Top 3 # Xem Nhiều Nhất Các Giải Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Giải Pháp Nào Duy Trì Sĩ Số Học Sinh?

(GLO)- Duy trì sĩ số học sinh ở mức cao nhất, thậm chí phải đạt con số 100% là nhiệm vụ quan trọng của ngành Giáo dục-Đào tạo. Thế nhưng, đây lại là một bài toán nan giải mà địa phương nào cũng đang gặp phải.

Theo đó, UBND huyện Mang Yang là đơn vị tiên phong trong việc mở ra một hội nghị bàn về vấn đề duy trì sĩ số học sinh ở cấp huyện, nhìn nhận thẳng thắn trước những nguyên nhân khiến học sinh bỏ học để từ đó bàn giải pháp với sự vào cuộc của tất cả các ban ngành, đoàn thể của địa phương. Đây là một việc làm hết sức có ý nghĩa khi năm học mới đang gần kề.

Tỷ lệ học sinh đi học đều chỉ đạt 52%

Duy trì sĩ số vẫn là câu hỏi khó cho ngành Giáo dục.

Đó là con số đáng báo động của Trường THCS Đak Jơ Ta (xã Đak Jơ Ta, huyện Mang Yang) trong năm học 2015-2016 vừa qua. Theo cô Trần Thị Minh-Hiệu trưởng nhà trường thì đến mùa hái cà phê, thu hoạch mì, lúa vào khoảng tháng 11, tháng 12 hoặc sau Tết Nguyên đán là thời điểm học sinh nghỉ học thường xuyên. Các em theo gia đình đi làm, lâu dần có tâm lý không muốn trở lại trường.

“Những em thường xuyên vắng học và bỏ học đều là học sinh dân tộc thiểu số mà nguyên nhân chủ yếu là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, học lực kém, khả năng tiếp thu bài chậm nên chán học, ham chơi, đua đòi, không có sự quản lý của gia đình. Chúng tôi cũng đã tích cực trong việc vận động học sinh đến lớp nhưng con số duy trì sĩ số học sinh vẫn chỉ đạt trên 50%. Trong năm học 2016-2017, chúng tôi mong muốn nhận được sự quan tâm hơn nữa của chính quyền địa phương nhằm có sự tác động mạnh mẽ đến mỗi gia đình để người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc học. Từ đó, họ biết chăm lo và lưu tâm trong việc đến trường của con em”-cô Trần Thị Minh cho biết

Là một trong số ít những trường có tỷ lệ duy trì sĩ số học sinh đạt trên 90% nhưng thầy Hoàng Kim Hữu-Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS Đê Ar (xã Đê Ar, huyện Mang Yang) vẫn trăn trở: “Trường tôi, 10% học sinh không đi học tương đương khoảng 30 em, vậy những em đó sẽ ra sao. Vì vậy chúng tôi chưa hài lòng với việc duy trì sĩ số của nhà trường, dù đã được đánh giá cao so với mặt bằng chung của huyện. Vấn đề bây giờ là chúng tôi cần sự quan tâm nhiều hơn nữa của chính quyền địa phương, xóa bỏ những tập tục lạc hậu của bà con người dân tộc thiểu số, ngăn chặn tình trạng tảo hôn, sinh đẻ không có kế hoạch để nâng cao đời sống kinh tế bởi đó là những nguyên nhân không hề nhỏ góp phần vào tình trạng bỏ học của học sinh”.

Nói về tình trạng học sinh nghỉ học trên địa bàn huyện Mang Yang, ông Krung Dam Đoàn-Phó Chủ tịch UBND huyện thẳng thắn nhìn nhận: “Việc một trường mà có tới gần 50% học sinh nghỉ học là việc không thể kéo dài và phải tháo gỡ ngay”.

Chủ tịch UBND tỉnh Võ Ngọc Thành vừa ký Công văn số 11/CT-UBND về việc tăng cường công tác huy động học sinh đến trường và hạn chế tình trạng học sinh bỏ học trên địa bàn tỉnh. Trong đó, UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, xã, thị trấn phải có trách nhiệm trong việc duy trì sĩ số học sinh; thực hiện các giải pháp tích cực để tất cả học sinh có hoàn cảnh khó khăn có nguy cơ bỏ học được đến trường ngay từ đầu năm học mới.

Là địa phương tiên phong trong việc tổ chức một hội nghị cấp huyện bàn về vấn đề duy trì sĩ số học sinh, những người làm công tác giáo dục ở huyện Mang Yang mong muốn những giải pháp đã nêu ra sẽ được thực hiện một cách nghiêm túc và đạt kết quả cao.

Với cương vị là người đúng đầu ngành, ông Hồ Văn Diệp-Trưởng phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Mang Yang, cho biết: “Đối với ngành, chúng tôi đưa ra những giải pháp trong việc tổ chức dạy học phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh, đa dạng hình thức tổ chức lớp học nhằm thu hút, tạo hứng thú cho các em. Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc học tiếng dân tộc cho giáo viên để hạn chế tình trạng bất đồng ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh. Gắn kết trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm trong việc duy trì sĩ số học sinh, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của giáo viên trong một năm học”.

Một giải pháp quyết liệt khác cũng được đưa ra tại hội nghị, đó là Đảng ủy, UBND, Mặt trận và các đoàn thể xã, thị trấn, thôn, làng trên địa bàn huyện phải phân công nhiệm vụ cán bộ, đảng viên không chỉ phụ trách làng mà phải phụ trách từng hộ gia đình, từng em học sinh. “Nếu học sinh nào vắng học thường xuyên hoặc bỏ học mà cán bộ, đảng viên phụ trách không nắm bắt để can thiệp kịp thời thì coi như không hoàn thành nhiệm vụ trong năm. Xã sẽ củng cố hoạt động của Hội Khuyến học, tổ chức tuyên dương khen thưởng những gia đình có con em đạt thành tích trong học tập để tạo sự lan tỏa về tinh thần học tập trên địa bàn”-ông Đinh Khuy-Chủ tịch UBND xã Kon Chiêng nói.

Có thể thấy, việc vận dộng học sinh ra lớp hay duy trì sĩ số học sinh rõ ràng không phải chuyện riêng của các thầy, các cô mà cần sự chung tay của toàn xã hội, như ông Nguyễn Văn Kha-Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Mang Yang khẳng định: “Xã hội không thể khoán trắng việc giáo dục cho nhà trường vì vấn đề này nằm trong chuỗi liên kết gia đình-nhà trường-xã hội. Ngoài những giải pháp đã nêu, chúng ta cần có thêm nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng đời sống của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số để việc cho con em đến trường không phải là một gánh nặng mà là một niềm vui”.

Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Ở Tiểu Học

* Gia đình phải có trách nhiệm về con em, phải tạo mọi điều kiện để trẻ được theo học. Phải coi việc học của trẻ là hết sức quan trọng. Nếu thấy con em mình không vui hoặc có vấn đề gì khó khăn trong việc học tập của con em thì phải báo ngay với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường để nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ.

* Giáo viên chủ nhiệm phải nhiệt tình,năng nổ phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương pháp giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng ở trong nhà trường đặc biệt là từng em học sinh để lôi cuốn học sinh,học sinh vui vẻ, tự tin trước khi đến trường tạo thêm niềm vui, phấn khởi thực sự để hội cha mẹ học sinh nhận thấy được ở trường là chỗ dựa vững chắc cho phụ huynh tin tưởng từ đó tạo niềm tin cho phụ huynh phấn khởi và xây dựng môi trường thân thiện ở trong nhà trường .

– Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với Đoàn thể, với địa phương ,tạo những điều kiện môi trường giáo dục tốt.

– Phải tạo đoàn kết, thương yêu giúp đỡ học sinh trong lớp qua các phong trào. Tạo cho các em động cơ ham học trong việc uốn nắn các em,giáo viên chủ nhiệm phải luôn giữ thái độ bình tĩnh,không nóng vội,không dùng lời lẽ nặng nề với các em, hoà đồng vui vẻ với các em, xem học sinh là con đẻ của mình, chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp.

-Học sinh tiểu học trong độ tuổi biết tự ái, giận hờn, thích được động viên khen thưởng, tuyệt đối không nên dùng hình phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt không ham thích đến lớp, phải tạo cho các em một niềm tin để các em an tâm học tập và xem giáo viên chủ nhiệm là người mẹ hiền.

-Nên tổ chức vui chơi tập thể trong các giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và giáo viên.Trong chương trình giảng dạy nên tổ chức những buổi “Học vui,vui học” dưới hình thức ôn tập.

Việc chuyên cần học tập của học sinh đã quyết định sự tiến bộ của các em,nếu để các em nghỉ học một hai lần với lý do không cần thiết lắm thì các em sẽ thích nghỉ học đi chơi hơn là đến lớp bởi nhiều lý do: Sợ bị phạt, sợ bị chế giễu. Giáo viên nên giải thích tai hại của việc bỏ học và đi học không đầy đủ đẫn đến hậu quả không tốt, ảnh hưởngđến kết quả học tập.

*Giáo viên chủ nhiệm và nhà trường phải quan tâm tìm hiểu hoàn cảnh của học sinh để tạo điều kiện giúp đỡ, bố trí buổi học phù hợp có thể lập Quỹ tình thương để hổ trợ một phần nào cho các em về mặt vật chất, đồng thời cắt cử các em học sinh trong lớp thường xuyên giúp đỡ,đỡ đần bớt các công việc gia đình để bạn có thời gian đến trường.

* Các đoàn thể xã hội như: Phụ nữ, nông dân, phải phối hợp với nhà trường quan tâm, giúp đỡ những gia đình gặp khó khăn. Xây dựng quỹ khuyến học trong từng thôn xã, họ hàng để hỗ trợ thêm cho những em gặp khó khăn trong đời sống kinh tế để giúp các em có thể tiếp tục học tập.

*Chính quyền địa phương phải có kế hoạch bố trí dân cư hợp lý để tạo điều kiện cho các em đi học gần.Đồng thời có chính sách đãi ngộ đối với những hộ gia đình nghèo, đông con và gặp khó khăn về kinh tế.

Công đoàn nhà trường xây dựng quỹ khuyến học, quỹ tình thương, quỹ hỗ trợ những học sinh có điều kiện khó khăn về vật chất và tinh thần để các em đi học đầy đủ.

Giải pháp quan trọng nhất là Nhà trường,Gia đình và xã hội phải phối hợp chặt chẻ với nhau,để cùng nhau giúp đỡ về mọi mặt,tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tiếp tục đến trường.Giảm tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm.

+ Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, gia đình và xã hội.

+ Nắm bắt tình hình cụ thể về các gia đình có học sinh đi học. Các gia đình có đông con; những gia đình có hoàn cảnh khó khăn…

+ Các tổ chức, đoàn thể ở chính quyền địa phương, hội cha mẹ học sinh. Các tổ chức chính trị xã hội ở trong nhà trường; các giáo viên chủ nhiệm.

+ Tìm hiểu về các lí do mà các em thường bỏ học nữa chừng.

Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5

MỤC LỤCTrangA. PHẦN MỞ ĐẦUI. Lý do chọn đề tài 1II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu 1 1. Mục đích 1 2. Phương pháp 2III . Giới hạn của đề tài 2IV . Kế hoạch thực hiện 2B. PHẦN NỘI DUNGI . Cơ sở lý luận 3II. Cơ sở thực tiễn 4III. Thực trạng và những mâu thuẫn 4 1.Thuận lợi……………………………………………………………………….4 2.Khó khăn……………………………………………………………………….4IV . Các biện pháp giải quyết vấn đề 4 1. Xác định nguyên nhân, lập kế hoạch dạy học sinh yếu kém………………….4 2. Biện pháp dạy học bằng tình thương………………………………………….5 3. Biện pháp giao việc cho học sinh yếu kém 6 4. Biện pháp thư giãn (vui chơi) trong các tiết học 7 5. Tạo môi trường giáo dục tốt 8

6. Biện pháp tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp ………………………… 9 7. Phong trào “Giúp bạn vượt khó “…………………………………………… 9 8. Phối hợp với phụ huynh học sinh …………………………………………….10V . Hiệu quả áp dụng 11 C. KẾT LUẬNI . Ý nghĩa của đề tài đối với công tác 13II . Khả năng áp dụng 13III . Bài học kinh nghiệm 13Tài liệu tham khảo 15www.sangkienkinhnghiem.com A. PHẦN MỞ ĐẦUI. Lý do chọn đề tài: Hiện nay, việc duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần ở trường tiểu học đóng một vai tròrất quan trọng trong việc học tập của học sinh nói riêng và trong việc thực hiện phổcập giáo dục nói chung. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủvà mang lại kết quả học tập tốt. Nhưng hiện nay, một số học sinh trong địa phươngthuộc con em gia đình lao động nghèo, một số từ nơi khác đến thị xã Hồng Ngự tạmtrú, đa phần là làm thuê, vì cuộc sống mưu sinh họ gửi con em vào Trường Tiểu họcAn Thạnh 1 để học. Chính vì mãi lo cho kinh tế gia đình một số phụ huynh ít quan tâmđến việc học tập của các em. Nên việc các em nghỉ học, bỏ học trong thời gian nhiềungày ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài và kết quả học tập là điều không tránh khỏi. Trong những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học ngày càng phổ biến. Cấp họccàng cao tỷ lệ học sinh bỏ học càng lớn. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạnghọc sinh bỏ học nhưng trong đó nguyên nhân chính là các em học tập yếu kém nênkhông thích đi học, không thích đến trường. Xã hội ngày càng phát triển, thì yêu cầu về giáo dục cũng được nâng cao. Đòi hỏitrong xã hội ai cũng được học hành, được tiếp thu được kiến thức kĩ năng, kĩ xảo từnhà trường để phục vụ cuộc sống sau này. Chúng ta ngày đêm đang ra sức phổ cậpgiáo dục ở các cấp học. Nhưng trên thực tế có biết bao nhiêu học sinh bỏ học giữachừng. Biết bao nhiêu trẻ em không biết đọc, biết viết hoặc đọc viết không thông thạomà đã nghỉ học. Tất cả đều là sản phẩm của nhà trường, do không quan tâm đến họcsinh, không có biện pháp để giúp đỡ học sinh yếu kém. Vì thế, qua nhiều năm công tác bản thân tôi luôn suy nghĩ “Biện pháp để duy trì sĩsố và đảm bảo chuyên cần học sinh bậc tiểu học “. Do đó tôi quyết định chọn đề tàinày.II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu: 1. Mục đích : – Nhằm đánh giá lại môi trường giáo dục, chất lượng giảng dạy học sinh yếu kémở các trường tiểu học trong những năm qua và hiện nay. – Tìm ra những nguyên nhân tại sao việc học sinh chán học và hiện tượng học sinh

có nguy cơ bỏ học vì học yếu vẫn còn.2www.sangkienkinhnghiem.com – Đưa ra một số giải pháp trong việc đổi mới phương pháp giúp đỡ học sinh yếukém học tập có tiến bộ hơn, tạo môi trường học thân thiện gần gũi giúp học sinh hamthích học tập, thích đi học nhiều hơn. 2. Phương pháp : – Phương pháp lấy tư liệu. – Phương pháp học mà chơi, chơi mà học. – Phương pháp đàm thoạ. – Phương pháp xử lý thông tin. – Phương pháp thực nghiệm. – Phương pháp cải tiến. III. Giới hạn của đề tài: – Học sinh khối 5 thuộc Trường Tiểu học An Thạnh 1. Đội ngũ thầy (cô) cùng côtổng phụ trách. Phụ huynh học sinh khối 5 của tường. IV. Kế hoạch thực hiện: – Chọn đề tài. – Lập đề cương nghiên cứu. – Đọc, thu thập đề tài, viết đề tài. – Thu nhập thực tế. – Hoàn thành sáng kiến.

Hội đồng xét duyệt của trường An Thạnh, ngày 27 tháng 04 năm 2012 Xếp loại:……. Người viết CTHĐ 15www.sangkienkinhnghiem.com TÀI LIỆU THAM KHẢO1 . Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học _ NXBGD_Xuất bản 20062 . Giáo trình cao đẳng sư phạm _GS.TS. Diệp Quang Ban_ NXB đại học sư phạm_Xuất bản 20013. Giáo trình giáo dục học Tiểu học – GS. TS. Đặng Vũ Hoạt_NXB đại học Huế_Xuấtbản 2002.4. Giáo trình tâm lý học Tiểu học_GS.TS. Bùi Văn Huệ_ NXB đại học Huế_Xuất bản2002.16

Đề Tài Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5

Là giáo viên làm công tác chủ nhiệm ở tiểu học thì bất cứ ai cũng mong muốn lớp mình phụ trách không có học sinh bỏ học. Nhưng thực tế thì không phải giáo viên nào, trường nào cũng đảm bảo được công tác duy trì sĩ số 100% khi trường đó ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trước khi tôi thực hiện đề tài này, cũng có những đồng nghiệp đã nghiên cứu và ứng dụng trong công tác nhưng hiệu quả chưa cao. Có thể do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan mang lại. Tôi cũng có học hỏi và vận dụng nhưng kết quả không như mong muốn. Từ đó, tôi nghiền ngẫm và quyết định tìm hiểu mọi biện pháp để thu hút các em đến lớp, đến trường đảm bảo công tác duy trì sĩ số. Khi nghiên cứu đề tài này tôi cũng phần nào dựa trên một số biện pháp mà đồng nghiệp của mình đã nghiên cứu trước đó nhưng có phần cải biến cho phù hợp với đối tượng học sinh, hoàn cảnh gia đình và thời đại,

Trường Tiểu học Lê Hồng Phong có tất cả 3 điểm trường. Điểm trường nơi tôi làm công tác chủ nhiệm là buôn Eana với đại đa số dân cư là người dân tộc thiểu số. Hằng năm vẫn xảy ra tình trạng học sinh bỏ học. Các giáo viên và nhà trường cũng tìm mọi cách để những học sinh đó trở lại trường nhưng cũng chỉ được một thời gian sau đó lại nghỉ (Ví dụ: Em Y Hoàng bỏ học năm học 2014 – 2015). Bên cạnh đó, lớp học mà tôi phụ trách cũng gặp phải những khó khăn nhất định:

Văn hóa, lối sống khác nhiều so với những gì thực tế học tập từ sách vở. Kết quả học tập chưa cao. Một số em điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ mải đi làm thuê kiếm sống không quan tâm đến việc học tập của con, phó mặc hết cho nhà trường và thầy cô giáo. Lớp có một em bố mẹ bỏ nhau, bố và mẹ không nuôi nên em ở với bà ngoại. Vì thế, việc học tập phần nào bị lơ đễnh. Có 3 em bố mẹ đi làm ăn nơi xa, các em sống với ông bà. Có 1 em ham chơi, bị bạn bè xấu lôi kéo vào các trò game online thành nghiện. Một số em nhà ở xa trường học, đường sá đi lại khó khăn. Phần lớn học sinh rất thụ động, kĩ năng sống chưa được chú trọng, kĩ năng giao tiếp chưa tốt, kĩ năng giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh trường lớp, ý thức bảo vệ của công và ý thức kỉ luật khi tham gia hoạt động tập thể, đặc biệt là tính tự giác, tích cực học tập, hạn chế. Với những thực trạng trên, để duy trì sĩ số học sinh ở lớp chủ nhiệm, đặc biệt là học sinh ở khối lớp 5có nhiều học sinh dân tộc thểu số là một nhiệm vụ bắt buộc đối với cá nhân tôi. Việc duy trì sĩ số học sinh nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, không bắt buộc theo một khuôn mẫu nào cả nên tôi vừa học, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp: a. Mục tiêu của giải pháp: Mục tiêu chủ yếu và quan trọng nhất của giải pháp, biện pháp duy trì sĩ số học sinh là tạo cho các em niềm vui khi đến trường. Từ đó, các em có cơ hội tiếp thu bài một cách đầy đủ nhất, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện về mặt kiến thức, năng lực và phẩm chất của học sinh trong quả trình dạy học một cách chủ động, dễ dàng và chắc chắn. Việc phổ biến và đề ra nội quy ngay từ đầu năm học giúp các em định hướng được nhiệm vụ của bản thân trong năm học. Quan tâm, giúp đỡ học sinh khắc phục khó khăn trong học tập, thoát khỏi sự tự ti, mặc cảm và học sinh có hoàn cảnh khó khăn thì sẽ các em vững tin vào bản thân hơn. Qua đó thêm yêu trường lớp, thầy cô và bạn bè. Phối hợp chặt chẽ với các giáo viên bộ môn, giáo viên dạy thay và Tổng phụ trách Đội giúp giáo viên nắm bắt kịp thời, chính xác tình hình học tập, rèn luyện và cả những thay đổi bất thường mỗi học sinh trong lớp. Từ đó có hướng điều chỉnh phù hợp trong dạy học và giáo dục. Tận dụng tối đa sự tác động của môi trường xã hội tạo mối liên hệ gắn kết giữa nhà trường - gia đình - cộng đồng để giáo dục học sinh phát triển một cách toàn iện nhất. Tổ chức tốt tiết sinh hoạt tập thể - sinh hoạt lớp, tạo môi trường giáo dục tốt giúp các em hứng khởi hơn trong học tập, gắn bó học sinh với học sinh; học sinh với giáo viên; học sinh với trường lớp, b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp Thứ Nhất: Phổ biến nội quy ngay từ đầu năm tới học sinh - phụ huynh Tổ chức học nội quy lớp ngay tuần đầu của năm học. Quy định rõ: học sinh phải đi học đều và đúng giờ, nghỉ học phải có lí do và được cha mẹ xin phép. Tổ chức họp phụ huynh học sinh đầu năm, thông báo cho phụ huynh biết về quy định và nhờ phụ huynh hàng ngày theo dõi, nhắc nhở. Học sinh đến trường đều tự mình đánh dấu vào Bảng theo dõi "Ngày em đến lớp". Gọi điện thoại liên lạc trực tiếp với phụ huynh đối với những trường hợp học sinh tự ý bỏ học. (Tôi đã nắm được 20/25 số điện thoại của phụ huynh học sinh trong lớp). 5 em (Y Sa Muel Niê, H Nang Êban, Y Truyền Byã, Y Khuyến Byã, Y Huy Byã) không có vì bố mẹ không dùng điện thoại nên phải đến tận nhà tìm hiểu nguyên nhân và trao đổi cách khắc phục. Chính nhờ thế mà những học sinh ở lớp tôi chủ nhiệm chỉ nghỉ học 1 ngày không phép thì đến hôm sau đi học lại bình thường, nên năm 2015-2016 lớp tôi chủ nhiệm không có hiện tượng học sinh bỏ học giữa chừng. Thứ hai: Giúp học sinh khắc phục khó khăn trong học tập: Giáo viên hướng dẫn học sinh gặp khó khăn trong tính toán về cách nhận dạng kiến thức, củng cố kiến thức bằng cách ôn luyện theo mỗi ngày. Quan tâm đặc biệt đến các em, hướng dẫn những học sinh khá, giỏi cùng học với các em. Hoặc trực tiếp cùng gia đình phối hợp hướng dẫn các em học ở nhà, ở trường. Đồng thời động viên, tuyên dương kịp thời những em có tiến bộ rõ nét, khuyến khích các em có sự phấn đấu cao hơn, cụ thể: + Em Phạm Tuấn Vũ hỗ trợ em Y Sa Muel Niê. + Em Phạm Văn Huy hỗ trợ em Y Huy byã. + Em Nguyễn Thị Minh hỗ trợ em Vũ Quang Tiến Do vậy, kết quả học tập của những đôi bạn cùng tiến trên có sự tiến bộ rõ rệt. Thứ ba: Giúp học sinh thoát khỏi sự tự ti, mặc cảm: Lúc này vai trò của giáo viên hết sức quan trọng đối với tâm hồn trẻ. Người thầy có thể là cha mẹ hoặc là người bạn và sự điều này giúp cho các em vượt qua khó khăn. Chính vì vậy, mỗi người thầy là người tương tác với các em trong việc học tập, sinh hoạt và cốt yếu là luôn cân bằng giữa tư cách là người giữ kỷ cương, là người bạn tâm tình mỗi khi các em cần sự giúp đỡ. Do vậy, mỗi lời hỏi thăm, mỗi cử chỉ chăm sóc của cô thầy sẽ giúp các em thoát khỏi mọi tự ti, mặc cảm. Có em Vũ Quang Tiến chuyển từ trường khác về lớp 5E từ đầu năm học 2015-2016. Lúc mới về em luôn mặc cảm bởi hoàn cảnh nhà nghèo, nói cà lăm và lại làm quen với mô hình trường học mới (VNEN), bởi nơi em theo học trước đó là chương trình hiện hành, lực học của em cũng không được tốt lắm. Tôi đã luôn quan tâm đến em, hướng dẫn em hòa nhập với mô hình học mới, bạn mới,. Tôi hỏi han em giống như một người mẹ, người chị, người bạn. Tiếp xúc nhiều với cô, với các bạn em dần quen và trở nên mạnh dạn hơn. Có những giờ học Tiến trở nên xuất chúng khiến nhiều bạn ngạc nhiên với câu trả lời khá hoàn hảo và sáng tạo của mình. Những lúc đó tôi đã tuyên dương khích lệ tinh thần của em. Tiến cảm thấy rất phấn khởi và thêm yêu trường lớp, thầy cô giáo và các bạn mới. Từ đó đến nay, Tiến đã mạnh dạn và tự tin hơn nhiều, em luôn đi học đều và đúng giờ. Có khi bị ốm, bố mẹ điện thoại xin phép cô giáo rồi nhưng Tiến cũng chỉ nghỉ một buổi đi khám bệnh, buổi chiều vẫn lên lớp học. Thứ tư: Quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn: Rà soát, nắm bắt những học sinh có hoàn cảnh nghèo, gia cảnh khó khăn đăng kí cho các em được nhận dụng cụ, sách vở, quần áo do Nhà trường và Liên đội và các tổ chức từ thiện hỗ trợ ngay từ đầu năm. Mua sẵn bút chì, thước, ruột bút kim, để trong cặp. Khi các em cần thì đã có ngay để dùng. Kêu gọi các học sinh trong lớp dành tặng bạn một số quần áo cũ và tranh thủ sự hỗ trợ từ một số giáo viên, phụ huynh có khả năng để trang bị thêm những dụng cụ còn lại cho những em có hoàn cảnh khó khăn để các em được yên tâm đến trường, không phải mặc cảm vì nhà nghèo, thiếu thốn. (Ví dụ: Trong lớp, có em Trần Văn Tài theo bố đi câu mực ở biển Nghệ An, mẹ mải mê chơi cờ bạc nên Tài đã đến lớp tập trung muộn hơn các bạn. Khi đến lớp, không có một loại sách vở, dụng cụ học tập nào. Tôi đã liên lạc và gặp mặt mẹ Tài để trao đổi tìm cách giúp em. Mẹ Tài sẽ phải mua sắm vở và đồ dùng học tập cho em còn tôi thì xin với Nhà trường tạo điều kiện cho em mượn một bộ sách hướng dẫn học. Được sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu và sự phối hợp của phụ huynh, Tài đã có đầy đủ các loại sách vở và dụng cụ học tập cần thiết khi đến lớp). Thứ năm: Phối hợp chặt chẽ với các giáo viên bộ môn, giáo viên dạy thay và Tổng phụ trách Đội: Trường Tiểu học lê Hồng Phong chúng tôi thực hiện dạy 9 buổi/tuần. Giáo viên làm công tác chủ nhiệm thực hiện dạy 23 tiết/tuần. Như vậy, với những số tiết còn lại là giáo viên chuyên và giáo viên dạy thay. Vì vậy nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các giáo viên chuyên, giáo viên dạy thay với Tổng phụ trách Đội và giáo viên chủ nhiệm để duy trì tốt sĩ số thì việc học sinh nghỉ học, bỏ tiết là điều khó tránh khỏi. Đầu năm học 2015-2016, lớp 5E tôi dạy có mấy trường hợp (Nguyễn Văn Đức, Y Khuyến Byã, Y Huy Byã, Y Sa muel Niê,) cứ đến tiết chuyên (Tiếng Anh, Tin học, Đạo đức, Kĩ Thuật,) là nghỉ học, bỏ tiết hoặc tùy tiện đổi chỗ trong lớp. Những buổi sau đến lớp, nghe học sinh trong lớp và giáo viên bộ môn phản ánh lại tôi thấy khá bức xúc. Tôi liền trao đổi với các giáo viên chuyên cùng phối hợp để chấn chỉnh kịp thời những điều đó. Tiếp đến, tôi gắn trực tiếp sơ đồ chỗ ngồi, những lưu ý của học sinh mà giáo viên cần giúp đỡ trên bàn giáo viên để các giáo viên đến dạy đều nắm rõ được tên và vị trí của từng em. Về lớp, tôi nhắc nhở và phân tích để các em thấy được tầm quan trọng của việc đi học đều, học đúng, học đủ các môn học và hoạt động giáo dục. Sau đó, tình trạng này đã chấm dứt hoàn toàn. Tất cả học sinh đều tự giác, tích cực trong các tiết học, môn học và các em đều thể hiện lòng tôn kính của mình với thầy cô.( Em Nguyễn Văn Đức sau đó có sự tiến bộ rõ rệt về nhiều mặt: đi học chuyên cần, học tập tốt, chấp hành tốt các quy định của lớp, của trường,Em còn được các thầy cô nhận xét, khen ngợi nhiều hơn trong vở.) Và tôi cũng không còn nghe thấy các thầy cô phàn nàn về học sinh của lớp mình nữa mà thay vào đó là những lời khen: Lớp học ngoan, chăm chỉ; các em rất lễ phép, tích cực trong học tập và hoạt động giáo dục. Thứ sáu: Tận dụng tối đa sự tác động của môi trường xã hội: Có nhiều học sinh bộc phát nhân cách của mình một cách nhanh chóng mà bề ngoài khó nhận biết. Ở trường, việc học tập của các em có dấu hiệu của một sự khủng hoảng như: học không vào, trốn học, không hài lòng với sự nhắc nhở của thầy cô, nhất là sự nổi lên rầm rộ của phong trào chơi game đang diễn ra phổ biến. Ở nhà, các em làm cho cha mẹ phải trăn trở, lo lắng và không nghe lời dạy dỗ của cha mẹ, hay lơ đễnh không thèm để ý bất cứ chuyện gì cả. Đối với những trường hợp trên, giáo viên cần linh động các biện pháp giải quyết, bảo đảm mối quan hệ gắn bó giữa gia đình, nhà trường, tăng cường biện pháp thuyết phục mà không chê trách, răn đe, trách phạt. Để hướng các em hòa nhập cùng tập thể lớp, có thể phân công các em đảm trách một nhiệm vụ nào đó trong lớp hay ghi tên, động viên các em tham gia vào đội tuyển của các môn thể thao hay các phong trào khác trong hoạt động của lớp học, của nhà trường. Từ đó, sự say mê trong nhiệm vụ mới, được sự tin yêu của bạn bè, được sự thương mến của thầy, cô sẽ giúp em vượt qua mọi thị hiếu do môi trường tác động. Cụ thể, trong lớp tôi có em Nguyễn Văn Đức ở thôn Tân Lập. Nhà nghèo, đông anh em, bố ham rượu chè, mẹ suốt ngày đi làm thuê kiếm tiên nuôi cả nhà. Ngay cả các khoản đóng góp theo quy định của trường, của lớp gia đình cũng không có để nộp. Bản thân em Đức lại thích chơi game nên việc em nghỉ học không có lí do diễn ra liên tục trong một thời gian dài khiến tôi khá vất vả. Khi đến lớp, cô giáo hỏi lí do thì em không khi nào nói thật. Tôi đã tìm hiểu qua các giáo viên chủ nhiệm trước, các giáo viên chuyên,Tiếp theo, tôi đến nhà và gặp được mẹ của em Đức. Tôi và mẹ của Đức phối hợp với nhau để giúp Đức đi học chuyên cần hơn. Hôm nào Đức nghỉ học là tôi điện thoại báo cho phụ huynh, một lúc sau thấy Đức đã lên lớp. Hỏi ra mới biết mẹ đã tìm Đức từ quán internet. Có lần khác, Đức nghỉ học, tôi điện thoại cho mẹ em nhưng mẹ lại đang đi làm thuê cho người ta ở nơi xa thế là tôi chạy ra các quán internet để tìm em vào giờ giải lao. Những ngày sau đó, dường như Đức cũng phần nào cảm thấy có lỗi nên không nghỉ học nhưng thái độ hợp tác trên lớp có vẻ miễn cưỡng không thật sự thoải mái. Cuối buổi học, tôi gặp riêng Đức hỏi chuyện, phân tích cho em thấy những cái được cái mất của việc nghỉ học, Những buổi học trên lớp, tôi luôn quan tâm đến Đức một cách tự nhiên, hài hòa. Giao cho em phụ trách vị trí Phó ban Thư viện của lớp. Khi đảm nhận trọng trách này, em sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều hơn với các tài liệu có trong thư viện của lớp mà không phải qua khâu trung gian. Các bạn khác muốn mượn tài liệu phải thông qua em, như vậy em thấy được mình cũng có vai trò quan trọng đối với tập thể mà cố gắng. Càng ngày, em càng muốn chứng tỏ khả năng của mình với các bạn nên không còn nghĩ đến chuyện nghỉ học nữa. Cũng có những buổi em nghỉ học nhưng đều có lí do chính đáng do người lớn xin phép. Những buổi học sau lên lớp, em rất tích cực học hỏi bạn về bài đã học hôm trước để theo cho kịp các bạn. Việc đưa được Đức đến lớp đều là thành công lớn nhất trong ngần ấy năm dạy học của tôi. Ngạc nhiên hơn nữa là cuối năm học, Đức đã hoàn thành khá tốt các bài kiểm tra, đặc biệt là môn Tiếng Việt đạt 8 điểm. Các khoản đóng góp tôi cũng xin với nhà trường miễn hết cho em. Các khoản của lớp, bản thân tôi hỗ trợ cho em phần nào còn nữa là sự hỗ trợ của cả tập thể lớp. Mặt khác, đối với những em có mặc cảm do có sự khác biệt về thành phần dân tộc (Kinh, Ê-đê ) hoặc do chưa thích nghi với môi trường như: chuyển trường, lưu ban thì lúc này vai trò của giáo viên rất quan trọng. Giáo viên sẽ lồng ghép giáo dục khi dạy một số bài Địa lí lớp 4, bài Dân cư nước ta (Địa lí lớp 5) . Giáo viên cũng có thể kể câu chuyện "Kinh và Ba na đều là anh em" để hướng tới sự đoàn kết là một. Bên cạnh đó, những cử chỉ, giọng nói của giáo viên tạo nên sự gần gũi giữa hai mối quan hệ là rất cần thiết. Một cái xoa đầu, một lời hỏi thăm là bản thân giáo viên đã tạo cho học sinh một sự tin tưởng, dễ gần. Lòng cảm mến của học sinh đối với giáo viên, giúp các em xóa đi những mặc cảm, tự ti để hòa nhập với tập thể tốt hơn và ý định chán nản, bỏ học, nghỉ học sẽ dễ dàng xóa đi trong đầu óc non nớt của các em. Có các em: Y Sa Muel Niê, Y Huy Byã, H Nang Êban, những ngày đầu nhận lớp, thấy các em có vẻ rụt rè. Tôi âm thầm theo dõi và tìm hiểu nguyên nhân thì được biết hoàn cảnh của các em ấy khá phức tạp. Y Huy có bố mẹ đã li dị, em ấy ở với bà ngoại và dì ruột đang học THCS. Y Sa Muel, bố mẹ đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh, em ở với bà ngoại. H Nang gia đình thuộc hộ nghèo, em còn thường xuyên bị chảy mồ hôi ở tay và chân, Học lực của 3 em đều ở mức yếu (qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm). Thỉnh thoảng các em ấy lại nghỉ học mà không có lí do. Tôi đã trò chuyện riêng với từng em, hỏi han về mọi chuyện và động viên các em. Bên cạnh đó tôi cũng gặp trực tiếp dì của Y Huy, mẹ của H Nang cùng tìm biện pháp giúp các em tiến bộ. Riêng với Y Sa muel, tôi đến nhà nhưng đều không gặp được bà của em (gia đình không ai dùng điện thoại). Tôi đã nhờ đến Hội phụ huynh của lớp, nhờ phụ huynh của những học sinh gần nhà giúp đỡ. Trên lớp, tôi phân các học sinh khá giỏi giúp đỡ các em. Cho các em tham gia vào đội quản Sao, hướng dẫn các học sinh lớp 1, 2 xếp hàng tập thể dục đầu giờ (có sự hướng dẫn của GVCN). Cả ba thấy mình có uy với các em nên khá mạnh dạn khi làm nhiệm vụ được giao. Các em hồ hởi nói về những em nhỏ mà mình phụ trách. Những ngày sau đó, các em rất nhớ nhiệm vụ của mình. Biết được vai trò của mình như thế nào nên các em đều rất cố gắng. Khi có cơ hội là tôi đưa ra những lời khen với các em. Các em cảm thấy được quan tâm, tin tưởng nên việc nghỉ học không lí do đã hoàn toàn không còn. Và việc học tập của các em cũng có sự tiến bộ rõ rệt. Cuối năm, cả ba em đều hoàn thành chương trình. Thứ bảy: Tổ chức tốt tiết sinh hoạt tập thể - sinh hoạt lớp Phối hợp với Đội thiếu niên tổ chức các buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp vui tươi, sinh động, hấp dẫn để các em thấy gần gũi hơn với mọi người. Tuyên dương, khen thưởng kịp thời những cá nhân, nhóm đạt duy trì sĩ số suốt cả tuần để làm gương cho lớp và khen những em có tiến bộ về mặt học tập để các em thấy nhiệm vụ học tập của mình và mỗi ngày đến trường thật sự là một ngày vui. Đối với những mặt học sinh còn hạn chế, nhắc nhở nhẹ nhàng kèm theo hướng dẫn, uốn nắn cho các em để tuần sau các em thực hiện tốt hơn. Ngoài ra, cần nêu gương các anh, chị học sinh những năm trước dù đầu năm còn yếu kém nhưng nhờ sự kiên trì, cố gắng đến cuối năm cũng đã đạt loại Khá, Giỏi để củng cố lòng tin nơi các em. Mời cha mẹ học sinh tham gia vào tiết sinh hoạt lớp để nắm bắt được tình hình học tập và rèn luyện của con em mình. Ví dụ: Trong năm học, tôi có tổ chức tiết sinh hoạt tập thể theo nhu cầu của đông đảo học sinh trong lớp. Thay vì múa hát, tìm hiểu lịch sử, tôi tổ chức thi đấu một số nội dung thể thao theo sở thích của các em như nhảy dây, đá cầu, cầu lông,. Các em rất hào hứng và luôn mong muốn được cô tổ chức như thế nên ngoài việc hăng say học tập thì các em cũng tích cực rèn luyện ở lớp, ở nhà. Từ đó, một số em quên hắn những trò chơi vô bổ và ham đến trường hơn. Thứ tám: Tạo môi trường giáo dục tốt Cùng học sinh trang trí lớp học, các góc học tập thật sinh động., khuyến khích lấy ý tưởng của các em. Mỗi ngày bước vào lớp, tôi đều quan sát cả lớp. Thấy các em có mặt đầy đủ là lòng tôi rất vui. Nhất là những hôm thời tiết khắc nghiệt như: mưa, gió, Những hôm ấy, tôi cho lớp hoan nghênh bằng một tràng pháo tay để động viên khích lệ tinh thần các em. Trong giờ dạy, tôi đầu tư soạn giảng phân hóa theo đối tượng học sinh sao cho phù hợp với trình độ mọi học sinh trong lớp - nhất là những em học yếu nhằm kích thích học sinh hứng thú học tập, tiếp thu bài nhanh hơn. Lồng ghép những câu chuyện thực tế mang tính giáo dục vào các tiết dạy để tạo hứng thú cho các em trong mỗi giờ học. Tôi cũng thật sự hòa nhập cùng các em trong giờ dạy hoạt động ngoại khoá hay trò chơi của đố vui qua hình thức Giải ô chữ trong các tiết Ôn tập Với trường lớp khang trang như hiện nay, đội ngũ giáo viên nhiệt tình, sự quan tâm của Ban Giám hiệu, sân chơi rộng rãi thoáng mát, "lớp học như là nhà" đó là một thuận lợi rất lớn để xây dựng môi trường học tập tốt cho học sinh vui chơi, học tập. Phải tùy hoàn cảnh cụ thể, tạo khung cảnh giáo dục tốt làm cho học sinh ngồi trong lớp học thấy vui tươi, thích thú và được bày tỏ ý kiến của mình với bạn, với cô, không nặng nề, sợ sệt. Luôn cùng nhau chăm sóc, lao động, làm vệ sinh, trang trí trường lớp. Giờ ra chơi, tôi tổ chức hướng dẫn các em vui chơi tập thể, đọc sách báo trong thư viện của lớp của trường để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và sự gần gũi thân mật giữa học sinh với giáo viên nhà trường.Trong những năm qua, bằng hình thức này tôi đã tạo cho các em sự vui thích, tìm tòi tham gia tích cực cho phong trào của lớp, của trường, của huyện tổ chức. Ngoài ra: để ngăn ngừa, khắc phục và phát huy sự thành công của nghệ thuật thuyết phục học sinh trở lại trường lớp sau khi nghỉ, bỏ học thì bản thân giáo viên cần kết hợp chặt chẽ nhiều mặt khác như: Lập kế hoạch giáo dục cá nhân để cung cấp kiến thức, phát triển năng lực và hạn chế tối đa những khó khăn của học sinh như đã nêu, giúp các em hòa nhập một cách tốt nhất với các bạn. Bố trí chỗ ngồi thuận lợi, quan tâm và dành nhiều thời gian trò chuyện tiếp xúc với các em. Đồng thời, luôn tạo ra các tình huống mà từng học sinh đều có thể thệ hiện mình trong đó, còn giáo viên thì cổ vũ, khuyến khích mọi thành công của các em dù là những thành công rất nhỏ nhất. Phối hợp với Đội Thiếu niên, Công đoàn trong nhà trường để có sự hỗ trợ và thường xuyên trao đổi với phụ huynh về kế hoạch giáo dục, thuyết phục các em. Động viên các em tham gia vào các câu lạc bộ văn nghệ, thể thao của lớp, của trường để tạo sự thích thú cho các em . Hợp tác với Ban tự quản lớp lập ra "Đôi bạn cùng tiến" và đề ra những hình thức thi đua khen thưởng để khích lệ tinh thần học tập của các em. c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp: Mỗi biện pháp có chức năng, vai trò riêng nhưng giữa chúng có m