Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Vùng Cao

--- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số, Góp Phần Phát Triển Đất Nước Nhanh, Bền Vững
  • Kon Tum: Nỗ Lực Thực Hiện Mục Tiêu Giảm Tỷ Lệ Tăng Dân Số Tự Nhiên Xuống Dưới 15%o
  • Giải Pháp Thực Hiện Tốt Các Chính Sách Dân Tộc Ở Tỉnh Đăk Nông
  • Chính Sách Hỗ Trợ Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Phát Triển Kinh Tế Ở Tỉnh Sơn La
  • Quan Điểm Và Giải Pháp Đảm Bảo Quyền Của Các Dân Tộc Thiểu Số
  • Những năm qua, công tác dân số của tỉnh Sơn La đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, chất lượng dân số được cải thiện, tỷ lệ tăng dân số đạt, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân cơ bản được đáp ứng…

    Tuy nhiên, việc nâng cao chất lượng dân số ở vùng cao vẫn đang là thách thức, đòi hỏi cần có những giải pháp và chính sách phù hợp.

    Khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em bản Phá Thóng, xã Púng Bánh (Sốp Cộp).

    Xác định công tác truyền thông, giáo dục về nâng cao chất lượng dân số, đóng vai trò rất quan trọng trong công tác dân số và phát triển. Vì vậy, những năm qua, ngành Y tế đã tăng cường phối hợp với các cấp ủy, chính quyền, tổ chức xã hội, cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh tuyên truyền, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của toàn xã hội. Đồng thời, tuyên truyền cho người dân ở vùng cao về lợi ích khám sức khỏe tiền hôn nhân, việc tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh tật trước sinh và sơ sinh; vai trò và lợi ích của chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên; tác hại của nạo phá thai; truyền thông hướng tới hình thành và phát triển phong trào chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng. Truyền thông về hệ lụy của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đối với sức khỏe bà mẹ, trẻ em, vận động kết hôn đúng tuổi theo luật định…

    Trao đổi với bà Nguyễn Thanh Liễu, Chi cục Trưởng Chi cục Dân số được biết, hiện nay, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai, tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh, tăng thêm tỷ lệ người cao tuổi khám sức khỏe định kỳ 1 lần/năm đều đạt và vượt kế hoạch chỉ tiêu giao. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh đạt 1,14%; tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế; năm 2022, tỷ lệ tảo hôn còn 14%, tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống còn 0,07%; tuổi thọ trung bình là 70,9; tỷ lệ sàng lọc sơ sinh và số người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ năm sau cao hơn so năm trước, số người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ tăng 32%… Tuy nhiên, tỷ số giới tính khi sinh vẫn đang ở mức cao (116,8 bé trai/100 bé gái); tỷ lệ trẻ em mới sinh được sàng lọc sơ sinh đạt thấp so với kế hoạch giao, chỉ đạt 39,1%. Bên cạnh đó, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng tăng cao (năm 2011 là 9%, năm 2022 tăng lên 15%). Đặc biệt, tình trạng sinh con tại nhà không có cán bộ y tế hỗ trợ ở các bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn còn diễn ra khá phổ biến, đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dân số; chỉ tính riêng năm 2022 đã có 6.742 phụ nữ sinh con tại nhà.

    Qua tìm hiểu tại huyện Sốp Cộp được biết, công tác nâng cao chất lượng dân số còn gặp nhiều khó khăn, ông Lò Văn Tuyến, Trưởng Phòng Truyền thông – Dân số (Trung tâm Y tế huyện Sốp Cộp), cho biết: Năm 2022, tỷ số giới tính khi sinh trên địa bàn là 120 bé trai/100 bé gái; tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại 65%, tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh 80%; tỷ lệ trẻ em mới sinh được sàng lọc sơ sinh chỉ đạt 15%; có 13 cặp tảo hôn; tỷ lệ sinh con thứ 3 là 23%, tỷ lệ sinh con tại chiếm tới 70% số ca sinh; nguyên nhân chính do trình độ dân trí thấp, điều kiện kinh tế, giao thông đi lại khó khăn…

    Để thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng dân số ở vùng cao, các cấp, ngành, chính quyền các địa phương cần triển khai các biện pháp toàn diện, đồng bộ và vững chắc trước những thách thức về sự chênh lệch lớn về mức sinh giữa các vùng, miền; tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đang ở mức cao; tốc độ già hóa dân số nhanh; tỷ lệ trẻ sinh ra bị dị tật gia tăng, chất lượng dân số còn thấp… Tăng cường đầu tư cho công tác dân số và phát triển; bổ sung kinh phí cho việc triển khai các mô hình nâng cao chất lượng dân số; đảm bảo nguồn lực đầu tư hợp lý các chương trình đề án thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dân số; củng cố cơ sở y tế tuyến huyện. Đồng thời, phát huy hiệu quả đội ngũ y tế bản, cán bộ làm công tác dân số và cộng tác viên dân số bản, đẩy mạnh tuyên truyền, từng bước thay đổi nhận thức, xóa bỏ các quan niệm, tập quán lạc hậu, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

    Theo Báo Sơn La

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Tuyển Nhân Viên Hành Chính Nhân Sự Làm Việc Tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Doanh Nghiệp Toàn Cầu
  • Chiến Lược Mới Của “tân Binh” Tổng Công Ty Giải Pháp Doanh Nghiệp Viettel
  • Tổng Công Ty Giải Pháp Doanh Nghiệp Viettel
  • Luận Văn: Thực Trạng Và Giải Pháp Đổi Mới Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Hay
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Thảo Luận: Anh Em Nghĩ Sao Nếu Đại Dịch Là Một Giải Pháp Cho Quá Tải Dân Số?
  • Ảnh Hưởng Của Quá Tải Dân Số ·
  • Đẩy Mạnh Công Tác Tuyên Truyền Trong Thực Hiện Chính Sách Dân Số Và Phát Triển
  • Vĩnh Phúc: Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Online Trong Mùa Dịch
  • Coi Dạy Học Trực Tuyến Là Giải Pháp Quan Trọng Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Chung tay chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

    Chưa bao giờ sức khỏe người cao tuổi lại được quan tâm nhiều như hiện nay. Đây là một trong những hoạt động mà tỉnh đang chú trọng thực hiện nhằm nâng cao chất lượng dân số. Các địa phương đang tích cực triển khai khám sức khỏe cho người cao tuổi nhằm giúp các ông cụ, bà cụ chăm sóc tốt bệnh tật. Biết được điều kiện người cao tuổi đi lại khó khăn nên một số địa phương bác sĩ xuống tận ấp, khu vực để khám sức khỏe cho các cụ.

    Có mặt tại ngày khám sức khỏe cho người cao tuổi ở khu vực 3, phường III, thành phố Vị Thanh, mới thấy được niềm vui của người cao tuổi ở đây. Bà Bùi Thị Bé, 71 tuổi, khu vực 3, phường III, chia sẻ: “Tôi bị thoái hóa khớp, uống thuốc hoài không khỏi. Bữa nay nghe có bác sĩ về khám bệnh nên đến khám để có thuốc uống. Bác sĩ về đến khu vực khám rất tiện cho người cao tuổi như chúng tôi, đỡ phải đi xa mệt nhọc”.

    Nhất là đối với những người cao tuổi nghèo, hoàn cảnh sống khó khăn thì các đợt chăm sóc sức khỏe thế này càng ý nghĩa. Bà Trần Thị Út, 72 tuổi, ở khu vực 3, phường III, nói: “Lớn tuổi rồi bệnh liên miên vừa bị gan nhiễm mỡ, đau nhức chân tay, đau dạ dày,… mà nhà thì nghèo không có điều kiện để đi khám bệnh. Bác sĩ về khu vực khám bệnh tôi mới chạy xe đạp đi được chứ lên trung tâm y tế thành phố tôi phải đi xe ôm hai bận 40.000 đồng”.

    Nhờ tổ chức khám sức khỏe ở khu vực nên số lượng người cao tuổi đến khám khá nhiều. Ông Nguyễn Minh Trường, Chủ tịch Hội Người cao tuổi phường III, cho hay: “Ở khu vực 3 có 100 cụ được mời, đã có trên 70 cụ đến khám sức khỏe. Một số trường hợp do bệnh, quá lớn tuổi đi lại khó khăn nên không đi được. Tổ chức khám sức khỏe như thế này có lợi cho người cao tuổi, nhiều người muốn đi”. Với quyết tâm thực hiện đạt chỉ tiêu từ 90-100% người cao tuổi được khám sức khỏe, sau các buổi khám như thế này, còn lại những trường hợp chưa đến khám được Trung tâm Y tế thành phố Vị Thanh và các trạm y tế của thành phố bố trí y, bác sĩ xuống tận nhà người cao tuổi để khám.

    Tập trung lo sức khỏe thế hệ mai sau

    Ngoài mô hình khám sức khỏe cho người cao tuổi, tỉnh còn thực hiện các mô hình khám sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh để có những trẻ chào đời khỏe mạnh. Qua công tác tuyên truyền, vận động, nhiều gia đình đã thực hiện các mô hình này 6 tháng đầu năm nay, cả tỉnh đã có trên 600 trẻ được sàng lọc sơ sinh, trong đó khoảng 1% trẻ mắc bệnh thiếu men G6PD.

    Hàng năm, trên địa bàn tỉnh có khoảng 10.000 trẻ sinh ra và số trẻ được sàng lọc chưa nhiều, vì vậy hoạt động tuyên truyền vận động các gia đình thực hiện sàng lọc sơ sinh cho trẻ cần được đẩy mạnh. Tuy nhiên, theo bà Cao Thị Ánh Hồng, Giám đốc Trung tâm Dân số – Kế hoạch hóa gia đình huyện Phụng Hiệp, thì: “Việc sàng lọc sơ sinh hiện tại gặp khó do một số trường hợp sinh tại các bệnh viện không có thực hiện dịch vụ này”.

    Đồng tình với bà Hồng, bà Nguyễn Thị Thanh Liên, Giám đốc Trung tâm Dân số – Kế hoạch hóa gia đình thành phố Vị Thanh, chia sẻ: “Thực hiện các mô hình nâng cao chất lượng dân số là thay đổi cả nhận thức của người dân nên cần có thời gian. Đặc biệt công tác tuyên truyền vận động phải làm sao cho gia đình hiểu được lợi ích khi thực hiện các mô hình này. Chúng tôi cũng đã chỉ đạo cán bộ, cộng tác viên dân số các xã, phường nắm đối tượng mang thai và xin cả số điện thoại để gọi điện khi nào sinh con sẽ tư vấn. Ngoài Trung tâm Y tế thành phố Vị Thanh, chúng tôi cũng gửi mẫu thấm lấy máu gót chân ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh để sàng lọc cho trẻ ở địa bàn thành phố nếu sinh ở bệnh viện này”. Theo kế hoạch đề ra, năm 2022 thực hiện nâng cao chất lượng dân số tỉnh sẽ vận động 30% trẻ được sàng lọc sơ sinh và sàng lọc trước sinh.

    Xác định nâng cao chất lượng dân số tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm trong những năm tới, Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh đang xây dựng đề án để phát triển hơn nữa các mô hình này. Bà Võ Thị Hoàng Loan, Chi cục trưởng Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh, cho biết: “Đề án nhằm nâng cao chất lượng dân số giai đoạn 2022-2020 gồm các vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, sàng lọc sơ sinh, trước sinh, khám sức khỏe tiền hôn nhân, nâng cao thể lực, tầm vóc,…”. Để nâng cao chất lượng dân số ngành dân số tỉnh cũng khẳng định việc đẩy mạnh tuyên truyền vận động về lợi ích của những mô hình này để các gia đình tự bỏ chi phí thực hiện sẽ được quan tâm.

    Nâng cao chất lượng dân số là một trong những nội dung nằm trong giải pháp về phát triển văn hóa – xã hội của Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022-2020 và những giải pháp chăm sóc sức khỏe trên được thực hiện tốt, cũng là thiết thực đưa Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh đi vào cuộc sống!

    Trong 2 tháng (tháng 7 và tháng 8) diễn ra Chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản – kế hoạch hóa gia đình và nâng cao chất lượng dân số năm 2022, tỉnh sẽ khám sức khỏe cho gần 42.500 người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên). Theo đó, mỗi huyện, thị, thành sẽ khám cho từ 3.000-11.000 người cao tuổi.

    Bài, ảnh: HỒNG DIỄM

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Trọng Tâm Để Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Tam Đảo: Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Việt Nam Đang Ở Thời Kỳ Cơ Cấu Dân Số Vàng
  • Giải Pháp Cho Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới
  • Các Mục Tiêu Và Biện Pháp Thực Hiện Chính Sách Dân Số Việt Nam Hiện Hành
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Vùng Cao
  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số, Góp Phần Phát Triển Đất Nước Nhanh, Bền Vững
  • Kon Tum: Nỗ Lực Thực Hiện Mục Tiêu Giảm Tỷ Lệ Tăng Dân Số Tự Nhiên Xuống Dưới 15%o
  • Giải Pháp Thực Hiện Tốt Các Chính Sách Dân Tộc Ở Tỉnh Đăk Nông
  • Chính Sách Hỗ Trợ Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Phát Triển Kinh Tế Ở Tỉnh Sơn La
  • Từ những CLB điển hình

    Năm 2009, mô hình “Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân” được triển khai tại Hà Tĩnh. Đến nay, toàn tỉnh đã có 25 xã thuộc vùng khó khăn ở 6 huyện, thị được hưởng lợi (Can Lộc, Hồng Lĩnh, Hương Sơn, Thạch Hà, Đức Thọ, Hương Khê). Điều đó cũng đồng nghĩa với việc hàng ngàn lượt thanh niên, vị thành niên được tiếp cận với các kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản thông qua các buổi sinh hoạt tại 25 CLB trên địa bàn. Đó cũng chính là “vắc-xin” hữu hiệu giúp giới trẻ tránh xa sự cám dỗ của lối sống buông thả, sự ảnh hưởng của những trang web đen tràn lan trên mạng internet.

    Bác sỹ Bệnh viện Phụ sản Trung ương tập huấn lấy mẫu máu gót chân trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh.

    Em Nguyễn Thị Phương – đoàn viên xã Sơn Lộc (Can Lộc) cho biết: “Thông qua băng đĩa, tờ rơi, tuyên truyền miệng và hấp dẫn hơn là những cuộc thi tìm hiểu bằng hình thức sân khấu hóa, việc sinh hoạt CLB tiền hôn nhân đã thực sự là cẩm nang quý giá cung cấp cho chúng em những kiến thức về sức khỏe sinh sản thanh niên, vị thành niên. Cũng từ đó, chúng em có ý thức hơn về trách nhiệm, lối sống của bản thân, đồng thời, khuyên nhủ bạn bè về những giới hạn trong tình bạn, tình yêu”.

    Mô hình “Tư vấn, chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng” cũng đã được ngành dân số triển khai từ năm 2012 và phủ sóng tại 6 xã thuộc huyện Đức Thọ và TX Hồng Lĩnh. Để nâng cao năng lực cho người cao tuổi dựa vào cộng đồng, mô hình đã thành lập 6 CLB người cao tuổi. Bằng việc xây dựng điều lệ hoạt động, huy động nguồn tiết kiệm và duy trì sinh hoạt định kỳ hàng tháng, người cao tuổi không chỉ được hướng dẫn cách chăm sóc sức khỏe, giao lưu mà còn được cho vay nguồn vốn xoay vòng để giải quyết những khó khăn trước mắt, được đi tham quan du lịch, được tặng quà trong các dịp lễ tết…

    Ông Nguyễn Văn Phương ở phường Bắc Hồng (TX Hồng Lĩnh) chia sẻ: “Từ khi tham gia sinh hoạt CLB người cao tuổi giúp nhau, tôi thường xuyên được thăm, khám theo dõi tình hình sức khỏe miễn phí và được hướng dẫn biện pháp khắc phục kịp thời. Ngoài ra, chúng tôi còn được tham gia sinh hoạt các CLB dưỡng sinh, thể thao, văn thơ, giao lưu văn nghệ… Những hoạt động thiết thực ấy thực sự là liều thuốc tinh thần giúp chúng tôi sống vui, sống khỏe, sống có ích hơn”.

    … Đến mở rộng các chương trình, đề án

    Có thể khẳng định tính hiệu quả của các đề án sau nhiều năm triển khai hoạt động, đặc biệt là niềm vui của người dân khi được sinh hoạt trong một mái nhà chung có tên gọi là CLB. Thế nhưng, để nâng cao chất lượng dân số cho mọi tầng lớp nhân dân thì các chương trình, đề án cần được triển khai rộng rãi chứ không thể chỉ dừng lại ở các mô hình thí điểm. Thực tế cho thấy, dẫu có hiệu quả đến mấy, trong hơn 6 năm qua kể từ ngày triển khai, đến nay, mô hình chăm sóc sức khỏe tiền hôn nhân cũng chỉ mới thu hút hơn 1.700 thanh niên, vị thành niên tham gia sinh hoạt CLB và có khoảng 4.300 thanh niên, vị thành niên từ 15-30 tuổi được tiếp cận với mô hình, trong khi số thanh niên, vị thành niên trên địa bàn tỉnh ta rất lớn.

    Cũng tình trạng đó, mô hình tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng dường như mới dừng lại ở mô hình trình diễn bởi mới chỉ có khoảng vài trăm người tại 6 CLB của 6/262 xã, phường được hưởng lợi, trong khi toàn tỉnh có khoảng 200.000 người trên 60 tuổi.

    Mặt khác, theo ông Phạm Bá Quyền – Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Thạch Hà thì: “Nếu như tại Hà Tĩnh hoặc các địa phương khác như TP Vinh, Đà Nẵng có trung tâm xét nghiệm để thực hiện đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh thì quá trình vận chuyển mẫu máu sẽ thuận lợi hơn, hạn chế được số mẫu máu bị hỏng, cho kết quả chính xác. Việc triển khai đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh sẽ mang lại hiệu quả cao hơn”.

    Phó Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nguyễn Huy Tú nhấn mạnh: “Thời gian tới, để thực hiện thắng lợi mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, bên cạnh nguồn của Tổng cục DS-KHHGĐ, địa phương cần quan tâm bố trí thêm kinh phí. Ở các địa phương chưa có đề án, mô hình nâng cao chất lượng dân số, các trung tâm DS-KHHGĐ nên lồng ghép vào triển khai chương trình mục tiêu quốc gia, thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch của đơn vị”. Bên cạnh đó, cần huy động sự vào cuộc của các cấp, ngành, tuyên truyền sâu rộng về các đề án, mô hình nâng cao chất lượng dân số đến các tầng lớp nhân dân để thấy rõ rằng: nâng cao chất lượng dân số là nhiệm vụ hàng đầu và không chỉ riêng của ngành dân số.

    Theo: Báo Hà Tĩn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Nhân Viên Hành Chính Nhân Sự Làm Việc Tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Doanh Nghiệp Toàn Cầu
  • Chiến Lược Mới Của “tân Binh” Tổng Công Ty Giải Pháp Doanh Nghiệp Viettel
  • Tổng Công Ty Giải Pháp Doanh Nghiệp Viettel
  • Luận Văn: Thực Trạng Và Giải Pháp Đổi Mới Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Hay
  • Thực Hiện Quyết Liệt Các Giải Pháp Về Cải Cách Hành Chính
  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Đạt Loại C Cấp Huyện Năm Học 2014
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức
  • Kiểm Soát Ô Nhiễm Môi Trường Đất
  • Tổng Hợp Cách Chữa Bệnh Stress Không Cần Dùng Thuốc
  • Bài 6 Hiệu Ứng Nhà Kinh Là Hiện Tượ…
  • Thứ sáu, 10/07/2020 – 10:23′

    Những năm qua, công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) trên địa bàn tỉnh đạt được những kết quả đáng khích lệ. Nhận thức và hành động của Nhân dân về DS-KHHGĐ nâng lên rõ rệt. Người dân được tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) – KHHGĐ, chất lượng các dịch vụ ngày một tốt hơn, phù hợp với từng nhóm đối tượng.

    Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên bình quân toàn tỉnh giảm từ 26,3% (năm 2011) xuống còn 16,09% (năm 2022), trung bình mỗi năm giảm 1,28%. Tỷ lệ các cặp vợ chồng đang áp dụng các biện pháp tránh thai trên toàn tỉnh đạt 69,5%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ước thực hiện năm 2022 là 15,45%0. Để đạt được những kết quả đó, Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh triển khai nhiều mô hình, dự án bước đầu đem lại hiệu quả thiết thực và lan tỏa trong cộng đồng như: sàng lọc trước sinh, sơ sinh; tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân; nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người; can thiệp làm giảm tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống…

    Đề án sàng lọc chẩn đoán trước sinh và sơ sinh đã góp phần nâng cao nhận thức cho người dân về lợi ích của sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh, vì một tương lai không dị tật ở trẻ em. Theo đó, đã vận động phụ nữ mang thai định kỳ đi khám thai, siêu âm và thực hiện các xét nghiệm cần thiết để phát hiện, can thiệp và điều trị sớm các bệnh, tật, rối loạn di truyền, chuyển hóa ngay trong giai đoạn mang thai. Vận động bố, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của trẻ sơ sinh lấy máu gót chân, thực hiện các xét nghiệm sàng lọc để phát hiện sớm các bệnh lý nhằm tránh tử vong hoặc hạn chế tối đa những bệnh lý gây ra. Từ đầu năm đến nay, đã thực hiện sàng lọc trước sinh 808 ca, đạt 12,6%, nghi ngờ mắc bệnh 4 ca; sàng lọc sơ sinh 1.107 ca, đạt 34,1%, nghi ngờ mắc bệnh 109 ca.

    Cán bộ dân số xã Bản Giang (huyện Tam Đường) tuyên truyền đến người dân bản Nà Bỏ về dân số – kế hoạch hóa gia đình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Khắc Phục Trẻ Suy Dinh Dưỡng Và Thấp Còi Ở Trường Mầm Non
  • Phát Huy Sức Mạnh Thời Đại Trong Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế ‘biện Pháp Ngoại Giao Trong Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia’
  • Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế Biện Pháp Ngoại Giao Trong Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Quy Chế Đảm Bảo An Toàn Thông Tin
  • Tam Đảo: Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Trọng Tâm Để Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Thảo Luận: Anh Em Nghĩ Sao Nếu Đại Dịch Là Một Giải Pháp Cho Quá Tải Dân Số?
  • Ảnh Hưởng Của Quá Tải Dân Số ·
  • Đẩy Mạnh Công Tác Tuyên Truyền Trong Thực Hiện Chính Sách Dân Số Và Phát Triển
  • Xác định nâng cao chất lượng dân số là nhiệm vụ quan trọng, tạo đòn bẩy phát triển KT-XH, huyện Tam Đảo luôn quan tâm thực hiện các chính sách về dân số. Nhiều năm nay, công tác dân số của huyện đạt được những kết quả tích cực, tỷ lệ sinh con thứ 3, tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh giảm, chất lượng dân số ngày càng được cải thiện, nâng cao.

    Thực hiện đồng bộ các biện pháp

    Phó trưởng Phòng Dân số, Trung tâm Y tế huyện Tam Đảo Hoàng Văn Tâm cho biết: “Với đặc thù là huyện miền núi còn khó khăn, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 45%, quan niệm “trời sinh voi, trời sinh cỏ”, gia đình phải “đông con, nhiều cháu” thì mới có phúc, phải “có con trai nối dõi”… vẫn còn tồn tại trong suy nghĩ của nhiều người dân.

    Bên cạnh đó, nhiều gia đình có tâm lý phòng tai nạn rủi ro, bệnh tật, tệ nạn xã hội hay một số gia đình khi kinh tế khá giả cũng sinh con thứ 3 dù đã đủ cả trai và gái…”.

    Tuy nhiên, việc thiếu hiểu biết về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sinh nhiều con tạo áp lực kinh tế và nhiều hệ lụy khác, nhất là với những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Để thay đổi nhận thức của người dân, huyện đã đa dạng các phương pháp tuyên truyền bằng nhiều hình thức phù hợp với tâm lý, phong tục, tập quán của từng đối tượng, từng khu vực.

    Trong đó, tập trung hướng đến các xã có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, khu vực kinh tế còn khó khăn; phát huy vai trò của cán bộ chuyên trách dân số, cộng tác viên dân số thôn, bản. Nội dung tuyên truyền tập trung đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác DS-KHHGĐ; tuyên truyền về bình đẳng giới, không phân biệt con trai, con gái trong gia đình, họ tộc; đưa việc không lựa chọn giới tính thai nhi vào hương ước, quy ước của địa phương…

    Từ đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành đoàn thể về công tác dân số, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của người dân trong thực hiện các chính sách DS-KHHGĐ.

    Để nâng cao chất lượng dân số, Phòng Dân số, Trung tâm Y tế huyện đã xây dựng và triển khai thực hiện nhiều nội dung như đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; chiến dịch tăng cường, vận động, lồng ghép dịch vụ sức khỏe sinh sản (SKSS)/KHHGĐ; tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng; đề án nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền vận động, can thiệp giảm thiểu sớm tật, bệnh ở thai nhi và trẻ sơ sinh; tăng cường tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân…

    Hàng năm, huyện đều tổ chức tuyên truyền vận động, hỗ trợ cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ tại các địa bàn có mức sinh cao, khu vực khó khăn có nhiều đối tượng khó tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ.

    Từ năm 2022 đến nay, huyện phối hợp với Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh tổ chức tư vấn chăm sóc sức khỏe trực tiếp cho hơn 100 người cao tuổi, cấp phát 150 cuốn tài liệu hỏi đáp chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; triển khai sàng lọc miễn phí cho 750 trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách; thành lập thêm 2 CLB tiền hôn nhân tại xã Minh Quang và thị trấn Tam Đảo nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng chăm sóc SKSS/KHHGĐ thông qua tư vấn, cung cấp kiến thức cho vị thành niên, thanh niên, các cặp nam, nữ chuẩn bị kết hôn.

    Những kết quả tích cực

    Từ những nỗ lực trên, công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn huyện Tam Đảo có những chuyển biến tích cực. Từ năm 2022 đến nay, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,26% còn 1,22%; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có chiều hướng giảm; tỷ lệ giới tính khi sinh dần ở mức cân bằng. Tỷ lệ thanh niên, các cặp nam nữ trước khi kết hôn được tư vấn và cung cấp kiến thức chăm sóc SKSS tăng từ 50% lên 70%; số người được tư vấn KHHGĐ, thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại, số phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh và số trẻ em sơ sinh được sàng lọc năm sau cao hơn năm trước…

    Với những kết quả trên, chất lượng dân số huyện Tam Đảo ngày càng được cải thiện; các gia đình có điều kiện chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc; chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên, góp phần đưa KT-XH huyện ngày càng phát triển.

    Phương Loan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Đang Ở Thời Kỳ Cơ Cấu Dân Số Vàng
  • Giải Pháp Cho Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới
  • Các Mục Tiêu Và Biện Pháp Thực Hiện Chính Sách Dân Số Việt Nam Hiện Hành
  • Việt Nam Sẽ Làm Gì Với ‘tài Sản’ Dân Số Vàng 96 Triệu Người?
  • Phát Huy Lợi Thế Dân Số Vàng: Một Nhiệm Vụ Quan Trọng Cần Triển Khai Sớm Nhằm Thực Hiện Hiệu Quả Nghị Quyết 21
  • 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Nông Thôn Việt Nam
  • Làm Gì Để Nâng Cao Chất Lượng Dân Số?
  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Để Phát Triển Bền Vững
  • Triển Khai Nhiều Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi là một tiến bộ góp phần nâng cao chất lượng dân số. (Ảnh: Chí Cường)

    Mặc dù đã đạt mức sinh thay thế nhưng dân số Việt Nam vẫn đứng trước những thách thức mới: Đó là yêu cầu cấp thiết nâng cao chất lượng dân số. Viện Khoa học Dân số, Tổng cục Dân số vừa trình đề cương khung đề án tổng thể nâng cao chất lượng dân số Việt Nam, giai đoạn 2007-2020, với 7 giải pháp cơ bản.

    TS Trần Văn Chiến, Viện trưởng Viện Khoa học DSGĐTE cho biết, theo đề án “Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam giai đoạn 2007-2020” mặc dù Việt Nam đạt nhiều thành tựu về nâng cao chất lượng dân số, nhưng thách thức mới cũng không ít. Tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi giảm mạnh từ 32,5% năm 1999 xuống còn 27,3% năm 2006.

    Do đó, làm giảm áp lực đối với sự phát triển cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và chăm sóc sức khỏe trẻ em. Thậm chí, nhiều địa phương còn giảm số lượng lớp học, phòng học để đầu tư nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.

    Thể lực và tầm vóc của người Việt Nam đã có những phát triển tương đối tốt, cải thiện rõ rệt so với năm 1975. Sau 25 năm chiều cao trung bình của nam thanh niên 18-19 tuổi tăng 4,5 cm và nữ tăng 4 cm. Tuy nhiên, chiều cao của thanh niên Việt Nam so với các nước còn khoảng cách rất xa.

    Chỉ số phát triển con người ở nước ta tiếp tục tăng từ 0,539 điểm, xếp thứ 120/174 nước trên thế giới năm 1995 lên 0,704 điểm, xếp thứ 108/177 nước tham gia xếp hạng năm 2005.

    Cũng theo TS Chiến, hiện nay, tại Việt Nam, một số chỉ tiêu về sức khỏe bà mẹ, trẻ em đạt kết qủa khá tốt do phát triển kinh tế và đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tỉ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 44,4%o năm 1989 xuống còn 17,8%o năm 2005, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm nhanh từ 51,5% năm 1990 xuống còn 25,2% năm 2005.

    Mặc dù vậy, vẫn còn những thách thức cần giải quyết để nâng cao chất lượng dân số. Năm 2005, tỉ suất tử vong mẹ còn ở mức cao, tới 80/100.000 trẻ sinh ra sống, cao hơn CHDCND Triều Tiên (67/100.000), gấp 2 lần so với một số nơi trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia; gấp 4 lần so với Hàn Quốc.

    Tỉ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi của cả nước là 17,8%o nhưng ở một số vùng còn rất cao, tới 25-34% như vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ; tỉ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi ở một số vùng còn cao tới 30-35% như Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên.

    Nước ta có 5,3 triệu người tàn tật, chiếm 6,3% dân số, trong đó, tỉ lệ tàn tật do nguyên nhân chiến tranh thấp hơn so với tàn tật do các nguyên nhân mắc phải bởi tai nạn giao thông, tai nạn lao động và dị tật bẩm sinh.

    Trong số 1 triệu trẻ em tàn tật thì các nguyên nhân về dị tật bẩm sinh, tai nạn thương tích chiếm tỉ lệ cao; nhu cầu chăm sóc, phát hiện, điều trị sớm và phục hồi chức năng đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của Nhà nước và toàn xã hội.

    Tỉ lệ dân số bị thiểu năng thể lực và trí tuệ chiếm tới 1,5% dân số và hàng năm vẫn tiếp tục tăng thêm do số trẻ em sinh ra bị dị tật và các bệnh bẩm sinh, đòi hỏi phải triển khaimở rộng trên phạm vi cả nước các chương trình sàng lọc trước sinh, sơ sinh và các biện pháp can thiệp kịp thời.

    Mặc dù tuổi thọ bình quân của nước ta đạt khá cao là 71,3 tuổi so với mức thu nhập của nền kinh tế, nhưng theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (năm 2002) thì tuổi thọ bình quân khỏe mạnh lại rất thấp, chỉ đạt 58,2 tuổi và xếp thứ 116 so với 174 nước trên thế giới.

    Tình trạng dịch bệnh, nhất là bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục HIV/AIDS là rất đáng lo ngại. Tính đến ngày 31/12/2006, cả nước đã phát hiện 116.565 trường hợp nhiễm HIV/AIDS. Đáng lo ngại là tỉ lệ nhóm người trẻ tuổi (20-29) – những người có sức lao động và sáng tạo dồi dào nhất, chiếm 55,3% số người bị nhiễm HIV.

    Bên cạnh đó, nước ta đang phải đối mặt với những thách thức như: Tỉ số giới tính khi sinh có xu hướng tăng, phá vỡ quy luật cân bằng giới tính; tỉ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên được dự báo sẽ tăng vượt ngưỡng của một quốc gia có cơ cấu dân số già.

    7 giải pháp nâng cao chất lượng dân số

    Xác định những thách thức hiện hữu đặt ra cho dân số Việt Nam, đề án “Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam giai đoạn 2007-2020” đưa ra 7 giải pháp.

    Đầu tiên là giải pháp về chính sách và tổ chức quản lý. đó là các chính sách duy trì mức sinh hợp lý để có cơ cấu dân số đảm bảo sự phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng và mở rộng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe gia đình và phúc lợi xã hội; kiểm soát tỉ lệ giới tính khi sinh; hỗ trợ cá nhân, gia đình có các vấn đề về bệnh di truyền; nâng cao phúc lợi xã hội; đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản cho người di cư.

    Nâng cao tầm vóc, thể lực người Việt Nam và trình độ dân trí cũng là hai nhóm giải pháp để nâng cao chất lượng dân số trong thời điểm hiện tại. Đây là giải pháp yêu cầu có sự phối hợp tích cực của hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, vị thành niên, người cao tuổi và sự tham gia của ngành giáo dục.

    Bên cạnh đó, đề án đưa ra 3 giải pháp tiếp theo : Xây dựng và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần; Tăng cường các dịch vụ xã hội chủ yếu có ảnh hưởng tới chất lượng dân số; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng phục vụ nâng cao chất lượng dân số.

    Theo kế hoạch, từ 2011 – 2022, đề án sẽ được triển khai thực hiện tại 64 tỉnh, thành phố trên cả nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 5. Đặc Điểm Dân Cư, Xã Hội Châu Á
  • Địa 8/ Tuần 5/ Tiết 5
  • Giáo Án Địa Lí 8 Tuần 5 Tiết 5: Đặc Điểm Dân Cư
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Làm Gì Để Nâng Cao Chất Lượng Dân Số?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Để Phát Triển Bền Vững
  • Triển Khai Nhiều Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Nêu Những Biện Pháp Để Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Đối Với Con Người . Giúp Mình Với Mình Cần Gấp Câu Hỏi 775985
  • Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Luận Văn: Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Tỉnh Quảng Nam, Hay
  • “Nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” – đây là một trong những chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước.

    Biện pháp nâng cao chất lượng dân số gồm: bảo đảm quyền cơ bản của con người; quyền phát triển đầy đủ, bình đẳng về thể chất, trí tuệ, tinh thần; hỗ trợ nâng cao những chỉ số cơ bản về chiều cao, cân nặng, sức bền; tăng tuổi thọ bình quân; nâng cao trình độ học vấn và tăng thu nhập bình quân đầu người; tuyên truyền, tư vấn và giúp đỡ nhân dân hiểu và chủ động, tự nguyện thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số; đa dạng hóa các loại hình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng, đặc biệt về giáo dục, y tế để cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao chất lượng dân số; thực hiện chính sách và biện pháp hỗ trợ đối với vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn để nâng cao chất lượng dân số (Điều 21 – Pháp lệnh Dân số).

    Ngày 22-3-2005, Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 47-NQ/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ” có đoạn nêu: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, thanh thiếu niên và người cao tuổi; nâng cao năng lực, hướng dẫn tổ chức, phát động các phong trào rèn luyện thân thể, bảo vệ sức khỏe, giữ gìn vệ sinh và cải thiện môi trường sống tại cộng đồng…”

    Nhà nước thực hiện chính sách nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công dân có quyền: “Lựa chọn các biện pháp chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và nâng cao chất lượng dân số” và có nghĩa vụ “Thực hiện các biện pháp phù hợp để nâng cao thể chất, trí tuệ, tinh thần của bản thân và các thành viên trong gia đình. Tôn trọng lợi ích của Nhà nước, xã hội, cộâng đồng trong việc điều chỉnh qui mô dân số, cơ cấu dân số, phân bổ dân cư, chất lượng dân số”.

    Theo qui định, trách nhiệm nâng cao chất lượng dân số thuộc về 4 chủ thể là: Nhà nước, tổ chức đoàn thể, gia đình và mọi công dân. Nhà nước thông qua chính sách và các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân, có trách nhiệm dành mọi ưu tiên cho việc nâng cao chất lượng dân số.

    Nâng cao chất lượng dân số là nhu cầu, mục đích và là trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình, trong đó, ngành DS-KHHGĐ đóng một vai trò rất quan trọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Nông Thôn Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam
  • Bài 5. Đặc Điểm Dân Cư, Xã Hội Châu Á
  • Địa 8/ Tuần 5/ Tiết 5
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Nông Thôn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Gì Để Nâng Cao Chất Lượng Dân Số?
  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Để Phát Triển Bền Vững
  • Triển Khai Nhiều Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Nêu Những Biện Pháp Để Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Đối Với Con Người . Giúp Mình Với Mình Cần Gấp Câu Hỏi 775985
  • Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • (Quanlynhanuoc.vn) – Nâng cao chất lượng dân số ở nông thôn là cấp thiết giúp tránh được nguy cơ suy giảm chất lượng dân số do tỷ lệ sinh ở các vùng khó khăn tăng nhanh hơn ở thành thị, trong khi mọi điều kiện sống, làm việc và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội ở vùng nông thôn kém hơn rất nhiều so với thành thị và các nước phát triển. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dân số nông thôn Việt Nam trong tình hình mới.

    Lý luận chung về dân số và chất lượng dân số

    Dân số theo nghĩa rộng chính là dân cư được xem xét, nghiên cứu không chỉ số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng. Vì thế, khái niệm dân số được hiểu là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không gian nhất định. Cụ thể hơn, dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ: quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số.

    Mỗi quốc gia đều đưa ra khái niệm dân số ở góc độ khác nhau. Ở Việt Nam, khái niệm dân số được đưa ra “là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính” 1.

    Dân số đã và đang là đối tượng quản lý của mỗi Nhà nước bởi dân số là cơ sở, là nguồn gốc của lực lượng lao động trong nền kinh tế của mỗi quốc gia và toàn cầu. Vì thế, cùng với sự phát triển của kinh tế học, dân số không chỉ được nghiên cứu ở tiêu chí về không gian lãnh thổ, mà dân số còn được nghiên cứu về cơ cấu theo độ tuổi, cơ cấu theo giới tính, theo trình độ học vấn và cả theo tôn giáo, sắc tộc,…. gắn với một hoặc nhiều tiêu chí khác nhau là quy mô, tốc độ tăng trưởng, mật độ, phân bố,… Chất lượng dân số có quan hệ khăng khít với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của vùng, lãnh thổ. Nâng cao chất lượng dân số là mục tiêu hướng tới “nâng cao vị thế của con người để phát triển bền vững”.

    Với tầm quan trọng của chất lượng dân số, tại Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới. Theo tinh thần Nghị quyết, Việt Nam sẽ phải tập trung giải quyết các vấn đề là “Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế – xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỷ lệ giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững”, trong đó nhấn mạnh đến các mục tiêu nâng cao chất lượng dân số để phát triển đất nước nhanh, bền vững.

    Ở Việt Nam, chất lượng dân số được khái niệm “là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số” 2.

    Thứ hai, nhóm chỉ số về trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề.

    Trình độ dân trí, học vấn thể hiện ở tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ đi học, số năm theo học; trí tuệ của cá nhân phụ thuộc và các điều kiện văn hóa xã hội; trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề thể hiện ở tỷ lệ người có bằng cấp, được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật để sử dụng vào hoạt động nghề nghiệp,…

    Thứ ba, nhóm chỉ số về tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng.

    Nhóm chỉ số này có thể đo lường dựa vào tỷ lệ hộ dân đạt chuẩn văn hóa, số người được tiếp cận với thư viện, tỷ lệ người dân có sử dụng ti vi, điện thoại, internet,…

    Thứ tư, nhóm chỉ số về đặc trưng nhân khẩu học.

    Nhân khẩu học được tính ở chỉ số tỷ suất sinh, tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh, tỷ lệ dân số thành thị,…

    Thứ năm, nhóm đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản.

    Đời sống vật chất và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân được thể hiện ở các chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ nghèo trong dân cư, tỷ lệ sử dụng nước sạch, tỷ lệ hộ dân được dùng hố xí hợp vệ sinh,…

    Thực trạng chất lượng dân số ở nông thôn Việt Nam hiện nay

    Thứ nhất, về quy mô dân số và nhân khẩu học

    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Dân số Việt Nam năm 2022 sơ bộ khoảng 96,484 triệu người, tăng 1.098,8 nghìn người (tương đương tăng 1,15%) so với năm 2022, trong đó dân số nông thôn là 62,667 triệu người (chiếm 65%). Một số vùng xu hướng dân số nông thôn giảm nhẹ so với năm 2022 là: Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long) 3.

    Tổng tỷ suất sinh ở nông thôn là 2,26 con/phụ nữ, tỷ lệ này cao hơn của cả nước và cao hơn thành thị 4. Với tỷ suất sinh nông thôn cao hơn thành thị, sẽ là một thực trạng có thể ảnh hưởng tới chất lượng dân số sau này do các điều kiện sống và làm việc ở nông thôn còn chênh lệch quá xa so với các điều kiện sống và làm việc ở khu vực đô thị. Do đó, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe thai nhi và chăm sóc nuôi dưỡng chưa thể được quan tâm và tiếp cận với các dịch vụ tiên tiến bảođảm đạt chuẩn như ở thành thị, điều này ảnh hưởng rất lớn đến phát triển về thể lực, trí lực của trẻ em và người dân nông thôn.

    Thứ hai, về thể chất và sức khỏe

    Thể chất và sức khỏe của con người, bên cạnh yếu tố di truyền thì còn phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, xã hội và yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng ngay từ còn ở bào thai cho đến cả cuộc sống sau này. Ở Việt Nam, tuổi thọ trung bình của dân số cả nước là 73,6 tuổi (2019). Tuy nhiên, chiều cao trung bình ở vào nhóm thấp, điều kiện chăm sóc sức khỏe cho người dân nông thôn còn nhiều hạn chế do các trạm y tế chưa có đủ trang thiết bị và chưa thu hút được đội ngũ y bác sĩ có tay nghề cao. Thực trạng đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và các chi tiêu khác cho đời sống của người dân nông thôn còn chênh lệch khá xa so với thành thị 5.

    Thứ ba, về trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề

    Tương tự như thể lực, trí tuệ cũng chịu ảnh hưởng từ việc chăm sóc, nuôi dưỡng ngay từ thời kỳ bào thai đến tuổi trưởng thành. Chất lượng chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội có tác động lớn đến nhận thức và phát huy trí tuệ trong học tập, làm việc và cách cư xử ở đời sống xã hội. Tuy nhiên, tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên chưa bao giờ đi học là 4,1% cao hơn thành thị chỉ có 1% hoặc tỷ lệ dân số trong độ tuổi học phổ thông nhưng không theo học ở nông thôn cũng còn 10%. Tỷ lệ này ảnh hưởng tới khả năng nhận thức để phát triển chuyên môn nghề nghiệp trước những thách thức mới của xã hội 6.

    Theo kết quả điều tra của Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương năm 2022, cấp học càng cao thì tỷ lệ đi học ở nông thôn càng thấp, trung học phổ thông tỷ lệ đi học ở nông thôn chỉ đạt 68,1%. Vì thế, trình độ học vấn cũng luôn thấp hơn trình độ học vấn ở thành thị 7.

    Thực tế hiện nay, lao động ở nông thôn không có tay nghề hoặc tay nghề thấp khá phổ biến do họ chưa từng được đào tạo nghề, tỷ lệ được đào tạo nghề của lao động nông thôn chỉ là 16,3% còn cách xa so với thành thị. Tỷ lệ lao động nông thôn chưa được đào tạo nghề cao (83,7%) ảnh hưởng tới chuyên môn nghề nghiệp, kỹ thuật canh tác và khả năng tiếp cận với các công nghệ và kỹ thuật vận hành các loại máy móc để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm để hạ giá thành và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm 8.

    Thứ tư, về đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản

    Thực trạng chất lượng dân số nông thôn còn được đánh giá ở các điều kiện sống của họ như nhà ở, thu nhập và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của họ. Thực tế số hộ nhà ở chưa kiên cố còn 9,7% kéo theo các điều kiện bảo đảm cho hoạt động phát triển kinh tế khó khăn, chất lượng cuộc sống thấp 9.

    Thu nhập bình quân đầu người một tháng cũng chỉ vào khoảng 3.399.000 của người dân nông thôn, chỉ bằng 56% của người dân thành thị và thấp hơn nhiều so với các nước phát triển nên việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội chất lượng để nâng cao chất lượng sống, trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe là khó khăn. Thu nhập thấp làm hạn chế nhiều hoạt động tiêu dùng để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người dân nông thôn, đây chính là nguyên nhân gốc rễ của chất lượng dân số nông thôn thấp và đang có chiều hướng không theo kịp với sự phát triển của cuộc sống hiện đại luôn có những biến đổi phức tạp, khó lường. Chất lượng các trang thiết bị trong gia đình và các công trình công cộng cũng phụ thuộc vào thu nhập của người dân địa phương cao hay thấp.

    Một số giải pháp nâng cao chất lượng dân số ở nông thôn Việt Nam

    Một là, thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục về dân số kế hoạch hóa gia đình để giữ tỷ lệ sinh hợp lý bảo đảm chất lượng và giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng.

    Tích cực tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện sức khỏe sinh sản cho thanh niên và các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản giúp họ quyết định đúng đắn thời điểm kết hôn hoặc số con theo khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ngay từ giai đoạn mang thai cho đến khi trưởng thành cần phải bảo đảm đủ và chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, phát triển văn hóa, tinh thần, chuyên môn nghiệp vụ,…

    Hai là, giải pháp phát triển kinh tế cho khu vực nông thôn.

    Phát triển kinh tế có tác động tích cực tới chất lượng dân số nông thôn bởi lẽ: Phát triển kinh tế giúp người dân nông thôn có cơ hội tiếp cận với việc làm và thu nhập ổn định để nâng cao chất lượng sống, điều kiện làm việc an toàn cho sức khỏe của họ. Với việc hiện đại hóa trong sản xuất, kinh doanh sẽ giải phóng được sức lao động cho người dân nông thôn, giúp họ phòng chống tốt dịch bệnh trong sản xuất, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm để có thu nhập cao hơn. Giải pháp phát triển kinh tế cho khu vực nông thôn còn có tác dụng giúp người dân nông thôn khai thác các tiềm năng, lợi thế đầy đủ nhất để phát triển kinh tế bền vững, bảo đảm việc làm và an ninh lương thực ở nông thôn nói riêng và quốc gia nói chung.

    Ba là, nâng cao các chỉ số trí tuệ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề.

    Giải pháp này cần tập trung nâng cao mức sống dân cư, tạo cơ hội cho người dân nông thôn tiếp cận thuận tiện và hiệu quả hơn các dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm, an sinh xã hội,… Đổi mới giáo dục ở các bậc học theo hướng chất lượng và luôn gắn với các hoạt động nghề nghiệp, môi trường thiên nhiên và đời sống xã hội. Đồng thời, xây dựng cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp với yêu cầu của tiến trình phát triển kinh tế xã hội, đổi mới phương thức đào tạo nghề theo hướng “cầm tay, chỉ việc” và thực hành kịp thời để người dân nông thôn dễ tiếp thu và vận dụng vào quá trình sản xuất – kinh doanh.

    Bốn là, nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân nông thôn để đáp ứng yêu cầu phát triển thể chất và sức khỏe.

    Để nâng cao thể chất và sức khỏe cần các giải pháp về chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí và lao động khoa học. Do đó, giải pháp này cần tập trung vào phát triển và tổ chức hợp lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người dân nông thôn. Hỗ trợ, tạo động lực để người dân tham gia vào các hoạt động phát triển thể chất và sức khỏe.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam
  • Bài 5. Đặc Điểm Dân Cư, Xã Hội Châu Á
  • Địa 8/ Tuần 5/ Tiết 5
  • Giáo Án Địa Lí 8 Tuần 5 Tiết 5: Đặc Điểm Dân Cư
  • Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Tỉnh Quảng Nam, Hay
  • Làm Gì Giúp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Những Giải Pháp Quyết Liệt Để Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • Cần Có Những Giải Pháp Cụ Thể Để Giải Quyết Việc Làm
  • Thực Hiện Biện Pháp Tránh Thai Hiện Đại Để Tránh Gia Tăng Dân Số
  • Những năm qua, bằng việc triển khai những mô hình nâng cao chất lượng dân số tại các địa phương trong tỉnh, công tác dân số trên địa bàn đã có những chuyển biến quan trọng, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống…

    Một trong những mô hình đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn là Câu lạc bộ (CLB) tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân. Năm 2011, mô hình này được Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) tỉnh triển khai thí điểm tại một số xã của 2 huyện Krông Pak và Krông Năng với mục tiêu nâng cao nhận thức và kỹ năng thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản trong vị thành niên – thanh niên. Để mô hình hiệu quả, Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh đã hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương mở lớp tập huấn kỹ năng tư vấn thu hút các bạn trẻ tham gia mô hình cùng cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số và chủ nhiệm các câu lạc bộ… Nhờ vậy, sau hơn 3 năm triển khai, mô hình đã trở thành kênh thông tin hữu ích của nhiều bạn trẻ. Thông qua nội dung sinh hoạt các CLB đã cung cấp cho vị thành niên – thanh niên trên địa bàn nhiều kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản, tâm sinh lý lứa tuổi… giúp giới trẻ thay đổi nhận thức, chủ động tham gia khám sức khỏe trước khi kết hôn, biết sử dụng các biện pháp tránh mang thai ngoài ý muốn; khi mang thai đã đến cơ sở y tế để khám sàng lọc trước, trong và sau sinh.

    Cán bộ chuyên trách dân số xã Cư Đrăm (Krông Bông) tuyên truyền chính sách DS-KHHGĐ cho người dân. Ảnh: Vân Anh

    Tại huyện Krông Pak, 2 CLB tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân ở xã Hòa Tiến thực sự là “sân chơi” bổ ích cho vị thành niên – thanh niên, bởi khi tham gia họ không chỉ được cung cấp các kiến thức cần thiết mà còn rèn luyện được kỹ năng giao tiếp ứng xử với mọi người, đặc biệt là với bạn khác giới. Bạn Lương Hoàng Kim Chi, thành viên CLB tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân ở thôn 1, xã Hòa Tiến chia sẻ: “Tham CLB, em được trang bị kỹ năng sống và những kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản. Đây là hành trang hữu ích cho em khi bước vào cuộc sống hôn nhân sắp tới”. Có lẽ, chính từ những hiệu quả thiết thực ấy mà mô hình CLB tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân ngày càng phát triển và mở rộng tại các địa phương. Tính đến thời điểm này, toàn tỉnh đã xây dựng được 40 CLB tại 20 xã thuộc 4 huyện, thành phố là Ea Kar, Krông Pak, Krông Năng và Buôn Ma Thuột.

    Cùng với mô hình CLB tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân, những năm qua, để góp phần nâng cao chất lượng dân số, Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh còn triển khai nhiều mô hình khác như: Can thiệp làm giảm tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống; Sàng lọc trước sinh và sơ sinh; Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; đẩy mạnh chiến dịch “Tăng cường tuyên truyền vận động lồng ghép dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ đến vùng đông dân, có mức sinh cao và vùng khó khăn” để cung cấp thuốc, vật tư và thực hiện các gói dịch vụ KHHGĐ cho người dân. Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp từ tuyên truyền, vận động đến mở rộng các mô hình, chất lượng dân số của tỉnh đang được nâng lên rõ rệt. Trong giai đoạn 2011-2015, mức giảm sinh hàng năm luôn đạt và vượt chỉ tiêu tỉnh giao; tỷ số giới tính khi sinh dao động từ 108 – 111 bé trai/100 bé gái; chỉ tiêu tỷ lệ giảm sinh đạt theo kế hoạch (năm 2011 mức giảm sinh 0,8%o; năm 2014 là 0,5%o); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trung bình ở mức 14%; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trên địa bàn năm 2014 thể cân nặng/tuổi 21,5%, thể chiều cao/tuổi 32,8%, giảm khoảng 3% so với năm 2011; hầu hết phụ nữ khi mang thai đã được khám thai định kỳ, tiêm vắc xin phòng bệnh và được cung cấp những kiến thức cơ bản về chăm sóc trẻ, thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ…

    Có thể thấy, hoạt động của các mô hình dân số đã góp phần không nhỏ vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn. Tuy nhiên, quá trình thực hiện ở các thôn, buôn đã nảy sinh không ít khó khăn làm hạn chế đến việc nhân rộng mô hình. Ông Hoàng Châu, Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Krông Năng cho biết: “Sau một thời gian triển khai thí điểm, các mô hình dân số đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Do đó, chúng tôi cũng rất muốn nhân rộng các mô hình này trên địa bàn các xã, thị trấn của huyện. Song, để làm được điều đó cần phải có sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể trong huyện. Bên cạnh đó, để mở rộng và duy trì hoạt động của các mô hình thì cần phải có kinh phí, trong khi hiện tại kinh phí cho công tác DS-KHHGĐ đang bị cắt giảm…”.

    Kim Oanh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Những Biện Pháp Để Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Đối Với Con Người . Giúp Mình Với Mình Cần Gấp Câu Hỏi 775985
  • Triển Khai Nhiều Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Để Phát Triển Bền Vững
  • Làm Gì Để Nâng Cao Chất Lượng Dân Số?
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Nông Thôn Việt Nam
  • 6 Trọng Tâm Để Nâng Cao Chất Lượng Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Thảo Luận: Anh Em Nghĩ Sao Nếu Đại Dịch Là Một Giải Pháp Cho Quá Tải Dân Số?
  • Ảnh Hưởng Của Quá Tải Dân Số ·
  • Đẩy Mạnh Công Tác Tuyên Truyền Trong Thực Hiện Chính Sách Dân Số Và Phát Triển
  • Vĩnh Phúc: Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Online Trong Mùa Dịch
  • Theo công bố mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau 10 năm, dân số tăng 10,4 triệu người, đạt hơn 96 triệu người, bình quân tăng 1,14%/năm. Với tốc độ này, đến năm 2022 dân số Việt Nam không vượt quá 98 triệu người, phù hợp với Chiến lược dân số trong giai đoạn 10 năm.

    Ông Trần Doãn Tú, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế cho rằng, công tác dân số ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tốc độ gia tăng dân số được khống chế thành công. Bên cạnh đó, cơ cấu dân số thay đổi tích cực, số lượng và tỷ trọng dân số phụ thuộc giảm, dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh. Nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và dự báo đạt đỉnh vào năm 2022, với dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 70% dân số.

    Ngoài ra, theo ông Tú, chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tỷ lệ suy dinh dưỡng và tỷ suất tử vong trẻ em đã giảm 2/3; tỷ số tử vong mẹ giảm 3/4 so với năm 1990. Tầm vóc thể lực của người Việt Nam có bước cải thiện. Tuổi thọ trung bình tăng từ 65,5 tuổi năm 1993 lên 73,5 tuổi năm 2022, cao hơn các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Số năm sống trung bình sau khi đạt 60 tuổi của người Việt Nam đã tương đương nhiều nước châu Âu.

    Chưa kể, hiện trình độ dân trí của người Việt đã được cải thiện, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết tăng mạnh; hầu hết trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông đang được đến trường, tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường giảm mạnh trong thập kỷ qua. Điều kiện nhà ở của các hộ dân cư đã được cải thiện rõ rệt đặc biệt ở khu vực thành thị. Hầu hết các hộ dân cư đều có nhà ở và chủ yếu sống trong các loại nhà kiên cố và bán kiên cố; diện tích nhà ở bình quân đầu người tăng lên đáng kể.

    Dù không thể phủ nhận những thành công của chính sách dân số, song nhìn một cách tổng thể, chất lượng dân số của Việt Nam vẫn còn thấp khi chỉ số phát triển con người (HDI) còn nằm ngoài tốp 100; các vấn đề về chiều cao, cân nặng, tầm vóc, sức bền thể lực của người dân chưa được cải thiện đáng kể. Theo ý kiến của các chuyên gia, có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng dân số chưa cao, đó là nhận thức và tiếp cận sớm với tư vấn và khám sức khỏe trước hôn nhân cũng như hoạt động tầm soát, chẩn đoán, điều trị sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh còn hạn chế, dẫn đến vẫn có những đứa trẻ sinh ra bị hội chứng Down, dị tật bẩm sinh, tăng động, tự kỷ…

    Tập trung 6 vấn đề chính

    Hiện nay, công tác dân số đã được chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Do vậy, nâng cao chất lượng dân số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, có tính chất quyết định đến công cuộc phát triển đất nước. Để làm được việc đó, theo ông Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế, nâng cao chất lượng dân số không chỉ là nhiệm vụ của ngành Y tế mà còn là trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương và toàn xã hội, do vậy Đảng, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật để nâng cao chất lượng dân số. Mặt khác, xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế lồng ghép các yếu tố dân số trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội; đẩy mạnh nghiên cứu về dân số và phát triển, nhất là các vấn đề mới, trọng tâm là chất lượng và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực.

    Bên cạnh đó, theo Thứ trưởng Bộ Y tế, mặc dù đã chuyển trọng tâm sang dân số và phát triển, việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình vẫn không được lơ là. Đây là điều kiện quan trọng giúp các cặp vợ chồng có điều kiện chăm sóc, tạo điều kiện cho những đứa con phát triển ở mức tốt nhất; đồng thời là cơ sở để xây dựng và hình thành mạng lưới an sinh xã hội phù hợp.

    Ngoài ra, theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến, Việt Nam cần có chính sách nhằm thích ứng với già hóa dân số, tận dụng cơ cấu dân số vàng. Sở dĩ như vậy là do năm 2011, dân số 60 tuổi trở lên của nước ta chiếm khoảng 10%, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hoá dân số. “Nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và dự kiến đạt đỉnh vào năm 2022, với dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 70% dân số. Tuy nhiên cơ cấu “dân số vàng” không khai thác thì sẽ mất vào khoảng năm 2040. Vì vậy, cần khẩn trương tận dụng cơ hội quý hiếm này để phát triển nhanh và bền vững đất nước”, ông Tiến khẳng định.

    Và để thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, ông Trần Doãn Tú khẳng định, thời gian tới, ngành Dân số sẽ tập trung truyền thông vào 6 vấn đề chính đó là: Duy trì vững chắc mức sinh thay thế, giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng, đối tượng; Đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, phấn đấu duy trì cơ cấu tuổi của dân số ở mức hợp lý; Tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững; Thích ứng với già hóa dân số đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; Phân bố dân số hợp lý, đảm bảo hài hòa các quyền và nghĩa vụ của người di cư, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh; Nâng cao chất lượng dân số cả về thế chất, trí tuệ và tinh thần, tạo nền tảng cho sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

    D.Ngân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tam Đảo: Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Việt Nam Đang Ở Thời Kỳ Cơ Cấu Dân Số Vàng
  • Giải Pháp Cho Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới
  • Các Mục Tiêu Và Biện Pháp Thực Hiện Chính Sách Dân Số Việt Nam Hiện Hành
  • Việt Nam Sẽ Làm Gì Với ‘tài Sản’ Dân Số Vàng 96 Triệu Người?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100