dụ các tổ chức bảo vệ môi trường, hội phụ huynh, các đoàn thể, hiệp hội của người tiêu dùng…Họ có thể có các phản ứng và tác động tới dư luận xã hội, quyết định của các cơ quan nhà nước. Do vậy các hoạt động Marketing rất cần quan tâm thỏa mãn giới này.

    5. Công chúng tại địa phương: gồm những người dân tại địa phương doanh nghiệp có nhà máy hay cơ sở kinh doanh và các vùng lân cận. Những người này có thể gây ảnh hưởng tới việc yêu cầu công ty thể hiện các trách nhiệm xã hội như đóng góp các quĩ địa phương, bảo đảm an toàn sản xuất, vệ sinh môi trường …

    6. Quần chúng đông đảo: tất cả các tầng lớp xã hội trên thị trường của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ chăm chăm o bế các tầng lớp thuộc khách hàng mục tiêu mà còn phải xây dựng hình ảnh và thiện cảm cho các đối tượng công chúng rộng rãi. Ví dụ, doanh nghiệp bán xe hơi không chỉ phục vụ các nhóm nhà giàu mà còn có các học bổng cho người nghèo, các quĩ phát triển cho dân tộc thiểu số v.v….

    7. Công chúng nội bộ: tất cả nhân viên của một doanh nghiệp từ chị lao công tới chủ tịch Hội đồng quản trị. Khi nội bộ công ty hiểu và có suy nghĩ tích cực về công ty và sản phẩm thì họ sẽ tìm cách lan truyền thái độ ấy cho những người xung quanh họ. Với công tác marketing cho các nhóm công chúng, người ta thường hay sử dụng bộ phận, hay có hẳn một phòng nghiệp vụ PR ( Public Relations). Tuy nhiên, rất nhiều doanh nghiệp hiểu lầm rằng PR là một bộ phận của Marketing. Thực tế, PR là một lĩnh vực hoàn toàn độc lập, đòi hỏi sự nghiên cứu thấu đáo và vận dụng khôn khéo, chứ không chỉ là một công cụ của Marketing.

    4.Mục tiêu và vai trò của Marketing dược:

    4.1. Mục tiêu marketing dược:

    4.1.1) Mục tiêu sức khỏe: Thuốc phải đảm bảo chất lượng, hiệu quả, an toàn.

    4.1.2) Mục tiêu kinh tế: sản xuất kinh doanh phải đạt hiệu quả để có thể tồn tại và phát triển.

    4.2. Vai trò marketing dược:

    4.2.1) Marketing dược có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô. Nhà nước, Bộ Y tế quản lý vĩ mô nền kinh tế y tế thông qua các chính sách, qui chế để điều tiết thị trường.

    4.2.2) Đối với quản lý vi mô marketing dược quyết định chiến lược marketing của công ty đó, nó không chỉ mang tính y tế mà cả tính kinh tế y tế.

    Từ khóa: marketing dược , marketing dược là gì, khái niệm marketing dược, định nghĩa marketing dược

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pr Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Pr
  • Digital Marketing: Khái Niệm, Vai Trò Và 11 Loại Hình Chính
  • Digital Marketing Là Gì? Vai Trò Của Digital Marketing Trong Thời Đại Số
  • Hệ Thống Marketing Và Vai Trò Nghiên Cứu Marketing Dịch Vụ
  • Khái Niệm & Bản Chất Của Marketing
  • Những Yếu Tố Nào Có Thể Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Lập Kế Hoạch Của Quản Lý?

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Ví Dụ Về Quá Trình Lập Kế Hoạch Và Tổ Chức Buổi Họp
  • Mục Tiêu Và Chức Năng Của Lập Kế Hoạch Sản Xuất Và Kiểm Soát Sản Xuất
  • Kế Hoạch Là Gì? Vai Trò Của Kế Hoạch Như Thế Nào Trong Doanh Nghiệp
  • Trưởng Phòng Kế Hoạch: Nhiệm Vụ, Chức Năng Và Trách Nhiệm
  • Bài 8, 9, 10: Tế Bào Nhân Thực
  • Lập kế hoạch là một thành phần chính của chức năng công việc của người quản lý. Họ thiết kế và nghĩ ra cách cải thiện công ty và phòng ban của họ. Tuy nhiên, các yếu tố trong và ngoài công ty có thể ảnh hưởng đến kế hoạch quản lý tốt hơn hoặc xấu hơn. Kế hoạch không bằng chứng không tồn tại, nhưng thực hiện các bước để giảm thiểu mọi tác động tiêu cực của việc lập kế hoạch có thể giúp đảm bảo thành công của dự án. Lập kế hoạch cho phép các nhà quản lý điều chỉnh môi trường mà các công ty của họ hoạt động thay vì chỉ phản ứng với những thay đổi.

    Cuộc thi

    Các công ty không nhanh chóng nhảy vào một thị trường sản phẩm hoặc dịch vụ đầy hứa hẹn có thể bị các đối thủ cạnh tranh vượt mặt. Lập kế hoạch có thể mất một khoảng thời gian để tham gia vào thị trường mới nổi, có lợi nhuận cho một sản phẩm hoặc dịch vụ mới khi một công ty muốn đánh bại các đối thủ cạnh tranh. Trong một số trường hợp, chi phí hoàn thành dự án cao hơn trước các đối thủ xuất phát từ việc thiếu kế hoạch kỹ lưỡng không có tác động tiêu cực đến doanh nghiệp. Lợi nhuận cao hơn từ việc đánh bại các đối thủ cạnh tranh với khách hàng nhiều hơn là bù đắp cho họ. Tuy nhiên, một lối vào vội vã vào một thị trường mới có thể tiêu tốn tiền của công ty trong thời gian dài và không tận dụng hết khả năng lập kế hoạch của các nhà quản lý.

    Nên kinh tê

    Nền kinh tế hoặc sức khỏe tổng thể của ngành công nghiệp của công ty cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng lập kế hoạch của người quản lý. Khi suy thoái đột ngột xảy ra, kế hoạch phải được dừng lại, điều chỉnh hoặc thực hiện theo một hướng mới. Nếu nền kinh tế cải thiện đáng kể, các nhà quản lý có thể loại bỏ các kế hoạch cũ và bắt đầu những kế hoạch mới. Các nhà quản lý phải linh hoạt để thay đổi các điều kiện kinh tế bên ngoài ngay cả khi họ đang ở giữa kế hoạch một dự án đặc biệt quan tâm đến họ.

    Quản lý

    Bản thân các nhà quản lý cũng ảnh hưởng đến chức năng lập kế hoạch của chính họ. Nếu họ không phải là người lập kế hoạch tốt nói chung hoặc không có kinh nghiệm, trình độ học vấn hoặc nền tảng về lập kế hoạch cần thiết để thành công, họ có nhiều khả năng lập kế hoạch kém. Họ có thể không hoàn toàn cam kết với quy trình lập kế hoạch, vì nó có thể phức tạp và tốn thời gian. Họ cũng có thể hy sinh tầm nhìn dài hạn để giải quyết các vấn đề ngắn hạn. Các nhà quản lý có thể phụ thuộc quá nhiều vào các phòng kế hoạch của họ để xây dựng và tổ chức tầm nhìn cho một dự án. Trách nhiệm lập kế hoạch vẫn thuộc về họ. Các nhà quản lý cũng có thể tập trung quá nhiều vào các biến họ có thể kiểm soát thay vì các biến mà họ không thể, chẳng hạn như nền kinh tế.

    Thông tin

    Khi kế hoạch xảy ra, điều quan trọng là phải có thông tin chính xác từ người tiêu dùng, thị trường, nền kinh tế, đối thủ cạnh tranh và các nguồn khác. Các nhà quản lý không có thông tin chính xác và kịp thời có nhiều khả năng lập kế hoạch kém và không đầy đủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khi Dạ Dày Và Lá Lách ‘kêu Cứu’, Chúng Sẽ Nói Gì Đầu Tiên Với Bạn?
  • Tất Cả Về Lá Lách
  • Chức Năng Chính Của Lá Lách Trong Cơ Thể. Kích Thước, Cấu Trúc Cơ Thể
  • Lá Lách Là Gì Và Nó Dùng Để Làm Gì: Các Chức Năng Chính Của Nó
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Lách
  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Công Tác Tổ Chức, Thực Hiện Và Kiểm Soát Hoạch Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Nêu Và Giải Thích Các Yếu Tố Bất Ngờ Ảnh Hưởng Đến Hoạch Định
  • Phân Tích Môi Trường Bên Ngoài, Môi Trường Bên Trong Của Doanh Nghiệp
  • Chức Năng Của Các Tế Bào Máu Và Huyết Tương
  • Mọi Thứ Bạn Cần Biết Về Sinh Lý Của Hồng Cầu (Phần 1)
  • Hồng Cầu Là Gì? Các Chỉ Số Xét Nghiệm Hồng Cầu
  • Trong công tác hoạch định vai trò của người lãnh đạo là hết sức quan trọng. Họ có những vai trò chủ yếu sau:

    – Sáng lập

    – Quyết định

    – Chỉ đạo và lãnh đạo

    – Tổ chức

    – Cổ vũ

    – Động viên

    – Kiểm soát

    Những yêu cầu cơ bản đối với những người lãnh đạo trong công tác hoạch định là:

    – Làm việc có khoa học, có nguyên tắc và có kế hoạch

    – Quyết đoán

    – Dám chịu trách nhiệm

    – Có khả năng nhìn xa trông rộng

    – Có năng lực

    – Đoàn kết, động viên và khơi dậy được trí tuệ, nhiệt tình, trách nhiệm của đội ngũ nhân viên

    – Biết lắng nghe ý kiến của người khác

    – Có bản lĩnh, kiến thức vững vàng, chuyên môn và nghiệp vụ hoạch định

    (b) Cán bộ tham mưu

    Không có một nhà lãnh đạo nào am hiểu hết mọi vấn đề trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay. Mọi quyết định về hoạch định thật sự có cơ sở khoa học khi nó khách quan, toàn diện. Như vậy có nghĩa là công tác hoạch định càng quan trọng thì vai trò tham mưu giúp việc của những cá nhân và bộ phận tham mưu giúp việc càng trở thành cấp thiết.

    2. Tiến bộ khoa học kỹ thuật

    Cách mạng khoa học kỹ thuật là một yếu tố thúc đẩy phát triển xã hội rất mạnh trong thời đại hiện nay. Thật hiếm có một lĩnh vực nào trong xã hội loài người lại không chịu sự tác động của yếu tố này. Trong lĩnh vực hoạch định cũng vậy, tiến bộ của khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ tiến trình tổ chức hoạch định ở mọi tổ chức. Với sự tiến bộ vượt bậc của điện tử, tin học và truyền thông, có thể nói không có lĩnh vực hoạch định nào mà không chịu ảnh hưởng của những yếu tố phát triển như vũ bão này. Không chỉ có vậy tiến bộ khoa học kỹ thuật còn làm thay đổi tận gốc rễ các quá trình tổ chức và thực hiện công tác hoạch định. Nghiên cứu và tìm ra phương pháp ứng dụng khoa học kỹ thuật để hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện và kiểm soát hoạch định là một trong những nhiệm vụ quan trọng ở mọi tổ chức trong giai đoạn hiện nay.

    3. Yếu tố cơ sở vật chất

    Trong công tác hoạch định, thiếu những trang thiết bị về cơ sở vật chất người ta không thể tổ chức, soạn thảo, thực hiện và kiểm soát hoạch định có hiệu quả. Một trong những con đường hoàn thiện và nâng cao chất lượng của công tác hoạch định đó là hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật của nó.

    4. Yếu tố tổ chức quản lý

    Chất lượng và hiệu quả của công tác hoạch định phụ thuộc rất nhiều vào trình độ tổ chức và quản lý của chính các công tác về soạn thảo, tổ chức và thực hiện các kế hoạch đã được đề ra. Để hoàn thiện những công tác này, thì cần thiết là trong mỗi tổ chức phải xây dựng được cho mình một bộ máy tổ chức hoạch định mạnh và một đội ngũ nhân viên có đủ năng lực, trình độ nghiệp vụ chuyên môn cần thiết.

    5. Yếu tố môi trường

    Nếu coi hoạch định là một hệ thống thì những yếu tố nằm ngoài hệ thống này là các yếu tố môi trường (tài chính, marketing, kế toán, nhân sự, xã hội, văn hóa, pháp luật, thiên nhiên v.v…) Tuy các yếu tố này không nằm trong hệ thống hoạch định (theo một nghĩa tương đối) nhưng chúng có những ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình tổ chức, thực hiện và kiểm soát của công tác hoạch định. Chính vì vậy cần phải phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và đề ra những biện pháp thích hợp để cải tạo và thích nghi với chúng sao cho có hiệu quả nhất trong các công tác về hoạch định.

  • Yeu to anh huong den cong cua co
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Chiến Lược Kinh Doanh Công Ty Cổ Phần Kinh Đô
  • Chức Năng Hoạch Định Trong Quản Lý
  • Vì Sao Hoạch Định Chiến Lược Kinh Doanh Là Yếu Tố Quyết Định?
  • Mô Hình Hoạch Định Kế Nhiệm Và Những Câu Hỏi Thường Gặp
  • 6 Câu Hỏi Quan Trọng Trong Hoạch Định Chiến Lược
  • 5 Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chiến Lược Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiến Lược Cạnh Tranh Là Gì? Tại Sao Cần Chiến Lược Cạnh Tranh?
  • Xây Dựng Chiến Lược Doanh Nghiệp
  • Chính Phủ Đưa Ra 7 Giải Pháp Để Phát Triển Vật Liệu Xây Dựng
  • Tổng Quan Về Chiến Lược Sản Phẩm Trong Marketing
  • Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại Việt Nam
  • 1. Sự cạnh tranh giữa các đối thủ

    Tính chất và mức độ cạnh tranh được quyết định phần lớn là bởi đối thủ cạnh tranh trong ngành của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có sản phẩm, dịch vụ tốt hơn chắc chắn sẽ giành giật được lợi thế cao hơn, đồng thời phát triển thị phần hiện có với mức lợi nhuận cao nhất.

    Một số những hình thức hay công cụ cạnh tranh phổ biến mà các đối thủ trong ngành hay sử dụng như: cạnh tranh giá cả, chất lượng sản phẩm. Thực tế cũng chỉ ra rằng, các đối thủ trong cùng một ngành luôn sử dụng những công cụ cạnh tranh tổng hợp, đó là sự kết hợp giữa cạnh tranh về giá cả, ưu điểm riêng khác biệt của sản phẩm, chiến lược bán hàng và tiếp cận khách hàng…

    2. Nguy cơ đe doạ nhập ngành từ đối thủ

    Hiểu rõ những đối thủ của mình đang làm gì, có điểm mạnh như thế nào luôn mang một ý nghĩa quan trọng cho chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với những đối thủ mạnh hơn, có khả năng chiếm lĩnh thị phần và mở rộng sản xuất. Những đối thủ lớn này chính là nguyên nhân lớn cho doanh nghiệp phải vạch ra những kế hoạch sẵn sàng ứng phó với thị trường cạnh tranh luôn trong tình trạng khốc liệt và thường xuyên thay đổi.

    Để chiến lược cạnh tranh không rơi vào “bế tắc”, giúp doanh nghiệp hạn chế dduwwojc sự đe dọa của các đối thủ, doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến nhiệm vụ nâng cao các hàng rào bảo vệ hợp pháp, tập trung đặc biệt vào phát triển công nghệ phục vụ cho haotj động sản xuất, kinh doanh.

    Xu hướng hội nhật kinh tế thế giới hiện nay, nhiều doanh nghiệp xuyên quốc gia, doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực kinh tế và công nghệ lớn mạnh đang trở thành đối thủ cực lớn đối với các doanh nghiệp trong nước, nhất là những doanh nghiệp có khả năng tài chính hạn hẹp và ít có cơ hội cạnh tranh.

    3. Khả năng thương lượng hay ép giá của người mua

    Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chỉ thực sự có ý nghĩa khi sản phẩm, dịch được khách hàng tiêu thụ và có lãi. Do đó, sự hài lòng, niềm tin của khách hàng khi sử dụng sản phẩm là điều vô cùng giá trị với doanh nghiệp. Và để có được sự tín nhiệm từ khách hàng, doanh nghiệp cần làm thật tốt quy trình nghiên cứu đối tượng khách hàng, thỏa mãn được nhu cầu và thói quen của họ khi tiêu dùng tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường.

    Một thực tế khách quan chỉ ra rằng, người mua luôn có xu hướng muốn trả giá thấp hơn so với giá mà doanh nghiệp đưa ra, nhiều khi dẫn tới tình trạng ép giá, gây áp lực lớn đối với doanh nghiệp. Nếu vừa đảm bảo hàng hóa, dịch vụ chất lượng tốt, giá thành rẻ thì ít nhiều ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì thế cho nên, để hạn chế bớt sức ép về giá cả, thương lượng của khách hàng, doanh nghiệp nên phân loại khách hàng của mình tùy theo mức độ nhu cầu và thị hiếu của họ. Đây cũng là cơ sở nhằm định hướng cho các chiến lược kinh doanh, marketing, chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp trong các giai đoạn tiếp theo.

    4. Khả năng thương lượng hay ép giá của người cung ứng

    Nhà cung cấp hay những người cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản phẩm, dịch vụ luôn muốn thu về nhiều lợi nhuận cho mình, điều này kéo theo việc họ có thể quyết định tăng giá hay giảm chất lượng nguyên liệu mà doanh nghiệp đặt mua và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.

    Mặt khác, doanh nghiệp luôn phải sẵn sàng ứng phó với sự cạnh tranh từ ngay trong chính nội bộ của mình: từ lực lượng lao động, những nhân sự có năng lực và trình độ cao luôn mong muốn được nhận nhiều quyền lợi trong tổ chức. Thách thức cho doanh nghiệp đó chính là chính sách nào giúp thu hút và giữa chân những nhân sự giỏi, những người là tiền đề quan trọng cho sự phát triển, thành công của doanh nghiệp.

    5. Sự đe dọa từ các sản phẩm thay thế

    Để sản phẩm, dịch vụ luôn được tối ưu về chất lượng, đem tới cho khách hàng những trải nghiệm tốt nhất có thể khi sử dụng,…doanh nghiệp cần có những sự đổi mới và tải tiến. Điều này có thể giúp cho doanh nghiệp chiếm ưu thế về chất lượng trên thị trường, tuy nhiên vẫn có những sự đe dọa nhất định từ các sản phẩm thay thế đó là giá thành phải cao hơn. Vì vậy, biện pháp để hạn chế điều này đó là doanh nghiệp cần cân nhắc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý để giảm thiểu giá thành và đồng thời tăng cường những đặc tính nổi trội, chất lượng sản phẩm để thu hút khách hàng quan tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Bước Phân Tích Đối Thủ Cạnh Tranh Trong Marketing
  • Nâng Cao Lợi Thế Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Với 3 Chiến Lược Kinh Điển
  • 5 Bí Kíp “vàng” Giúp Tăng Doanh Thu Phòng Cho Khách Sạn
  • Các Phương Pháp Để Gia Tăng Lợi Nhuận Cho Khách Sạn
  • 3 Chiến Lược Tăng Doanh Thu Cho Kinh Doanh Nhà Hàng Phát Triển
  • #1 Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Nội Dung Của Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Yếu Tố Tác Động Đến Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Chức Năng Tuyệt Vời Của Cổng Usb Otg Trên Android
  • Cáp Chuyển Đổi Công Nghệ Otg Dùng Cho Điện Thoại Android Hỗ Trợ Sạc Và Chức Năng Truyền Dữ Liệu Cùng Một Lúc (Xtm
  • Cách Group Và Ungroup Dữ Liệu Trong Pivot Table
  • Thực Phẩm Chức Năng Omega 3 6 9
  • Trong sự phát triển tự nhiên của đời sống xã hội, bên cạnh những mối quan hệ cần thiết, có ích cho xã hội thì cũng luôn tồn tại những quan hệ không có ích, thậm chí có hai cho trật tự chung. Để duy trì ổn định, trật tự xã hội đòi hỏi các mối quan hệ trong xã hội phải được điều chỉnh, nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các mối quan hệ có lợi cho cộng đồng được phát triển, ngăn chặn và xóa bỏ đi những mối quan hệ mà cộng đồng không mong muốn. Để làm được điều này thì cần có những công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ như: đạo đức, tín điều tôn giáo, pháp luật,… Ngày nay, pháp luật trở thành công cụ hàng đầu, quan trọng và có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, pháp luật cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố nhất định. Với đề tài ” Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung của Pháp luật Việt Nam hiện nay” tổng đài tư vấn pháp luật Luật Quang Huy chúng tôi sẽ tìm hiểu và giải quyết vấn đề như sau:

    • Giáo trình lí luận nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật hà Nội. Nxb. CAND, Hà Nội, 2013
    • Hiến pháp năm 2013

    Định nghĩa pháp luật

    Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, vì lợi ích của giai cấp thống trị và vì sự phát triển của toàn xã hội.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung của Pháp luật Việt Nam hiện nay

    Điều kiện kinh tế, xã hội

    Theo Mac: “Trong thời đại nào cũng thế, chính là vua chúa phải phục tùng các điều kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa ra lệnh cho các điều kiện kinh tế được, chẳng qua chế độ pháp luật về chính trị, cũng như về dân sự chỉ là cái việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của quan hệ kinh tế”, các chính sách và pháp luật của nhà nước , suy đến cùng chỉ là phản ánh nhu cầu thống trị về kinh tế của giai cấp nắm giữ quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội. Pháp luật chủ nô ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở các quan hệ sản xuất chiếm hữu nô nệ mà trong đó, tư liệu sản xuất và cả người sản xuất đều thuộc sở hữu của chủ nô, do đó pháp luật chủ nô thể hiện ý chí của nhà nước chủ nô, là công cụ để chủ nô sử dụng để bảo vệ lợi ích củ chủ nô, chống lại nô lệ và những người lao động khác. Pháp luật phong kiến ra đời gắn liền với phương thức sản xuất phong kiến, với đặc trưng là sự chiếm hữu tư nhân của địa chủ về đất đai, do đó pháp luật phong kiến là hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành nhằm hợp pháp hóa ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến, buộc các giai cấp khác làm theo. Đến khi pháp luật tư sản ra đời, do phương thức sản xuất có sự thay đổi: phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với nền kinh tế thị trường, vì vậy pháp luật phải thiết lập quyền tự do kinh doanh, tự do thương mại, hợp đồng, tự do cạnh tranh… Cũng như ba kiểu pháp luật trước, pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng có nội dung do bản chất của quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa quy định. Được xây dựng và quy định bởi quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đặc trưng bởi chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, do đó pháp luật xã hội chủ nghĩa có nội dung khác hoàn toàn với trước. Nội dung đó chủ yếu là những quy định đản bảo tính dân chủ, thể hiện ý chí nguyện 3 vọng của nhân dân, là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực của mình, là công cụ trong tay nhà nước xã hội chủ nghĩa để bảo vệ và xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

    Nước ta đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nên pháp luật của nước ta cũng phải phù hợp với nền kinh tế đó. Hiện nay, nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường, thành phần kinh tế đa dạng, do đó hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng có nhiều sự thay đổi tích cực nhằm phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước như xác nhập hợp lí các thành phần kinh tế và các cơ chế quản lí kinh tế, các loại hình kinh doanh; tạo điều kiện phát triển đồng bộ, quản lí có hiệu quả sự vận hành của các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững.

    Đường lối chính sách của Đảng

    Ví dụ: Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã ghi: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp; có văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Để thể chế hóa điều này, Hiến pháp năm 2013 của nước ta có những quy định rất rõ ràng về vai trò lãnh đạo của Đảng (Điều 4, Hiến pháp 2013), về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Chương II, Hiến pháp 2013), kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục (Chương III, Hiến pháp 2013).

    Các quan điểm, học thuyết, tư tưởng của các nhà khoa học

    Hệ thống pháp luật của nước ta là do các nhà khoa học đầu ngành xây dựng nên, dó đó các học thuyết, quan điểm của các nhà khoa học có ảnh hưởng rất lớn đến nội dung của pháp luật Việt Nam hiện nay. Có thể kể đến những học thuyết, tư tưởng như:

    • Học thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu với nội dung chính là phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh quyền: lập pháp giao cho Quốc hội, hành pháp giao cho Chính phủ (hoặc Nghị viện ở các nước tư bản), tư pháp giao cho tòa án.
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng pháp luật xã hội chủ nghĩa, lấy dân làm gốc, quyền lực thuộc về nhân dân.
    • Đường lối, chính sách của Đảng mà kim chỉ nam là chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Việc áp dụng những học thuyết, tư tưởng này vào công việc xây dựng pháp luật của Việt Nam hiện nay luôn được thực hiện một cách linh hoạt, không áp đặt một cách máy móc. Ví dụ như với học thuyết tam quyền phân lập, nước ta đã kế thừa những hạt nhân hợp lí của học thuyết này vào việc xác lập chế độ chính trị: khoản 3, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”

    Các phong tục, tập quán

    Ngoài việc ban hành ra những luật mới, nhà nước còn thừa nhận những phong tục, tập quán có sẵn, phù hợp với ý chí của nhà nước thành pháp luật (tập quán pháp).

    Phong tục tập quán là những gì đã quen thuộc, là những thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày, được mọi người công nhận và làm theo. Ở Việt Nam, các phong tục, tập quán được biểu hiện cụ thể ở từng nơi, tạo nên bản sắc rất riêng của từng vùng miền.

    Với ưu điểm gần gũi với đời sồng cộng đồng , là những thói quen đã được hình thành từ lâu đời và được mọi người làm theo nên những phong tục tập quán được nâng lên thành pháp luật rất dễ đi vào đời sống, nhân dân cũng dễ dàng thực hiện hơn.

    Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay, có rất nhiều điều luật chịu ảnh hưởng của phong tục, tập quán như: Khoản 1 Điều 28 BLDS năm 2005, quy định: “Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ”. Ngoài ra, vào dịp tết Nguyên Đán cổ truyền hoặc ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, học sinh, sinh viên, công chức nhà nước, công nhân… đều được nghỉ.

    Các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết

    Trong thời buổi hội nhập như hiện nay, không quốc gia nào có thể tồn tại một cách biệt lập, không có quan hệ với nước khác. Điều đó cũng có nghĩa là các quốc gia đó phải tham gia các công ước, điều ước quốc tế. Nước Việt Nam cũng như vậy, ngày nay, với chính sách mở cửa hội nhập, đất nước ta đã tham gia kí kết rất nhiều các công ước quốc tế.

    Các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia như: Công ước của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường (26/8/1980), Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa, 1973 (20/1/1994). Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (25/7/1994). Có ảnh hưởng không nhỏ tới nội dung của pháp luật Việt Nam hiện nay, bởi các điều luật trong hệ thống pháp luật phải phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia kí kết.

    Như vậy, có thể thấy nội dung của Pháp luật Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau. Do đó khi xây dựng hệ thống pháp luật, chúng ta cần phải có cái nhìn thật toàn diện, tổng thể về các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung pháp luật, đồng thời phải có quan điểm lịch sử cụ thể trong công tác nghiên cứu pháp luật, nắm bắt kịp thời sự vận động, phát triển của kinh tế xã hội để tiến hành sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Có như cậy thì pháp luật mới phát huy hết vai trò, tác dụng của mình, là động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống văn minh con người

    Trân trọng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Của Nhà Nước Đương Đại
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Đặc Trưng Của Nhà Nước? Chức Năng Cơ Bản Của Nhà Nước Là Gì?
  • Các Công Cụ Hữu Ích Trong Quá Trình Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Bao Gồm Các Hoạt Động Nào?
  • Hãy Nêu Và Giải Thích Các Yếu Tố Bất Ngờ Ảnh Hưởng Đến Hoạch Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Môi Trường Bên Ngoài, Môi Trường Bên Trong Của Doanh Nghiệp
  • Chức Năng Của Các Tế Bào Máu Và Huyết Tương
  • Mọi Thứ Bạn Cần Biết Về Sinh Lý Của Hồng Cầu (Phần 1)
  • Hồng Cầu Là Gì? Các Chỉ Số Xét Nghiệm Hồng Cầu
  • Số Lượng Hồng Cầu Bình Thường Là Bao Nhiêu?
  • Câu 1: Hãy nêu và giải thích các yếu tố bất ngờ ảnh hưởng đến hoạch định.

    Phầ n lý thuy ế t:

    Trước tiên, để có thể nêu và giải thích được những yếu tố bất ngờ ảnh

    hưởng đến hoạch định của tổ chức, ta phải hiểu được hoạch định là như thế nào

    và những yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định là gì.

    Hoạch định là công việc đầu tiên và căn bản của hoạt động quản trị, là

    một trong 4 chức năng cơ bản của quản trị. Hoạch định được hiểu là một quá

    trình ấn định những mục tiêu, xây dựng và chọn lựa những biện pháp tốt nhất để

    thực hiện hiệu quả các mục tiêu đó. Hoạch định xác lập tình hình của tổ chức

    trong tương lai, qua đó nhà quản trị có thể nhận định được những cơ hội mà rủi

    ro cũng như tìm giải pháp để tận dụng cơ hội và né tránh các rủi ro cho việc đạt

    được mục tiêu của tổ chức. Do vậy, trong một tổ chức, thực hiện công việc

    hoạch định mang lại rất nhiều lợi ích như:

    – Định hướng: Tạo ra tư duy có hệ thống để tiên liệu các tình huống quản

    trị.

    – Phối hợp mọi nỗ lực của tổ chức trong quá trình thực hiện mục tiêu.

    – Tập trung vào mục tiêu tránh sự lãng phí.

    – Tạo sự hợp tác và phối hợp giữa các cá nhân và bộ phận trong tổ chức.

    – Tăng độ linh hoạt và thích nghi với những thay đổi của môi trường bên

    ngoài.

    – Phát triển các tiêu chuẩn kiểm tra hữu hiệu.

    Quá trình hoạch định bao gồm các bước cơ bản sau:

    – Nhận thức đúng về sứ mạng và mục đích của tổ chức.

    – Xác định mục tiêu.

    – Xác định tình thế hiện tại của tổ chức.

    – Xác địnnh các thuận lợi và khó khăn của việc hoành thành mục tiêu.

    – Xây dựng kế hoạch hoặc hệ thống những hoạt động để đạt mục tiêu.

    3

    – Thực hiện kế hoạch.

    Phầ n trình bày câu h ỏi 1:

    “Mặc dầu người ta coi hoạch định là nền tảng của quản trị, nhưng nó

    vẫn là nhiệm vụ được thi hành dở nhất trong công tác quản trị” (Harold

    Koontz).

    Câu nhận định của Harold Koontz chứa đựng một sự thật trong công tác

    hoạch định của doanh nghiệp. Vì dù ở thời điểm hiện tại chúng ta có đưa ra một

    mục tiêu và các bước thực hiện mục tiêu chi tiết đến đâu thì khi được áp dụng

    vào thực tế sự thay đổi vẫn diễn ra như một phần tất yếu. Sự thay đổi là do các

    yếu tố bất ngờ tác động đến các bước trong hoạch định. Các yếu tố bất ngờ được

    hiểu như những tình huống đột ngột xuất hiện nằm ngoài dự tính của các nhà

    hoạch định gây ảnh hưởng đến các kế hoạch đã được hoạch định sẵn.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định đến từ môi trường bên ngoài và

    môi trường trong nội bộ của tổ chức.

    1.

    Về môi trường bên ngoài của tổ chức

    Ta có thể chia môi trường bên ngoài của doanh nghiệp thành môi trường

    tổng quát và môi trường tác nghiệp. Môi trường tổng quát bao gồm những yếu

    tố như chính trị – pháp luật, văn hóa- xã hội, tự nhiên và công nghệ.

    Trong những mặt kể trên của hai môi trường, văn hóa là yếu tố ít thay

    đổi. Vì văn hóa là những chuẩn mực giá trị được chấp nhận trong một cộng

    đồng. Văn hóa thay đổi là do hệ quả của sự tác động lâu dài của các yếu tố vĩ

    mô khác. Sự thay đổi của văn hóa thường diễn ra chậm hơn các yếu tố chính trịpháp luật, yếu tố kinh tế,… Các nhà họach định có thể nắm bắt được sự thay đổi

    của yếu tố văn hóa và xây dựng chiến lược phù hợp, cho nên yếu tố văn hóa

    không phải là yếu tố bất ngờ đối với các nhà hoạch định.

    1.1

    Về môi trường tổng quát

    4

    5

    6

    hiểm, đây là một chiến lược hoạch định nhằm cạnh tranh với các doanh nghiệp

    kinh doanh nón bảo hiểm khác cũng như bảo vệ thị phần của mình trên thị

    trường. Ngược lại, khi chính phủ ban hành quy định này đã tạo điều kiện và cơ

    hội cho các doanh nghiệp kinh doanh nón bảo hiểm phát triển và đưa sản phẩ m

    của mình đến tay người tiêu dùng. Đến thời điểm hiện nay thì nón bảo hiểm đã

    trở thành một loại hàng hóa thông thường và được sử dụng rộng rãi.

    Qua những dẫn chứng trên ta có thể thấy, những biến động của yếu tố

    chính trị – pháp luật sẽ tạo ra những cơ hội và rủi ro lớn đối với doanh nghiệp.

    Các nhà quản trị cần phải nắm bắt và nhạy cảm với những thay đổi dù nhỏ của

    môi trường để có chiến lược hoạch định tốt nhằm tận dụng cơ hội cũng như đối

    phó với những nguy hiểm sẽ xảy ra.

     Các yếu tố của môi trường kinh tế là yếu tố rất quan trọng, có tác động

    trực tiếp một cách tích cực hoặc tiêu cực đến doanh nghiệp, mở ra cơ hội hay

    những mối đe dọa ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh và phát triển của doanh

    nghiệp. Một số yếu tố cơ bản điển hình nhất có thể kể đến như diễn biến tình

    hình kinh tế của các nền kinh tế lớn trên thế giới, các nền kinh tế trong khu vực,

    đối với kinh tế trong nước thì những yếu tố thường có nhiều biến động như lãi

    xuất và xu hướng của lãi suất, tỷ giá và xu hướng của tỷ giá, các loại thuế suất

    đối với doanh nghiệp…

    Lãi suất và xu hướng lãi xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược kinh

    doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có nguồn vốn hoạt

    động được vay trực tiếp từ ngân hàng hay các tổ chức tài chính khác. Ví dụ như

    khi lãi suất cho vay của ngân hàng giảm sẽ kích thích sự vay vốn của doanh

    nghiệp làm tăng khả năng sản xuất và đầu tư của doanh nghiệp trên thị trường.

    Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền trong nước so với giá của các ngoại tệ khác,

    xu hướng tỷ giá làm thay đổi những điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp, đặc

    biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đối với sự thay đổi của thuế suất sẽ

    7

    làm mức chi phí của doanh nghiệp thay đổi, từ đó làm ảnh hướng đến lợi nhuận

    của doanh nghiệp. Và còn rất nhiều những yếu tố về kinh tế khác có thể chi phối

    đến việc hoạch định của doanh nghiệp trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn

    mà các nhà quản trị phải nhận biết kịp thời hoặc tìm cách đối phó hay đón nhận

    những cơ hội mà các yếu tố đó mang lại.

    Đáng kể nhất là những biến động mang tính toàn cầu như cuộc khủng

    hoảng tài chính xảy ra ở Mỹ năm 2008. Đây là cuộc khủng hoảng trên nhiều

    mặt từ tín dụng, bảo hiểm cho đến thị trường chứng khoán. Cuộc khủng hoảng

    này nhanh chóng lan rộng và là nguồn gốc trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài

    chính toàn cầu, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế của các nước trên thế giới 4.

    Nền kinh tế Mỹ luôn chiếm vị thế hàng đầu và có ảnh hưởng rộng khắp thế giới

    kể từ sau thế chiến thứ II. Do vậy, khó ai có thể đoán trước được một cuộc

    khủng hoảng kinh tế to lớn có thể xảy ra tại Mỹ năm 2008 và hậu quả còn kéo

    dài cho đến hiện tại.

    Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế

    suy thoái, xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước xem Mỹ

    như một thị trường xuất khẩu quan trọng như ở khu vực Châu Á. Một số nền

    kinh tế ở đây như Nhật Bản, Singapore và Hong Kong đều rơi vào suy thoái.

    Các nền kinh tế khác đều tăng trưởng chậm lại. Các doanh nghiệp xuất khẩu của

    các nước này đều lâm vào tình trạng khó khăn, đình đốn. Từ đó, các chiến lược

    hoạch định lâu dài của các doanh nghiệp bị ảnh hướng và phải thay đổi để đối

    phó với tình hình khủng hoảng ngày càng lan rộng.

    Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Mỹ chịu tác động nghiêm

    trọng cả về tài chính lẫn kinh tế. Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý

    rơi vào suy thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha đều giảm tăng trưởng. Khu vực

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%A0i_ch%C3%ADnh_Hoa_K%

    E1%BB%B3_2007-2009

    8

    bằng sữa tươi tiệt trùng. Nhóm thứ nhất thì hoàn toàn khỏe mạnh, tăng trưởng,

    năng động và nhanh nhẹn trong suốt quãng đời của chúng, trong khi nhóm thứ

    hai – được nuôi bằng sữa tiệt trùng – thì thiếu sức sống, đờ đẫn, và rất dễ

    nhiễm những chứng bệnh mạn tính xuất phát từ sự suy thoái, mà chúng ta

    thường gặp ở con người, như tim mạch, suy thận, loãng xương, viêm gan…

    Nhưng điều khiến bác sĩ Pottenger chú ý hơn cả là những gì xảy ra đến cho thế

    hệ thứ hai và thứ ba. Thế hệ mèo thứ nhất được sinh ra từ nhóm được nuôi bằng

    sữa tiệt trùng đều có những cái răng nhỏ và yếu, xương yếu – một dấu hiệu rõ

    rệt của sự thiếu calcium, cho thấy lượng calcium được hấp thu từ sữa tiệt trùng

    là không nhiều. Đám con của nhóm mèo được nuôi bằng sữa tươi nguyên chất

    thì mạnh khỏe như cha mẹ của chúng. Nhiều mèo con thuộc thế hệ thứ ba của

    nhóm được nuôi bằng sữa tiệt trùng đều là những con mèo bị đẻ non, và những

    con mèo sống sót của đám này đều bị vô sinh và không thể sinh đẻ. Thí nghiệm

    của bác sĩ Pottenger phải kết thúc vì không có thế hệ thứ tư trong đám mèo

    được nuôi bằng sữa tiệt trùng, tuy nhóm mèo được nuôi bằng sữa tươi nguyên

    chất thì tiếp tục sinh sôi nảy nở và phát triển… Chỉ sau ba thế hệ, những con

    mèo được nuôi bằng sữa tiệt trùng của bác sĩ Pottenger đã trở nên vô sinh và

    suy nhược. Đó là điều khiến ta nghĩ đến những thế hệ người Mỹ, người Âu châu

    đã uống sữa tiệt trùng. Ngày nay vô sinh trở thành một vấn đề hàng đầu đối với

    những cặp vợ chồng trẻ Hoa Kỳ, trong đó chứng thiếu Calcium và bắt đầu lan

    tràn đến nỗi có trên 90% trẻ em Hoa Kỳ phải khổ sở vì sâu răng mạn tính. Vấn

    đề càng trở nên tồi tệ hơn khi giờ đây sữa tươi được “thuần nhất hóa” nghĩa là

    được xử lý sao cho các hạt mỡ tan ra và chất kem được trộn đều với phần còn

    lại. Nhưng điều đó cũng khiến những mảnh rất nhỏ trong chất béo của sữa dễ

    dàng ngang qua màng ruột non, làm gia tăng đáng kể lượng chất béo bị biến

    chất và cholesterol được hấp thu bởi cơ thể. Thực vậy, bạn hấp thu nhiều mỡsữa từ sữa được thuần hóa từ kem nguyên chất.” Và “nếu điều trên không đủ

    chứng minh về những tác dụng không tốt của sữa tiệt trùng, thì bạn hãy ghi

    nhận rằng ngay cả những con bê mới sanh được nuôi bằng sữa của mẹ chúng,

    10

    11

    lớn. Đơn cử một vài ví dụ về các nhà sản xuất bị ảnh hưởng đến hoạch định như

    Toshiba, Toyota và hãng SMBC Friend Securities. Ông Toshihiko Matsuno,

    chiến lược gia cao cấp của hãng SMBC Friend Securities tại Tokyo, cho biết:

    “Chúng tôi không biết đến bao giờ các cơ sở sản xuất mới có thể trở lại hoạt

    động bình thường khi các nhà máy điện hạt nhân bị hư hỏng như hiện nay”. Sự

    kiện mất điện cũng gây ảnh hưởng nặng nề đến ông lớn Toyota trong ngành

    công nghiệp xe hơi khi Toyota phải đóng cửa 12 nhà máy sản xuất do không có

    điện sản xuất sau khi nhà máy điện hạt nhân bị nổ, “theo dự tính, sản lượng của

    hãng Toyota sẽ giảm 40.000 chiếc, khiến nhà sản xuất ô tô lớn nhất Nhật Bản

    này giảm 6% lợi nhuận, tương đương 6 tỷ yên (72 triệu USD) lợi nhuận với mỗi

    ngày ngừng hoạt động tại Nhật Bản. Thậm chí, một số nhà đầu tư đã bắt đầu

    rao bán cổ phiếu của Toyota. Và cổ phiếu của Toyota đã giảm 7,9%, mức giảm

    nghiêm trọng nhất kể từ tháng 12/2008.” 6 Công ty Toshiba và Sony cũng đã

    đóng cửa các nhà máy tại Nhật vì ảnh hưởng nặng nề của thiên tai nêu trên.

    Không lâu sau đó, trận lũ lụt lịch sử ở Thái Lan cũng đã cuốn trôi đi 43 tỷ

    USD của nền kinh tế Thái. Nó như một đòn đánh gây tổn thất rộng và sâu vào

    đất nước chùa Vàng. Theo nguồn tin cho biết: “Hơn 70% trong số 12.000 nhà

    hàng đăng ký kinh doanh tại Băng -c ốc ph ải đóng cử a, thiệ t h ại kho ả ng tám t ỷ

    bạt/tháng. Nhi ề u ngành kinh t ế khác như s ản xu ất nông nghi ệ p và du l ịch cũng

    bị ảnh hưở ng n ặng n ề bởi lũ lụt. Theo s ố liệ u thống kê ban đầu, đợt lũ lụt

    nghiêm tr ọng tạ i Thái Lan hiệ n nay làm ho ạt độ ng s ả n xu ấ t lúa g ạ o c ủa nướ c

    này b ị thiệ t h ại n ặng. Thái Lan s ẽ m ất tr ắ ng kho ả ng sáu tri ệ u tấ n g ạ o trong

    năm tài khoá 2011 -2012. Ướ c tính, s ản lượ ng g ạ o c ủa nướ c xu ấ t kh ẩ u g ạo l ớ n

    nhấ t thế giới trong năm nay giảm còn 19 tri ệ u tấn. Các hãng l ữ hành cho bi ế t,

    nhiều du khách đã đặ t tour du l ịch Thái L an trong năm nay, nhưng do hơn một

    nửa đất nướ c b ị ngập nên nhi ều du khách đã hủy tour du l ịch. Ngành du l ịch

    http://gafin.vn/2011031512253469p0c32/toyota-bi-that-thoat-72-trieu-usd-ngay-do-song-than.htm và

    http://www.baomoi.com/Kinh-te-Nhat-bi-anh-huong-nang-sau-dong-dat/45/5888130.epi

    12

    Thái Lan ướ c tính, s ố khách du l ịch qu ốc t ế đến nước này trong năm nay sẽ ch ỉ

    còn 16 tri ệu lượ t khách, gi ảm hai tri ệu lượ t khách so d ự báo trướ c đây.” 7 V ớ i

    tình hình bi đát này thì có lẽ các nhà ho ạch định c ủa các doanh nghiệ p kinh

    doanh trên đấ t Thái phả i sáng suố t tiế n hành ho ạch định lạ i nh ữ ng k ế ho ạ ch

    trướ c mắt để ph ục hồ i lạ i việ c kinh doanh c ủa mình góp phầ n làm ph ục h ồ i nề n

    kinh tế Thái.

     Yếu tố về công nghệ là một yếu tố năng động tạo ra những cơ hội và

    thách thức cho doanh nghiệp. Yếu tố này có sự vận động và phát triển không

    ngừng, do đó thời gian hoạch định của công ty trong những ngành phụ thuộc

    vào công nghệ thường ngắn hơn so với các ngành khác. Nhưng dù công ty có sự

    hoạch định trong tầm ngắn hạn, cũng không thể tránh khỏi việc các yếu tố công

    nghệ thay đổi bất ngờ. Sự thay đổi đó có thể đến từ những ý tưởng mới hoặc

    những phát kiến của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu.

    Ta phải kể đến một ví dụ điển hình từ Henry Ford (30/7/1863 –

    7/4/1947), là người sáng lập Công ty Ford Motor. Ông là một trong những

    người đầu tiên áp dụng dây chuyền lắp ráp trong sản xuất ô tô.

    Ông đưa ra ý tưởng áp dụng dây chuyền sản xuất hiện đại nhằm hạ giá

    thành sản phẩm ô tô Model-T để cạnh tranh với các hãng sản xuất xe hơi khác.

    Và ý tưởng đó đã mang về cho ông thành công rực rỡ. Công ty Ford Motor đã

    giảm được thời gian sản xuất ô tô Model-T từ 12 giờ xuống chỉ còn 1 giờ rưỡi.

    Năm 1912, công ty Ford tung ra thị trường 82.000 xe Model-T với giá bán lẻ

    850 USD, nhưng đến năm 1916, công ty sản xuất 585.000 xe hơi với giá chỉ còn

    360 USD.

    http://baobacgiang.com.vn/228/81936.bgo

    13

    Năm 1914, nhà máy của Ford Motor đã áp dụng công nghệ đột phá vào

    sản xuất, cho phép tạo ra một bộ khung xe hoàn chỉnh chỉ trong 93 phút, trước

    đây là 728 phút.

    Henry Ford không chỉ cách mạng ngành công nghiệp sản xuất ở Mỹ và

    châu Âu mà còn có nhiều ảnh hưởng tới kinh tế và xã hội thế kỷ XX. “Chủ

    nghĩa Ford” xuất hiện, đó là sự phối hợp giữa sản xuất hàng loạt, tiền lương cao

    và giá thành sản phẩm thấp cho người tiêu dùng.8

    Từ tấm gương trên của Henry Ford, các công ty sản xuất có thể thay đổi

    hoạch định chiến lược của mình bằng việc ứng dụng dây chuyền công nghệ sản

    xuất sản phẩm (đặc biệt là các công ty sản xuất ô tô) và chú trọng hơn đến yếu

    tố con người làm việc trong tổ chức (như chuyên môn hóa, cải thiện tiền lương

    cho công nhân…).

    Sau khi đã điểm qua các yếu tố bất ngờ xảy ra trong môi trường tổng

    quát, để tiếp tục bài viết nhóm em xin trình bày về những yếu tố bất ngờ xảy ra

    trong môi trường tác nghiệp của doanh nghiệp.

    1.2

    Về môi trường tác nghiệp

    http://kynang.7pop.net/2011/01/henry-ford-tam-nhin-vi-ai.html

    14

    – đối thủ cạnh tranh bao gồm sự cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện hữu

    trong ngành, sự cạnh tranh của những đối thủ mới sẽ gia nhập ngành và

    các đối thủ cạnh tranh tiềm năng sản xuất các loại hàng hóa thay thế sản

    phẩm của doanh nghiệp trong ngành.

    được nhưng mới đây giá cổ phiếu của hãng này vừa sụt giảm 7,7%, mức lớn

    nhất trong 4 năm qua cũng vì chịu sự ảnh hưởng của cụ kiện đánh cắp ý tưởng

    trên. Với mức giảm lớn như thế này thì Samsung đã mất trắng 12 tỷ USD tổng

    giá trị của mình chỉ trong một thời gian ngắn. Ngoài ra nếu lệnh cấm bán các

    sản phẩm của Samsung từ phía tòa án được tuyên bố thì Samsung phải chịu

    thêm 1 thiệt hại lớn dù rằng những sản phẩm bị cấm bán không phải là những

    sản phẩm hút hàng của hãng này.” 9

    Vấn đề đối thủ cạnh tranh và những thiết kế có nét tương đồng kì lạ với

    mẫu thiết kế của công ty mình luôn là một đe dọa cho các nhà hoạch định. Và

    khi điều đó xảy ra trên thực tế thì quả là kế hoạch hoạch định của công ty sẽ bị

    ảnh hưởng đáng kể.

     Bàn tiếp về câu chuyện công nghệ, ta có thể thấy một yếu tố bất ngờ xảy

    ra có thể làm phá sản toàn bộ kế hoạch hoạch định chiến lược của các nhà quản

    trị khi có sự xuất hiện của những đối thủ cạnh tranh tiềm năng. Họ đem đến

    những mặt hàng mới hiện đại và tiện lợi hơn thay thế cho những mặt hàng hiện

    tại.

    Trong quá khứ, một minh chứng cụ thể là sự biến mất của máy nghe băng

    catsette khi mọi người bắt đầu sử dụng máy nghe đĩa và sự biến mất của các

    chiếc máy ảnh phim tráng khi có sự xuất hiện của máy chụp hình kĩ thuật số. Và

    giờ đây máy nghe đĩa cũng đã trở nên lỗi thời khi người ta bắt đầu sử dụng mp3,

    ipod hay các loại điện thoại di động đa tính năng. Những cái chết của các thiết

    bị nêu trên thực sự đã gây ra những ảnh hưởng đáng kể thậm chí làm phá sản kế

    hoạch hoạch định của các nhà sản xuất hay nhà phân phối của các sản phẩm

    trên.

    http://genk.vn/c187n20120827054729519/samsung-thua-kien-apple-khong-chi-la-1-ty-usd.chn

    16

    Minh – Phó Tổng giám đốc CTCP Ánh Dương Việt Nam (HOSE: VNS) cho

    rằng, việc tăng giá xăng mang yếu tố vĩ mô, nhằm bình ổn giá và mặt bằng

    chung cho thị trường. Tuy nhiên, động thái này không chỉ ảnh hưởng đến doanh

    nghiệp trong ngành vận tải mà còn lan rộng ra nhiều ngành hàng khác. Chỉ có

    điều doanh nghiệp vận tải chịu ảnh hưởng trực tiếp, đây được xem như là thuế

    trực thu và doanh nghiệp phải chấp nhận thực tế…Nếu Bộ tài chính tăng giá

    xăng khoảng 3,000 đồng/lít thì cước taxi cũng phải tăng tối thiểu 1,000 đồng…

    Ngành taxi hiện đang trong giai đoạn phát triển, nên những chính sách vĩ mô sẽ

    ảnh hưởng đến hoạt động của công ty khi người dân thu hẹp chi tiêu lại”10

    Khép lại môi trường bên ngoài, bây giờ ta sẽ đến với môi trường bên

    trong của doanh nghiệp để tìm hiểu những yếu tố bất ngờ xuất hiện như thế nào

    trong nội bộ doanh nghiệp?

    Về môi trường nội bộ của tổ chức:

    2.

    Môi trường nội bộ bao gồm các yếu tố bên trong của tổ chức có ảnh

    hưởng đến kết quả hoạt động của tổ chức. Cụ thể môi trường nội bộ gồm các

    yếu tố:

    – Nguồn nhân lực

    – Khả năng nghiên cứu và phát triển

    – Cơ sở vật chất – trang thiết bị

    – Sản xuất

    – Tài chính là một yếu tố đặc biệt, là nguồn lực để góp phần hoàn thành

    mục tiêu của doanh nghiệp.

    – Marketing

    – Văn hóa của doanh nghiệp.

    http://www.baomoi.com/Tang-gia-xang-dau-doanh-nghiep-van-tai-noi-gi/50/5720060.epi

    18

    19

    ch ạy trên đườ ng và hành hung tài x ế không tham gia đình côn g thì công nhân

    tại m ỏ s ắt Sishen c ủa công ty Kumba, m ỏ vàng Kusasalethu c ủ a công ty

    Harmony Gold và m ỏ antraxit Somkhele c ủa công ty Petmin cũng đã buông

    dụng c ụ. Tại m ỏ Somkhele, nh ững người đình công đã giế t ch ế t m ột nhân viên

    bảo vệ”12. Thêm vào đó, “những tài xế đình công đòi tăng lương đã tụ tập tại

    Johannesburg – thành phố lớn nhất nước này, và ném gạch đá vào các phương

    tiện lưu thông trên đường. Ông Andrew Layman, Giám đốc Phòng Thương mại

    của thành phố cảng Durban, cho biết hoạt động vận chuyển hàng hóa gần như

    bị tê liệt, trong đó chủ yếu ảnh hưởng tới việc vận chuyển dầu và lương thực.

    Theo ông, nếu tình trạng này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ

    đối với doanh nghiệp, mà đối với toàn bộ nền kinh tế cho đến nay vẫn chủ yếu

    dựa vào vận tải đường bộ”13. Làn sóng đình công còn làm khó ông lớn Toyota

    thêm nữa khi Toyota phải đóng cửa nhà máy sản xuất tại Nam Phi trong 4 ngày

    vì chưa thỏa thuận được với công nhân. Nói riêng về Toyota, trong tháng

    9/2012 ở Durban cũng xảy ra đình công làm quá trình sản xuất của Toyota giảm

    khoảng một nửa.14 Có thể xem rằng năm 2011 và 2012 Toyota đang bị “vận

    xui” đeo bám khá chặt sau khi bị ảnh hưởng không nhỏ bởi thiên tai động đất sóng thần ở Nhật Bản, lũ lụt ở Thái Lan nay còn tới nạn đình công của công

    nhân. Xem ra kế hoạch hoạch định của “ông lớn” đang gặp nhiều xáo trộn và

    rắc rối.

     Vấn đề về nhân sự thay đổi cũng rất dễ gây ảnh hưởng đến công tác

    hoạch định của doanh nghiệp.

    Trong nội bộ doanh nghiệp, vai trò của các nhà điều hành cấp cao là đặc

    biệt quan trọng. Điển hình là vai trò của CEO Steve Jobs trong công ty Apple.

    http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Nam-Phi-Dinh-cong-lan-nhu-chay-rung/201210/150567.vgp

    http://www.baomoi.com/Hang-chuc-nghin-cong-nhan-van-tai-Nam-Phi-dinh-cong/119/9406841.epi

    http://soha.vn/kinh-doanh/toyota-quyet-dinh-tam-thoi-dong-cua-nha-may-o-nam-phi20121005041135801.htm

    20

    Steve Jobs được xem như là linh hồn của Apple, ông còn là một trong những

    người đóng góp quan trọng làm thay đổi đến nền văn minh công nghệ thế giới.

    Năm 2011 khi Steve Jobs qua đời Apple cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, dù vị trí

    của Steve đã được Tim Cook thay thế. Năm 2012, mọi người trên thế giới đều

    nóng lòng đợi chờ Iphone 5 xuất xưởng. Mọi kì vọng đều được đặt vào Tim

    Cook với câu hỏi liệu những gì ông ta làm có ngoạn mục như người hùng Steve

    Jobs đã làm trước đây để xây dựng đế chế Apple? Nhưng mọi chuyện đã không

    diễn ra như mong đợi, sự xuất hiện không có gì ngoạn mục của con chủ bài

    Iphone5 với nhiều lỗi đã làm mọi người thất vọng. Sau sự thành công ngoài sức

    tưởng tượng của Steve Jobs trong Apple, giờ đây Apple đang phải đối mặt với

    nhiều khó khăn và gánh nặng trên vai CEO Tim Cook quả là không nhỏ.

    Trong nội bộ doanh nghiệp, còn nhiều tình huống bất ngờ phát sinh gây

    ảnh hưởng đến hoạch định trong ngắn hạn cũng như dài hạn như tổ chức bị phá

    hoại về tư liệu sản xuất, máy móc hay bị dính vào những tin đồn thất thiệt, vu

    khống; truyền thông sai lầm;… Những ví dụ trên nhóm em đưa ra là vẫn còn rất

    nhỏ so với những yếu tố bất ngờ có thể xảy ra ở nội bộ tổ chức. Cho nên, doanh

    nghiệp nên chuẩn bị sẵn tâm lý và nguồn lực để đối phó với những yếu tố bất

    ngờ xảy ra.

    Tổng kết:

    Những lập luận và dẫn chứng nêu trên được nhóm em trình bày để làm rõ

    về những yếu tố bất ngờ xảy ra trong thực tế là rất khó lường và có thể gây ảnh

    hưởng đến việc hoạch định của doanh nghiệp. Chính vì thế, ngoài việc tiến hành

    công tác hoạch định cẩn thận, doanh nghiệp cũng nên chuẩn bị sẵn các phương

    án dự phòng để có thể thay thế khi cần thiết. Song song đó, doanh nghiệp cũng

    nên lập các kế hoạch quản trị rủi ro để ngăn ngừa bớt các mối đe dọa và giảm

    thiểu tối đa thiệt hại phát sinh từ các yếu tố bất ngờ.

    21

     Phần kết:

    Hoạch định là một việc làm quan trọng trong công tác quản trị của doanh

    nghiệp. Để công tác hoạch định được hoàn thành tốt, nhà quản trị phải lựa chọn

    những mục tiêu phù hợp với loại hình tổ chức và xây dựng những viễn cảnh có

    khả năng xảy ra trên thực tế, không nên sa đà chạy theo những “kịch bản” phức

    tạp và xác suất thành hiện thực thấp.

    Khi tiến hành hoạch định, cũng không nên xây dựng những kế hoạch quá

    tỉ mỉ và chi tiết. Bởi vì khi thực hiện kế hoạch, những yếu tố bất ngờ tác động

    làm ảnh hưởng đến những gì được hoạch định trước là không thể tránh khỏi.

    Cho nên tổ chức phải chuẩn bị sẵn tâm lý và nguồn lực để xây dựng những đối

    sách hợp lý với tình hình để giải quyết những khó khăn. Vì như vậy, tổ chức

    mới có thể giữ vững vị thế và phát triển.

    Tương tự, quản trị trong tổ chức cũng giống như quản trị cuộc đời mỗi

    con người. Điều quan trọng trong cuộc đời của chúng ta cũng là tiến hành tốt

    công tác hoạch định. Hoạch định cuộc đời có mấu chốt là xác định mục tiêu mà

    ta muốn đạt được. Và những mục tiêu đó cũng phải phù hợp với từng người

    riêng biệt, vì mỗi người có một hoàn cảnh và năng lực khác nhau. Chỉ khi xác

    định được mục tiêu rõ ràng, ta mới có thể nỗ lực hết sức mình để theo đuổi và

    biến mục tiêu đó thành hiện thực. Xác định mục tiêu còn giúp ta tránh khỏi

    những phút giây mất định hướng hay đi lạc đường. Ngoài ra, nó còn giúp ta tiết

    kiệm được rất nhiều thời gian và công sức.

    Trên bước đường để hiện thực hóa mục tiêu, chắc hẳn sẽ có nhiều yếu tố

    bất ngờ tác động làm ảnh hưởng đến những điều đã được hoạch định sẵn.

    Nhưng điều quan trọng là ta không thể để cho những khó khăn đánh bại, mà

    phải dũng cảm đối đầu và vượt lên làm chủ tình thế. Vì chỉ khi mạnh mẽ dấn

    thân và hành động, sẵn sàng điều chỉnh những sai lệch thì ta mới đủ bãn lĩnh để

    đạt được thành công.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Công Tác Tổ Chức, Thực Hiện Và Kiểm Soát Hoạch Định
  • Phân Tích Chiến Lược Kinh Doanh Công Ty Cổ Phần Kinh Đô
  • Chức Năng Hoạch Định Trong Quản Lý
  • Vì Sao Hoạch Định Chiến Lược Kinh Doanh Là Yếu Tố Quyết Định?
  • Mô Hình Hoạch Định Kế Nhiệm Và Những Câu Hỏi Thường Gặp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100