Đánh Giá Chức Năng Hô Hấp

--- Bài mới hơn ---

  • Mổ Kén Khí Có Làm Suy Giảm Chức Năng Hô Hấp Không?
  • Suy Hô Hấp Cấp Nguy Hiểm Như Thế Nào?
  • Phục Hồi Chức Năng Hô Hấp: Những Điều Cần Biết
  • Máy Đo Đa Chức Năng Hô Hấp Hi
  • Phục Hồi Chức Năng Hô Hấp
    • Đánh giá sự trao đổi khí, sự thông khí.
    • Tình hình huyết động của tiền tuần hoàn.
    • Các phương pháp được sử dụng đều nhằm đạt những mục đích đó.

    Hô hấp trong phế dung kế biểu diễn bằng một đường hình sin, biểu đồ tỷ lệ thuận với thể tích không khí được hô hấp.

    Kết quả: Tuỳ theo tuổi giới, tầm vóc người, những con số trung bình của hô hấp được ghi trên một bảng đối chiếu.

    • Không khí lưu thông (Vt) : 0,5 L / lần thở
    • Hít vào cố (IRV) =1,5L
    • Thở ra cố (ERV) = 1,5L
    • Dung tích sống (VC) = 3,5 L
    • Không khí cặn (Residual Volumn : RV) = 20 – 25 % thể tích phổi. Tức : Khí cặn/ Thể tích phổi

    Để đánh giá khả năng thông khí trên những nét lớn, người ta dựa vào dung tích sống:

      • Ở những người ít luỵên tập hô hấp.
      • Trong tất cả những trường hợp giảm biên độ hô hấp do tổn thương thành ngực hoặc thay đổi bệnh lý làm sút kém khả năng thông khí ở phổi. Ví dụ: giãn phế nang, dính màng phổi, nước màng phổi, lao phổi nặng, xơ phổi, người ta gọi là tình trạng thông khí hạn chế.
      • Ở những người tập luyện nhiều.
      • Ở những người bệnh có tổn thương phổi cũ đang tiến triển tốt và đang được theo dõi tập thở.

    Phương pháp tìm dung tích sống chỉ mới cho biết thể tích không khí được lưu thông tối đa, nhưng muốn biết sự lưu thông đó có được tiến hành mau lẹ hay không, sức đàn hồi của phổi như thế nào, sự phân phối không khí trong phế nang ra sao, cần thiết phải làm một số thăm dò khác.

    Mục đích: tìm thể tích không khí thở ra tối đa trong một giây sau khi đã hít vào cố.

    Ký hiệu của thể tích đó: VEMS (Volume expiratoire maximum (seconde) hay FEV1

    Tiến hành: Hít vào tối đa.

    Cho trục ghi quay nhanh, rồi thở ra hết sức mạnh. Khi thể tích không khí thở ra trong một giây. Đường cong ghi thể tích thở ra càng cao, VEMS càng thấp, nghĩa là thở ra có khó khăn, ví dụ trong bệnh hen, xơ phổi (Hình)

    • Bình thường là: 70 – 80%.
    • Trong hen phế quản, giãn phế nang, chỉ số này giảm thấp gọi là rối loạn tắc nghẽn.

    Trong một số bệnh phế quản bị co thắt, dùng axetylcholin bơm vào đường hô hấp có thể làm giảm VEMS, ngược lại, với alơdrin làm giãn nở phế quản, VEMS tăng lên rõ rệt.

    Tương tự như Tiffenaeu, thường sử dụng hơn

    Đây là nghiệm pháp tổng hợp tìm dung tích sống và VEMS(FEV1)

    Tiến hành: thở nhanh, sâu, với tần số thích hợp nhất trong khoảng 10-20 giây. Sau đó tính ra lưu lượng thở tối đa trong một phút.

    Kết quả: v=Vt x f (Trong đó, v là thể tích hô hấp trong một phút. Vt là thể tích một lần hô hấp, f là tần số hô hấp.

    Bình thường V= xấp xỉ 80% sinh lượng x f.

    Ở người trung bình: V= 130l/phút.

    Không khí cặn là phần không khí còn lại trong phổi, sau khi đã thở ra hết sức. Thể tích cặn lớn trong giãn phế nang, chứng tỏ tỷ lệ cho hô hấp của thể tích phổi thấp. Ngược lại trong trường hợp thể tích không khí cặn nhỏ quá, nếu người bệnh phổi phải gây mê để phẫu thuật, do thiếu không khí đệm trong phổi nên dễ bị ngộ độc thuốc mê hơn người bình thường.

    Đo thể tích không khí cặn, người ta dùng phương pháp gián tiếp, đo độ hoà tan của một chất khí không tham gia vào trao đổi hô hấp, ví dụ khí trơ Helium hoặc Pitơ.

    Qua nghiệm pháp tìm thể tích không khí cặn, ta có thể đánh giá được tốc độ phân phối không khí trong phế nang.

    Nếu sự phân phối đó nhanh N2 được O2 di chuyển nhanh (nếu dùng N2) nhưng nếu không khí bị cản trở, quá trình thay thế đó được tiến hành rất chậm, sau một thời gian dài đồng hồ ghi thể tích N2 mới chỉ con số tối đa không thay đổi.

    Các nghiệm pháp trên cho ta biết khả năng vận chuyển không khí của phổi. Muốn nhận định kết quả thăm dò, cần phải làm nhiều lần một nghiệm pháp, và kết hợp nhiều loại. Ngoài ra phải chú ý tới yếu tố tuổi, giới, sức, vóc, tập luyện thói quen, cũng như hoàn cảnh thời tiết khi tiến hành thăm dò.

    Tiến hành: chi thể tích hô hấp trong một phút thông khí ( V. sau đó để người bệnh thở O2 trong một phút, rồi ghi thể tích O2 được hấp thụ (VO2).

    Kết quả: V/VO2 tăng, khi hoạt động càng tăng sớm và tăng nhanh chứng tỏ người bệnh suy hô hấp vì phải thở nhiều. Nhưng O2 được hấp thụ lại tương đối ít

    1. Phân phối không khí hít vào không tốt.

    2. Mất cân xứng giữa thông khí và trao đổi khí do tổn thương ở thành phế nang, không khí tuy vào được khí phế nang nhưng không trao đổi O2 và CO 2 qua thành mao mạch được. Hiện nay, để tìm hiện tượng này, người ta dùng phương pháp tính thể tích CO 2 được thở ra trong một phút bằng tia hồng ngoại, dựa trên khả năng hấp thu tia hồng ngoại của CO 2.

    Nếu sự trao đổi O2 và CO 2 kém, CO 2 được đào thải qua phổi ít đi, các giải pháp hấp thụ hồng ngoại của CO 2 sẽ ít đi.

    3. Suy tuần hoàn: do suy tim, O2 cung cấp cho cơ thể ít đi, người bệnh phải thở nhiều để bù lại tình trạng thiếu Oxy.

    Thăm dò không khí và thay đổi khí riêng lẽ:

    Có thể tiến hành đối với từng bệnh phổi bằng cách dùng ống thông riêng cho hai phế quản. Phương pháp này cho phép ta đánh giá được hô hấp ở mỗi bên phổi, và có ích lợi trong chỉ định phẫu thuật phổi.

    O2 và CO 2 trong máu phản ánh kết quả của hô hấp. Trong thiểu năng hô hấp suy tim O2 giảm và CO 2 tăng trong máu. Người ta lấy máu động mạch để xác định.

    – O2: 20-25 thể tích / 100ml máu.

    Tỷ lệ bão hoà: 98%. PaO2 = 100mmHg (áp lực trong động mạch).

    – CO 2: 56 thể tích /100ml máu.

    PaCO 2 = 40mm Hg (áp lực trong động mạch) đối với Ph =7,4.

    Dựa vào kết quả trên, ta có thể tính được thể tích không khí lưu thông trong phế nang, nghĩa là lượng không khí đã được thực hiện đưa vào phế nang, không phải là không khí vô dụng vì ở trong khoảng chết, không tham gia vào trao đổi khí ở đường hô hấp trên, khí quản, phế quản lớn.

    VA =

    VA: thể tích không khí qua phế nang trong 1 phút (venrilation alvéolaire).

    VCO 2: thể tích CO 2 thở ra trong 1 phút, 0,863 là một hằng số.

    Giá trị của sự thăm dò trao đổi khí

    Kết hợp với sự thăm dò về thông khí, sự đánh giá trao đổi khí khi nghĩ và hoạt động có thể giúp ta phát hiện được:

    1. Rối loạn thông khí kèm theo biến đổi bệnh lý của CO 2 và O2 trong máu.

    2. Rối loạn thông khí nhưng không kèm theo thay đổi của CO 2 và O2 trong máu khi nghỉ ngơi.

    3. Thông khí bình thường, nhưng có biến đổi bệnh lý của các khí trong máu.

    Những thay đổi của bệnh lý hô hấp ảnh hưởng trực tiếp tới sự hấp thụ O2 và đào thải CO 2 ở phổi. Tình trạng thiếu O2 sẽ dẫn tới tăng áp lực tiểu tuần hoàn và tăng sự hoạt động của tim phải, kết quả là sự phì đại và suy timphải.

    Người ta có thể phát hiện được tình trạng đó bằng phương pháp thông timphải. Chụp tim phổi và chụp tuần hoàn của động mạch phổi bằng chất cản quang ta cũng có thể thấy những sự thay đổi do tổn thương hô hấp, ảnh hưởng lên tim mạch.

    2. Cần phối hợp và lựa chọn các nghiệm pháp thăm dò cho từng bệnh để khi nhận định kết quả cũng như quyết định hướng điều trị được xác đáng. Dầu sao không thể nào coi nhẹ sự thăm khám và theo dõi lâm sàng được.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hô Hấp Ký Cls Hè 2022 Yds
  • Đo Chức Năng Hô Hấp Tại Nhà Chẩn Đoán Bệnh Gì? Và Hướng Dẫn Đọc Kết Quả
  • Quy Trình Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Đo Chức Năng Hô Hấp Được Thực Hiện Bằng Cách Nào ? Phương Pháp Nào ?
  • Phân Tích Kết Quả Hô Hấp Ký Và Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Kỹ Thuật Đánh Giá Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Kho Bạc Nhà Nước Là Gì? Những Quy Định Pháp Luật Liên Quan
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Chế Độ “Không Làm Phiền” Trên Iphone
  • Chế Độ Không Làm Phiền Là Gì
  • Cách Sử Dụng Chế Độ Không Làm Phiền Trên Iphone Hiệu Quả
  • KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG HÔ HẤP

    KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG HÔ HẤP

    (PUMONARY FUNTION TEST)

     

    I. ĐẠI CƯƠNG

    Test chức năng hô hấp (PFTs) là kỹ thuật thăm dò đánh giá chức năng hô hấp không xâm lấn. PFTs là “chìa khóa vàng” để chẩn đoán xác định COPD và là công cụ phân biệt giữa COPD và bệnh hen phế quản. Ngoài ra, nó còn là công cụ để đánh giá “sức khỏe” bộ máy hô hấp. Vì vậy, PFTs được sử dụng trong đánh giá hô hấp trước phẫu thuật như một kỹ thuật thường quy.

    Có hai loại bất thường về trao đổi khí của phổi:

    – Sự tắc nghẽn (Obstructive): Hiên tượng xảy ra khi dòng khí thì thở ra bị cản trở sinh ra kháng lực dòng thở ra cuối cùng dẫn đến giảm dòng khí lưu thông thì thở ra.

    – Sự hạn chế (Restrictive): Hiện tượng xảy ra khi tổn thương tổ chức phổi hoặc cơ hô hấp không đủ dãn lồng ngực và như vậy cũng làm giảm thể tích khí lưu thông cuối cùng làm giảm toàn bộ thể tích phổi.

    Có hai phương pháp đo:

    – Thể tích đồ phổi (Plethysmography): người bệnh thổi vào một cái hộp được gắn dụng cụ đo thể tích với thở ra cố sức tối đa sau khi hít vào tối đa.

    – Hô hấp ký (Spirometry): đây là phương pháp chuẩn được áp dụng trong nhiều bệnh viện hiện nay và chúng ta sẽ đề cập chi tiết phương pháp này. Phương pháp được tiến hành với sự cho người bệnh thổi vào một ống gắn với máy ghi vi tính và chuyển đổi thành kết quả là bảng thông số và dạng đồ thị.

    II. NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT

          

    Sơ đồ biểu diễn chu kỳ hô hấp

    Người bệnh đang tiến hành kỹ thuật hô hấp ký

    Các trị số đo được của chức năng hô hấp sau đó được biểu diễn dưới dạng một đường cong trong đó một trục thể hiện các số đo về lưu lượng khí lưu thông, còn trục còn lại thể hiện các số đo của các thể tích khí có trong phổi, do vậy đường cong này còn được gọi là đường cong lưu lượng thể tích.

    2.1. Nhóm thông số thể tích (V: volume)

      -  TV (Tidal Volume – thể tích khí lưu thông): thể tích khí hít vào và thở ra bình thường

      -  IRV (Inspiratory Reserve Volume-thể tích khí dự trữ hít vào): thể tích khí hít vào hết sức sau khi hít vào bình thường. 

      -  ERV (Expiratory Reserve Volume -thể tích khí dự trữ thở ra): thể tích khí thở ra hết sức sau khi thở ra bình thường

      -  RV (Residual volume-thể tích khí cặn): thể tích khí còn lại trong phổi sau khi thở ra hết sức.

    2.2. Nhóm thông số dung tích (C: capacity)

      -  IC (Inspiratory-dung tích hít vào): thể tích khí hít vào hết sức.

      -  FRC (Functional Residual Capacity-dung tích cặn chức năng): thể tích khí còn lại trong phổi sau khi thở ra bình thường.

      -  VC (Vital Capacity-dung tích sống): thể tích khí hít vào hết sức và thở ra hết sức. VC tăng nhờ luyện tập, giảm nhiều ở một số bệnh phổi hoặc bệnh của lồng ngực như: tràn dịch màng phổi, u phổi, gù vẹo cột sống… Trong thăm dò chức năng thông khí phổi, VC giảm 20% so với chỉ số lý thuyết trở lên được coi là giảm VC bệnh lý. Có 3 dạng:

              + SVC (Slow Vital Capacity): dung tích sống thở chậm.

                + FVC (Forced Vital Capacity-dung tích sống gắng sức): hít vào và thở ra nhanh, mạnh và hết sức, và ở người bình thường FVC=VC.

                + IVC (dung tích sống hít vào): thở ra hết sức rồi hít vào hết sức.

      -  TLC (Total Lung Capacity-dung tích toàn phổi): khả năng chứa đựng tối đa của phổi.

    2.3.  Các thông số đánh giá sự thông thoáng của đường dẫn khí

            Các thông số đánh giá sự thông thoáng của đường dẫn khí là những thông số về lưu lượng (F: flow) với đơn vị là lít/s và một số thông số khác. Các thông số này có tính đến kháng lực của đường dẫn khí.

            -  FEV1 (Forced Expiratory Volume in 1st second-VEMS): thể tích khí thở ra tối đa trong 1 giây đầu tiên sau khi hít vào hết sức. FEV1 đánh giá mức độ thông thoáng của đường dẫn khí và khả năng giãn nở của phổi, FEV1 giảm trong một số bệnh gây thắt hẹp đường dẫn khí đặc biệt trong bệnh hen phế quản,COPD.

           -  Chỉ số Tiffeneau: là tỷ lệ phần trăm của FEV1 so với VC. Bình thường khoảng 70%. Chỉ số Tiffeneau đánh giá mức độ chun giãn của phổi, lồng ngực, cơ hoành, mức độ thông thoáng của đường dẫn khí.

          Chỉ số Tiffeneau = FEV1/VC x 100.

          (Chỉ số Gaensler = FEV1/FVC x 100)

          Ở người bình thường, FVC xấp xỉ bằng VC nên chỉ số Gaensler cũng xấp xỉ bằng chỉ số Tiffeneau.

           -  FEF25-75%(Forced Expiratory Flow at 25%-75%):lưu lượng thở ra gắng sức trong khoảng 25%-75% dung tích sống gắng sức. Chỉ số phát hiện sớm tắt nghẽn bắt đầu ở đường dẫn khí có đk< 2mm.

           - FIF50%  (Forced Inspiratory Flow at 50%)lưu lượng hít vào gắng sức 50% trong dung tích sống gắng sức.Thường đánh giá tắt nghẽn đường hô hấp trên.

           -  PEF (Peak Expiratory Flow -lưu lượng đỉnh)

           -  MVV ( Maximal Voluntary Ventilation) thông khí phút tối đa

    III. NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA MÁY HÔ HẤP KẾ

             Máy ghi lưu lượng: dòng khí thở ra tạo nên áp suất P sẽ được bộ phận sensor (cảm biến) chuyển thành đại lượng điện ghi đồ thị biểu diễn lưu lượng F theo thời gian.

             Máy hô hấp kế sẽ được ghép với máy tính tính tích phân lưu lượng cho các kết quả về thể tích.

            3.1. Phương tiện dụng cụ

           – Máy hô hấp kế

           – Giấy ghi hô hấp đồ: giấy nhiệt với khổ giấy phù hợp cho tưng loại máy.

           – Ống thở: có thể sử dụng một lần hoặc tái sử dụng.

           – Nose clips: kẹp mũi.

           – Nhiệt kế phòng.

           – Cân và thước đo chiều cao.

           3.2. Chỉ định, chống chỉ định hô hấp ký: ATS 1994

          3.2.1. Chỉ định

          – Chẩn đoán: đánh giá các triệu chứng,dấu hiệu lâm sàng hay các xét nghiệm cận lâm sang bất thường

        + Triệu chứng: khó thở, khò khè, ngồi thở, ho, đàm, đau ngực, giảm âm thở, lồng ngực phình, thở ra chậm, tím tái, dị dạng lồng ngực, ran nổ không giải thích được

        + Xét nghiệm cận lâm sang: giảm O2 máu, tăng CO2 máu, đa hồng cầu, X- quang lồng ngực bất thường.

          – Đo ảnh hưởng của bệnh lên chức năng hô hấp

          – Khám phát hiện trên đối tượng có nguy cơ cao: người hút thuốc lá, người làm việc nơi có chất độc hại,khám sức khỏe định kỳ.

          -  Đánh giá nguy cơ trước phẫu thuật

          – Xác định tiên lượng:ghép phổi

          -  Đánh giá trước khi tập luyện

          -  Đánh giá mức độ thương tật

          – Theo dõi:tác dụng trị liệu,diễn tiến bệnh lên chức năng phổi,thuốc độc hại với phổi, người làm nơi độc haị với phổi…

          3.2.2. Chống chỉ định

          – Ho ra máu không rõ nguồn gốc

          – Tràn khí màng phổi

          – Tình trạng tim mạch không ổn định: mới nhồi máu cơ tim hoặc thuyên tắc phổi

          – Túi phình động mạch

          – Mới phẫu thuật mắt

          – Mới phẫu thuật bụng hay lồng ngực

          – Bệnh nhân không hợp tác: bệnh nhân tâm thần,giảm thính lực….

         3.2.3. Kỹ thuật đo hô hấp ký

          – Bệnh nhân được giải thích đầy đủ, an tâm hợp tác. Không mặc quần áo quá chật. Dừng các thuốc giãn phế quản trước khi đo.

    Thuốc dạng hít

          + Tác dụng ngắn: 4 giờ

          + Tác dụng dài: 12 giờ

    Thuốc giãn phế quản dạng uống     

               + Tác dụng ngắn: 8 giờ

               + Dạng phóng thích chậm: 12giờ

           - Cho bệnh nhân đo chiều cao, cân nặng sau đó nghỉ ngơi và không dùng các chất kích thích trước khi đo.

          – Hướng dẫn bệnh bệnh nhân cách đo, làm mẫu cho bệnh nhân và nếu cần cho bệnh nhân làm thử. Tư thế bệnh nhân ngồi thoải mái, thả lỏng. Trước khi đo phải kẹp mũi, ngậm kín ống thở để đảm bảo nguyên tắc máy và phổi là một hệ thống ống kín.

          IV. ĐỌC KẾT QUẢ HÔ HẤP KÝ

         4.1. Đánh giá kết quả của hô hấp ký

         4.1.1. Tiêu chuẩn chấp nhận được

          – Khởi đầu tốt: thể tích ngoại suy <5% FVC hoặc 150mL

         – Không có các lỗi kĩ thuật khác:

              + Ho trong giây đầu tiên khi thở ra

              + Đóng nắp thanh môn

              + Gắng sức không liên tục

              + Kết thúc thở ra sớm

              + Hở khí qua miệng

              + Ống ngậm bị tắc khi thở ra

         4.1.2. Tiêu chuẩn lặp lại được

         – Sai biệt giữa 2 FVC lớn nhất ≤ 150 mL hay 5%

         – Sai biệt giữa 2 FEV1 lớn nhất ≤ 150 mL hay 5%

         – Số lần thực hiện không quá 4 lần

         – Thời gian nghỉ giữa 2 lần k quá 1 phút

        4.2. Đọc kết quả

          – Bước 1

              + FVC hay VC<80% → Hội chứng hạn chế

           + Đánh giá mức độ hạn chế

      – Bước 2

        – Bước 3

            + Đánh giá lưu lượng thở ra FEF: 25% – 75%

            + FEF 25% – 75%: thường thay đổi cùng hướng với FEV1

            + FEF 25 %– 75% nhạy hơn trong việc phát hiện tắc nghẽn dòng khí nhỏ

         – Bước 4

            + Đánh giá MVV

            + MVV thay đổi tương tự FEV1

            + Bình thường MVV = FEV1x40(30)

             + FEV1↓ → MVV cũng ↓ tuy nhiên không còn đúng theo tỉ lệ trên

            + Khi FEV1 bình thường, MVV ↓ thì có thể:

    • Hợp tác không tốt: Không gắng sức, hoc, yếu cơ…
    • Bệnh thần kinh cơ
    • Tổn thương hô hấp lớn
    • Béo phì

         – Bước 5  

              + Đánh giá test dãn phế quản:

              + Bệnh nhân được xịt 400μg Salbutamol, 15 phút sau đo lại hô hấp ký

               + Có đáp ứng test dãn phế khi bệnh nhân có 1 trong 3 tiêu chí sau:

    • FEV1 ↑ 12% và 200ml (ATS)
    • FVC hay VC ↑ 12% và 200ml (ATS)

    V. CÁC HỘI CHỨNG RỐI LOẠN THÔNG KHÍ

             5.1. Hội chứng hạn chế

            5.1.1.Tiêu chuẩn chẩn đoán

    • TLC giảm
    • (F)VC < 80% dự đoán
    • FEV1/(F)VC bình thường hoặc tăng

    6.1.2. Phân độ

    %(F)VC  dự đoán

    Bậc hạn chế

    < 80 – 60

    1 nhẹ

    < 60 -40

    2 trung bình

    < 40

    3 nặng

     

          5.1.3. Các nguyên nhân gây Hội chứng hạn chế: PPINT

          P – Bệnh màng phổi

    • Tràn khí màng phổi
    • Tràn dịch màng phổi
    • Dày màng phổi

          P – Bệnh nhu mô phổi

    • Sarcoidosis
    • Viêm phổi quá mẫn

              – Xơ phổi do:

    • Thuốc: busulfan (K), nitrofurantoin(K), bleomycin(K), amidarone( chông loạn nhịp) và các thuốc chống K khác.
    • Paraquat :xơ phổi nhanh,tử vong
    • Xạ trị vùng phổi.

              – Bệnh collagen

    • Viêm khớp dạng thấp
    • Lupus ban đỏ hệ thống
    • Systemic sclerosis: xơ cứng bì hệ thống

              – Lymphangitis carcinomatosa: viêm mạch bạch huyết do u ác tính

              I – Xơ phổi mô kẽ lan tỏa

              N Bệnh thần kinh cơ : viêm tủy sống,nhược cơ,teo cơ,HC Guillain Barre

              T Bệnh lồng ngực: vẹo cột sống,viêm cột sống dính khớp..

              5.2. Hội chứng tắc nghẽn

             5.2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán

                        FEV1/FVC <70%

            5.2.2. Phân độ

    % FEV1 dự đoán

    Bậc tắc nghẽn

    < 80 -60

    1 nhẹ

    <60- 40

    2 trung bình

    <40

    3 nặng

     

    * Phân loại giai đoạn theo GOLD 2022

    Bệnh nhân với FEV1/FVC < 70%

           GOLD 1   nhẹ

        FEV1 ≥ 80% trị số dự đoán

           GOLD 2  trung bình

        50%≤ FEV1 <80%

           GOLD 3  nặng

        30%≤ FEV1 <50%

           GOLD 4  rất nặng

        FEV1 < 30% trị số dự đoán

     

           5.2.3. Các nguyên nhân gây Hội chứng tắc nghẽn: OWL

           O - Bên ngoài phế quản

    • Phá hủy nhu mô phổi àm giảm lưc keo giãn nở phế quản
    • Bị hạch hay khói u đè ép
    • Phù quanh phế quản

            W – Do thành phế quản

    • Dày lên trong viêm phổi,viêm phì đại các tuyến
    • Co thắt cơ trơn trong hen
    • Viêm:COPD,hen,viêm phế quản mạn
    • Xơ,sẹo:COPD,lao phổi biến chứng

           L - Do bên trong òng ống phế quản

    • Bít tắc do quá nhiều chất tiết
    • Viêm phế quản mạn
    • COPD
    • Hen phế quản
    • Phù phổi
    • Hít phải vật lạ
    • Ứ động chất tiết hậu phẫu
    • Dị dạng phế quản

    Bs. Trần Quốc Hoàn

     

    VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. GOLD COPD 2022 report.
    2. Hô hấp ký cls hè 2022 yds, Bs Lê Thị Kim Chi. 2022.
    3. Đo hô hấp ký dùng để làm gì? Trung tâm Phổi Việt. 2022.
    4. Thực hành đọc kết quả đo chức năng hâ hấp , Ths Phạm Thị Lệ Quyên, Trung tâm hô hấp BV Bạch Mai, 12/2016.
    5. Phế than ký, Hội hen và bệnh phổi. PGS, TS, BS Lê Thị Tuyết Lan, 2022.
    6. Đo chức năng hô hấp và test phục hồi phế quản, BS Nguyễn Xuân Thanh, BV Lão Khoa trung ương, 2022.
    7. Đo chức năng hô hấp và phân tích kết quả, Hội nội khoa Việt Nam, 2022.

     

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Giảm Chức Năng Gan Là Gì? Cách Chẩn Đoán Và Điều Trị Như Thế Nào?
  • Cách Lọc Dữ Liệu Excel Đơn Giản Bằng Công Cụ Filter
  • Công Nghệ Econavi Trong Tủ Lạnh Panasonic
  • Cách Chỉnh Chế Độ Kiểm Soát Năng Lượng Chủ Động Trên Máy Điều Hòa Lg
  • Kích Hoạt Tính Năng Ecg Trên Apple Watch Series 4&5 Tại Việt Nam
  • Đo Thông Khí Phổi Đánh Giá Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Hô Hấp Ký Trong Bệnh Copd
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Mir
  • Đo Chức Năng Hô Hấp Giúp Tiết Lộ Điều Gì Về Copd? ✅
  • Copd Nhìn Từ Bản Chất Viêm Và Tiếp Cận Điều Trị
  • Đo thông khí phổi đánh giá lưu lượng không khí lưu thông trong phế quản và phổi, đồng thời cũng đánh giá mức độ tắc nghẽn phế quản và mức độ trầm trọng của giãn phế nang. Độ chính xác của kết quả phụ thuộc vào sự hợp tác của bệnh nhân. Kết quả đo được thể hiện bằng số cụ thể và bằng phần trăm so với giá trị của một người bình thường. Các trị số đo được của chức năng hô hấp sau đó được biểu diễn dưới dạng một đường cong trong đó một trục thể hiện các số đo về lưu lượng khí lưu thông, còn trục còn lại thể hiện các số đo của các thể tích khí có trong phổi, do vậy đường cong này còn được gọi là đường cong lưu lượng thể tích.

    Có 2 loại hô hấp ký là hô hấp ký loại thể tíchhô hấp ký loại lưu lượng để theo dõi và nhận biết chức năng thông khí của phổi trong quá trình hô hấp hít vào và thở ra phụ thuộc vào thời gian hít thở, có gắng sức hay không và gắng sức đạt mức tối đa khi thở ra hay không?

    Thông thường bệnh nhân được yêu cầu làm 2 động tác khi đo, thứ nhất là động tác là hít vào thở ra bình thường, sau đó được yêu cầu hít vào sâu thật hết sức, rồi thở ra thật hết sức, thứ hai là động tác hít vào thở ra bình thường, rồi sau đó được yêu cầu hít vào thật hết sức và thổi ra thật nhanh, thật mạnh, hết sức có thể, và tiếp tục thở ra cho đến khi ít nhất 6 giây.

    Trong khi thực hiện bất cứ động tác nào cũng phải làm liên tục không được ngưng vì khi ngưng đột ngột hoặc thực hiện không chính xác những gì mà kỹ thuật viên đo chức năng hô hấp yêu cầu sẽ gây sai lệch kết quả đo chức năng hô hấp dẫn đến nhận định sai kết quả dẫn đến chẩn đoán và điều trị không phù hợp. Trường hợp nếu bệnh nhân hút thuốc lá mà kết quả đo chức năng hô hấp bình thường thì không có nghĩa là người đó không có nguy cơ bị bệnh COPD.

    Đối tượng được các bác sĩ chỉ định thực hiện đo chức năng thông khí khi có các triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm khác bất thường như khó thở, khò khè, ngồi thở, thở ra khó khăn, ho đờm kéo dài, ho khan kéo dài, dị dạng lồng ngực, giảm Oxy máu, tăng CO2 máu, đa hồng cầu, X-quang lồng ngực bất thường. Hoặc đo thông khí đối với người hút thuốc lá, người làm việc nơi có khói, tiếp xúc với hóa chất độc hại. Đặc biệt là những bệnh nhân mãn tính hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh phổi hạn chế cần phải được đo thông khí để kiểm soát bệnh, đánh giá diễn tiến bệnh

    Không nên thực hiện đo chức năng thông khí phổi đối với những trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp cấp, ho ra máu không rõ nguyên nhân, phình động mạch chủ ngực, chủ bụng, vừa mới qua đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen dưới 6 tuần, nhồi máu cơ tim, phẫu thuật mắt,bụng, ngực dưới 3-6 tháng, đau ngực không rõ chẩn đoán, đau thắt ngực không ổn định trong 24 giờ và lao phổi tiến triển.

    Bác sĩ Nguyễn Huy Nhật đã có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực điều trị bệnh lý Hô hấp tại Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ,..trước khi là bác sĩ Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

    Nếu nhận thấy các vấn đề bất thường về sức khỏe bạn nên thăm khám và tư vấn với các bác sĩ chuyên khoa.

    Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp, Nguyên Lý Nội Khoa
  • Các Bào Quan Của Tế Bào
  • Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Quy Trình Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Phục Hồi Chức Năng Hô Hấp Cho Người Bệnh Có Di Chứng Lao Phổi
  • Xét Nghiệm Chức Năng Hô Hấp
  • Các Chỉ Số Trong Kết Quả Đo Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Năng Hay Trên Iphone 7 Và 7 Plus:có Thể Bạn Chưa Biết
  • Iphone 7 Plus Cũ Cam Kết Nguyên Zin Rẻ Nhất
  • Cách Tìm Iphone Bị Mất, Check Vị Trí, Khóa Iphone Từ Xa Bằng Find My P
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Tìm Iphone Trên Ios Mới Nhất
  • Bật, Tắt Find My Iphone Trên Iphone
  • Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Huy Nhật – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

    Đo chức năng hô hấp là cách kiểm tra chức năng hô hấp nhằm đánh giá mức độ bạn hít không khí vào, thở không khí ra khỏi hai phổi và mức độ oxy đi vào cơ thể. Đo chức năng hô hấp thường gặp nhất là hô hấp ký, nghiên cứu khuếch tán và phế thân ký. Vậy ý nghĩa các chỉ số đo chức năng hô hấp là gì?

    1. Đo chức năng hô hấp để làm gì?

    Ý nghĩa các chỉ số đo chức năng hô hấp cho ta biết thông tin chính xác về lưu lượng không khí lưu thông trong phế quản và phổi, đồng thời cho phép đánh giá mức độ tắc nghẽn phế quản và mức độ trầm trọng của giãn phế nang.

    Kết quả đo chức năng hô hấp được thể hiện bằng số cụ thể và bằng phần trăm so với giá trị của một người bình thường. Các trị số đo được của chức năng hô hấp sau đó được biểu diễn dưới dạng một đường cong trong đó một trục thể hiện các số đo về lưu lượng khí lưu thông, trục còn lại thể hiện các số đo của các thể tích khí có trong phổi, do vậy đường cong này còn được gọi là đường cong lưu lượng thể tích.

    Đo chức năng hô hấp là thăm dò khá đơn giản và không gây đau cho bệnh nhân, hầu như không gây khó chịu hay tai biến. Độ chính xác của kết quả đo chức năng hô hấp phụ thuộc vào sự hợp tác của bệnh nhân.

    2. Ý nghĩa các chỉ số đo chức năng hô hấp

    2.1. Các thể tích hô hấp

    • TV: Thể tích khí lưu thông trong một lần hít vào hoặc thở ra bình thường, ở người trưởng thành thể tích khí lưu thông thường khoảng 500ml;
    • IRV: Thể tích dự trữ hít vào là thể tích khí hít vào thêm sau hít vào bình thường. Thể tích này ở người bình thường khoảng 1500- 2000ml, chiếm 56% dung tích sống;
    • ERV: Thể tích dự trữ thở ra là thể tích khí thở ra tối đa sau thở ra bình thường. Thể tích này ở người bình thường khoảng 1100- 1500 ml, chiếm 32% dung tích sống;
    • RV: Thể tích khí cặn đo theo nguyên tắc pha loãng khí (nitơ hoặc heli). Bình thường thể tích khí cặn khoảng 1000- 1200 ml.

    2.2. Các dung tích hô hấp

    • VC (hay SVC): Dung tích sống là thể tích tối đa huy động được trong một lần hô hấp, thể hiện khả năng của cơ thể đáp ứng về mặt hô hấp với các hoạt động gắng sức. VC phụ thuộc vào tuổi, giới, chiều cao, nam cao hơn nữ, giảm ở người già và một số bệnh phổi hay ngực (tràn dịch màng phổi, u phổi, gù, vẹo lồng ngực…); tăng lên nhờ luyện tập;
    • FVC: Dung tích sống thở mạnh là thể tích khí thu được do thở ra thật nhanh, thật mạnh và hết sức sau khi hít vào thật hết sức. Người bình thường FVC hơi thấp hơn VC một chút;
    • IC: Dung tích hít vào thể hiện khả năng hô hấp thích ứng với nhu cầu cung cấp O2­ tăng lên của cơ thể. Bình thường khoảng 2000 – 2500 ml;
    • FRC: Dung tích cặn chức năng bình thường khoảng 2000 ml đến 3000 ml;
    • TLC: Dung tích toàn phổi, khoảng 5 lít, thể hiện khả năng chứa đựng của phổi.

    2.3. Các lưu lượng thở

    Lưu lượng thở là lượng thể tích khí được huy động trong một đơn vị thời gian (lít/phút hoặc lít/giây), nói lên khả năng hay tốc độ huy động khí đáp ứng nhu cầu cơ thể và sự thông thoáng của đường dẫn khí.

    Đo dung tích sống thở mạnh và phân tích đồ thị FVC theo thời gian sẽ cho biết các thông số về lưu lượng khoảng, lưu lượng điểm.

    Các lưu lượng thở gồm:

      Lưu lượng thể tích khí thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (FEV1):

    Đây là thể tích không khí mà bạn có thể thổi ra trong vòng một giây đầu tiên của thì thở ra. Bình thường bạn thường có thể thổi ra hầu hết không khí ra khỏi phổi trong vòng một giây;

    Là lưu lượng ra khỏi phổi trong khi thở ra tối đa, ở phần đầu của thì thở ra nó phụ thuộc vào lực do cơ thở ra sản sinh và khẩu kính của đường thở, nghĩa là phụ thuộc vào gắng sức, tiếp theo đó không phụ thuộc vào gắng sức nữa;

    Hiện nay, có nhiều loại dụng cụ để đo PEF khác nhau. Bệnh nhân hít vào sâu sau đó thở ra gắng sức vào dụng cụ, số ghi trên dụng cụ mà kim chỉ vào là lưu lượng thở ra cao nhất. Khó khăn có thể gặp là bệnh nhân không hít được vào sâu hoặc không thở ra được với sức tối đa hoặc khí thở lọt ra ngoài. PEF giảm khi đường thở bị hẹp (hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, có khối u ở đường thở trên) hoặc cơ thở ra yếu.

    Là mức không khí trao đổi ở tất cả các phế nang trong một phút, mức thông khí có hiệu lực. Không khí thở ra là hỗn hợp của không khí đựng trong các phế nang có trao đổi khí với máu, và không khí đựng trong đường dẫn khí không trao đổi khí với máu (được gọi là “khoảng chết” của bộ máy hô hấp). Các khoảng chết gồm:

    + Khoảng chết giải phẫu: Là khoảng không gian trong bộ máy hô hấp không có diện trao đổi khí với máu, bao gồm toàn bộ các đường dẫn khí;

    + Khoảng chết sinh lý: Là khoảng chết giải phẫu cộng thêm các phế nang không trao đổi khí với máu được (như xơ hoá phế nang, co thắt mao mạch và phế nang…);

    + Thể tích không khí trong khoảng chết luôn luôn thay đổi vì các ống dẫn khí của bộ máy hô hấp không phải là những ống cứng rắn, trung bình khoảng 140 ml;

    + Thở sâu có lợi hơn thở nông vì thở chậm và sâu thì không khí khoảng chết giảm, thông khí phế nang tăng, tăng hiệu quả trao đổi khí (phương pháp dưỡng sinh).

    3. Kết quả đo chức năng hô hấp

    Một kết quả đo chức năng hô hấp sẽ thường được thể hiện như sau:

    • Bình thường;
    • Hội chứng tắc nghẽn;
    • Hội chứng hạn chế;
    • Sự kết hợp giữa hội chứng tắc nghẽn/ hạn chế.

    Một kết quả đo chức năng hô hấp bình thường sẽ thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, thể trạng, chủng tộc và giới tính. Giới hạn bình thường được thể hiện trên biểu đồ và được bác sĩ sẽ tham khảo khi họ đánh giá kết quả đo của bạn.

    Bác sĩ Nguyễn Huy Nhật đã có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực điều trị bệnh lý Hô hấp tại Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ,..trước khi là bác sĩ Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

    Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Test Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Đo Chức Năng Hô Hấp Là Gì?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Hô Hấp
  • Tổng Quan Về Hệ Hô Hấp Ở Cơ Thể Người
  • Đặc Điểm Hình Thái, Chức Năng Hệ Hô Hấp
  • Hô Hấp Ký Đo Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Đo Phế Dung Phổi Là Gì Khi Sử Dụng Máy Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Tìm Hiểu Về Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp Tại Bệnh Viện A
  • Tìm Hiểu Về Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp Tại Bệnh Viện Đà Nẵng
  • Kỹ Thuật Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Đánh Giá Thông Số Thông Khí Và Test Phục Hồi Phế Quản Trên Bệnh Nhi Hen Tại Phòng Tư Vấn Hen Khoa Nhi Bệnh Viện Bạch Mai
  • Đo hô hấp ký là xét nghiệm giúp chẩn đoán các tình trạng bệnh lý của phổi, phổ biến nhất là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Ngoài ra đo hô hấp ký được dùng để theo dõi mức độ nghiêm trọng của một số bệnh lý về phổi, cũng như theo dõi đáp ứng hiệu quả điểu trị.

    Hô hấp ký là gì?

    Xét nghiệm này được thực hiện như thế nào?

    Trước khi làm, bạn được đo chiều cao và cân nặng. Khi đo bạn cần phải thổi vào máy hô hấp ký. Trước tiên bạn ngậm môi xung quanh ống thổi, hít sâu vào sau đó thổi ra mạnh nhất có thể tới khi không thổi thêm khí được nữa. Quá trình này mất vài giây. Để đánh giá thêm về chức năng phổi, kỹ thuật viên đo có thể yêu cầu bạn hít sâu vào sau đó thở ra chậm hết sức có thể tùy thuộc vào mục đích chuẩn đoán. Trong quá trình đo, kỹ thuật viên kẹp mũi của bạn bằng một cái kẹp mũi mềm để đảm bảo rằng bạn không thở ra đường mũi. Kỹ thuật viên có thể thực hiện lặp lại hơn ba lần để kiểm tra xem kết quả đọc được có giống nhau ở mỗi lần thổi.

    Các thông số giá trị khi đo chức năng hô hấp bằng hô hấp ký?

    Máy hô hấp ký đo được thể tích và tốc độ dòng khí bạn hít vào và thở ra. Các thông số máy ghi nhận được bao gồm:

      Thể tích khí thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (Forced expiratory volume in one second – FEV1). Đây là thể tích không khí mà bạn có thể thổi ra trong vòng một giây đầu tiên của thì thở ra. Bình thường bạn thường có thể thổi ra hầu hết không khí ra khỏi phổi trong vòng một giây.

    Những kết quả đo được thể hiện điều gì?

    Một kết quả đo chức năng hô hấp bằng hô hấp ký thường được thể hiện như sau:

    Kết quả hô hấp ký bình thường

    Một kết quả hô hấp ký bình thường sẽ thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, thể trạng, chủng tộc và giới tính. Giới hạn bình thường được thể hiện trên biểu đồ, và bác sĩ tham khảo biểu đồ này khi họ đánh giá kết quả đo của bạn.

    Hội chứng tắc nghẽn

    Gặp trong tình trạng hẹp hay tắc nghẽn đường hô hấp. Nguyên nhân chính gây nên hội chứng tắc nghẽn khi đo phế dung là hen phế quản và COPD. Vì thế, đo hô hấp ký có thể giúp chẩn đoán tình trạng bệnh. Nếu đường hô hấp bị hẹp hay tắc nghẽn, nó sẽ làm cho lượng không khí bạn thở ra nhanh giảm xuống. Vì vậy, chỉ số FEV1 sẽ giảm và tỷ lệ FEV1/FVC là thấp hơn so với bình thường. Theo quy ước, hội chứng tắc nghẽn xảy ra khi: Chỉ số FEV1/FVC thấp hơn 0,7, Chỉ số FEV1 có thể ít hơn 80% của giá trị dự đoán. Trong khi chỉ số FVC thường là bình thường hoặc gần bình thường. Đánh giá sau thử thuốc giãn phế quản – test dãn phế quản. Kết quả đo hô hấp ký cải thiện nếu đường hô hấp bị hẹp trở nên rộng hơn sau khi xịt thuốc. Ở bệnh nhân COPD, bác sĩ thường dung chỉ số FEV1 sau thử thuốc để đánh giá mức độ tắc nghẽn.Đối với bệnh lý hen phế quản, thường kết quả sau thử thuốc giãn phế quản cải thiện đáng kế, tuy nhiên ở bệnh COPD thường đáp ứng cải thiện kém. Theo một số hướng dẫn, các giá trị sau đây giúp chẩn đoán mức độ tắc nghẽn khi đo hô hấp ký:

    Hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký

    Hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký, phản ánh gián tiếp qua chỉ số FVC thấp hơn so với giá trị dự đoán. Hội chứng này thường thấy ở nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau ảnh hưởng đến mô phổi, hoặc khả năng của phổi khi giãn ra và giữ một lượng khí. Những tình trạng này là do xơ hóa hay sẹo phổi làm cản trở quá trình hít thở. Một số dị tật trong quá trình phát triển của phổi cũng có thể gây ra khiếm khuyết hạn chế này. Chỉ số FEV1 cũng sẽ bị giảm xuống, nhưng đây là do tương ứng với FVC giảm. Vì vậy, khi bị hội chứng hạn chế tỷ lệ FEV1/FVC là bình thường.

    Sự kết hợp hội chứng tắc nghẽn và hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký

    Trong trường hợp này bạn có thể có hai tình trạng – ví dụ, bệnh hen phế quản cộng với một rối loạn phổi khác. Ngoài ra, một số tình trạng phổi có dấu hiệu của cả hội chứng tắc nghẽn và hội chứng hạn chế. Ví dụ: ở bệnh xơ nang (cystic fibrosis) , có rất nhiều chất nhầy trong đường hô hấp, gây hẹp đường hô hấp (thể hiện phần tắc nghẽn), và gây tổn thương mô phổi (thể hiện phần gây hạn chế).

    Đo hô hấp ký có giống với máy đo lưu lượng đỉnh không (peak flow)?

    Không. Một máy đo lưu lượng đỉnh là một thiết bị nhỏ để đo tốc độ không khí mà bạn có thể thổi ra nhanh khỏi phổi. Giống như đo hô hấp ký, nó có thể phát hiện hẹp đường hô hấp. Nó thuận tiện hơn đo hô hấp ký và thường được sử dụng để giúp chẩn đoán hen phế quản. Nhiều người bị bệnh hen phế quản cũng sử dụng máy đo lưu lượng đỉnh để theo dõi bệnh. Đối với những người bị COPD, đọc lưu lượng đỉnh có thể đưa ra chẩn đoán sơ bộ về chứng hẹp đường hô hấp, nhưng nó có thể đánh giá không đúng về độ nghiêm trọng của bệnh COPD. Do đó, đo hô hấp ký vẫn là xét nghiệm chính xác hơn để chẩn đoán và theo dõi những người bị COPD.

    Trước khi đo hô hấp ký cần chuẩn bị những gì?

    Làm theo các hướng dẫn trước khi đo hô hấp ký ở cơ sở xét nghiệm mà bạn được đo xét nghiệm này. Các hướng dẫn có thể bao gồm những điều như: không sử dụng thuốc hít hoặc uống có tác dụng làm giãn phế quản trong một thời gian định sẵn trước khi tiến hành xét nghiệm (một vài giờ hoặc nhiều hơn, tùy thuộc vào loại thuốc hít). Ngoài ra, không được dùng rượu, ăn quá no, hoặc tập thể dục mạnh trong một vài giờ trước khi xét nghiệm. Tốt nhất, bạn không nên hút thuốc trong vòng 24 giờ trước khi xét nghiệm.

    Đo hô hấp ký có thể gặp những nguy cơ gì?

    Đo hô hấp ký là một xét nghiệm có nguy cơ rất thấp (ít gây hại). Tuy nhiên, việc thổi ra mạnh có thể làm tăng áp lực trong lồng ngực, bụng và mắt. Vì vậy, không nên tiến hành đo hô hấp ký nếu bệnh nhân có các tình trạng sau đây:

      Đau thắt ngực không ổn định.

    Thử nghiệm đảo ngược – Test đáp ứng thuốc giãn phế quản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp, Gia Lộc Cnc
  • Bế Mạc Lớp Tập Huấn Đào Tạo Giảng Viên Và Hướng Dẫn Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Lớp Tập Huấn Đào Tạo Giảng Viên Và Hướng Dẫn Đo Chức Năng Hô Hấp Dự Án 2012
  • Đào Tạo “thực Hành Đo Chức Năng Hô Hấp Cho Các Kỹ Thuật Viên”
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Màn Hình Màu Spriolab Iii Mir
  • Các Chỉ Số Đánh Giá Chức Năng Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 13. Máu Và Môi Trường Trong Cơ Thể
  • Chia Sẻ Đề Thi Sinh Học Lớp 8: Trong Cơ Thể Mô Biểu Bì Có Chức Năng Gì?
  • Trứng Gà Giúp Ích Gì Cho Làn Da Của Bạn?
  • Cỏ Lúa Mì Có Khả Năng Thanh Lọc Cơ Thể Và Giải Độc Gan
  • Đề Kiểm Tra 45 Phút Sinh Học Lớp 8: Trong Tế Bào, Bộ Phận Nào Là Quan Trọng Nhất ?
  • Bên cạnh gan, thận là cơ quan có chức năng thải độc quan trọng của cơ thể. Việc thực hiện xét nghiệm máu để đánh giá chức năng thận là phổ biến. Tuy nhiên không phải ai cũng biết chỉ số nào của xét nghiệm máu là đánh giá chức năng thận.

    1. Chỉ số đánh giá chức năng thận: ure máu

    Ure là sản phẩm thoái hóa của protein, được lọc qua cầu thận và đào thải ra ngoài cơ thể qua nước tiểu. Xét nghiệm ure máu được dùng để đánh giá chức năng thận và theo dõi các căn bệnh về thận.

    Chỉ số chức năng thận bình thường nếu giá trị ure máu dao động trong khoảng 2.5 – 7.5 mmol/l.

    Ure máu tăng trong trường hợp mắc các bệnh như viêm cầu thận, viêm ống thận, sỏi thận, suy thận, sỏi niệu quản, mất nước do sốt cao, tiêu chảy, suy tim sung huyết…

    Ure máu giảm khi người bệnh ăn ít protein, suy giảm chức năng gan, truyền nhiều dịch…

    2. Chỉ số đánh giá chức năng thận: Creatinin huyết thanh

    Giá trị creatinin bình thường đối với nam giới là 0.6 – 1.2 mg/dl và nữ giới là 0.5 – 1.1 mg/dl.

    Nồng độ creatinin tăng cao đồng nghĩa với việc có rối loạn chức năng thận. Nguyên nhân là vì khi chức năng thận suy giảm thì khả năng lọc creatinin sẽ giảm, dẫn tới nồng độ chất này trong máu sẽ tăng cao hơn bình thường.

    3. Chỉ số đánh giá chức năng thận: acid uric máu

    Acid uric máu tăng ở những người mắc bệnh suy thận, gout, vẩy nến…

    4. Điện giải đồ

    Chức năng thận suy giảm gây mất cân bằng các chất điện giải, gồm:

    Sodium (Natri): Natri trong máu bình thường ở khoảng 135 – 145 mmol/L. Với người suy thận, nồng độ natri máu giảm do mất qua thận, qua da, do thừa nước hoặc mất qua đường tiêu hóa.

    Potassium (Kali): Kali trong máu bình thường ở khoảng 3.5 – 4.5 mmol/L. Bệnh nhân suy thận cũng bị tăng Kali trong máu, do thận đào thải kém đi.

    5. Một số xét nghiệm khác

    Albumin huyết thanh: thông thường, chỉ số albumin huyết thanh là 35 – 50g/L, chiếm 50 – 60% protein toàn phần. Albumin giảm mạnh ở những người mắc bệnh lý cầu thận cấp như viêm cầu thận cấp.

    Protein toàn phần huyết tương: là chỉ số phản ánh chức năng lọc của cầu thận. Chỉ số protein trong máu bình thường ở mức 60 – 80 g/L. Người mắc bệnh thận thường bị giảm protein toàn phần do màng lọc cầu thận bị tổn thương.

    Canxi máu: Ở người khỏe mạnh, canxi trong máu từ 2.2 – 2.6 mmol/L. Người bị suy thận kéo theo giảm canxi máu và tăng phosphate.

    Tổng phân tích tế bào máu: người bị giảm số lượng hồng cầu thường mắc suy thận mạn tính.

    Để được tư vấn kết quả xét nghiệm máu, khám thai và quản lý thai nghén tại phòng khám sản phụ khoa 43 Nguyễn Khang. Mẹ bầu có thể truy cập website: chúng tôi ; hoặc liên hệ zalo: 0342.318.318 để được hướng dẫn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Số Hồng Cầu Lưới Thực (Corrected Reticulocyte Count
  • Ý Nghĩa Các Chỉ Số Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Tuyến Giáp
  • Hướng Dẫn Cách Đọc Kết Quả Xét Nghiệm Tổng Phân Tích Tế Bào Máu Trên Máy Tự Động
  • Vì Sao Hồng Cầu Có Chức Năng Vận Chuyển O2 Và Co2
  • Hồng Cầu Sống Được Bao Lâu Thì Chết?
  • Cách Đọc Và Ý Nghĩa Của Các Chỉ Số Đo Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Đo Chức Năng Hô Hấp Trong Chẩn Đoán Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mãn Tính (Copd)
  • Phục Hồi Chức Năng Hô Hấp Cho Bệnh Nhân Copd
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Minispir New
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Cầm Tay Spridoc
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp
  • 1. Các chỉ số về dung tích hô hấp

    Dung tích hô hấp là chỉ số đầu tiên cần chú ý trong đo chức năng hô hấp. Các chỉ số cơ bản trong dung tích hô hấp gồm có:

    – Dung tích sống (VC hoặc SVC): Dung tích sống là thể tích tối đa có thể huy động được trong một lần hô hấp. Chỉ số này cho thấy khả năng đáp ứng của cơ thể về mặt hô hấp đối với các hoạt động gắng sức. Dung tích sống thường phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giới tính, độ tuổi và bệnh lý. Cụ thể, VC của nam sẽ cao hơn nữ, tăng lên nhờ tập luyện, thấp hơn ở người lớn tuổi và người mắc các căn bệnh về phổi và ngực.

    – Dung tích sống thở mạnh mẽ (FVC): Là thể tích khi thu được khi thở ra nhanh, hết sức sau khi hít vào thật sâu. Ở người bình thường, chỉ số FVC thường thấp hơn so với chỉ số VC.

    – Dung tích hít vào (IC): Là chỉ số cho thấy khả năng hô hấp thích ứng với như cầu tăng lượng oxy của cơ thể. Đối với người bình thường, dung tích hít vào thường dao động từ 2000 ml đến 2500 ml.

    – Dung tích cặn (FRC): Dung tích cặn chức năng bình thường sẽ rơi vào khoảng 2000-3000 ml.

    – Dung tích toàn phổi (TLC): Dung tích toàn phổi là chỉ số thể hiện khả năng chứa đựng của phổi. Dung tích toàn phổi của người bình thường là khoảng 5 lít.

    2. Các chỉ số về thể tích hô hấp

    Bên cạnh dung tích, thể tích hô hấp cũng là chỉ số được thể hiện trên kết quả đo chức năng hô hấp. Các chỉ số về thể tích trong xét nghiệm kiểm tra đo chức năng hô hấp gồm có:

    – Thể tích khí lưu thông (TV): Là lượng khí lưu thông trong một lần hít vào và thở ra bình thường. Thể tích khí lưu thông ở một người trưởng thành là khoảng 500 ml.

    – Thể tích dự trữ hít vào (IRV): Là thể tích khí được hít vào thêm sau khi hít vào bình thường. Ở người bình thường, IRV thường chiếm khoảng 56% dung tích sống, tương ứng với 1500-2000 ml.

    – Thể tích dự trữ thở ra (ERV): Là thể tích khí được thở ra tối đa sau khi thở ra bình thường. Đối với người bình thường, ERV thường chiếm khoảng 32% dung tích sống, tương ứng với 1100-1500 ml.

    – Thể tích cặn (RV): Đây là thể tích được đo theo nguyên tắc pha loãng khí, thường là khi nitơ hoặc heli. Thông thường, thể tích cặn ở người bình thường sẽ dao động từ 1000 đến 1200 ml.

    3. Các chỉ số về lưu lượng thở

    Lưu lượng thở là chỉ số cuối cùng cần lưu ý khi đo chức năng hô hấp. Lưu lượng thở chính là lượng thể tích khí được huy động trong một đơn vị thời gian. Đơn vị thường được sử dụng là lít/ phút hoặc lít/ giây. Chúng sẽ cho biết khả năng đáp ứng nhu cầu cơ thể và sự thông thoáng của đường dẫn khí. Các chỉ số về lưu lượng thở thường gặp là:

    – Lưu lượng thể tích khí thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (FEV1): Đây là lượng thể tích không khí có thể thổi ra trong giây đầu tiên của thì thở ra. Người bình thường có thể thổi ra hầu hết lượng không khí trong phổi trong vòng 1 giây.

    – Lưu lượng đỉnh (PEF): Lưu lượng đỉnh là lưu lượng khí ra khỏi phổi khi thở ra tối đa. Chỉ số này phụ thuộc vào lực do cơ thở ra sản sinh và khẩu kính của đường thở trong thì thở ra.

    – Lưu lượng thông khí phế nang: Là chỉ số cho biết mức không khí trao đổi ở các phế nang trong vòng 1 phút. Không khí thở ra là sự hòa trộn của không khí trong các phế nang có trao đổi khí với máu và không khí đựng trong đường dẫn khí không trao đổi khí với máu (“khoảng chết” của bộ máy hô hấp).

    Đo chức năng hô hấp là kỹ thuật có thể được thực hiện tại nhiều cơ sở y tế. Tuy nhiên, để đảm bảo sự chính xác, bạn nên lựa chọn các bệnh viện, phòng khám uy tín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Phế Dung Kế Đo Chức Năng Hô Hấp Spm
  • Nghiệm Pháp Tim Mạch Hô Hấp Gắng Sức
  • Hướng Dẫn Cách Xem Và Phản Hồi Thông Báo Trên Apple Watch
  • Ứng Dụng Breathe Khiến Nhiều Người Dùng Apple Watch Bối Rối
  • Cách Xử Lý Apple Watch Không Rung Cho Báo Động Và Thông Báo
  • Xét Nghiệm Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phục Hồi Chức Năng Hô Hấp Cho Người Bệnh Có Di Chứng Lao Phổi
  • Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Quy Trình Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Các Bào Quan Của Tế Bào
  • Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp, Nguyên Lý Nội Khoa
  • Đo Thông Khí Phổi Đánh Giá Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp
  • Trong thực hành hàng ngày, máy phế dung kế (còn gọi là hô hấp kế) đơn giản cung cấp cho ta những thông tin có ích và dễ thu thập. Những test (thử nghiệm) phế dung kế cho phép phân loại những trường hợp suy giảm thông khí thành hai nhóm lớn, đó là nhóm suy giảm thông khí hạn chế Và suy giảm thông khí tắc nghẽn. Những test này cũng cho phép theo dõi diễn biến và đánh giá hiệu quả của các biện pháp điều trị.

    Ghi chú về phép đo lưu lượng đỉnh lưu động (chính xác hơn: lưu lượng thở ra đỉnh)

    Lưu lượng đỉnh (tiếng Anh: “peak flow”, hoặc PEF: “peak expiratory flow”) là lưu lượng không kh; tối đa tính bằng lít trong một phút, trong quá trình một lần thở ra gắng sức. Chính bản thân bệnh nhân cũng có thể tự đo lưu lượng này cho mình với một máy không đắt tiền lắm, gọi là máy đo lưu lượng đỉnh (hoặc lưu lượng đỉnh kế). Bệnh nhân ở tư thế đứng (để có thể làm cho phổi giãn nở tới mức tối đa), rồi hít vào thật sâu, miệng ngậm đầu của ống dẫn của lưu lượng kế, rồi thổi ra hết sức vào ống dẫn của máy. Nên thực hiện test này ba lần, và lấy kết quả của lần có giá trị tốt (cao) nhất. Người ta đã xây dựng những giá trị tham khảo cho từng giới, lứa tuổi, và chiều cao cơ thể. Xét nghiệm đo lưu lượng đỉnh đặc biệt có ích để bệnh nhân tự giám sát hiệu quả điều trị bệnh hen.

    Những rối loạn thông khí

    RỐI LOẠN THÔNG KHÍ HẠN CHẾ

    • Định nghĩa: giảm dung tích phổi toàn phần và giảm theo tỷ lệ tất cả những thể tích phổi, đặc biệt là dung tích sống (VC), và thể tích thở ra tối đa giây (viết tắt tiếng Pháp: VEMS, hoặc tiếng Anh: FEVl: forced expiration volume = thể tích thở ra gắng sức). Tỷ số FEV1/VC (VEMS/CV) bình thường (từ 75% trở lên).
    • Căn nguyên:
    • Các bệnh phổi (nhu mô): bệnh phổi mô kẽ (do thuốc, do bức xạ), bệnh xớ phổi vô căn, bệnh sarcoid, bệnh bụi phổi, xẹp phổi.
    • Cắt phổi (cắt phân thuỳ, cắt thuỳ).
    • Bệnh màng phổi: viêm màng phổi, tràn khí màng phổi, dính màng phổi.
    • Nguyên nhân thần kinh-cơ: liệt hoặc liệt nhẹ cơ hoành, bệnh nhược cờ, hội chứng Guillain-Barré, loạn dưỡng cơ, tổn thương tuỷ sống.
    • Nguyên nhân lồng ngực: gù-vẹo cột sống ngực, gẫy xương sườn, béo phì quá mức, viêm đốt sống cứng khớp.

    RỐI LOẠN THÔNG KHÍ TẮC NGHẼN

    • Định nghĩa: giảm thể tích thở ra tối đa giây (FEV1) trên 20% của giá trị lý thuyết của tham số này. Tỷ số giữa thể tích thở ra tối đa giây trên dung tích sống (FEV1/VC) giảm xuống dưới 60% (bình thường từ 65-80%). Cần nhớ rằng dung tích sống đo theo phương pháp truyền thông và dung tích sống gắng sức (còn gọi là dung tích sống thở mạnh: FVC = forced vital capacity) được đo khi làm nghiệm pháp Tiffeneau, không phải bao giờ cũng như nhau. Trong trường hợp bệnh phổi tắc nghẽn khi đo dung tích sống gắng sức, thì có thể xẩy ra hiện tượng gọi là “air trapping” (từ tiếng Anh có nghĩa là bẫy không khí) hiện tượng này làm giảm dung tích sống gắng sức, so với dung tích sống đo theo truyền thông.
    • Căn nguyên: thấy trong bệnh hen, các bệnh phế quản-phổi tắc nghẽn, giãn phế nang (khí thũng phổi), giãn phế quản, bệnh nhày nhớt, viêm tiểu phế quản.

    RỐI LOẠN THÔNG KHÍ HỖN HỌP: giảm dung tích sống kèm theo giảm thể tích thở ra tối đa giây theo tỷ lệ rõ rệt hơn. Thực ra, nhiều bệnh phổi ở giai đoạn muộn đều gây ra rối loạn thông khí hỗn hợp.

    Các test tắc nghẽn phế quản (chỉ thực hiện ở cơ sở chuyên khoa sâu)

    CHO HÍT MỘT THUỐC GIỐNG BÊTA: nghiên cứu thể tích thở ra tối đa giây (FEV1) sau khi cho bệnh nhân hít khí dung salbutamol hoặc terbutalin. Sau khi cho hít khí dung này, có hơn 20% khả năng hồi phục tắc nghẽn ở những bệnh nhân bị hen còn cảm thụ với các thuốc giãn phế quản.

    TEST GÂY PHẢN ỨNG PHẾ QUẢN KHÔNG ĐẶC HIỆU: nhằm mục đích phát hiện tình trạng tăng phản ứng phế quản, nhất là trong bệnh hen. Cho bệnh nhân hít khí dung một thuốc co phế quản, ví dụ methacholin (Provocholine), sẽ có thể làm giảm 20% FEVl, rồi so sánh đường biểu diễn liều lượng-đáp ứng của bệnh nhân với đối chứng bình thường.

    TEST GÂY PHẦN ỨNG PHẾ QUẢN ĐẶC HIỆU: nghiên cứu hiệu quả của khí dung dị nguyên (bụi nhà, dị nguyên trong khí quyển, trong nghề nghiệp) ở những bệnh nhân hen phế quản.

    Xét nghiệm cơ học bộ máy hô hấp

    Những nghiệm pháp này không nằm trong thực hành thường quy. Có thể kể ra những tham số sau đây:

    • Đường biểu diễn tỷ sốlưu lượng/thể tích:dạng của đường biểu diễn này cũng cho phép phân biệt những trường hợp suy hô hấp hạn chế với suy hô hấp tắc nghẽn. Phân tích đường biểu diễn tỷ số này đặc biệt có ích để phát hiện tắc đường hô hấp trên thường xuyên (hẹp) hoặc tạm thời (nhuyễn khí quản).
    • Hệ số nở phổi tĩnh: là phép đo tính đàn hồi hoặc tính cứng rắn của phổi. Hệ số này được định nghĩa là mức tăng thể tích của phổi nở thêm ra dưới tác dụng của một đơn vị áp suất (0,2 1/cm nước). Hệ số nở phổi tăng lên nếu phổi đàn hồi (ví dụ giãn phế nang), hệ số này giảm khi phổi cứng (ví dụ bệnh xơ phổi).
    • Thể tích đóng kín: được định nghĩa là thể tích của không khí thở ra vào lúc những đường hô hấp dưới ở đáy phổi bị nén bởi cơ hoành và đáy phổi nên khép lại. Thể tích này tăng lên khi các đường hô hấp ở phần ngoại vi phổi không bình thường (ví dụ trong viêm các tiểu phế quản).
    • Lực cản ma sát giữa đường hô hấp với dòng khí.Lực này chủ yếu là do lực cản ở phần đường hô hấp ngoại vi (tức là các phế quản nhỏ và tiểu phế quản). Bình thường lực này là 0,2 kilopascal/lít/giây.

    Xét nghiệm sự trao đổi khí

    NHỮNG GIÁ TRỊ BÌNH THƯỜNG

    • PaO2 = áp lực riêng phần của oxy trong máu động mạch (82,5 – 90 mmHg hoặc 11-12 kilopascal).
    • PaCO2 = áp lực riêng phần của khí carbonic trong máu động mạch (35- 45 mmHg hoặc 4,7-6 kPa)

    GIẢM THÔNG KHÍ PHẾ NANG TOÀN PHẦN (TOÀN PHỔI): đưa tới tăng áp lực riêng phần của khí carbonic trong máu động mạch (PaCO 2 cao hơn 50 mmHg). Những biến đổi của PO 2 và của PCO 2 ở trong phế nang thường tỷ lệ với nhau, trong khi những biến đổi của chúng trong máu động mạch thì không. Thật vậy, trong trường hợp giảm thông khí phế nang mức tăng của PaCO 2 thường lớn hơn, so với mức giảm của Pa0 2. Nếu cho thở oxy thì sẽ sửa chữa được phần nào hoặc toàn bộ tình trạng giảm oxy-mô, đôi khi còn có nguy cơ làm tăng thêm tình trạng tăng khí carbonic trong máu, nếu những trung tâm nhận cảm hoá học (hoá-thụ thể) trung ương của cơ chế điều hoà hô hấp đã mất tính nhạy cảm với CÔ 2. Hoàn cảnh này xẩy ra ở những bệnh nhân suy hô hấp mạn tính bị tích tụ nhiều CO 2. Những nguyên nhân gây ra giảm thông khí phế nang bao gồm:

    • Suy giảm hô hấp ở trung ương: gặp trong hôn mê sau chấn thương, nhiễm kiềm chuyển hoá, giảm oxy-mô kéo dài, tổn thương thân não, viêm não hành não.
    • Dẫn truyền xung thần kinh-cơ ở những cơ hô hấp bị ảnh hưởng liệt: gặp trong bệnh bại liệt, bệnh nhược cơ, các bệnh cơ, loạn dưỡng cơ, bệnh thần kinh ngoại vi.
    • Lồng ngực hoạt động yếu và ứ đọng trong phế quản: thấy trong trường hợp gù-vẹo cột sống, xơ phổi-lồng ngực, viêm đốt sống cứng khớp, hội chứng ngừng thở lúc ngủ, béo phì-giảm thông khí, dị vật trong đường thở, bệnh nhày nhớt, ho ra máu nặng.

    TĂNG THÔNG KHÍ: đưa tới giảm áp suất riêng phần của khí carbonic trong máu động mạch (PaCO 2 dưới 35 mmHg).

    Nguyên nhân: tổn thương trong hệ thần kinh trung ương, nhiễm toan chuyển hoá, lo âu, ngộ độc một số thuốc (ví dụ các dẫn xuất của acid salicylic), giảm oxy-huyết, giảm đường huyết, hôn mê gan, nhiễm khuẩn-huyết. Tăng thông khí còn gặp trong một số bệnh phổi, ví dụ bệnh phổi mô kẽ hoặc phù phổi. (Về hội chứng tăng thông khí tâm thần, hoặc do thần kinh, xem hội chứng này)

    THAY ĐỔI TỶ SỐ THÔNG KHÍ/TƯỚI MÁU

      Hiệu quả shunt hoặc rối loạn thông khí tại chỗ: giảm hoặc mất thông khí phế nang tại chỗ trong khi dòng máu tuần hoàn vẫn bình thường. Máu tĩnh mạch khi đi qua phần này của phổi tất nhiên không thải được khí carbonic và không lấy được khí oxy.

    Nguyên nhân: hiệu quả shunt là nguyên nhân hay gặp nhất gây ra bất thường về khí trong máu. xẩy ra trong bệnh phế quản-phổi tắc nghẽn mạn tính, trong viêm phổi, co thắt phế quản, chèn ép phổi do tràn khí hoặc tràn dịch màng phổi. Hoàn cảnh điển hình nhất là trường hợp xẹp phổi, trong đó thông khí phế nang không tồn tại nữa, trong khi mà tuần hoàn máu vẫn nguyên vẹn. Do đó sẽ dẫn tới giảm oxy-huyết ít hoặc nhiều, kèm theo hoặc không kèm theo tăng khí carbonic-huyết tiếp sau hiệu quả của tăng thông khí bù.

    – Rối loạn tuần hoàn (tưới máu) phế nang tại chỗ: hoàn cảnh rõ nét nhất gặp trong nghẽn mạch phổi, trong đó tuần hoàn máu tại chỗ bị ngừng trệ trong khi thông khí phế nang vẫn duy trì. Do đó khí carbonic bị tích luỹ lại làm tăng chênh lệch về nồng độ khí này giữa động mạch và phế nang (tăng gradient động mạch-phế nang), và các phần khác của phổi sẽ phải tăng thải khí carbonic để bù trừ. Giảm oxy-mô và tăng khí carbonic trong máu là đặc điểm bệnh lý của nhồi máu phổi. Giữa hai hoàn cảnh đối cực, xẹp phổi (giảm thông khí với tuần hoàn tại chỗ bình thường) ở một cực, và nhồi máu phổi (thông khí tại chỗ bình thường với giảm tuần hoàn) ở cực kia, hiển nhiên là có thể có tất cả một dãy các giá trị trung gian của tỷ số thông khí / tuần hoàn.

    RỐI LOẠN KHUYẾCH TÁN KHÍ: khí carbonic có độ hoà tan cao gấp 20 lần so với oxy, cho nên trong thực tế không có rối loạn về khuếch tán của khí CO2. Còn đối với khuếch tán của khí oxy giữa phế nang và máu trong mao mạch, thì mức khuếch tán này giảm trong những hoàn cảnh: lên độ cao, giảm thời gian dòng máu vận chuyển qua phổi (gắng sức thể lực), giảm diện tích khuếch tán của các khí (bệnh phổi mô kẽ, giãn phế nang), tăng bề dầy của rào cản giữa phế nang và mao mạch (dịch rỉ viêm trong phế nang, xơ phổi). Rối loạn về khuếch tán các khí thể hiện bởi giảm oxy-huyết, với khí carbonic trong máu bình thường hoặc đôi khi giảm do tăng thông khí bù, khi mà những vùng phổi lành vẫn còn đủ khả năng bù.

    Dung tích khuếch tán được định nghĩa là thể tích oxyd carbon (CO) được hấp thụ trong một phút dưới áp suất của mỗi mmHg (DL C0)

    PHÂN BỐ THÔNG KHÍ: ở người bình thường, phân bố thông khí trong phổi không tuyệt đối đồng đều, những phế nang ở đỉnh phổi thường giãn rộng hơn ở đáy phổi. Nhiều quá trình bệnh lý khác nhau (tắc đường dẫn khí ngoại vi, giảm độ đàn hồi của phổi, phù mô kẽ) có thể làm tăng tính không đồng đều về phân bố không khí trong phổi.

    Phép đo thể tích đóng, kỹ thuật nitơ hoặc chụp nhấp nháy thông khí cho phép đánh giá sự phân bố thông khí trong phổi.

    BẤT THƯỜNG VỀ SỐ LƯỢNG HOẶC CHẤT LƯỢNG CỦA HEMOGLOBIN: thiếu máu, hoặc trong máu có hemoglobin bất thường (methemoglobin, sulíhemoglobin, carboxyhemoglobin) sẽ gây ra rối loạn về trao đổi khí ở phổi.

    VC (tiếng Pháp: CV) = dung tích sống (theo tuổi, giới và chiều cao).

    FEV1 (Tiếng Pháp: VEMS) = thể tích thở ra tối đa giây (tỷ số tính theo % giữa thể tích khí thở ra trong giây đầu tiên trong một lần thở ra tối đa hoặc gắng sức trên dung tích sống gắng sức; giá trị này bằng hoặc vượt quá 75%).

    PaO2 = áp suất riêng phần khí oxy trong máu động mạch (80-100 mmHg hoặc 11-13 kilopascal)

    PaC02 = áp suất riêng phần của khí carbonic trong máu động mạch (35- 45 mmHg hoặc 4,7-6 kPa).

    (bt) = giá trị tính theo % của chuẩn (bình thường).

    (gs) = riêng cho gắng sức.

    (n) = đã ở lúc nghỉ.

    Bảng 6.7. Các xét nghiệm phế dung kế (hô hấp kế) hoặc xét nghiệm thông khí

    Thể tích lưu thông (TV)*. Bình thường: 300-600 ml

    Thể tích không khí được huy động trong một chu kỳ thở ra và thở vào (300-600 ml) trong lúc nghi ngơi. Đây cũng là thể tích không khí được xác định (lúc nghĩ ngơi) từ điem cuối của thì thồ vào tới điểm cuối cua thì thồ ra.

    Thể tích dự trữ thở ra (ERV)*

    Thể tích không khí thở ra gắng sức sau khi đã kết thúc thì thở ra bình thường

    Thể tích dư trữ thở vào (IRV)*

    Thể tích không khí tối đa có thể hít vào gắng sức sau khi đã kết thúc thì thở vào bình thường.

    Thể tích căn (RV)*

    Thể tích khí còn lại trong phổi sau khi đã kết thúc thở ra tối đa (gắng sức). Thể tích này không thể đo được bằng phương pháp đo phế dung bình thường, mà phải có hô hấp kế heli (helium) hoặc đo thể tích ký cơ thể. Thể tích căn bằng 20-35% của dung tích sống.

    Dung tích sống (VC)*

    Thể tích khí tối đa đạt được trong thì thở ra từ từ và hoàn toàn, thực hiện sau khi đã thở vào gắng sức. Dung tích sống bình thường thay đổi tuỳ theo tuổi, giới và chiều cao cơ thể, có thể tính theo công thức sau:

    Nam giới: (0,112 X tuổi) X cm chiều cao.

    Nữ giới: (0,101 X tuổi) X cm chiều cao.

    Biến động trên dưới 20% của giá trị tính theo các công thức trên vẫn được công nhận là bình thường, ở đối tượng từ 30-40 tuổi, chiều cao trung bình, thì dung tích sống là 4500 ml đối với nam giới và là 3300 ml đối với nữ giới.

    Dung tích sống giảm trong các bệnh phổi hạn chế.

    Dung tích toàn phổi (TLC)*

    Dung tích sống + thể tích cặn. Dung tích này nói lên toàn bộ thể tích khí chứa trong phổi sau khi kết thúc thì thở vào gắng sức, cũng không thể đo được bằng các kỹ thuật thông thường.

    Dung tích căn chức năng (FRC)*

    Tổng của thể tích dự trữ thở ra và thể tích căn. Dung tích này cũng không đo được bằng các kỹ thuật thông thường.

    Thể tích thở ra tối đa giây (FEV1* hoặc VEMS)

    Thể tích tối đa thở ra trong giây đầu tiên, sau khi đối tượng thực hiện dung tích sống gắng sức (FVC). Có thể đo FEV1 trước và sau khi cho đối tượng hít khí dung có thuốc giãn phế quản. Thể tích này cho phép phát hiện mức độ co thắt phế quản và đánh giá hiệu quả của thuốc giãn phế quản.

    Tỷ lệ Tiffeneau (FEV1/VC)*

    Tỷ số giữa thể tích thở ra trong giây đầu tiên với dung tích sống (FEV1/VC) không được thấp dưới 75%. Thể tích thở ra trong giây đầu tiên và dung tích sống là hai xét nghiệm quan trọng nhất và có thể đo được bằng phương pháp đo bằng phế dung kế đơn giản.

    Lưu lượng thở ra gắng sức hoặc lưu lượng đỉnh hoặc peak flow

    Lưu lượng khí tối đa, tính bằng lít trong mỗi phút, trong quá trình một thì thở ra gắng sức. Tự bản thân bệnh nhân có thể đo được lưu lượng này của mình bằng một phế dung kế không đắt tiền lắm, còn gọi là lưu lượng kế đỉnh (‘”peak flow”).

    Lưu lượng đỉnh đặc biệt có ích để tự giám sát hiệu quả điều trị bệnh hen.

    Lưu lượng đỉnh thay đổi theo giới, tuổi và chiều cao của cơ thể.

    Các ví dụ về giá trị bình thường:

    Nam giới 40 tuổi, cao 160-180 cm = 600-650 l/phút.

    Nữ giới 40 tuổi, cao 150-175 cm = 450-490 l/phút.

    Lưu lượng trung bình giữa thì thở ra (MEF)*

    Phân tích đường cong đồ thị của FEV1 (VEMS), người ta sẽ đo được lưu lượng trung bình tối đa khi đi qua những mức 75% và 25% của dung tích sống. Như vậy người ta sẽ có được một độ dốc tỷ lệ với lưu lượng tối đa trung bình.

    Giá trị của lưu lượng này đối với người bình thường là 4,5 l/giây ở nam giới từ 30-40 tuổi, và là 4 l/giây ở nữ giới cùng lứa tuổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đo Chức Năng Hô Hấp Là Gì Và Nó Có Ý Nghĩa Như Thế Nào ?
  • Hô Hấp Ký Là Gì? Đo Chức Năng Hô Hấp Như Thế Nào?
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Spirolab
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Alpha Touch 6000 Vitalograph
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Điện Toán
  • Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Đồng Hồ Apple Watch Series 4 Từ A Đến Z
  • Cách Xử Lý Apple Watch Không Rung Cho Báo Động Và Thông Báo
  • Ứng Dụng Breathe Khiến Nhiều Người Dùng Apple Watch Bối Rối
  • Hướng Dẫn Cách Xem Và Phản Hồi Thông Báo Trên Apple Watch
  • Nghiệm Pháp Tim Mạch Hô Hấp Gắng Sức
    • Chẩn đoán xác định hen phế quản, COPD, các rối loạn thông khí khác
    • Chẩn đoán phân biệt hen phế quản với COPD, bệnh lý có rối loạn khác như giảm oxy máu, tăng cacbonic máu, đa hồng cầu…
    • Đo lường ảnh hưởng của bệnh lên chức năng phổi
    • Để tầm soát người có nguy cơ bị bệnh phổi: hút thuốc lá, phơi nhiễm với các chất độc hại
    • Đánh giá nguy cơ, tiên lượng trước phẫu thuật (cắt thùy phổi, cắt phổi,…)
    • Theo dõi tác dụng phụ của thuốc có độc tính trên phổi

    • Các nghiên cứu dịch tể học
    • Trường hợp tổn thương phổi có nguy cơ biến chứng khi làm hô hấp ký (kén khí lớn của phổi, màng phổi, ho máu nhiều, áp xe phổi lớn…)
    • Bệnh nhân không hợp tác (rối loạn tâm thần, giảm thính lực…)
    • Chấn thương vùng hàm mặt, lồng ngực
    • Mới phẫu thuật ngực, bụng, mắt
    • Bệnh lý tim mạch nặng: suy tim xung huyết, bệnh mạch vành, nghi ngờ hoặc xác định phình tách động mạch
    • Phụ thuộc vào thao tác của người đo và sự phối hợp của đối tượng được đo
    • Không đặc hiệu cho từng bệnh lý hô hấp
    • Vài chỉ số biến thiên lớn như FEF 25-75
    • Đo 3 lần với đường cong có thể chấp nhận được
    • Chênh lệch FEV1 và FVC giữa các lần đo không quá 5% hay 150 ml
    • Thực hiện không quá 8 lần

    • Thời gian thở ra tối thiểu 6 giây? (trẻ em tối thiểu 3 giây)
    • Đường cong lưu lượng thở ra có bình nguyên kéo dài 1 giây?
    • Việc bắt đầu test có thỏa đáng không (ít hơn 5% thể tích ngoại suy)
    • Đối tượng đã hiểu được các chỉ dẫn thực hiện hay chưa?
    • Việc hít vào có được thực hiện với gắng sức cao nhất hay không?
    • Việc thở ra có trôi chảy và liên tục hay ko?
    • Gắng sức có đạt mức cao nhất khi thở ra hay không (có peak)?

    • Sự chênh lệch có ít hơn 150ml giữa FVC lớn nhất và lớn nhì hay không (100ml khi FVC<1.0L)
    • Sự chênh lệch có ít hơn 150ml giữa FEV1 lớn nhất và lớn nhì hay ko (100ml khi FVC<1.0L)
    • Có tài liệu chứng minh cho việc thiếu khả năng có thể lặp lại hay ko?
    • Nếu FVC bình thường: về cơ bản không có RLTKHC
    • Nếu FVC giảm: có thể RLTKHC hoặc TN
    • Xem đường nét của đường cong lưu lượng- thể tích

      • Nếu đường cong bình thường và FVC bình thường thì hầu hết kết quả test là bình thường. Ta bước sang bước V, VI. Nếu FVC giảm và đường cong lưu lượng – thể tích dốc xuống, FEV1/FVC bình thường thì có thể do RLTKHC, hen PQ không điển hình, hoặc một bất thường không rõ ràng. Trong trường hợp này cần đo TLC để phân biệt rõ. Nếu TLC giảm thì chẩn đoán chắc chắn RLTK hạn chế

      • Nếu đường cong hất lên và độ dốc giảm, lưu lượng giảm( xem hình ) thì hầu hết là RLTKTN. Chú ý đôi khi RLTK hỗn hợp cũng có hình dạng như vậy

    • Nếu đường cong lưu lượng- thể tích dẹt xuống thì gợi ý tắc nghẽn đường thở lớn (từ carina đến miệng)

      Lưu lượng thở ra ở khoảng giữa 50% của FVC (FEF 25-75) hầu như thay đối giống như FEV1, nhưng nó thường giảm trước FEV1 trong sự phát hiện tắc nghẽn đường thở ở giai đoạn sớm, FEF 25-75 đôi khi giảm trong khi FVC, FEV1 và MVV bình .Trường hợp này hay gặp ở người già với triệu chứng nghèo nàn. Tuy nhiên chỉ số này biến thiên lớn nên một số tác giả khuyên phải thận khi đọc chỉ số này.

    • MVV sẽ thay đổi trong hầu hết các trường hợp như là FEV1. Với FEV1 bình thường thì MVV sẽ bình thường( FEV1- 40 = MVV). Cần lưu ý đến giới hạn thấp hơn ( FEV1- 30)
    • Nếu FEV1 giảm do RLTKTN thì MVV cùng sẽ giảm. Nhưng trong RLTKTN, FEV1 – 40 = MVV không phải lúc nào cũng đúng

      • Nếu FEV1 giảm do RLTKHC thì MVV luôn luôn giảm nhưng không phải giảm nhiều như FEV1

      • Nếu FEV1 bình thường nhưng MVV giảm dưới giới hạn dưới có thể gặp trong các trường hợp sau:

        Bệnh nhân bị ốm, mệt, ho,hoặc thực hiện đo chưa gắng sức tối đa

        Xem BN có rối loạn thần kinh cơ

        Xem BN có tắc nghẽn đường thở lớn không. MVV giảm trong cả 3 loại tắc nghẽn trong, ngoài lồng ngực và cả hai. Trường hợp này phải xem hình dạng dẹt của đường cong lưu lượng- thể tích để khẳng định.

        Nếu BN bị béo phì thì MVV giảm trước khi FEV1 giảm

    Tiffenaeu (FEV1/VC) giảm < 70% giá trị dự đoán

    Và/hoặc Gaensler (FEV1/FVC) giảm < 70%

    Tùy thuộc mức độ giảm FEV1 để đánh giá mức độ nặng RLTKTN

    TLC, VC, FVC giảm < 80% giá trị dự đoán

    FEV1/VC bình thường hay tăng

    Đánh giá mức độ RLTKHC dựa vào giá trị VC hoặc FVC (lấy giá trị lớn hơn)

    80 – 60 : nhẹ

    60 – 40 : trung bình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Hi
  • Phục Hồi Chức Năng Hô Hấp: Giảm Triệu Chứng Khó Thở, Cải Thiện Cuộc Sống
  • Chuong Vi: Hệ Hô Hấp
  • Thuốc Trừ Sâu Phổ Biến Hiện Nay Có Thể Làm Suy Giảm Chức Năng Hô Hấp Của Trẻ
  • Cải Thiện Chức Năng Đường Hô Hấp Cho Trẻ Nhờ Bơi Lội
  • Thực Phẩm Chức Năng Các Bệnh Về Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đặc Điểm Cấu Tạo Của Hệ Hô Hấp Phù Hợp Với Chức Năng Của Chúng?
  • Bệnh Nhân Cần Chuẩn Bị Gì Trước Khi Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Nghiên Cứu Vai Trò Của Ghi Hình Tưới Máu Phổi Phối Hợp Với Đo Thông Khí Ngoài Trong Tiên Lượng Chức Năng Hô Hấp Sau Mổ Cắt Bỏ Một Phần Phổi
  • Những Điều Mà Bạn Nên Biết Về Máu
  • Chức Năng Và Thành Phần Của Máu
  • Các bệnh về hô hấp cùng cách phòng ngừa & hỗ trợ điều trị

    Cấu tạo sự hoạt động của hệ hô hấp

    Hệ hô hấp bao gồm: mũi, hầu họng, thanh quản, khí quản và hai buồng phổi. Một chu trình thở bao gồm hít vào, trao đổi khí và thở ra. Mỗi khi hít vào không khí có chứa oxy theo mũi (và miệng) đi vào trong buồng phổi theo các khí quản và làm phồng các túi khí bên trong phổi. Trước khi đến phổi các màng nhày của mũi, họng đã làm cho không khí ấm hơn để hạn chế tình trạng nhiễm lạnh cho phổi. Hầu họng giống như ngã tư giao nhau giữa một bên là mũi khí quản còn một bên là miệng và thực quản. Điều này có nghĩa lượng không khí hít vào mang theo bụi bặm chứa nhiều mầm bệnh, gây ra viêm nhiễm cho hệ hô hấp, lẫn hệ tiêu hóa cụ thể là ở vùng hầu họng. Một hệ thống lông mao có khắp nơi trong hệ thống dẫn khí làm nhiệm vụ lọc, ngăn chặn và quét ngược bụi bặm trở ra khỏi hệ hô hấp.

    * Thanh quản là đoạn đầu trên của ống dẫn khí vào cơ thể, thanh quản có hai dây thanh có chức năng chính trong viêc phát ra các âm tiết khác nhau trong ngôn ngữ và những âm thanh khác phát ra từ mũi miệng.

    * Khí quản là một ống có cấu tạo chủ yếu là sụn bắt nguồn từ thanh quản chạy song song với thực quản bên trong lồng ngực, đầu còn lại của khí quản được chia thành hai nhánh lớn để dẫn khí vào từng vị trí trong phổi qua vô số nhánh dẫn khí được phân chia tiếp theo gọi là tiểu phế quản đến từng vị trí trong mô phổi. Các tiểu phế quản dẫn khí đến phổi làm thổi phồng các túi bên trong phổi (gọi là phế nang), nơi diễn ra quá trình trao đổi khí với hồng cầu.

    * Từ hai nhánh phế quản vào hai phổi, sự phân chia thành các tiểu phế quản và tiểu phế quản cần thiết để dẫn khí cho cả 300400 phế nang cho mỗi buồng phổi. Quá trình trao đổi khi xảy ra do việc tiếp xúc giữa hồng cầu với không khí giàu oxy trong phế nang. Các hemoglobin có trong hồng cầu trao đổi nhận các phân tử oxy và nhả ra khí carbonic (CO2) vào phế nang đây là chức năng cơ bàn của hệ hô hấp, hiển nhiên CO2 sẽ thải ra qua quá trình thở ra, oxy được mang đến cung cấp cho tế bào để đốt cháy nhiên liệu tạo ra năng lượng cho mọi hoạt động của cơ thể. Quá trình này cứ diễn ra từng ngày, từng giờ từng phút, từng giây để duy trì chức năng cơ bản của sự sống.

    * Cơ hoành đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hít thở. Một khi cơ hoành đẩy lên tạo ra một sức nén làm nhỏ lồng ngực và có tác dụng đẩy khí ra ngoài, gọi là thở ra. Tương tự để hít vào cơ hoành sẽ hạ xuống là ra tăng thể tích bên trong lồng ngực, kéo theo sự giãn nở hai buồng phổi làm không khí tuồn đầy vào bên trong gọi là thì hít vào. Nín thở là một động tác cố gắng làm bất đông cơ hoành, thể tích lồng ngực được giữ nguyên, khí không di chuyển ra vào.

    Cách phòng bệnh bảo vệ hệ hô hấp

    Hệ hô hâp đóng vai trò quan trọng, thở là điều kiện quyết định để duy trì sự sống. Sự ô nhiễm môi trường, thời tiết thay đổi cơ quan chịu tác động đầu tiên bị ảnh hưởng chính là hệ hô hấp. Để duy trì tốt cho hệ hô hấp khỏe mạnh bạn cần chú ý:

    * Đối với bệnh lây nhiễm có thuốc tiêm phòng bạn nên thực hiên tiêm phòng đầy đủ (lao, bạch hầu, cúm,…) tránh tiếp xúc trực tiếp với người bệnh đề phòng sự lây nhiễm bệnh.

    * Nên tập thể dục thường xuyên, chọn nơi khí hậu trong lành để hít thở sâu tăng cường trao đổi khí giúp duy trì sự khỏe mạnh cho phổi.

    * Tránh ăn các thức ăn quá lạnh, quá nóng

    * Không nên hút thuốc lá vừa bất lợi cho sức khỏe của mình lại ảnh hưởng đến môi trường.

    * Giữ vệ sinh môi trường nhà cửa thoáng mát, nên mở cửa cho ánh sáng chiếu vì có một số vi khuẩn hiếu khí gây bệnh phổi bị tiêu diệt dưới ánh nắng mặt trời.

    Luôn thường xuyên giữ ấm cho cơ thể khi thời tiết thay đổi

    * Làm trong môi trường bụi bẩn cần có khẩu trang đeo để bảo vệ cơ thể

    * Cần ăn uống đầy đủ các vitamin và khoáng chất nhất là các loai vitamin chống gốc tự do tăng cường sức đề kháng vitamin A, C, D, E và các khoáng chất kẽm, silen, canxi, magie,…Các bạn có thể bổ sung vitamin và khoáng chất để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể khi thời tiết thay đổi bằng sản phẩm thực phẩm chức năng của tập đoàn FLP đến từ Hoa Kỳ như: Forever Asobent C (#048), Forever Kids (#354), Forever Bee propolis (#027), Forever Immublend (#355),…

    Chuyên đề: Bệnh hen phế quản (bệnh suyễn)

    Hen là một bệnh mãn tính, trầm trọng và thường cũng có thể là do biểu hiện của dị ứng kéo dài nhiều năm tháng. Đây là căn bệnh thường gặp và theo thống kê tổ chức y tế thế giới (WHO), trên thế giới có khoảng 300 triệu người hen phế quản chiếm từ (4% -12% dân số) với ước tính đến năm 2025 số người bị hen có thể tăng lên 100 -150 triệu người. Tình trạng bệnh nhân mắc hiện tượng hen và bệnh phổi tắc nghẽn ở Việt Nam theo thống kê của bệnh viên Bạch Mai ước tính chiếm đến 5% dân số.

    Bệnh hen phế quản là bệnh thuộc hệ thống hô hấp, thời gian ủ bệnh dài và không gây tổn thương nhìn thấy được nên nhiều người chủ quan đến khi phát hiện đã trầm trọng, căn bệnh này hiện đang xếp hàng thứ tư trong số các bệnh gây tử vong cao trên thế giới.

    Nguyên nhân hen phế quản

    Bệnh hen phế quản còn được gọi bệnh suyễn, là bệnh khó thở từng cơn do co thắt phế quản kèm tăng tiết dịch, nguyên nhân do nhiều dị nguyên kích thích như phấn hoa, lông chó mèo, nấm mốc, bụi các loại,…

    Bệnh có thể có yếu tố di truyền, không do vi khuẩn trực tiếp gây nên nhưng các viêm nhiễm hô hấp mạn tính đường hô hấp có thể phối hợp dẫn đến cơn hen. Những tác nhân đó có thể là do nhiễm virus, nhất là virus hộp bào hô hấp (Ispiratori Syncitral Virus), thường là nguyên nhân gây hen của trẻ em đang trong thời kỳ bú sữa mẹ.

    Những người mẹ khi mang thai hút thuốc lá, đứa trẻ sinh ra cũng tăng nguy cơ bị hen. Yếu tố thời tiết thay đổi trong năm, khi thay đổi thời tiết nhiễm lạnh, mưa phùn gió bấc ẩm ướt là yếu tố cho cơn hen khởi phát.

    Triệu trứng hen phế quản: Ho, khó thở, nặng ngực tái đi tái lại nhiều lần, hay gặp về đêm khuya, nửa đêm về sáng. Do phế quản tăng tiết dịch nhầy và co thắt các cơ phế quản nên rất khó thở, đặc biệt khó thở ra. Khó thở tạo thành tiếng rít, như tiếng cò cử, không cần ống nghe của bác sĩ, người bệnh và người bên cạnh tự nghe thấy tiếng rít khó thở này. Cơn khó thở tùy nặng nhẹ có thể từ 5-10 phút cho đến hàng giờ. Sau đó tự lui dần với cơn ho, khạc đờm trong đặc quánh. Chính vì thế, thực chất của việc chữa hen là chữa cơn khó thở. Hiếm gặp hơn là cơn hen ác tính khó thở trầm trọng, có khi ngừng thở, tím tái, thậm chí hạ huyết áp dẫn đến tử vong.

    Theo thống kê ở nước ta cứ 1000 người có 50 -60 người bị bệnh hen chiếm tỷ lệ cao trong số các bệnh không do nhiễm khuẩn, bệnh này không lạ với người Việt Nam. Nhưng ngày nay việc đối phó, kiểm soát bệnh hen đã có nhiều tiến bộ để người hen chung sống tương đối bình thường với căn bệnh mãn tính. Vì vậy điều trị hen là cắt cơn hen, dự phòng cơn hen và điều trị dự phòng để cắt cơn hen càng thưa càng tốt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chăm Sóc Sức Khỏe Đường Hô Hấp Cho Bé Nhờ Thực Phẩm Chức Năng
  • Bài 15: Hệ Hô Hấp
  • Nêu Cơ Quan Quan Trọng Nhất Trong Hệ Hô Hấp
  • Đường Hô Hấp Trên Là Gì? Gồm Những Bộ Phận Nào?
  • Tầm Quan Trọng Của Hệ Thống Hô Hấp Là Gì? Đặc Điểm Và Chức Năng Của Họ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100