Top 12 # Xem Nhiều Nhất Các Giải Pháp Chủ Yếu Để Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam. Liên Hệ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Các Giải Pháp Cơ Bản Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam / 2023

quốc dân sang trạng thái của sự phát triển là phát triển nền kinh tế thị trường, cùng với nó là thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Và với chính sách mở của nền kinh tế, bộ mặt nền kinh tế nước ta hiện nay có nhiều chuyển biến, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện ngày càng đầy đủ hơn. Việc đa dạng hoá loại hình sở hữu cùng với nền kinh tế nhiều thành phần với vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế nước ta, tình trạng lạm phát giảm đi, cùng với sự tăng trưởng nền kinh tế đồng đều. Tuy nhiên cùng với sự phát triển nền kinh tế còn rất nhiều vấn đề tồn tại và phát sinh cần được nghiên cứu và giải quyết đối với chính sách phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó việc vận dụng lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nền kinh tế thị trường là cần thiết, bởi nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần rất đa dạng và phong phú. Về cách thức hoạt động của từng thành phần kinh tế . Việc quản lý tốt các thành phần kinh tế này là rất cần thiết đối với nhà nước, nhất là trong quá trình nước ta xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhằm phát triển mạnh nền kinh tế ngang bằng với các nước phát triển trên thế giới, tiến tới xây dựng xã hội chủ nghĩa. Do đó trong thời kỳ quá độ nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần là tất yếu khách quan. Vì vậy Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã chỉ ra: phát triển kinh tế hàng hoá hay kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở củng cố và giữ vững vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh, sự điều tiết và quản lý của nhà nước là chiến lược lâu dài của nước ta. Vì kiến thức hạn hẹp, bài viết của em chỉ nghiên cứu nh ững vấn đề chung nhất về nền kinh tế thị trường từ khi nước ta đổi mới đến nay. i. điều kiện ra đời của kinh tế hàng hoá Lịch sử phát triển của sản xuất và đời sống xã hội của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hai thời đại kinh tế khác nhau về chất. Đó là: thời đại kinh tế tự nhiên, tự cung – tự cấp và thời đại kinh tế hàng hoá, mà giai đoạn cao của nó được gọi là kinh tế thị trường. Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế – xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là phương thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ thấp ban đầu là sử dụng những sản vật của tự nhiên và sau đó được thực hiện thông qua những giá trị sử dụng trong việc duy trì sự sinh tồn của con người, nó được bó hẹp trong mối quan hệ tuần hoàn khép kén giữa con người và tự nhiên, lấy quan hệ trực tiếp giữa con người và tự nhiên tiêu biểu là những người lao động và đất đai làm nền tảng. Nó tồn tại và thống trị trong các xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tuy không còn giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tại trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tuy không còn chiếm giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tại trong xã hội tư bản cho đến ngày nay. Đối lập với kinh tế tự nhiên là nền kinh tế hàng hoá, kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế – xã hội mà trong đó hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi trên thị trường. Trong nền kinh tế hàng hoá gần như toàn bộ sản phẩm lao động và dịch vụ đều mang hình thái hàng hoá, tức là hầu như tất cả các mối quan hệ kinh tế đều được thực hiện dưới hình thái quan hệ hàng hoá tiền tệ trên thị trường. Hình thức đầu tiên của nó là kinh tế là kinh tế hàng hoá giản đơn, ở đó sản phẩm hàng hoá do những người nông dân, thợ thủ công cá thể sản xuất ra dựa trên cơ sở tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân người sản xuất. Kinh tế hàng hoá giản đơn được coi là khâu trung gian chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế thị trường. Loại hình kinh tế hàng hoá giản đơn này tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển thành kinh tế hàng hoá phát triển hay kinh tế thị trường. Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại trong hình thái kinh tế – xã hội gắn liền với hai điều kiện tiền đề: sự phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Trong lịch sử phát triển của mình, vị thế của kinh tế hàng hoá cũng dần được đổi thay, từ chỗ như là kiểu tổ chức kinh tế – xã hội không phổ biến hợp thời trong xã hội chiếm hữu nô lệ của những người thợ thủ công và nông dân tự do đến chỗ được thừa nhận trong xã hội phong kiến và đến chu nghĩa tư bản thì kinh tế hàng hoá giản đơnkhông những được thừa nhận mà còn phát triển lên giai đoạn cao hơn đó là kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao nhất của kinh tế hàng hoá, nó đã trải qua ba giai đoạn phát triển. Đầu tiên là giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển kinh tế thị trường tự do ở giai đoạn này sự phát triển kinh tế, diễn ra theo tinh thần tự do, nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh tế. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại ở giai đoạn này nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường thông qua việc xây dựng các hình thức sở hữu nhà nước, các chương trình khuyến khích, đầu tư và tiêu dùng cùng với việc sử dụng các công cụ kinh tế như tài chính tín dụng tiền tệ… để điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Sự phối hợp giữa chính phủ và thị trường trong một nền kinh tế hỗn hợp nhằm đảm bảo sự phát triển có hiệu quả của những nước có mức tăng trưởng nhanh. Trong điều kiện nước ta hiện nay, những điều kiện chung của nên kinh tế hàng hoá vẫn coi sựtồn tại của kinh tế hàng hoá là một tất yếu khách quan. Với tư cách là cơ sở kinh tế của sản xuất hàng hoá phân công lao động ở nước ta chẳng những mất đi, trái lại nó ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, ngày càng có nhiều ngành nghề cổ truyền có tiếng không chỉ ở trong nước mà cả trên thế giới có tiềm năng lớn mà trước đây cơ chế cũ làm mai một ngày nay đã được khôi phục và phát triển. Trong nội bộ từng khu vực, từng ngành, phân công lao động ngày càng chi tiết hơn. Điều đó được phản ánh ở tính phong phúm đa dạng và chất lượng cao hơn của sự chuyên môn hoa và hợp tác hoá lao động đã vượt khỏi phạm vi quốc gia trở thành quốc tế. Nền kinh tế nước ta đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể của những người sản xuất hàng hoá nhỏ, sở hữu tư bản tư nhân, sở hữu hỗn hợp khác: tư bản nhà nước, công ty cổ phần… Do đó việc phát triển kinh tế thị trường là cần thiết nhất là trong điều kiện nước ta hiện nay còn nghèo nàn, lạc hậu, muốn đi lên chủ nghĩa xã hội cần có một nền kinh tế phát triển cao và vững mạnh. Nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế mở ra đời bắt đầu từ quy luật phân bố và phát triển không đều về tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và thế mạnh giữa các nước, từ quy luật phân công và hợp tác lao động quốc tế. Nền kinh tế hàng hoá muốn phát triển với tốc độ nhanh và hiệu quả lớn phải xây dựng theo cơ cấu kinh tế mở cử. Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhờ nắm giữ được các ngành lĩnh vực then chốt chủ yếu nên trở thành nhân tố kinh tế đảm bảo cho kinh tế hàng hoá. Sản xuất hàng hoá phát triển, lượng sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường ngày càng dồi dào, phong phú, thị trường được mở rộng, thị trường được hiểu đầy đủ hơn. Việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay gắn liền với việc phát triển các loại thị trường. Lịch sử phát triển kinh tế hàng hoá đã chỉ ra bước đầu xuất hiện thị trường hàng tiêu dùng sau đó mở rộng đến thị trường tư liêuh sản xuất sức lao động, tư bản dịch vụ… Ngược lại sự phát triển các loại hình có tác dụng tích cực đến sự phát triển kinh tế hàng hoá. Vì vậy để phát triển kinh tế hàng hoá cần thông suốt trong cả nước. Từng bước hình thành và mở rộng đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất dịch vụ thị trường vốn, tiền tệ… Phát triển các hình thức thu hút vốn và đảm bảo chu chuyển vốn nhanh. Từ đây ta thấy rõ được kinh tế thị trường là giai đoạn cao của kinh tế hàng hoá. ii. Phân tích các quy luật của kinh tế thị trường 1. Quy luật giá trị Quy luật giá trị là quy luật kinh tế bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy luật giá trị. Quy luật giá trị chi phối quy luật kinh tế khác; các quy luật kinh doanh khác chỉ là biểu hiện yêu cầu của quy luật yêu cầu của những quy luật giá trị là sản xuất và trao đổi hàng hoá dựa trên cơ sở lượng giá trị của hàng hoá hay thời gian lao động xã hội cần thiết. Trong kinh tế hàng hoá vấn đề quan trọng là hàng hoá sản xuất có bán được không, để có thể bán được thì hao phí lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hoá phù hợp với mức hao phí xã hội có thể chấp nhận được. Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết. Hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi với nhau được khi lượng giá trị của chúng ngang nahu. Trong sản xuất, quy luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động giữa các ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá. Có nghĩa là nếu ở ngành nào đó, cung không đáp ứng cầu, giá cả hàng hoá lên cao thì người sản xuất sẽ đổ sô vào ngành đó. Ngược lại, khi ngành nào đó thu hút quá nhiều lao động xã hội, cung vượt cầu, giá cả hàng hoá tụt xuống thì người sản xuất sẽ chuyển bớt tư liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi ngành này để đầu tư vào nơi có giá cả cao hơn. Trong nền kinh tế hàng hoá, người nào có hao phí lao động sản xuất hàng hoá thì người đó có lợi, còn người nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn kinh doanh xã hội cần thiết sẽ bị thiệt vì không thu về được toàn bộ lao động đã hao phí. 2. Quy luật cung cầu. Nhu cầu xã hội tức là điều tiết nguyên tắc của lượng cầu chủ yếu kà những mối quan hệ giữa các cấp với nhau và do địa vị kinh tế của từng giai cấp quyết định. Như vậy lượng cầu trước hết do tỉ số giữa tổng giá trị thặng dư và tiền công quyết định, tổng cầu xã hội là tổng thu nhập, thu nhập gốc là tổng “M+V”. Do tỉ lệ phân chia mà những bộ phận khác nhau tham dự vào “giá trị thặng dư” phân giải thành lợi nhuận lợi tức, địa tô. Khác với kinh tế học tư sản quan niệm tổng thu nhập là do thu nhập từng cá nhân cộng lại, không phân rõ tính trùng lặp và sự phân phối lần đầu tiên và phân phối lại. Cung và cầu là sự khái quát hai lực lượng cơ bản của thị trường là người bán và người mua, người sản xuất và người tiêu dùng của hai khâu trong quá trình tái sản xuất và tiêudùn. Cung và cầu về số lượng và giá cả của thị trường hàng hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giá cả của thị trường hàng hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá trên thị trường. Trong cơ chế thị trường người mua đại diện ch sức cầu, người bán đại diện cho sức cung. Người mua muốn giá cả hàng hoá thấp, còn người bán muốn giá cả hàng hoá cao. Cung và cầu luôn vận động, biến đổi trên thị trường. Mối quan hệ tác động qua lại giữa cung và cầu về số lượng hàng hoá với giá cả hình thành quy luật cung và cầu. Quy luật này có sự tác dụng điều tiết sản xuất và tiêu dùng, biến đổi dung lượng và cơ cấu thị trường và quyết định giá cả thị trường. 3. Quy luật lưu thông tiền tệ. Quy luật lưu thông tiền tệ xác định số lượng tiền cần thiết trong lưu thông. Theo quy luật này, số lượng tiền cần thiết trong lưu thông bằng tổng giá cả của toàn bộ hàng hoá chia cho số lần luân chuyển trung bình của đơn vị tiền tệ cùng loại. Trong tổng giá cả hàng hoá phải trừ đi tổng cộng giá cả hàng hoá bán chịu và số tiền khấu trừ cho nhau rồi cộng với tổng sóo tiền thanh toán đã đến hạn. Đây là quy luật chung của mọi xã hội có sản xuất hàng hoá. Quy luật này phản ánh mối quan hệ giữa tổng giá cả hàng hoá lưu thông và tốc độ lưu thông tiền tệ với khối lượng tiền cần thiết đối với lưu thông. Tổng giá cả hàng hoá tăng lên là dấu hiệu tốt nhưng với điều kiện tăng khối lượng hàng hoá trong lưu thông. Nếu tốc độ lưu thông càng lớn thì khối lượng tiền phát hành giảm sẽ góp phần giảm chi phí lưu thông tiền tệ. Nếu vòng quay tiền quá lớn đó là dấu hiệu không bình thường như vậy công chúng không muốn cất trữ tiền tệ chứng tỏ nền kinh tế có mức lạm phát cao. iii. thị trường và vai trò của thị trường 1. Thị trường Trong nền kinh tế hàng hoá, mọi sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều được mua bán trên thị trường. Thị trường là một hợp phần tất yếu và hữu cơ của toàn bộ quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Ban đầu, thị trường gắn liền với địa điểm nhất định, trên đó diễn ra bx quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá. Thị trường có tính không gian và thời gian, các địa dư, khu vực tiêu thụ hàng hoá phân theo các mặt hàng, ngành hàng. Sản xuất hàng hoá phát triển, lượng sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường ngày càng dồi dào, phong phú thị trường được mở rộng, khái niệm thị trường được hiểu đầy đủ hơn. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm môi giới. ở đây, người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường. Như vậy thị trường là một quá trình mà trong đó người bán và người mua tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và sản lượng. 2. Vai trò của thị trường 1. Nó là điều kiện và môi trường của sản xuất hàng hoá. Thông qua thị trường, các chủ thể kinh tế mua bán các yếu tố, điều kiện của sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, mua được các hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ. Điều đó đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành bình thường, thông suốt. Vì vậy, không có thị trường sản xuất và trao đổi hàng hoá không thể tiến hành được. 2. Thị trường là trung tâm của toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội là sản xuất mặt hàng gì, số lượng bao nhiêu và bằng phương pháp nào đều phải thông qua thị trường. Thị trường là nơi kiểm tra về chủng loại, số lượng và chất lượng hàng hoá. Thị trường kiểm nghiệm tính phù hợp của sản xuất đối với tiêu dùng xã hội. Đó là nơi cuối cùng để chuyển lao động tư nhân, các biệt thành lao động xã hội. Chi phí cá biệt có được xã hội công nhận hay không sẽ quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Trên ý nghĩa đó, thị trường điều tiết sản xuất và kinh doanh. Thông qua thị trường, các doanh nghiệp lựa chọn phương án hoạt động, sản xuất kinh doanh và thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng năng độngm sáng tạo, đạt hiệu quả sản xuất, kinh doanh cao hơn. 3. Nói thị trường là nói đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế để xác định giá cả và sản lượng hàng hoá. Vì vậy, thị trường đồng nghĩa với tự do kinh tế, tự do trao đổi, tự do xác định giá cả. Quan hệ giữa các chủ thể kinh tế là quan hệ bình đẳng, thuận mua vừa bán. Vì vậy thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp tính năng động, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng. 4. Thông qua việc mua bán hàng hoá trên các thị trường hàng hoá yếu tố sản xuất và thị trường hàng tiêu dùng, dịch vụ, lấy tiền tệ làm mối giới, làm cho các chủ thể nhiều hay ít thể hiện sự phân phối có lợi cho ai. Vì vậy thị trường thực hiện chức năng phân phối của quá trình tái sản xuất. 5. Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thị trường trong nước có liên hệ chặt chẽ với thị trường nước ngoài thông qua hoạt động ngoại thương. Sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương sẽ đảm bảo mở rộng thị trường các yếu tố đầu vào, đầu ra của thị trường trong nước và đảm bảo sự cần bằng giữa hai thị trường đó. sự vận dụng lí thuyết kinh tế thị trường ở Việt Nam . i. đặc điểm kinh tế – xã hội Việt Nam thời ký trước đổi mới. Trong thời kỳ bao cấp vịêc hạn chế và xoá bỏ kinh tế thị trường đã kìm hãm nền kinh tế phát triển vì nước ta đi lên xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa nên nước ta thiếu cốt “vật chất” của một nền kinh tế phát triển như cơ cấu hạ tầng xã hội thấp kém, trình độ cơ sở vật chất và công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu, không có khả năng cạnh tranh, sản xuất phân tán, nhỏ lẻ kỹ thuật thủ công mang nặng tính bảo thủ và trì trệ. Ngoài ra, kiểu quản lý nền kinh tế chỉ huy hay nền kinh tế trong thời kỳ bao cấp là sơ cứng các mối liên hệ kinh tế. Từ năm 1986 trở về thời kỳ trước dù trên thực tế vẫn thừa nhận sản xuất hàng hoá, còn quan hệ hàng hoá – tiền tệ, nhưng thực chất chỉ là kinh tế thị trường một thành phần mà thôi. Quy luật vận động của kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa là quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế, các quy luật kinh tế hàng hoá hoặc do ý trí chủ quan “thu hẹp phạm vi hoạt động” xem như “không hợp pháp” hoặc có thừa nhận cũng chỉ đóng vai trò hết sức thứ yếu trong sự vận động của nền kinh tế mà thôi. Những quan niệm đó về xây dựng và phát triển kinh tế là biểu hiện sai lầm chủ quan, quy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, mà đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không tuân theo “quá trình lịch sử tự nhiên” trong sự phát triển xã hội nói chung và trong nền kinh tế nói riêng. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho sự trì trệ kéo dài, đồng thời làm xuất hiện yêu cầu cấp bách là phải “chấn hưng” nó cho phù hợp với yêu cầu của quy luật khách quan phù hợp với xu thế thời đại ngày nay. Bởi vậy trong quá trình cải cách kinh tế đã chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường. Ii. Sự phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay * Bản chất đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung – hanh chính-quan liêu-bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nội dung, bản chất và đặc điểm khái quát nhất đối với nền kinh tế nước ta trong hiện tại và tương lai. Đặc biệt, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII thông qua vào năm 1991, cũng đã nêu lên 6 đặc trưng bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa và những quan điểm phương hướng tổng quát về phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tuy nhiên, cũng cần phải phân tích sâu thêm bản chất, đặc điểm đã được khái quát nói trên, để có thể hiểu rõ và thống nhất hơn trong nhận thức và hành động. Thứ nhất, nền kinh tế thanh toán định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta sẽ xây dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại với tính chất xã hội hiện đại (xã hội chủ nghĩa). Mặc dù nền kinh tế nước ta đang nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển nhưng khi nước ta chuyển sang phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường, thì thế giới đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại (do những khiếm khuyết của kinh tế thị trường tự do). Bởi vậy, chúng ta không nhất thiết phải trải qua giai đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn và giai đoạn kinh tế thị trường tự do, mà đi thẳng vào phát triển kinh tế thị trường hiện đại. Đây là nội dung và yêu cầu của sự phát triển rút ngắn. Mặt khácm thế giới vẫn đang nằm trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa xã hội, cho nền, sự phát triển kinh tế -xã hội nước ta phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết, khách quan và cũng là nội dung yêu cầu của sự phát triển rút ngắn. Sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, nhiệm vụ của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đảng và nhà nước khuyến khích mọi người dân trong xã hội làm giàu một cách hợp pháp. Dân có giầu thì nước mới mạnh, nhưng dân giàu phải làm cho nước mạnh, bảo đảm độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Thứ hai, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong một số lĩnh vực, một số khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nền kinh tế hàng hoám nền kinh tế thị trường phải là nền kinh tế đa thành phần, đa hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền kinh tế thị trường mà chúng ta sẽ xây dựng kà nền kinh tế thị trường hiện đại, cho nên cần có sự tham gia bởi “bàn tay hữu hinhd” của nhà nước trong việc điều tiết, quản lý nền kinh tế đó. Đồng thời, chính nó sẽ bảo đảm sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự quản lý, điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế thị trường của nhà nước là thông qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo một số lĩnh vực then chốt, có ý nghĩa là “đài chỉ huy” là “mạch máu” của nền kinh tế. Cùng với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, cần coi trọng vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp, đặt chúng trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ, thống nhất, không tách rời, biệt lập. Thứ ba, nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Thành tố quan trọng mang tính quyết định trong nền kinh tế thị trường hiện đại là nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế. Nhưng khác vưói nhà nước của nhiều nền kinh tế thị trường trên thế giới, nhà nước ta là nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, nhà nước công nông, nhà nước của đại đa sói nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Nó có đủ bản lĩnh, khả năng và đang tự đổi mới để bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc phát triển kinh tế thị trường hiện đại ở nước ta. Sự khác biệt về bản chất nhà nước là một nội dung và là một điều kiện, một tiền đề cho sự khác biệt về bản chất của môhình kinh tế thị trường ở nước ta so với nhiều mô hình kinh tế thị trường khác biệt trên thế giới. Thứ tư, cơ chế vận hành của nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế thị trường với sự tham gia quản lý, điều tiết của nhà nước. Mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế được thực hiện thông qua thị trường (quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh- hợp tác..) sẽ chi phối các hoạt động kinh tế. Quy luật giá trị quy định mục đích theo đuổi trong hoạt động kinh tế và lợi nhuận (là giá trị không ngừng tăng lên), quy định sự phân bổ các nguồn lực vào các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh khác nhau, đồng thời đặt các chủ thể kinh tế trong một cuộc cạnh tranh quyết liệt. Thông qua các công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô, cùng với việc sử dụng các lực lượng kinh tế của mình (kinh tế nhà nước). Nhà nước tác động lên mối quan hệ cung – cầu thực hiện sự điều tiết của nền kinh tế thị trường. Như vậy, cơ chế hoạt động của nền kinh tế thị trường là: thị trường là điều tiết nền kinh tế, nhà nước điều tiết thị trường và mối quan hệ nhà nước – thị trường – các chủ thể kinh tế là mối quan hệ hữu cơ thống nhất. Thứ năm, mở cửa hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia là nội dung quan trọng của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Quá trình phát triển kinh tế thị trường đi liền với xã hội hoá nền sản xuất xã hội. Tiến trình xã hội hoá trên cơ sởpt kinh tế thị trường là không có biên giới quốc gia về phương diện kinh tế. Một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế thị trường hiện đại là việc mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế với những khu vực hoá và toàn cầu hoá đang ngày càng phát triển và trở thành xu thế tất yếu trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện nay. Tất cả các nước trên thế giới, dù muốn hay không muốn, ít nhiều đều bị lôi cuốn, thu hút vào các quan hệ kinh tế quốc tế. Tranh thỷ thuận lợi và cơ hội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn và vượt qua thách thức là yêu cầu nhất thiết phải thực hiện. Để ot trong điều kiện của kinh tế thị trường hiện đại, Việt Nam không thể đóng cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái tự cung, tự cấp, mà phải mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Sự mở cửa, hội nhập được thực hiện trên 3 nội dung chính sau: thương mại; đầu tư và chuyển giao khoa học – công nghệ. Tuy nhiên sự mở cửa, hội nhập không có nghĩa là sự hòa tan, đánh mất mình, mà phải dựa trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Thứ sau, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc bảo đảm công bằng xã hội cũng là một nội dung rất quan trọng trong nền kinh tế kinh tế thị trường ở nước ta. Phát triển trong công bằng và phát triển bền vững là những thuật ngữ phổ biến và xu thế của thời đại hiện nay. Phát triển trong công bằng được hiểu và những chính sách phát triển phải bảo đảm sự công bằng xã hội, là tạo cho mọi tầng lớp nhân dân đều có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển và được hưởng những thành quả tương xứng với sức lực, khả năng và trí tuệ của họ bỏ ra, là giảm khoảng cách chênh lệch giàu-nghèo giữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng. Khác với nhiều nước, chúng ta phát triển kinh tế thị trường nhưng chủ trơng bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong tất cả các giai đoạn của sự phát triển kinh tế ở nước ta. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, sự bảo đảm công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hoàn toàn xa lạ và khác hẳn về chất với chủ nghĩa bình quân, cao bằng thu nhập và “chia đều sự nghèo đói” cho mọi người. Mức độ bảo đảm công bằng xã hội phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển khả năng và sức mạnh kinh tế của quốc gia. Vì vậy, nếu qua nhân mạnh tới công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển, ngân sách còn eo hẹp, thì chắc chắn sẽ làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Thứ bảy, giải quyết mối quan hệ lao động và tư bản (vốn), thông qua phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được thực hiện theo kết quả lao động là chủ yếu kết hợp với phần theo vốn và tài sản. Đây là điểm khác biệt giữa nền kinh tế thị trường trong chủ nghĩa tư bản với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong mối quan hệ giữa lao động và tư bản (vốn) giữa lao động sống và lao động quá khứ (lao động đã được vật hoá), chủ nghĩa tư bản coi trọng nhân tố tư bản, nhân tố lao động quá khứ được tích luỹ. Bởi vậy, trong sự phối hợp thu nhập, phân phối thành quả lao động, chủ nghĩa tư bản nhấn mạnh đến nhân tố tư bản (vốn) hơn là nhân tố lao động (lao động sống), nhấn mạnh đến yếu tố tích luỹ – đầu tư hơn là yếu tố tiền lương – thu nhập của người lao động. Ngược lại, chủ nghĩa xã hội đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển. Cho nên, trong phân phối thu nhập và thành quả lao động của xã hội, chủ nghĩa xã hội nhấn mạnh đến nhân tố lao động (lao động sống) và yếu tố tiền lương – thu nhập của người lao động. Tuy nhiên, khi nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố lao động, đến nâng cao thu nhập và tiêu dùng của người lao động, chúng ta không thể không coi trọng đến vai trò của yếu tố vốn, đến tăng cường tích luỹ và đầu tư (cả nhà nước và tư nhân) và đến mối quan hệ biện chứng giữa tư bản (vốn) và lao động. Vì vậy, thu nhập theo vốn và tài sản kinh doanh giờ đây đã trở thành điều bình thường, Chỉ có trên cơ sở đó mới gia tăng số người giàu có trong xã hội Tăng số người có thu nhập cao đồng thời giảm số người có thu nhập thấp trong xã hội và thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch giàu – nghèo vừa là mục tiêu, vừa là nội dung quan trọng của chính sách thu nhậo và chính sách điều tiết thu nhập của nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tóm lại, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta phải là “quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm nó, tự do hạnh phúc. iii. các giải pháp cơ bản phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 1. Đa dạng hoá các hình thức sở hữu, khôi phục nền kinh tế nhiều thành phần. Nguyên tắc cơ bản của cơ chế r1 và sự độc lập tự do của chủ thề kinh tế. Muốn vậy, các chủ thể kinh tế có quyền chi phối các đối tượng sở hữu vì vậy việc chuyển từ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường phải đổi mới cơ cấu sở hữu cũ bằng đa dạng hoá các hình thức sở hữu hình thành các chủ thể có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Thực tiễn cho thấy đa dạng hoá các hình thức sở hữu tạo cho mọi công dân tự do kinh doanh theo pháp luật thực sự có tác dụng giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng nền kinh tế, làm cho nền kinh tế phát triển năng động, nâng cao hiệu quả kinh tế. 2. Tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường. Trong một nền kinh tế thị trường thực sự, hầu hết các nguồn lực xã hội đều thông qua thị trường mà được phân bổ các ngành một cách thị trường tối ưu. Nước ta không thể có một nền kinh tế hàng hoá phát triển nếu không hình thành thị trường thống nhất và đồng bộ. Cụ thể trong năm sắp tới cần tiếp tục phát triển phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ thông qua việc đẩy mạnh thúc đẩy cơ cấu kinh tế, mở rộng hệ thống giao thông qua việc đẩy mạnh thúc đẩy cơ cấu kinh tế, mở rộng hệ thống giao thông, lành mạnh thị trường. Đồng thời khắc phục chia cắt thị trường giữa người lao động và tiêu dùng. 3. Khôi phục lại các thị trường. Hình thành thị trường sức lao động có thị tổ chức trên thị trường lao động, người lao động và người sử dụng sức lao động bình đẳng trước pháp luật, nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc thuê mướn, sử dụng và trả công lao động đảm bảo quy định việc bảo hộ an toàn lao động, bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động. Xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thành thị trườn._.

Những Giải Pháp Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam / 2023

PHẦN MỞ ĐẦU Tất cả mọi người đều mong muốn một cuộc sống ấm no hạnh phúc trong một xã hội tốt đẹp. Một xã hội mà trong đó mọi người hạnh phúc, bình đẳng, ai cũng có việc làm và sống trong một môi trường trong sạch văn minh và hiện đại. Chính vì vậy mà bất cứ một xã hội nào mà trong đó chứa đựng những mâu thuẫn và đi ngược lại với mong muốn của con ngươì đều sẽ phải diệt vong thay thế vào đó một xã hội tốt hơn. Đối với Việt Nam sau khi giành độc lập chúng ta đã đi theo con đường XHCN, sau khi thống nhất đất nước Đảng và Nhà nước ta đã quyết định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp và đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn CNTB chịu sự ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh không những vậy cơ chế quan liêu bao cấp đã in sâu vào trong dân. Qua 20 năm đổi mới thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng và toàn dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Kinh tế thị trường với sự phát triển của nó đã đưa đến thành công bước đầu cho công cuộc xây dựng đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vậy kinh tế thị trường đó là cái gì? hoàn cảnh ra đời, cái gì dẫn tới phải phát triển kinh tế thị trường – đặc điểm của nền kinh tế thị trường là như thế nào – các giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường ra sao? Đó là hàng loạt các câu hỏi đặt ra cần được giải quyết, tìm hiểu rõ về nó, ta có thể nắm bắt được kiên thức cơ bản nhất về nền kinh tế thị trường ở nước ta. Vì thế đề tài “Những giải pháp phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam?” là vô cùng thiết thực và cần thiết, qua đó cộng với niềm thích thú, sự học hỏi của mình, em thấy đề tài này là hoàn toàn phù hợp và thỏa mãn với mình. PHẦN NỘI DUNG I. LÍ LUẬN CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Khái niệm về kinh tế thị trường Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường chỉ khác nhau về trình độ phát triển; kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá phát triển, điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm trù tiền tệ và thị trường được phát triển và được mở rộng. Hàng hóa không chỉ bao gồm những sản xuất đầu ra của sản xuất mà còn bao gồm cả các yếu tố đầu vào của sản xuất. Đúng hướng thị trường và cơ cấu thị trường được mở rộng hoàn thiện. Mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều tiền tệ hoá. Khi đó người ta gọi kinh tế hàng hoá là kinh tế thị trường. 2- Những ưu và nhược điểm nền kinh tế thị trường * Cơ chế thị trường có các ưu thế sau: Trước hết, cơ chế thị trường kích thích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất. Hai là, cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng. Vì trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một loại hàng hoá mới và đưa ra sớm nhất thì sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất. Ba là, trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú và đa dạng. Do đó nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoã mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất, văn hóa và sự phát triển toàn diện của mọi thành viên xã hội. * Khuyết tật của cơ chế thị trường: Cơ chế thị trường có những khuyết tật mà bản thân nó không tự giải quyết được. Thường xuyên tạo ra mất cân đối, bất hợp lý ở tầng vĩ mô làm giảm hiệu quả trên quy mô nền kinh tế quốc dân. Cơ chế thị trường cũng có những yếu tố làm giảm tốc độ phát triển kinh tế do nảy sinh độc quyền từ cạnh tranh tự do và việc giữ bí quýêt kinh doanh của từng đơn vị. Trong hoạt động thực tiễn của cơ chế thị trường do chạy theo lợi nhuận đơn thuần nên khó tránh khỏi các hiện tượng buôn gian, bán lận, đâù cơ, làm hàng giả… và nhiều bệnh trạng xã hội khác như phân hoá giàu nghèo, thất nghiệp, lạm phát, phá sản dẫn đến sựu phá hoại lực lượng sản xuất, vi phạm đạo đức, lối sống, gây ô nhiễm môi trường, phá hoại thiên nhiên… Trên phạm vi quốc tế, cơ chế thị trường dễ dẫn đến mâu thuẫn giữa các nước, các trung tâm kinh tế đặc biệt dễ tạo ra trật tự kinh tế bất công giữa các nước giàu và nước nghèo. Do những nhược điểm trên cần có sự điều tiết của nhà nước để hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trường. II. THỰC TRẠNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 1- Sự cần thiết phải chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Trước sự suy thoái nghiêm trọng, viện trợ nước ngoài lại giảm sút đã đưa nền kinh tế nước ta tới sự bức bách phải đổi mới. Tại đại hội VI của đảng đã chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và thực hiện chuyển đổi sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Đến đại hội VII đảng ta đã xác định việc đổi mới cơ chế kinh tế nước ta là một tất yếu khách quan và trên thực trạng diễn ra việc đó tức là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tế lãnh đạo của đảng trên mặt trận làm kinh tế. Việc chuyển đổi trên hoàn toàn đúng đắn. Nó phù hợp với thực tế của nước ta phù hợp với các qui luật kinh tế và xu thế của thời đại. Nếu không thay đổi cơ chế vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ chưa nói đến tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất. Thực tế những năm cuối của thập kỷ 80 đã chỉ rõ thực hiện cơ chế kinh tế cho dù chúng ta đã liên tục đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, nhưng hiệu quả của nền sản xuất xã hội đạt mức rất thấp. Sản xuất không đáp ứng nổi tiêu dùng, tích luỹ hầu như không có đôi khi còn ăn lạm cả vào vốn vay của nước ngoài. Do đặc trưng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc cái đó chỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế . Và chỉ có tác dụng phát triển nền kinh tế theo chiều rộng. Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài do đó nó không những còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất mà nó còn sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng xuất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Xét về tồn tại thực tế ở nước ta những nhân tố của nền kinh tế thị trường . Về vấn đề này có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Nhiều nước cho rằng thị trường ở nước ta là thị trường sơ khai. Thực tế kinh tế thị đã hình thành và phát triển đạt những mức phát triển khác nhau, ở hầu hết các đô thị và vùng hẻo lánh đang được mở rộng với thị trường quốc tế.Nhưng thị trường ở nước ta phát triển chưa đồng bộ còn thiếu hẳn thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường lao động ,thị trường vốn và thị trường đất đai về cơ bản vẫn là thị trường tự do, mức độ can thiệp của nhà nước còn rất thấp. Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nước ta đang hoà nhập với nền kinh tế thị trường thế giới ,sự giao lưu về hàng hoá dịch vụ và đầu tư trực tiếp của nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn với thị trường thế giới.Tương quan giá cả các loại hàng hoá trong và giá cả hàng hoá quốc tế. Xu hướng chung phát triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của một nước không tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế. Sự cạnh tranh giữa các quốc gia đã thay đổi hẳn về chất không còn là dân số đông ,vũ khí nhiều ,quân đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế. Mục đích của các chính sách của các quốc gia tạo được nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình là tốc độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp , tiềm lực kinh tế đã trở thành thước đo chủ yếu , vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín duy trì sức mạnh của các đảng cầm quyền. Tuy vậy,nền kinh tế thị trường hướng tới của nước ta sẽ không phải là nền kinh tế thị trường thuần tuý. Lý thuyết “để mặc” cho thị trường tự do cạnh tranh là không tồn tại. Ngoài bàn tay “vô hình” , vai trò của chính phủ để điều tiết, khắc phục những khuyết tật của thị trường tạo cho nền kinh tế ổn định và phát triển. Đối với nước ta vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường cũng sẽ rất quan trọng. Sự phát triển kinh tế -xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu xã hội, nhân văn nhất định. Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng về lượng (tăng trưởng kinh tế) còn bao hàm những thay đổi về chất(những biến đổi về mặt xã hội). “Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân. Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khoẻ và bình đẳng về cơ hội là tất cả những yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế. Bảo đảm các quyền chính trị và công dân là một mục tiêu phát triển rộng hơn “. Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của C.Mác là một thành tựu khoa học của loài người. Nó phác hoạ quy luật vận động tổng quát của lịch sử nhân loại, và sự phát triển của xã hội loài người sẽ tiến tới chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn thấp của nó là chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội không đói lập với phát triển, với kinh tế thị trường, mà là một nấc thang phát triển của loài người được đánh dấu bằng tiến bộ-xã hội của sự phát triển. Nó là cách thức giải quyết các quan hệ xã hội vì cuộc sống tốt đẹp của đại đa số nhân dân lao động, của toàn tể xã hội, là sự thiết lập một trật tự xã hôi với mục tiêu công bằng văn minh. Sự phát triển chỉ đem lại sự giàu có và sự thống trị của tư bản, của một số ít người trong xã hội, thì sự phát triển đó mang tính chất tư bản chủ nghĩa là sự phát triển cổ điển.Sự phát triển đem lại sự giàu có, phồn vinh, hạnh phúc cho đại đa số nhân dân lao động cho toàn thể xã hội, thì sự phát triển đó mang tính chất xã hội chủ nghĩa, là sự phát triển hiện đại. Cuộc đấu tranh cách mạng trường kỳ gian khổ và quyết liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng nhân dân lao động, đem lại hạnh phúc và giàu sang cho nhân dân lao động.Vì vậy, sự phát triển của Việt Nam trong hiện tại và tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu có, phồn vinh và hạnh phúc của nhân dân lao động, vì sự hùng mạnh và giàu có của cả xã hội, của toàn xã hội, của toàn dân tộc, là sự phát triển mang tính chất xã hội chủ nghĩa, sự phát triển hiện đại. Nghĩa là, chúng ta phải phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Điều đó không chỉ đơn thuần là sự phát triển kinh tế nhằm đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh, mà còn bao hàm vấn đề quan trọng mang tính hiện đại, là thiết lập một kiểu tổ chức xã hội, một trật tự xã hội với nộng dung công bằng và văn minh. Nhà nước XHCN, “của dân, do dân và vì dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện sự định hướng đó. 2. Đặc trưng bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 2.1 Bản chất của cơ chế thị trường Bản chất của cơ chế thị trường là cơ chế giá cả tự do. Giá cả do thị trường quyết định, thị trường có vai trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào các ngành các lĩnh vực của nền kinh tế. Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Họ sản xuất cái gì, như thế nào là do thị trường quyết định. Nền kinh tế vận động theo quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Sự tác động của các quy luật đó hình thành trên cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế. Ngoài ra, trong kinh tế thị trường còn có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thông qua pháp luật, kinh tế kế hoạch hoá, các chính sách kinh tế. 2.2 Kinh tế thị trường có những đặc trưng cơ bản sau: Thị trường và các quan hệ thị trường ngày càng đóng vai trò quyết định đối với sản xuất kinh doanh và phân phối tài nguyên quốc gia. Dưới sự quản lý của nhà nước, nền kinh tế nhiều thành phần thông qua cạnh tranh liên kết hợp tác có trình độ xã hội hoá cao thúc đẩy sự hài hoà giữa sản xuất và nhu cầu. Nền kinh tế vận hành theo các quy luật kinh tế khách quan và các chính sách kinh tế phù hợp bảo đảm thị trường thống nhất mở rộng phục vụ các mục tiêu tăng trưởng hiệu quả, cân bằng và ổn định. Nhà nước dùng luật pháp kế hoạch định hướng và chính sách kinh tế dẫn dắt thị trường phát triển lành mạnh, dùng chính sách phân phối và điều tiết để đảm bảo phúc lợi cho toàn dân và thực hiện công bằng xã hội. Nhà nước có những chính sách kế hoạch khai thác và sử dụng hợp lý tránh tình trạng phân bổ và sử dụng các nguồn lực một cách tự do. Đó là thể chế kinh tế của những chủ thể tự chủ, tự do kinh doanh theo pháp luật các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh vừa liên kết hợp tác và phát triển đạt được trình độ xã hội hoá cao. Giá tự do tức là gía thị trường tự do hoá thương mại (ban đầu ở trong nước dần dần mở rộng ra thị trường ngoài nước) và cạnh tranh tạo mọi khả năng cho thị trường phát huy vai trò tự điều chỉnh sản xuất kinh doanh và cung cầu hàng hoá. Trong điều hành các hoạt động kinh tế, những mệnh lệnh hành chính được giảm thiểu để cho các hoạt động thị trường được diễn ra chủ yếu dựa trên sự hướng dẫn của các quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, đảm bảo nguyên tắc vận hành chủ yếu của nền kinh tế là nguyên tắc thị trường. Mọi yếu tố sản xuất được đi vào thị trường. Đối với nước ta đây là điều kiện cơ bản để nền kinh tế thị trường vận hành bình thường. Tất cả các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể được tiền tệ hoá. Điều này làm cho cơ chế thị trường có sự năng động và linh hoạt. Nó là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và lợi ích xã hội biểu hiện tập trung ở lợi nhuận tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy xã hội phát triển. 3. Đánh giá chung về thực trạng của kinh tế thị trường Ưu điểm Kinh tế thị trường kích thích việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất. Kinh tế thị trường có sự năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng. Do yếu tố cạnh tranh và sự điều tiết của các quy luật thị trường làm cho các doanh nghiệp phải năng động để tự phù hợp và phát triển. Hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội bởi người sản xuất sẽ sản xuất những gì mà thị trường có nhu cầu và đáp ứng mọi nhu cầu đó. Nhược điểm Bên cạnh những yếu tố tích cực nền kinh tế thị trường vẫn còn một số những hạn chế nhất định. Do áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất làm năng suất lao động tăng nhưng với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận nên tình trạng thất nghiệp xảy ra nhiều. Độ ô nhiễm môi trường ngày càng cao do sản xuất ngày càng nhiều và ngày càng mở rộng. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác triệt để. Trong kinh tế thị trường sự phân hoá giàu nghèo diễn ra một cách nhanh chóng và sâu sắc. III. CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn qua 15 năm đổi mới. Tuy vậy cũng cần phải có những phương hướng để phát triển nền kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn hội nhập mở cửa với các nước trên thế giới. Những phương hướng cụ thể đó là: 1. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Muốn vậy cần tập trung nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tốt cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn. Xây dựng và cũng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Không ngừng đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật, công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện chế độ công ty đối với các doanh nghiệp có vốn của nhà nước, doanh nghiệp thực hiện cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm trong xản xuất kinh doanh. Khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển ở cả thành thị và nông thôn. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển có hiệu quả. Khuyến khích kinh tế TBTN phát triển trong những nghành sản xuất kinh doanh mà luật pháp không cấm. Phát triển kinh tế TBNN dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế tư nhân trong và ngoài nước tạo điều kiện cho kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển, tăng khả năng cạnh tranh, thu hút vốn và công nghệ hiện đại. 2. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học – công nghệ; trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội. Để phát triển kinh tế hàng hóa phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội. nhưng sự phát triển phân công lao động xã hội do trinh độ phát triển của LLSX quyết định, cho nên muốn mở rộng phân công lao động xã hội cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để xây dựng vật chất – kỹ thuật của nền sản xuất hiện đại. Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rút ngắn được thời gian so với các nước đi trước, vừa theo tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, cần ứng dụng nhanh và phổ biến khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới. Cùng với việc trang bị khoa hoc – công nghệ hiện dại cho các nghành, các lĩnh vực cần tiến hành phân công lại lao động và phân bố dân cư trong phạm vi cả nước, cũng như từng vùng, từng địa phương; hình thành cơ cấu kinh tế hợp lí cho phép khai thác tốt các nguồn lực của đát nước, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của nền kinh tế. 3. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường. Phát triển thị trường hành hóa và dịch vụ thông qua đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hệ thống giao thông vận tải để mở rộng thị trường. Hình thành thị trường sức lao động có tổ chức để tạo điều kiện cho sự di chuyển sức lao động theo yêu cầu phát triển kinh tế và hiệu quả nguồn nhân lực. Xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thành và phát triển thị trường chứng khoán để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất. Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường nhà ở. Xây dựng và phát triển thị trường thông tin, thị trường khoa học công nghệ. Bên cạnh đó xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế, tăng cường kiểm tra, giám sát của nhà nước, để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai,minh bạch,hạn chế kiểm soát độc quyền kinh doanh. Có biện pháp hữu hiệu chống buôn lậu và gian lận thương mại. 4. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Trong quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau. Mở rộng kinh đối ngoại theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa các hình thức đối ngoại. Hiện nay, cần đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là trọng điểm nền kinh tế đối ngoại. Giảm dần nhập siêu, ưu tiên nhập khẩu tư liệu sản xuất để phục vụ sản xuất. Tranh thủ bằng mọi khả năng và bằng nhiều hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài hướng vao nhiệm vụ cải tiến kỹ thuật, công nghệ. Việc sử dụng vốn vay có hiệu quả để trả được nợ, cải thiện được cán cân thanh toán. Chủ động tham gia tổ chức thương mại quốc tế, các diễn đàn một cách có chọn lọc và có bước đi hợp lý. 5. Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế để thể chế hoá cương lĩnh, chiến lược và các chủ trương chính sách của Đảng, hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ cần thiết cho các hoạt động kinh tế. KTTT là một nền kinh tế còn mang tính tự phát và cạnh tranh, thậm chí còn khốc liệt với những đặc trưng đó, nó cần được kiểm soát bởi một hành lang pháp lý đó là hệ thống pháp luật. Bắt nguồn từ đó, việc xây dựng một hệ thống pháp luật hàm chứa các yếu tố: hướng dẫn, kiểm soát và định hướng sẽ gây ra tác động biến chứng của thượng tầng kiến trúc đến cơ sở hạ tầng trong quá trình vận động của cơ chế thị trường theo định hướng XHCN. 6. Xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước. Việc xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với phát triển nền kinh tế hàng hóa ở nước ta. Quản lý của nhà nước về kinh tế trong điều kiện KTTT có nhiều khắc biệt so với cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Quản lý nhà nước về kinh tế trong thời kỳ này ngoài hoạch định chiến lược, chính sách, chế độ và sử dụng cơ cấu pháp luật phải lấy phương pháp kinh tế làm chính. Thực chất của phương pháp này là sử dụng các công cụ kinh tế ở tầm vĩ mô (nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý) để điều tiết các quan hệ kinh tế theo định hướng của nhà nước. Phương pháp này được coi như đặc tính vốn có đầy hiệu lực trong điều hành KTTT. Do vậy, việc xây dựng một cơ chế quản lý kinh tế đồng bộ thực hiện đồng bộ ba chức năng: kích thích điều tiết, kiểm soát các quan hệ kinh tế có ý nghĩa tích cực trong việc thúc đẩy lực lượng sản xúât nhìn theo góc độ về sự thích ứng của nó với quan hệ sản xuất. Để thực hiện giải pháp này, văn kiện đại hội VIII Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Nhà nước phải thực hịên tốt các nhiệm vụ định hướng sự phát triển, trực tiếp đâù tư vào một số lĩnh vực cần thiết, thiết lập khuôn khổ lập pháp, hệ thống chính sách nhất quán, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, thực hiện tốt các chính sách xã hội, quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội. Cán bộ các cấp chính quyền không can thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh và quyền tự chủ hoạch toán của doanh nghiệp. Những giải pháp trên đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo và tài năng, tận tuỵ với sự nghiệp xây dựng đất nước 7. Định hướng phát triến giáo dục và đào tạo. Tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo. Triển khai thực hiện có hiệu quả luật giáo dục đào tạo. Định hình qui mô giáo dục đào tạo, điều chỉnh cơ cấu đào tạo, nhất là cơ cấu cấp học, ngành nghề và cơ cấu theo lãnh thổ phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển nền kinh tế xã hội. Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên các cấp. 8. Bảo vệ và cải thiện môi trường. Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững. Đảm bảo sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tiết kiệm và tái chế, tái sử dụng nguồn tài nguyên không tái tạo được. Tăng cường kiểm tra và giám sát môi trường trong từng dự án đầu tư và từng quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các vùng lãnh thổ. Áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất ít các chất thải, ít gây ô nhiễm môi trường. KẾT LUẬN Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, cải cách, hội nhập kinh tế quốc dân và phát triển là các nhân tố có tác động qua lại chặt chẽ, thúc đẩy lẫn nhau để đạt và duy trì được tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước khắc phục nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế. Ở Việt Nam thời gian qua việc tổ chức lại nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta đã gặt hái được những thành công mà thế giới đánh giá cao. Đó là chúng ta đã vận dụng đúng đắn quan điểm toàn diện trong việc phát triển nền kinh tế ngay từ khi bắt đầu đổi mới. 20 năm đổi mới 1986 – 2006 đã cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu. Những bài học đổi mới do các đại hội VI, VII, VIII của Đảng nêu lên vẫn còn có giá trị lớn. Trong quá trình đổi mới chúng ta luôn kiên trì mục tiêu độc lập dân chủ và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa vào dân, vì dân phù hợp thực tiễn như Bác đã nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó ngàn lần dân biết cũng xong”. Việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng XHCN là nội dung cốt lõi của chính sách đổi mới nền kinh tế của Đảng và nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, là mục tiêu hướng tới tương lai vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Do đó muốn thành công chúng ta phải vận dụng quan điểm toàn diện một cách cụ thể, thiết thực, xem xét tổng thể các yếu tố để xây dựng nền kinh tế thị trường như Lênin đã nói: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối quan hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”. Cuối cùng, khẳng định dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta các lợi thế tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam về lao động, về tài nguyên thiên nhiên, về vị trí địa lý trong khu vực sẽ được phát huy một cách cao độ, đưa nền kinh tế thị trường Việt Nam tiến nhanh, sánh kịp với các nước có nền kinh tế hiện đại như NIC Châu Á và ASEAN. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình kinh tế chính trị, NXB chính trị quốc gia 2. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ CNXH, NXB sự thật-1991 3. Kinh tế thị trường định hướng XHCN, NXB thống kê 1995 4. Kinh tế xã hội Việt Nam: thực trạng, xu hướng và giải pháp, NXB thống kê 8/1986. 5. Văn kiện Đại hội Đảng VII, VIII, IX 6. Thời báo kinh tế

Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam / 2023

I- KHÁI NIÊM CHUNG VỀ NÊN KINH TÊ THỊ TRƯỜNG THEO DỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 2

II- NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM. 3

1. Đặc tính chung thống nhất của kinh tế thị trường. 3

2. Tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 4

2.1. Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường: 4

2.2. Nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo: 5

2.3. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nhiều hình thúc phân phối theo thu nhập, trông đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu. 6

2.4. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước XHCN. 6

2.5. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là nền kinh tế mở, hội nhập. 7

III – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM. 8

1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam. 8

1.1. Trình độ phát triển kinh tế thị trường nước ta còn ở giai đoạn sơ khai. 8

1.2. Thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành chưa đồng bộ. 9

1.3. Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường. 10

, 1.4. Sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối ngoại hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh trình độ phát triển khoa học kĩ thuật của nước ta thấp xa so với hầu hết các nước khác. 10

1.5. Quản lí nhà nước về kinh tế -xã hội còn yếu. 10

2. Các giải pháp để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. 10

2.1. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần. 11

2.2. Đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đai hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học kĩ thuật, trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội. 11

2.3. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường. 12

2.4. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. 12

2.5. Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp. 12

2.6. Xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước. 13

3. Mục tiêu phát triển từ nay đến 2020. 14

C-KÕt thóc vÊn ®Ò: 16

Thực Tiễn Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Nước Ta / 2023

Tuy nhiên, các yếu tố XHCN hoặc xuất hiện nhưng không có hiệu quả, hoặc chưa rõ nét. Cụ thể là, thành phần kinh tế nhà nước tuy chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nhưng hiệu quả thấp. Thậm chí một số tập đoàn kinh tế nhà nước lớn lâm vào tình trạng mất vốn, phá sản, nợ nần (nợ của doanh nghiệp nhà nước đến năm 2013 đạt con số hơn 1 triệu tỷ đồng). Hợp tác xã còn yếu kém hơn, đặc biệt là không hấp dẫn nông dân. Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu theo chính sách ngắn hạn, hiệu lực và hiệu quả thấp, các vấn đề về lũng đoạn thị trường, gian lận, hàng giả… diễn ra phổ biến. Nhà nước làm mất dần niềm tin ở nhân dân do quản lý nền kinh tế chưa thực sự hiệu quả và công bằng, do “lợi ích nhóm” chi phối nên nhiều chính sách kinh tế chưa thực sự xuất phát từ lợi ích chung của quảng đại nhân dân lao động. Sự phân hóa giàu – nghèo ngày càng gia tăng, tệ quan liêu, lãng phí và tham nhũng chưa được ngăn ngừa hiệu quả. Số đông người dân làm nông nghiệp có thu nhập thấp, hầu như rất khó thoát nghèo.

Tất cả những vấn đề đó một lần nữa lại đặt ra câu hỏi: tính XHCN của nền KTTT ở đâu? Mặc dù từ Đại hội XI đã nhấn mạnh, vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, coi hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN là một trong ba đột phá chiến lược…, nhưng nhiều năm đã trôi qua mà chủ trương ấy vẫn chưa đem lại thành quả như mong muốn: Kinh tế vĩ mô tuy cơ bản ổn định nhưng chưa vững chắc, còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế phục hồi còn chậm, việc thực hiện tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng gặp nhiều khó khăn và chưa đáp ứng được yêu cầu. Những kết quả bước đầu của việc thực hiện ba đột phá chiến lược chưa đủ để tạo ra sự chuyển biến về chất trong đổi mới mô hình tăng trưởng. Chất lượng tăng trưởng chưa thật sự được nâng cao và duy trì một cách bền vững. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều hạn chế, yếu kém. Công tác quản lý tài nguyên, môi trường còn nhiều bất cập. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu, mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi. An ninh chính trị vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định; bảo vệ chủ quyền quốc gia còn nhiều thách thức; trật tự, an toàn xã hội vẫn còn nhiều bức xúc(2).

Thực tiễn cũng cho thấy, nền KTTT định hướng XHCN có sự khác biệt với nền KTTT tư bản chủ nghĩa, thể hiện chính là ở chỗ ai làm chủ sức mạnh kinh tế và sức mạnh chính trị trong một nước. Trong nền KTTT tư bản chủ nghĩa: đó là giới chủ; trong nền KTTT định hướng XHCN: đó là đông đảo nhân dân lao động.Đó là sự khác biệt duy nhất. Các mặt kỹ thuật và tổ chức còn lại của KTTT như nguyên tắc trao đổi hàng hóa, kỹ thuật kiểm soát nền KTTT, kỹ thuật tổ chức quản lý để nền kinh tế quốc dân nói chung, mỗi tổ chức kinh tế nói riêng hoạt động ở trạng thái hiệu quả đều có thể chung nhau giữa hai loại nước (KKTT tư bản chủ nghĩa và KTTT định hướng XHCN) vì đó là thành quả tiến hóa mang tính nhận thức và khoa học của loài người.

Vì thế, muốn xây dựng nền KTTT định hướng XHCN trong điều kiện hiện nay, nhất thiết cần làm tốt một số công việc sau:

không ngừng nâng cao nhận thức về KTTT định hướng XHCN. Phải thấy rõ, KTTT là thành quả phát triển hàng nghìn năm của nhân loại và đạt được tốc độ phát triển đột biến khi chuyển sang nền kinh tế dựa trên nền tảng công nghiệp cơ khí sản xuất hàng loạt. Chỉ có phát triển KTTT ở trình độ cao, mới có thể hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với một cơ cấu kinh tế chuyên môn hóa sâu dựa trên lợi thế cạnh tranh. Sự nỗ lực đó chính là nhằm tăng năng suất lao động và chuyên môn hóa sản xuất là con đường tất yếu khách quan. Vấn đề là phải tìm được các ngành có lợi thế cạnh tranh.

, không ngừng tạo ra các quy chế đảm bảo tính tổ chức và văn minh của các giao dịch trên thị trường, nhất là về phương diện giảm thiểu chi phí và rủi ro cho các chủ thể kinh tế, trong đó chú ý tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, cung cấp thông tin về sản phẩm, kỷ luật hợp đồng và thanh toán không dùng tiền mặt… Từng bước phát triển các phương thức giao dịch phái sinh và hỗ trợ (giao dịch tương tác, bảo hiểm…).

giảm thiểu can thiệp của Nhà nước vào giá cả để tăng cường điều tiết thông qua các công cụ thị trường như doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác; Nhà nước sử dụng chính sách tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế để điều tiết phân bổ nguồn lực và phân phối của cải xã hội…

tìm kiếm các mô hình kinh tế tập thể hấp dẫn hộ gia đình. Trong khi chưa thể có kết luận rõ ràng về chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất thì các doanh nghiệp nhà nước hiện tại cần thực hiện theo ba hướng: 1) Nếu là doanh nghiệp nhà nước sản xuất hàng hóa công cộng thì hoặc quản lý nó như một đơn vị sự nghiệp, hoặc cho đấu thầu đơn hàng sản xuất theo gói hỗ trợ của Nhà nước. 2) Các doanh nghiệp còn lại phải định hướng theo tiêu chí hiệu quả kinh tế cá biệt trong so sánh và cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác cùng ngành. Có thể cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phù hợp; hoặc có thể cho giải thể, phá sản doanh nghiệp quá yếu kém đi đôi với xem xét trách nhiệm của cá nhân cán bộ quản lý. 3) Thiết lập cơ chế kiểm soát tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp theo một cách chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn.

kiên quyết cải cách hành chính để có các cơ quan quản lý nhà nước trong sạch, thủ tục quản lý đơn giản, dễ tiếp cận, công khai, đề cao trách nhiệm phục vụ và giải trình của công chức. Trọng trách của Đảng là phải lãnh đạo thành công công cuộc cải cách này và phải thu hút, đào tạo được các công chức trong sạch, tài năng, thích hợp với chức trách được giao. Tạo cơ chế để nhân dân tăng cường giám sát đảng viên, công chức (tổ chức các kênh thông tin cung cấp bằng chứng sai trái của công chức, tổ chức bảo vệ có hiệu quả nhân chứng, tăng cường trách nhiệm phản biện của công luận, nhất là báo chí, truyền thông,…).

Thứ sáu, tăng cường vị thế của đất nước trên thị trường thế giới bằng chính sách đối ngoại mềm dẻo, bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia, dân tộc.

Những vấn đề còn lại, như xây dựng kết cấu hạ tầng; đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề; nâng cao nhận thức lý luận của Đảng; nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng; kiện toàn luật pháp và bộ máy quản lý nhà nước; hoàn thiện hệ thống chính sách… là những vấn đề lâu dài, cần thiết kế những bước đi ngắn hạn tích cực, nhưng biết lựa chọn mục tiêu đầu tư để đạt hiệu quả dài hạn lớn nhất. Không thể nóng vội làm một lần là xong.

Thực tiễn đã kiểm nghiệm rằng, xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, một cách chuẩn tắc ở Việt Nam là một nhiệm vụ khó khăn, nặng nề, lâu dài xét ở góc độ điểm xuất phát từ một nước kém phát triển. Vì thế, cần và có thể xây dựng các kế hoạch đổi mới đất nước và kiên định thực hiện nó để nâng dần trình độ phát triển của KTTT nước ta.

Tuy nhiên, cũng không thể coi nhẹ việc cải cách để cho các quan hệ trao đổi hàng – tiền có điều kiện thuận lợi phát triển. Niềm tin của người dân vào tiền, với tư cách phương tiện lưu thông và việc dùng tiền để đo lường giá cả của các hàng hóa đem ra trao đổi là một thành quả của phát triển các quan hệ xã hội của con người. Nhờ trao đổi hàng hóa mà hình thành thị trường. Đến lượt mình, thị trường, thông qua giá cả, cung – cầu có thể điều tiết hành vi của hàng tỷ con người mà không cần một bộ máy đồ sộ với chi phí không nhỏ của ủy ban kế hoạch nhà nước. Hơn nữa, dưới sự điều tiết của cơ chế thị trường, mỗi người cảm nhận được quyền tự do lựa chọn của họ và tự nguyện nhận trách nhiệm về các hành vi của mình thông qua thưởng phạt của các quan hệ thị trường.

Nhà nước phải đặt ra và đảm bảo sự tuân thủ các quy chế phòng ngừa gian lận, nhất là gian lận trên thị trường tài chính, để duy trì cạnh tranh công bằng, để bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sống chung, bảo vệ lợi ích quốc gia…

Các quan hệ thị trường, bao hàm cả là những cuộc cạnh tranh gay gắt để làm chủ nguồn nguyên liệu khan hiếm hoặc độc quyền gây ảnh hưởng đối với một lượng khách hàng nào đó, tiềm ẩn nguy cơ, vì vụ lợi, những người kinh doanh có thể làm hại lẫn nhau và làm hại cả người tiêu dùng lẫn người lao động. Vì thế, sự vào cuộc của Nhà nước là cần thiết để buộc các nhà kinh doanh phải hoạt động trong khuôn khổ có lợi cho quốc gia, cho xã hội, cho con người, nhất là người lao động.

Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhưng không có nghĩa Đảng làm thay Nhà nước. Nhà nước là một thiết chế, một sản phẩm của nhân loại, có lẽ còn có lịch sử phát triển lâu đời hơn KTTT và Đảng Cộng sản. Đặc biệt, trong chế độ dân chủ cộng hòa, Nhà nước có những nguyên tắc và cơ chế vận hành của nó mà chúng ta phải tuân thủ. Nhưng nguyên tắc tối cao là nhân dân phải kiểm soát được quyền lực của Nhà nước. Các cơ quan của Nhà nước phải kiểm soát lẫn nhau. Trên hết, Nhà nước phải hoạt động có hiệu lực và hiệu quả vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích của nhân dân lao động.

Phát triển nền KTTT định hướng XHCN là con đường hiện thực và tối ưu đối với dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, những thiết kế cụ thể để mô hình đó hoạt động hiệu quả còn là thách thức trước Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Song, trên giác độ nhận thức luận, không còn nghi ngờ gì về con đường đã chọn. Vấn đề là kiên định mục đích, linh hoạt trong phương thức thực hiện, coi mục tiêu phát triển bền vững và ưu tiên lợi ích của nhân dân lao động là những tiêu chuẩn tối cao cho các lựa chọn chính sách của Đảng./.

Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học các ban Đảng Trung ương

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, H, 2016, tr. 16 -17.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, xem từ tr. 245-263.