Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững Đối Với Các Tỉnh Miền Trung
  • Cần Giải Pháp Để Người Dân Châu Phi Thoát Cảnh Đói Ăn
  • Wsa: Nước Giải Pháp Cho Châu Phi, Inc
  • Giảm Nghèo Và Giảm Tham Nhũng
  • Giải Pháp Cho Bài Toán Căng Thẳng Nguồn Nước Ở Châu Phi
  • MỘT VÀI KINH NGHIỆM

    GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THCS

    1. Phần mở đầu:

    1.1. Lý do chọn sáng kiến:

    Bác Hồ kính yêu có nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đạo đức là sợi chỉ hồng xuyên suốt trong quá trình suy nghĩ và hành động của một con người. Người có đạo đức tốt ắt hẳn suy nghĩ và hành động đúng.

    Trong trường học giáo dục đạo đức là một bộ phận cấu thành trọng yếu của quá trình giáo dục rèn luyện nhân cách học sinh. Đạo đức được coi là nền tảng trong phẩm chất, nhân cách, là cái gốc của con người. Vì thế, trong nhà trường phải luôn chú trọng cả đức lẫn tài: Việc dạy chữ phải kết hợp với dạy người nhằm rèn luyện học sinh trở thành con người phát triển toàn diện.

    Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá, hoà nhập khu vực và quốc tế, tận dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thắng lợi, yêu cầu đòi hỏi nhân tài cho đất nước ngày càng cao hơn, chất lượng hơn.

    Vì vậy, hơn bao giờ hết nhận thức và hành động của việc “giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức phải chiếm vị trí hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục học sinh”.

    Từ nhận thức đó, là người làm công tác quản lý, bản thân tôi luôn suy nghĩ, trăn trở cố tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh. Đó là lý do tôi chọn nghiên cứu đề tài “Giáo dục đạo đức học sinh THCS”.

    1.2. Điểm mới, phạm vi áp dụng của đề tài:

    Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đó xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân (Điều23-Luật giáo dục).

    Hội nhập kinh tế, nền kinh tế thị trường ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh tế quốc tế đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc lối sống tự do tư sản, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu.

    Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo hành trong trường học đáng được báo động. Một số CBQL, giáo viên chưa thật sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ môn GDCD, thờ ơ không chú ý đến việc giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh.

    Để góp phần vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra biện pháp về công tác giáo giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người cán bộ QLGD.

    SKKN này áp được áp dụng trong phạm vi trường THCS.

    2. Phần nội dung:

    2.1.Thực trạng đạo đức học sinh THCS hiện nay:

    Khoa học ngày càng phát triển, đời sống của mọi tầng lớp nhân dân được cải thiện, kế hoạch dân số của Đảng và Nhà nước mỗi cặp vợ chồng có 1 đến 2 con có ý nghĩa thiết thực, tạo điều kiện cho cha mẹ có khả năng nuôi nấng, chăm sóc con nên đại bộ phận học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng đều chăm ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập và tham gia các hoạt động khác.

    Tuy nhiên do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hiện tượng tiêu cực của xã hội, phần nào đó đã làm ảnh hưởng đến nhân cách, tình bạn bè, lòng kính thầy cô giáo, cha mẹ của một số em học sinh.

    Các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, trò chơi ăn tiền, chơi game chát… ngày càng nhiều, đó là những cạm bẫy đối với học sinh mà các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội vẫn chưa kiểm soát và ngăn chặn được.

    Xuất thân từ con em nông dân nên bản chất các em học sinh trường THCS tôi quản lý đều ngoan, thật thà, lễ phép với thầy, cô giáo. Các em được gia đình chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ nên các em rất quý trọng người lao động, góp phần xây dựng kinh tế gia đình. Nhìn chung các em chăm học, chăm làm, cần cù khiêm tốn, có tinh thần tập thể, đoàn kết nhất trí, luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và đó xuất hiện nhiều tấm gương tốt trong đạo đức, học tập.

    Bên cạnh đại bộ phận học sinh tốt vẫn còn những học sinh chưa tốt, vi phạm hành vi đạo đức học sinh. Đó là vô lễ với thầy cô giáo, không nghe lời cha mẹ, gây gổ đánh nhau, uống rượu, hút thuốc, nhuộm tóc, sử dụng điện thoại ở lớp học, ăn cắp tiền, xe đạp, máy tính casio, ăn quà vặt vặt và làm bẩn sân trường, thực hiện an toàn giao thông không nghiêm túc, yêu đương trai gái, đam mê chơi gem chát dẫn đến học yếu, bỏ học…

    Nguyên nhân chủ yếu là: Có gia đình, cha mẹ cưng chiều con quá thái, con đòi gì được nấy đến lúc nhu cầu không được đáp ứng thì quậy phá. Ngược lại, có những người cha giáo dục con bằng những lời đe nạt, mạt sát, đòn roi, còng xiềng hoặc vỡ cha mẹ bỏ nhau để con bơ vơ bị kẻ xấu rủ rê, mua chuộc, lợi dụng, xúi dục. Có cha mẹ nói con không nghe đành chịu. Cũng có em sinh tâm, tự ý làm việc xấu…

    Kết quả khảo sát chất lượng hạnh kiểm học sinh đầu năm học 2013-2014 như sau:

    2.2. Các giải pháp:

    2.2.1.Tăng cường sự lãnh đạo của Chi bộ đảng trường học:

    – Xây dựng chi bộ Đảng nhà trường thành tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh có ý nghĩa tăng cường hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức trong nhà trường.

    – Xây dựng Nghị quyết của Chi bộ năm, tháng trong đó chú trọng về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

    – Chỉ đạo hoạt động công đoàn, đoàn thanh niên, đội thiếu niên thường xuyên làm tốt công tác giáo dục đạo đức học sinh hỗ trợ cho trường nâng cao chất lượng giáo dục.

    2.2.2.Tăng cường hiệu lực quản lý của BGH trong công tác giáo dục đạo đức học sinh:

    Ban giám hiệu đứng đầu là Hiệu trưởng phải lấy mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung công tác giáo dục đạo đức làm kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

    Công việc quản lý trường học của người Hiệu trưởng rất phong phú và đa dạng. Nào là lên kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra, đánh giá hoạt động của đội ngũ, chăn lo chất lượng đại trà, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, ôn tuyển sinh, xây dựng CSVC, công tác phổ cập… Nhưng song song với tất cả mọi công việc kể trên thì nội dung giáo dục đạo đức học sinh- người hiệu trưởng phải xác định- là một hoạt động hết sức quan trọng, phải thật sự quan tâm và quan tâm thường xuyên.

    Mỗi em học sinh có một hoàn cảnh khác nhau. Có em cha mẹ song toàn, kinh tế đời sống ổn định, có phương pháp giáo dục con cái đó là điều thuận lợi cho nhà trường. Ngược lại có em cha mẹ ly hôn phải ở với ông bà ngoại đã già. Có em cha mẹ đi làm ăn xa nên thời gian quản lý con cái ít. Có em thường xuyên bị cha mẹ chửi mắng, đánh đập, còng chân. Cũng có em a dua theo người xấu, bị bạn bè rủ rê vào con đường chơi bời như đam mê chơi game, thiếu tiền dẫn đến ăn cắp tiền, tài sản của người khác. Và cũng có em muốn khẳng định mình trước bạn bè (nhưng tự khẳng định mang tính tiêu cực) như uống rượu, hút thuốc, tức ghen, tranh giành bạn trai, gái bằng những cú đấm, cái đạp hoặc chửi mắng nhau. Một số em khác vi phạm nội quy của nhà trường như ném vỡ kính cửa sổ, móc nốt bàn phím máy vi tính, đập vỡ ống dẫn nước, dùng bút xóa viết lên bàn, sử dụng điện thoại, ăn kẹo cao su nhả bả làm bẩn nền nhà, vứt giấy vụn, bao bóng khắp sân trường, phòng học….

    Trước hiện thực ấy, người hiệu trưởng tỏ thái độ thờ ơ cũng chẳng sao vì hiệu trưởng đã có lệnh cho giáo viên chủ nhiệm, tổng phụ trách đội thực hiện rồi. Để mặc cho đội ngũ thử hỏi phương pháp giáo dục có bằng mình không? (giáo viên còn lo giảng dạy, kinh nghiệm chưa nhiều, còn việc gia đình nữa…).

    Người hiệu trưởng tắc trách trong việc giáo dục đạo đức học sinh thì thật là tai hại, nền móng cơ sở của nhà trường sẽ đổ vỡ hay còn có nghĩa là ” vỡ trận”.

    Trong lớp, khi đang học có em hay nói ngang, nói leo, ngũ trên bàn, chạy chỗ này qua chỗ khác, xô đẩy bàn, không làm bài cũ, không học bài mới hỏi làm sao giáo viên dạy được?

    Em này mất tiền, em kia mất máy tính Casio, đánh lộn nhau thì an ninh của lớp học, của trường sẽ yên ổn sao? Người đời đã dạy: “Ăn ngon không bằng ở yên” hoàn toàn đúng.

    Nhìn vào một nhà trường, trước hết phải xem phong quang có sạch sẽ không? Nề nếp dạy và học, nét mặt của giáo viên và học sinh đã phản ánh phần nào về phong trào tốt hoặc chưa tốt của nhà trường!

    Muốn có phong trào, muốn đạt được chất lượng giáo dục thì người hiệu trưởng phải đi tiên phong, phải vào cuộc mới giáo dục được học sinh.

    Thực tế cho thấy: khi học sinh vi phạm đạo đức nằm ở trong khung kỷ luật từ phê bình đến đuổi học có thời hạn phải mất ít nhất bốn buổi để giải quyết nên rất mất thời gian (gọi học sinh đến tự viết bản kiểm điểm, đưa ra lớp kiểm điểm, nhà trường mời phụ huynh đến trao đổi lỗi sai của học sinh, họp hội đồng kỷ luật nhà trường).

    Biết mất thời gian nhưng phải làm, làm để giáo dục những em vi phạm và những em khác lấy đó để rút kinh nghiệm. Trong thời gian làm quản lý ở trường THCS, bản thân tôi thực hiện biện pháp sau đối với học sinh vi phạm đạo đức:

    – Nắm được lỗi sai, hoàn cảnh của gia đình học sinh, hiểu tâm lý các em.

    – Gọi lên phòng hiệu trưởng (từng em) để trao đổi. Hình thức nhỏ nhẹ, gợi mở, chân thành, quan tâm như tình cha với con, đúng nghĩa thầy và trò và trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần cho học sinh. Một số lỗi học sinh vi phạm lần đầu nếu các em thành thật nhận lỗi tôi bỏ qua (có em lấy cắp xe đạp được nhiều người có trách nhiệm thẩm vấn nhưng không có kết quả, tôi gặp gỡ, nói đúng tâm lý, đảm bảo bí mật giữ danh dự thì em đó khai nhận).

    – Những em vi phạm nhiều lần, hiệu trưởng yêu cầu giáo viên chủ nhiệm đưa ra lớp kiểm điểm. Bản thân học sinh vi phạm tự nhận mức kỷ luật, lớp và giáo viên chủ nhiệm đề nghị hình thức kỷ luật.

    – Mời phụ huynh lên gặp nhà trường để trao đổi, dự báo cho phụ huynh biết mức kỷ luật để phụ huynh hiểu, thỏa mãn khi hiệu trưởng ra hình thức kỷ luật.

    – Họp hội đồng kỷ luật học sinh: Thành viên hội đồng kỷ luật nắm được khuyết điểm của học sinh, thống nhất hình thức kỷ luật, ra QĐ kỷ luật.

    Phương châm giáo dục lấy khen thưởng, tuyên dương là chủ yếu, trách phạt là thứ yếu nhưng khi cần thiết phải kiên quyết thực hiện kỷ luật để giáo dục, răn đe. Trong năm học, tôi đó ra quyết định kỷ luật 10 em với các lỗi vi phạm: Chơi game, chơi ăn tiền, vô lễ với thầy cô giáo… với hình thức phê bình, khiển trách, cảnh cáo, buộc thôi học có thời hạn.

    Trong thời gian học sinh bị kỷ luật, HT bố trí một số giáo viên dày dạn kinh nghiệm theo dõi giúp đỡ thêm để học sinh nhanh chóng tiến bộ.

    2.2.3. Nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên chủ nhiệm nói riêng trong việc giáo dục đạo đức học sinh:

    Trong nhà trường, giáo viên là lực lượng giáo dục chủ yếu, giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động giáo dục, là “bộ máy chính” để thực hiện thành công nhiệm vụ giáo dục đạo đức được quán triệt sâu sắc trong từng tiết lên lớp, trong từng hoạt động cụ thể.

    Giáo viên bộ môn, theo Điều lệ trường học, có nhiệm vụ dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giảng dạy, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục.

    Mỗi biểu hiện sai trái của học sinh trong 1 tiết học, giáo viên bộ môn cần tìm hiểu, nắm bắt nguyên nhân, tránh mạt sát học sinh, bắt học sinh đứng suốt buổi sau tường hoặc đuổi học sinh ra khỏi lớp và phải phản ánh kịp thời cho giáo viên chủ nhiệm để cùng phối hợp giáo dục, có trách nhiệm cùng tham gia ý kiến trong việc đánh giá hạnh kiểm học sinh. Trong thực tế vẫn còn hiện tượng giáo viên bộ môn chỉ có biết dạy, hết tiết là xong, nề nếp lớp mình dạy thế nào không cần biết cho đó là của GVCN thì thật là tắc trách và vô trách nhiệm.

    GVCN là người được Hiệu trưởng giao trọng trách quản lý một lớp. GVCN phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, trách nhiệm cao, nhiệt tình kiên trì, gần gũi yêu thương học sinh, có khả năng tổ chức tập hợp và được phụ huynh, học sinh tin cậy, kính trọng. GVCN là người hiểu hoàn cảnh học sinh hơn ai hết, hiểu rõ nguyên nhân học sinh vi phạm đạo đức và có nghệ thuật trong việc giáo dục học sinh. Nhẹ nhàng tâm sự, gọi riờng gúp ý, kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để giáo dục, tổ chức lớp giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần, khích lệ biểu dương khi thấy HS có dấu hiệu tiến bộ.

    Hàng tháng, kì, năm tổ chức cho học sinh bình bầu hạnh kiểm cho nhau. Việc làm này có ý nghĩa là tạo ra sự dân chủ thật sự trong học sinh. Chính các em tự giáo dục lẫn nhau. Cuối tháng, GVCN nộp danh sách những HS có hạnh kiểm TB, yếu cho Tổng phụ trách Đội để cùng phối hợp giáo dục HS. GVCN chỉ quyết định xếp loại hạnh kiểm HS khi đã có danh sách dự kiến xếp loại của GV dạy môn GDCD và họp với các em tổ trưởng trên tinh thần khách quan, công bằng.

    2.2.4. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Chi đoàn, của Tổng phụ trách Đội:

    Đoàn thanh niên trong Nhà trường là tổ chức đoàn thể có sức thu hút, là chỗ dựa tin cậy của học sinh. Để hoàn thanh nhiệm vụ chính trị của mình, Đoàn phải luôn luôn cải tiến phương pháp, nội dung chương trình hoạt động cho phù hợp, đáp ứmg với nhu cầu, sở thích của học sinh. Việc thu hút tuổi trẻ với tổ chức Đoàn vì mục tiêu lí tưởng của Đảng là một vấn đề quan trọng trong hoạt của Đoàn thanh niên.

    Đoàn phải xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác tuyên truyền , giáo dục, rèn luyện, làm lễ trưởng thành Đội cho học sinh lớp 9, chủ động mở các lớp tìm hiểu về Đoàn, tổ chức kết nạp thanh niên đủ điều kiện, có nguyện vọng vào Đoàn để Chi đoàn tăng thêm về số lượng, chính là tăng thêm về nhân tố tích cực, đi đầu trong mọi hoạt động và cảm hóa, giúp đỡ những học sinh chậm tiến.

    Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục lí tưởng, truyền thống, pháp luật, ý thức công dân cho học sinh, nâng cao nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của đất nước và tương lai của tuổi trẻ, xây dựng ý thức trách nhiệm, tự chủ vượt khó, học tập, rèn luyện, có hoài bão và khát vọng vươn lên, nắm vững kiến thức và làm chủ khoa học công nghệ vì sự nghiệp phát triển của thanh thiếu niên, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Xây dựng và phát động phong trào thi đua theo chủ điểm từng tháng dựa vào các ngày lễ lớn: 20/11, 22/12, 3/2 , 8/3, 26/3, 30/4, 1/5, 7/5,15/5, 19/5…. Nội dung các phong trào thiết thực, hấp dẫn, có sức thu hút, có phát, có động, có tổng kết đánh giá, khen chê kịp thời. Tổ chức tìm hiểu về Đảng, Đoàn, Quân đội, truyền thống địa phương, nhà trường để các em tự hào noi theo, về căn bệnh thế kỷ như HIV/AIDS, an toàn giao thông, ma túy… giúp học sinh có kiến thức phòng chống.

    Tổng phụ trách Đội, ngoài nội dung thực hiện chức năng theo qui định, còn được Hiệu trưởng giao cho nhiệm vụ quan trọng là kiểm soát cho được những học sinh có hành vi chưa tốt như hay bỏ tiết bỏ buổi, gây gỗ đánh nhau, chơi game chát, ăn cắp, vô lễ, vi phạm nội quy bảo vệ CSVC, sử dụng điện, ATGT, phòng chống đuối nước, tai nạn thương tích, vệ sinh môi trường…Tổ chức phát thanh Măng non nhân các ngày 20/11, 22/12, 3/2, 26/3 và 30/4 nhằm tuyên truyền ý nghĩa các ngày lễ đồng thời biểu dương học sinh có thành tích và nhắc nhở những học sinh vi phạm.

    Lỗi vi phạm của học sinh rất đa dạng. Có lỗi nhẹ, mới vi phạm lần đầu nhưng cũng có lỗi nặng lặp đi lặp lại nhiều lần. Trước hiện thực ấy, người TPT nếu bàng quan, chủ quan, thờ ơ hoặc có giải quyết nhưng mang tính chất chiếu lệ cho có thì thật là tai hại. Học sinh vẫn vi phạm, nề nếp của trường bị phá vỡ, trật tự trường học lộn xộn sẽ tác động không nhỏ đến chất lượng dạy và học.

    Cuối mỗi tháng, TPT nắm và tập hợp thống kê học sinh bị xếp HK trung bình, yếu

    (từ GVCN báo) để đầu tháng sau, tổ chức gặp gỡ tư vấn cho học sinh. Trong công tác tư vấn, TPT phải thân thiện, chỉ cho học sinh thấy rừ khuyết điểm và định hướng cho học sinh sửa chữa khắc phục. TPT làm tốt công tác tham mưu cho HT về việc xếp loại HK học sinh vào cuối kỳ, cuối năm.

    2.2.5. Xây dựng môi trường giáo dục:

    Môi trường giáo dục là nơi giúp học sinh phấn đấu rèn luyện toàn diện, chuẩn mực về đạo đức, tránh xa tệ nạn xã hội. Ban giám hiệu chú trọng xây dựng môi trường giáo dục: Xây dựng trường xanh, sạch, đẹp có tường rào, cổng trường, sân chơi bãi tập, áp phích tuyên truyền, ghế đá, khu vực vệ sinh, có cây cảnh bóng mát, kết hợp với địa phương làm tốt công tác vệ sinh môi trường tạo không khí trong lành cho học sinh.

    Nhà trường luôn tạo ra khoảng không gian bình yên cho học sinh là nơi giao tiếp văn minh, tình nhân ái, lòng yêu thương con người …

    Lãnh đạo nhà trường bàn bạc, thống nhất, có bản cam kết với Hội cha mẹ học sinh. Bản cam kết nêu cụ thể trách nhiệm của nhà trường, của hội cha mẹ học sinh đối với việc giáo dục học sinh.

    Trong quá trình làm việc, nhà trường, giáo viên chủ nhiệm thông tin kịp thời tình hình học sinh cho phụ huynh biết để có phương án phối hợp giáo dục.

    Đối với chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương, Hiệu trưởng đó tranh thủ các diễn đàn để phát biểu ý kiến nhằm tranh thủ sự đồng tình từ phía lãnh đạo địa phương về phương án phối hợp giáo dục một cách có trách nhiệm, chặt chẽ, hiệu quả. Bởi sự tham gia của Xã đoàn, Công an, Mặt trận xó với chính quyền thôn với Ban giám hiệu nhà trường trong việc kiểm tra các quán Internet nên số lượng học sinh chơi game, đánh nhau giảm nhiều hoặc học sinh đánh nhau, gây rối, tham gia giao thông bất cẩn… cũng được công an xó nhắc nhở, giáo dục.

    KẾT QUẢ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM CUỐI NĂM NĂM HỌC 2013-2014:

    3. Phần kết luận:

    3.1. Ý nghĩa của sáng kiến:

    Sự nghiệp đổi mới của đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đến nay đã thu được những thành tựu to lớn về chính trị, văn hoá xã hội, ngoại giao và kinh tế. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Sự nghiệp đổi mới đang ở giai đoạn đầu, thuận lợi, thời cơ có nhiều nhưng thách thức, khó khăn cũng lắm nhất là mặt trái, cái tiêu cực đang hàng ngày hàng giờ ảnh hưởng đến nhân cách của một bộ phận học sinh. Công tác giáo dục đạo đức tư tưởng cho học sinh trong trường học là nhiệm vụ hết sức quan trọng đòi hỏi mọi người, mọi ngành nhất là ngành giáo dục, các nhà trường vì con em mà có những kế sách, tìm ra những biện pháp hữu hiệu để giáo dục đạo đức cho học sinh. Nhà trường phải là nơi giáo dục rèn luyện đạo đức cho học sinh nhằm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Người học sinh phải được đào tạo cả đức lẫn tài.

    Thế hệ học sinh trong các trường THCS hiện nay đang được hưởng chế độ ưu việt nhờ sự chăm lo của Đảng và Nhà nước. Các em là chủ nhân tương lai của đất nước. Vì thế, Chi bộ Đảng, Nhà trường, Đoàn thanh niên, Công đoàn, gia đình, xã hội phải thực sự hết sức quan tâm dành sự ưu ái nhất cho việc giáo dục các em trở thành những con người có niềm tin yêu sự nghiệp vĩ đại của dân tộc mình, tin yêu Đảng, ra sức học tập, rèn luyện để khi ra trường cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Hơn ai hết, người Hiệu trưởng phải nhận thức, xác định giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ hàng đầu trong nhà trường, nhất là trường THCS. Thật sự quan tâm, thể hiện trách nhiệm một cách cụ thể đối với từng học sinh vi phạm đạo đức. Đối xử với các em nhẹ nhàng, thân mật, gợi mở để học sinh tự nhận ra lỗi vi phạm và định hướng cho học sinh hướng khắc phục. Theo dõi thấy các em tiến bộ kịp thời biểu dương động viên. Tạo ra sức mạnh tổng hợp, vòng tròn khép kín để giáo dục học sinh. Đó là: Tập thể lớp, đội ngũ thầy cô giáo nhất là GVCN, Tổng phụ trách Đội, phụ huynh, chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương.

    Với sự nghiên cứu trên cơ sở lý luận kết hợp với thực tiễn trong thời gian làm quản lý, bằng những biện pháp vận dụng có hiệu quả ở trường THCS do tôi quản lý, rất mong được sự góp ý của Hội đồng khoa học nhà trường, Hội đồng khoa học ngành Giáo dục-Đào tạo Lệ Thủy góp ý, giúp đỡ để SKKN của tôi hoàn chỉnh hơn trong quản lý về công tác giáo dục đạo đức đối với học sinh ở trường THCS.

    3.2, Kiến nghị, đề xuất :

    – Toàn thể HĐSP xác định giáo dục đạo đức cho học sinh là việc làm hết sức có ý nghĩa quan trọng nên thực hiện đồng bộ, có trách nhiệm.

    – UBND xã có kế hoạch chỉ đạo việc kiểm tra học sinh chơi gem ở các quán inter vì đây là môi trường tiêu cực nhiều nhất.

    SKKN trên đã được thực hiện tại trường mà tôi là người áp dụng đã đem lại những kết quả khả quan. Biết rằng còn thiếu sót kính mong HĐ xét SKKN của Trường, Ngành góp ý thêm cho SKKN của tôi được hoàn chỉnh.

    Xin trân trọng cám ơn !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thpt
  • Giải Pháp Vấn Đề Gia Tăng Dân Số
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Tăng Dân Số?
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Lớp 2
  • Đề Tài Một Số Đề Xuất Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Skkn Lớp 1: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 1 0103004 Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3 Trường Tiểu Học Võ Thị Sáu Thông Qua Môn Đạo Đức Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Xuất phát từ thực trạng của công tác giáo dục cho học sinh của trường THCS Long Thới, qua việc nghiên cứu lý luận, tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn đơn vị xin đề ra các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay như sau:

    I . Xây dựng trong nhà trường một môi trường thật tốt để giáo dục đạo đức cho học sinh

    Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh là: cảnh quan sư phạm, làm sao để nhà trường thật sự là “nhà trường”, tự đúng nghĩa của nó là mang yếu tố giáo dục. Giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo vì nó định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục hình thành nhân cách của học sinh, khai thác có chọn lọc những tác động tích cực và ngăn chặn những tác động tiêu cực từ gia đình và xã hội.

    Bieän phaùp giaùo duïc ñaïo ñöùc hoïc sinh THCS Xuất phát từ thực trạng của công tác giáo dục cho học sinh của trường THCS Long Thới, qua việc nghiên cứu lý luận, tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn đơn vị xin đề ra các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay như sau: I . Xây dựng trong nhà trường một môi trường thật tốt để giáo dục đạo đức cho học sinh 1. Ý nghĩa Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh là: cảnh quan sư phạm, làm sao để nhà trường thật sự là "nhà trường", tự đúng nghĩa của nó là mang yếu tố giáo dục. Giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo vì nó định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục hình thành nhân cách của học sinh, khai thác có chọn lọc những tác động tích cực và ngăn chặn những tác động tiêu cực từ gia đình và xã hội. 2. Nội dung a. Tổ chức, sắp xếp, tu sửa, trang điểm bộ mặt vật chất, khung cảnh của nhà trường làm sao cho toàn trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục đối với học sinh. b. Tạo nên bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một phong cách sinh hoạt của nhà trường , biểu hiện như sau: Nề nếp tốt: trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc. Có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa học sinh với nhau. Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh. Học sinh không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi bậy, không tham gia vào tệ nạn xã hội. 3. Cách làm a. Đối với laõnh ñaïo nhaø tröôøng Phải xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ngay từ đầu năm học trên cơ sở dựa vào tình hình thực trạng đạo đức của học sinh, tình hình thực tế của địa phương để định ra, nội dung, biện pháp, thời gian, chỉ tiêu cho phù hợp. Phải thường xuyên nắm tình hình tư tưởng đạo đức của học sinh một cách cụ thể bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và những tình hình có tính chất thời sự, cá biệt có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với học sinh. Thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, đầu tư ngân sách để cải tạo cảnh quang sư phạm: trồng cây xanh, hoa kiểng, trang trí các khẩu hiệu, nội quy của từng phòng học và trong khu vực trường, xây dựng cổng rào an toàn cho học sinh. Thường xuyên tổ chức lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh thông qua buổi lao động cần giáo dục đầy đủ mục đích, ý nghĩa công việc cho học sinh, phải có phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị lớp, quy định rõ thời gian và kết quả phải đạt được, phải có kỷ luật, trật tự, không khí tươi vui, biểu dương kịp thời những học sinh tốt, tập thể lớp tốt. Tổ chức họp tham khảo ý kiến hội đồng giáo viên để đưa ra những quy định cụ thể về nội quy nhà trường, nhiệm vụ của học sinh. Kết hợp với chính quyền địa phương giải tỏa các hàng quán trước cổng trường, các điểm vui chơi giải trí và truy cập internet xung quanh trường theo đúng quy định của ngành chức năng. Tổ chức các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, bảo đảm tính công bằng, trung thực, phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp thành những tập thể vững mạnh, có lực lượng cốt cán làm nòng cốt, làm hạt nhân cơ bản của lớp, là trợ thủ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm. b. Đối với giáo viên Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh. Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương cho học sinh noi theo. c. Đối với Đoàn đội: Chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tổ chức tốt phong trào thi đua học tập, rèn luyện đội viên theo năm điều Bác Hồ dạy. Tổ chức sinh hoạt đội hàng tuần vào ngày thứ năm, tạo sân chơi lành mạnh cho các em. Giáo dục tinh thần yêu nước cho các em thông qua việc sưu tầm địa chỉ đỏ, thăm viếng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng. II. Nâng cao vai trò, vị trí và chất lượng giảng dạy bộ môn GDCD ở trường THCS Long Thới 1. Ý nghĩa Môn GDCD có vai trò, vị trí rất quan trọng trong giáo dục nhân cách học sinh, đặc biệt trong việc xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân cho học sinh THCS, vì thông qua các bài học người giáo viên sẽ trang bị, hình thành cho học sinh những phẩm chất, những chuẩn mực, hành vi đạo đức cần thiết trong cuộc sống một cách có hệ thống, đúng phương pháp, đúng quy trình. Trong thực tế hiện nay của trường môn GDCD chưa được hoïc sinh xem trọng, Việc đưa ra những biện pháp để nâng cao vai trò, vị trí và chất lượng giảng dạy môn GDCD ở trường THCS Long Thới là một việc làm có ý nghĩa đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. 2. Nội dung: a. Làm cho Cha mẹ học sinh, cán bộ giáo viên của trường nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của môn GDCD đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay. b. Giáo viên là lực lượng quyết định việc nâng cao chất lượng giáo dục, do đó giáo viên nhất là giáo viên dạy GDCD phải được đào tạo chính quy đúng chuyên ngành giảng dạy, phải thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phải có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của môn GDCD, phải xác định được trách nhiệm của bản thân, chú trọng đầu tư cho giảng dạy . c. Giáo viên dạy môn GDCD cần quán triệt mục tiêu môn học trong quá trình dạy học. Phải nắm rõ cái đích cuối cùng cần đạt được trong dạy học GDCD là hành động phù hợp với các các chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Nếu học sinh không có chuyển biến trong hành động thì việc dạy học không đạt hiệu quả. d. Chương trình môn GDCD là sự nối tiếp việc dạy và học môn đạo đức ở tiểu học, đồng thời chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên trên hoặc đi vào cuộc sống lao động Chương trình được xây dựng theo nguyên tắc phát triển từ thấp đến cao về nhận thức và tu dưỡng đạo đức của học sinh trong suốt quá trình học tập ở nhà trường, các hành vi cơ bản của học sinh được học ở tiểu học sẽ được phát triển thành phẩm chất và bổn phận đạo đức ở THCS. Do đó để nâng cao vai trò vị trí, chất lượng dạy và học môn GDCD thì Ban giám hiệu và giáo viên dạy GDCD cần phải nghiên cứu quán triệt đầy đủ tinh thần của chương trình, thường xuyên học tập và nghiên cứu để nâng cao kiến thức chuyên môn. e. Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD theo hướng phát huy tính tích cực và tương tác là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao vai trò, vị trí và chất lượng dạy và học môn GDCD ở trường THCS Từ những sự đổi mới của chương trình SGK thì việc giảng dạy môn GDCD ở nhà trường đòi hỏi phải thực sự đổi mới về phương pháp, quá trình dạy học phải là quá trình tổ chức cho học sinh hoạt động. Với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài học, tránh lối dạy thiên về lý thuyết trừu tượng, khô khan áp đặt. Các nội dung giáo dục phải được chuyển tải đến học sinh một cách nhẹ nhàng, sinh động qua các hoạt động: xây dựng tình huống pháp luật, phân tích, xử lý các tình huống, các thông tin, sự kiện, liên hệ đánh giá bản thân và những người khác đối chiếu với các chuẩn mực đã học, điều tra, tìm hiểu, phân tích đánh giá một số hiện tượng trong đời sống thực tiễn của lớp, của xã hội. Kết hợp hài hòa giữa việc trang bị kiến thức với bồi dưỡng tình cảm và luyện tập kỹ năng, hành vi cho học sinh. Dạy học môn GDCD cho học sinh theo tinh thần đổi mới phương pháp cần thực hiện theo các phương pháp tiếp cận: tiếp cận hoạt động, tiếp cận cùng tham gia, tiếp cận kỹ năng sống. Việc dạy học môn GDCD phải gắn liền với việc dạy các môn học khác trong và ngoài nhà trường. g. Thiết kế bài giảng là một công việc quan trọng của người giáo viên dạy GDCD nhằm đảm bảo kết quả của việc dạy học, giúp cho người giáo viên tự tin hơn, ứng phó kịp thời và đúng đắn trước những sự cố có thể xảy ra trong quá trình dạy học. Do đó trong công tác thiết kế bài giảng môn GDCD giáo viên cần đổi mới cách thiết kế bài giảng theo đúng tinh thần của phương pháp giảng dạy mới. h. Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn GDCD là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Kiểm tra đánh giá phải chú trọng đến kiểm tra thái độ, tình cảm, các kỹ năng nhận xét đánh giá, phân biệt đúng sai, khả năng vận dụng và thực hành trong cuộc sống. Qua việc kiểm tra đánh giá phải giúp đỡ học sinh thấy rõ được năng lực học tập môn học của bản thân, động viên khuyến khích học sinh học tập môn học và giúp giáo viên thấy rõ năng lực học tập của từng học sinh để điều chỉnh việc dạy cho phù hợp. Cách làm a. Đối với caáp laõnh ñaïo Tham mưu với UBND xã tổ chức chuyên đề về giáo dục đạo đức học sinh cho cán bộ, đảng viên và giáo viên trong toàn xã, thông qua đó quán triệt nhận thức nâng cao vai trò vị trí của bộ môn GDCD trong nhà trường. Đầu tư mua sắm sách, báo, tài liệu, trang bị tủ sách pháp luật, tạo điều kiện tốt cho giáo viên tham khảo và cập nhật kiến thức phục vụ giảng dạy bộ môn GDCD. b. Đối với giáo viên dạy môn GDCD Phải tự rèn luyện bản thân để có những phẩm chất và năng lực của người giáo viên, có trình độ chuyên môn và năng lực giảng dạy tốt. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực và tương tác của học sinh. Nghiên cứu nắm vững các văn bản quy định về chương trình giảng dạy môn GDCD, chế độ cho điểm đánh giá chất lượng bộ môn. Trong điều kiện hiện nay nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, giáo viên dạy môn giáo dục công dân cần tích cực sưu tầm, sáng tạo đồ dùng dạy học tự làm, cải tiến đồ dùng dạy học hiện có để gây hứng thú cho học sinh khi học trên lớp. Khi dạy trên lớp giáo viên dạy môn GDCD cần thường xuyên quan sát hành động và thái độ học tập, hành vi đạo đức của học sinh để đưa ra những kết luận đúng đắn về tình hình lớp giúp ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm nắm để có biện pháp kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra. Trong kiểm tra ngoài việc cho đề kiểm tra giống như các môn khác giáo viên dạy GDCD cần thiết kế thêm các bài tập tình huống, lập kế hoạch. II. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Ý nghĩa GVCN có vai trò rất to lớn trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, vì GVCN là người quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách, là cầu nối giữa Ban giám hiệu với các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể lớp, là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của lớp, đồng thời là người đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của trường. Xuất phát từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện pháp giúp GVCN định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay. 2. Nội dung a. Tìm hiểu đặc điểm tình hình lớp, tình hình học sinh là góp phần cho công tác chủ nhiệm đạt kết quả cao - Đầu năm học GVCN phải có những thông tin khái quát về gia đình học sinh như: nơi ở, hoàn cảnh sống, lối sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, giáo dục của gia đình, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, quan hệ của gia đình láng giềng. Việc tìm hiểu này sẽ giúp GVCN kết hợp tốt với gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đầu năm học GVCN phải nắm được đặc điểm học sinh về: sức khỏe, đạo đức, năng lực học tập, động cơ học tập, quan hệ của học sinh với cha mẹ, Ông bà, anh chị em trong gia đình, ở trường với thầy cô và ngoài xã hội, cộng đồng. Việc tìm hiểu học sinh về mọi mặt là rất cần thiết nhưng GVCN phải thấy được nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. GVCN phải tìm hiểu năng lực học tập, hoạt động, mối quan hệ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, sự đoàn kết của lớp mình chủ nhiệm. b. Nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học Để vận dụng tốt vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học. Để cho học sinh thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong phong trào chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thực hiện của trườnmg trong tuần, tháng học kỳ và cả năm học. Phải nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng và phối hợp tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương. Keát luaän Trước thực trạng đạo đức hiện nay của học sinh trường THCS có chiều hướng giảm sút nghiêm trọng, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là đòi hỏi cấp bách của xã hội để xây dựng hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Sự Tăng Dân Số Có Liên Quan Như Thế Nào Đến Chất Lượng Cuộc Sống? Ở Việt Nam Đã Có Biện Pháp Gì Để Giảm Sự Gia Tăng Dân Số Và Nâng Cao Chất Lượng Cuộc Sống?
  • Nêu Những Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Gia Tăng Dân Số Hiên Nay?
  • Trách Nhiệm Của Nhà Nước Trong Vấn Đề Giải Quyết Việc Làm
  • Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • (Thvl) Nạn Đói Ở Vùng Sừng Châu Phi: Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • Hành Động Vì Một Thế Hệ Không Nạn Đói
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Để Hạn Chế Tai Nạn Giao Thông Dịp Tết Ất Mùi 2022
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ, Biên Giới Quốc Gia
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh
  • ò chuyện với học sinh hoặc nhóm học sinh để khuyến khích động viên những hành vi cử chỉ đạo đức tốt của các em, khuyên bảo, uốn nắn những mặt chưa tốt. .Phương pháp rèn luyện Là những phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện cho các em những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm đạo đức của các em thành hành động thực tế: Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà trường: dạy học trên lớp, lao động, hoạt động xã hội đoàn thể và sinh hoạt tập thể. Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường là biện pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích thích bên trong của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở thành người có đạo đức tốt, vì vậy nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và động viên học sinh tham gia tốt phong trào này. Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ hoạt động có hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính ham hoạt động của trẻ và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư xấu nào đó bằng cách gây cho học sinh hứng thú với một hoạt mới bổ ích, lôi kéo trẻ ra ngoài những tác động có hại. .Phương pháp thúc đẩy Là phương pháp dùng những tác động có tính chất " cưỡng bách đạo đức bên ngoài " để điều chỉnh, khuyến khích những " động cơ kích thích bên trong" của học sinh nhằm xây dựng đạo đức cho học sinh. Những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với học sinh, vừa là những điều lệnh có tính chất mệnh lệnh đòi hỏi học sinh tuân theo để có những hành vi đúng đắn theo yêu cầu của nhà trường. Khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng của học sinh làm cho bản thân học sinh đó vươn lên hơn nữa và động viên khuyến khích các em khác noi theo. Xử phạt : là phê phán những khiếm khuyết của học sinh, là tác động có tính chất cưỡng bách đến danh dự lòng tự trọng của cá nhân học sinh để răn đe những hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của học sinh đó và những học sinh khác. Do đó phải thận trọng và đúng mực, không được lạm dụng phương pháp này. Khi xử phạt cần phải làm cho học sinh thấy rõ sai lầm, khuyết điểm, thấy hối hận và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên học sinh sửa chữa khuyết điểm, cần phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng không có lời nói, cử chỉ thô bạo đánh đập, xỉ nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến thân thể học sinh. Chương II Thực trạng của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THCS Thừa Đức 2.1. Tình hình chung Đặc điểm Xã Thừa Đức là một xã vùng biển của Huyện Bình Đại có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, dân cư phân bố không đồng đều. Phía đông giáp Biển Đông, tây giáp xã Thạnh Phước, nam giáp xã Bình Thắng, bắc giáp xã Thới Thuận. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1162 ha, gồm 4 ấp, dân số toàn xã là 8473 người gồm 1876 hộ. Người dân sống chủ yếu bằng nghề làm giồng, đánh bắt thủy sản, làm thuê, thu mua thủy sản, khai thác nghiêu ... Tình hình giáo dục của xã những năm qua có nhiều chuyển biến tốt, người dân bắt đầu có sự quan tâm đến giáo dục. Hệ thống trường lớp có nhiều phát triển, toàn xã có hai trường tiểu học, một trường mẫu giáo và một trường THCS. Trường THCS Thừa Đức đóng trên địa bàn ấp Thừa Long của xã, rất thuận lợi cho học sinh đi học. Năm học 2009-2010 này trường có 12 lớp với tổng số học sinh là 436 em . Tổng số giáo viên của trường là 30 người, đáp ứng đủ cho việc phân công giảng dạy. Thuận lợi Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, UBND, sự hỗ trợ nhiệt tình các ban ngành đoàn thể địa phương, nhất là sự tận tình giúp đỡ của Cán bộ và chiến sĩ đồn Biên phòng 594 đóng trên địa bàn. Được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Phòng giáo dục và đào tạo huyện Bình Đại. Đội ngũ cán bộ và giáo viên của trường đều qua trường lớp sư phạm chính quy từ đạt chuẩn đến trên chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ. Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học môn GDCD đã và đang đổi mới đây là một trong những môn có chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp dạy học, dạy học đạo đức thông qua bộ môn GDCD được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, là đòi hỏi cấp bách của xã hội đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Chương trình Sách giáo khoa GDCD mới có nhiều đổi mới về mục tiêu, cấu trúc, sự đổi mới này rất thích hợp cho giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD cho học sinh. Thông qua bài học học sinh có thể tự hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo tìm tòi phát hiện và chiếm lĩnh nội dung bài học. Được sự đồng tình của xã hội, nhất là các bậc Cha mẹ học sinh tích cực phối hợp cùng với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Khó khăn - tồn tại Trường chỉ có một giáo viên dạy môn giáo dục công dân /12 lớp, rất khó cho việc giảng dạy và dự giờ rút kinh nghiệm lẫn nhau. Là địa bàn có khu du lịch sinh thái biển nên rất phức tạp về tệ nạn xã hội, tình hình thanh thiếu niên lêu lỏng bên ngoài lôi kéo học sinh uống rượu, đánh nhau đã ảnh hưởng không ít đến đạo đức học sinh. Cơ sở vật chất của trường còn nghèo nàn, chưa có hàng rào bao quanh rất khó quản lý giờ giấc của các em. 2.2. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường trong năm học 2009-2010 Những việc trường đã làm trong năm học 2.2.1.1. Các hoạt động ngoại khóa Trường đã tổ chức cho học sinh tham gia tích cực các hoạt động giáo dục theo quy định của biên chế năm học 2009-2010 do Sở giáo dục và đào tạo Bến Tre cụ thể như sau: Giáo dục an toàn giao thông từ tháng 9 đến hết năm học, đã mời được đội cảnh sát giao thông Công an huyện Bình Đại, công an xã Thừa Đức đến tuyên truyền về an toàn giao thông 2 cuộc có 840 học sinh và 27 cán bộ giáo viên tham dự. Hàng tuần trường đều tổ chức sinh hoạt đội vào ngày thứ năm nhằm giáo dục các em làm theo 5 điều Bác Hồ dạy, trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, công dân tốt, trở thành đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh . Tổ chức thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong học sinh. Trong năm học 2009-2010 các hoạt động ngoại khóa của trường phong phú nhiều hình thức, lôi cuốn học sinh có tác dụng giáo dục, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt cho học sinh, xây dựng lối sống tập thể, tinh thần hợp tác, tương trợ và ý thức chấp hành nội quy nhà trường và pháp luật xã hội. 2.2.1.2. Các hoạt động giáo dục lao động, hướng nghiệp Giáo dục lao động: trường tổ chức cho học sinh lao động hàng tuần, thu dọn vệ sinh môi trường, trồng hoa kiểng cải tạo cảnh quang sư phạm. Thông qua các buổi lao động giáo dục cho học sinh tinh thần kỷ luật, biết thương yêu và kính trọng người lao động. Giáo dục hướng nghiệp: trường chỉ dạy hướng nghiệp cho học sinh khối 9 theo chương trình quy định của Bộ giáo dục và đào tạo, các khối khác thì chủ yếu lồng ghép vào bộ môn nhằm thông qua đó giáo dục cho học yêu nghề nghiệp, biết tự chọn được nghề nghiệp của mình. Giáo dục thẩm mỹ : Thông qua bộ môn Mỹ thuật giáo dục cho các em biết cảm nhận được cái đẹp chân chính. 2.2.1.3. Việc giảng dạy chương trình môn GDCD của trường Trường đã tổ chức thực hiện giảng dạy môn giáo dục công dân đầy đủ theo đúng quy định của chương trình, có lồng ghép giáo dục pháp luật vào bộ môn. Tuy nhiên thực tế việc dạy và học môn giáo dục công dân ở trường còn nhiều khó khăn, bất cập nên hiệu quả giáo dục của môn học còn thấp. Môn giáo dục công dân từ trước đến nay chưa được coi trọng, nhiều giáo viên, học sinh, Cha mẹ học sinh vẫn xem đây là môn học phụ. Nguyên nhân: thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân chủ yếu sau: Trường chỉ có một giáo viên dạy GDCD/ 12 lớp chưa được dự giờ đồng nghiệp để rút kinh nghiệm, nên có nhiều khó khăn lúng túng về phương pháp, về soạn giảng và nghiên cứu, rút kinh nghiệm giờ dạy. Giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ, vị trí vai trò của môn học, còn xem nhẹ nên chưa chú trọng đầu tư công sức, thời gian để dạy tốt, chủ yếu chỉ đầu tư vào môn chính mình được đào tạo. Tâm lý chung của mọi người trong đó có Cha mẹ học sinh cho rằng đây là môn học phụ, kết quả học tập không quan trọng lắm. Kết quả học tập môn GDCD: Khối TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL 6 119 78 65.5% 22 18.5% 19 16% 00 00 7 116 82 70.7% 24 20.7% 10 8.6% 00 00 8 93 82 88.2% 11 11.8% 00 / 00 00 9 108 46 42.6% 42 38.9% 20 18.5% 00 00 TC 436 288 66.1% 99 22.7% 49 11.2% 00 00% 00 00% 2.2.1.4. Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm Tầm quan trọng của công tác giáo viên chủ nhiệm đối với công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường: Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng chính trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh là người quản lý mọi hoạt động của lớp học, là người triển khai mọi hoạt động của trường của nhà trường đến từng lớp, từng học sinh. Do đó trong đầu năm học 2009-2010 này Ban giám hiệu trường đã định hướng phân công những giáo viên làm công tác chủ nhiệm theo những tiêu chí sau: Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng và trình độ giác ngộ cách mạng cao. Có uy tín- đạo đức tốt. Giáo viên giỏi, vững tay nghề. Có tầm hiểu biết rộng. Có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề. Thương yêu và tôn trọng học sinh. Có năng lực tổ chức. Những hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trong năm học: Thực hiện các loại sổ theo quy định của ngành: sổ liên lạc, sổ chủ nhiệm, sổ theo dõi đạo đức học sinh ... Tổ chức sinh hoạt lớp cuối tuần, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch thi đua... Kết hợp chặt chẽ với Cha mẹ học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, đoàn TNCS HCM, đội TNTP HCM và các ban ngành đoàn thể địa phương trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Nhận xét, đánh giá, xếp loại Hạnh kiểm và Học lực cho học sinh, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh. Ưu điểm : Trong năm học giáo viên chủ nhiệm thực hiện đầy đủ các loại sổ sách, có lên kế hoạch hoạt động cụ thể hàng tuần, tháng, năm . Kết hợp được nhiều hoạt động, đoàn thể trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Không có học sinh vi phạm đạo đức nghiêm trọng phải nhờ cơ quan chức năng xử lý. Tồn tại: Còn một vài giáo viên chủ nhiệm chưa có tâm huyết với công tác này, tác dụng giáo dục chưa cao, trong lớp vẫn còn học sinh chưa tiến bộ trong rèn luyện đạo đức. Số học sinh chưa ngoan còn nhiều, nhiều em vô lễ giáo viên, đánh bạn. Thiếu sự quan hệ thường xuyên với Cha mẹ học sinh. Nguyên nhân: Một số học sinh có đạo đức yếu kém cha mẹ làm ăn xa nhà nên giáo viên chủ nhiệm không thể đến được gia đình để phối hợp giáo dục. Công tác chủ nhiệm là một công tác khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều cho công tác này, nhưng thực tế giáo viên chủ nhiệm còn phải lo cho công tác chuyên môn. 2.2.1.5. Sự tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh của các giáo viên bộ môn Đầu năm học Ban giám hiệu nhà trường đã quán triệt trên hội đồng giáo viên là trách nhiệm giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ của mọi thành viên trong nhà trường, giáo dục đạo đức cho học sinh là một quá trình thường xuyên, liên tục, diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi. Một giờ dạy trên lớp không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức khoa học cho học sinh mà còn giáo dục cho các em những hành vi, cử chỉ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan khoa học. Ưu điểm : Giáo viên bộ môn có chú ý liên hệ giáo dục đạo đức học sinh thông qua bài học, tiết học. Thường xuyên nhắc nhở uốn nắn những sai phạm của học sinh trong giờ học. Khuyết điểm: Một số giáo viên quá gò bó, đơn điệu khi gán ghép liên hệ giáo dục đạo đức thông qua bài học. Một số giáo viên vẫn còn vi phạm nghe điện thoại, hút thuốc trong khi giảng dạy. 2.2.1.6. Hoạt động gắn liền nhà trường với thực tế đời sống địa phương Những hoạt động: Tổ chức thăm hỏi và tặng quà gia đình thương binh, liệt sĩ, bà mẹ Việt nam anh hùng nhằm giáo dục cho các em truyền thống anh hùng của dân tộc ta, biết kính trọng và giúp đỡ các bạn học sinh là con em những gia đình có nhiều cống hiến cho đất nước. Tổ chức cho các em viết thư thăm hỏi các chú Bộ đội ở đồn biên phòng 594 nhân ngày 22/12 hàng năm . Tổ chức cho học sinh đi cổ động về An toàn giao thông, phòng chống sốt xuất huyết, hiểm họa AIDS. Ưu điểm: Học sinh tham gia đầy đủ, có chất lượng. Phong trào được phát động lớn, có tác dụng giáo dục học sinh, gây ấn tượng tốt với các cơ quan, đoàn thể địa phương. Tồn tại: Phong trào chưa nhiều, chưa có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan đoàn thể địa phương với nhà trường. Chưa có tổng kết đánh giá phong trào, khen thưởng cho cá nhân có thành tích tốt. Chất lượng đạo đức nếp sống của học sinh Nhận xét Kết quả đạt được về phía học sinh là phần lớn các em có được những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức, từng buớc hình thành thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình, yêu thương, tôn trọng con người, mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số bộ phận học sinh chưa ngoan, thường hay vi phạm đạo đức. Thống kê xếp loại Hạnh kiểm của học sinh ở HKI năm học 2009-2010 Khối TSHS Tốt Khá TB Yếu Kém SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL 6 119 107 89.9% 12 10.1% / / / / / / 7 116 88 75.9% 23 19.8% 5 4.3% / / / / 8 93 79 84.9% 8 8.6% 6 6.5% / / / / 9 108 92 85.2% 12 11.1% 4 3.7% / / / / TC 436 366 83.9% 55 12.6% 15 3.5% / / / / Những biểu hiện của thực trạng đạo đức học sinh Tích cực: Đa số học sinh có đạo đức tốt, biết nghe lời cha mẹ, thầy cô, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của lớp, nội quy của trường, biết sống tốt và sống đẹp. Tiêu cực: Một số bộ phận không ít học sinh có biểu hiện chán nản, không thích học, thường xuyên gây mất trật tự trong lớp, nói tục, vô lễ với thầy cô, nói dối thầy cô và bạn bè, giao lưu với đối tượng xấu bên ngoài, uống rượu, đánh nhau. Trong năm học trường đã xử lý kỷ luật 07 trường hợp từ mức cảnh cáo đến đuổi học một tuần. Nguyên nhân tiêu cực: Khách quan: + Do sự bất ổn của gia đình, cha mẹ đi làm ăn xa các em phải ở với nội, ngoại thiếu sự quan tâm và quản lý các em. + Cha mẹ giàu có, nuông chiều cho tiền nhiều, thiếu sự kiểm tra và giáo dục. + Đời sống nhân dân còn khó khăn, tệ nạn xã hội nhiều, cha mẹ học sinh chưa ý thức hết vai trò giáo dục của mình. + Đa số người dân địa phương nghèo phải đi làm thuê để kiếm sống cho cả gia đình. Chủ quan: + Ý thức đạo đức của học sinh chưa cao, kỷ năng vận dụng chuẩn mực đạo đức còn thấp, chưa phân định được ranh giới giữa cái xấu và cái tốt. + Khả năng tự chủ chưa cao, khi vi phạm đạo đức sửa chữa chậm hoặc không chịu sửa chữa. Nhận định chung Mặt mạnh Về phía học sinh có chiều hướng phát triển tốt về mặt tình cảm đạo đức, các em rèn luyện được kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức đúng sai, tự hiểu và vận dụng được một số kiến thức pháp luật trong cuộc sống hàng ngày, không có học sinh vi phạm nghiêm trọng về đạo đức . Về phía giáo viên luôn trao dồi đạo đức Cách mạng, đạo đức nhà giáo, tự học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Mặt yếu Số học sinh gặp khó khăn trong rèn luyện đạo đức vẫn còn nhiều, một số giáo viên chưa thật sự quan tâm đến giáo dục đạo đức thông qua bài học trên lớp, còn thờ ơ vô trách nhiệm khi thấy học sinh có dấu hiệu vi phạm đạo đức. Công tác thiết kế bài giảng của giáo viên dạy GDCD chưa thể hiện sâu nội dung của từng hoạt động, khô khan không gây hứng thú cho học sinh. Chưa phối hợp chặt chẽ ba môi trường trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Chương III Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THCS Thừa Đức. Xuất phát từ thực trạng của công tác giáo dục cho học sinh của trường THCS Thừa Đức, qua việc nghiên cứu lý luận, tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn đơn vị đã đề ra các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay như sau: 1. Xây dựng trong nhà trường một môi trường thật tốt để giáo dục đạo đức cho học sinh 1.1. Ý nghĩa Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh là: cảnh quan sư phạm, làm sao để nhà trường thật sự là "nhà trường", tự đúng nghĩa của nó là mang yếu tố giáo dục. Giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo vì nó định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục hình thành nhân cách của học sinh, khai thác có chọn lọc những tác động tích cực và ngăn chặn những tác động tiêu cực từ gia đình và xã hội. 1.2. Nội dung 1.2.1. Tổ chức, sắp xếp, tu sửa, trang điểm bộ mặt vật chất, khung cảnh của nhà trường làm sao cho toàn trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục đối với học sinh. 1.2.2. Tạo nên bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một phong cách sinh hoạt của nhà trường , biểu hiện như sau: Nề nếp tốt: trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc. Có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa học sinh với nhau. Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh. Học sinh không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi thề, không tham gia vào tệ nạn xã hội. 1.3. Cách làm 1.3.1. Đối với Hiệu trưởng Phải xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ngay từ đầu năm học trên cơ sở dựa vào tình hình thực trạng đạo đức của học sinh, tình hình thực tế của địa phương để định ra, nội dung, biện pháp, thời gian, chỉ tiêu cho phù hợp. Phải thường xuyên nắm tình hình tư tưởng đạo đức của học sinh một cách cụ thể bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và những tình hình có tính chất thời sự, cá biệt có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với học sinh. Thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, đầu tư ngân sách để cải tạo cảnh quang sư phạm: trồng cây xanh, hoa kiểng, trang trí các khẩu hiệu, nội quy của từng phòng học và trong khu vực trường, xây dựng cổng rào an toàn cho học sinh. Thường xuyên tổ chức lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh... thông qua buổi lao động cần giáo dục đầy đủ mục đích, ý nghĩa công việc cho học sinh, phải có phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị lớp, quy định rõ thời gian và kết quả phải đạt được, phải có kỷ luật, trật tự, không khí tươi vui, biểu dương kịp thời những học sinh tốt, tập thể lớp tốt. Tổ chức họp tham khảo ý kiến hội đồng giáo viên để đưa ra những quy định cụ thể về nội quy nhà trường, nhiệm vụ của học sinh, dựa trên cơ sở điều lệ trường trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2005. Kết hợp với chính quyền địa phương giải tỏa các hàng quán trước cổng trường, các điểm vui chơi giải trí và truy cập internet xung quanh trường theo đúng quy định của ngành chức năng. Tổ chức các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, bảo đảm tính công bằng, trung thực, phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp thành những tập thể vững mạnh, có lực lượng cốt cán làm nòng cốt, làm hạt nhân cơ bản của lớp, là trợ thủ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm. 1.3.2. Đối với giáo viên Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh. Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương cho học sinh noi theo. 1.3.3. Đối với Đoàn đội: Chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tổ chức tốt phong trào thi đua học tậ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Thói Quen Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 2
  • Sáng Kiến Giáo Dục Đạo Đức Đạt Giải Huyện Năm Học: 2022
  • Sáng Kiến Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 5 Tân Hội Nguyễn Ngọc Hân
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Cây Gáo A
  • Sáng Kiến Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Động Đất + Sóng Thần Và Các Biện Pháp Hạn Chế
  • Phòng Chống Tác Hại Của Thuốc Lá:biện Pháp Nào Hạn Chế Hút Thuốc Lá?
  • Biện Pháp Hạn Chế Việc Hút Thuốc Lá
  • Hạn Chế Tác Hại Của Thuốc Lá, Bằng Cách Nào?
  • Đi Tìm Giải Pháp Cho Người Nghiện Thuốc Lá
  • Giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu của đất nước trong việc tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển mang tính bền vững của quốc gia. Nghị quyết Hội nghị TW II – Khoá VIII của BCH TW Đảng chỉ rõ: “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải đẩy mạnh giáo dục – đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Tại điều 2 chương I, luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 cũng xác định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Giáo dục đạo đức là một trong những mặt giáo dục quan trọng trong mục tiêu giáo dục của nhà trường ở nước ta hiện nay. Nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của con người – nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển của đất nước. Đối với dân tộc Việt Nam: đạo đức là vốn quý của con người, cái “đức” là nền tảng, là căn bản của con người. Sinh thời Bác Hồ cũng đã dạy: “Người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó. Người có tài mà không có đức thì tài cũng thành vô dụng”. Trong chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục năm học 2009 – 2010 vừa ban hành, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, đây là năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục. Trong đó đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh. Điểm nổi bật trong ba cuộc vận động năm học này là nâng cao đạo đức của học sinh và giáo viên, lồng ghép nội dung cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vào giảng dạy một số môn học chính khoá và các hoạt động ngoại khoá ở các cấp học, trình độ đào tạo từ năm học 2009 – 2010. Như vậy, có thể thấy rằng, vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung và cho học sinh THCS nói riêng đã và đang được Đảng, Nhà nước, toàn ngành giáo dục và toàn thể xã hội đặc biệt quan tâm. Hơn 20 năm đổi mới toàn diện nền kinh tế – xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Bộ mặt đất nước có nhiều đổi thay, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Người dân có nhiều điều kiện chăm lo sự học hành cho con cái họ hơn. Hệ thống giáo dục nước ta cũng đạt được những thành tựu đáng tự hào trong việc góp phần bồi dưỡng nhân tài và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Tuy nhiên, khi đời sống kinh tế – xã hội có sự thay đổi, với các chính sách mở cửa, hội nhập với thế giới cũng có những tác động nhất định cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới nhà trường phổ thông. Với học sinh, các em có nhiếu điều kiện tiếp xúc với nhiều thông tin và các luồng văn hoá khác nhau từ nước ngoài. Vì vậy, những quan điểm đạo đức truyền thống cũng bị mai một phần nào. Một số ít học sinh đã quên đi những thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hoá quý báu của dân tộc, thay vào đó là lối sống thực dụng, đua đòi, ích kỷ, Phát biểu tại một hội thảo về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển khẳng định: “Vấn đề giáo dục đạo đức trong học sinh hiện rất cấp bách vì xã hội phức tạp hơn. Những giá trị đạo đức đang thay đổi và thay đổi ngày càng nhanh”. Còn theo ông Phùng Khắc Bình, Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo thì “tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, tội phạm và bạo lực trong một bộ phận học sinh xảy ra gây lo lắng, bức xúc trong dư luận xã hội. Đây là điều trăn trở thường xuyên của ngành giáo dục.” Đối với học sinh của trường THCS Bình Ngọc nơi bản thân tôi đang công tác, cũng không nằm ngoài tình trạng chung đó. Thực tế trong những năm qua cho thấy, một bộ phận không nhỏ học sinh có lối sống đua đòi, tha hóa về phẩm chất, hành vi đạo đức. Tình trạng học sinh vi phạm đạo đức như đánh nhau, vô lễ, xúc phạm giáo viên tuần nào cũng xảy ra. Mặc dù các thầy cô cũng đã làm nhiều, nói nhiều, công sức bỏ ra không ít, nhưng kết quả thu được thì vẫn rất hạn chế. Như vậy, vấn đề đặt ra và mang tính cấp thiết hiện nay đó là phải có biện pháp giáo dục đạo đức nhằm góp phần giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh. Xuất phát từ những đòi hỏi cấp bách của công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới sự nghiệp giáo dục. Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường, và đặc biệt sau khi được tham gia lớp bồi dưởng cán bộ quản lý giáo dục, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS”. Với đề tài này, bản thân tôi mong muốn được cùng đồng chí, đồng nghiệp chia sẻ nhửng kinh nghiệm trong công tác giáo dục và quản lý giáo dục đạo đức trong nhà trường, nhằm góp một phần nhỏ vào công cuộc đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Giúp Học Sinh Mau Tiến Bộ
  • Skkn Dạy Học Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Học Tập Của Học Sinh
  • Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực Nhận Thức Của Học Sinh Lớp 4,5 Trong Dạy Học Luyện Từ Và Câu
  • Nếu Mẹ Muốn Con Tự Tin Trong Giao Tiếp, Sớm Tự Lập Thì Đừng Quên 13 Điều Cần Làm Mỗi Ngày Này Nhé
  • 7 Bí Quyết Vàng Giúp Trẻ Mạnh Dạn Tự Tin Trong Giao Tiếp
  • Skkn Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Qua Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Chống Đói Nghèo Cho “lục Địa Đen”
  • Vấn Đề Nghèo Đói Ở Châu Phi Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Giải Quyết Toàn Diện, Đồng Bộ Các Vấn Đề Về Dân Số
  • Trình Tự Thủ Tục, Hồ Sơ Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích Tại Việt Nam Năm 2022
  • Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lý do chọn đề tài

    1. Về mặt lý luận

    Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo

    đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn

    bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đã xác định: ” Mục tiêu của giáo

    dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,

    thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã

    hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân… ( Điều 27-Luật giáo dục).

    Vấn đề đặt ra là trường THCS có nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển trở thành

    con người hữu ích cho xã hội và trước tiên là phát triển về mặt nhân cách.

    Về mặt nhân cách, hay nói cụ thể hơn là đạo đức, hạnh kiểm học sinh phải được

    hình thành trên cơ sở tự rèn luyện của bản thân học sinh ngay trên ghế nhà trường

    THCS. Đó là ý thức học tập nghiêm túc, chấp hành đúng nội qui lớp học, trường học,

    chấp hành đúng pháp luật … .

    2. Về mặt thực tiễn

    Hội nhập kinh tế ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề mà

    chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh tế quốc tế

    đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc lối sống tự do tư

    sản, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay

    một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu

    cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong

    cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc

    xấu.

    Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, số học sinh vi

    phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo

    Trang 1

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    VI. Phương pháp nghiên cứu

    VI.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

    Trên cơ sở những kiến thức về tâm lý, giáo dục học và những quan điểm đường

    lối của Đảng, các văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo về đánh giá xếp loại, khen

    thưởng và kỷ luật học sinh.

    VI.2. Phương pháp quan sát

    Nhìn nhận lại thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường

    THCS Tân Lộc Bắc trong năm học 2011-2012 và 2012-2013.

    Đưa ra một số giải pháp về việc thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học

    sinh của trường trong giai đoạn hiện nay.

    B. PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG I Cơ sở Lý luận

    1. Đạo đức- Chức năng của đạo đức

    1.1. Khái niệm đạo đức

    Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực

    xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh

    phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ người và người và con

    người với tự nhiên.

    1.2. Chức năng đạo đức

    Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, đạo đức một mặt

    quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng tác động tích cực trở

    lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội đó. Vì vậy, đạo đức có chức năng to lớn , tác

    động theo hướng thúc đẩy hoặc kềm hãm phát triển xã hội. Đạo đức có những chức

    năng sau:

    Trang 3

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    – Chức năng giáo dục.

    – Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ tự

    điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội.

    – Chức năng phản ánh.

    2. Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh

    2.1. Vị trí – ý nghĩa

    Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh

    nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có

    những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với xã hội, của

    cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân với

    chính mình.

    Trong tất cả các mặt giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng. Hồ Chủ

    Tịch đã nói: ” Dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức

    Cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức Cách mạng thì có tài

    cũng vô dụng “.

    Giáo dục đạo đức còn có ý nghĩa lâu dài, được thực hiện thường xuyên và trong

    mọi tình huống chứ không phải chỉ được thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có

    những đòi hỏi cấp bách.

    Trong nhà trường THCS, giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc biệt

    coi trọng, nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ được

    nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác.

    Để thực hiện những yêu cầu về nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trong

    trường THCS thì:

    Trang 4

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    – Vai trò của tập thể sư phạm giữ một vị trí quan trọng có tính quyết định, trong

    đó vai trò của Hiệu trưởng, người quản lý chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch giáo

    dục của nhà trường là quan trọng nhất.

    – Vai trò của cấu trúc và nội dung chương trình môn giáo dục công dân cũng

    góp phần không nhỏ đối với công tác này.

    2.2. Đặc điểm

    Giáo dục đạo đức đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ khái niệm tri thức

    đạo đức, mà quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải được thể hiện thành tình cảm,

    niềm tin, hành động thực tế của học sinh.

    Quá trình dạy học chủ yếu được tiến hành bằng các giờ học trên lớp; còn quá

    trình giáo dục đạo đức không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp mà nó được thể hiện thông

    qua tất cả các hoạt động có thể có trong nhà trường .

    Đối với học sinh THCS, kết quả của công tác giáo dục đạo đức vẫn còn phụ

    thuộc rất lớn vào nhân cách người thầy, gương đạo đức của người thầy sẽ tác động

    quan trọng vào việc học tập, rèn luyện của các em .

    Để giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai trò hết sức

    quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh chỉ đạt kết quả tốt khi nó có sự

    tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội.

    Việc giáo dục đạo đức cho học sinh đòi hỏi người thầy phải nắm vững các đặc

    điểm Tâm-Sinh-Lý lứa tuổi của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn cảnh sống cụ thể

    của từng em để định ra sự tác động thích hợp.

    Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải có công phu,

    kiên trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần.

    3. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS

    3.1. Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh

    Trang 5

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    Để hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh, công tác giáo dục đạo đức nói

    chung và giảng dạy các môn giáo dục nói riêng trong nhà trường phải thực hiện các

    nhiệm vụ sau:

    Hình thành cho học sinh ý thức các hành vi ứng xử của bản thân phải phù hợp

    với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo

    đức được quy định.

    Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm bảo các

    hành vi cá nhân được thực hiện.

    Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực và bền vững, và các phẩm chất ý chí

    để đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo đức.

    Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá

    nhân và duy trì lâu bền thói quen này.

    Giáo dục văn hóa ứng xử đúng mực thể hiện sự tôn trọng và quý trọng lẫn nhau

    của con người.

    3.2. Những nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh

    a.

    Giáo dục học sinh trong thực tiễn sinh động của xã hội

    Nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường phải gắn liền với đời sống thực tiễn của xã

    hội, của cả nước và địa phương, phải nhạy bén với tình hình chuyển biến của địa

    phương và của cả nước, đưa những thực tiễn đó vào những giờ lên lớp, vào những

    hoạt động của nhà trường để giáo dục các em học sinh.

    b.

    Giáo dục theo nguyên tắc tập thể

    Nguyên tắc này thể hiện ở cả 3 nội dung: Dìu dắt học sinh trong tập thể để giáo

    dục; Giáo dục bằng sức mạnh tập thể; giáo dục học sinh tinh thần vì tập thể.

    Trang 6

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    Trong một tập thể lớp, tập thể chi đội có tổ chức tốt, có sự đoàn kết nhất trí thì

    sức mạnh của dư luận tích cực sẽ góp phần rất lớn vào việc giáo dục đạo đức cho học

    sinh.

    Những phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tình đồng

    chí và tình bạn, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn học hỏi mọi

    người bao giờ cũng do giáo dục tập thể hình thành.

    Để thực hiện tốt nguyên tắc này, đòi hỏi nhà trường THCS phải tổ chức tốt các

    tập thể lớp, tập thể chi đội…Nhà trường phải cùng với đoàn đội làm tốt phong trào

    xây dựng các chi đội mạnh trong trường học.

    c.

    Giáo dục bằng cách thuyết phục và phát huy mạnh mẽ tính tự giác của học

    sinh

    Phải giáo dục đạo đức bằng cách thuyết phục và phát huy tính tự giác của học

    sinh, chứ không phải bằng sự cưỡng ép, mệnh lệnh, dọa nạt, biến học sinh thành

    những đứa trẻ thụ động, sợ sệt, rụt rè.

    Nguyên tắc này đòi hỏi người thầy phải kiên trì, nhẫn nại, phải có tình thương

    đối với học sinh một cách sâu sắc, không thể làm qua loa làm cho xong việc. Mọi đòi

    hỏi đối với học sinh phải giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ cho các em hiểu, để các em tự giác

    thực hiện.

    d.

    Giáo dục đạo đức cho học sinh phải lấy việc phát huy ưu điểm là chính,

    trên cơ sở đó mà khắc phục khuyết điểm

    Đặc điểm tâm lý của học sinh THCS là thích được khen, thích được thầy, bạn bè,

    cha mẹ biết đến những mặt tốt, những ưu điểm, những thành tích của mình. Nếu giáo

    dục đạo đức quá nhấn mạnh về khuyết điểm của học sinh, luôn nêu cái xấu, những cái

    chưa tốt trong đạo đức của các em thì sẽ đễ đẩy các em vào tình trạng tiêu cực, chán

    nản, thiếu tự tin, thiếu sức vươn lên.

    Trang 7

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    Để thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi người thầy phải hết sức trân trọng những

    mặt tốt, những thành tích của học sinh dù chỉ là những thành tích nhỏ, dùng những

    gương tốt của học sinh trong trường và những tấm gương người tốt việc tốt khác để

    giáo dục các em.

    e.

    Phải tôn trọng nhân cách học sinh, đồng thời đề ra yêu cầu ngày càng cao

    đối với học sinh

    Muốn xây dựng nhân cách cho học sinh người thầy cần phải tôn trọng nhân cách

    các em. Tôn trọng học sinh, thể hiện lòng tin đối với học sinh là một yếu tố tinh thần

    có sức mạnh động viên học sinh không ngừng vươn lên rèn luyện hành vi đạo đức.

    Khi học sinh tiến bộ về đạo đức cần kịp thời có yêu cầu cao hơn để thúc đẩy các em

    vươn lên cao hơn nữa.

    Trong công tác giáo dục đòi hỏi người thầy phải yêu thương học sinh nhưng phải

    nghiêm với chúng, nếu chỉ thương mà không nghiêm học sinh sẽ nhờn và ngược lại

    thì các em sẽ sinh ra sợ sệt, rụt rè, không dám bộc lộ tâm tư tình cảm, do đó người

    thầy không thể uốn nắn tư tưởng, xây dựng tình cảm đúng đắn cho học sinh được.

    f.

    Giáo dục đạo đức phải phối hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh THCS và

    đặc điểm hoàn cảnh cá nhân học sinh

    Công tác giáo dục đạo đức cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của học sinh

    THCS là quá độ, phức tạp và nhiều mâu thuẩn để từ đó hình thức, biện pháp thích

    hợp. Cần phải chú ý đến cá tính, giới tính của các em. Đối với từng em, học sinh gái,

    học sinh trai cần có những phương pháp giáo dục thích hợp, không nên đối xử sư

    phạm đồng loạt với mọi học sinh. Muốn vậy người thầy phải sâu sát học sinh, nắm

    chắc từng em, hiểu rõ cá tính để có những biện pháp giáo dục phù hợp.

    g.

    Trong công tác giáo dục đạo đức, người thầy cần phải có nhân cách mẫu

    mực và phải đảm bảo sự thống nhất giữa các các ảnh hưởng giáo dục đối với học

    sinh

    Trang 8

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    Kết quả công tác giáo dục đạo đức học sinh trong trường THCS phụ thuộc rất lớn

    vào nhân cách của thầy cô giáo. Lời dạy của thầy cô dù hay đến đâu, phương pháp sư

    phạm dù khéo léo đến đâu cũng không thay thế được những ảnh hưởng trực tiếp của

    nhân cách người thầy với học sinh. Lúc sinh thời Bác Hồ đã có lời dạy chúng ta về

    rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức công dân: ” … Giáo viên phải chú ý cả tài, cả

    đức, tài là văn hóa chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì

    giáo viên phải có đức…Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với

    trẻ con”.

    ( trích lời dạy của Bác về rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức công dân).

    Phải đảm bảo sự nhất trí cao về yêu cầu giáo dục đạo đức giữa các thành viên

    trong nội bộ nhà trường và sự thống nhất phối hợp giáo dục học sinh giữa nhà trường,

    gia đình và xã hội.

    3.3. Các phương pháp giáo dục đạo đức ở trường THCS

    a. Phương pháp thuyết phục

    Là những phương pháp tác động vào lý trí tình cảm của học sinh để xây dựng

    những niềm tin đạo đức, gồm các nội dung sau:

    – Giảng giải về đạo đức: được tiến hành trong giờ dạy môn giáo dục công dân

    cũng như trong các giờ học môn khác, giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ…

    – Nêu gương người tốt, việc tốt bằng nhiều hình thức như: nói chuyện, kể

    chuyện, đọc sách báo, mời những người có gương phấn đấu tốt đến nói chuyện, nêu

    gương tốt của giáo viên và học sinh trong trường.

    – Trò chuyện với học sinh hoặc nhóm học sinh để khuyến khích động viên

    những hành vi cử chỉ đạo đức tốt của các em, khuyên bảo, uốn nắn những mặt chưa

    tốt.

    b. Phương pháp rèn luyện

    Trang 9

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    Là những phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện cho các em

    những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm đạo đức của các em

    thành hành động thực tế:

    – Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà trường:

    dạy học trên lớp, lao động, hoạt động xã hội đoàn thể và sinh hoạt tập thể.

    – Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường là biện

    pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích thích bên trong

    của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở thành người có đạo đức tốt, vì

    vậy nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và động viên học sinh tham gia tốt

    phong trào này.

    – Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ hoạt động

    có hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính ham hoạt động của

    trẻ và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư xấu nào đó bằng cách gây cho

    học sinh hứng thú với một hoạt mới bổ ích, lôi kéo trẻ ra ngoài những tác động có hại.

    c. Phương pháp thúc đẩy

    Là phương pháp dùng những tác động có tính chất ” cưỡng bách đạo đức bên

    ngoài ” để điều chỉnh, khuyến khích những ” động cơ kích thích bên trong” của học

    sinh nhằm xây dựng đạo đức cho học sinh.

    – Những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với học sinh,

    vừa là những điều lệnh có tính chất mệnh lệnh đòi hỏi học sinh tuân theo để có những

    hành vi đúng đắn theo yêu cầu của nhà trường.

    – Khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng của học sinh

    làm cho bản thân học sinh đó vươn lên hơn nữa và động viên khuyến khích các em

    khác noi theo.

    – Xử phạt : là phê phán những khiếm khuyết của học sinh, là tác động có tính

    chất cưỡng bách đến danh dự lòng tự trọng của cá nhân học sinh để răn đe những

    Trang 10

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của học sinh đó và những học sinh

    khác. Do đó phải thận trọng và đúng mực, không được lạm dụng phương pháp này.

    Khi xử phạt cần phải làm cho học sinh thấy rõ sai lầm, khuyết điểm, thấy hối hận và

    đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên học sinh sửa chữa khuyết điểm, cần

    phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng không có lời nói, cử chỉ thô bạo đánh đập, xỉ

    nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến thân thể học sinh.

    Trang 11

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    CHƯƠNG II

    Thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh

    của trường THCS Tân Lộc Bắc

    1. Tình hình chung

    1.1.

    Đặc điểm

    Xã Tân Lộc Bắc là có tuyến đường quốc lộ 63 chạy ngang qua với chiều dài

    khoảng 5Km. Trung tâm Xã và Trường nằm cặp theo tuyến quốc lộ 63, cách Thành

    phố Cà Mau 17 Km. Trường gần khu họp chợ nên nhiều hàng rong và trò vui chơi

    giải trí xâm nhập. Xung quanh trường có nhiều quán Internet, Bida, … thu hút sự chú

    ý của học sinh.

    Học sinh của Trường THCS Tân Lộc Bắc ở rải rác theo các kênh rạch nên đi lại

    của một số em có gặp khó khăn.

    Tình hình giáo dục của xã trong những năm qua có nhiều chuyển biến tốt, người

    dân bắt đầu có sự quan tâm đến giáo dục. Hệ thống trường lớp có nhiều phát triển,

    nhà trường được đầu tư xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.

    1.2.

    Thuận lợi

    Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, UBND, sự hỗ trợ nhiệt tình các

    ban ngành đoàn thể địa phương.

    Được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Phòng giáo dục và đào tạo Thới Bình.

    Đội ngũ cán bộ và giáo viên của trường đều qua trường lớp sư phạm chính quy

    từ chuẩn đến trên chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ.

    Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học môn GDCD đã và đang đổi mới và

    là một trong những môn có chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp dạy học,

    dạy học đạo đức thông qua bộ môn GDCD được xác định là một nhiệm vụ quan

    Trang 12

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    trọng, là đòi hỏi cấp bách của xã hội đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục phổ

    thông.

    Chương trình Sách giáo khoa GDCD mới có nhiều đổi mới về mục tiêu, cấu trúc,

    sự đổi mới này rất thích hợp cho giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD cho học sinh.

    Thông qua bài học học sinh có thể tự hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo tìm tòi

    phát hiện và chiếm lĩnh nội dung bài học.

    Được sự đồng tình của xã hội, nhất là các bậc Cha mẹ học sinh tích cực phối

    hợp cùng với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

    1.3.

    Khó khăn – tồn tại

    Là địa bàn có nhiều phức tạp về các điểm vui chơi giải trí, tình hình thanh thiếu

    niên hư hỏng bên ngoài lôi kéo học sinh tham gia các trò chơi và các tệ nạn xấu gây

    ảnh hưởng đến việc rèn luyện đạo đức học sinh.

    Một số cha mẹ học sinh gửi con ở nhà cho ông bà hoặc bà con để đi làm ăn xa,

    nên việc quan tâm tình hình học tập và rèn luyện đối với các em không có.

    Cơ sở vật chất của trường đang trong giai đoạn xây dựng nên hệ thống hàng rào

    chưa bảo đảm.

    2. Thực trạng về công tác giáo dục đạo đức học sinh của nhà trường trong năm

    học 2012-2013

    2.1.

    Những việc trường đã làm trong năm học

    2.1.1. Các hoạt động ngoại khóa

    Trong năm học 2011-2012 các hoạt động ngoại khóa của trường phong phú

    nhiều hình thức, lôi cuốn học sinh có tác dụng giáo dục, hình thành những phẩm chất

    đạo đức tốt cho học sinh, xây dựng lối sống tập thể, tinh thần hợp tác, tương trợ và ý

    thức chấp hành nội quy nhà trường và pháp luật xã hội.

    Trang 13

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    – Giáo dục an toàn giao thông từ tháng 9 đến hết năm học thông qua tiết chào

    cờ đầu tuần và các buổi HĐNGLL, tích hợp nội dung qua bộ môn GDCD.

    – Giáo dục phòng chống Ma túy, tệ nạn xã hội thông qua các buổi tuyên truyền,

    các buổi sinh hoạt tập thể, biểu diễn văn nghệ, …

    – Tổ chức giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên.

    – Tổ chức sinh hoạt dưới cờ hàng tuần phát động các phong trào thi đua có liên

    quan đến các hoạt động giáo dục trong nhà trường, nêu gương người tốt việc tốt, vượt

    khó học giỏi…..

    – Tổ chức các phong trào văn nghệ, TDTT, vẽ tranh, kể chuyện, …

    2.1.2. Các hoạt động giáo dục lao động, hướng nghiệp

    – Giáo dục lao động: trường tổ chức cho học sinh lao động hàng tuần, thu dọn

    vệ sinh môi trường, cải tạo cảnh quang sư phạm. Thông qua các buổi lao động giáo

    dục cho học sinh tinh thần kỷ luật, biết thương yêu và kính trọng người lao động.

    – Giáo dục hướng nghiệp: trường chỉ dạy hướng nghiệp cho học sinh khối 9

    theo chương trình quy định của Bộ giáo dục và đào tạo, các khối khác thì chủ yếu

    lồng ghép vào bộ môn nhằm thông qua đó giáo dục cho học yêu nghề nghiệp, biết tự

    chọn được nghề nghiệp của mình.

    – Giáo dục thẩm mỹ : Thông qua bộ môn Mỹ thuật giáo dục cho các em biết

    cảm nhận được cái đẹp chân chính.

    2.1.3. Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm

     Tầm quan trọng của công tác giáo viên chủ nhiệm đối với công tác giáo dục

    đạo đức trong nhà trường:

    Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng chính trong công tác giáo dục đạo đức cho học

    sinh là người quản lý mọi hoạt động của lớp học, là người triển khai mọi hoạt động

    của trường của nhà trường đến từng lớp, từng học sinh. Do đó ngay từ đầu năm học

    Trang 14

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    2012-2013 Ban giám hiệu trường đã định hướng phân công những giáo viên làm công

    tác chủ nhiệm theo những tiêu chí sau:

    – Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng và trình độ giác ngộ cách mạng

    cao.

    – Có uy tín- đạo đức tốt.

    – Giáo viên giỏi, vững tay nghề.

    – Có tầm hiểu biết rộng.

    – Có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề.

    – Thương yêu và tôn trọng học sinh.

    – Có năng lực tổ chức.

     Những hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trong năm học:

    – Thực hiện các loại sổ theo quy định của ngành: sổ liên lạc, sổ chủ nhiệm sổ

    theo dõi đạo đức học sinh …

    – Tổ chức sinh hoạt lớp cuối tuần, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, xây

    dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch thi đua…

    – Kết hợp chặt chẽ với Cha mẹ học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên

    bộ môn, đoàn TNCS HCM, đội TNTP HCM và các ban ngành đoàn thể địa phương

    trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

    – Nhận xét, đánh giá, xếp loại Hạnh kiểm và Học lực cho học sinh, đề nghị

    khen thưởng và kỷ luật học sinh.

     Ưu điểm :

    – Trong năm học giáo viên chủ nhiệm thực hiện đầy đủ các loại sổ sách, có lên

    kế hoạch hoạt động cụ thể hàng tuần, tháng, năm .

    Trang 15

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    – Kết hợp được nhiều hoạt động, đoàn thể trong công tác giáo dục đạo đức học

    sinh.

    – Không có học sinh vi phạm đạo đức nghiêm trọng phải nhờ cơ quan chức

    năng xử lý.

     Tồn tại:

    – Còn một vài giáo viên chủ nhiệm chưa có tâm huyết với công tác này, tác

    dụng giáo dục chưa cao, trong lớp vẫn còn học sinh chưa tiến bộ trong rèn luyện đạo

    đức.

    – Thiếu sự quan hệ thường xuyên với Cha mẹ học sinh.

     Nguyên nhân:

    – Công tác chủ nhiệm là một công tác khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư

    nhiều cho công tác này, nhưng thực tế giáo viên chủ nhiệm còn phải lo cho công tác

    chuyên môn.

    – Hệ thống hàng rào của trường chưa hoàn thiện nên việc theo dõi quản lý học

    sinh có nhiều khó khăn, đặc biệt là việc quản lý học sinh trốn học chơi game.

    2.1.4. Sự tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh của các giáo viên bộ môn

    Đầu năm học Ban giám hiệu nhà trường quán triệt trên hội đồng giáo viên là

    trách nhiệm giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ của mọi thành viên trong nhà

    trường, giáo dục đạo đức cho học sinh là một quá trình thường xuyên, liên tục, diễn ra

    ở mọi lúc, mọi nơi. Một giờ dạy trên lớp không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức

    khoa học cho học sinh mà còn giáo dục cho các em những hành vi, cử chỉ, tình cảm,

    nhân sinh quan, thế giới quan khoa học.

     Ưu điểm : Giáo viên bộ môn có chú ý liên hệ giáo dục đạo đức học sinh thông

    qua bài học, tiết học. Thường xuyên nhắc nhở uốn nắn những sai phạm của học sinh

    trong giờ học.

    Trang 16

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

     Khuyết điểm: Một số giáo viên quá gò bó, đơn điệu khi gán ghép liên hệ giáo

    dục đạo đức thông qua bài học. Giáo viên bộ môn coi việc giáo dục đạo đức, hành vi

    ứng xử cho học sinh là của giáo viên chủ nhiệm lớp.

    2.2.

    Chất lượng đạo đức của học sinh

    2.2.1. Nhận xét

    Kết quả đạt được về phía học sinh là phần lớn các em có được những hiểu biết

    ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức, từng buớc hình thành thái độ tự trọng,

    tự tin vào khả năng của bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình, yêu

    thương, tôn trọng con người, mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người.

    Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số bộ phận học sinh chưa ngoan, thường hay

    vi phạm đạo đức.

    2.2.2. Kết quả xếp loại Hạnh kiểm của học sinh trong học kỳ 1 năm học 2012-2013.

    Tốt, khá là 95,8%; TB 4,2%; Yếu 0,0%. Đạt so với tiêu chuẩn Trường trung

    học đạt chuẩn quốc gia. Phấn đấu cuối năm học 2012-2013 giảm tỉ lệ học sinh xếp

    loại hạnh kiểm TB còn 1,9%, Yếu 0,0%.

    2.2.3. Những biểu hiện của thực trạng đạo đức học sinh

     Tích cực: Đa số học sinh có đạo đức tốt, biết nghe lời cha mẹ, thầy cô,

    nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của lớp, nội quy của trường, biết sống tốt và

    sống đẹp.

     Tiêu cực: Một số học sinh có biểu hiện chán nản, không thích học, thường

    xuyên gây mất trật tự trong lớp, nói tục, vô lễ với thầy cô, nói dối thầy cô và bạn bè,

    giao lưu với đối tượng xấu bên ngoài, bỏ học chơi game, đánh nhau có hung khí.

     Nguyên nhân tiêu cực:

    Trang 17

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    – Khách quan:

    + Do sự bất ổn của gia đình: bố mẹ li dị, bố mẹ đi làm ăn xa, bố hoặc mẹ mất

    các em phải tự kiếm sống hoặc ở với bác với ông bà nên thiếu sự quan tâm và

    quản lý các em.

    + Cha mẹ giàu có, nuông chiều cho tiền nhiều, thiếu sự kiểm tra và giáo dục.

    – Chủ quan:

    + Ý thức đạo đức của học sinh chưa cao, kỷ năng vận dụng chuẩn mực đạo đức

    còn thấp, chưa phân định được ranh giới giữa cái xấu và cái tốt.

    + Khả năng tự chủ chưa cao, khi vi phạm đạo đức sửa chữa chậm hoặc không

    chịu sửa chữa.

    2.3.

    Nhận định chung

    2.3.1. Mặt mạnh

    Về phía học sinh có chiều hướng phát triển tốt về mặt tình cảm đạo đức, các em

    rèn luyện được kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức đúng sai, tự hiểu và vận dụng

    được một số kiến thức pháp luật trong cuộc sống hàng ngày, không có học sinh vi

    phạm nghiêm trọng về đạo đức .

    Về phía giáo viên luôn trau dồi đạo đức cách mạng, đạo đức nhà giáo, tự học hỏi

    nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi

    theo.

    2.3.2. Mặt yếu

    Số học sinh gặp khó khăn trong rèn luyện đạo đức vẫn còn nhiều, một số giáo

    viên chưa thật sự quan tâm đến giáo dục đạo đức thông qua bài học trên lớp, còn thờ ơ

    khi thấy học sinh có dấu hiệu vi phạm đạo đức.

    Chưa phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo

    dục đạo đức học sinh.

    Trang 18

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    Trang 19

    Một số giải pháp giáo dục đạo đức học sinh THCS

    – Có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường: giữa thầy với thầy, giữa thầy

    với trò, giữa học sinh với nhau. Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài

    hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh. Học sinh không hỗn xược, không khúm

    núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái

    giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi bậy,

    không tham gia vào tệ nạn xã hội.

    1.3. Phương pháp

    1.3.1. Đối với giáo viên

    – Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có

    tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh.

    – Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn

    trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của

    mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương cho học sinh noi

    theo.

    1.3.2. Đối với Đoàn – Đội:

    – Chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tổ chức tốt

    phong trào thi đua học tập, rèn luyện đội viên theo năm điều Bác Hồ dạy.

    – Tổ chức sinh hoạt đội hàng tuần, tạo sân chơi lành mạnh cho các em.

    – Thường xuyên kiểm tra nội vụ nề nếp, nhắc nhở học sinh chấp hành nghiêm

    nội quy trường lớp.

    – Thường xuyên họp rút kinh nghiệm với cán bộ lớp, đội sao đỏ.

    – Kịp thời khen thưởng và nhắc nhở phê bình những học sinh có thành tích và

    học sinh vi phạm nội quy thông qua buổi chào cờ đầu tuần.

    2. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng

    giáo dục đạo đức cho học sinh

    Trang 20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Vài Giải Pháp Tăng Cường Giáo Dục Đạo Đức, Lối Sống Cho Học Sinh Hiện Nay
  • Nhiều Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm
  • Hà Nội: Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Trong Năm 2022
  • Chuyên Đề Giữ Vững Và Phát Huy Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ” Trong Thời Kỳ Mới
  • Tiếp Tục Phát Huy Phẩm Chất “bộ Đội Cụ Hồ” Trong Thời Kỳ Mới
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Một Số Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững Đối Với Các Tỉnh Miền Trung
  • Cần Giải Pháp Để Người Dân Châu Phi Thoát Cảnh Đói Ăn
  • Wsa: Nước Giải Pháp Cho Châu Phi, Inc
  • Giảm Nghèo Và Giảm Tham Nhũng
  • dự lòng tự trọng của cá nhân học sinh để răn đe những hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của học sinh đó và những học sinh khác. Do đó phải thận trọng và đúng mực, không được lạm dụng phương pháp này. Khi xử phạt cần phải làm cho học sinh thấy rõ sai lầm, khuyết điểm, thấy hối hận và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên học sinh sửa chữa khuyết điểm, cần phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng không có lời nói, cử chỉ thô bạo đánh đập, xỉ nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến thân thể học sinh. 2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09 năm 2011 đến tháng 12 năm 2012 B. NỘI DUNG I. MỤC TIÊU: 1. Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh: Để hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh, công tác giáo dục đạo đức nói chung và giảng dạy các môn giáo dục nói riêng trong nhà trường phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Hình thành cho học sinh có ý thức tự giác về các hành vi ứng xử của bản thân phải phù hợp với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức được quy định. Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm bảo các hành vi cá nhân được thực hiện. Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực và bền vững, và các phẩm chất ý chí để đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo đức. Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân và duy trì lâu bền thói quen này. Giáo dục văn hóa ứng xử đúng mực thể hiện sự tôn trọng và quý trọng lẫn nhau của con người. Giáo dục HS thành một công dân hoàn thiện cả tài và đức. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI: Xuất phát từ những thực trạng của công tác giáo dục cho học sinh của trường THCS An Tân và tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn đơn vị đã đề ra các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay như sau: 1. xây dựng trong nhà trường một môi trường thật tốt để giáo dục đạo đức cho học sinh: 1.1 Ý nghĩa: Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh là: Cảnh quan sư phạm, làm sao để nhà trường thật sự là "nhà trường", là môi trường mang yếu tố giáo dục. Giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo vì nó định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục hình thành nhân cách của học sinh, khai thác có chọn lọc những tác động tích cực và ngăn chặn những tác động tiêu cực từ gia đình và xã hội. 1.2 Nội dung: - Tổ chức, sắp xếp, tu sửa, cải tạo bộ mặt vật chất, khung cảnh của nhà trường làm sao cho toàn trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục thân thiện đối với học sinh: Vừa qua được sự đầu tư của các cấp lãnh đạo môi trường cảnh quan của trường ngăn nếp, sạch đẹp đã góp phần thu hút học sinh ham thích đến trường và ham thích hoạt động. - Tạo nên bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một nề nếp sinh hoạt của nhà trường, biểu hiện như sau: Nề nếp tốt: Phát huy tinh thần tự quản của học sinh, trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc có nội quy từng lớp và toàn trường. Có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa học sinh với nhau. Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh. Học sinh không vô lễ, không khúm núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi bậy, không tham gia vào tệ nạn xã hội. 1.3 Cách làm: Về Ban giám hiệu: - Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ngay từ đầu năm học trên cơ sở dựa vào tình hình thực trạng đạo đức của học sinh, tình hình thực tế của địa phương để định ra, nội dung, biện pháp, thời gian, chỉ tiêu cho phù hợp. - Thường xuyên nắm tình hình tư tưởng đạo đức của học sinh một cách cụ thể thường xuyên, lâu dài, phổ biến và những tình hình có tính chất thời sự, cá biệt có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với học sinh từ đó có biện pháp khắc phục. - Quản lý sâu sát lực lượng GVCN đây là lực lượng quan trọng và quyết định sự hình thành nhân cách của HS. - Thành lập tổ giám thị cung cấp thông tin về GV và HS để kịp thời uốn nắng và giáo dục những hành vi sai chuẩn mực. - Thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, đầu tư ngân sách để cải tạo cảnh quang sư phạm: trồng cây xanh, hoa kiểng, trang trí các khẩu hiệu, nội quy của từng phòng học và trong khu vực trường, xây dựng cổng rào an toàn cho học sinh. - Thường xuyên tổ chức lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh thông qua buổi lao động thường xuyên cần giáo dục đầy đủ mục đích, ý nghĩa công việc cho học sinh, phải có phân công nhiệm vụ cụ thể cho lớp, quy định rõ thời gian và kết quả phải đạt được, phải có kỷ luật, biểu dương kịp thời những học sinh tốt, tập thể lớp tốt. Cũng năm 2011 - 2012 nhà trường cũng có kế hoạch phân công khu vực lao động thường xuyên ở khu vực sân trường và khu WC trong quá trình theo dõi thấy có hiệu quả. Tổ chức họp tham khảo ý kiến hội đồng giáo viên để đưa ra những quy định cụ thể về nội quy nhà trường, nhiệm vụ của học sinh, dựa trên cơ sở điều lệ trường trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Kết hợp với chính quyền địa phương giải tỏa các hàng quán trước cổng trường, xử lý những HS vi phạm có tính chất nghiêm trọng và các điểm vui chơi giải trí và truy cập internet xung quanh trường theo đúng quy định của ngành chức năng. Tổ chức các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, bảo đảm tính công bằng, trung thực, phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em. Quán triệt chung giáo dục đạo đức HS là trách nhiệm của HĐSP nhà trường mà nòng cốt là GVCN. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp thành những tập thể vững mạnh, có lực lượng cốt cán làm nòng cốt, làm hạt nhân cơ bản của lớp, là trợ thủ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm. Đối với giáo viên Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh. Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương cho học sinh noi theo. Cung cấp thông tin của HS cho GVCN nắm bắt và kịp thời giáo dục. Đối với Đoàn đội: Chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tổ chức tốt phong trào thi đua học tập, rèn luyện đội viên theo năm điều Bác Hồ dạy. Tổ chức chào cờ đầu tuần nhận xét hoạt động tuần qua đó phê bình những cá nhân hoặc tập thể chưa tốt, sinh hoạt đội hàng tuần để tuyên truyền giáo dục và rèn luyện HS có ý thức tốt. Tổ chức các hoạt động thi đua và các hoạt động ngoại khóa tạo sân chơi lành mạnh cho các em. Thành lập BTĐ của Liên Đội mục đích theo dõi các hoạt động của HS qua đó thông báo cho GVCN các HS có những biểu hiện xấu để kịp thời phát hiện giáo dục. Giáo dục tinh thần yêu nước cho các em thông qua việc sưu tầm địa chỉ đỏ, thăm viếng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở địa phương, chăm sóc đền thờ liệt sĩ, viếng thư thăm hỏi các chú bộ đội ở đảo Trường xa . 2. nâng cao vai trò, vị trí và chất lượng giảng dạy bộ môn GDCD 2.1 Ý nghĩa: Môn GDCD có vai trò, vị trí rất quan trọng trong giáo dục nhân cách học sinh, đặc biệt trong việc xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân cho học sinh THCS, vì thông qua các bài học người giáo viên sẽ trang bị, hình thành cho học sinh những phẩm chất, những chuẩn mực, hành vi đạo đức cần thiết trong cuộc sống một cách có hệ thống, đúng phương pháp, đúng quy trình. 2.2 Nội dung: Làm cho Cha mẹ học sinh, cán bộ giáo viên biết tầm quan trọng của môn GDCD đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh , để từ đó họ có sự thay đổi nhận thức và có những hành động tích cực hơn. Giáo viên là lực lượng quyết định việc nâng cao chất lượng giáo dục, do đó giáo viên nhất là giáo viên dạy GDCD phải được đào tạo chính quy đúng chuyên ngành giảng dạy, phải thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phải xác định được vai trò, vị trí của môn GDCD, trách nhiệm của bản thân, Giáo viên dạy môn GDCD cần quán triệt mục tiêu môn học trong quá trình dạy học. Phải nắm rõ cái đích cuối cùng cần đạt được trong dạy học GDCD là hành động phù hợp với các các chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Nếu học sinh không có chuyển biến trong hành động thì việc dạy học không đạt hiệu quả. Chương trình môn GDCD là sự nối tiếp việc dạy và học môn đạo đức ở tiểu học, đồng thời chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên trên hoặc đi vào cuộc sống lao động Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn GDCD là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh 2. 3 Cách làm cụ thể đối với môn GDCD: Đối với Ban giám hiệu nhà trường Tham mưu với UBND xã tổ chức chuyên đề về giáo dục đạo đức học sinh cho cán bộ, đảng viên và giáo viên trong toàn xã, thông qua đó quán triệt nhận thức nâng cao vai trò vị trí của bộ môn GDCD trong nhà trường. Triển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình môn GDCD, quy chế 40 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đánh giá xếp loại học sinh THCS. Kiểm tra việc thực hiện chương trình, hồ sơ sổ sách, giáo án, dự giờ các tiết lên lớp của giáo viên dạy môn GDCD. Đầu tư mua sắm sách, báo, tài liệu, trang bị tủ sách pháp luật, tạo điều kiện tốt cho giáo viên tham khảo và cập nhật kiến thức phục vụ giảng dạy bộ môn GDCD. Đối với giáo viên dạy môn GDCD Phải tự rèn luyện bản thân để có những phẩm chất và năng lực của người giáo viên, có trình độ chuyên môn và năng lực giảng dạy tốt. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực và tương tác của học sinh. Nghiên cứu nắm vững các văn bản quy định về chương trình giảng dạy môn GDCD, chế độ cho điểm đánh giá chất lượng bộ môn. Tích cực sưu tầm, sáng tạo đồ dùng dạy học tự làm, cải tiến đồ dùng dạy học hiện có để gây hứng thú cho học sinh khi học trên lớp. Khi dạy trên lớp thường xuyên quan sát hành động và thái độ học tập, hành vi đạo đức của học sinh để đưa ra những kết luận đúng đắn về tình hình lớp giúp ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm nắm để có biện pháp kịp thời uốn nắn các em. Trong kiểm tra ngoài việc cho đề kiểm tra giống như các môn khác cần thiết kế thêm các bài tập tình huống, lập kế hoạch, viết báo cáo 3. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạoo đức cho học sinh: 3.1 Ý nghĩa: GVCN có vai trò rất to lớn trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, vì GVCN là người quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách, là cầu nối giữa Ban giám hiệu với các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể lớp, là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của lớp, đồng thời là người đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của trường. Xuất phát từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện pháp giúp GVCN định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay. 3.2 Nội dung: - GVCN phải Tìm hiểu đặc điểm tình hình lớp, tình hình học sinh: Đầu năm học GVCN phải thu thập thông tin về gia đình học sinh như: nơi ở, hoàn cảnh sống, lối sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, cách giáo dục của gia đình, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, quan hệ của gia đình láng giềng. Việc tìm hiểu này sẽ giúp GVCN kết hợp tốt với gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. GVCN Phải nắm được đặc điểm học sinh về: sức khỏe, đạo đức, năng lực học tập, động cơ học tập, quan hệ của học sinh với cha mẹ, Ông bà, anh chị em trong gia đình, ở trường với thầy cô, bạn bè và ngoài xã hội, cộng đồng. Việc tìm hiểu học sinh về mọi mặt là rất cần thiết từ đó thấy được nguyên nhân dẫn đến thực trạng về đạo đức học sinh. GVCN cần nắm bắt số điện thoại của phụ huynh HS để kịp thời liên lạc với phụ huynh khi có tình huấn xấu xảy ra hoặc HS cá biệt cố tình không cung cấp thông tin của GVCN về cho phụ huynh nắm. Ngoài ra GVCN phải tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của HS, hoạt động, mối quan hệ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, sự đoàn kết của lớp mình chủ nhiệm. Xây dựng những truyền thống tốt đẹp của lớp Các hoạt động của lớp sẽ trở thành truyền thống nếu tạo cho nó được lặp đi lặp lại và trở thành thói quen. Phải trân trọng truyền thống sẳn có của lớp, tiếp tục xây dựng truyền thống mới cho lớp trong điền kiện cụ thể. Rèn luyện khung cán sự lớp có khả năng quản lý và tự quản tốt. Tích cực tham gia vào công tác đánh giá xếp loại hạnh kiểm, xét thi đua, khen thưởng và kỷ luật học sinh công bằng khách quan với tư cách là người bảo vệ quyền lợi chính đáng cho học sinh. GVCN nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học: Để vận dụng tốt vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học. Để cho học sinh thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong phong trào chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thực hiện của trường, của các đoàn thể trong tuần, tháng học kỳ và cả năm học. Phải nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng và phối hợp tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương. Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào công tác chủ nhiệm Để theo dõi nắm bắt toàn diện thực trang của HS GVCN cần phải có mối quan hệ với GVBM và các đoàn thể trong và ngoài nhà trường đây là việc làm rất quan trọng của GVCN có như vây GVCN mới kịp thời nắm bắt thông tin và có biện pháp GD HS theo đúng chuẩn mực. 3.3 Cách làm: *. Đối với Ban giám hiệu nhà trường Cần thực hiện tốt việc lựa chọn và phân công giáo viên làm công tác chủ nhiệm, những người có phẩm chất và năng lực trong công tác chủ nhiệm . Tạo mọi điền kiện, đôn đốc, giúp đỡ GVCN làm tốt những nhiệm vụ, quyền lợi của GVCN quy định tại điều 31- 32 điều lệ trường trung học. Có kế hoạch cụ thể về công tác chủ nhiệm, có chỉ tiêu rèn luyện phấn đấu phù hợp với thực trạng của trường. Thường xuyên thu nhận thông tin về tình hình diễn biến đạo đức của học sinh do GVCN cung cấp, có biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn những tình huống xấu xảy ra. Thường xuyên kiểm tra số sách của giáo viên chủ nhiệm, dự các tiết sinh hoạt lớp của GVCN. Đưa công tác chủ nhiệm vào tiêu chí thi đua khen thưởng, xếp loại cuối năm bên cạnh đó có biện pháp xử lý kịp thời đúng người, đúng trường hợp. *. Đối với GVCN: Nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh: (học bạ, hoàn cảnh gia đình.) có nghệ thuật phân loại học sinh để có biên pháp giáo dục đún đắn. Trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích của học sinh. Trao đổi với giáo viên bộ môn, về tình hình của lớp. Trao đổi với ban giám hiệu, tổng phụ trách đội, Cha mẹ học sinh để có thêm những thông tin về đối tượng mà GVCN cần tìm hiểu. Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh. Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin, thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ. Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, nếu thông tin không pản hồi kịp thời thông tin qua điện thoại hoặc đến nhà. Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với Cha mẹ học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả. GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trao dồi đạo đức nhà giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo. Có kế hoạch thăm nhà học sinh cá biệt theo tuần - tháng. *. Đối với GVBM, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường: Tích cực hỗ trợ GVCN trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, phản ánh kịp thời với GVCN về tình hình học sinh của lớp. Tham gia đóng góp ý kiến trong việc đánh giá xếp loại Hạnh kiểm, xét kỷ luật học sinh. 4. Khả năng áp dụng: Kể từ khi áp dụng các giải pháp giáo dục trên vấn đề đạo đức của học sinh trong nhà trường nói chung, từng lớp nói riêng đã dần dần cải thiện. Những HS thường xuyên vi phạm cũng đã phần nào sửa đổi, Một số học sinh có biểu hiện chán nản, không thích học, thường xuyên gây mất trật tự trong lớp đã biết nghe lời thầy cô, các em đã biết kiềm chế trong lời ăn tiếng nói, tác phong của mình, khi mắc lỗi các em đã biết nhìn nhận khuyết điểm của mình để sửa lỗi. Nhìn chung thực trạng đạo đức của HS có sự tiến bộ đây là điều đáng mừng đối với tôi và tôi hy vọng tình hình đạo đức HS sẽ tiến bộ hơn nữa trong những năm tới và có thể sử dụng chung cho tất cả các trường THCS trong huyện nói chung 5. Lợi ích kinh tế xã hội Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng thực hiện tôi thấy đạo đức HS của trường THCS An Tân bước đầu có sự tiến triển khá tốt điển hình: Vào cuối năm học tôi nhận thấy những trường hợp kỷ luật của HS đầu năm có sự tiến bộ đảng kể như: Em Nguyễn Thị Thu Thảo lớp 8A1 từ một HS vi phạm kỷ luật nay em đã tiến bộ vượt bật và hiện đang là thành viên của đội sao đỏ của trường; Lỡ Thị Thảo Trinh cũng từ HS vi phạm nay em đã trở thành HS ngoan hiền của lớp không còn những biểu hiện xấu như năm trước.Nhìn chung tình hình đạo đức của HS có sự tiến bộ đây là điều đáng mừng đối với tôi và tôi hy vọng tình hình đạo đức HS sẽ tiến bộ hơn nữa trong những năm tới và có thể sử dụng chung cho cả các trường THCS nói chung. * Thống kê xếp loại Hạnh kiểm của học sinh cuối năm học: 2011 - 2012 + Loại tốt : 154 đội viên chiếm tỉ lệ: 52,5% + Loại khá : 83 đội viên chiếm tỉ lệ: 28,4% + Loại TB : 56 đội viênchiếm tỉ lệ: 19,1% (Không có HS yếu kém) C. PHẦN KẾT LUẬN Trước sự phát triển của xã hội hiện nay thực trạng đạo đức học sinh của các trường THCS có chiều hướng giảm sút nghiêm trọng, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là đòi hỏi cấp bách của xã hội để xây dựng hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về giáo dục đạo đức cho học sinh đã giúp cho đội ngũ giáo viên và CBQL xác định đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở nhà trường để có kế hoạch hoàn chỉnh, có sự quan tâm đúng mực trong việc giáo dục học sinh, từ đó giúp cho tập thể sư phạm của trường thấy được nhiệm vụ quan trọng này để ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm, hết lòng giáo dục các em phát triển toàn diện cả tài lẫn đức. Những vấn đề cơ bản về giáo dục đạo đức cho học sinh cũng đã được thể hiện qua hai con đường cơ bản: * Con đường dạy học các môn học trong và ngoài nhà trường, cụ thể là môn giáo dục công dân. * Con đường hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi nghiên cứu chỉ một trường THCS An Tân nên có nhiều vấn đề chưa được phân tích một cách đầy đủ, nhưng ít nhiều nó cũng giúp cho chúng ta thấy được thực trạng của đạo đức học sinh hiện nay, giúp cho chúng ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong thời gian sắp tới để góp phần thành công vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh./. KIẾN NGHỊ: Các cấp lãnh đạo, các đoàn thể cần quan tâm hơn nữa về cơ sở vật chất cảnh quan môi trường xanh, đẹp, thân thiện. BGH nhà trường cần tăng cường tham mưu với lãnh đạo xã, công an để tiện nắm bắt thông giữa nhà trường - gia đình - xã hội tin kịp thời nhăn chặn và xử lý một số HS cá biệt vi phạm. An Tân, ngày 01 tháng 02 năm 2013 Đánh giá của Hội đồng Khoa học Người viết Trường THCS An Tân Nguyễn Hữu Giàu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thpt
  • Giải Pháp Vấn Đề Gia Tăng Dân Số
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Tăng Dân Số?
  • Vấn Đề Việc Làm Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Luận Văn: Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs Ở Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tổ Chức Và Quản Lý Giáo Dục, Đào Tạo
  • Skkn Một Số Biện Pháp Đổi Mới Công Tác Quản Lý Giáo Dục Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thcs
  • Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non Mà Giáo Viên Nên Biết
  • Giáo Dục Trí Tuệ Cảm Xúc Cho Trẻ Mầm Non: Lợi Ích Và Cách Áp Dụng
  • Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ Khuyết Tật “chậm Phát Triển Trí Tuệ, Ngôn Ngữ Kém” Hòa Nhập Với Trường Mầm Non Thạch Đà B, Xã Thạch Đà, Huyện Mê Linh, Tp Hà Nội
  • Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành quản lí giáo dục với đề tài: Biện pháp của Hiệu trưởng trong quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, cho các bạn tham khảo

    1. 1. BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ LÊ THỊ LÂM BIỆN PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
    2. 2. HÀ NỘI – 2013 2
    3. 3. BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ LÊ THỊ LÂM BIỆN PHÁP CỦA HIỆU TRƯỞNG TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số: 60 14 01 14 Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS TRẦN ĐÌNH TUẤN
    4. 4. HÀ NỘI – 2013 4
    5. 7. Giáo dục đạo đức cho học sinh luôn là “vấn đề nóng” trong mọi thời đại, mọi nền giáo dục. Trên thế giới, từ thời cổ đại, các nhà giáo dục lớn đã đặt vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ trung tâm của các nhà trường. Ở phương Đông, Khổng Tử, là nhà giáo dục đã có nhiều công lao đặt nền móng cho lý luận GDĐĐ học sinh. Nhiều tư tưởng GDĐĐ của ông đến nay vẫn còn lưu truyền trong các nền giáo dục hiện đại của nhiều quốc gia. Ở phương Tây, từ thời cổ đại, Aristôt đã chia con người thành ba bộ phận là xương thịt, ý chí và lý chí, tương đương với cấu trúc đó có ba nội dung giáo dục là thể dục, đức dục và trí dục. GDĐĐ cho học sinh là một trong ba nội dung của giáo dục. Tư tưởng coi trọng GDĐĐ cho học sinh được lưu truyền qua các thời kỳ lịch sử giáo dục của mọi quốc gia. Sang thời kỳ văn hoá phục hưng, cùng với sự xuất hiện của các nhà khoa học giáo dục lớn là sự ra đời của các tác phẩm, các tư tưởng mới về GDĐĐ cho học sinh. J.A. Cômenxky (1592 – 1670), trong tác phẩm Khoa sư phạm vĩ đại của mình, Ông cho rằng: nhà trường là “xưởng rèn nhân cách”, quá trình giáo dục phải tuân theo quy luật phát triển tự nhiên “như sinh hoạt của cỏ, cây, hoa, lá, của cuộc sống xem có phù hợp không, nếu không phù hợp sẽ trái quy luật và dẫn tới đổ vỡ trong giáo dục” . Tiếp tục tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen, trong quá trình đấu tranh chống lại các học thuyết đạo đức duy tâm, phản động đang đầu độc giai cấp công nhân và nhân dân lao động, V.I. Lênin đã khẳng định sự tất yếu ra đời của “luân lý cộng sản” và “đạo đức cộng sản” . Những luận điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đặt cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu quản lý quá trình giáo dục phẩm chất nhân cách nhằm đảm bảo cho con nguời phát triển một cách toàn diện, là cơ sở khoa học để xây dựng, phát triển và quản lý nền giáo dục mới – nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, nước Nga xã hội chủ nghĩa ra đời, giáo dục bị phân chia thành hai dòng phát triển là giáo dục tư bản chủ nghĩa và giáo dục xã hội chủ nghĩa cùng song song tồn tại. Mỗi dòng giáo dục dựa trên những cơ sở phương pháp luận khác nhau và có những quan niệm khác nhau về GDĐĐ cho học sinh. Dòng giáo dục xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện nhiều nhà khoa học chuyên nghiên cứu về GDĐĐ cho học sinh. Nhiều tác phẩm về GDĐĐ cho học sinh ra đời vào thời kỳ này, tiêu biểu là M.I. Calinin. Những bài nói, bài viết của M.I.Calinin về GDĐĐ đã được dịch 6
    6. 9. ra tiếng Việt. Đặc biệt, tác phẩm”Giáo dục cộng sản”, do Nhà xuất bản Thanh niên phát hành năm 1973, đã được sử dụng làm tài liệu giáo dục khá phổ biên trong các nhà trường lúc bấy giờ. Ở Việt Nam, với triết lý giáo dục “Tiên học lễ, hậu học văn”, ngay trong nền giáo dục Nho học, việc GDĐĐ cho học sinh luôn được coi trọng. Chu Văn An (1292 – 1370), là ông tổ của nền giáo dục Việt Nam đã đề cao tinh thần quản lý xã hội, đấu tranh chống các tệ nạn xã hội (thất trảm sớ); lịch sử giáo dục Việt Nam đã ghi nhận ông là nhà sư phạm lỗi lạc, đã từng là nhà quản lý đứng đầu Quốc Tử Giám dưới triều Trần, trong quá trình giáo dục ông không chỉ nêu gương sáng cho kẻ sĩ học tập mà còn kêu gọi, động viên và khuyên bảo học trò về ý thức và sự trau dồi đạo đức với tự quản lý mình trong quá trình giáo dục nhân cách, tư tưởng quản lý quá trình giáo dục nói chung, quản lý quá trình giáo dục phẩm chất, nhân cách nói riêng, đã được ông đề cập khá toàn diện và sâu sắc, ngày nay vẫn còn giá trị về lý luận và thực tiễn to lớn đối với công tác quản lý giáo dục. Lê Quý Đôn (1726 – 1784), đã nêu ý kiến tiến bộ về quản lý quá trình giáo dục nhân cách và quản lý xã hội được thể hiện ở các mệnh đề: “Tứ tôn” và “Ngũ quy”; trong đó, ông hướng học trò với cách quản lý của riêng mình thông qua đọc sách, nghị luận, trước tác để học tập trở thành người hiền tài, ông đề cao hiền tài, đề cao giáo dục và quản lý giáo dục trong xã hội. Đây là những kiến giải quan trọng cho quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục và quản lý quá trình giáo dục nói riêng. Tuy nhiên, do hạn chế về lịch sử và giai cấp, cho nên những quan điểm, tư tưởng quản lý và giáo dục của các ông có mặt còn mang nặng tính đẳng cấp, thiếu tính chất dân chủ, thiếu cơ sở khoa học trong cách thức tác động giáo dục con người và quản lý quá trình giáo dục. 7
    7. 10. Sang thời kỳ hiện đại, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của Việt Nam được xây dựng dựa trên triết lý giáo dục Hồ Chí Minh. Đó là nền giáo dục lấy việc GDĐĐ làm gốc, làm trung tâm cho sự phát triển hoàn toàn con người. Dựa trên triết lý Thiên – Địa – Nhân ở phương Đông và những luận điểm triết học hiện đại của học thuyết Mác – Lênin, cùng với những giá trị văn hoá của dân tộc và thế giới, Hồ Chí Minh đã khái quát bản chất con người với bốn đức tính “cần, kiêm, liêm, chính”. Bốn đức tính đó được đặt trong mối quan hệ với quy luật của trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Trong giáo dục học sinh, Hồ Chí Minh coi trọng giáo dục cả đức và tài, nhưng trong đó đức phải là gốc, đức là cơ sở cho sự phát triển của tài. Người nói: “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đức, không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. 8
    8. 13. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động QLGDĐĐ của hiệu trưởng trường THCS, đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm mang lại chất lượng, hiệu quả trường của Đảng. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động QLGDĐĐ của hiệu trưởng trường THCS, đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm mang lại chất lượng, hiệu quả trường của Đảng. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Khách thể nghiên cứu Quản lý giáo dục nhà trường trung học cơ sở 4.2. Đối tượng nghiên cứu Quản lý của hiệu trưởng đối với giáo dục đạo đức cho học sinh THCS 4.3. Phạm vi nghiên cứu Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài này tiếp cận vấn đề QLGDĐĐ cho học sinh dưới góc độ của khoa học quản lý giáo dục. Tuy nhiên, QLGDĐĐ cho học sinh là một phạm trù rộng, bao gồm nhiều cấp quản lý, nhiều lực lượng cùng tham gia quản lý. Đề tài này chỉ nghiên cứu biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhà trường THCS trong quá trình GDĐĐ cho học sinh. Giới hạn về khách thể điều tra: Đề tài chỉ nghiên cứu về QLGDĐĐ cho học sinh ở các trường THCS quận Hai Bà Trưng – Hà Nội. Khách thể điều tra là CBQL, Tổng phụ trách, GVCN của các trường THCS Lương Yên; THCS Quỳnh 11
    9. 14. Mai; THCS Trưng Nhị; THCS Lê Ngọc Hân; THCS Tô Hoàng ở Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội. Các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Giới hạn về thời gian: Các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát được nghiên cứu trong đề tài chỉ giới hạn trong thời gian 3 năm học, từ năm 2010 đến năm 2013. 5. Giả thuyết khoa học xây dựng được cơ sở lý luận về QLGDĐĐ cho học sinh THCS, đánh giá đúng thực trạng QLGDĐĐ QLGDĐĐ cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội sẽ khắc phục được những hạn chế đang diễn ra và sẽ đạt được chất lượng tốt hơn. 6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6.1. Phương pháp luận Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về GD&ĐT và quản lí giáo dục. Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo quan điểm hệ thống cấu trúc; quan điểm lịch sử- lôgic; quan điểm thực tiễn trong quá trình nghiên cứu. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá các tài liệu để hệ thống các vấn đề lí luận của đề tài. Lí luận về quản lí giáo dục và QLGDĐĐ cho học sinh ở trường THCS. Xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLGDĐĐ cho học sinh ở trường THCS. 12
    10. 17. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1. Các khái niệm công cụ của đề tài 1.1.1. Khái niệm đạo đức học sinh g, người khác và với chính bản thân mình. người; được hình thành, phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và mọi người tự giác thực hiện. Đạo đức là văn hóa của cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận thức của cá nhân và cũng là trình độ dân trí xã hội. Mỗi hình thái kinh tế hay mỗi giai đoạn đều có quy tắc sống không ghi thành văn bản nhưng có vị trí to lớn trong đời sống của cộng đồng. Đạo đức định hướng giá trị cuộc sống của mỗi cá nhân và điều chỉnh các hành vi xã hội, đạo đức thúc đẩy xã hội tiến đến trình độ văn minh. Dưới góc độ của khoa học giáo dục, đạo đức được xem xét dưới hai phương diện. Về phương diện cá nhân, đạo đức là hệ thống thái độ ứng xử và thói quen hành vi tốt đẹp của con người phù hợp với chuẩn mực giá trị của xã hội; Đạo đức là một phần cơ bản của nhân cách, theo quan điểm truyền thống phương Đông, thì nhân cách của con người gồm hai mặt là “Đức” và “Tài”. Trong đó “Đức” bao giờ cũng được coi là cái gốc của các giá trị khác. Về phương diện xã hội, đạo đức là hệ thống chuẩn mực giá trị quy định các mối quan hệ của cá nhân với những người khác. Chuẩn mực đạo đức là những yêu cầu khách quan của xã hội nhưng được cá nhân ý thức và chiếm lĩnh nó, chuyển hoá thành hệ thống thái độ, hành vi của bản thân. Con người sinh ra không phải đã có đạo đức mà thông qua giáo dục, thông qua các hoạt động, giao lưu làm cho những quy định của xã hội thâm nhập vào mỗi cá nhân và trở thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. 15
    11. 18. Từ phân tích lý luận chung về đạo đức, cho phép chúng ta rút ra quan niệm về đạo đức học sinh: Đạo đức của học sinh là toàn bộ những chuẩn mực về thái độ, hành vi đạo đức của người học sinh. Đạo đức học sinh là đạo đức của một thế hệ người đang được học tập, rèn luyện trong nhà trường có sự quản lý, tổ chức và định hướng của nhà trường. Đạo đức học sinh vừa phản ánh đặc điểm riêng của cá nhân, vừa mang bản chất xã hội. Đạo đức của học sinh THCS là đạo đức của học sinh ở một lứa tuổi cụ thể. Mỗi độ tuổi khác nhau có những yêu cầu khác nhau về chuẩn mực giá trị đạo đức. Những chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội được nhà trường chọn lọc, gia công sư phạm thành những phẩm chất đạo đức phù hợp với đặc điểm lứa tuổi mà học sinh có thể hấp thụ được và chuyển hoá thành phẩm chất đạo đức của bản thân. 1.1.2. Khái niệm giáo dục đạo đức cho học sinh Đạo đức không phải “từ trên trời rơi xuống”, mà đó là kết quả của quá trình rèn luyện kiên trì, bền bỉ hàng ngày của mỗi người. Đạo đức học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục, có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của nhà trường. Tức là, có sự quản lý, điều khiển của các nhà quản lý giáo dục. Nhà quản lý có chức năng tổ chức, điều khiển quá trình giáo dục, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức GDĐĐ sao cho phù hợp với lôgíc hình thành phát triển nhân cách học sinh, phù hợp với mục tiêu yêu cầu giáo dục chung của nhà trường. Tiếp cận dưới góc độ hoạt động nhân cách, thì bản chất của giáo dục là sự tác động qua lại giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, thông qua tổ chức cuộc sống, hoạt động, giao lưu, nhằm nâng cao nhận thức, hình thành tình cảm, thái độ, niềm tin, rèn luyện thói quen hành vi đạo đức tốt đẹp theo mục tiêu giáo dục của nhà trường và phù hợp với chuẩn mực giá trị của xã 16
    12. 19. hội. Đạo đức, nhân cách của học sinh được hình thành, phát triển trong quá trình giáo dục của nhà trường. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Hiền giữ đâu phải là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Giáo dục can thiệp vào tất cả các yếu tố cấu thành nhân cách học sinh. Giáo dục tổ chức cho học sinh tham gia các loại hình hoạt động sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện sư phạm cụ thể. Giáo dục tổ chức xây dựng, cải tạo môi trường và đưa học sinh vào những môi trường thuận lợi cho sự phát triển đạo đức, nhân cách. Giáo dục phát hiện ra những ưu điểm, nhược điểm trong cấu trúc tố chất bẩm sinh, di truyền của học sinh để có những biện pháp tác động sư phạm nhằm kích thích, phát triển những tố chất tốt đẹp và khắc phục những tố chất xấu, làm cho đạo đức, nhân cách học sinh ngày càng hoàn thiện. Có thể quan niệm: Giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình có mục đích, có tổ chức, phối hợp thống nhất giữa hoạt động của nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, nhằm chuyển hoá những chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội thành phẩm chất đạo đức của cá nhân học sinh theo mục tiêu giáo dục của nhà trường. Mục đích giáo dục đạo đức cho học sinh là trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết về các mối quan hệ xã hội, về lối sống nhân văn, nhân đạo, nhân quyền… Hình thành cho học sinh thái độ, tình cảm, niềm tin trong sáng đối với mọi người xung quanh. Rèn luyện để mỗi người tự giác rèn luyện và thực hiện các chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành các quy định của tập thể học sinh, của cộng đồng, nỗ lực học tập để cống hiến nhiều nhất cho Tổ quốc, nhằm phát triển toàn diện nhân cách của học sinh. Điều 27, Luật giáo dục sửa đổi năm 2009 xác định: thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”. Như vậy, GDĐĐ cho học sinh THCS là một nội dung, 17
    13. 20. nhiệm vụ giáo dục của nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện con người theo mục tiêu, yêu cầu của xã hội. Chủ thể giáo dục đạo đức cho học sinh là các nhà giáo dục trong nhà trường. Chủ thể giáo dục là những nhà giáo dục chuyên nghiệp, nhà sư phạm được đào tạo cơ bản có đủ phẩm chất, năng lực để tiến hành các hoạt động giáo dục. Trong thực tiễn, tham gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh còn bao gồm cả các tổ chức giáo dục trong nhà trường, xã hội và gia đình của học sinh. Đó là những môi trường gần mà học sinh thường xuyên tham gia sinh hoạt, thường xuyên tác động đến cuộc sống, hoạt động, giao lưu của học sinh. Đối tượng giáo dục là học sinh. Đó là những người đang học tập, rèn luyện để trở thành một thành viên đầy đủ của xã hội. Học sinh là những người ở độ tuổi đang hoà nhập vào xã hội, đang hình thành các quan điểm, thái độ, hành vi. Mọi sự tác động của xã hội, của nhà trường, gia đình đối với học sinh đều để lại những dấu ấn đầu tiên trong tâm hồn của họ, có tác động rất sâu sắc. Tác động tích cực sẽ hướng cho học sinh hình thành những biểu tượng tốt đẹp và ngược lại, tác động tiêu cực sẽ để lại trong tâm hồn học sinh những biểu tượng xấu. Chủ thể giáo dục thông qua các hoạt động dạy học, tổ chức cuộc sống, giao lưu và các loại hình hoạt động khác để giáo dục. Phương thức giáo dục chủ yếu trong nhà trường là thông qua dạy học để nâng cao nhận thức, xây dựng niềm tin đạo đức tốt đẹp. Đồng thời giáo dục trong nhà trường phải thông qua tổ chức cho học sinh tham gia vào các loại hình hoạt động, giao lưu để hình thành các mối quan hệ xã hội tốt đẹp, đồng thời hình thành hệ thống thái độ tích cực đối với con người và thế giới chung quanh. 1.1.3. Khái niệm quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình tổ chức, phối hợp các lực lượng giáo dục, điều khiển các loại hình hoạt động của nhà trường 18
    14. 21. nhằm đảm bảo cho quá trình giáo dục đạo đức diễn ra đúng kế hoạch và đạt được mục tiêu chuyển hoá những chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội thành phẩm chất đạo đức của cá nhân học sinh với chất lượng cao nhất. Mục đích của quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh là đảm bảo cho các hoạt động giáo dục diễn ra theo một hệ thống nhất quán, phù hợp với quy luật giáo dục, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm lực của nhà trường và xã hội cùng tham gia vào quá trình giáo dục. GDĐĐ cho học sinh là một nhiệm vụ trung tâm của nhà trường, đòi hỏi mọi giáo viên, mọi tổ chức lực lượng trong nhà trường cùng phải tham gia. GDĐĐ cho học sinh không phải chỉ bằng những bài giảng về đạo đức công dân, mà phải thông qua mọi loại hình hoạt động đa dạng của nhà trường. Điều đó đòi hỏi quá trình GDĐĐ cho học sinh cần phải được quản lý, tổ chức theo một kế hoạch chung, thống nhất cho mọi lực lượng, mọi hoạt động. QLGDĐĐ cho học sinh có nhiệm vụ huy động mọi tiềm lực và tổ chức, phối hợp các lực lượng cùng tham gia vào quá trình giáo dục. Đảm bảo cho hoạt động của các lực lượng không mâu thuẩn với nhau mà phải cùng hướng tới một mục tiêu chung của nhà trường. Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh là quản lý toàn bộ các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục và mọi hoạt động của các lực lượng đó. Phương thức quản lý chủ yếu là thông qua hệ thống kế hoạch giáo dục của nhà trường. GDĐĐ cho học sinh bao giờ cũng diễn ra theo những quy luật của quá trình giáo dục, người quản lý có chức năng nắm quy luật đó và đề ra các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động giáo dục sao cho phù hợp với quy luật. Trên cơ sở đó, xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục cho từng loại đối tượng, dự kiến phân chia thời gian theo thời khóa biểu của từng tuần, từng tháng, từng quý, từng học kỳ đến cả năm học, cả khoá học. Tức là, người CBQL nhà trường phải xây dựng được kế hoạch quản lý ngắn hạn, trung hạn, dài hạn cho các hoạt động GDĐĐ học sinh. 19
    15. 22. Chủ thể quản lý giáo dục đạo đức học sinh trong nhà trường là đội ngũ CBQL giáo dục và các tổ chức quản lý giáo dục của nhà trường, đứng đầu là Hiệu trưởng nhà trường. Chủ thể quản lý giáo dục vừa là cá nhân, vừa là tập thể. Mọi hoạt động của chủ thể QLGDĐĐ cho học sinh được thực hiện dựa trên các nguyên tắc quản lý giáo dục nhà trường, trong đó nguyên tắc tập trung dân chủ được xác định là nguyên tắc cơ bản. Ở nhà trường THCS, chủ thể QLGDĐĐ cho học sinh cũng đồng thời là chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đó. Chủ thể QLGDĐĐ cho học sinh vừa phải có kiến thức về quản lý giáo dục, vừa phải có hiểu biết và kỹ năng thực tiễn về GDĐĐ cho học sinh. Đối tượng quản lý là các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh. Trong đó, bao gồm cả nhà trường, gia đình và xã hội, nhưng chủ yếu vẫn là đội ngũ giáo viên và học sinh của nhà trường. Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý chỉ có tính tương đối. Trong một số trường hợp, đối tượng chịu sự quản lý của cấp trên nhưng đồng thời lại là chủ thể quản lý của cấp dưới. Học sinh là đối tượng quản lý của nhà trường, của gia đình và của xã hội, nhưng học sinh lại là chủ thể quản lý quá trình tự giáo dục, tự điều khiển các hành vi đạo đức của chính bản thân mình. Đối tượng quản lý chịu sự quản lý của chủ thể quản lý. Mọi hoạt động của đối tượng quản lý phải tuân thủ theo yêu cầu của chủ thể quản lý. Trên cơ sở những yêu cầu của chủ thể quản lý, đối tượng quản lý phải chuyển hoá những yêu cầu đó thành yêu cầu của chính bản thân mình. Sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý là sự tác động hai chiều. Đối tượng quản lý tiếp nhận những tác động của chủ thể quản lý không phải thụ động, máy móc mà được thực hiện một cách có ý thức, có chọn lọc. Kết quả hoạt động của đối tượng quản lý cao hay thấp phụ thuộc vào thái độ tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý có tích cực hay không. Kết quả hoạt động GDĐĐ 20
    16. 23. cho học sinh cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào thái độ tích cực của đối tượng quản lý trong tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý. 1.1.4. Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh THCS Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là cách thức tổ chức, điều khiển các lực lượng giáo dục trong nhà trường khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm lực giáo dục trong quá trình thực hiện các nội dung, nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh, đảm bảo cho các hoạt động giáo dục diễn đúng quy luật và thống nhất trong toàn trường. Quản lý giáo dục bao giờ cũng có kế hoạch. Hiệu trưởng quản lý nhà trường bằng kế hoạch, quản lý thông qua kế hoạch. Hiệu trưởng phải xây dựng biện pháp quản lý, dự kiến cách thức tổ chức tiến hành thực hiện các nhiệm vụ quản lý và xử lý các tình huống xuất hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đó. Tất cả những điều đó đều được thể hiện trong kế hoạch giáo dục. Cấu trúc của bản kế hoạch giáo dục thường bao gồm mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ và biện pháp tổ chức thực hiện. Một bản kế hoạch có tính khả thi hay không, chủ yếu là ở hệ thống biện pháp có phù hợp hay không. Mục tiêu một thì phải có biện pháp mười. Điều đó đã phản ánh vai trò quan trọng của biện pháp. Biện pháp là một phần nội dung của kế hoạch, được xác định trong kế hoạch. Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục nhà trường, đồng thời phải dự kiến biện pháp quản lý. Dự kiến các biện pháp quản lý phải dựa trên cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn cụ thể. Biện pháp dự kiến càng sát với thực tiễn bao nhiêu càng có tính khả thi bấy nhiêu. Biện pháp quản lý phải thống nhất với nhiệm vụ, nội dung và mục tiêu quản lý. Biện pháp QLGDĐĐ cho học sinh là cách thức tổ chức, điều khiển các hoạt động GDĐĐ. Trong QLGDĐĐ cho học sinh, biện pháp không đồng nhất với phương pháp và giải pháp. Biện pháp QLGDĐĐ mang tính cụ thể, còn giải 21
    17. 24. pháp mang tính tổng quát hơn. Biện pháp thường nói về cách thức tổ chức tiến hành, thực hiện, cách xử lý các tình huống trong thực tiễn, các thủ pháp của một chủ thể rõ ràng. Biện pháp QLGDĐĐ cho học sinh có tính khoa học. Tính khoa học là tính hợp quy luật khách quan của các biện pháp. Để dự kiến được các biện pháp có tính khoa học đòi hỏi Hiệu trưởng phải có kiến thức về quản lý giáo dục và phải có hiểu biết chung về lý luận, thực tiễn GDĐĐ học sinh. Biện pháp QLGDĐĐ học sinh phải phù hợp với những quy định pháp lý hiện hành. Các biện pháp của Hiệu trưởng phải phù hợp với những quy định về quyền hạn, nhiệm vụ của Hiệu trưởng đã được quy định trong Điều lệ công tác nhà trường. Đồng thời, những biện pháp đó không mâu thuẫn với các văn bản quy định của ngành GD&ĐT, của nhà trường và của các tổ chức xã hội. Biện pháp QLGDĐĐ cho học sinh phải có tính khả thi. Tức là biện pháp phù hợp với khả năng, của chủ thể và đối tượng quản lý, phù hợp nhiệm vụ, nội dung giáo dục, phù hợp mục tiêu giáo dục. Biện pháp đề xuất phải triển khai thực hiện được và thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn. Biện pháp QLGDĐĐ cho học sinh THCS phải phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh. Những biện pháp đó còn phải phù hợp với đặc điểm về chương trình, nội dung giáo dục ở các trường THCS. Học sinh THCS có những đặc điểm riêng về tâm lý và sinh lý, có chương trình, nội dung giáo dục riêng đã được quy định. Hiệu trưởng nhà trường đề xuất các biện pháp QLGDĐĐ cho học sinh vừa phải tuân thủ theo những yêu cầu chung, vừa phải biết bám sát và khai thác các đặc điểm riêng của học sinh THCS. 1.2. Vai trò của Hiệu trưởng và nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS 1.2.1. Vai trò của Hiệu trưởng trong quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS 22
    18. 25. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các nhà trường THCS là nhiệm vụ của mọi CBQL giáo dục trong nhà trường, đứng đầu là Hiệu trưởng. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm đầu tiên và cũng là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong mọi hoạt động của đội ngũ CBQL giáo dục trong nhà trường. Mỗi trường THCS có một Hiệu trưởng và một số Phó hiệu trưởng. Hiệu trưởng phải đạt tiêu chuẩn quy định tại Chuẩn Hiệu trưởng trường THCS, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường. Hiệu trưởng các trường THCS thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học. Hiệu trưởng trường THCS có chức năng quản lý mọi tổ chức, mọi hoạt động của nhà trường, chịu trách nhiệm về mọi mặt của nhà trường. Trong đó, có các nhiệm vụ xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường; thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường theo quy định; xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của hiệu trưởng THCS là quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức. Với chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Điều lệ công tác nhà trường, Hiệu trưởng THCS là người chịu trách nhiệm chính trong quản lý các hoạt động GDĐĐ cho học sinh. Hiệu trưởng quản lý quá trình GDĐĐ cho học sinh bằng kế hoạch. Hiệu trưởng phải chủ động xây dựng kế hoạch vạch ra các biện pháp quản lý, phối hợp các mặt hoạt động, phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường, nhằm khai thác, sử dụng mọi tiềm lực của nhà trường tham gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh. Trước hết, Hiệu trưởng có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tổng thể của nhà trường, trong đó chú trọng phối hợp các mặt hoạt động trong nhà trường hướng 23
    19. 26. vào giáo dục đạo đức cho học sinh. GDĐĐ cho học sinh không phải là một mặt hoạt động riêng biệt của nhà trường mà đó là hoạt động được thực hiện thông qua các mặt hoạt động khác trong nhà trường. Hiệu trưởng có nhiệm vụ xác định mục tiêu, nội dung, phương thức GDĐĐ cho học sinh thông qua các loại hình hoạt động đó. Nếu không có kế hoạch, không có định hướng giáo dục thì các mặt hoạt động của nhà trường chỉ nhằm thực hiện các nhiệm vụ đơn lẻ của lĩnh vực hoạt động đó, còn kết quả GDĐĐ chỉ là hệ quả tự phát, thiếu tính hệ thống, thiếu tính bền vững. Hiệu trưởng có nhiệm vụ tổ chức, phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh. QLGDĐĐ cho học sinh là nhiệm vụ đòi hỏi cả hệ thống nhà trường cùng tham gia. Tuy nhiên, Hiệu trưởng phải phân công trách nhiệm cụ thể cho từng lực lượng với từng mặt hoạt động cụ thể. QLGDĐĐ cho học sinh cần phải có sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội. Hiệu trưởng có nhiệm vụ định ra kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục tham gia vào các loại hình hoạt động GDĐĐ cho học sinh. Hiệu trưởng trường THCS có chức năng quản lý mọi tổ chức, mọi hoạt động của nhà trường, chịu trách nhiệm về mọi mặt của nhà trường. Hiệu trưởng phải chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường, nhằm khai thác, sử dụng mọi tiềm lực của nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh. Mối quan hệ giữa hiệu trưởng với Chi Đoàn, Công đoàn là mối quan hệ phối hợp hoạt động theo sự lãnh đạo của chi bộ, chỉ đạo của BGH. Quan hệ giữa hiệu trưởng với hội đồng sư phạm, hội đồng thi đua khen thưởng, kỉ luật, hội cha mẹ học sinh là mối quan hệ tham mưu tác động. Mối quan hệ giữa hiệu trưởng và phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, GVBM, 24
    20. 27. GVCN là các mối quan hệ chỉ huy điều hành, các mối quan hệ này có tác động hỗ trợ, ràng buộc chặt chẽ với nhau. Hiệu trưởng có nhiệm vụ tổ chức, phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh. Hiệu trưởng phải phân công trách nhiệm cụ thể cho từng lực lượng với từng mặt hoạt động cụ thể. Hiệu trưởng có nhiệm vụ định ra kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục tham gia vào các loại hình hoạt động GDĐĐ cho học sinh. ‘ Hiệu trưởng nhà trường THCS không chỉ xây dựng kế hoạch mà còn phải tổ chức thực hiện kế hoạch, thường xuyên kiểm tra, phát hiện, nắm thông tin ngược kịp thời ra những quyết định, điều chỉnh các hoạt động của các lực lượng giáo dục trong quá trình giáo GDĐĐ cho học sinh. 1.2.2. Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS Cách thức xác định nội dung QLGDĐĐ cho học sinh THCS, có thể tiếp cận theo những góc độ khác nhau. Theo tiếp cận chức năng quản lý, thì nội dung QLGDĐĐ cho học sinh THCS bao gồm việc thực hiện các chức năng quản lý giáo dục. Theo tiếp cận các thành tố cấu trúc, thì nội dung QLGDĐĐ cho học sinh THCS gồm các thành tố tham gia vào quá trình QLGDĐĐ cho học sinh. Ngoài ra, còn có thể xác định nội dung QLGDĐĐ cho học sinh THCS theo những cách tiếp cận khác. Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Để khắc phục những nhược điểm của các cách tiếp cận riêng lẻ đó, chúng tôi đề xuất cách tiếp cận tổng thể, bao gồm cả tiếp cận chức năng và tiếp cận các thành tố. Theo cách tiếp cận tổng thể, nội dung QLGDĐĐ cho học sinh gồm những vấn đề cơ bản sau: 1.2.2.1. Quản lý kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh Căn cứ vào kế hoạch tổng thể chung của nhà trường, Hiệu trưởng trực tiếp xây dựng kế hoạch, hoặc chỉ đạo các lực lượng quản lý giáo dục trong 25
    21. 29. cuối cùng mà tổ chức và các lực lượng GDĐĐ trong toàn trường mong muốn đạt tới. Vì vậy, trong QLGDĐĐ cho học sinh, việc xây dựng và quản lý mục tiêu ngay từ khi bắt đầu là một yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến tính khả thi của kế hoạch quản lý. Vì mục tiêu quản lý không những định hướng cho hành động của nhà quản lý, mà còn chỉ dẫn nhà quản lý giáo dục trong toàn trường ra các quyết định quản lý chính xác, phù hợp yêu cầu của nhà trường và yêu cầu xã hội. Để quản lý tốt mục tiêu GDĐĐ cho học sinh THCS, chủ thể quản lý giáo dục phải dựa trên cơ sở pháp lý quy định trong Luật Giáo dục, Điều lệ trường phổ thông, của Nhà trường và các văn bản pháp quy khác; phải quản lý tốt từ khâu thiết kế mục tiêu đến quá trình tổ chức thực hiện mục tiêu và phải phát huy tốt vai trò của hệ thống quản lý giáo dục nhà trường trong quản lý mục tiêu, biến mục tiêu thành hiện thực. Quản lý nội dung, chương trình GDĐĐ cho học sinh là quản lý toàn bộ hệ thống các kiến thức, các giá trị, chuẩn mực, các kỹ xảo, kỹ năng cần trang bị… thực chất của quản lý nội dung GDĐĐ là quán triệt mục tiêu, yêu cầu GDĐĐ của Nhà trường vào nội dung giáo dục, bảo đảm cho nội dung GDĐĐ luôn nhất quán với mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Nhà trường. Quản lý nội dung là khâu thiết kế xây dựng chương trình, nội dung và quá trình thực hiện chương trình, nội dung GDĐĐ cho học sinh từ việc triển khai kế hoạch, cho đến phân công, phân cấp tổ chức thực hiện. Vì vậy, để thực hiện tốt vấn đề này, yêu cầu đội ngũ CBQL phải quán triệt sâu sắc kế hoạch GDĐĐ, nắm chắc mục tiêu, yêu cầu nội dung GDĐĐ và quy định về khối lượng kiến thức cần trang bị cho học sinh theo từng năm học và từng giai đoạn. Quản lý kế hoạch GDĐĐ cho học sinh là quản lý toàn bộ khâu thiết kế về các hoạt động GDĐĐ của nhà trường, bao gồm dự kiến mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, dự kiến tổ chức lực lượng giáo dục 27
    22. 31. các phương pháp, hình thức đó nhằm giáo dục nhận thức, bồi dưỡng ý thức và hình thành thói quen, hành vi đạo đức cho học sinh. Theo đó, phương pháp, hình thức tổ chức GDĐĐ cho học sinh bao gồm toàn bộ những cách thức tổ chức, cách thức thao tác và biện pháp tác động, điều khiển của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã xác định. Hệ thống công cụ quản lý gồm: Điều lệ nhà trường phổ thông; Quy chế GD&ĐT và chương trình, kế hoạch, nội quy của các cấp. Sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp quản lý, song cần tập trung vào ba phương pháp chủ yếu, đó là: Phương pháp hành chính; phương pháp giáo dục, thuyết phục, nêu gương; phương pháp kích thích bằng vật chất, tinh thần và phương pháp kiểm tra, đánh giá. Hiệu trưởng tiến hành các hoạt động quản lý, tổ chức lực lượng GDĐĐ cho học sinh trường THCS. Phân công rõ ràng từng nội dung công việc đến từng người thực hiện. Sự phân công phải cụ thể về nội dung công việc, thời gian hoàn thành, chất lượng sản phẩm. Xác lập cơ cấu phối hợp với các bộ phận chức năng để công việc được tiến hành đồng bộ, toàn diện, đúng tiến độ của kế hoạch chung. Chủ thể của quá trình GDĐĐ cho học sinh trong nhà trường THCS là đội ngũ giáo viên và học sinh. Quản lý lực lượng GDĐĐ cho học sinh THCS, trước hết là quản lý đội ngũ giáo viên và học sinh. Quản lý học sinh về thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ của học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức. Để quản lý đối tượng GDĐĐ là học sinh, đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải sâu sát nắm chắc số lượng, chất lượng, trình độ văn hoá của từng học sinh, đặc điểm tâm lý, lứa tuổi, thành phần xuất thân để phân loại và có những hình thức, biện pháp quản lý, giáo dục linh hoạt, mềm dẻo cụ thể và ra các quyết định quản lý phù hợp; hướng dẫn học sinh lập kế hoạch rèn luyện thói quen, 29
    23. 32. hành vi đạo đức; tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch; thường xuyên theo dõi, tìm hiểu những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong quá trình học tập và rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức để có sự điều chỉnh kịp thời nhằm thực hiện thống nhất mục tiêu quản lý đã xác định, đồng thời tiến hành có nề nếp các hoạt động; tổ chức tốt các hoạt động tự quản lý và phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục tạo điều kiện cho học sinh phát triển, hoàn thiện nhân cách. Hạt nhân của quản lý học sinh trong quá trình GDĐĐ là quản lý các hoạt động của học sinh, quản lý các mối quan hệ và kết quả chuyển hoá những chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội thành thái độ, niềm tin, thói quen hành vi đạo đức tốt đẹp của từng học sinh. Thông qua các loại hình hoạt động mà xây dựng hệ thống thái độ, xây dựng các mối quan hệ, bồi dưỡng các phẩm chất, các kỹ năng sống cùng nhau cho học sinh. Tham gia quá trình GDĐĐ học sinh còn có đội ngũ giáo viên bộ môn, các tổ chức quần chúng như: Đoàn thanh niên; công đoàn, phụ nữ; Hội đồng giáo dục…, đội ngũ GVCN phải phối hợp chặt chẽ với các bộ phận, các lực lượng trong nhà trường để quản lý, giáo dục, rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức cho học sinh. Mặt khác, học sinh vừa là chủ thể, vừa là đối tượng quản lý; cho nên, chỉ có thể nâng cao chất lượng QLGDĐĐ khi học sinh ý thức đầy đủ về vai trò của tự quản lý, giáo dục và rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức. Ngoài các chủ thể bên trong nhà trường là giáo viên, học sinh và các tổ chức đoàn thể; quá trình GDĐĐ cho học sinh THCS còn có các chủ thể bên ngoài nhà trường đó là gia đình và các tổ chức xã hội. Gia đình và các tổ chức xã hội vừa là chủ thể quản lý giáo dục, vừa là môi trường GDĐĐ cho học sinh. Quan hệ giữa nhà trường với gia đình và các tổ chức xã hội là quan hệ phối hợp hoạt động giữa chủ thể bên trong với chủ thể bên ngoài nhà trường. 1.2.2.3. Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức 30
    24. 33. Chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là một phạm trù rộng, có thể tiếp cận đánh giá chất lượng nhiều góc độ khác nhau. Đối với Hiệu trưởng nhà trường THCS, quản lý chất lượng gắn liền với các hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả GDĐĐ cho học sinh. Kiểm tra, giám sát, thanh tra là một chức năng quan trọng của quản lý giáo dục. Kiểm tra phải đi cùng với đánh giá, kiểm tra là điều kiện để đánh giá. Kiểm tra, đánh giá tình trạng ban đầu: đây là khâu kiểm tra đánh giá để xây dựng kế hoạch giáo dục. Kiểm tra, đánh giá tình trạng ban đầu còn bao gồm kiểm tra, đánh giá tình trạng triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục đã được phê duyệt. Hiệu trưởng phải bám sát, nắm bắt những diễn biến ban đầu, đánh giá kết quả triển khai thực hiện kế hoạch của các lực lượng, các đầu mối và kịp thời động viên, khuyến khích hợp lý hoặc đưa ra những quyết định điều chỉnh bổ sung khi cần thiết. Kiểm tra, đánh giá quá trình: sau khi đã khởi đầu thành công, các hoạt động GDĐĐ cho học sinh tiếp tục được diễn ra theo kế hoạch. Hiệu trưởng cần kiểm tra, đánh giá về tiến độ thực hiện các nhiệm vụ, nội dung giáo dục; về phương pháp tiến hành; về kết quả ban đầu của các hoạt động bộ phận, các giai đoạn, phát hiện sai sót, lệch lạc; tìm nguyên nhân để điều chỉnh, uốn nắn kịp thời. Kiểm tra, đánh giá kết thúc thực hiện kế hoạch. Đây là khâu kiểm tra, đánh giá tổng hợp kết quả thực hiện của các lực lượng, các đầu mối. Sau một quá trình giáo dục, một học kỳ, một năm, một khoá học thường phải có kiểm tra, đánh giá kết quả. Kết quả giáo dục đạo đức là mức độ đạt được về phẩm chất của học sinh theo thiết kế của mục tiêu, là thước đo đánh giá chất lượng quá trình giáo dục, là kết tinh tất cả các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục, của các yếu tố lãnh đạo, quản lý, đến việc thực hiện các khâu, các bước của quá trình giáo dục. Kết quả GDĐĐ nếu được nhìn nhận đánh giá và lượng hoá một cách khoa học, được đối chiếu thường xuyên với mục tiêu đặt ra trong quá trình giáo dục và 31
    25. 34. được điều chỉnh kịp thời sẽ có tác dụng đưa quá trình giáo dục phát triển đúng hướng, đáp ứng mục tiêu yêu, cầu đào tạo của Nhà trường. Để quản lý tốt kết quả GDĐĐ cho học sinh thì việc đánh giá kết quả GDĐĐ phải được tiến hành một cách nghiêm túc, đảm bảo tính khách quan, công bằng; đảm bảo tính toàn diện nhưng phải có trọng điểm; đảm bảo tính phát triển và phản ánh đúng thực chất, đúng thủ tục, quy trình phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Nhà trường và thường xuyên rút kinh nghiệm về công tác kiểm tra đánh giá kết quả GDĐĐ cho học sinh. Như vậy, những nội dung QLGDĐĐ cho học sinh THCS hiện nay có quan hệ biện chứng, thống nhất chặt chẽ với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Việc quản lý tốt nội dung này sẽ là điều kiện để quản lý các nội dung khác và ngược lại. QLGDĐĐ cho học sinh, thì chủ thể giữ vai trò quyết định, còn tính tích cực, tự giác, năng động của học sinh giữ vai trò quan trọng, cho nên phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng, không được tuyệt đối hoá và xem nhẹ nội dung nào. 1. 3. Những yếu tố tác động đến quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 1.3.1. Những yếu tố chủ quan yếu ếu tố chủ quan là những nhân tố tác động từ bên trong nhà trường. Bao gồm những yếu tố thuộc về nhà trường và những yếu tố thuộc về giáo viên, học sinh. Trước hết, quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường. Đội ngũ CBQL giáo dục nhà trường, đứng đầu là Hiệu trưởng – chủ thể của quá trình quản lý. Chất lượng GDĐĐ cho học sinh chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó chủ thể quản lý là yếu tố trung tâm, chi phối các yếu tố khác, liên kết các yếu tố, làm cho các yếu tố khác phát huy tác dụng. Người CBQL muốn 32
    26. 35. điều khiển được các thành tố khác, làm cho các thành tố đó luôn vận động theo đúng quy luật trong hệ thống quản lý thì phải có phẩm chất, năng lực tốt, phải có tâm, có tầm, có tài trong hoạt động quản lý. Chỉ khi nào người CBQL có tâm, có đức thì mới có tình thương yêu học sinh, và chỉ có tình thương yêu học sinh mới hình thành được động cơ thôi thúc họ xả thân vào các hoạt động của nhà trường với mục đích “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Mặt khác, người CBQL có tâm, có đức thì mới có thể lo trước cái lo của mọi người, vui sau cái vui của mọi người trong nhà trường, trở thành tấm gương mẫu mực cho mọi người noi theo. Năng lực của người CBQL cho phép họ đưa ra được những quyết định quản lý đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn của nhà trường. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS chịu sự chi phối của những chủ trương, biện pháp quản lý của người lãnh đạo cao nhất trong nhà trường. Chủ thể quản lý giáo dục nhà trường là người đề xuất các chủ trương, biện pháp QLGDĐĐ cho học sinh. Chủ trương, biện pháp quản lý đúng sẽ có tác động tích cực đến đội ngũ các bộ, giáo viên nhân viên và học sinh trong nhà trường, kích thích được các lực lượng tham gia vào các loại hình hoạt động với cả trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm lương tâm. Chủ trương, biện pháp quản lý phù hợp với thực tiễn sẽ giúp khai thác được các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực cho các hoạt động, sẽ tạo ra được những cơ hội cho sự phát triển của nhà trường. Trong nhà trường THCS, Hiệu trưởng là người lãnh đạo cao nhất, mọi chủ trương, biện pháp của hiệu trưởng có tác dụng định hướng cho hoạt động của đội ngũ cán bộ, giáo viên nhân viên và toàn bộ hệ thống quản lý giáo dục trong nhà trường. Điều đó đòi hỏi hiệu trưởng phải cân nhắc thật chín chắn, trước khi đưa ra các chủ trương hoặc các biện pháp quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS chịu sự chi phối của kế hoạch tổ chức giáo dục của nhà trường. Kế hoạch tổ chức giáo dục của nhà 33
    27. 36. trường khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì trở thành căn cứ pháp lý cho mọi hoạt động quản lý giáo dục của nhà trường. Kế hoạch là cơ sở để tạo nên sự thống nhất giữa các loại hình hoạt động trong nhà trường cùng hướng đến GDĐĐ cho học sinh. Mọi giáo viên, mọi CBQL phải thực hiện theo kế hoạch pháp lý đã được phê duyệt. Nếu kế hoạch được xây dựng một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn thì sẽ tạo cơ sở thuận lợi cho các cá nhân và tổ chức trong nhà trường tổ chức tiến hành các hoạt động của mình đạt được kết quả tốt nhất. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS chịu sự chi phối bởi vai trò của các lực lượng giáo dục trong nhà trường. QLGDĐĐ cho học sinh, về thực chất là điều khiển các lực lượng giáo dục trong nhà trường, đảm bảo cho hoạt động của các lực lượng này luôn đạt được chất lượng cao nhất. Các lực lượng giáo dục trong nhà trường là người trực tiếp tiến hành các loại hình hoạt động giáo dục cho học sinh. Suy đến cùng, hiệu quả GDĐĐ cho học sinh THCS phụ thuộc vào vai trò của các lực lượng giáo dục trong nhà trường đang hàng ngày, hàng giờ trực tiếp dạy giỗ, chăm sóc học sinh. Mặt khác, các lực lượng giáo dục trong nhà trường lại là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý giáo dục. Các lực lượng giáo dục trong nhà trường là cầu nối giữa chủ thể quản lý với học sinh. Chỉ khi nào các lực lượng giáo dục trong nhà trường phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm của mình thì hoạt động quản lý của chủ thể quản lý giáo dục mới được coi là đã thành công. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS chịu sự chi phối bởi môi trường văn hoá giáo dục của nhà trường. Môi trường văn hóa giáo dục của nhà trường là những giá trị của nhà trường được hình thành trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ giáo dục. Bao gồm trong đó những giá trị truyền thống và những giá trị hiện tại của nhà trường, cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Môi trường văn hóa giáo dục của nhà trường được biểu hiện ra bằng các 34
    28. 37. mối quan hệ sư phạm bên trong và bên ngoài của nhà trường, trong đó đặc biệt là mối quan hệ giữa các giáo viên với nhau, quan hệ giữa giáo viên với học sinh, quan hệ giữa người quản lý và người được quản lý. Môi trường văn hóa giáo dục của nhà trường được biểu hiện bằng hệ thống thái độ của đội ngũ cán bộ quản lý, của thầy, cô giáo và của học sinh. Đó là thái độ đối với người khác, đối với bản thân, đối với công việc được giao. Môi trường văn hóa giáo dục trong nhà trường còn được biểu hiện bằng hành vi, hành động, tác phong, lối sống của mọi thành viên trong nhà trường. Tất cả những biểu hiện của môi trường văn hóa đều có tác động đến quá trình quản lý giáo dục. Môi trường văn hóa sư phạm lành mạnh là điều kiện đảm bảo cho các hoạt động quản lý diễn ra thuận lợi, ngược lại, môi trường văn hóa sư phạm thiếu lành mạnh sẽ cản trở các hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong nhà trường. Ngoài ra, quản lý giáo dục đức cho học sinh THCS còn chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tố chủ quan khác như: trình độ, ý thức tự giáo dục của bản thân học sinh; hoạt động của Đoàn – Đội; điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường. 1.3.2. Những yếu tố khách quan Yếu tố khách quan tác động đến QLGDĐĐ cho học sinh THCS là những yếu tố tác động từ bên ngoài nhà trường. Những yếu tố tác động từ bên ngoài rất đa dạng, phong phú, có yếu tố gần, yếu tố xa, có yếu tố trực tiếp, có yếu tố gián tiếp, có yếu tố thực có tố ảo, có yếu tố vĩ mô, có yếu tố vi mô. Các yếu tố tác động đến QLGDĐĐ cho học sinh THCS không ngang bằng nhau, tùy từng giai đoạn mà nổi lên sự tác động ảnh hưởng của yếu tố nào nhiều hơn. Trong các yếu tố đa dạng đó có những yếu tố cơ bản sau: Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi của đạo đức học sinh. Ngoài thời gian học tập trong nhà trường, thời gian còn lại của học sinh THCS chủ yếu sinh hoạt với gia đình, chịu sự quản lý của gia đình. Đạo đức của học sinh 35
    29. 38. THCS được hình thành và phát triển như thế nào, một phần rất lớn phụ thuộc vào quản lý, giáo dục của gia đình. Trong thực tế, các gia đình thường có gia phong khác nhau, văn hóa khác nhau, tiếp cận với yếu tố thời đại, quan niệm về giáo dục con cái cũng không đồng nhất. Ngày nay, do sự phát triển của xã hội, do tính chất công việc đã tác động đến đặc điểm gia đình Việt Nam, tác động đến các hoạt động GDĐĐ cho học sinh. Điều đó có tác động không nhỏ đến quá trình quản lý giáo dục của nhà trường. Nếu gia đình phối hợp được với nhà trường, tham gia các hoạt động giáo dục cùng với nhà trường thì các hoạt động quản lý giáo dục của nhà trường sẽ thuận lợi hơn, kết quả cao hơn. Như vậy theo một nghĩa nào đó, QLGDĐĐ cho học sinh bao gồm cả QLGDĐĐ của gia đình. QLGDĐĐ cho học sinh bị tác động bởi truyền thống gia đình, văn hoá gia đình, trách nhiệm của gia đình trong giáo dục. Xã hội vừa là môi trường giáo dục vừa là chủ thể GDĐĐ cho học sinh. Giáo dục của nhà trường chịu sự quy định của giáo dục xã hội. Quản lý giáo dục của nhà trường bị quy định bởi các chế ước quản lý xã hội. Xét đến cùng, mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị, xã hội cuối cùng cũng hướng vào phục vụ cho mục tiêu phát triển con người. Trong khi đó mục tiêu phát triển con người lại là mục tiêu chuyên trách của giáo dục. Mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội quy định mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục, mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục chi phối mục tiêu giáo dục của nhà trường. Tất cả những điều đó đã nói lên mối quan hệ khăng khít giữa quản lý các mục tiêu giáo dục của nhà trường với quản lý các mục tiêu phát triển xã hội. QLGDĐĐ cho học sinh THCS không thể vượt ra ngoài khuôn khổ, giới hạn của quản lý phát triển xã hội. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS bị tác động bởi vai trò của các cấp chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương nơi nhà trường đứng chân, nơi cư trú của học sinh có vai trò tổ chức cải tạo, xây dựng môi 36
    30. 39. trường giáo dục thuận lợi cho học sinh. Nhà trường đứng chân trên địa bàn của địa phương phải chịu sự quản lý hành chính của địa phương. Mọi chủ trương chính sách quản lý xã hội của địa phương có tác động trực tiếp đến QLGDĐĐ cho học sinh trong nhà trường. Trong quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế, xu thế toàn cầu hóa vừa tạo ra những cơ hội mới, vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho các hoạt động QLGDĐĐ học sinh THCS. * * * Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh là một khoa học. QLGDĐĐ cho học sinh thuộc phạm trù quản lý nhà trường, về cơ bản được thực hiện dựa trên cơ sở khoa học của quản lý nhà trường. Tuy nhiên, QLGDĐĐ cho học sinh là một phạm trù khoa học độc lập, có mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý riêng. Đạo đức học sinh, GDĐĐ học sinh, QLGDĐĐ học sinh là những phạm trù khoa học được bổ sung, phát triển, hoàn thiện tiếp cận những thành tựu của khoa học giáo dục hiện đại. Trong đó, QLGDĐĐ cho học sinh THCS được xác định là khái niệm trung tâm của đề tài luận văn. Quá trình phân tích các khái niệm đó đã rút ra quan niệm về biện pháp QLGDĐĐ của hiệu trưởng. Theo đó, thực chất biện pháp quản lý của hiệu trưởng trong GDĐĐ cho học sinh THCS là cách thức tổ chức, chỉ đạo các lực lượng giáo dục trong nhà trường khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm lực giáo dục trong quá trình thực hiện các nội dung, nhiệm vụ GDĐĐ cho học sinh, đảm bảo cho các hoạt động giáo dục diễn ra đúng quy luật và thống nhất trong toàn trường. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là nhiệm vụ của cả hệ thống quản lý giáo dục trong nhà trường, trong đó hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất. Hiệu trưởng có vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý 37
    31. 40. được xác định rõ ràng. Nội dung QLGDĐĐ cho học sinh THCS bao gồm: Quản lý kế hoạch GDĐĐ cho học sinh; Quản lý khâu tổ chức thực hiện kế hoạch GDĐĐ; Quản lý kiểm tra, đánh giá quá trình GDĐĐ Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan. Trong đó, quan trọng nhất là các nhân tố về phẩm chất, năng lực của đội ngũ CBQL; chủ trương biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhà trường; kế hoạch quản lý nhà trường; môi trường văn hóa giáo dục; vai trò, trách nhiệm của các thầy, cô giáo và của học sinh; vai trò của nhà trường và xã hội. 38
    32. 41. Chương 2 Trưng 2.1.1. Quận Hai Bà Trưng nằm trên nền đất xưa vốn thuộc các tổng: Hậu Nghiêm (sau đổi là Thanh Nhàn), Tả Nghiêm (sau đổi là Kim Liên), Tiền Nghiêm (sau đổi là Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương, một số tổng của huyện Thanh Trì và vùng thái ấp của thượng tướng Trần Khát Chân từ Ô Cầu Dền (đầu đường Trần Khát Chân) đi xuống hết Bạch Mai, tới các phường có tên Mai (Mai Động, Tương Mai nay thuộc quận Hoàng Mai). Từ tháng 6 năm 1981 quận Đống Đa, một phần nhỏ giáp quận Thanh Xuân km2 2012) hơn 3.300 doanh nghiệp, trong đó 70% là thương mại, dịch vụ, còn lại là hoạt động công nghiệp. Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,5%; doanh thu thương mại, du lịch, dịch vụ tăng hơn15%; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quận đạt 933,841 tỷ đồng. Về công tác xã hội: Hơn 5 năm qua quận đã hỗ trợ sửa chữa và xây dựng 167 nhà đại đoàn kết, hỗ trợ cho 1.201 hộ gia đình thoát nghèo, trên 33.000 lao động được giới thiệu việc làm. Đến nay, số hộ nghèo trong toàn quận còn 1.022 hộ (chiếm 1,35%). Công tác y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình; công tác giáo dục đào tạo; công tác thông tin tuyên truyền và tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao tiếp tục giữ vững và đạt kết quả tốt trong nhiều năm qua. 39
    33. 42. Năm 2012, các chỉ tiêu kinh tế – xã hội của quận Hai Bà Trưng đều cơ bản hoàn thành. Giá trị sản xuất, thương mại, dịch vụ đạt 1.325 tỷ đồng (đạt 96% kế hoạch). Vào những tháng cuối năm 2012, quận cũng đã tập trung chỉ đạo giải ngân cho các dự án đầu tư cho giáo dục. 2.1.2. Tình hình giáo dục và n 2012 có khoảng 19.074 học sinh; năm học 2012 – 2013 có khoảng 22. 073 học sinh. GDĐĐ Quận uỷ, HĐND, UBND Quận, các ban ngành đoàn thể trong Quận đều quan tâm tới công tác phát triển giáo dục – đào tạo. Công tác chỉ đạo của ngành GD&ĐT có nhiều định hướng đổi mới và đúng hướng, đồng thời tổ chức thực hiện có hiệu quả. Trình độ văn hóa mang nét đặc trưng của các Quận nội thành nhưng cũng có nét văn hóa riêng của khu vực ngoại thành. Vì vậy có sự giao lưu văn hóa của hai khu vực, tác động đến văn hóa, phong cách, lối sống của thanh thiếu niên, ảnh hưởng đến việc QLGDĐĐ y còn khó khăn về đời sống nhưng có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo. khăn: tập của các nhà trường đã được quận và thành phố đầu tư với nguồn kinh phí lớn, tuy nhiên nhiều trường còn chưa được xây dựng, có trường còn phải học nhờ, đa số các trường mầm non công lập và một số trường phổ thông trong quận đang quá tải, trang thiết bị phục vụ dạy và học đã được đầu tư lớn nhưng chưa đáp ứng 40
    34. 43. được với yêu cầu giảng dạy. Đội ngũ CBQL và GV các nhà trường đã được kiện toàn, tuy nhiên một số vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục. 2.2. Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở Quận Hai Bà Trưng 2.2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng biện pháp của hiệu trưởng trong QLGDĐĐ cho học sinh THCS, để làm cơ sở thực tiễn đề xuất các biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh THCS đáp ứng yêu cầu nâng cao GDĐĐ, góp phần giáo dục toàn diện học sinh trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập Quốc tế. Nội dung khảo sát: Tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng đạo đức học sinh THCS Quận Hai Bà Trưng Thành phố Hà Nội. Tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng QLGDĐĐ cho học sinh THCS của hiệu trưởng các trường THCS quận Hai Bà Trưng Thành phố Hà Nội. Khảo sát những thuận lợi, khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến QLGDĐĐ cho học sinh THCS. Về cơ bản, nội dung khảo sát được dựa trên nội dung quản lý đã được xác định ở chương 1 của luận văn này. Phương pháp điều tra thực trạng: Xây dựng các mẫu phiếu điều tra, khảo sát thực trạng QLGDĐĐ cho học sinh THCS quận Hai Bà Trưng. Tổng kết kinh nghiệm của hiệu trưởng các trường THCS trên đại bàn Quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội về biện pháp QLGDĐĐ cho học sinh. Thông qua các hoạt động của nhà trường, các chương trình hoạt động ngoại khóa, hoạt động của các tập thể lớp….quan sát nhằm tìm hiểu công tác QLGDĐĐ cho học sinh. Nghiên cứu các văn bản giáo dục để có cơ sở khoa học đề xuất biện pháp QLGDĐĐ cho học sinh THCS một cách phù hợp, hiệu quả. Sử dụng các công 41
    35. 46. 4 Thông qua hoạt động chào cờ đầu tuần 2,70 2 5 Thông qua nội dung giáo dục theo chủ điểm tháng 2,50 5 6 Thông qua việc phối hợp các lực lượng giáo dục 2,10 7 7 Thông qua GVCN đánh giá đạo đức học sinh theo tháng, học kì và năm học 2,40 6 8 Thông qua việc đầu tư kinh phí cho hoạt động GDĐĐ 2,00 8 Qua kết quả khảo sát chúng tôi thấy Hiệu trưởng các trường THCS quận Hai Bà Trưng đều quan tâm tới công tác quản lý hình thức GDĐĐ cho học sinh rất sát sao. Việc chỉ đạo được coi là tốt hiện nay là chỉ đạo GDĐĐ thông qua dạy học trên lớp với điểm trung bình là 2,80 xếp bậc 1. Các giáo viên bộ môn đều có ý thức trách nhiệm GDĐĐ cho học sinh nhất là những bộ môn KHXH&NV; trong giờ học giáo viên uốn nắn thái độ, hành vi đạo đức cho học sinh; Chỉ đạo GDĐĐ thông qua tiết chào cờ đầu tuần với điểm trung bình 2,70 xếp bậc 2. Đây là tiết sinh hoạt ngoại khóa trong phạm vi toàn trường, để tổng kết những hoạt động học tập, tu dưỡng của các tập thể học sinh trong một tuần. Trước tập thể học sinh, Ban giám hiệu đánh giá những ưu khuyết điểm của các tập thể lớp và cá nhân học sinh. Khen thưởng, động viên học sinh, kỷ luật học sinh, uốn nắn, nhắc nhở học sinh thực hiện tốt nội qui trường, lớp… Đây là hoạt động có hiệu quả GDĐĐ cao nên các trường đều thực hiện tốt. Chỉ đạo GDĐĐ thông qua hoạt động của Đoàn thanh niên có điểm trung bình là 26,5 xếp bậc 3. Đây là hoạt động có hiệu quả cao. Dưới sự chỉ đạo của Chi ủy, Ban giám hiệu, Ban thiếu niên có nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống cho học sinh và trực tiếp theo dõi, đánh giá thi đua một cách toàn diện, khách quan hoạt động học tập tu dưỡng của học sinh. Chỉ đạo 44
    36. 47. GDĐĐ thông qua tiết sinh hoạt lớp có điểm trung bình là 2,60 xếp bậc 4. Nhà trường quản lý chặt chẽ sinh hoạt lớp mỗi tuần một lần. GVCN cùng đội ngũ cán bộ lớp tổ chức sinh hoạt. Nhận xét những ưu khuyết điểm, khen chê kịp thời, uốn nắn những hành vi đạo đức cho học sinh, giúp học sinh phát triển nhân cách một cách toàn diện. Chỉ đạo GDĐĐ thông qua mục tiêu, nội dung giáo dục, theo chủ điểm tháng có điểm trung bình là 2,50 xếp bậc 5. Chỉ đạo giáo viên đánh giá rèn luyện đạo đức học sinh có điểm trung bình là 2,40 xếp bậc 6. Hoạt động này làm chưa được tốt, Ban giám hiệu chưa thường xuyên kiểm tra hồ sơ, sổ sách công tác của GVCN. Có chủ nhiệm lớp không xếp học sinh theo tháng nên cuối năm đánh giá sự rèn luyện đạo đức của từng học sinh không chuẩn xác, dẫn đến không ít hành động tiêu cực của học sinh. Ban giám hiệu có quản lý, kiểm tra thì GVCN mới có ý thức công tác tốt. Việc chỉ đạo phối hợp các lực lượng GDĐĐ học sinh chưa được tốt có điểm trung bình là 2,10 xếp bậc 7. Nhà trường có thực hiện phối hợp lực lượng giáo dục nhưng hiệu quả chưa cao, các trường chủ yếu phối hợp các tổ chức, các lực lượng trong nhà trường. Nhà trường chưa phối hợp chặt chẽ với các lực lượng xã hội để GDĐĐ cho học sinh. Đây là hạn chế cần phải được khắc phục trong suốt thời gian tới. Chỉ đạo đầu tư về cơ sở vật chất kinh phí cho hoạt động GDĐĐ có điểm trung bình là 2,00 xếp bậc 8. Các nhà trường còn hạn chế về kinh phí, hiện nay chưa có trường nào có phòng truyền thống học sinh không có điều kiện tìm hiểu về truyền thống nhà trường, bề dày thành tích của nhà trường, việc đầu tư tuyên truyền GDĐĐ tổ chức hội nghị trao đổi về kinh nghiệm GDĐĐ tọa đàm nói chuyện về người tốt việc tốt… bị hạn chế do không có kinh phí. Các trường cần linh hoạt, sáng tạo làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để phục vụ cho mục tiêu giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng trong giai đoạn hiện nay. 45
    37. 48. 2.2.2.3. Thực trạng hiệu trưởng điều khiển chỉ đạo việc phối hợp của nhà trường với các lực lượng giáo dục. Để đánh giá thực tế sự phối hợp của nhà trường tới các lực lượng giáo dục, chúng tôi tham khảo ý kiến của các CBQL, GV và phụ huynh. Câu hỏi được đặt ra là:” Đồng chí cho biết ý kiến về thực trạng phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục để GDĐĐ học sinh?” Bảng 2.2.3. Phối hợp nhà trường với các lực lượng GDĐĐ học sinh TT Các lực lượng giáo dục Mức độ phối hợp Điểm TB Tốt Tương đối tốt Chưa tốt 1 Gia đình 146 30 24 2,61 2 Hội phụ huynh 139 36 25 2,57 3 Đoàn thể địa phương 32 66 102 1,65 4 Địa bàn dân cư 28 53 119 1,54 5 Chính quyền địa phương 95 63 42 2,26 6 Công an 113 58 29 2,42 7 Hội khuyến học 25 44 131 1,47 8 Dòng họ địa phương 18 37 145 1,36 9 Đài phát thanh địa phương 12 25 163 1,25 10 Các cơ sở kinh tế, cơ sở văn hóa 101 56 43 2,29 Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt đẹp được. Gia đình và các lực lượng có vai trò quan trọng trong quá trình GDĐĐ học sinh. Nhưng thực tế khảo sát cho thấy nhà trường mới chỉ phối hợp tốt với gia đình qua điểm trung bình 2,61; với Hội phụ huynh có điểm trung bình 2,57 và với công an có điểm trung bình 2,42. Nhà trường chủ động kết hợp, đa số phụ huynh quan tâm tới việc học tập và rèn luyện của con. Nhưng không ít các bậc phụ huynh phó mặc con cho nhà trường, không quan tâm thường xuyên tới việc học tập, tu dưỡng đạo đức của con em mình. Không ít phụ huynh trong các năm học không đi họp cho con, hay nhờ người khác họp, gây khó khăn cho giáo viên chủ nhiệm với việc nắm bắt thông tin 46

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Quản Lý Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Trường Thcs Pa Tân
  • Sở Khoa Học & Công Nghệ Bình Dương
  • Xác Định Công Tác Quản Lý, Giáo Dục Đối Tượng Là Một Trong Những Nhiệm Vụ Trọng Tâm
  • Tăng Cường Công Tác Quản Lý, Giáo Dục Đối Tượng Theo Quy Định Của Pháp Luật Ở Địa Bàn Cơ Sở Trong Tình Hình Mới
  • Một Số Biện Pháp Đẩy Mạnh Công Tác Nắm Tình Hình; Quản Lý, Giáo Dục Đối Tượng Của Lực Lượng Cảnh Sát Khu Vực Trong Phòng Ngừa Tội Phạm Trên Địa Bàn Quảng Bình
  • Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Từ Đề Tài Nckh Giải Nhất Quốc Gia
  • Đề Tài Một Vài Biện Pháp Quản Lý Công Tác Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Trong Trường Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 5 Tuổi
  • Giáo Dục Tình Cảm Đạo Đức Cho Trẻ 5
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục “tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh” Cho Trẻ Mẫu Giáo 4
  • Mét sè biÖn ph¸p qu¶n lÝ gi¸o dôc ®¹o ®øc häc sinh ë tr­êng thpt nam trùc tØnh nam ®Þnh

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa – giáo dục.

    Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế mới cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp giáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác động đến đại đa số thanh niên và học sinh như: có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão, lập thân, lập nghiệp; những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo thành tích. Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ thông qua các phương tiện như phim ảnh, games, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh, nhất là các em chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này.

    Đánh giá thực trạng giáo dục, đào tạo Nghị quyết TƯ 2 khóa VIII nhấn mạnh: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước. Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện”.

    Trường THPT Nam Trùc, huyện Nam Trùc, tỉnh Nam §Þnh cũng không đứng ngoài thực trạng đó. Trong những năm qua, nhiều gia đình, cha mẹ mải làm ăn, lo kiếm tiền, không chăm lo đến sự học hành, đời sống của con trẻ. Hàng loạt các hàng quán mọc lên với với đủ loại các trò chơi từ đánh xèng, bi A, games, chát…để móc tiền học sinh. Số thanh niên đã ra trường không có việc làm thường xuyên tụ tập, lôi kéo học sinh bỏ học tham gia hút thuốc, uống rượu, ma tuý, trộm cắp, cắm quán, đánh nhau và nhiều tệ nạn khác, làm cho số học sinh yếu về rèn luyện đạo đức của trường ngày càng tăng.

    Xuất phát từ những lý do khách quan, chủ quan như đã phân tích, là người sinh viªn em chọn đề tài: ” Mét sè biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Nam Trùc, huyện Nam Trùc, tỉnh Nam §Þnh” làm ®Ò tµi nghiªn cøu.

    2. Mục đích nghiên cứu

    Qua việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Nam Trùc, huyện Nam Trùc, tỉnh Nam §Þnh, đề xuất mét sè biện pháp quản lý giáo dục đạo đức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh của nhà trường.

    3. Đối tượng nghiên cứu

    Quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Nam Trùc, huyện Nam Trùc, tỉnh Nam §Þnh.

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu

    4.1. Xác định cơ sở khoa học của quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông.

    4.2. Khảo sát, đánh giá, phân tích thực trạng việc quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Nam Trùc, huyện Nam Trùc, tỉnh Nam §Þnh

    4.3. Đề xuất và lý giải biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Nam Trùc, huyện Nam Trùc, tỉnh Nam §Þnh trong giai đoạn hiện nay.

    5. Phạm vi nghiên cứu

    – Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở trường THPT Nam Trùc, huyện Nam Trùc, tỉnh Nam §Þnh

    – Người được nghiên cứu: Cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, phụ huynh và học sinh trường THPT Nam Trùc, huyện Nam Trùc, tỉnh Nam §Þnh.

    6. Phương pháp nghiên cứu

    6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

    6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

    Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi; Phương pháp quan sát các hoạt động giáo dục đạo đức của nhà trường; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.

    Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

    1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

    1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

    Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN ) trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức.

    Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức.

    Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. .

    1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước

    Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”. Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần có bốn đức: cần – kiệm – liêm – chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”.

    Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác.

    1.2. Một số khái niệm lên quan đến vấn đề nghiên cứu

    1.2.1. Khái niệm về quản lý

    Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.

    1.2.1.1. Bản chất quản lý

    Đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý để đạt mục tiêu đã xác định.

    1.2.1.2. Chức năng quản lý

    Gồm 4 chức năng cơ bản: Dự báo và lập kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch; lãnh đạo/chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá.

    1.2.1.3. Các nguyên tắc quản lý

    1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục

    Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt hiệu quả nhất.

    1.2.3. Khái niệm về quản lý nhà trường phổ thông

    Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.

    1.2.4. Khái niệm về giáo dục

    Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội.

    1.2.4.1. Các chức năng của giáo dục

    Gồm 3 chức năng: Chức năng văn hoá xã hội; chức năng kinh tế – sản xuất; chức năng chính trị – xã hội

    1.2.4.2. Con đường giáo dục

    Giáo dục được thực hiện chủ yếu qua hai con đường: Hoạt động dạy học trên lớp; hoạt động ngoài giờ lên lớp.

    1.2.5. Khái niệm về đạo đức

    Đạo đức là một hệ thống những quy tắc, những chuẩn mực mà qua đó con người tự nhận thức và điều chỉnh hành vi của mình vì hạnh phúc của cá nhân, lợi ích của tập thể và cộng đồng.

    1.2.6. Giáo dục đạo đức

    1.2.6.1. Mục tiêu giáo dục đạo đức

    Chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật.

    1.2.6.2. Chức năng giáo dục đạo đức

    Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác-Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, sống và làm việc theo pháp luật, sống có kỷ cương, nền nếp, có văn hóa trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và giữa con người với nhau.

    1.2.6.3. Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

    – Mục đích: Giúp học sinh nhận thức được các chuẩn mực đạo đức của xã hội, rèn luyện kỹ năng, hành vi theo các chuẩn mực đó và hình thành thái độ, ý thức trong học sinh về đạo đức.

    – Nội dung: Lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu hoà bình, có tinh thần cộng đồng và quốc tế, có tinh thần lao động sáng tạo, có thái độ xây dựng và bảo vệ môi trường…

    – Phương pháp: Phương pháp tác động vào nhận thức tình cảm: đàm thoại, tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn; phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn: giao việc, rèn luyện, tập thói quen…; phương pháp kích thích tình cảm và hành vi: thi đua, nêu gương, khen thưởng, trách phạt…

    1.2.7. Quản lý giáo dục đạo đức

    1.2.7.1. Xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức

    Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường.

    1.2.7.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức

    1.2.7.3.Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức

    Là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục đạo đức diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả.

    1.2.7.4. Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức

    Kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp, hoặc gián tiếp để giúp học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình, từ đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội.

    1.3. Những đặc điểm cụ thể về rèn luyện đạo đức của học sinh ở trường THPT

    Có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình dạy học trên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ; có định hướng thống nhất các yêu cầu, mục đích giáo dục giữa các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường; tính lâu dài của quá trình hình thành, phát triển nhân cách và các phẩm chất đạo đức của học sinh …

    1.4. Những tác động cơ bản tới việc rèn luyện đạo đức của HS ở trường THPT

    1.4.1. Về tâm sinh lý học sinh

    Là giai đoạn các em đang phát triển mạnh về thể chất, tinh thần và tình cảm, dễ bị kích động, lôi kéo… Có nhu cầu giao tiếp rất lớn đặc biệt là sự giao tiếp với bạn bè, từ đó mà hình thành lên các nhóm bạn cùng sở thích. Nếu không được giáo dục dễ bị sai lệch.

    1.4.2. Về phía gia đình

    Nhiều cha mẹ do nhận thức lệch lạc, không có tri thức về giáo dục con cái; sự quan tâm, nuông chiều thái quá trong việc nuôi dạy; sử dụng quyền uy của cha mẹ một cách cực đoan; tấm gương phản diện của cha mẹ, người thân; có các hoàn cảnh éo le hoặc hay bị sử dụng bằng vũ lực… đã tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh.

    1.4.3. Về phía nhà trường

    Một số CBQL, giáo viên và bạn bè thường có những định kiến, thiếu thiện cảm; sử dụng các biện pháp hành chính thái quá; sự lạm dụng quyền lực của các thầy cô giáo, nhà quản lý; sự thiếu gương mẫu trong mô phạm giáo dục; việc đánh giá kết quả, khen thưởng, kỷ luật thiếu khách quan và không công bằng; sự phối hợp không đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục… đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh.

    1.4.4. Về phía xã hội

    Tác động của cơ chế thị trường, sự phát triển của khoa học công nghệ, tác động lối sống hám cơ sở vật chất hơn tính nhân văn, xem nhẹ lời khuyên của cha mẹ, thầy cô dẫn đến những biểu hiện lệch lạc về chuẩn mực đạo đức.

    Ch­¬ng 2: thùc tr¹ng qu¶n lÝ gi¸o dôc ®¹o ®øc häc sinh Ở TRƯỜNG THPT NAM TRùC TØNH NAM §ÞNH

    2.1. Khái quát đặc điểm, tình hình kinh tế -xã hội và giáo dục của huyện Nam Trùc TØnh Nam §Þnh.

    2.1.1. Đặc điểm, tình hình kinh tế- xã hội của huyện Nam Trùc

    Nam Trực là cửa ngõ phía nam thành phố Nam Định, phía bắc giáp thành phố Nam Định, phía nam giáp huyện Trực Ninh, phía đông giáp huyện Vũ Thư (tỉnh Thái Bình), phía tây giáp huyện Vụ Bản. huyện Nam Trùc

    Víi diện tích: 161,94 km2 ,dân số: 204.850 người ,cã 1 thị trấn và 19 xã .Tốc độ tăng trưởng GDP: 7,67%/năm (2001 – 2005) là một huyện thuần nông

    2.1.2.Tình hình giáo dục của huyện Nam Trùc

    Huyện Nam Trùc có 2 trường THPT, 17 trường THCS, 19 trường Tiểu học và 17 trường Mầm non. Là một vùng quê có truyền thống hiếu học, hàng năm tỷ lệ học sinh đạt HSG và thi đỗ tốt nghiệp, ĐH-CĐ khá cao.

    2.1.3. Đặc điểm của trường THPT Bình Sơn

    Trường THPT Bình Sơn được thành lập vào ngày 03 tháng 12 năm 2003. Hiện nay trường có 31 lớp với 1405 học sinh. Mấy năm qua trường giữ vững danh hiệu “Trường tiên tiến cấp tỉnh”, năm học 2008-2009 và 2009-2010 đạt danh hiệu “Trường tiên tiến xuất sắc”. Lãnh đạo nhà trường có 01 đồng chí Hiệu trưởng, 01 đồng chí Phó hiệu trưởng, 58 cán bộ, giáo viên, 03 nhân viên (thiếu so với quy định).

    Tỷ lệ học sinh lên lớp và đỗ tốt nghiệp hàng năm đạt 90 – 98%. Học sinh lớp 12 đỗ vào Đại học, Cao đẳng từ mức 10.02% năm 2006 đã lên đến 63.58% năm 2010. Tỷ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm khá, tốt hàng năm luôn được duy trì từ 89.0% đến 93.6 %. Tỷ lệ học sinh xếp hạnh kiểm loại trung bình và yếu hàng năm từ 6,4% đến 11.0%.

    2.2. Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Bình Sơn

    2.2.1.Thực trạng về nhận thức giáo dục đạo đức học sinh của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh ở trường THPT Bình Sơn

    2.2.1.1. Nhận thức của CBQL và giáo viên về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh

    Qua khảo sát cho thấy: Hầu hết CBQL và giáo viên nhà trường đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh khi cho ở mức độ rất quan trọng với các nội dung: Giáo dục đạo đức để phát triển giáo dục toàn diện cho học sinh (84.1%); Giáo dục đạo đức nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cho học sinh (75.0%)…Tuy nhiên, vẫn còn có những CBQL và giáo viên hiểu một cách chưa đầy đủ về ý nghĩa của công tác này khi cho một số nội dung là không quan trọng như: Giáo dục đạo đức để học sinh có ý thức bảo vệ môi trường (11.4%);Giáo dục đạo đức để học sinh có ý thức giữ gìn của công (11.4%)… do đó phần nào có ảnh hưởng tới quá trình triển khai, tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của nhà trường.

    2.2.1.2. Nhận thức của phụ huynh về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh

    Qua khảo sát: 100% phụ huynh đồng ý nội dung về Giáo dục đạo đức để học sinh trở thành những con ngoan, trò giỏi; 82.4% phụ huynh đồng ý nội dung về Giáo dục đạo đức là để phát triển giáo dục toàn diện cho học sinh; 80.9% phụ huynh đồng ý nội dung về Giáo dục đạo đức để tạo nên những đức tính và phẩm chất tốt đẹp cho HS. Như vậy, phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đây là yếu tố thuận lợi cho trường trong triển khai công tác giáo dục đạo đức học sinh.

    2.2.1.3. Nhận thức của học sinh

    Hầu hết học sinh cho rằng cần và rất cần các phẩm chất mà nội dung giáo dục đạo đức mang lại: Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và yêu chuộng hòa bình (100%); Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, lao động cần cù, sáng tạo…(77.2%); Tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng (72.0%). Đây là yếu tố quan trọng để học sinh chủ động, tích cực tham gia vào quá trình giáo dục và rèn luyện đạo đức của nhà trường.

    Tuy nhiên cũng còn có một số không nhỏ cho là không cần các nội dung giáo dục đạo đức ở trên. Qua đó cho thấy rằng cần phải tuyên truyền hơn nữa để nâng cao nhận thức của học sinh về giáo dục, rèn luyện đạo đức.

    2.2.2. Thực trạng vi phạm đạo đức của học sinh ở trường THPT Bình Sơn

    2.2.2.1.Ý thức thực hiện nội quy của học sinh

    Qua khảo sát CBQL, giáo viên và học sinh thấy ý thức thực hiện nội quy của học sinh còn chưa tốt như: nghỉ học, trốn tiết, lười học bài cũ, gian lận trong kiểm tra vi phạm ở mức cao. Các bài giảng của giáo viên chưa được hấp dẫn để nhiều học sinh nói chuyện riêng trong giờ học. Nhiều HS vi phạm các điều cấm như: hút thuốc, uống rượu, bia, trộm cắp, đánh bạc, đánh nhau, vi phạm luật giao thông. Đặc biệt là thi thoảng và thường xuyên vô lễ với giáo viên và người lớn tới (47.7%).

    2.2.2.2. Nguyên nhân vi phạm nội quy của học sinh

    Nguyên nhân dẫn tới việc học sinh vi phạm đạo đức là do: Thiếu sự quan tâm của gia đình (90.9% và 81.2%); Bản thân HS không có sự rèn luyện tốt (68.2% và 82.8%); Tác động tiêu cực của bạn bè (77.3% và 76.0%); Sự ảnh hưởng của khoa học công nghệ: điện thoại, internet, games…(68.2 và 54.0)… Đây thực sự là vấn đề rất đáng quan tâm của CBQL để xem lại các biện pháp giáo dục đạo đức của nhà trường.

    2.2.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng

    Qua khảo sát thấy các yếu tố tác động đến rèn luyện đạo đức học sinh ở mức độ quan trọng và rất quan trọng như: Sự động viên khích lệ của bạn bè (99.2%); Khen thưởng, kỷ luật kịp thời (96.8%); Nội dung giáo dục phù hợp (96.4%); Sự quan tâm thường xuyên của các thầy cô giáo ( 96.0%); Không bị định kiến của xã hội ( 92.8%); Được gia đình thông hiểu, tạo điều kiện ( 91.2%); và cuối cùng là được tự do trong mọi hoạt động (77.6%). Các nhà quản lý cần xem xét cụ thể các yếu tố tác động ở trên để đưa ra các nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục đạo đức cho phù hợp.

    Về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo đức qua khảo sát thấy: Thiếu sự phối hợp với các tổ chức đoàn thể xã hội ở địa phương (70.5%); Thiếu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình (68.2%); Tác động tiêu cực của môi trường xã hội (54.5%); Phẩm chất, lối sống của thầy, cô, cha mẹ, bạn bè…(54.5%)

    Tuy nhiên những yếu tố như: Không có chuẩn đánh giá đạo đức học sinh lại có tới 54.5% không đồng ý và 11.4% còn phân vân; yếu tố: Không khen thưởng, trách phạt kịp thời là 40.9% không đồng ý và 13.6% còn phân vân.

    2.2.3. Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THPT Bình Sơn

    2.2.3.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức

    Qua khảo sát lấy ý kiến của CBQL và GV nhà trường cho thấy: 81.8% cho rằng đã làm tốt việc xác định mục tiêu giáo dục đạo đức, chỉ có 18.2% cho rằng việc xác định mục tiêu giáo dục đạo đức chưa tốt; 84.1% cho rằng việc xây dựng kế hoạch cụ thể của năm học và từng học kỳ được làm tốt, chỉ có 15.9% cho là làm chưa tốt.

    2.2.3.2. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức

    Khảo sát CBQL và giáo viên thấy: Tất cả các nội dung công việc của công tác giáo dục đạo đức đều được tổ chức, chỉ đạo thực hiện nhưng chỉ ở mức trung bình, chưa làm tốt. Việc tuyên truyền công tác giáo dục đạo đức đối với phụ huynh đã được nhà trường thực hiện nhưng chủ yếu là từ Ban Giám hiệu (95,7%) và giáo viên chủ nhiệm lớp (85,7%) qua các cuộc họp phụ huynh đầu năm, hết học kỳ và cuối năm chứ không phải từ học sinh hay các phương tiện thông tin đại chúng. Do đó những thông tin về giáo dục đạo đức của nhà trường chỉ mang tính thời vụ, không thường xuyên và liên tục nên hiệu quả không được cao.

    – Quản lý nội dung, hình thức hoạt động giáo dục đạo đức

    Kết quả khảo sát cho ta thấy: 50% GV và 58% HS đánh giá hình thức: Giáo dục thông qua các giờ dạy văn hoá trên lớp có mức độ thường xuyên. Còn lại các hình thức khác mức độ thường xuyên rất thấp, chủ yếu thi thoảng mới thực hiện hoặc không thực hiện.

    Như vậy nhà trường chưa thực sự quan tâm đến việc thực hiện các nội dung, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh. Tuy vậy, học sinh thích và rất thích các nội dung và hình thức giáo dục đạo đức của nhà trường như: Giáo dục thông qua hoạt động tham quan, du lịch, cắm trại có 92.0%; Giáo dục thông qua hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí có 91.6%.

    Tuy nhiên có những hình thức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gd Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Skkn Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Hs Thcs Trong Giai Đoạn Hiện Nay .rar
  • Kinh Nghiem Giao Duc Dao Duc Hoc Sinh Thcs Skkn
  • Đề Tài Một Số Đề Xuất Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Lớp 1: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 1 0103004 Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3 Trường Tiểu Học Võ Thị Sáu Thông Qua Môn Đạo Đức Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Sáng Kiến Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Cây Gáo A
  • Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đã xác định: ” Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân ( Điều 23-Luật giáo dục).

    trang A. Phần mở đầu.................. 2 1. Lý do chọn đề tài .................................................................. .. 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Đối tượng nghiên cứu 3 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 5. Giới hạn đề tài............................................................................... 3 6. Phương pháp nghiên cứu............................................................... 3 7. Thời gian nghiên cứu.................................................................... 4 B. Phần nội dung...................................................................................... 5 Chương I . Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu............................. 5 1. Đạo đức- chức năng đạo đức ....................................................... 5 2. Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh... 5 3. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS.......... 7 Chương II. Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THCS 13 1. Xây dựng trong nhà trường một môi trường thật tốt để giáo dục cho học sinh .................................................................. . ........ 13 2. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh........................................ 15 C. Phần kết luận........................................................................................ 20 Tài liệu tham khảo......................................................................... 21 A. PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Về mặt lý luận Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đã xác định: " Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân ( Điều 23-Luật giáo dục). Về mặt thực tiễn Hội nhập kinh tế ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh tế quốc tế đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc lối sống tự do tư sản, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu. Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo hành trong trường học đáng được báo động. Một số CBQL, giáo viên chưa thật sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ , thờ ơ không chú ý đến việc giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh. Về cá nhân Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, để góp phần vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, và qua thực tiễn công tác giảng dạy học sinh ở trường THCS , tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra biện pháp về công tác giáo giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của hội đồng sư phạm trong nhà trường. Đó là lý do tại sao tôi chọn đề tài này. Mục đích nghiên cứu Đánh giá được thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS, thông qua đó đề ra biện pháp giáo đạo dức học sinh một cách có hiệu quả giúp cho các em trở thành những người tốt trong xã hội. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS Nhiệm vụ nghiên cứu Giới hạn của đề tài Một số đề xuất biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận Trên cơ sở những kiến thức về tâm lý, giáo dục học và những quan điểm đường lối của Đảng, các văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo về đánh giá xếp loại, khen thưởng và kỷ luật học sinh. Phương pháp quan sát Nhìn nhận lại thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường THCS Nguyễn Viết Xuân trong năm học. Đưa ra một số biện pháp về việc thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09 năm 2009 đến tháng 2 năm 2010 B. PHẦN NỘI DUNG Chương I Cơ sở Lý luận 1. Đạo đức- Chức năng của đạo đức 1.1.Khái niệm đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ người và người và con người với tự nhiên. 1.2.Chức năng đạo đức Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, đạo đức một mặt quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội ; mặt khác nó cũng tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội đó. Vì vậy, đạo đức có chức năng to lớn , tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kềm hãm phát triển xã hội. Đạo đức có những chức năng sau: Chức năng giáo dục. Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ tự điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội. Chức năng phản ánh. 2. Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 2.1. Vị trí - ý nghĩa Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân với chính mình. Trong tất cả các mặt giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng. Vì Hồ Chủ Tịch đã nêu: " dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức Cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức Cách mạng thì có tài cũng vô dụng " Giáo dục đạo đức còn có ý nghĩa lâu dài, được thực hiện thường xuyên và trong mọi tình huống chứ không phải chỉ được thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có những đòi hỏi cấp bách. Trong nhà trường THCS, giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc biệt coi trọng, nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ được nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác. Để thực hiện những yêu cầu về nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường THCS thì: Vai trò của tập thể sư phạm giữ một vị trí quan trọng có tính quyết định, trong đó vai trò của Hiệu trưởng, người quản lý chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường là quan trọng nhất. 2.2. Đặc điểm Giáo dục đạo đức đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ khái niệm tri thức đạo đức, mà quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải được thể hiện thành tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của học sinh. Quá trình dạy học chủ yếu được tiến hành bằng các giờ học trên lớp; còn quá trình giáo dục đạo đức không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp mà nó được thể hiện thông qua tất cả các hoạt động có thể có trong nhà trường . Đối với học sinh THCS, kết quả của công tác giáo dục đạo đức vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào nhân cách người thầy, gương đạo đức của người thầy sẽ tác động quan trọng vào việc học tập, rèn luyện của các em . Để giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai trò hết sức quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh chỉ đạt kết quả tốt khi nó có sự tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh đòi hỏi người thầy phải nắm vững các đặc điểm Tâm-Sinh-Lý lứa tuổi của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn cảnh sống cụ thể của từng em để định ra sự tác động thích hợp. Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải có công phu, kiên trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần. 3. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS 3.1.Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Để hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh, công tác giáo dục đạo đức nói chung và giảng dạy các môn giáo dục nói riêng trong nhà trường phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Hình thành cho học sinh ý thức các hành vi ứng xử của bản thân phải phù hợp với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức được quy định. Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm bảo các hành vi cá nhân được thực hiện. Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực và bền vững, và các phẩm chất ý chí để đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo đức. Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân và duy trì lâu bền thói quen này. Giáo dục văn hóa ứng xử đúng mực thể hiện sự tôn trọng và quý trọng lẫn nhau của con người. 3.2.Những nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh +Giáo dục học sinh trong thực tiễn sinh động của xã hội Nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường phải gắn liền với đời sống thực tiễn của xã hội, của cả nước và địa phương, phải nhạy bén với tình hình chuyển biến của địa phương và của cả nước, đưa những thực tiễn đó vào những giờ lên lớp, vào những hoạt động của nhà trường để giáo dục các em học sinh. +Giáo dục theo nguyên tắc tập thể Nguyên tắc này thể hiện ở cả 3 nội dung: Dìu dắt học sinh trong tập thể để giáo dục; Giáo dục bằng sức mạnh tập thể; giáo dục học sinh tinh thần vì tập thể. Trong một tập thể lớp, tập thể chi đội có tổ chức tốt, có sự đoàn kết nhất trí thì sức mạnh của dư luận tích cực sẽ góp phần rất lớn vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Những phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tình đồng chí và tình bạn, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn học hỏi mọi người bao giờ cũng do giáo dục tập thể hình thành. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, đòi hỏi nhà trường THCS phải tổ chức tốt các tập thể lớp, tập thể chi độiNhà trường phải cùng với đoàn đội làm tốt phong trào xây dựng các chi đội mạnh trong trường học. +Giáo dục bằng cách thuyết phục và phát huy mạnh mẽ tính tự giác của học sinh Phải giáo dục đạo đức bằng cách thuyết phục và phát huy tính tự giác của học sinh, chứ không phải bằng sự cưỡng ép, mệnh lệnh, dọa nạt, biến học sinh thành những đứa trẻ thụ động, sợ sệt, rụt rè. Nguyên tắc này đòi hỏi người thầy phải kiên trì, nhẫn nại, phải có tình thương đối với học sinh một cách sâu sắc, không thể l ... t chất, khung cảnh của nhà trường làm sao cho toàn trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục đối với học sinh. +Tạo nên bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một phong cách sinh hoạt của nhà trường , biểu hiện như sau: Nề nếp tốt: trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc. Có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa học sinh với nhau. Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh. Học sinh không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi bậy, không tham gia vào tệ nạn xã hội. 1.3. Cách làm + Đối với Hiệu trưởng Phải xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ngay từ đầu năm học trên cơ sở dựa vào tình hình thực trạng đạo đức của học sinh, tình hình thực tế của địa phương để định ra, nội dung, biện pháp, thời gian, chỉ tiêu cho phù hợp. Phải thường xuyên nắm tình hình tư tưởng đạo đức của học sinh một cách cụ thể bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và những tình hình có tính chất thời sự, cá biệt có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với học sinh. Thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, đầu tư ngân sách để cải tạo cảnh quang sư phạm: trồng cây xanh, hoa kiểng, trang trí các khẩu hiệu, nội quy của từng phòng học và trong khu vực trường, xây dựng cổng rào an toàn cho học sinh. Thường xuyên tổ chức lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh thông qua buổi lao động cần giáo dục đầy đủ mục đích, ý nghĩa công việc cho học sinh, phải có phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị lớp, quy định rõ thời gian và kết quả phải đạt được, phải có kỷ luật, trật tự, không khí tươi vui, biểu dương kịp thời những học sinh tốt, tập thể lớp tốt. Tổ chức họp tham khảo ý kiến hội đồng giáo viên để đưa ra những quy định cụ thể về nội quy nhà trường, nhiệm vụ của học sinh, dựa trên cơ sở điều lệ trường trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2007. Kết hợp với chính quyền địa phương giải tỏa các hàng quán trước cổng trường, các điểm vui chơi giải trí và truy cập internet xung quanh trường theo đúng quy định của ngành chức năng. Tổ chức các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, bảo đảm tính công bằng, trung thực, phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp thành những tập thể vững mạnh, có lực lượng cốt cán làm nòng cốt, làm hạt nhân cơ bản của lớp, là trợ thủ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm. + Đối với giáo viên - Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh. Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương cho học sinh noi theo. + Đối với Đoàn đội: - Chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tổ chức tốt phong trào thi đua học tập, rèn luyện đội viên theo năm điều Bác Hồ dạy. Tổ chức sinh hoạt đội hàng tuần vào ngày thứ năm, tạo sân chơi lành mạnh cho các em. Giáo dục tinh thần yêu nước cho các em thông qua việc sưu tầm địa chỉ đỏ, thăm viếng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở địa phương, thăm các chú bộ đội đóng trên địa bàn. 2. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh 2.1.Ý nghĩa GVCN có vai trò rất to lớn trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, vì GVCN là người quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách, là cầu nối giữa Ban giám hiệu với các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể lớp, là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của lớp, đồng thời là người đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của trường. Xuất phát từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện pháp giúp GVCN định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay. 2.2.Nội dung + Tìm hiểu đặc điểm tình hình lớp, tình hình học sinh là góp phần cho công tác chủ nhiệm đạt kết quả cao - Đầu năm học GVCN phải có những thông tin khái quát về gia đình học sinh như: nơi ở, hoàn cảnh sống, lối sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, giáo dục của gia đình, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, quan hệ của gia đình láng giềng. Việc tìm hiểu này sẽ giúp GVCN kết hợp tốt với gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đầu năm học GVCN phải nắm được đặc điểm học sinh về: sức khỏe, đạo đức, năng lực học tập, động cơ học tập, quan hệ của học sinh với cha mẹ, Ông bà, anh chị em trong gia đình, ở trường với thầy cô và ngoài xã hội, cộng đồng. Việc tìm hiểu học sinh về mọi mặt là rất cần thiết nhưng GVCN phải thấy được nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. GVCN phải tìm hiểu cơ cấu, lứa tuổi, năng lực học tập, hoạt động, mối quan hệ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, sự đoàn kết của lớp mình chủ nhiệm. + Nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học Để vận dụng tốt vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học. Để cho học sinh thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong phong trào chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thực hiện của trường trong tuần, tháng học kỳ và cả năm học. Phải nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng và phối hợp tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương. + Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào công tác chủ nhiệm Để liên kết và phối hợp có hiệu quả giữa nhà trường, đại diện là GVCN với địa phương trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. GVCN cần phải nắm được tình hình thời sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội để bổ sung kiến thực của mình thêm phong phú. + Xây dựng những truyền thống tốt đẹp của lớp Các hoạt động của lớp sẽ trở thành truyền thống nếu nó được lập đi lập lại và trở thành thói quen. Phải trân trọng truyền thống sẳn có của lớp, tiếp tục xây dựng truyền thống mới cho lớp trong điền kiện cụ thể. + Tích cực tham gia vào công tác đánh giá xếp loại hạnh kiểm, xét thi đua, khen thưởng và kỷ luật học sinh với tư cách là người bảo vệ quyền lợi chính đáng cho học sinh. 2.3. Cách làm + Đối Hiệu trưởng Cần thực hiện tốt việc phân công giáo viên chủ nhiệm, lựa chọn những người có phẩm chất và năng lực tốt. Tạo mọi điền kiện, đôn đốc, giúp đỡ GVCN làm tốt những nhiệm vụ, quyền lợi của GVCN quy định tại điều 31- 32 điều lệ trường trung học . Có kế hoạch cụ thể về công tác chủ nhiệm, có chỉ tiêu rèn luyện phấn đấu phù hợp với thực trạng của trường. Thường xuyên thu nhận thông tin về tình hình diễn biến đạo đức của học sinh do GVCN cung cấp, có biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn những tình huống xấu xảy ra. Thường xuyên kiểm tra số sách của giáo viên chủ nhiệm, dự các tiết sinh hoạt lớp của GVCN. Khen thưởng và xử lý kịp thời đúng người, đúng trường hợp. +Đối với GVCN Nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh : (học bạ, hoàn cảnh gia đình.) Trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích của học sinh. Trao đổi với giáo viên bộ môn, về tình hình của lớp. Trao đổi với ban giám hiệu, tổng phụ trách đội, Cha mẹ học sinh để có thêm những thông tin về đối tượng mà GVCN cần tìm hiểu. Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh. Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin, thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ. Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, có hiệu quả. Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với Cha mẹ học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả. GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trao dồi đạo đức nhà giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo. +Đối với GVBM, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường Tích cực hỗ trợ GVCN trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, phản ánh kịp thời với GVCN về tình hình học sinh của lớp. Tham gia đóng góp ý kiến trong việc đánh giá xếp loại Hạnh kiểm, xét kỷ luật học sinh. C. PHẦN KẾT LUẬN Trước thực trạng đạo đức hiện nay của học sinh trường THCS có chiều hướng giảm sút nghiêm trọng, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là đòi hỏi cấp bách của xã hội để xây dựng hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về giáo dục đạo đức cho học sinh đã giúp cho đội ngũ giáo viên và CBQL xác định đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở nhà trường để có kế hoạch hoàn chỉnh, có sự quan tâm đúng mực trong việc giáo dục học sinh, từ đó giúp cho tập thể sư phạm của trường thấy được nhiệm vụ quan trọng này để ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm, hết lòng giáo dục các em phát triển toàn diện cả tài lẫn đức. Những vấn đề cơ bản về giáo dục đạo đức cho học sinh cũng đã được thể hiện qua hai con đường cơ bản: Con đường dạy học các môn học trong và ngoài nhà trường. Con đường hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi nghiên cứu chỉ là trường THCS nên có nhiều vấn đề chưa được phân tích một cách đầy đủ, các biện pháp đưa ra chưa có tính khả thi cao, nhưng ít nhiều nó cũng giúp cho chúng ta thấy được thực trạng của đạo đức học sinh hiện nay, giúp cho chúng ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong thời gian sắp tới để góp phần thành công vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Tạp chí Thế giới trong ta - số 74+75 năm 2008-Hội khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam. Tài liệu BDTX cho giáo viên THCS chu kỳ 3( 2004-2007) Quyết định số 40/2006/QĐ- BGDĐT về việc ban hành quy chế đánh giá xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT. Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT về việc ban hành điều lệ trường THCS, trường THPT và trường PT có nhiều cấp học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Lớp 2
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Sự Tăng Dân Số Có Liên Quan Như Thế Nào Đến Chất Lượng Cuộc Sống? Ở Việt Nam Đã Có Biện Pháp Gì Để Giảm Sự Gia Tăng Dân Số Và Nâng Cao Chất Lượng Cuộc Sống?
  • Luận Văn Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Cháy Rừng: Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Các Biện Pháp Ngăn Ngừa
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Cho Giáo Viên
  • Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Với Phương Pháp Ma Trận Eisenhower: Dồn Sức Vào Việc Quan Trọng Và Không Khẩn Cấp
  • Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Giúp Bạn Thành Công Trong Công Việc
  • Một Số Kỹ Năng Giúp Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • Giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu của đất nước trong việc tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển mang tính bền vững của quốc gia. Nghị quyết Hội nghị TW II – Khoá VIII của BCH TW Đảng chỉ rõ: “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải đẩy mạnh giáo dục – đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Tại điều 2 chương I, luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 cũng xác định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Giáo dục đạo đức là một trong những mặt giáo dục quan trọng trong mục tiêu giáo dục của nhà trường ở nước ta hiện nay. Nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của con người – nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển của đất nước. Đối với dân tộc Việt Nam: đạo đức là vốn quý của con người, cái “đức” là nền tảng, là căn bản của con người. Sinh thời Bác Hồ cũng đã dạy: “Người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó. Người có tài mà không có đức thì tài cũng thành vô dụng”. Trong chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục năm học 2009 – 2010 vừa ban hành, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, đây là năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục. Trong đó đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh. Điểm nổi bật trong ba cuộc vận động năm học này là nâng cao đạo đức của học sinh và giáo viên, lồng ghép nội dung cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vào giảng dạy một số môn học chính khoá và các hoạt động ngoại khoá ở các cấp học, trình độ đào tạo từ năm học 2009 – 2010. Như vậy, có thể thấy rằng, vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung và cho học sinh THCS nói riêng đã và đang được Đảng, Nhà nước, toàn ngành giáo dục và toàn thể xã hội đặc biệt quan tâm. Hơn 20 năm đổi mới toàn diện nền kinh tế – xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Bộ mặt đất nước có nhiều đổi thay, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Người dân có nhiều điều kiện chăm lo sự học hành cho con cái họ hơn. Hệ thống giáo dục nước ta cũng đạt được những thành tựu đáng tự hào trong việc góp phần bồi dưỡng nhân tài và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Tuy nhiên, khi đời sống kinh tế – xã hội có sự thay đổi, với các chính sách mở cửa, hội nhập với thế giới cũng có những tác động nhất định cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới nhà trường phổ thông. Với học sinh, các em có nhiếu điều kiện tiếp xúc với nhiều thông tin và các luồng văn hoá khác nhau từ nước ngoài. Vì vậy, những quan điểm đạo đức truyền thống cũng bị mai một phần nào. Một số ít học sinh đã quên đi những thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hoá quý báu của dân tộc, thay vào đó là lối sống thực dụng, đua đòi, ích kỷ, Phát biểu tại một hội thảo về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển khẳng định: “Vấn đề giáo dục đạo đức trong học sinh hiện rất cấp bách vì xã hội phức tạp hơn. Những giá trị đạo đức đang thay đổi và thay đổi ngày càng nhanh”. Còn theo ông Phùng Khắc Bình, Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo thì “tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, tội phạm và bạo lực trong một bộ phận học sinh xảy ra gây lo lắng, bức xúc trong dư luận xã hội. Đây là điều trăn trở thường xuyên của ngành giáo dục.” Đối với học sinh của trường THCS Bình Ngọc nơi bản thân tôi đang công tác, cũng không nằm ngoài tình trạng chung đó. Thực tế trong những năm qua cho thấy, một bộ phận không nhỏ học sinh có lối sống đua đòi, tha hóa về phẩm chất, hành vi đạo đức. Tình trạng học sinh vi phạm đạo đức như đánh nhau, vô lễ, xúc phạm giáo viên tuần nào cũng xảy ra. Mặc dù các thầy cô cũng đã làm nhiều, nói nhiều, công sức bỏ ra không ít, nhưng kết quả thu được thì vẫn rất hạn chế. Như vậy, vấn đề đặt ra và mang tính cấp thiết hiện nay đó là phải có biện pháp giáo dục đạo đức nhằm góp phần giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh. Xuất phát từ những đòi hỏi cấp bách của công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới sự nghiệp giáo dục. Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường, và đặc biệt sau khi được tham gia lớp bồi dưởng cán bộ quản lý giáo dục, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS”. Với đề tài này, bản thân tôi mong muốn được cùng đồng chí, đồng nghiệp chia sẻ nhửng kinh nghiệm trong công tác giáo dục và quản lý giáo dục đạo đức trong nhà trường, nhằm góp một phần nhỏ vào công cuộc đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Ứng Phó Của Các Nước Trước Xu Hướng Già Hóa Dân Số
  • Kiểm Tra Các Đơn Vị Vận Tải Đảm Bảo An Toàn Khi Tham Gia Giao Thông Trong Điều Kiện Dịch Bệnh Covid
  • Bài 14. Thực Hiện Trật Tự, An Toàn Giao Thông
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Và Học Tập Môn Sinh Học Lớp 6 Sách Giáo Khoa Mới Ở Các Trường Thcs Tỉnh An Giang
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Sinh Học 6
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100