Phương Thức Biểu Đạt, Nội Dung Chính, Biện Pháp Tu Từ “tre Việt Nam”

--- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Câu: “nhớ Nước Đau Lòng Con Quốc Quốc/thương …
  • Cac Bien Phap Tu Tu
  • Bài Văn Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Câu Thơ Sa
  • Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm Thương nhau tre không ở riêng Lũy thành từ đó mà nên hỡi người Chẳng may thân gãy cành rơi Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường Lưng trần phơi nắng phơi sương Có manh áo cộc tre nhường cho con

    ( Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

    Câu 1. Hãy xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên? (0,25 điểm)

    Câu 2. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

    Câu 3. Nêu 2 biện pháp tu từ tác giả sử dụng chủ yếu trong đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

    Câu 4. Hai dòng thơ: “Lưng trần phơi nắng phơi sương/ Có manh áo cộc tre nhường cho con” biểu đạt vấn đề gì? (0,25 điểm)

    Hướng dẫn:

    Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm.

    Câu 2. Nội dung chính của đoạn thơ: Qua chuyện cây tre, tác giả ngợi ca phẩm chất của con người Việt Nam: luôn vượt qua khó khăn, gian khổ bằng sức sống bền bỉ, bằng tình yêu thương, tinh thần đoàn kết gắn bó lẫn nhau.

    Câu 3. Trong đoạn thơ, tác giả sử dụng phép tu từ: ẩn dụ (cây tre ẩn dụ cho con người Việt Nam); nhân hóa (trong các câu: Bão bùng thân bọc lấy thân/ Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm/ Thương nhau tre không ở riêng/ Lưng trần phơi nắng phơi sương/ Có manh áo cộc tre nhường cho con).

    Câu 4. Hai dòng thơ: Lưng trần phơi nắng phơi sương/ Có manh áo cộc tre nhường cho con biểu đạt tinh thần chịu thương chịu khó, hi sinh bản thân vì con của cây tre, cũng tức là của con người Việt Nam.

    Phân tích khổ thơ trên

    Tre ở đây như được nhân hóa có tay có tình cảm của con người. Những cây tre vẫn ôm lấy nhau níu lấy nhau vượt qua giông tố của cuộc đời. Nó thể hiện sự đùm bọc yêu thương lẫn nhau của tre. Tre không đứng một mình, không ở riêng mà sống thành lũy thành khóm. Và khi tre có gẫy cành rụng lá thì vẫn để lại cái gốc cho măng mọc lên tiếp tục sinh trưởng phát triển lên. Hình ảnh so sánh tre như chông thể hiện sự sắc nhọn và thẳng tắp của cây tre. Hình ảnh những lá bao bọc măng của tre được ẩn dụ thành manh áo cộc thể hiện sự nhường nhịn cho con. Cây tre ấy lại như một người mẹ yêu thương con, nhường nhịn cho con. Nó cũng giống như người mẹ Việt Nam với chiếc yếm hở lưng trần, còn manh áo cộc thì nhường cho con hết. Phẩm chất ngay thẳng, truyền thống nối nghiệp ông cha, duy trì nói giống “tre già măng mọc” của nhân dân ta được thể hiện rõ. Đồng thời qua hình ảnh cây tre ta còn thấy được sự đoàn kết của nhân dân ta, chúng ta sống thành những gia đình lớn chứ không hề ở riêng lẻ. trước những sóng gió thì bao bọc lấy nhau như “lá lành đùm lá rách”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khi Tỉnh Rượu Lúc Tàn Canh …
  • Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích Chinh Phụ Ngâm)
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Câu: “nhớ Nước Đau Lòng Con Quốc Quốc/thương …
  • Cac Bien Phap Tu Tu
  • Bài Văn Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Câu Thơ Sa
  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một…
  • Xác định phương thức biểu đạt trong một văn bản là một trong những yêu cầu thường gặp trong phần đọc hiểu của đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn.

    Thực ra, trong mỗi văn bản thường sử dụng kết hợp nhiều phương thức biểu đạt. Việc vận dụng tổng hợp nhiều phương thức là đòi hỏi của chính cuộc đời, nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Tuy nhiên, trong một văn bản cụ thể, các phương thức ấy sẽ không có vị trí ngang nhau; tuỳ thuộc vào mục đích cần đạt tới, người viết sẽ xác định phương thức nào là chủ đạo.

    Có 6 phương thức biểu đạt, cụ thể như sau:

    – Tự sự: là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống.

    Ví dụ:

    Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.”

    (Tấm Cám)

    – Miêu tả: là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người.

    Ví dụ:

    Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát

    ( Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)

    Biểu cảm: là một nhu cầu của con người trong cuộc sống bởi trong thực tế sống luôn có những điều khiến ta rung động (cảm) và muốn bộc lộ (biểu) ra với một hay nhiều người khác. Phương thức biểu cảm là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh.

    Ví dụ:

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than

    (Ca dao)

    – Thuyết minh: là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết.

    Ví dụ:

    Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn của hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải …”

    ( Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000)

    Nghị luận: là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình.

    Ví dụ:

    Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh thì phải có nhiều người tài giỏi. Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hóa và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong tương lai

    (Tài liệu hướng dẫn đội viên)

    Hành chính – công vụ: là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác trên cơ sở pháp lí [thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…]

    Ví dụ:

    “Điều 5.- Xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà sách nhiễu nhân dân, dung túng, bao che cho cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt quá thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.” chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Thức Biểu Đạt, Nội Dung Chính, Biện Pháp Tu Từ “tre Việt Nam”
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khi Tỉnh Rượu Lúc Tàn Canh …
  • Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích Chinh Phụ Ngâm)
  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Câu: “nhớ Nước Đau Lòng Con Quốc Quốc/thương …
  • Cac Bien Phap Tu Tu
  • Bài Văn Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Câu Thơ Sa
  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một…
  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Ngữ Văn 11 Thpt Trường Chinh
  • Là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà còn quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của con người và cuộc sống.

    Cách nhận biết phương thức tự sự: có cốt truyện, có nhân vật, có diễn biến sự việc, có những câu văn trần thuật. Tự sự thường được sử dụng trong truyện, tiểu thuyết, văn xuôi nói chung, đôi khi còn được dùng trong thơ( khi muốn kể sự việc )

    Ví dụ:

    Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng bắt được gì.”

    Trong đoạn văn trên, tác giả dân gian kể về sự việc hai chị em Tấm đi bắt tép.

    +Có nhân vật : dì ghẻ, Tấm, Cám.

    +Có câu chuyện đi bắt tép của hai chị em

    +Có diễn biến hành động của các nhân vật dì ghẻ, Tấm & Cám

    +Có các câu trần thuật

    Là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người.

    Dấu hiệu nhận biết phương thức miêu tả : Có các câu văn, câu thơ tái hiện lại hình dáng, diện mạo, màu sắc,… của người và sự vật ( tả người, tả cảnh, tả tình,….)

    Ví dụ:

    Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát

    ( Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)

    Đoạn văn trên tả cảnh dòng sông trong một đêm trăng sáng.

    Là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết.

    Nhận biết phương thức thuyết minh hơi rắc rối hơn chút : có những câu văn chỉ ra đặc điểm riêng, nổi bật của đối tượng,người ta cung cấp kiến thức về đối tượng, nhằm mục đích làm người đọc hiểu rõ về đối tượng nào đó.

    Ví dụ:

    Trong muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên đã tạo ra trên thế gian này, hiếm có loài hoa nào mà sự đánh giá về nó lại được thống nhất như là hoa lan.

    Hoa lan đã được người phương Đông tôn là ” loài hoa vương giả ” (vương giả chi hoa). Còn với người phương Tây thì lan là ” nữ hoàng của các loài hoa “

    Họ lan thường được chia thành hai nhóm : nhóm phong lan bao gồm tất cả những loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí.Còn nhóm địa lan lại gồm những loài có rễ nằm trong đất hay lớp thảm mục ….

    ( Trích trong SGK Ngữ văn lớp 10 )

    Đoạn trích thuyết minh về hoa lan, nhằm mục đích làm cho người đọc hiểu rõ về loài hoa này.

    6. Hành chính công vụ :

    Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Phương Thức Biểu Đạt, Nội Dung Chính, Biện Pháp Tu Từ “tre Việt Nam”
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khi Tỉnh Rượu Lúc Tàn Canh …
  • Xác Định Phương Thức Biểu Đạt 4 Câu Hơ Đầu Của Bài Tự Tình 2. Xác Định Biện Pháp Tu Từ, Tác Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 1 Của Hồ Xuân Hương
  • Kiến Thức Bài Đất Nước
  • Phân Tích Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm 9 Điểm
  • Kiến Thức Căn Bản Về Tác Phẩm Đất Nước
  • Bài Thơ: Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm)
  • Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ luôn là tấm gương oan khổ của những éo le, bất công. Sống trong xã hội với quan điểm “trọng nam khinh nữ”, có những người trầm lặng cam chịu, nhưng cũng có những người ý thức sâu sắc được bi kịch bản thân, cất lên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một trong những người phụ nữ làm được điều đó. Bài thơ “” nằm trong chùm thơ bao gồm ba bài là tác phẩm thể hiện rõ điều này. Bốn câu thơ đầu trong bài thơ đã làm nổi bật hoàn cảnh cũng như tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất muốn vượt lên trên số phận của nữ sĩ:

    “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

    Trơ cái hồng nhan với nước non

    Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

    Tâm trạng của tác giả đã được gợi lên trong đêm khuya, và cảm thức về thời gian đã được tô đậm, nhấn mạnh để làm nền cho cảm thức tâm trạng:

    “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

    Trơ cái hồng nhan với nước non”

    Âm hưởng của tiếng trống canh được đặt trong sự dồn dập, gấp gáp “trống canh dồn” cho thấy nữ sĩ cảm nhận sâu sắc bước đi không ngừng và vội vã của thời gian. Ở bài thơ “”, chúng ta cũng đã bắt gặp cảm thức về thời gian: “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom”. Từ “văng vẳng” được sử dụng để diễn tả rõ sự não nề, lo lắng trong tâm trạng. Đối với Hồ Xuân Hương, cảm nhận về bước đi của thời gian chính là sự rối bời trong tâm trạng.

    Trong thời gian nghệ thuật đó, nữ sĩ cảm nhận rõ ràng sự bẽ bàng của phận mình: “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Trong câu thơ, tác giả đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, từ “trơ” được đưa lên đầu câu có tác dụng nhấn mạnh. Xét về sắc thái ngữ nghĩa, “trơ” có nghĩa là tủi hổ, là bẽ bàng, cho thấy “bà Chúa thơ Nôm” đã ý thức sâu sắc bi kịch tình duyên của bản thân. Chúng ta cũng đã từng bắt gặp từ “trơ” với sắc thái tương tự khi Nguyễn Du viết về nàng Kiều: “Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du). Nhưng với Hồ Xuân Hương, bà không chỉ ý thức về duyên phận mà còn trực diện mỉa mai một cách thâm thúy và cay đắng. Hai chữ “hồng nhan” được đặt cạnh danh từ chỉ đơn vị “cái” gợi lên sự bạc bẽo, bất hạnh của kiếp phụ nữ.

    Bức tranh tâm trạng đã được phóng chiếu rõ ràng hơn thông qua hai câu thơ tiếp theo:

    “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

    Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên sự tuần hoàn, luẩn quẩn, bế tắc đầy éo le của kiếp người đầy chua chát: càng cuốn mình trong men say càng tỉnh táo nhận ra bi kịch của bản thân. Hình tượng “vầng trăng” xuất hiện chính là ý niệm ẩn dụ cho cuộc đời của nữ sĩ. Người xưa từng nói về mối quan hệ biện chứng giữa bức tranh ngoại cảnh và bức tranh tâm trạng: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Còn với nữ sĩ, lúc này đây, ngoại cảnh và tâm cảnh đã hòa làm một. Hình ảnh “vầng trăng” ở trạng thái “bóng xế”, sắp tàn nhưng vẫn “khuyết chưa tròn” nhấn mạnh bi kịch của cảm thức về thân phận: tuổi xuân đã trôi qua nhưng nhân duyên mãi mãi là sự dang dở, lỡ dở không trọn vẹn. Điều này xuất phát từ bi kịch tình duyên của nữ sĩ: tình yêu tuổi thanh xuân không có kết quả, phải chấp nhận hai lần làm lẽ và cả hai lần đều góa bụa.

    Như vậy, thông qua cách sử dụng ngôn ngữ giàu giá trị biểu đạt kết hợp với những biện pháp tu từ như đảo ngữ, cùng những sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng, bốn câu thơ đầu của bài thơ ” Tự tình II ” đã làm nổi bật cảm thức về thời gian, cho thấy tâm trạng buồn tủi cũng như ý thức sâu sắc về bi kịch duyên phận đầy éo le, ngang trái của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.Chính những yếu tố trên đã giúp bà trở thành “Bà Chúa thơ Nôm”, đồng thời cũng là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ với tiếng nói cảm thương và tiếng nói tự ý thức đầy bản lĩnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Thương Vợ Của Tú Xương
  • Soạn Văn Bài 23: Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Hướng Dẫn Giải Câu Hỏi Đọc Hiểu Về Bài Tây Tiến
  • Phân Tích Đoạn Thơ Thứ Hai Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Giá Trị Biểu Đạt Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Nhà Ai Mới Nhỉ, Tường Vôi Trắng…
  • Phân Tích Đoạn 1, 2, 3, 4 Của Phú Sông Bạch Đằng Có Biện Pháp Tu Từ, Phương Thức Biểu Đạt, Nội Dung Từng Câu

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích 16 Câu Đầu Bài Thơ Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Phân Tích Đoạn Trích “tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ” Của Đặng Trần Côn
  • Phân Tích Giá Trị Của Những Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Câu Thơ Sau: “nhớ Nước Đau Lòng Con Quốc Quốc/ Thương Nhà Mỏi Miệng Cái Gia Gia”. (“qua Đèo Ngang”
  • Phân Tích Bài Thơ “qua Đèo Ngang” Của Bà Huyện Thanh Quan
  • 3 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam, nhiều địa danh của đất nước đã trở thành những đề tài hấp dẫn, vì ghi dấu những chiến công vĩ đại như Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa, Sông Lô… Nhưng gợi nhiều cảm hứng nhất có phải kể đến sông Bạch Đằng lịch sử – nơi đã từng diễn ra những trận đánh quyết liệt chống quân xâm lược phương Bắc. Tại đây, Ngô Quyền thắng quân Nam Hán; Lê Hoàn quét sạch quan Tống; Trần Hưng Đạo nhấn chìm đại quân Nguyên Mông. Bởi thế, chỉ nói riêng trong lịch sử văn học thời trung đại đã nhiều cây bút tên tuổi như Trần Minh Tông, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân… đều viết về nó. Nhưng thành công hơn cả là Trương Hán Siêu với bài Bài phú sông Bạch Đằng. Tác phẩm này từ lâu đã được đánh giá là bài phú nổi tiếng nhất ở đời Trần và cùng là một trong số ít bài phú xuất sắc nhất của văn học trung đại.

    Đây là một bài phú có thể (hoặc còn gọi là phú lưu thuỷ), không tuân theo niêm luật chặt chẽ của Đường phú (hay còn gọi là phú đường luật), vần luật của bài phú này tương phóng khoáng, giàu nhạc điệu và dễ truyền tụng.

    Bài phú sông Bạch Đằng có thể chia làm 3 đoạn: 1. Niềm vui thích du ngoạn nhất là du ngoạn trên sông Bạch Đằng; 2. Thuật lại chiến công trên sông Bạch Đằng của cha ông ta xưa; 3. Bài học rút ra trên con sông này.

    Trong một bài phú, thông thường tác giả hay hư cấu thêm một số nhân vật để đối đáp, tranh luận với mình. Điều đó góp phần cho bài phú sinh động hấp dẫn hơn, nhờ sự đan xen của những câu đối thoại, những câu bàn bạc: Khi thì bổ sung, khi thì bác bỏ ý kiến ban đầu. Ở Bài phú sông Bạch Đằng có những nhân vật như: khách, ta, bô lão. Thực chất, đấy chính là sự phân thân của chính tác giả, trong một thủ pháp nghệ thuật của bài phú.

    Trong văn chương trung đại, thiên nhiên được miêu tả khá nhiều. Các nhà văn, nhà thơ tìm đến thiên nhiên trong những tâm trạng khác nhau. Cao Bá Quát đến với thiên nhiên để bộc lộ tâm trạng chua xót bất đắc chí. Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đối với thiên nhiên để bày tỏ đạo lí thanh cao trước thói đời bon chen danh lợi… Ở Bài phú sông Bạch Đằng, Trương Hán Siêu đã tìm đến thiên nhiên trong một tâm trạng khác. Mở đầu bài phú, nhà thơ đưa người đọc vào một thế giới hùng vĩ, bao la của những Cửu Giang, Ngũ Hổ, Tam Ngô, Bách Việt là những nơi khách đã từng đi qua khách, tỏ ra là một con người có tâm hồn phóng khoáng, tự do:

    Giương buồm trong gió chơi vơi,

    Lướt bể chơi trăng mải miết.

    Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,

    Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

    Tiếc thay dấu vết luống còn lưu Ngạc chặt kình băm non lởm chởm;

    Giáo chìm gươm gãy bãi tầng tầng

    … Dòng sông tìm bóng dạ bâng khuâng. Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt.

    Khách cũng là một con người đi nhiều, biết rộng:

    Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ củng nhiều,

    Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.

    Đi nhiều, biết nhiều, nhưng trong thú tiêu hao, khách chỉ học có Tử Trường, tức là Tư Mã Thiên, nhà sử học nổi tiếng Trung Quốc, từng chu du khắp đất trung hoa rộng lớn trước khi viết bộ sử kí bất hủ.

    Phải chăng khách nói đến Tử Trường để bày tỏ tâm hồn đồng điệu của mình với người xưa. Đi xa, đâu phải chỉ để tiêu dao, ngắm hoa vọng nguyệt, mà quan trọng hơn là tìm đến nơi cha ông ta đã lập chiến công to lớn đã làm vẻ vang cho lịch sử để chiêm ngưỡng, ngợi ca và suy ngẫm.

    Điều này, chứng tỏ vị thế vị khách thật cao đẹp, chí khí thật hào hùng. Người đọc có thể nhận thấy vẻ đẹp ấy trong chính lời kể đầy tự hào của khách. Khách nhắc tới nhiều địa danh quen thuộc trong sách vở tàu, chúng cách xa nhau hàng ngàn dặm, làm sao có thể đi được trong một sớm, một chiều ( Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương – Chiều lần thăm Vũ Huyệt – Cửu Giang, Ngũ Hồ – Tam Ngô, Bách Việt). Đấy chỉ là cách phô diễn ý tưởng có tính chất ước lệ mà thôi. Điều quan trọng là nó đã đưa đến cho người đọc ấn tượng khá rõ về những khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, góp phần thể hiện niềm ham thích tự do, phóng khoáng của nhân vật khách. Cảm hứng về cuộc viễn du mở đầu bài phú, thực ra chỉ là sự chuẩn bị một không khí thích hợp trước khi đi vào thế giới hùng vĩ của sông Bạch Đằng lịch sử.

    Ấn tượng đầu tiên mà Trương Hán Siêu đưa đến cho người đọc là sự bề thế rộng lớn và sức sống bền bỉ muôn đời của Bạch Đằng giang. Con sông này thật hùng vĩ, bởi rộng bát ngát và dài muôn dặm. Như vậy nó không những là đại giang và còn là trường giang (Bát ngát sóng kình muôn dặm), với bao lớp sóng lớn trùng điệp. Điều đáng lưu ý là ngoài vẻ thiêng liêng hùng vĩ, dong Bạch Đằng còn có nét thật dịu dàng, duyên dáng và thơ mộng: những con thuyền nối đuôi nhau trôi dập dềnh trên sông ; đã cuối thu rồi nên nước xanh, trời xanh; hai bên bờ lau lách xào xạc, đìu hiu…

    Trước cảnh sông nước hùng vĩ và thơ mộng ấy, tác giả cảm thấy vui buồn lẫn lộn. Đây là chiến trường ác liệt xưa kia, ta thắng lớn, nhưng kể sao cho hết những hi sinh mất mát với bao giáo gãy, xương khô. Trời nước, lau lách như gợi lại chuyện cũ, khiến người hôm nay không tránh khỏi động lòng tiếc nuối, xót thương cho bao anh hùng đã khuất. Ở đoạn thơ này, ta thấy một nỗi buồn cao đẹp qua những câu thơ có âm ‘hưởng trầm lắng, với điệu cảm khái:

    Sau này, Nguyễn Trãi khi thăm cảnh Bạch Đằng cũng có nỗi buồn tương tự.

    Trong bài Cửa biển Bạch Đằng, nhà thơ cũng thấy dáng núi dường như vẫn còn in dấu vết thất bại của kẻ thù, cũng bâng khuâng nhìn dòng nước trôi mà hoài cổ:

    Tuy vậy, cảm hứng chính của Bài phú sông Bạch Đằng là sự ngợi ca chiến công oanh liệt của dân tộc ta trên dòng sông lịch sử này. Từ những câu thơ trữ tình ở đoạn trên, đến đoạn hai, tác giả chuyển sang những câu thơ tự sự mượn lời các bô lão – những người đã từng chứng kiến và tham gia trận Bạch Đằng kể lại. Nếu như phần đầu là lời của khách thì đoạn hai là lời của các bô lão. Sự xuất hiện của họ làm cho việc miêu tả chiến trận thêm sinh động, đồng thời việc chuyển ý được tự nhiên. (Mặc dù, ai cũng cũng biết dẫu lời của khách hay lời của các bô lão cũng là lời của tác giả). Các bô lão tiếp chuyện khách với từ đại diện cho nhân dân địa phương. Họ tôn kính khách và tự hào kể lại trận chiến năm xưa. Mở đầu, các bô lão giới thiệu cho khách biết: Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã và củng là bãi đất xưa Ngô chúa phá Hoang Thao. Bằng hai câu dài (mỗi câu 12 âm tiết), tác giả tạo được không khí trang nghiêm, đĩnh đạc làm nền cho việc miêu tả chiến trận ở phần tiếp theo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Bài Phú Sông Bạch Đằng
  • Thuc Hanh Bien Phap Tu Phep Diep Va Phep Doi Thuc Hanh Phep Diepphep Doi Dc Ppt
  • Thực Hành Biện Pháp Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối Tgphep Diep Va Phep Doi Ppt
  • Soạn Bài Thực Hành Các Phép Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối (Chi Tiết)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Ở Tiểu Học Bien Phap Diep Tu Diep Ngu Doc
  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí
  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • CÁC PHƯƠNG PHÁP TÌM NHANH CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THƯỜNG GẶP

    1. Phương pháp làm nhanh bài tập về biện pháp tu từ so sánh

    So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    1.1. Tìm biện pháp so sánh dựa vào các từ ngữ so sánh

    So sánh được chia làm 2 loại: so sánh ngang bằngso sánh không ngang bằng và ở mỗi loại so sánh thường có các lớp từ so sánh đi kèm. Chẳng hạn ở so sánh ngang bằng ( cấu trúc : A = B), ta dễ dàng bắt gặp lớp từ ngữ: như, giống như, chừng như, y như, tựa như, bằng, …

    Ở loại so sánh không ngang bằng ( cấu trúc A không bằng B), các lớp từ ngữ thường đi kèm là: hơn, hơn là, kém, không bằng, chẳng bằng,…

    Như vậy chỉ cần nắm vững lớp từ ngữ thường xuyên đi cùng với các loại so sánh thì việc tìm ra phép so sánh không phải là quá khó khăn đối với học sinh.

    1.2. Tìm biện pháp so sánh dựa vào từ hô ứng “bao nhiêu…bấy nhiêu”

    Câu có cặp từ hô ứng “bao nhiêu…bấy nhiêu” thường là câu so sánh. Do đó nếu học sinh thấy trong câu nào có từ hô ứng này ( trong dạng bài tập tìm biện pháp tu từ ) thì đó là phép so sánh. Có thể khái quát theo mô hình sau:

    Ví dụ: Qua đình ngả nón trông đình

    Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

    Qua cầu ngả nón trông cầu

    1.3. Tìm biện pháp so sánh dựa vào kiểu cấu trúc ” A là B”

    Cấu trúc câu “A là B” là cấu trúc của câu so sánh ( trong đó Acái so sánh, còn B cái được so sánh). Vì thế khi kiểu câu này xuất hiện, chúng ta dễ dàng nhận biết trong câu có sủ dụng biện pháp tu từ so sánh.

    Cho con trèo hái mỗi ngày.

    ( Quê hương – Đỗ Trung Quân).

    Anh theo cánh gió chơi vơi

    Em vẫn nằm trong nhung lụa.

    2. Phương pháp làm nhanh bài tập về biện pháp tu từ ẩn dụ

    2.1. Tìm ẩn dụ dựa trên những nét tương đồng của sự vật, hiện tượng

    Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

    Nắm vững được cách thức này, ta cũng dễ dàng tìm ra phép ẩn dụ trong bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

    Những hình ảnh Bảy nổi ba chìm, Rắn nát mặc dầu của chiếc bánh trôi nước có những nét tương đồng với thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ là những người chịu nhiều bất hạnh, bất công ngang trái, không làm chủ được số phận của mình. Họ bị chà đạp, bị rẻ rúng, chỉ là một thứ đồ chơi không hơn không kém. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù có bị đối xử bất công, ngang trái đến đâu, người phụ nữ vẫn giữ được phẩm chất trong sáng của mình. Như vậy chiếc bánh trôi nước là hình ảnh ẩn dụ cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa,…

    Qua những ví dụ trên cho thấy, tìm ra phép ẩn dụ không phải là quá khó khăn. Điều quan trọng là chúng ta tìm ra được nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng.

    2.2. Tìm ẩn dụ dựa vào các công thức dân gian ( mô tip)

    Trong sáng tác văn học, nhất là văn học dân gian, người nghệ sĩ thường sử dụng các môtíp quen thuộc như: thân em, em như, ước gì, buồn trông, rủ nhau,…Ở một số môtip, người sáng tác luôn sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ. Ví dụ như môtip thân emem như, hình ảnh được đưa ra so sánh ở vế sau chắc chắn là hình ảnh ẩn dụ ( thường là ẩn dụ cho thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa).

    Thân em ( em như) A B

    Trong đó A là đối tượng được so sánh, B là ẩn dụ ( người phụ nữ trong xã hội xưa). Như vậy nếu gặp đúng môtip quen thuộc trên, chỉ cần dựa vào công thức chung này, học sinh sẽ dễ dàng chỉ ra phép ẩn dụ. Môtip này chúng ta bắt gặp nhiều trong ca dao, nhất là ở phần ca dao than thân. Thật không khó để chúng ta có thể kể ra các câu ca dao sử dụng kiểu công thức dân gian này:

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.

    Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân.

    Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

    Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

    Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay.

    Muốn bay nhưng mắc con rùa quấn chân.

    Những hình ảnh được đưa ra so sánh như: tấm lụa đào, hạt mưa sa, giếng giữa đàng, củ ấu gai, con hạc đầu đình chính là những hỉnh ảnh ẩn dụ. Có hể nói đây là phương pháp nhanh và hiệu quả nhất để tìm ra phép tu từ ẩn dụ.

    Ngoài thềm rơi chiếc lá đa,

    ( Đêm Côn Sơn – Trần Đăng Khoa).

    Tiếng lá rơi, vốn là âm thanh, được thu nhận bằng thính giác, không có hình dáng, không cầm nắm được; ở đây, nhờ sự chuyển đổi cảm giác, cái nhẹ của tiếng lá rơi được gợi tả tinh tế, trở nên có hình khối cụ thể ( mỏng – vốn là hình ảnh của xúc giác) và có dáng vẻ ( rơi nghiêng – vốn là hình ảnh của thị giác). Đây là hình ảnh chuyển đổi cảm giác vì thế rơi rất mỏng rơi nghiêng chính là ẩn dụ.

    ( Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân).

    Ở đây ta thấy nắng được thấy qua cơ quan thị giác còn giòn tan chỉ có thể cảm nhận bằng xúc giác ( sờ, cầm, nắm). Như vậy nắng giòn tan là hình ảnh chuyển đổi cảm giác và đó là hình ảnh ẩn dụ.

    ( Chiếc võng của bố – Phan Thế Cải).

    Thông thường, tiếng cười là âm thanh và được nghe bằng thính giác, còn ướt chỉ có thể cảm nhận bằng xúc giác. Như vậy ướt tiếng cười là sự chuyển đổi cảm giác. Đó chính là hình ảnh ẩn dụ.

    3. Phương pháp làm nhanh bài tập về biện pháp tu từ hoán dụ

    Thực tế dạy học trong Nhà trường phổ thông cho thấy, đa số học sinh vẫn còn mơ hồ và chưa phân biệt được phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ. Trong quá trình làm bài tập, khá nhiều em vẫn còn bị nhầm lẫn giữa hai biện pháp tu từ này. Vì thế trang bị cho các em phương pháp nhận diện và làm nhanh các bài tập về biện pháp tu từ hoán dụ là hết sức cần thiết. Trong quá trình thực dạy và nghiên cứu, người viết xin đề xuất một số phương pháp sau:

    3.1. Tìm hoán dụ dựa vào sự xuất hiện của các bộ phận trên cơ thể người

    Đây là cách thức đơn giản nhất để tìm ra hoán dụ. Thực chất đây là kiểu lấy bộ phận để gọi toàn thể. Vì thế nếu trong câu thơ hay câu văn có sự xuất hiện của các bộ phận cơ thể (hoặc các từ đi kèm với các bộ phận cơ thể) thì từ đó chính là hoán dụ. Có thể lấy một số ví dụ sau ( hoán dụ là những từ in đậm):

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

    – Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

    3.2. Tìm hoán dụ dựa vào sự xuất hiện của trang phục hay những vật dụng của con người

    Ví dụ:

    Nông thôn cùng với thị thành đứng lên

    ( Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu).

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    ( Đời tàn ngõ hẹp Vũ Hoàng Chương).

    3.3. Tìm hoán dụ dựa vào sự xuất hiện của số đếm

    Tìm biện pháp hoán dụ bằng cách dựa vào số đếm là phương pháp làm bài tập nhanh rất có hiệu quả. Phương pháp này dễ nắm bắt bởi lẽ chỉ cần dựa vào sự xuất của số đếm (hoặc những từ kết hợp với số đếm) thì chắc chắn từ ( hoặc cụm từ kết hợp) đó là hoán dụ. Ví dụ:

    – Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

    ( Viếng Lăng Bác – Viễn Phương).

    – Vì lợi ích trồng cây, vì lợi ích trồng người.

      Tìm hoán dụ dựa vào vật chứa đựng và vật bị chứa đựng

    Nhắc đến tên người Hồ Chí Minh.

    Ta dễ dàng nhận ra là vật chứa đựng bởi nó là từ chỉ ý nghĩa tổng quát, bao trùm lên tất cả. Nó biểu thị cho tất cả con người sống trên mặt đất (vật bị chứa đựng). Vì thế ở đây là hình ảnh hoán dụ. Tương tự như vậy, không mấy khó khăn để chúng ta tìm ra hình ảnh hoán dụ trong câu thơ:

    là vật chứa đựng, nó biểu thị cho tất cả con người đang sống ở miền Nam (vật bị chứa đựng). Vì thế là hình ảnh hoán dụ.

    4. Phương pháp làm nhanh bài tập về biện pháp tu từ nhân hóa

    Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật, … trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người.

    Nhân hóa cũng là một biện pháp tu từ được sử dụng rộng rãi trong sáng tác văn học và mang lại hiệu quả thẩm mĩ cao, nó góp phần làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động, gợi cảm.

    Có thể nói rằng, so với việc tìm ra biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ và so sánh thì việc tìm ra phép ẩn dụ đơn giản hơn. Bởi lẽ chỉ cần dựa vào các từ gọi hay miêu tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên ( người viết gọi chung là sự vật) mang những thuộc tính của con người thì chắc chắn đó là phép ẩn dụ. Tuy nhiên để cụ thể, chi tiết và nhất là để tiện cho việc học sinh tìm nhanh biện pháp tu từ nhân hóa trong quá trình làm bài tập, người viết xin đề xuất một số phương pháp sau:

    4.1. Tìm nhân hóa dựa vào từ miêu tả hình dáng con người của sự vật

    Trong dạng bài tập tiếng Việt yêu cầu học sinh tìm các biện pháp tu từ nghệ thuật trong câu, nếu có những từ miêu tả hình dáng con người của sự vật thì từ đó chắc chắn là nhân hóa.

    Mà sao nên lũy nên thành tre ơi

      Sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm.

    ( Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường).

    4.2. Tìm nhân hóa dựa vào từ miêu tả hoạt động con người của sự vật

    Đây là cách thức đơn giản để tìm ra biện pháp tu từ nhân hóa, bởi vì chỉ cần dựa vào từ trong câu miêu tả hoạt động con người của sự vật thì học sinh dễ dàng biết đó chính là phép nhân hóa.

    ( Tre Việt Nam – Nguyễn Duy).

    ( Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận).

    – Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

    4.3. Tìm nhân hóa dựa vào từ diễn tả tâm trạng con người của sự vật

    Tương tự như việc tìm phép nhân hóa đã trình bày ở trên, nếu trong câu có các từ diễn tả tâm trạng con người của sự vật thì các từ đó là nhân hóa.

    ( Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân).

      Mặc dù cái thằng đá tướng ở cửa vào đã cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy.

    ( Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân).

      Từ đây như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long,…

    ( Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường).

      Tìm nhân hóa dựa vào từ diễn tả tính cách con người của sự vật

    Tìm nhân hóa dựa vào từ diễn tả tính cách con người của sự vật cũng được coi là phương pháp làm nhanh các dạng bài tập tìm các biện pháp tu từ. Bởi vì chỉ cần dựa vào những từ diễn tả tính cách con người của sự vật thì đó chắc chắn là phép nhân hóa.

    ( Dòng sông mặc áo – Nguyễn Trọng Tạo).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Bài Thơ: Thân Em Như Hạt Mưa Rào (Khuyết Danh Việt Nam)
  • Hệ Thống Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 6
  • Chuyên Đề : Vội Vàng
  • Phân Tích 13 Câu Đầu Bài Thơ Vội Vàng, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân Bài
  • Một Số Phương Tiện Và Biện Pháp Tu Từ Biểu Thị Khoa Trương Trong Tác Phẩm Của Mạc Ngôn

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Thơ Sau Trong Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Của Huy Cận: Mặt Trời Xuống Biển Như Hòn Lửa,… Dàn Đan Thế Trận Lưới Vây Giăng.
  • ✅ Tôi Đi Học
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Sử Dụng Đất Canh Tác Ở Phường Cẩm Thượng, Thành Phố Hải Dương
  • Luận Văn Chuyên Đề Giải Pháp Bảo Vệ Và Sử Dụng Hợp Lý Nguồn Tài Nguyên Đất
  • Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Cá Biệt Ở Trường Thpt
  • 1. Khái niệm về khoa trương

    Khoa trương (hyperbole) là một từ có xuất xứ từ tiếng Hi Lạp, được giải thích trong từ điển Oxford: “Lời nói cường điệu nhằm một tác động đặc biệt và không để được hiểu theo đúng nghĩa đen. Ví dụ: I’ve invited millions of people to my party: Tôi đã mời hàng triệu người đến dự bữa tiệc tôi thết”.

    Tác giả Vương Hy Kiệt thì cho rằng: “Khoa trương là cố ý nói quá sự thật, hoặc phóng to hoặc thu nhỏ sự thật. Mục đích của khoa trương là làm cho người nghe/ đọc có một ấn tượng càng thêm sâu sắc đối với nội dung biểu đạt của người nói/ viết. Chẳng hạn,”天无三日晴/地无三尺平” (Trời không có ba ngày nắng / Đất không có ba thước bằng phẳng) nói về đặc điểm thời tiết và địa hình của Qúy Châu, là lối nói khoa trương. ”

    Như vậy có thể thấy, quan điểm của các nhà Hán ngữ về khoa trương là tương đối thống nhất: nói quá sự thật trong đó có thể phóng to hoặc thu nhỏ sự vật, hiện tượng, tức là đối tượng cần miêu tả nhằm gây ấn tượng đối với người nghe, người đọc.

    Tác giả Đào Thản cho rằng, phóng đại (còn gọi: khoa trương, thậm xưng, ngoa ngữ, cường điệu) là dùng từ ngữ hoặc cách diễn đạt để nhân lên gấp nhiều lần những thuộc tính của khách thể hoặc hiện tượng nhằm mục đích làm nổi bật bản chất của đối tượng cần miêu tả, gây ấn tượng đặc biệt mạnh mẽ. Khác hẳn với nói điêu, nói khoác về tính chất, động cơ và mục đích, phóng đại không phải là xuyên tạc sự thật để lừa dối. Nó không làm cho người ta tin vào điều nói ra, mà chỉ cốt hướng cho ta hiểu được điều nói lên. . Nghĩa là, không nói thẳng ra tên người hoặc sự vật mà mượn tên của sự vật có quan hệ mật thiết với nó thực hiện phép thay thế.

    Phép hoán dụ tu từ được chia thành nhiều loại khác nhau. Theo quan sát của chúng tôi, trong tác phẩm của mình Mạc Ngôn thường dùng hoán dụ kiểu “cái bộ phận thay cho cái toàn thể”. Ví dụ:

    (21) 我知道陈鼻这样说是出于对我 ái的嫉妒,他生在我们 村长在我们村,连条苏联狗都没见着,如何知道苏联飞行员比中国飞行员技术好呢?(莫言《牛》)

    (Tôi biết nó nói như vậy là vì nó đang đố kị với tôi. Nó sinh trong thôn, lớn lên trong thôn, ngay cả một con chó Liên Xô cũng chưa gặp thì làm thế nào mà biết được kĩ thuật của phi công Liên Xô hơn phi công Trung Quốc?)

    (22) 你休想, 王仁美把一面镜子摔在地上,大声喊叫着,孩子是我的,在我的肚子里, 谁敢动他一根毫毛,我就吊死在谁家门槛上。《蛙》

    (Con là của tôi, nó nằm trong bụng tôi. Ai dám động đến một sợi lông của nó tôi sẽ treo dây lên xà nhà của người đó thắt cổ chết.)

    Ở ví dụ (23), “con chó Liên Xô” thay cho “cả nước Liên Xô”; ở (24) “một sợi lông của nó” thay cho “cơ thể nó”. Cũng như vậy ta có thể kể ra một số ví dụ khác:

    (24) 那时候我正处在爱热闹的青春前期,连村子里的狗都讨厌我。《牛》

    (Thời ấy tôi còn là một đứa trẻ, chỉ thích xem những trò vui, thích tham gia vào những chuyện ồn ào, ngay cả chó trong thôn cũng chẳng ưa gì tôi.)

    Ở đây, “chó trong thôn” cũng là bộ phận thay cho “cả thôn” là toàn thể; ý nghĩa của câu là “cả thôn đều ghét tôi”. Lại nữa:

    (25) 信中说如果他敢伤万六府三位亲人一根毫毛,胶东军区将集合全部兵力攻打平度城。《蛙》

    (Trong thư nói, nếu Sugutani dám động đến một sợi lông ba người thân của Vạn Lục Phủ thì quân khu Giảo Đông sẽ tập hợp lực lượng toàn quân khu để san thành Bình Độ thành bình địa)

    (26) 王脚说:肖下唇你个小杂种,你要敢动王肝一指头我就挖出你的眼珠儿!《蛙》

    (Vương Cước nói: “Mày là đồ tạp chủng. Mày dám động đến một sợi tóc của Vương Can là tao móc đôi mắt mày ra!”)

    Ở đây (25) và (26), Mạc Ngôn đã hoán dụ “một sợi lông”, “một sợi tóc” thay cho cả “cơ thể”.

    Ngoài ra chúng tôi còn nhận thấy, Mạc Ngôn còn sử dụng hoán dụ những việc bình thường nhất thay cho những công to việc lớn hay những việc lớn lao. Ví dụ, ông miêu tả dân quân đi chăm sóc cả những việc như “tiểu, đại tiện”:

    (27) 于是大喇叭里不停地广播,让各村的 贫下中农提高警惕,防止阶级敌人的破坏活动。各个村就把所有的”四类分子”关到一起看守起来,连大小便都有武装民兵跟随。(莫言《牛》)

    (Loa phóng thanh trong trong toàn bộ công xã mở hết công suất suốt ngày đêm chỉ phát đi một nội dung duy nhất là yêu cầu bần hạ trung nông khắp các thôn trong toàn công xã phải đề cao âm mưu chống phá cách mạng của kẻ địch, yêu cầu các thôn phải quản thúc thật chặt bốn thành phần phản động trong thôn mình, ngay cả chuyện đi đái đi ỉa cũng phải có dân dân quân đi kèm.)

    4.3. Sử dụng so sánh tu từ “X 是 Y” (X như Y) biểu thị khoa trương

    Trong văn Mạc Ngôn, hệ từ “是” (là) có thể được thay thế cho những từ so sánh, và đó là câu biểu thị so sánh thuần túy.

    Biểu thức : X 是 Y. Ví dụ:

    (28) 无论从哪个部位看她都不像一个五十多岁的女人, 她是一朵冷藏了半个世纪的花朵。(莫言《丰乳肥臀》)

    (Dù nhìn ở góc độ nào thì chị ta cũng không giống một phụ nữ ngoài 50. Chị là một bông hoa ướp lạnh suốt một phần hai thế kỉ.)

    (29) 她是南极最高峰上未被污染的一块雪。雪肌玉肤,冰清玉洁,真正的,不搀假的。《丰乳肥臀》

    (Chị là khối tuyết trên đỉnh núi ở châu Nam cực, không hề vẩn bụi. Trong ngọc trắng ngà, hoa nhường nguyệt thẹn, một cái đẹp đích thực.)

    Ở đây, ta phải hiểu là: 她如一朵冷藏了半个世纪的花朵 (Chị như một bông hoa ướp lạnh suốt một phần hai thế kỉ.) và她如南极最高峰上未被污染的一块雪 ((Chị như khối tuyết trên đỉnh núi ở châu Nam cực,).

    Trong câu, (就)是vốn là một động từ phán đoán, cho nên khi được sử dụng trong cấu trúc này, cả cấu trúc còn mang sắc thái khẳng định vốn có của động từ. Tuy nhiên, hình thức so sánh tu từ dùng “(就)是” cũng khác với phán đoán logic có công thức “S是 P” (S là P). Chính vì vậy, có người không cho rằng “是” là thành tố trong phép so sánh. Tuy nhiên căn cứ vào ngữ nghĩa chúng tôi cho rằng “是” không những có khả năng biểu đạt so sánh mà còn có khả năng biểu đạt khoa trương. Ví dụ:

    (30) 姑姑感慨地说,那时所有的人都疯了,想想真如一场噩梦,姑姑说,黄秋雅是个伟大的妇科医生,即便是上午被打得头破血 流,下午上了手术台,她还是聚精会神.《蛙》

    (Nhưng Hoàng Thu Nhã vẫn là một bác sĩ sản phụ vĩ đại, thậm chí buổi sáng bị đánh cho sứt đầu mẻ trán thì buổi chiều bà ấy vẫn đứng trên bàn mổ, bà ta vẫn tập trung tinh thần.) (Ếch)

    Ông có lần dùng cấu trúc này để gọi bà cô trong “Ếch” là “bác sản phụ thiên tài”; ví dụ:

    (31) 姑姑是天才的妇产科医生,她干这行儿脑子里有灵感,手上有感觉。《蛙》

    (Phải thừa nhận cô tôi là một bác sĩ sản phụ thiên tài, khi làm việc này hình như trong đầu cô luôn luôn có linh cảm, tay cô có cảm giác.) (Ếch)

    5. Kết luận

    Khoa trương trong các tác phẩm của Mạc Ngôn hết sức đa dạng và phong phú. Chính vì vậy nó làm tác phẩm của Mạc Ngôn thêm hấp dẫn lôi cuốn người đọc.

    Hầu hết các lớp từ loaị cơ bản tạo nên từ vựng tiếng Hán như động từ, danh từ, số từ, đại từ và thành ngữ…. đều có thể sử dụng để khoa trương.

    Không chỉ ở cấp độ từ mà Mạc Ngôn còn khoa trương ở cấp độ câu. Ngoài bổ ngữ trình độ ông còn dung câu có cấu trúc cường điệu và thủ thuật nhân cách hóa để khoa trương và tạo nên nét độc đáo trong văn chương. Bài viết này giới thiệu tổng quan về khoa trương ở cấp độ câu.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Cù Đình Tú (2007), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.

    2. Đào Thản (1990), Lối nói phóng đại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ.

    3. Đinh Trọng Lạc (2005), Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.

    4. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giaó dục.

    5. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

    6. Nguyễn như Ý (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

    7. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Anh Việt, NXB Khoa học Xã hội

    8. 黄伯荣,廖序东 (2002)”现代汉语”,高等教育出版社。

    9. 王希杰 (2007)”汉语修辞学”,商务印书馆。

    10.张挥之(2002)”现代汉语” 高等教育出版社。

    11. 莫言作品集- 小说在线阅读- 努努书坊

    1. Tóm tắt: Khoa trương là nói quá, cường điệu qui mô, tính chất, mức độ, hiện tượng của những sự vật, hiện tượng cần miêu tả. Tuy nói quá nhưng vẫn nói được và đúng bản chất của sự vật cần miêu tả. Khoa trương luôn mang đậm dấu ấn cá nhân hoặc cộng đồng sử dụng ngôn ngữ. Trong các tác phẩm của mình Mạc Ngôn đã sử dụng nhiều cách để biểu thị khoa trương. Ở cấp độ câu, ông sử dụng câu phức điều kiện và câu phức giả thiết để biểu thị khoa trương. Ngoài ra ông còn dùng các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ như thủ thuật nhân cách hóa để khoa trương. Bài viết này giới thiệu tổng quan về một số cách biểu thị khoa trương.

    Từ khóa: khoa trương, câu phức điều kiện, giả thiết, nhân cách hóa

    2. Abstract: Hyperbole is the use of exaggeration as a rhetorical device of speech. It is used to create on a situation. In the Mo Yan’ works, there appear various ways to expss hyperbole.

    At the level of sentences he used conditional sentences to do that. Bisides, he uses personisation and structrure “X 是 Y” to do exaggerate.

    Keywords: Hyperbole, exaggeration, conditional sentences, personisation, structrure “X 是 Y”

    TS. Nguyễn Ngọc Kiên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Tiện Và Biện Pháp Tu Từ Trong Ca Dao Nam Bộ
  • Câu 1:biện Pháp Rèn Luyện Và Bảo Vệ Vận Động Câu 2:các Thành Phần Của Máu, Chức Năng Của Huyết Tương Và Hồng Cầu Câu 3: Nêu Môi Trường Trong Cơ Thể Câu 4:phân
  • Ôn Thi Tn Thpt Quốc Gia 2022 Môn Địa Lý 12. Trắc Nghiệm
  • Bệnh Sán Lá Gan Trên Gia Súc Và Cách Phòng Trị
  • Bệnh Sán Lá Gan Ở Trâu Bò
  • Hệ Thống Kiến Thức Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm Trong Tiếng Việt Học Sinh Cần Lưu Ý
  • Bài Soạn Lớp 12: Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • Liệt Kê Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Để học tốt môn Ngữ văn lớp 12, mời các em tham khảo bài Hệ thống kiến thức Các biện pháp tu từ lớp 12 được tổng hợp bởi Đọc Tài Liệu:

    Hệ thống kiến thức Các biện pháp tu từ lớp 12 đầy đủ nhất

    Không chỉ tổng hợp các biện pháp tu từ lớp 12, Đọc tài liệu còn tổng hợp tất cả các biện pháp tu từ ở các lớp dưới để có kiến thức về biện pháp tu từ đầy đủ nhất cho các em học sinh ôn luyện.

    I. Các biện pháp tu từ ngữ âm

    1. Điệp vần: Là biện pháp tu từ dùng sự trùng điệp về âm hưởng bằng cách lặp lại những âm tiết có phần vần giống nhau, nhằm mục đích tăng sức biểu hiện, tăng nhạc tính cho câu thơ.

    2. Hài thanh: Là biện pháp tu từ dùng sự lựa chọn và kết hợp các âm thanh sao cho hài hoà để có thể gợi lên một trạng thái, một cảm xúc tương ứng với cái được biểu đạt.

    3. Ngắt nhịp: Căn cứ vào dấu câu, vần điệu và nội dung biểu đạt mà người viết tạo nên những điểm dừng của câu văn, câu thơ nhằm tạo nên hiệu quả nghệ thuật nhất định.

    Đối với các biện pháp tu từ ngữ âm này, thường các em học sinh sẽ hay gặp trong các tác phẩm thơ hơn so với các tác phẩm văn học thể loại truyện. Vì vậy mà các em cũng cần chú ý tới việc nhận biết và phân biệt các biện pháp tu từ ngữ âm trong các văn bản nằm trong chương trình ôn luyện cho kì thi THPT Quốc gia.

    II. Các biện pháp tu từ từ vựng

    Biện pháp tu từ lớp 12 là một trong những phần kiến thức tiếng Việt quan trọng thường xuất hiện trong phần đọc hiểu văn bản của đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn. Để giành trọn điểm câu này trong kỳ thi THPT quốc gia các năm, thí sinh cần nắm vững được 12 biện pháp tu từ và tác dụng của mỗi biện pháp trong việc mang lại hiệu quả nghệ thuật về diễn đạt.

    1. So sánh

    • Khái niệm: đối chiếu sự vật/việc này với sự vật/việc khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình biểu cảm cho lời văn.
    • Cấu tạo: Vật được so sánh – phương diện so sánh – từ so sánh – vật dùng để so sánh.
    • Phân loại: So sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng (hơn – kém)

    So sánh không ngang bằng:

    “Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”

    (Bầm ơi – Tố Hữu)

    2. Nhân hoá

    • Khái niệm: là cách gọi hay tả sự vật, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn dùng cho con người làm cho thế giới vật, đồ vật… trở nên gần gũi biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.
    • Phân loại:

    + Dùng những từ vốn gọi người để gọi vật: Cậu Vàng

    + Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của con người để chỉ hoạt động, tính chất của sự vật: Tre Việt Nam.

    Ví dụ:

    Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật:

    “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

    (Tây Tiến – Quang Dũng)

    “Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”

    (Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

    3. Ẩn dụ

    • Khái niệm: là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác khi giữa chúng có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho lời văn.
    • Phân loại:

    + Ẩn dụ hình tượng: Thuyền về có nhớ bến chăng…

    + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè phỡn thoả thuê cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vài tình cảm gầy gò của cá nhân co rúm lại (Nhận đường – Nguyễn Đình Thi).

    “Về thăm quê Bác làng Sen,

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”

    (Nguyễn Đức Mậu)

    “thắp”: nở hoa, chỉ sự phát triển, tạo thành.

    4. Hoán dụ

    • Khái niệm: là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho diễn đạt.
    • Phân loại:

    + Lấy một bộ phận để gọi toàn thể: cây toán xuất sắc, chân bóng cừ khôi…

    + Lấy dấu hiện của sự vật để gọi sự vật: Ngày Huế đổ máu – chỉ chiến tranh, áo chàm đưa buổi phân li…

    + Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng: thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

    5. Tương phản đối lập

    • Khái niệm: là biện pháp tu từ dùng các từ ngữ biểu thị những khái niệm đối lập nhau cùng để xuất hiện trong một văn cảnh nhằm mục đích làm rõ hơn đặc điểm của đối tượng được miêu tả.
    • Tác dụng: có chức năng nhận thức và tăng tính biểu cảm cho diễn đạt.

    Ví dụ:

    “O du kích nhỏ giương cao sung

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”

    (Tố Hữu)

    6. Câu hỏi tu từ

    • Khái niệm: là loại câu hỏi mà nội dung của nó đã bao hàm ý trả lời, biểu thị một cách tế nhị cảm xúc của người phát ngôn.
    • Tác dụng: Khẳng định, phủ định hoặc bộc lộ cảm xúc của người nói.

    7. Nói giảm nói tránh

    • Khái niệm: Là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, giảm mức độ, nhẹ nhàng mềm mại thay cho cách diễn đạt bình thường để tránh gây cảm giác phản cảm và tránh thô tục thiếu lịch sự.
    • Tác dụng: Nhận thức và biểu cảm.

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”

    (Bác ơi – Tố Hữu)

    8. Điệp

    • Khái niệm: Là biện pháp lặp lại từ ngữ hoặc cả câu nhằm mục đích mở rộng, nhấn mạnh ý nghĩa hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc.
    • Phân loại

    + Điệp từ

    + Điệp ngữ: Điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ cách quãng.

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”

    (Cây tre Việt Nam – Thép Mới)

    9. Cường điệu phóng đại (Nói quá)

    • Khái niệm: Là biện pháp tu từ dùng sự cường điệu quy mô, tính chất, mức độ… của đối tượng được miêu tả với cách biểu hiện bình thường nhằm mục đích nhấn mạnh vào một bản chất nào đó của đối tượng miêu tả.
    • Tác dụng: Nhận thức và biểu cảm.

    Ví dụ:

    “Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

    (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

    III. Các biện pháp tu từ cú pháp

    1. Điệp cấu trúc ngữ pháp

    • Tác dụng: triển khai một ý hoàn chỉnh, làm cho người nghe dễ nhớ, dễ hiểu; nhấn mạnh nội dung cần biểu đạt.

    2. Liệt kê

    • Khái niệm: Là biện pháp tu từ dùng cách sắp xếp các lượng ngữ nghĩa có quan hệ gần gũi nhau theo một trình tự từ nhỏ đến lớn, từ nông đến sâu, từ nhẹ đến mạnh, từ phương diện này đến phương diện kia, hoặc ngược lại trình tự đó.
    • Tác dụng: gây cảm xúc và ấn tượng đặc biệt với nội dung trình bày, tăng sức biểu cảm cho diễn đạt.

    3. Chêm xen

    • Khái niệm: là biện pháp chêm vào câu một cụm từ không trực tiếp có quan hệ đến quan hệ ngữ pháp trong câu, nhưng có tác dụng rõ rệt để bổ sung thông tin cần thiết hay bộc lộ cảm xúc…
    • Tác dụng: bổ sung thông tin cho thành phần đứng trước nó, bộc lộ cảm xúc của người nói đối với nội dung câu nói hoặc với người nghe.

    4. Đảo ngữ

    • Khái niệm: Là biện pháp thay đổi trật tự các thành phần ngữ pháp trong câu mà không làm thay đổi nội dung thông báo của câu.
    • Phân loại:

    + Đảo vị ngữ

    + Đảo bổ ngữ

      Tác dụng: Nhấn mạnh nội dung biểu đạt

    ********

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Phân Tích Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mạc Tử.
  • Cảm Nhận Của Anh/chị Về Hai Đoạn Thơ Sau: Gió Theo Lối Gió, Mây Đường
  • Bình Giảng Khổ Thơ Sau Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử: Gió Theo Lối Gió, Mây Đường Mây, Dòng Nước Buồn Thiu, Hoa Bắp Lay; Thuyền Ai Đậu Bến Sông Trăng Đó Có Chở Trăng Về Kịp Tối Nay?
  • Hãy Bình Giảng Đoạn Thơ Thứ Hai Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Để Thấy Rằng: Thơ Hàn Mạc Tử Là Thơ Trữ Tình Hướng Nội.
  • Ôn Tập Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Và Các Hình Thức Nhân Hoá

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nhân Hóa Là Gì? Một Số Ví Dụ Và Các Hình Thức Của Nhân Hóa
  • Biện Pháp Nhân Hóa: Định Nghĩa
  • Nhân Hóa Là Gì? Có Mấy Kiểu Nhân Hóa Và Ví Dụ
  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Nguyên Nhân Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Phải Có Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí
  • Khái niệm

    Nhân hóa là cách gọi hoặc tả sự vật bằng những từ ngữ được dùng để gọi, tả người,… vốn dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật,…

    Dấu hiệu nhân biết: Các từ chỉ hoạt động, tên gọi của con người: ngửi, chơi, sà, anh, chị,…

    Ví dụ: Ông trời mặc áo giáp đen ra trận

    Các hình thức nhân hóa trong tiếng Việt

    Cách 1: Gọi các sự vật bằng những từ ngữ để gọi con người.

    Các sự vật ( đồ vật, con vật, cây cối,…) không chỉ được gọi một cách thông thường mà được gọi giống như con người.

    Ví dụ: Bác gà trống trông thật oai vệ.

    Cách 2: Miêu tả sự vật bằng những từ ngữ miêu tả con người.

    Đối với miêu tả sự vật, có thể tả dưới nhiều dạng như hành động, tâm trạng, ngoại hình, tính cách….

    Ví dụ: Chú ếch con đang ngồi học bài bên bờ sông.

    Cách 3: Xưng hô với sự vật thân mật như con người.

    Sự vật không còn là vật vô tri vô giác mà trở nên gần gũi thông qua cách đối đáp, trò chuyện của con người.

    Ví dụ: Chị gió ơi! Chị gió ơi!

    Các bước để sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa

    Bước 1: Xác định sự vật ( con vật, đồ vật, cây cối,…) được nhân hóa.

    Việc nhận biết, xác định sự vật được sử dụng biệp pháp nhân hóa là gì? Con vật ( gà, vịt, cá,..), đồ vật ( bàn, ghế, tủ,…), hiện tượng tự nhiên ( mưa, nắng,…)…

    Ví dụ: Trong câu: ” Bác chim đang đậu trên ngọc cây hót véo von”

      Sự vật được nhân hoá trong câu là ” Bác chim”. Dùng từ ngữ của con người ” Bác” để gọi loài chim.

    Bước 2: Sử dụng các hình thức nhân hóa ( gọi, miêu tả, xưng hô) gán cho sự vật được lựa chọn để nhân hóa.

    Các sự vật được nhân hóa được lựa chọn các hình thức nhân hóa phù hợp.

    Ví dụ: Trong câu: ” Ông mặt trời đang ban phát ánh nắng vàng cho cây cối và con người trên thế giới”.

    • Sử dụng từ ngữ xưng hô ” Ông” để gọi Mặt trời.
    • Dùng từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của con người ” ban phát” dùng cho sự vật được nhân hoá.

    Bước 3: Tiến hành thực hiện với nội dung của câu.

    Ví dụ: Điền từ ngữ có sử dụng nhân hoá để hoàn chỉnh câu giới thiệu sau:

    Mỗi loài chim đều có đặc điểm riêng: chim chích choè ………., chào mào…………., vẹt…………., cu gáy ……………….

      Trong trường hợp này, chúng ta nên sử dụng từ ngữ nhân hoá miêu tả hoạt động, tính chất giống như con người.

    Mỗi loài chim đều có đặc điểm riêng: chim chích choè biết múa, chào mào biết hát, vẹt biết nói, cu gáy biết chơi nhạc cụ.

    Để con học tập và ôn luyện tốt hơn môn Tiếng Việt trong năm học 2022-2021, cha mẹ hãy tham khảo CHƯƠNG TRÌNH HỌC TỐT của chúng tôi giúp con có phương pháp hộc tập phù hợp và mang lại thành tích cao trong học tập.

    • Hệ thống đề kiểm tra và bài tập tự luyện có ĐÁP ÁN và HƯỚNG DẪN GIẢI.
    • Đội ngũ giáo viên giỏi chuyên môn và giàu kinh nghiệm giảng dạy.
    • Giúp học sinh tăng cơ hội giành điểm 9 – 10 trong các bài thi, bài kiểm tra.

    Thông tin chi tiết về khóa học, phụ huynh và học sinh hãy gọi ngay hotline 0936 5858 12 để được tư vấn miễn phí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Viên Chủ Nhiệm
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 4
  • 5 Bài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Nhà Thơ Tú Xương, Văn Mẫu 11
  • Soạn Bài Thương Vợ Của Trần Tế Xương
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

    1. Biện pháp tu từ so sánh

    Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

    Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

    Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

    Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

    Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

    Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

    Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

    “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    Cấu trúc A là B:

    Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

    Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

    Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

    Ví dụ 1:

    “Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 3:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

    Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

    “Người là cha, là bác, là anh

    Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

    ” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

    2. Biện pháp tu từ nhân hóa

    Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

    Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

    • Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..
    • Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

    Ví dụ:

    ” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

    “Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

    “Sông Đuống trôi đi

    Một dòng lấp lánh

    Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

      Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

    Ví dụ:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

    Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

    Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

    Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

      Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

    Ví dụ:

    ” Vân xem trang trọng khác vời

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

      Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

    Ví dụ:

    “Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Không thầy đó mày làm nên”

      Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

    Ví dụ:

    “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

    “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

    ” Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

      Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    Vì dụ:

    ” Bỗng nhận ra hương ổi

    Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ

    Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

    ” Cát lại vàng giòn

    Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

    ” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

    “Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

    4. Biện pháp tu từ hoán dụ

    Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

    Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

      Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

    ” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

    “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

    ” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

    Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

      Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Vì sao trái đất nặng ân tình,

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

      Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

    ” Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

    ” Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

    ” Áo nâu cùng với áo xanh

    Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

      Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

    ” Một cây làm chẳng nên non

    3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

    ” Ngày Huế đổ máu

    Chú Hà Nội về

    Tình cờ chú cháu

    Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

    5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

    Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

    ” Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

    “Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

    Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

    6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

    Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

    7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

    Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

    Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

    8. Biện pháp tu từ chơi chữ

    Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

    Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

    ” Bà già đi chợ cầu Đông

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

    ” Không răng đi nữa cũng không răng,

    Chỉ có thua người một miếng ăn.

    Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép,

    Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

    “Em đây là gái năm con,

    Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

    ” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,

    Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

    9. Biện pháp tu từ liệt kê

    Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

    Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

    “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

    ” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

    “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

    Chiến sĩ anh hùng

    Đầu nung lửa sắt

    Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

    Máu trộn bùn non

    Gan không núng

    Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

    10. Biện pháp tu từ tương phản

    Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

    Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100