Top 16 # Xem Nhiều Nhất Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thương Vợ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Thương Vợ Của Tú Xương / 2023

Đề bài: Em hãy nêu lên giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Thương Vợ của Tú Xương

Tú Xương là một trong những nhà thơ trào phúng của dân tộc Việt Nam, ông có rất nhiều những tác phẩm hay, trong đó chủ yếu là các đề tài phê phán xã hội cũ đương thời, một xã hội thối nát luôn kìm chặt con người. Nổi bật lên trong những bài đó là bài Thương Vợ.

Bài thơ đã mang đậm chất trào phúng, ngay trong khổ thơ đầu, tác giả đã thể hiện một cuộc sống vất vả của người nông dân Việt, quanh năm làm ăn vất vả, nơi sinh sống ở mom sông, buôn bán để lấy tiền sinh sống, số tiền kiếm được cũng chỉ đủ để nuôi con với chồng, không có của ăn của để, cuộc sống tất bật nhưng vất vả và cũng chả có được một cuộc sống hạnh phúc. Đầu bài thơ với lời giới thiệu ngắn gọn, tác giả không giới thiệu vợ tôi làm nghề buôn bán ở mom sống mà nói là quanh năm vất vả ở mom sông, sự đảo lộn này có ý nghĩa làm tăng lên giá trị vất vả, cũng như sự sống của vợ phải bon chen, kiếm sống cho cả gia đình.

Đáng nhẽ ra, người vất vả chạy vạy kiếm tiền phải là người chồng, bởi từ trước tới nay, chồng luôn luôn là trụ cột trong gia đình, nhưng đối với bài thơ này, người trụ cột có lẽ là người vợ.Cuộc sống vất vả kéo theo bao nhiêu khó khăn trong cuộc sống của cuộc sống gia đình:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Nuôi đủ năm con với một chồng

Quanh năm ở đây đã thể hiện sự lặp đi lặp lại của thời gian, buôn bán đó là nghề mà người vợ trong tác phẩm này làm để nuôi sống cả gia đình, địa điểm buôn bán đó là ở men sông. Cuộc sống vất vả, mà con lại đông, chật vật trong miếng cơm manh áo hàng ngày, nuôi đủ đã là một may mắn chứ không nói đến chuyện sẽ có một cuộc sống hạnh phúc, và đầy đủ. Nuôi con đã là gánh nặng rồi, nay lại còn phải nuôi cả chồng, ở đây mức độ nặng nề lại ngày càng tăng cao, tăng cao ở mức không lo nổi cho cả gia đình, cha mẹ có nghĩa vụ lo cho con cái, nhưng đây người vợ này lại phải lo cho cả chồng của mình.

Ở đây nghệ thuật trào phúng rất rõ ràng, nó thể hiện ngay trong toàn bộ tác phẩm bởi sự nghịch lý đang gây cười trong tác phẩm, với nhan đề thương vợ, chứng tỏ rằng nhân vật chồng cùng cảm động trước nỗi khổ mà người vợ đang phải gánh chịu, nhưng không có cách nào khác để làm được những điều đó, chỉ biết thể hiện nỗi xót thương qua những nghệ thuật sâu sắc được thể hiện đậm nét qua tác phẩm của mình. Thương vợ không chỉ là bài thơ mang đậm tính chất trào phúng, nghệ thuật trào phúng làm tăng thêm tiếng cười cho toàn bộ tác phẩm này.

Với nội dung đầy ý nghĩa biểu tượng, bài thơ không chỉ nhấn mạnh những cảm xúc, cũng như bao xúc cảm của con người, mà nó còn thể hiện sự da diết trong mọi cảm xúc của tác phẩm, với nội dung phê phán tính chất phong kiến, một xã hội tối tăm, thối nát, cuộc sống của người dân thì cực khổ, nhân dân chịu bao nhiêu gánh nặng:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo xèo mặt nước buổi đò đông.

Lặn lội bao nhiêu ngày tháng để kiếm sống, thân cò được ví để nói về sức vất vả không còn cái gì có thể diễn tả được, vất vả bon chen kiếm sống, bon chen trong cuộc sống của mỗi chặng đường đời, bao nhiêu nắng mưa vất vả thì người vợ cũng vẫn phải vượt qua, đó là những khó khăn, thử thách, nhưng lặn lội thân cò, một mình vẫn phải vượt qua tất cả để đem lại sự sống cho 5 con và cả người chồng.

Người chồng thì bất tài vô dụng, để vợ phải bon chen lo cho cuộc sống của cả gia đình, không lo và bớt đi gánh nặng cho vợ, tất cả bài thơ đã ca ngợi lên đức tính tần tảo và chăm chỉ của người vợ, chứ người chồng thì không có trách nhiệm gì với gia đình, chỉ là kẻ được vợ nuôi:

Một duyên hai nợ, âu đành phận

Năm nắng mười mưa, dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!

Có chồng hờ hững cũng như không!

Nhưng số phận đã vậy, thì không dám trách ai, chỉ dám bằng lòng, đành phận rằng đó là duyên số mà thôi, chứ không dám kêu ca gì về cuộc đời, bao nhiêu năm tháng vất vả về cuộc sống gia đình, một nắng hai sương, không dám kể công. Nhưng duyên phận hai nợ, vợ chồng lấy nhau là cái phận vậy thì “âu đành phận” ở đây nhằm bằng lòng, và chấp thuận với mọi điều của cuộc sống, không kêu ca trách điều gì, sống trong cảnh nghèo khó vẫn phải cắn răng chịu đựng, vất vả đến mấy cũng phải vượt qua. Không dám oán trách thân ai, chỉ dám trách cho số phận của mình, gặp vào người chồng hờ, thực chất có cũng như không, vừa không giúp được đời, vừa không giúp được cho gia đình điều gì, điều đó thực sự rất quan ngại với người vợ, nhưng không dám oán trách. Bài thơ đã nêu lên sự vất vả của người vợ, qua đó nói đến sự vất vả, oan nghiệt mà cuộc sống đem lại cho cuộc sống gia đình. Với nghệ thuật trào phúng bài thơ đã diễn tả được sâu sắc cuộc sống khổ đau, cùng cực của những con người sống trong xã hội này.

Bài thơ đã mang lại nhiều cảm xúc cho người đọc, bởi tiếng cười trào phúng sâu cay thấm trong từng lời văn câu chữ của tác phẩm Thương Vợ của Tú Xương.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Thương Vợ của Tú Xương

Em hãy phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong Thương Vợ của Tú Xương

Anh chị hãy phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong Thương Vợ của Tú Xương

Gia tri noi dung va nghe thuat trong Thuong vo cua Tu xuong

CÁC BẠN LIKE FANPAGE ĐỂ THEO DÕI CÁC BÀI VĂN MỚI NHẤT NHÉ!

Phân Tích 2 Câu Thực Bài Thương Vợ / 2023

Phân tích 2 câu thực bài Thương vợ của Tú Xương – Đọc tài liệu tổng hợp dàn ý chi tiết và bài văn mẫu tham khảo đề văn phân tích hai câu thực bài thơ Thương vợ, thêm vào đó là những bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo chuẩn bị kiến thức trước khi làm bài.

Dàn ý phân tích hai câu thực bài Thương vợ

I. Mở bài

– Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi

– Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú

II. Thân bài

– Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):

+ “Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng

+ Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đau thân phận và mang tình khái quát

+ “khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu

⇒ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ

– “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc

+ Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cranh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu

– Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.

⇒ Thực cảnh mưu sinh của bà Tú: Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.

III. Kết bài

– Khẳng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công nội dung 2 câu thực trong bài thương vợ

– Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xã hội hôm nay.

Thơ văn Trần Tế Xương gồm hai mảng lớn: trào phúng và trữ tình. Có bài hoàn toàn là đả kích, châm biếm, có bài thuần là trữ tình. Tuy vậy, hai mảng không tuyệt đối ngăn cách. Thường là châm biếm sâu sắc nhưng vẫn có chất trữ tình. Ngược lại, trữ tình thấm thía cũng pha chút cười cợt theo thói quen trào phúng.

Thương vợ là một bài thơ như vậy. Thương vợ là bài thơ phản ánh hình ảnh bà Tú vất vả, đảm đang, lặng lẽ hi sinh vì chồng vì con, đồng thời thể hiện tình thương yêu, quý trọng và biết ơn của Tú Xương đối với người vợ của mình.

Trong hai câu thực, hình ảnh bà Tú một mình thui thủi làm ăn càng hiện lên cụ thể và rõ nét hơn:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Tú Xương dùng một hình tượng quen thuộc trong văn chương dân gian nói về người phụ nữ lao động ngày xưa: Con cò lặn lội bờ sông… nhưng ông không so sánh mà đồng nhất thân phận bà Tú với thân cò. Tấm thân mảnh dẻ, yếu đuối của bà Tú mà phải chịu dãi nắng dầm sương thì đã là gian nan, tội nghiệp, vậy mà bà còn phải lặn lội sớm trưa. Nghĩa đen của từ này cũng gợi ra đầy đủ cái vất vả, khó nhọc trong nghĩa bóng. Tấm thân cò ấy lại lặn lội trên quãng vắng đường xa. Nói quãng vắng là tự nhiên nổi lên cái lẻ loi, hiu quạnh, lúc cần không biết nương tựa vào đâu, chưa nói đến những hiểm nguy bất trắc đối với thân gái dặm trường.

Eo sèo chỉ sự nói đi nói lại, có ý bất bình. Đò đông có thể hiểu hai cách: một là đò ngang đã chở đầy người, hai là đò từ các nơi tập hợp lại rất đông. Hiểu cách nào cũng đúng với ý định đặc tả nỗi khó nhọc, gian nan trong cảnh kiếm ăn của bà Tú.

Bên cạnh nỗi khổ vật chất còn có nỗi khổ tinh thần. Vì chồng con mà phải lặn lội đường xa quãng vắng, nhưng liệu chồng con có biết cho chăng? Và bà Tú cứ âm thầm lo toan như vậy cho đến hết đời, hết kiếp… số phận bà là vậy.

Câu thơ miêu tả mà đầy chất trữ tình, nghe thật xót xa, tội nghiệp! Ông Tú tỏ ra thông cảm với nỗi khó nhọc của vợ và thương vợ đến vậy là sâu sắc.

Ông Tú hiểu thấu công việc làm ăn của bà Tú. Khi quãng vắng, buổi đò đông, bà đều vất vả khó nhọc, không kể gian nan, không quản thân mình, một lòng vì chồng, vì con. Bà Tú mà nghe được những lời như thế của ông chắc cũng thấy gánh nặng trên vai mình nhẹ bớt và trong thâm tâm bà cũng được an ủi ít nhiều.

Phân tích hai câu thực bài Thương vợ của học sinh được đánh giá cao

Tác giả Trần Tế Xương (1870 – 1907) được nhiều người biết đến bằng cái tên vô cùng quen thuộc: Tú Xương. Ông nhiều lần đi thi đều đỗ tú tài. Ba mươi bảy mùa xuân – một quãng thời gian vô cùng ngắn ngủi, một tuổi đời còn quá trẻ nhưng ông đã mãi mãi ra đi. Ông ra đi, nhưng khoảng trên 100 bài thơ ông viết – một con số vô cùng ấn tượng đã trở thành những bài thơ bất hủ. Thơ ca của ông chủ yếu là thơ trào phúng mang giọng điệu phê phán, đả kích sắc sảo, cay độc mạnh mẽ và hiếm có. Nhưng ông không chỉ là một nhà thơ hiện thực mà đúng như Nguyễn Tuân đã nói: “Chất hiện thực ấy chỉ là “chân trái” còn “chân phải” là chất trữ tình”. Đúng vậy, sống trong thời kì thực dân nửa phong kiến đầy rẫy những cám dỗ, bất công, ông hiểu được tình cảnh loạn lạc của hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ. Một xã hội tối đen như mực, nhơ nhớp, thối nát đã đẩy biết bao con người vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”, họ bị hà hiếp và bị ép vào bước đường cùng. Tội nghiệp hơn cả là thân phận của người phụ nữ, đặc biệt là những người mẹ, người vợ. Họ đều là những người dân vô tội, “thấp cổ bé họng”, nhỏ bé, bị vùi dập trước xã hội hôi tanh thối rữa ấy. Ông đồng cảm, xót xa cho thân phận của những người phụ nữ, đặc biệt hơn cả là người vợ của mình – người đã đồng hành cùng ông trong suốt quãng đời: bà Phạm Thị Mẫn. Và từ đó một tuyệt tác văn học của ông ra đời, bài thơ có nhan đề “Thương vợ“. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho thơ trữ tình của ông, ông viết để dành tặng cho chính người vợ của mình.

Toàn cảnh bài thơ là cái nhìn chân thực về người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh của tác giả. Ông đã nhấn mạnh được sự gian lao, vất vả của bà một cách hết sức nổi bật, rõ nét qua hai câu thơ:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Trong cuộc sống này, chắc hẳn trong chúng ta ai ai cũng đã một lần được nghe qua câu ca dao xưa: “Con cò lặn lội bờ sông” rồi phải không? Trong hình ảnh “Lặn lội thân cò” tác giả đã sử dụng phép đảo ngữ, qua đó ông còn trau chuốt thêm bằng bàn tay nghệ sĩ tài hoa của mình để tô đậm thêm sự lam lũ, vất vả của vợ mình. “Lặn lội” là một hoạt động của con người, con người ta phải tự mình vượt một quãng đường xa, gian nan, vất vả thì mới đạt được đích đến thành công. “Xây dựng thành công từ thất bại. Sự chán nản và thất bại là hai bước đệm chắc chắn nhất dẫn tới thành công.” Đích đến của sự thành công không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng, nó là một quá trình ta phải thử thách rèn luyện bản thân qua những biến động của cuộc sống. Bà Tú là một con người như thế, đường đi của bà luôn gập ghềnh, trắc trở nhưng không vì thế mà bà từ bỏ. “Gập ghềnh” ở đây không có nghĩa là con đường đất đầy đá, đầy ổ gà, ổ voi mà chính là con đường bà phải tự mình “lặn lội khi quãng vắng”. “Quãng vắng” là khung cảnh không gian mênh mông, heo hút, vắng tanh vắng ngắt người. Chỉ một mình ta chơi vơi, lẻ loi giữa dòng đời cô lập, hiu quạnh. Ai cũng vậy, dù chỉ mới tưởng tượng ra thôi mà đã thấy sợ hãi. Nhưng cũng nhờ vì cái khoảng không gian im ắng, tĩnh lặng đến rợn ngợp đó mà bao sự hi sinh thăng trầm, cơ cực, cay đắng của người phụ nữ ấy đã được tôn lên một cách rõ nét. Với bà Tú, không điều gì có thể ngăn cản được bước chân của bà, vì chồng vì con, bà có thể làm được tất cả, sẵn sàng hi sinh tất cả. Điều này gợi lên sự can đảm, chịu thương chịu khó của bà. Đó là đức tính cao đẹp trong tâm hồn người phụ nữ nhỏ bé này. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”, trong câu này tác giả thật sáng suốt khi ông đã sử dụng biện pháp nghệ thuật tu từ ẩn dụ “Thân cò” để chỉ người vợ vất vả, cực nhọc, tần tảo sớm hôm của mình nhằm khắc họa đậm chất hình ảnh người vợ đảm đang, “một nắng hai sương”, không ngại khó, không ngại khổ, không quản khó khăn cực nhọc trong đời sống hằng ngày, không kêu ca than vãn một lời cho dù cuộc sống có vô vàn biến động, phong ba bão táp như thế nào đi chăng nữa. Ý thơ của tác giả đã đúc kết sâu sắc hơn cái dáng vẻ gầy guộc, mong manh của người vợ và cả nỗi đau về thân phận của người phụ nữ đảm đang, dịu hiền này – số phận thân cò nặng nề, vất vả và gian nan giữa cuộc sống khốn khó, cơ cực, thiếu thốn trăm bề đầy bế tắc. Hơn thế nữa, cái dáng vẻ gầy guộc, liêu xiêu ấy được ví như “thân cò” trông bà thật đáng thương, cơ hàn và nhỏ bé biết bao!

Nhưng chỉ thế thôi vẫn chưa đủ, ngoài ra, tác giả còn nhấn mạnh công đức lớn lao của bà Tú cho tổ ấm của mình trong câu thơ kế tiếp:

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Từ láy “eo sèo” đã được ông sử dụng trong câu thơ này. Đó là tiếng kì kèo, phàn nàn, cãi vã một cách khó chịu, bức xúc, bực dọc giữa người này với người kia đã tạo nên một khung cảnh hỗn độn, cụ thể là trong công việc buôn bán của bà Tú. Giữa khách hàng và chủ hàng lúc nào cũng phải đôi co to tiếng, lời qua tiếng lại và cảm thấy như là một ngày yên bình, êm xuôi trong công việc làm ăn của bà là điều chưa bao giờ xảy ra. “Buổi đò đông” là hình ảnh miêu tả không gian đông đúc, nhộn nhịp, trái hẳn với không gian “quãng vắng” tăm tối, chứa đựng nhiều mối lo âu, hiểm nguy đáng sợ kia. Đó là nơi mọi người thường hay tụ tập, chen chúc và tranh giành nhau những món đồ trên chuyến đò một cách vô ý thức, bất lịch sự. Đây là câu thơ khắc họa đậm chất sự vật lộn với kế sinh nhai của bà Tú. Gặp phải chốn đò đông, bà luôn là người phải chịu cảnh bị xô đẩy, gò bó. Con người vốn đã nhỏ bé mà nay đứng trước hoàn cảnh ấy thì lại càng nhỏ bé, đáng thương, tội nghiệp hơn. Đặt bản thân mình vào hoàn cảnh này ai cũng cảm thấy uất ức chứ không riêng gì bà. Nhưng bà vẫn làm, vẫn cam chịu, vẫn gánh vác, vẫn đảm nhiệm công việc của mình. Ca dao xưa đã từng nói rằng: “Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”. Có lẽ, bà cũng đã ghi nhớ lấy điều này nhưng vì mục tiêu là kiếm được miếng cơm manh áo cho gia đình, vì nền kinh tế gia đình còn khó khăn, nghèo khổ, vì bà là trụ cột chính trong gia đình, tất cả mọi việc đều trông cậy, phụ thuộc vào đồng lương ít ỏi của bà đi buôn bán hằng ngày trên chuyến đò đông cùng với dòng người xô bồ tấp nập xen lẫn với tiếng kì kèo, cãi vã ấy nên bà cũng phải bất chấp tất cả, phải kiên quyết, phải lấm láp phong trần, hi sinh thầm lặng cuộc đời mình cho tổ ấm mà mình đã vun vén, xây dựng bấy lâu nay. Bà phải chịu cơ chịu cực, những buổi chen lấn trên sông nước đò giang lênh đênh đầy bất trắc như thế mà bà vẫn không sợ bất kì mối hiểm nguy nào. Bà vẫn thế, vẫn là người phụ nữ mạnh mẽ, quả cảm vì động lực lớn nhất tiếp thêm ngọn lửa sức mạnh cho bà để bà tiếp tục với công việc của mình chính là chồng, con. Gia đình là điều quý giá đã thắp lên ngọn lửa hi vọng trong tâm hồn người phụ nữ tần tảo, chừng mực này. Tú Xương đã thầm cảm thương cho cảnh ngộ và đức hi sinh cao cả của vợ mình. Không ai khác, ông là người hiểu hơn hết “tính hạnh khoan hòa” của bà, vì vậy ông đã dùng lời lẽ văn chương của mình để bộc lộ lên những điều này với tất cả sự thương cảm, xót xa đối với người phụ nữ đã gắn bó cùng ông suốt cuộc đời này. Mọi người trân trọng, cảm phục và nhớ tới ông nhiều hơn có lẽ là do họ nghe được nhịp đập của một trái tim chân thành, giàu cảm xúc, biết trọng nhân cách, mang nỗi đau vời vợi khôn nguôi đối với người vợ vĩ đại của mình. Quỹ đạo của thời gian có thể thay đổi nhưng niềm tin yêu mãnh liệt của ông đối với người phụ nữ này chưa bao giờ dập tắt. Ông đã xâu chuỗi vô vàn tình cảm của mình vào những ý thơ giản dị mà chân thực, làm thức tỉnh tâm hồn người đọc: Công lao của người vợ to lớn như trời bể, sự thông cảm, sẻ chia, biết ơn, trân trọng của người chồng đối với người vợ là điều quý giá nhất trong cuộc sống này.

Chỉ qua hai câu thơ cùng với một số biện pháp tu từ nghệ thuật như: ẩn dụ, từ láy, đảo ngữ cũng với những từ ngữ có sức gợi hình, gợi cảm cao, tác giả đã sử dụng ngòi bút tinh xảo của mình để làm hiện lên rõ nét người vợ tần tảo, biết lo toan bộn bề cuộc sống, có lòng thương chồng, yêu con vô bờ bến cùng với bản tính cần cù, nhẫn nại chăm lo, gánh vác cho gia đình để kiếm đủ cơm áo gạo tiền nuôi đủ “Năm con với một chồng”. Bà là một người phụ nữ kiên cường, luôn sẵn sàng đối đầu với gian nan, thách thức, con đường tuy nhiều chông gai nhưng dường như điều này đã tôi luyện cho trái tim của bà ngày một sắt đá hơn. Đánh đổi cả thanh xuân của mình vì gia đình yêu dấu, bao nhiêu sự khổ cực có, nỗi vất vả có, cay đắng cũng có… nhưng tất cả đều không thể làm bà khuất phục, buông xuôi trước nghịch cảnh đầy éo le, ngang trái này. Ở đâu đó ta vẫn cảm thấy thấp thoáng một nụ cười hóm hỉnh của nhà thơ bày tỏ sự yêu thương, quý trọng đối với bậc hiền phụ tần tảo, giàu đức hi sinh. Không chỉ có thế, hai câu thơ này đã tái hiện được hình ảnh của bà Tú gian nan, đáng thương, cơ cực, bần hàn và tội nghiệp đến tột cùng. Ôi chao! Thật xót xa làm sao cho những thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa nói chung và số phận hẩm hiu, bi đát của bà Tú nói riêng.

(Huỳnh Đặng Nhật Uyên, THPT Krông Ana)

Với đề bài phân tích 2 câu thực bài thơ Thương vợ bao gồm đầy đủ dàn ý chi tiết và bài văn tham khảo, các em học sinh cần tìm hiểu kĩ càng để từ đó có thể xây dựng cho mình một bài văn phân tích chi tiết, độc đáo và ấn tượng. Ngoài ra có thể xem lại nội dung phần để có những ý tưởng, đánh giá nội dung khách quan và hiệu quả nhất cho bài làm của mình. Chúc các em làm bài tốt !

Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn / 2023

Để viết một bài văn cho người đọc vào có cảm giác lôi cuốn và hấp dẫn bởi phần nội dung và hình thức trình bày, thì các bạn cần sử dụng kết hợp một cách khéo léo các biện pháp nghệ thuật trong bài viết của mình, một số biện pháp đó là: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…..

Các biện pháp nghệ thuật trong văn bản:

Trước tiên ta cần tìm hiểu lí thuyết về cụm từ “biện pháp nghệ thuật “, là những nguyên tắc thi pháp trong việc tổ chức một phát ngôn nghệ thuật ( nguyên tắc xây dựng cốt truyện, quy tắc phân chia thể loại, nguyên tắc phong cách, thể thức câu thơ…) việc đưa các biện pháp nghệ thuật là đã có sự dự tính sẵn của tác giả, khi đã xác định được những mục đích, do đó nếu lựa chọn được một biện pháp nghệ thuật thích hợp sẽ là tác phẩm trở nên đắc giá.

Các loại chúng ta thường gặp:

1. So sánh

– Là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, đặc biệt là có nét tương đồng

Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành

2. Nhân hóa

– Là dùng những từ ngữ vốn miêu tả hành động bản chất của con người để gán vào sự vật hiện tượng

Ví dụ: Heo hút cồn mây súng ngửi trời

3. Ẩn dụ

– Là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác, chúng có nét tương đồng với nhau

Ví dụ: Mặt trời của Mẹ thì nằm trên lưng

Cách nhận biết giữa so sánh và ẩn dụ:

So sánh: có dấu hiệu nhận biết qua các từ như sau: là, như, bao nhiêu…. bấy nhiêu.

Ẩn dụ: có dấu hiệu nhận biết qua các nét tương đồng của 2 sự vật hiện tượng.

4. Hoán dụ

– Là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vât, hiện tượng khác có nét tương đồng gần gũi

Ví dụ: Áo chàm đưa buổi phân li / Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

Cách so sánh nhân hóa và hoán dụ:

Nhân hóa có sự nhận biết đó là có chứa các từ tên gọi, hoạt động của con người.

Hoán dụ có sự nhận biết là 2 sự vật có nét giống nhau

5. Nói quá

– Là biện pháp dùng để phóng đại qui mô,tính chất của sự vật hiện tượng

Ví dụ: Chân to giống cái cột đình

6. Nói giảm nói tránh

– Là biện pháp nhằm diễn đạt các ý văn thơ một cách tế nhị, uyển chuyển

Ví dụ: Gục lên súng mũ bỏ quên đời

7. Điệp từ, điệp ngữ

– Là biện pháp được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ hay một cụm từ

Ví dụ: Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh…

8. Chơi chữ

– Là biện pháp được sử dụng đặc sắc về âm sắc, về nghĩa của từ

Ví dụ: Trời cho = Trò chơi

– Đó là những biện pháp nghệ thuật thông dụng trong chương trình văn học các học sinh thường gặp mà chúng tôi tổng hợp. Chúng tôi hi vọng rằng bài viết này đã tóm tắt một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất để giúp các em trong quá trình học

Các Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ / 2023

So sánh là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

Nhân hoá là gọi hoặc tả nhân vật cây cối đồ vật. bằng những từ ngữ vốn đc dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới đồ vật cây cối loài vật. trở nên gần gũi với con người biểu thị đc suy nghĩ tình cảm của con ng

ẩn dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

Hoán dụ là gọi tên sự vật hiện tượng bằng tên của một sự vật hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

5,6. Điệp từ điệp ngữ

điệp từ điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp đi lặp lại có dụng ý nghệ thuật

7. thậm xưng ( nói quá )

Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ quy mô tính chất của sự vật hiên tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng tăng sức biểu cảm

Các biện pháp nghệ thuật tu từ 1. So sánh So sánh là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt 2. nhân hoá Nhân hoá là gọi hoặc tả nhân vật cây cối đồ vật… bằng những từ ngữ vốn đc dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới đồ vật cây cối loài vật… trở nên gần gũi với con người biểu thị đc suy nghĩ tình cảm của con ng 3. ẩn dụ ẩn dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt 4. hoán dụ Hoán dụ là gọi tên sự vật hiện tượng bằng tên của một sự vật hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt 5,6. Điệp từ điệp ngữ điệp từ điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp đi lặp lại có dụng ý nghệ thuật 7. thậm xưng ( nói quá ) Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ quy mô tính chất của sự vật hiên tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng tăng sức biểu cảm 8. Chơi chữ Chơi chữ là biện pháp khai thác hiện tượng đồng âm khác nghĩa để tạo sắc thái dí dỏm hài hước cho lời ăn tiếng nói hoặc câu văn câu thơ 9. câu hỏi tu từ – tạo ấn tượng nhấn mạnh tô đậm – khẳng định chính kiến của người viết Các bút pháp nghệ thuật bút pháp ước lệ tượng trưng Ước lệ : sử dụng hình ảnh mang tính chất quy ước đã trở thành thông lệ thói quen tượng trưng là những chi tiết hình ảnh mang ý nghĩa đặc trưng tiêu biểu người ta thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực thước đo cho mọi giá trị trong truyện kiều: bút pháp ước lệ tượng trưng để miêu tả nhân vật chính diện thiên nhiên biết thuý vân đẹp nhưng hok đố kị, và Ng Du đã dùng nghệ thuật đòn bẩy để miêu tả kiều hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh, dự báo 1 tương lai sóng gió khi đã vượt qua giới hạn của tự nhiên, kiều hok còn của riêng ng du nữa mà kiều là số phận của cả dân tộc mình thuý vân và kim trọng là những con ng đạt đến vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng đạt đến mức hài hoà cân xứng với vẻ đẹp tự nhiên vốn có, nhưng thuý kiều và từ hải vẻ đẹp của họ đã vượt qua chuẩn mực tự nhiên đời thường để thành vẻ đẹp phi thường và khác lạ và sau này cuộc đời dự báo tất cả qua các thủ pháp đó của ng du, và khi dùng bút pháp ước lệ như vậy thể hiện từ 1 cảm hứng ngợi ca bộc lộ thái độ tư tưởng đề cao tran trọng và ngưỡng vọng với những nhân vật mà mình thể hiện bút pháp tả thực phản ánh một cách chân thực những đặc điểm của sự vật hiện tượng trong truyện kiều bút pháp tả thực đc dùng để tố cáo nhân vật phản diện. Kì kèo bớt 1 thêm 2 đã cho ta thấy mã giám sinh hok chỉ là kẻ vô học mà còn là 1 kon buôn, chỉ 1 chữ “tót” cho ta thấy đc sự vô học của hắn bút pháp ước lệ tượng trưng là sự tôn trọng kính trọng còn bút pháp tả thực chỉ sự khinh bỉ bút pháp tả cảnh ngụ tình trong miêu tả cảnh vật thiên nhiên đã ẩn chứa cảm xúc tình cảm của con ng trong đó: tình cảm của nhà thơ, tình cảm của nhân vật trong tác phẩm tác dụng: tình ý trong văn bản hàm súc sâu sắc kín đáo mà vẫn chứa sức gợi và tạo liên tưởng cho ng đọc truyện kiều của ng du đã sử dụng bút pháp này 1 cách nhuần nhuyễn mà có nhiều cấu nhiều đoạn đã đạt đến đỉnh điểm của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình