Làm Thế Nào Để Duy Trì Liên Đội Vững Mạnh

--- Bài mới hơn ---

  • Biết Cách Bấm Huyệt Tăng Ham Muốn
  • Triển Khai Các Biện Pháp Quyết Liệt Phòng Chống Dịch Sốt Xuất Huyết
  • Triển Khai Biện Pháp Phòng, Chống Dịch Bệnh Sốt Xuất Huyết
  • Bộ Y Tế Triển Khai Quyết Liệt Các Biện Pháp Phòng, Chống Dịch Bệnh Sốt Xuất Huyết
  • Khẩn Trương Các Biện Pháp Phòng Chống Dịch Sốt Xuất Huyết
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ XÂY DỰNG LIÊN ĐỘI VỮNG MẠNH

    Đặt vấn đề:

    Khó khăn:

    Về mặt thời gian : Vì chương trình học của các em đã kín, không còn thời gian trống để tổ chức các buổi sinh hoạt thường kỳ trong Chi Đội (không có tiết sinh hoạt đội chính khóa)

    Về nhân lực không thể đáp ứng nhu cầu của tất cả các Chi Đội, đội ngũ giáo viên thì không có nghiệp vụ phụ trách đội nên khó thực hiện các hoạt động Chi Đội theo yêu cầu của Đội TNTP.

    Lực lượng Ban Chỉ Huy Chi Đội còn hạn chế kinh nghiệm khi tự điều khiển một buổi sinh hoạt của Chi Đội mình.

    Giải quyết vấn đề:

    Xác định chức năng, nhiệm vụ của TPT Đội trong trường

    Không thể phủ nhận vai trò của giáo viên – TPT ở trường tiểu học. Bởi vì, TPT Đội là người chỉ huy trực tiếp, cao nhất của Liên đội TNTP Hồ Chí Minh trong nhà trường là một cán bộ quản lý có trách nhiệm giáo dục và tổ chức giáo dục thiếu nhi thông qua các hoạt động của Đội. Do đó, TPT phải xác định chức năng nhiệm vụ của mình: quản lý, chỉ đạo toàn diện Liên đội, lập kế hoạch, tham mưu, phối hợp với các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường để tổ chức hoạt động cho các em.

    Đặc biệt TPT Đội phải thực sự là cầu nối giữa nhà trường, gia đình và xã hội, là người cố vấn hoạt động tự quản cho học sinh, là người phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục. Vậy, làm thế nào để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, đặc biệt là để xây dựng Liên đội vững mạnh xuất sắc bản thân tôi đã tiến hành những công việc cụ thể sau:

    II- Quá trình thực hiện

    Tìm hiểu đặc điểm tình hình của Liên đội

    Việc làm đầu tiên là đi sâu tìm hiểu, nắm chắc tình hình đặc điểm của cụ thể của Liên đội mình. Tôi đã trực tiếp gặp BGH Nhà trườngBCH chi Đoàn, hội phụ huynh để trao đổi kỹ tình hình, mặt mặt, mặt yếu, những thuận lợi khó khăn của xã nhà, của đơn vị và của Liên đội. Thực tế trường thuộc địa bàn phức tạp, dân nhập cư, diện tạm trú nhiều, điều kiện kinh tế thấp, nhận thức của một số gia đình về giáo dục về Đội còn chưa cao.

    Nắm được tình hình đó ngay từ đầu năm học tôi đã về gia đình các em tìm hiểu, trao đổi, truyên truyền vận động phụ huynh về công tác giáo dục – đặc biệt là công tác Đội để họ tạo điều kiện cho con em mình hơn trong các hoạt động.

    Bên cạnh đó, tôi còn gặp gỡ các em để tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cũng như mong ước của các em. Xem các em mong muốn gì? Yêu thích gì?

    (Ví dụ: Tôi gặp em Nguyễn Thị Phương Nhung – liên đội trưởng – HSG lớp 5/2 em nói: ” Em muốn Liên đội có nhiều hoạt động bổ ích, sôi nổi, nhiều cuộc thi cho chúng em hoạt động và thể hiện năng lực. Em”. Em Bùi Kim Ngân lớp 5/7 lại bảo ” Em muốn Liên đội, Nhà trường quan tâm hơn đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, để các bạn có điều kiện tham gia các phong trào của đội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Đối Với Người Chưa Thành Niên
  • Biện Pháp Thay Thế Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Với Người Chưa Thành Niên
  • Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Đối Với Người Chưa Thành Niên
  • Luận Văn Đề Tài Biện Pháp Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Đối Với Người Chưa Thành Niên
  • Đề Tài Biện Pháp Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Đối Với Người Chưa Thành Niên
  • Giáo Án Sinh Học 9 Tiết 36: Ưu Thế Lai

    --- Bài mới hơn ---

  • Giữ Gìn Và Phát Huy Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Bản Địa Trong Quá Trình Toàn Cầu Hóa Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Giữ Gìn Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Giữ Gìn Bản Sắc Văn Hóa Thời Hội Nhập
  • Báo Ấp Bắc Điện Tử
  • Hạn Chế Sử Dụng Túi Ni
  • Ngày dạy:

    Tiết 38

    ƯU THẾ LAI

    I. MỤC TIÊU

    1. Kiến thức

    HS nắm được 1 số khái niệm : Ưu thế lai, lai kinh tế.

    HS hiểu : Cơ sở di truyền của hiện tượng ưu thế lai, lí do không dùng cơ thể lai F1 để nhân giống. Các biện pháp duy trì ưu thế lai.

    Phương pháp thường dùng để tạo cơ thể lai kinh tế ở nứơc ta.

    2. Kĩ năng

    Rèn một số kĩ năng :

    Quan sát tranh hình tìm kiến thức.

    Giải thích hiện tượng bằng cơ sở khoa học. Tổng hợp, khái quát.

    II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

    Tranh hình 35 SGK.

    Tranh một số giống động vật : Bò, lợn, dê. Kết quả của phép lai kinh tế.

    III. HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC

    HOẠT ĐỘNG 1:

    TÌM HIỂU HIỆN TƯỢNG ƯU THẾ LAI

    Hoạt động của giáo viên

    Hoạt động của học sinh- Nộâi dung

    – GV đưa vấn đề :

    So sánh cây và bắp ngô ở 2 dòng tự thụ phấn với cây và bắp ngô ở cơ thể lai F1 trong hình 35 (SGK tr.102).

    – GV nhận xét ý kiến của HS và dẫn dắt à hiện tượng trên gọi là ưu thế lai.

    – GV nêu câu hỏi.

    + Ưu thế lai là gì? Cho ví dụ về ưu thế lai ở động vật và thực vật.

    – GV cung cấp thêm 1 số ví dụ để minh họa.

    – GV nêu vấn đề : Để tìm hiểu cơ sở di truyền của hiện tượng ưu thế lai HS trả lời câu hỏi :

    + Tại sao khi lai 2 dòng thuần ưu thế lai thể hiện rõ nhất?

    + Tại sao ưu thế lai thể hiện rõ nhất ở thế hệ F1, sau đó giảm dần qua các thế hệ?

    – GV đánh giá kết quả và bổ sung thêm kiến thức về hiện tượng nhiều gen quy định 1 tính trạng để giải thích.

    – GV hỏi tiếp :

    + Muốn duy trì ưu thế lai, con người đã làm gì?

    a) Khái niệm

    – HS quan sát hình phóng to hoặc hình SGK, chú ý đặc điểm sau :

    + Chiều cao thân cây ngô.

    + Chiều dài bắp, số lượng hạt.

    – H S đưa ra nhận xét sau khi so sánh thân và bắp ngô ở cơ thể lai F1 có nhiều đặc điểm trội hơn so với cây bố mẹ.

    – HS trình bày và lớp bổ sung.

    – HS Khái quát thành khái niệm.

    + HS lấy ví dụ ở SGK.

    Kết luận:

    * Ưu thế lai là hiện tượng cơ thể lai F1 có sức sống cao hơn , sinh trưởng nhanh hơn, phát triển mạnh hơn, chống chịu tốt hơn ,các tính trạng năng suất cao hơn trung bình giữa 2 bố mẹ hoặc vượt trội cả hai bố mẹ.

    b) Cơ sở di truyền của hiện tượng ưu thế lai.

    – HS nghiên cứu SGK tr.102, 103.- Chú ý ví dụ lai 1 dòng thuần có 2 gen trội và 1 dòng thuần có 1 gen trội.

    Yêu cầu nêu được :

    +Ưu thế lai rõ vì xuất hiện nhiều gen trội ở con lai F1

    + Các thế hệ sau giảm do tỉ lệ dị hợp giảm (hiện tượng thoái hóa).

    – Đại diện trình bày, lớp bổ sung.

    – HS trả lời được : áp dụng nhân giống vô tính.

    KẾT LUẬN:

    – Lai 2 dòng thuần (kiểu gen đồng hợp) con lai F1 có hầu hết các cặp gen ở trạng thái dị hợp à chỉ biểu hiện tính trạng của gen trội.

    -Tính trạng số lượng (hình thái, năng suất) do nhiều gen trội quy định.

    VD :

    P: Aabbcc x aaBBCC

    à F1 : AaBbCc

    HOẠT ĐỘNG 2:

    CÁC PHƯƠNG PHÁP TẠO ƯU THẾ LAI

    Hoạt động của giáo viên

    Hoạt động của học sinh- Nộâi dung

    – GV hỏi :

    + Con người đã tiến hành tạo ưu thế lai ở cây trồng bằng phương pháp nào?

    + Nêu ví dụ cụ thể.

    – GV nêu giải thích thêm về lai khác dòng và lai khác thứ.

    – GV hỏi :

    + Con người đã tiến hành tạo ưu thế lai ở vật nuôi bằng phương pháp nào?

    + Cho ví dụ.

    – GV hỏi thêm :

    + Tại sao không dùng con lai kinh tế nhân giống?

    – GV mở rộng :

    + Lai kinh tế thường dùng con cái thuộc giống trong nước.

    Áp dụng kĩ thuật giữ tinh đông lạnh.

    + Lai bò vàng Thanh Hóa với bò Hônsten Hà Lan à con lai F1 chịu được nóng, lượng sữa tăng.

    a) Phương pháp tạo ưu thế lai ở cây trồng

    – HS nghiên cứu SGK tr.103 và các tư liệu sưu tầm, trả lời câu hỏi.

    – Yêu cầu chỉ ra 2 phương pháp.

    Kết luận:

    – Lai khác dòng : Tạo 2 dòng tự thụ phấn rồi cho giao phấn với nhau.

    VD : Ở ngô, tạo được ngô lai F1 năng suất cao hơn từ 25 à 30% sovới giống hiện có.

    – Lai khác thứ : Để kết hợp giữa tạo ưu thế lai và tạo giống mới.

    b) Phương pháp tạo ưu thế lai ở vật nuôi.

    – HS nghiên cứu SGK tr.203 và 104 kết hợp tranh ảnh về các giống vật nuôi.

    – Yêu cầu nêu được :

    + Phép lai kinh tế.

    + Áp dụng ở lợn và bò

    – HS trình bày à lớp bổ sung.

    – HS nêu được : Nếu nhân giống thì thế hệ sau các gen lặn gây hại ở trạng thái đồng hợp sẽ được biểu hiện tính trạng.

    KẾT LUẬN:

    * Lai kinh tế : Là cho giao phối giữa cặp vật nuôi bố mẹ thuộc 2 dòng thuần khác nhau rồi dùng con laiF1 làm sản phẩm.

    VD : Lợn Ỉ Móng Cái x lợn Đại bạch.

    à Lợn con mới sinh nặng 0,8 kg tăng trọng nhanh, tỉ lệ nạc cao.

    IV. KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ

    GV hỏi :

    + Ưu thế lai là gì? Cơ sở di truyền của hiện tượng ưu thế lai?

    + Lai kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào?

    V. DẶN DÒ

    Học bài, trả lời câu hỏi SGK.

    Tìm hiểu thêm về các thành tựu ưu thế và hiện tượng lai ưu thế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Làm Ngừng Sự Cháy – Trường Đại Học Phòng Cháy Chữa Cháy
  • Khai Thác Và Sử Dụng Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Phòng Chống Bệnh Do Virus Zika
  • Các Biện Pháp Phòng Chống Dịch Bệnh Do Virus Zika
  • Dấu Hiệu Và Cách Phòng Tránh Bệnh Virus Zika
  • Biện Pháp Duy Trì Danh Hiệu Trường Đạt Chuẩn Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Năm Học Mới Và Giải Pháp Duy Trì Trường Học Đạt Chuẩn Quốc Gia
  • Một Số Kinh Nghiệm Duy Trì Phát Triển Hiệu Quả Trường Tiểu Học Đạt Chuẩn Quốc Gia Mức Độ Ii
  • Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Trường Chuẩn Quốc Gia
  • Nỗ Lực Giữ Vững Trường Đạt Chuẩn Quốc Gia
  • Báo Cáo Kết Quả Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Trường Thcs Đạt Chuẩn Quốc Gia
  • Các biện pháp tham mưu, xã hội hóa giáo dục tăng cường cơ sở vật chất cho trường mầm non duy trì danh hiệu trường đạt chuẩn quốc gia

    Nâng cao chất lượng giáo dục để duy trì tốt các tiêu chuẩn của trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là một việc làm vô cùng quan trọng, luôn luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi cấp học nói chung và đối với mỗi nhà trường nói riêng. Cụ thể trong Chiến lược phát triển giáo dục mầm non từ năm 1998 đến năm 2022 của Bộ giáo dục và Đào tạo đã đề ra trong phương hướng chung là “Tích cực xây dựng củng cố và phát huy các trường trọng điểm, trường chuẩn quốc gia của các ngành học”. Trong số 5 tiêu chuẩn đánh giá về trường học đạt chuẩn quốc gia gồm: Tổ chức nhà trường, cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất (CSVC) và thiết bị, công tác xã hội hoá giáo dục thì tiêu chuẩn thứ 4 về cơ sở vật chất và thiết bị chính là “rào cản” lớn nhất của nhà trường trong việc duy trì chuẩn. Bởi vì CSVC trường lớp, đồ dùng thiết bị sẽ bị xuống cấp, hư hỏng theo thời gian sử dụng, nếu không được sửa chữa nâng cấp sẽ không đảm bảo theo chuẩn.

    Xác định được tầm quan trọng của mục tiêu trên, các cấp ủy Đảng, chính quyền ở mỗi địa phương đã không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Tiếp tục đầu tư kinh phí cho xây dựng, nâng cấp, cải tạo các hạng mục còn thiếu hoặc xuống cấp; bổ sung các thiết bị phục vụ còn thiếu cho các trường mầm non đã đạt chuẩn quốc gia, để duy trì tiêu chuẩn 4 về CSVC theo chuẩn.

    Xây dựng CSVC trang thiết bị là cả một quá trình lâu dài. Muốn có được hệ thống CSVC cho giáo dục mầm non được đầy đủ phải đi theo con đường “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Người hiệu trưởng phải làm tốt công tác tham mưu lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương, để họ hiểu rõ mục đích yêu cầu và những điều kiện cần thiết về CSVC trang thiết bị để chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục (CS-ND-GD) trẻ. Trên cơ sở nhận thức đúng lãnh đạo sẽ tạo điều kiện cho giáo dục Mầm non về các mặt: Đầu tư kinh phí xây dựng phòng học, mua sắm, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ, vận động các cơ sở thôn – khu dân cư trích kinh phí hỗ trợ cho việc mua sắm cơ sở vật chất, động viên nhân dân địa phương và các đơn vị kinh doanh, lực lượng kinh tế xã hội ở địa phương đầu tư cho giáo dục mầm non .

    Mặt khác người hiệu trưởng phải nắm vững và biết quản lý ngân sách của trường mình hàng năm để chi phí cho việc mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, sửa chữa và nâng cấp trường lớp. Đây là việc làm rất khó không phải bất cứ người hiệu trưởng nào cũng làm tốt được công tác tham mưu, xã hội hóa để tăng cường cơ sở vật chất cho nhà trường một cách hiệu quả.

    Trên thực tế, trường mầm non A xã Tứ Hiệp huyện Thanh Trì là một trường mầm non nông thôn đạt chuẩn quốc gia từ tháng 2/2009, là trường đạt chuẩn quốc gia đầu tiên của cấp học Mầm non huyện Thanh Trì. Trường có ba điểm trường: Điểm trường (Khu Cương Ngô I) được xây dựng khang trang, theo mô hình trường chuẩn quốc gia với 4 phòng học được xây dựng từ năm 2006, hiện nay đã có hiện tượng xuống cấp. Còn lại hai khu lẻ khu Cương Ngô II và khu Văn Điển là hai điểm trường được xây dựng từ năm 1996 với quy mô trường lớp chật hẹp, đã xuống cấp trầm trọng: Tường ẩm mốc, nền sụt lún, sân thấp trũng, hệ thống thoát nước bị ứ đọng. Trang thiết bị phục vụ công tác CS- ND- GD trẻ còn thiếu, hệ thống chiếu sáng chưa đảm bảo tiêu chuẩn.

    Đứng trước thực trạng về CSVC như trên, nhận thức được tầm quan trọng của CSVC trang thiết bị đối với tiêu chuẩn của trường chuẩn quốc gia. với mong muốn duy trì tốt các tiêu chuẩn của trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó có tiêu chuẩn về CSVC là trọng tâm cơ bản. Làm thế nào đây để có được hệ thống cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ công tác CS- ND- GD trẻ đảm bảo tiêu chuẩn đạt chuẩn quốc gia cho kỳ kiểm tra lần hai. Một nhiệm vụ thật khó khăn với một trường có nhiều điểm lẻ, mô hình trường được xây dựng từ những năm 1996. Song với lòng nhiệt tình, tâm huyết với trường, cùng với năng lực và nghị lực của bản thân tôi đã quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, bằng mọi biện pháp có thể xây dựng CSVC, các trang thiết bị phục vụ đảm bảo theo chuẩn. Tôi xin mạnh dạn trao đổi cùng chị em đồng nghiệp dưới dạng sáng kiến kinh nghiệm “Các biện pháp tham mưu, xã hội hóa giáo dục tăng cường cơ sở vật chất cho trường Mầm non A Tứ Hiệp huyện Thanh Trì duy trì danh hiệu trường đạt chuẩn quốc gia“.

    * Với mục đích của đề tài là:

    + Đánh giá thực trạng về tình hình CSVC và trang thiết bị mầm non của trường mầm non A xã Tứ Hiệp.

    + Tìm ra hệ thống các biện pháp thực hiện công tác tham mưu và xã hội hóa để tăng cường CSVC cho trường trường mầm non A xã Tứ Hiệp duy trì danh hiệu đạt chuẩn quốc gia.

    * Đối tượng nghiên cứu là: Các biện pháp thực hiện công tác tham mưu và xã hội hóa để tăng cường CSVC cho trường trường mầm non A xã Tứ Hiệp duy trì danh hiệu đạt chuẩn quốc gia.

    * Phạm vi áp dụng: Trường Mầm Non A xã Tứ Hiệp – Huyện Thanh Trì từ năm 2010 đến năm 2013.

    – Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia có 5 tiêu chuẩn :

    Tiêu chuẩn 1: Đạt chuẩn về công tác tổ chức và quản lý;

    Tiêu chuẩn 2: Đạt chuẩn về đội ngũ giáo viên và nhân viên;

    Tiêu chuẩn 3: Đạt chuẩn về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ;

    Tiêu chuẩn 4: Đạt tiêu chuẩn về quy mô trường lớp, cơ sở vật chất và thiết bị;

    Tiêu chuẩn 5: Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục.

    – Thời hạn công nhận nhà trường, nhà trẻ đạt chuẩn quốc gia là 5 năm, kể từ ngày ký quyết định công nhận. Trong thời hạn 5 năm, nếu nhà trường, nhà trẻ đã đạt chuẩn quốc gia vi phạm về tiêu chuẩn của Quy chế này thì tùy theo mức độ vi phạm, cơ quan có thẩm quyền xem xét để tiếp tục công nhận hoặc không công nhận nhà trường, nhà trẻ đạt chuẩn quốc gia.

    – Sau 5 năm kể từ ngày ký quyết định công nhận, nhà trường, nhà trẻ phải tự đánh giá, làm hồ sơ trình các cấp có thẩm quyền để được kiểm tra và công nhận lại.

    – CSVC của nhà trường mầm non là hệ thống các phương tiện cần thiết được sử dụng vào hoạt động CS- ND- GD trẻ. CSVC của nhà trường mầm non bao gồm:

    + Trường sở: Hệ thống phòng lớp, sân chơi, vườn trường.

    + Trang thiết bị CS- ND, đồ dùng phục vụ CS- GD trẻ.

    – Những trang thiết bị cơ bản của trường mầm non

    + Những đồ dùng đồ chơi phục vụ cho công tác giáo dục trong nhóm lớp: Bàn ghế, đồ chơi mua sắm, đồ chơi tự tạo của giáo viên, vật liệu phục vụ các hoạt động của trẻ.

    + Những đồ dùng đồ chơi phục vụ hoạt động ngoài trời: Đu quay, cầu trượt, thang leo, bể cá, chuồng nuôi động vật.

    + Những đồ dùng phục vụ công tác nuôi dưỡng: Đồ dùng nhà bếp, đồ dùng ăn uống cá nhân.

    – Xã hội hóa giáo dục đối với các cấp học nói chung và với bậc học mầm non nói riêng, để xây dựng cộng đồng trách nhiệm của tầng lớp nhân dân với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục mầm non ở mỗi địa phương. Đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cơ quan nhà nước, các toàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng trên địa phương và của từng người dân.

    – Xã hội hóa để mở rộng các nguồn đầu tư , khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật liệu và tài lượng trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân. Tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục mầm non nhanh hơn, có chất lượng cao hơn và chính sách lâu dài. Đây là phương châm thực hiện chính sách xã hội hóa của Đảng và nhà nước ta.

    2.1- Mô tả thực trạng

    – Trường mầm non A xã Tứ Hiệp nằm trên địa bàn xã Tứ Hiệp, ở vị trí trung tâm của huyện Thanh Trì – Hà Nội. Trường đạt chuẩn quốc gia từ tháng 2 năm 2009

    – Tổng số trẻ toàn trường hàng năm từ 400 đến là 450 cháu đạt tỷ lệ ra lớp ở các độ tuổi: Trẻ mẫu giáo ra lớp đạt từ 90-93%, trẻ nhà trẻ ra lớp đạt từ 30- 36%, trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 100%.

    – Tổng số cán bộ giáo viên nhân viên (CBGVNV) năm học 2012-2013 là 50 đồng chí.

    * Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường đầu năm học 2010 – 2011 như sau:

    – Về đồ dùng đồ chơi trang thiết bị phục vụ công tác CS- ND- GD trẻ.

    + Hệ thống bếp ga còn thiếu nên vẫn đun cả than, bệ bàn bếp ga khu Cương Ngô I bị bong gạch, vỡ nhiều.

    + Các đồ dùng hiện đại phục vụ giảng dạy: Còn thiếu 06 đàn Oocgan, thiếu 10 máy vi tính cho 10 lớp.

    + Bàn ghế bị hỏng nhiều, cụ thể: 100 bộ bàn ghế mẫu giáo, 30 bộ bàn ghế nhà trẻ bị mọt khung sắt, mặt ghế bị bong, mủn nhiều.

    + 10/10 lớp chưa có máy điều hòa không khí.

    + Giá đồ chơi còn thiếu, các giá đã có đồng loạt một mẫu không phù hợp đặc thù các góc.

    + Hệ thống đèn chiếu sáng của 10/10 lớp chưa đảm bảo tiêu chuẩn.

    + Đồ chơi ngoài trời: Có 3 bộ đồ chơi liên hoàn thỏ nấm bị mọt mặt sàn cầu trượt; 02 bộ đồ chơi liên hoàn cầu trượt tàu hỏa hỏng mặt sàn và thang leo; 02 xích đu thuyền rồng bị mọt khung, hỏng mái. Đa số đồ chơi ngoài trời bị bạc màu sơn. Chưa có khu vui chơi vườn cổ tích.

    – Cơ sở vật chất trường lớp.

    + Khu Cương Ngô I (Điểm chính): Tổng diện tích là 3.635 m 2 với 4 phòng học và 8 phòng chức năng, vôi tường bạc màu, có nhiều chỗ rêu xanh, chân tường bong tróc vôi, nhà vệ sinh lớp A2 rò rỉ nước ở tầng 2 xuống, gây hỏng trần thạch cao, sân trường láng xi măng sụt lún. Hệ thống cửa gỗ mối mọt nhiều, nhiều cánh cửa sổ bị cong vênh.

    + Hai điểm lẻ (Khu Cương Ngô II, khu Văn Điển) diện tích hai khu chật hẹp (Khu Khu Cương Ngô II tổng diện tích là 790,6 m 2, Khu Văn Điển 881 m 2). Hai công trình xây dựng từ năm 1996, mỗi khu có 3 phòng học (diện tích từ 32-35m2/phòng). Không có các phòng chức năng, các hạng mục bị xuống cấp trầm trọng. Mặt bằng hai khu thấp trũng, hệ thống tiêu thoát nước bị ứ đọng. Tường bị ẩm mốc, bong tróc vôi nhiều. Đối chiếu với tiêu chuẩn về cơ sở vật chất thiết bị mầm non của trường chuẩn quốc gia thì hai điểm lẻ không còn phù hợp với trường đạt chuẩn quốc gia.

    Với tình hình thực trạng như trên trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau:

    2.2. Điều kiện thuận lợi :

    – Được Uỷ ban nhân dân huyện, phòng Tài chính, phòng Giáo dục, Uỷ ban nhân dân xã quan tâm có kế hoạch xây dựng và phát triển quy mô cho nhà trường; đầu tư kinh phí nâng cấp sửa chữa các hạng mục đã xuống cấp và mua sắm một số trang thiết bị phục vụ công tác ND- CS- GD trẻ.

    – Phụ huynh nhiệt tình quan tâm đến trẻ, trẻ đưa ra lớp với tỷ lệ cao, có tinh thần đóng góp tự nguyện mua bổ sung CSVC để duy trì danh hiệu đạt chuẩn quốc gia.

    – 100% trẻ được học bán trú tại trường.

    – Trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ có tinh thần đoàn kết phấn đấu xây dựng trường duy trì tốt các tiêu chuẩn của trường đạt chuẩn quốc gia. Đội ngũ Ban giám hiệu trẻ, có năng lực công tác, đoàn kết trong mọi công việc.

    – Trường đạt chuẩn quốc gia tháng 2 năm 2009. Đã duy trì tốt 4 tiêu chuẩn của trường đạt chuẩn quốc gia đó là: Tổ chức nhà trường, cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, chất lượng giáo dục, công tác xã hội hoá giáo dục.

    2.3. Về điều kiện khó khăn :

    – Điểm trường khu chính (khu Cương Ngô I) đã có nhiều hạng mục xuống cấp.

    – 2 điểm lẻ (Khu Văn Điển, khu Cương Ngô II) các hạng mục đã bị xuống cấp trầm trọng.

    – Các lớp chưa có hệ thống điều hòa không khí, hệ thống đèn chiếu sáng chưa đảm bảo và còn thiếu một số đồ dung trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy. Các bếp vẫn còn đun cả than và ga. 3/3 sân chơi đã có đồ chơi ngoài trời nhưng một số đồ chơi đã hỏng và tróc sơn nhiều.

    Xuất phát từ nhiều cơ sở thực trạng trên của nhà trường Ban giám hiệu chúng tôi đã thống nhất và tìm ra được hệ thống các biện pháp thực hiện công tác tham mưu và xã hội để tăng cường CSVC cho trường Mầm non A xã Tứ Hiệp duy trì danh hiệu đạt chuẩn quốc gia. Bước đầu đạt được một số kết quả khả quan như sau:

    3.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch tham mưu và xã hội hóa giáo dục.

    Kế hoạch được ví như chìa khóa mở đường đi đến mục đích. Kế hoạch có tầm quan trọng đặc biệt, nó như kim chỉ nam có tác dụng chỉ đạo, chỉ đường cho hoạt động thực hiện theo một con đường đã định sẵn. Nó như một ngọn đèn pha dẫn nối cho chúng ta thực hiện công việc một cách khoa học.

    Vì vậy nếu xây dựng được kế hoạch coi như ta đó thành công được một nửa công việc. Căn cứ vào thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường tôi đã nhận định dược những điểm mạnh và điểm yếu về cơ sở vật chất của nhà trường. Vì vậy tôi đã tiến hành xây dựng kế hoạch, tham mưu, xã hội hóa để duy trì tiêu chuẩn về cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia và để đảm bảo kịp thời cho lần kiểm tra tiếp theo sau 5 năm vào tháng 2 năm 2014 như sau:

    Link tải tài liệu: http://tinyurl.com/m4vc3gm

    3.2. Biện pháp 2: Tạo uy tín, niềm tin đối với cha mẹ trẻ, lãnh đạo Đảng chính quyền và cộng đồng địa phương thông qua việc khẳng định uy tín và chất lượng của nhà trường.

    Ngày nay trong tình hình đổi mới đất nước, sự nghiệp giáo dục mầm non không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục trẻ toàn diện, để duy trì số lượng.

    Bởi vậy mỗi nhà trường phải có các biện pháp năng động, sáng tạo tự thân vận động, phát huy nội lực để nâng cao chất lượng của nhà trường, mà kết quả chất lượng của nhà trường đạt được phải được ngành học, địa phương, nhân dân công nhận và nhận thấy rõ. Chính điều đó sẽ đạt được uy tín và niềm tin với cha mẹ trẻ, lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội. Uy tín đó quyết định sự tồn tại và phát triển của nhà trường, có uy tín thì cha mẹ trẻ mới yên tâm gửi con vào trường, họ sẽ sẵn sàng đóng góp kinh phí để xây dựng CSVC cho con họ có điều kiện học tập và sinh hoạt. Có uy tín thì lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương mới đầu tư cho phát triển giáo dục mầm non của địa phương đúng hướng, đúng mục đích hiệu quả.

    Chính vì vậy biện pháp lớn nhất của việc tạo lập uy tín, niềm tin là nâng cao chất lượng CS- ND- GD trẻ.

    Xác định được việc quan trọng của việc cần thiết phải nâng cao chất lượng CS- ND- GD trẻ. Ngay từ đầu các năm học tôi đó tiến hành xây dựng kế hoạch năm học với các chỉ tiêu và biện pháp cụ thể cho từng hoạt động sát với thực tế của nhà trường địa phương phù hợp với nhiệm vụ trọng tâm và phòng Giáo dục – Đào tạo chỉ đạo.

    Hoạt động của Ban giám hiệu :

    – Phân công trách nhiệm phụ trách các triển khai thực hiện tốt kế hoạch năm học kế hoạch tháng.

    – Quản lý chỉ đạo tốt các hoạt động CS- ND- GD trẻ trong nhà trường.

    – Tổ chức tốt các ngày hội ngày lễ trong năm.

    – Tổ chức, tham gia đầy đủ các hội thi trong năm.

    – Triển khai thực hiện tốt các phong trào thi đua, đẩy mạnh việc thực hiện các cuộc vận động do ngành phát động

    – Quản lý tốt công tác tài chính – CSVC, công khai hóa thu chi trong nhà trường.

    – Phối kết hợp với phụ huynh để CS- ND- GD trẻ.

    – Chỉ đạo các đoàn thể thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường tích cực xây dựng tập thể vững mạnh.

    – Nâng cao chất lượng đội ngũ.

    – Làm tốt công tác thanh kiểm tra trong nhà trường.

    Với các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của nhà trường như trên. Nhà trường đã thu được kết quả như sau:

    * Kết quả thu được:

    – Đã xây dựng được kế hoạch các năm học phù hợp với các công tác trọng tâm do ngành chỉ đạo, sát với tình hình thực tế của nhà trường.

    – Quản lý chỉ đạo tốt các hoạt động của nhà trường cụ thể đạt được các thành tích như:

    + Tỷ lệ trẻ mẫu giáo ra lớp đạt 94%.

    + Chất lượng nuôi dưỡng trẻ: Đã đảm bảo được an toàn cho trẻ, hàng năm giảm được tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cuối năm so với đầu năm là 3 – 5%, giảm so với cùng kỳ năm trước từ 1- 2%, trẻ thấp còi giảm được 2 – 4% cuối năm so với đầu năm. Đó không để xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm và dịch bệnh trong nhà trường.

    + Chất lượng giáo dục trẻ: Trẻ khoẻ mạnh có nề nếp vui chơi – học tập có thói quen với cá nhân, đánh giá chất lượng giáo dục trẻ cuối năm xếp loại chung đạt 95% trẻ đạt yêu cầu.

    + Hàng năm có từ 5 – 7 giáo viên, cô nuôi đạt giỏi cấp huyện; 7 – 8 CBGVNV đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, năm 2011 – 2012 có 01 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp thành phố.

    + Được phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Thanh Trì đánh giá xếp loại tốt toàn diện các hoạt động qua các đợt kiểm tra thanh tra.

    + Đạt giải nhất, nhì trong hội diễn văn nghệ “Mừng Đảng Mừng Xuân”.

    + Đạt giải nhì, ba trong hội thao thể dục thể thao toàn ngành.

    + Đạt một giải nhất dự thi giáo án điện tử.

    + Một giải nhì dự thi thực hành kỹ năng công nghệ thông tin (CNTT) trong ngày hội CNTT cấp huyện. Được tham dự ngày hội CNTT cấp thành phố.

    + Liên tục đạt giải nhất “Hội khoẻ măng non” cấp huyện.

    + Trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ I từ tháng 2/2009.

    + Chi đoàn liên tục đạt chi đoàn vững mạnh xuất sắc.

    + Công đoàn liên tục đạt công đoàn vững mạnh xuất sắc.

    + Chi bộ đạt cho bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu.

    + Hoạt động giáo dục thể chất: Được đánh giá tiên tiến xuất sắc.

    + Hoạt động y tế – vệ sinh học đường xếp loại tốt.

    + 3 năm liên tục đạt “Tập thể lao động xuất sắc” cấp thành phố.

    + Năm 2012 được nhận bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    – Với các kết quả đạt được như trên chúng tôi đó khẳng định đựơc uy tín và chất lượng của nhà trường.

    – Đã tạo được niềm tin trong nhân dân, phụ huynh. Lãnh đạo Đảng chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội.

    – Đã nhận được nhiều sự quan tâm hỗ trợ của phụ huynh lãnh đạo địa phương, cộng đồng xã hội trong việc duy trì trường đạt chuẩn quốc gia.

    3.3. Biện pháp 3: Làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo địa phương và phòng Giáo dục & Đào tạo để tăng cường sự đầu tư CSVC cho nhà trường.

    Trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, sự nghiệp giáo dục đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Muốn làm được điều đó thì phải kết hợp sức mạnh cộng đồng, kết hợp sự đầu tư của nhà nước với đóng góp của nhân dân, các tổ chức của xã hội trong việc tạo môi trường điều kiện CSVC đảm bảo cho việc dạy và học.

    Người hiệu trưởng phải là chiếc cầu nối để các ban ngành tổ chức, địa phương và nhân dân cùng đồng lòng, đồng sức thực hiện kế hoạch, đó là tầm quan trọng của việc tham mưu. Tham mưu giữ vai trò quyết định trong công tác của người hiệu trưởng, tham mưu cho Đảng bộ, chính quyền địa phương. Sự phát triển về số lượng, chất lượng của nhà trương là do sự quan tâm của lãnh đạo địa phương. Mà kết quả đó xuất phát từ sự tham mưu có hiệu quả của người hiệu trưởng nhà trường. Cái khó của việc tham mưu là làm sao dể cho người ta hiểu rõ về trường, về bậc học mầm non, về nhiệm vụ năm học, tạo được sự hiểu biết, tôn trọng, sự quý mến và có trách nhiệm quan tâm giúp đỡ điều quan trọng là làm sao để biến được những nhu cầu hợp lý của nhà trường thành nghị quyết, quyết định của lãnh đạo địa phương.

    Vì vậy muốn làm tốt công tác tham mưu, trước hết người hiệu trưởng cần xác định rõ đối tượng mình cần tham mưu đó là: Uỷ ban nhân dân (UBND) Huyện Thanh Trì, phòng Tài chính – Kế hoạch, phòng Giáo dục- Đào tạo, Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã, chính quyền các thôn, các cơ quan đóng trên địa bàn. Khi xác định được đối tượng tham mưu thì phải chuẩn bị nội dung để đề xuất, vấn đề cốt yếu mà tôi đã xác định đó là việc xây dựng CSVC cho nhà trường để duy trì trường đạt chuẩn quốc gia. Muốn họ chấp nhân ý kiến của mình thì phải dựa vào điều kiện kinh tế của các cấp.

    Đứng trước thực trạng của nhà trường, tôi đã xây dựng kế hoạch xây dựng CSVC của nhà trường cụ thể, rõ ràng, chính xác, có tính khả thi cao. Sau khi xây dựng được kế hoạch phù hợp tôi đã lựa chọn thời điểm tham mưu để đạt hiệu quả cao. Qua buổi họp hội đồng nhân dân, hội đồng giáo dục của xã tôi đã mạnh dạn thông qua kế hoạch xây dựng CSVC của nhà trường. Đề xuất ý kiến với lãnh đạo Đảng, chinh quyền xã đầu tư CSVC trang thiết bị cho nhà trường, để CSVC của nhà trường duy trì trường đạt chuẩn quốc gia. Với Uỷ ban nhân dân huyện và phòng Giáo dục- Đào tạo tôi đề xuất ý kiến qua các buổi họp, học tập nhiệm vụ năm học, họp giao ban hiệu trưởng hàng tháng, làm báo cáo đề xuất.

    Trong quá trình đề xuất theo kế hoạch tôi đã khéo léo nêu các khó khăn và những đồ dùng mang tính đặc thù riêng của Bậc học mần non nói chung và khó khăn của nhà trường nói riêng, để lãnh đạo các cấp hiểu và không còn băn khoăn trong quá trình đầu tư.

    – Tờ trình số 64/TTr-MNATH ngày 05/12/2010 trình UBND huyện Thanh Trì về việc đề xuất, mở rộng quỹ đất khu Cương Ngô I, xây thêm phòng học và gom điểm lẻ khu Cương Ngô II về khu Cương Ngô I.

    – Tờ trình số 52/ TTr – MNATH ngày 26/8/2011 trình UBND xã Tứ Hiệp xin đầu tư làm nhà vòm khu Cương Ngô I.

    – Công văn số 60/CV- MNATH ngày 10/09/2011 trình UBND huyện Thanh Trì về việc điều chỉnh quyết định đầu tư xây dựng điểm trường khu Văn Điển. Đây là một dự án duy nhất được UBND huyện Thanh Trì thay đổi và điều chỉnh quyết định đầu tư xây dựng từ một dự án điểm trường lẻ với 5 nhóm lớp của trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, thành dự án xây dựng khu trung tâm với 09 lớp học, đủ các phòng chức năng và các hạng mục phụ trợ theo mô hình trường chuẩn quốc gia mức độ 2.

    – Công văn số 73/CV- MNATH ngày 17/10/2011 trình UBND huyện Thanh Trì về việc đề xuất lát sân, quét vôi, sửa chữa một số hạng mục xuống cấp khu Cương Ngô I.

    – Tờ trình số 40/ TTr – MNATH ngày 06/6/2012 trình UBND xã Tứ Hiệp xin đầu tư sửa hệ thống cửa gỗ, làm mới cửa kính nhôm Cương Ngô I.

    ( Một số văn bản minh họa kèm theo ở phần phụ lục) * Kết quả thu được:

    Với công tác tham mưu đề xuất có hiệu quả, chúng tôi đã nhận được sự đầu tư của các cấp để tăng cường CSVC cho nhà trường nhằm duy trì các tiêu chuẩn của trường đạt chuẩn như sau:

    – UBND huyện Thanh Trì đã phê duyệt dự án dự án xây dựng khu trung tâm tại thôn Văn Điển với 09 lớp học, đủ các phòng chức năng và các hạng mục phụ trợ theo mô hình trường chuẩn quốc gia mức độ 2 với tổng kinh phí dự toán là 30 tỷ đồng. Theo kế hoạch triển khai xây dựng trong quý 2 năm 2013.

    – UBND huyện Thanh Trì đã nhất trí mở rộng quỹ đất khu Cương Ngô I, xây thêm phòng học để gom điểm trường khu Cương Ngô II về khu Cương Ngô I. Theo kế hoạch thực hiện trong năm 2014.

    – UBND huyện đã đầu tư 601 triệu đồng để nâng cấp sửa chữa các hạng mục xuống cấp, lát sân gạch đỏ, quét vôi toàn bộ khu cương Ngô I. Thực hiện tháng 6/2012.

    – UBND xã Tứ Hiệp: Tháng 8/2011 đầu tư trên 200 triệu đồng làm nhà vòm với diện tích trên 200m 2; tháng 8/2012 đầu tư trên 80 triệu đồng để sửa hệ thống cửa gỗ toàn trường và 500 triệu đồng để xây tường rào, lát sân khu Cương Ngô II.

    – Phòng GD&ĐT huyện Thanh Trì đầu tư kinh phí với số tiền là 164 triệu đồng mua bổ sung cho nhà trường 40 giá góc các loại, 10 bộ bàn ghế giáo viên, 100 bộ bàn ghế mẫu giáo, 30 bộ bàn nghế nhà trẻ và 07 tủ đựng đồ dung cá nhân vào năm 2011.

    – Phòng Tài chính – Kế hoạch cấp bổ sung ngân sách: năm 2010 nâng cấp toàn bộ hệ thống đèn chiếu sang cho các phòng học và phòng năng khiếu với tổng số tiền là 94 triệu đồng; năm 2011 đầu tư 10 máy vi tính cho phòng máy học sinh với tổng kinh phí là 120 triệu đồng; năm 2012 đầu tư 01 vườn cổ tích và bộ đồ chơi phát triển thể lực đa năng với tổng số tiền là 231 triệu đồng.

    – Bên cạnh sự đầu tư của các cấp Ban giám hiệu nhà trường đó cân đối ngân sách tăng cường bổ sung mua sắm, sửa chữa đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho công tác chuyên môn, bán trú, nuôi dưỡng và các bếp trong 2 năm với tổng kinh phí là trên 700 triệu đồng.

    (Có phụ lục ảnh kèm theo) 3.4. Biện pháp 4: Phối hợp với phụ huynh để nâng cao chất lượng CS- ND- GD trẻ và bổ sung CSVC cho nhà trường.

    Phụ huynh là một lực lượng quan trọng góp phần tạo nên chất lượng CS- ND- GD trẻ trong trường mầm non. Có nhiều cách để thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với gia đình trẻ. Trước hết nhà trường phải là một tổ chức mở, cần đến phụ huynh thường xuyên thông tin cho họ các thông tin về con cái họ, lôi kéo họ tham gia vào các hoạt động của nhà trường, cung cấp cho họ các kiến thức chăm sóc, giáo dục trẻ. Đặc biệt là nhà trường phải đáp ứng được nhu cầu của họ về chất lượng CS-ND-GD trẻ, tạo dựng cho họ niềm tin vào nhà trường.

    Hiểu được nhu cầu của phụ huynh và nhận thức được tầm quan trọng của công tác phối hợp, ban giám hiệu nhà trường đã luôn quan tâm và thực hiện tốt một số nội dung phối hợp như sau:

    – Không ngừng nâng cao chất lượng CS- ND- GD trẻ bằng cách: Nâng cao trình độ đội ngũ, xây dựng CSVC, xây dựng khẩu phần ăn hợp lý theo mùa và theo tuần chẵn, tuần lẻ, công khai hoá các khoản thu chi của nhà trường, thực hiện kí cam kết việc thực hiện quy chế của nhà trường với phụ huynh.

    – Phổ biến kiến thức và kĩ năng chăm sóc, giáo dục trẻ cho các bậc phụ huynh.

    – Với các hình thức phối hợp đa dạng, phong phú như:

    + Chỉ đạo giáo viên trao đổi trực tiếp với phụ huynh về các hoạt động của trẻ ở trường.

    + Ban giám hiệu cùng giáo viên chủ nhiệm và ban phụ huynh tổ chức thăm, viếng gia đình trẻ khi gặp rủi ro.

    + Mời phụ huynh tham gia kiểm tra đột xuất các bếp ăn và tham gia vào các ngày hội ngày lễ, hội thi, sơ kết, tổng kết hàng năm do nhà trường tổ chức.

    + Tổ chức họp phụ huynh 03 lần đầu năm, giữa năm, cuối năm.

    + Sinh hoạt định kỳ với hội phụ huynh nhà trường.

    – Phát động phong trào xây dựng quỹ tấm lòng vàng trên tinh thần tự nguyện để bổ sung CSVC duy trì trường đạt chuẩn quốc gia.

    Với các biện pháp và hình thức thực hiện công tác phối hợp với phụ huynh như trên chúng tôi đã thu được một số kết quả như sau:

    * Kết quả thu được:

    – Chất lượng CS- ND- GD trẻ đã được nâng lên đáp ứng nhu cầu của phụ huynh.

    – Đã tạo được niềm tin với phụ huynh, yên tâm gửi con vào trường.

    – Phụ huynh đã thể hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc đóng góp kinh phí theo quy định phối hợp với nhà trường để CS- ND- GD trẻ đươc tốt và thực hiện tốt nội quy quy chế phối hợp với nhà trường.

    – Họ đã tham gia tích cực vào các hoạt động của nhà trường khi nhà trường mời tham dự, như ngày: Khai giảng năm học, ngày 20/11, ngày sơ kết học kỳ I và các hội thi của nhà trường, đưa các cháu đi thi cấp huyện các hội thi, có hoa và quà động viên kịp thời các cô và các cháu.

    3.5. Biện pháp 5: Phối hợp với các ban ngành đoàn thể trong xã và các cơ sở kinh doanh trên địa bàn.

    – Ngoài mối quan hệ với lãnh đạo chính quyền địa phương trường mầm non cần có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với các tổ chức đoàn thể khác ở địa phương như: Đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, mặt trận tổ quốc Việt Nam, hội nông dân, đài truyền thanh, các đơn vị kinh doanh trên địa bàn, các trường phổ thông, trạm y tế.

    – Nếu hiệu trưởng xây dựng được mối quan hệ tốt với các tổ chức này trường mầm non sẽ luôn nhận được sự quan tâm hỗ trợ nhiệt tình của họ. Muốn có một sức mạnh tổng hợp nhà trường cần dựa vào khối mặt trận tổ quốc để vận động, tuyên truyền, kết hợp huy động mọi nguồn lực ở trong nhân dân.

    Với trung tâm y tế xã: Khám sức khoẻ định kỳ cho trẻ 2lần /01 năm. Khám chữa bệnh thường xuyên cho những trẻ đau ốm, tập huấn kiến thức phòng tránh tai nạn cho trẻ và kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho đội ngũ giáo viên, nhân viên của trường.

    Với đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: Là lực lượng hùng hậu kết hợp với họ để tổ chức tốt các hội thi, huy động thanh niên tình nguyện bảo vệ an toàn CSVC cho các cơ sở của nhà trường.

    Với các trường phổ thông trên địa bàn: Là sợi dây liên kết, thúc đẩy các hoạt động nhà trường, tổ chức giao lưu, tham quan, học hỏi kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong giảng dạy bởi vì các trường phổ thông đã có giáo viên có chuyên môn và trình độ tin học.

    Với hội đồng giáo dục xã: Là nơi tham mưu và đưa ra các quyết định và kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn của xã. Hội đồng có tiểu ban tham mưu và chịu trách nhiệm về các chế độ chính sách cho giáo viên mầm non.

    Với hội khuyến học: Hội khuyến học đã huy động nguồn kinh phí của nhân dân để khen thưởng cho CB- GV- NV đạt thành tích cao trong năm học.

    Với mặt trận tổ quốc: Mặt trận tổ quốc là một tổ chức chính trị, có khả năng tập hợp mọi lực lượng xã hội cùng tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn.

    Với các cơ quan thông tin đại chúng: Đã giúp nhà trường tuyên truyền và gây dựng hình ảnh, uy tín, niềm tin cho nhà trường.

    Với các đơn vị kinh doanh trên địa bàn: Đã giúp nhà trường một cách trực tiếp bằng việc hỗ trợ kinh phí để mua sắm các phương tiện để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.

    * Kết quả đạt được:

    – Như vậy mọi tổ chức xã hội là một sức mạnh, nhà trường đã đựa vào sức mạnh tổng hợp đó bằng cách tạo mối quan hệ tốt đẹp, đảm bảo bền vững nên đã được sự đồng tình chính là nhờ những tổ chức xã hội đó mà kế hoạch xây dựng CSVC của nhà trường ngày càng được phát triển để nâng cao chất lượng CS- ND- GD trẻ đạt hiệu quả cao.

    – Trong các ngày hội, ngày lễ, các hội thi của trường các ban ngành đoàn thể đã có hoa và quà tặng cho các cháu.

    – Hội khuyến học xã hàng năm đã tổ chức khen thưởng cho các đồng chí cán bộ giáo viên đạt chiến sĩ thi đua cấp Huyện 200.000 đồng/01 đồng chí, giáo viên dạy gỏi cấp thành phố 300.000đ/01 đồng chí. giáo viên đạt sáng kiến kinh nghiệm mầm non cấp thành phố 250.000đ/01 đồng chí.

    – Đặc biệt sự quan tâm của các cơ sở kinh doanh trên địa bàn đã hỗ trợ kinh phí để mua sắm CSVC với tổng số tiền là: 15.500.000 đồng (trong 02 năm học). Chính quyền các thôn luôn quan tâm tặng quà cho nhà trường trong các ngày hội, ngày lễ và tặng quà cho trẻ trong các ngày tết trung thu, ngày tết thiếu nhi.

    Sau khi áp dụng một loạt các biện pháp thực hiện công tác tham mưu, xã hội hoá giáo dục để tăng cường CSVC cho trường mầm non A xã Tứ Hiệp huyện Thanh Trì duy trì trường đạt chuẩn quốc gia, chúng tôi đã thu được một số kết quả như sau:

    Nhà trường đã nhận được sự quan tâm của UBND huyện, phòng Tài chính – Kế hoạch, phòng Giáo dục- Đào tạo, UBND xã, hội cha mẹ học sinh, các ban ngành đoàn thể và các đơn vị kinh doanh trên địa bàn với tình cảm ưu ái về cả về vật chất lẫn tinh thần cụ thể:

    – UBND huyện Thanh Trì đã phê duyệt dự án dự án xây dựng khu trung tâm với 09 lớp học, đủ các phòng chức năng và các hạng mục phụ trợ theo mô hình trường chuẩn quốc gia mức độ 2 với tổng kinh phí dự toán là 30 tỷ đồng. Theo kế hoạch triển khai xây dựng trong quý 2 năm 2013.

    – UBND huyện Thanh Trì đã nhất trí mở rộng quỹ đất khu Cương Ngô I, xây thêm phòng học để gom điểm trường khu Cương Ngô II về khu Cương Ngô I. Theo kế hoạch thực hiện trong năm 2014.

    – UBND huyện đã đầu tư 601 triệu đồng để nâng cấp sửa chữa các hạng mục xuống cấp, lát sân gạch đỏ, quét vôi toàn bộ khu cương Ngô I năm 2012.

    – UBND xã Tứ Hiệp: Năm 2011 đầu tư trên 200 triệu đồng làm nhà vòm với diện tích trên 200m 2; năm 2012 đầu tư trên 80 triệu đồng để sửa hệ thống cửa toàn trường và 500 triệu đồng để xây tường rào và lát sân khu Cương Ngô II.

    – Phòng GD&ĐT huyện Thanh Trì đầu tư kinh phí với số tiền là 164 triệu đồng mua bổ sung cho nhà trường 40 giá góc các loại, 10 bộ bàn ghế giáo viên, 100 bộ bàn ghế mẫu giáo, 30 bộ bàn nghế nhà trẻ và 07 tủ đựng đồ dung cá nhân vào năm 2011.

    – Phòng Tài chính – Kế hoạch cấp bổ sung ngân sách: Năm 2010 nâng cấp toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng cho các phòng học và phòng năng khiếu với tổng số tiền là 94 triệu đồng; năm 2011 đầu tư 10 máy vi tính cho phòng máy học sinh với tổng kinh phí là 120 triệu đồng; năm 2012 đầu tư 01 vườn cổ tích và bộ đồ chơi phát triển thể lực đa năng với tổng số tiền là 231 triệu.

    – Bên cạnh sự đầu tư của các cấp Ban giám hiệu nhà trường đó cân đối ngân sách tăng cường bổ sung mua sắm, sửa chữa đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho công tác chuyên môn, bán trú, nuôi dưỡng cho các lớp và các bếp trong 2 năm với tổng kinh phí là trên 700 triệu đồng.

    – Với sự quan tâm đầu tư và hỗ trợ của các cấp, phụ huynh và các ban ngành đoàn thể như trên đến nay:

    + 2/3 khu của nhà trường đựơc sửa chữa, quét vôi, lát sân bằng gạch đỏ khang trang sạch sẽ.

    + Các lớp đã được trang bị đầy đủ các đồ dùng thiết bị để phục vụ công tác CS- ND- GD trẻ. 10/10 lớp đó có máy vi tính, đầu đĩa ti vi và máy điều hòa không khí.

    + Các bếp đã được trang bị hệ thống bếp gas hay thế toàn bộ bếp than.

    + 3/3 sân chơi đã được bổ sung rất nhiều đồ chơi ngoài trời với các bộ chơi liên hoàn ba chức năng, các đồ chơi cũ đã được sửa và sơn lại. Hiện nay mỗi sân chơi có từ 6 đến 8 loại đồ chơi.

    – Bên cạnh sự quan tâm về CSVC như trên nhà trường đã nhận được sự quan tâm phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và đã nâng cao được chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ: Đã tạo được uy tín, niềm tin cho nhân dân, lãnh đạo địa phương và các bậc phụ huynh.

    – Bản thân đã tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm trong công tác tham mưu cho lãnh đạo Đảng, chính quyền, địa phương và kinh nghiệm xã hội hoá giáo dục nhằm phát triển giáo dục mầm non của nhà trường.

    Với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, phụ huynh học sinh, các ban ngành đoàn thể, cùng sự nỗ lực của bản thân và sự đoàn kết phấn đấu của cả tập thể sư phạm nhà trường đến nay trường mầm non A xã Tứ Hiệp chúng tôi đã duy trì được các tiêu chuẩn của trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ I.

    Link tải tài liệu: http://tinyurl.com/m4vc3gm

    Gửi bởi in Tags: Hà Vũ SKKN mầm non

    sang kien kinh nghiem, sáng kiến kinh nghiệm mầm non 2012, sáng kiến kinh nghiệm mầm non 5-6 tuổi, sáng kiến kinh nghiệm mầm non của cán bộ quản lý, sang kien kinh nghiem mam non hay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Đẩy Mạnh Sử Dụng Dịch Vụ Công Trực Tuyến Mức Độ 3, Mức Độ 4 Trên Địa Bàn Tỉnh Đắk Lắk
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Giải Pháp Dịch Vụ Công Trực Tuyến
  • Các Giải Pháp Dịch Vụ Công Trực Tuyến
  • Đẩy Mạnh Giải Pháp Thực Hiện Dịch Vụ Công Trực Tuyến Mức Độ 3 Và 4
  • Những Giải Pháp Để Các Đô Thị Việt Nam Phát Triển Bền Vững
  • Những Biện Pháp Hay Nhằm Duy Trì Sĩ Số Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Địa Lí Ở Tiểu Học
  • Khái Niệm Về Phương Pháp Dạy Học
  • Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá. Hiện đại hoá đất nước là điều kiện để phát huy nguồn lực con người.Là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.Vì thế Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là: “Quốc sách hàng đầu”.

    Để đạt được mục tiêu đó,trong luật Giáo dục cũng đã quy định: ” Mọi công dân không phân biệt dân tộc,tôn giáo, tín ngưỡng,nguồn gốc gia đình.Địa vị xã hội,hoặc hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Điều 10 luật “Bảo vệ,chăm sóc và giáo dục trẻ em” cũng đã quy định: “Trẻ em có quyền học tập…Trong công ước Quốc tế về quyền trẻ em “Cũng được thể hiện ở điều 28,khoản e”. Có biện pháp khuyến khích việc học ở nhà trường đều đặn và hạ thấp tỷ lệ bỏ học.

    Để thực hiện tốt việc duy trì sĩ số cho học sinh, phòng trừ mọi tệ nạn xã hội có thể xảy ra khi có học sinh bỏ học,thì mỗi chúng ta: Gia đình – Nhà trường – xã hội đều phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện để trẻ em được đén trường,góp phần giảm tỷ lệ học sinh bỏ học đạt kết quả tốt.

    Muốn trẻ đến trường được đều đặn thì trách nhiệm trước hết là của gia đình. Nếu mọi bậc phụ huynh đều nhận thức được việc học tập của con em mình là rất quan trọng,là quyền lợi của các em,nó quyết định cho cuộc sống tương lai của đứa trẻ.Có câu châm ngôn trong cuốn: “Cổ học trung hoa” đã nói: ” Lúc nhỏ mà chẳng được học hành thì đến lớn ngu dốt, không làm được việc gì”. Mỗi bậc phụ huynh phải thấy được tầm quan trọng việc học của đứa trẻ,tạo mọi điều kiện cho trẻ đến trường thì trẻ sẽ có cơ hội học tập tốt,lĩnh hội được tri thức khoa học để sau này trở thành con người có ích cho xã hội.Nếu mỗi bậc phụ huynh đều có ý thức giáo dục con em mình học tập như bà mẹ Mạnh Tử trong câu chuyện “Mẹ hiền dạy con” trong cuốn ” Cổ học Trung hoa”,có đoạn viết “Thầy Mạnh Tử đang đi học, bỏ học về nhà chơi, bà mẹ đang ngồi dệt vải trông thấy liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung cửi mà nói rằng: “Con đang đi học mà bỏ học thì cũng như ta đang dệt tấm vải này mà cắt đứt”.Từ đó hôm nào Mạnh Tử đi học cũng rất chuyên cần.Bên cạnh một số nhận thức đúng đắn của một số phụ huynh lo cho việc học tập của con trẻ,cũng còn có nhiều bậc phụ huynh nhận thức chưa sâu sắc hoặc do hoàn cảnh kinh tế gặp khó khăn mà bắt con phải nghỉ học,gây ảnh hưởng đến việc duy trì sĩ số của học sinh ở trong trường.

    Để giải quyết được yêu cầu thì mỗi gia đình, nhà trường và xã hội đều phải có trách nhiệm để tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho trẻ được tiếp tục đến trường và góp phần nâng cao tỷ lệ duy trì sĩ số đạt 100%.

    Vì thế, chúng tôi muốn tìm ra những giải pháp phù hợp để giúp đở trẻ được tiếp tục học tập và góp phần vào việc duy trì sĩ số của trường ngày một đạt kết quả cao, để giải quyết vấn đề trên chúng tôi chọn đề tài “những biện pháp hay nhằm duy trì sĩ số học sinh”

    2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.

    Đất nước ngày một phát triển, xã hội ngày một văn minh, thì một người dân cần phải có một trình độ văn hoá tối thiểu. Đặc biệt là thế hệ mầm non của đất nước cần phải có một số vốn về tri thức khoa học.Vậy mà vẫn còn tình trạng học sinh bỏ học mọi nơi.

    Qua quá trình công tác và giảng dạy ở trường tiểu học …., huyện Krông Năng, tỉnh ĐăkLăk. Chúng tôi nhận thấy mặt duy trì sĩ số học sinh của trường chưa năm nào đạt 100%, còn có nhiều học sinh bỏ học giữa chừng do điều kiện kinh tế gặp khó khăn, địa bàn dân cư quá rộng,trẻ đi học quá xa,phần nữa là do nhận thức về việc học của con trẻ chưa cao. Mỗi chúng ta: Gia đình – Nhà trường – Xã hội phải làm gì để tạo điều kiện cho trẻ được tiếp tục học tập.

    – Là những giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường TH …….

    – Ban đại diện cha mẹ học sinh, hội phụ huynh của trường.

    – Học sinh của trường trong những năm qua.

    – Đoàn viên công đoàn nhà trường.

    – Các tổ chức đoàn thanh niên, hội phụ nữ, nông dân trong thôn trong xã.

    4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu.

    • Nghiên cứu về thực trạng của học sinh; nguyên nhân dẫn đến học sinh bỏ học giữa chừng.
    • Nghiên cứu về đời sống tinh thần,vật chất của gia đình học sinh; nghiên cứu về sự nhận thức của phụ huynh học sinh đối với việc học tập của con em; nghiên cứu về địa bàn dân cư ở địa phương.
    • Nghiên cứu về phương pháp động viên, khuyến khích thu hút trẻ đến trường của nhà trường.
    • Nghiên cứu về sự quan tâm của chính quyền địa phương đối với phong trào giáo dục xã nhà

    – Đề xuất những giải pháp,nhằm giảm tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng.

    5 Phương pháp nghiên cứu.

    Trong đề tài này tôi sử dụng và phối hợp các phương pháp sau:

    *Phương pháp điều tra.Tôi đã điều tra ở giáo viên chủ nhiệm lớp của các năm học vừa qua về việc duy trì sĩ sô học sinh của từng lớp đầu năm,cuối năm.Đồng thời lấy sô liệu tổng hợp về việc duy trì sĩ số hàng năm của nhà trường.

    *Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.

    *Phương pháp đọc sách,tài liệu

    *Phương pháp trò chuyện:Tôi đã trực tiếp trò chuyện với một số phụ huynh học sinh để biết được thêm tình hình học tập của con em trong gia đình họ để bổ sung thêm thông tin cho phương pháp điều tra.

    *Phương pháp xử lý số liệu.

    Khi nghiên cứu đề tài này nhằm khắc phục nguyên nhân dẫn đến học sinh bỏ học và hiểu biết thêm thực trạng về đời sống kinh tế, về sự quan tâm của mỗi bậc phụ huynh đối với con trẻ. Sự gắn bó mật thiết giữa nhà trường và gia đình, sự giúp đỡ của chính quyền địa phương đối với đời sống kinh tế của nhân dân cũng như phong trào giáo dục của xã nhà, nhằm tạo mọi điều kiện cho trẻ được tiếp tục đến trường,tăng tỷ lệ về việc duy trì sĩ số của trường đạt 100%.Từ đó,đề xuất các giải pháp nhằm phối hợp giữa nhà trường,Gia đình và xã hội để tạo điều kiện cho trẻ được tiếp tục đến trường, góp phần nâng cao việc duy trì sĩ số của trường.

    Đất nước ngày một phát triển, xã hội ngày một văn minh, thì mỗi người dân cần phải có một trình độ văn hóa tối thiểu. Đặc biệt là thế hệ trẻ của đất nước cần phải có một số vốn về tri thức khoa học. Vậy mà vẫn còn tình trạng học sinh bỏ học mọi lúc mọi nơi. Qua quá trình công tác và giảng dạy ở trường tiêu học ….. chúng tôi nhận thấy rằng việc duy trì sỉ số của học sinh trong trường chưa năm nào đạt 100%. Có nhiều học sinh bỏ học nữa chừng do điều kiện kinh tế gặp khó khăn, địa bàn dân cư quá rộng, trẻ đi học xa , phần nữa là do nhận thức về việc học của học sinh chưa cao. Mỗi chúng ta : Gia đình – Nhà trường – Xã hội phải làm gì để tạo điều kiện cho học sinh được tiếp tục đi học.

    Để thực hiện tốt việc duy trì sĩ số cho học sinh, phòng trừ mọi tệ nạn xã hội có thể xảy ra khi có học sinh bỏ học,thì mỗi chúng ta: Gia đình – Nhà trường – Xã hội đều phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện để trẻ em được đến trường, góp phần giảm tỷ lệ học sinh bỏ học đạt kết quả tốt.

    Muốn trẻ đến trường được đều đặn thì trách nhiệm trước hết là của gia đình và sự quan tâm sâu sát của nhà trường.

    Để thực hiện việc duy trì sĩ số cho học sinh đạt kết quả cao thì mỗi gia đình, nhà trường và xã hội đều phải có trách nhiệm tuyên truyền, vận động, giáo dục để tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho trẻ được tiếp tục đến trường và góp phần nâng cao tỷ lệ duy trì sĩ số đạt 100%.

    Vì thế, chúng tôi muốn tìm ra những giải pháp phù hợp để giúp đỡ trẻ được tiếp tục học tập và góp phần vào việc duy trì sỉ số của trường ngày một đạt kết quả cao.

    Cán bộ giáo viên, nhân viên trẻ năng nổ nhiệt tình có tâm huyết. Trình độ đạt chuẩn 100%, trên chuẩn trên 85%.

    Hạn chế đời sống kinh tế có nhiều khó khăn thiếu thốn. Đặc biệt đường sá đi lại rất khó khăn nhất là về mùa mưa dẫn đến một số học sinh ở xa đi học hay chậm trễ vì vậy có phần nào ảnh hưởng đến việc học của các em. Cơ sở vật chất còn thiếu.

    Nội bộ nhà trường luôn tạo mối đoàn kết, thống nhất cao, luôn giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ. Trong những năm qua trường đều tham gia tốt các hoạt động phong trào có rất nhiều kết quả đáng khích lệ. Năm học ….. toàn trường có 65 cán bộ giáo viên trong đó đề nghị các cấp khen thưởng 34 đồng chí. Trường đạt danh hiệu tiên tiến và cơ quan văn hóa cấp huyện trong mấy năm liền

    Hạn chế giáo viên còn kiêm nhiệm nhiều công việc. Đường sá đi lại khó khăn có phần ảnh hưởng đến công tác duy trì sỉ số

    Nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh có điều kiện đến trường. Coi trọng việc học tập là mục tiêu cơ bản để các em có ý thức tự giác học tập, biết được ý nghĩa của việc học tập. Từ đó giúp các em có thói quen đi học, đến trường đầy đủ. Đảm bảo học tập tốt hơn.

    Trong sự nghiệp trồng người mỗi thầy giáo, cô giáo đều phát huy hết trách nhiệm của mình nêu cao vai trò gương mẫu trong mọi công việc để giáo dục học sinh. Tạo điều kiện thân thiện, gần gũi, mật thiết giữa thầy với trò, giữa học sinh với học sinh. Tạo sự vui vẻ để hứng thú học tập để các em hứng thú đến lớp, đến trường đều đặn.

      Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

    Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân của việc duy trì sĩ số học sinh. Để có tác động tích cực của gia đình,nhà trường và xã hội.Tôi mạnh dạn đề xuất những giải pháp sau:

    * Gia đình phải có trách nhiệm về con em, phải tạo mọi điều kiện để trẻ được theo học. Phải coi việc học của trẻ là hết sức quan trọng. Nếu thấy con em mình không vui hoặc có vấn đề gì khó khăn trong việc học tập của con em thì phải báo ngay với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường để nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ.

    * Giáo viên chủ nhiệm phải nhiệt tình,năng nổ phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương pháp giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng ở trong nhà trường đặc biệt là từng em học sinh để lôi cuốn học sinh,học sinh vui vẻ, tự tin trước khi đến trường tạo thêm niềm vui, phấn khởi thực sự để hội cha mẹ học sinh nhận thấy được ở trường là chỗ dựa vững chắc cho phụ huynh tin tưởng từ đó tạo niềm tin cho phụ huynh phấn khởi và xây dựng môi trường thân thiện ở trong nhà trường .

    – Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với Đoàn thể, với địa phương ,tạo những điều kiện môi trường giáo dục tốt.

    – Phải tạo đoàn kết, thương yêu giúp đỡ học sinh trong lớp qua các phong trào. Tạo cho các em động cơ ham học trong việc uốn nắn các em,giáo viên chủ nhiệm phải luôn giữ thái độ bình tĩnh,không nóng vội,không dùng lời lẽ nặng nề với các em, hoà đồng vui vẻ với các em, xem học sinh là con đẻ của mình, chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp.

    -Học sinh tiểu học trong độ tuổi biết tự ái, giận hờn, thích được động viên khen thưởng, tuyệt đối không nên dùng hình phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt không ham thích đến lớp, phải tạo cho các em một niềm tin để các em an tâm học tập và xem giáo viên chủ nhiệm là người mẹ hiền.

    -Nên tổ chức vui chơi tập thể trong các giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và giáo viên.Trong chương trình giảng dạy nên tổ chức những buổi “Học vui,vui học” dưới hình thức ôn tập.

    Việc chuyên cần học tập của học sinh đã quyết định sự tiến bộ của các em,nếu để các em nghỉ học một hai lần với lý do không cần thiết lắm thì các em sẽ thích nghỉ học đi chơi hơn là đến lớp bởi nhiều lý do: Sợ bị phạt, sợ bị chế giễu. Giáo viên nên giải thích tai hại của việc bỏ học và đi học không đầy đủ đẫn đến hậu quả không tốt, ảnh hưởngđến kết quả học tập.

    *Giáo viên chủ nhiệm và nhà trường phải quan tâm tìm hiểu hoàn cảnh của học sinh để tạo điều kiện giúp đỡ, bố trí buổi học phù hợp có thể lập Quỹ tình thương để hổ trợ một phần nào cho các em về mặt vật chất, đồng thời cắt cử các em học sinh trong lớp thường xuyên giúp đỡ,đỡ đần bớt các công việc gia đình để bạn có thời gian đến trường.

    * Các đoàn thể xã hội như: Phụ nữ, nông dân, phải phối hợp với nhà trường quan tâm, giúp đỡ những gia đình gặp khó khăn. Xây dựng quỹ khuyến học trong từng thôn xã, họ hàng để hỗ trợ thêm cho những em gặp khó khăn trong đời sống kinh tế để giúp các em có thể tiếp tục học tập.

    *Chính quyền địa phương phải có kế hoạch bố trí dân cư hợp lý để tạo điều kiện cho các em đi học gần.Đồng thời có chính sách đãi ngộ đối với những hộ gia đình nghèo, đông con và gặp khó khăn về kinh tế.

    Công đoàn nhà trường xây dựng quỹ khuyến học, quỹ tình thương, quỹ hỗ trợ những học sinh có điều kiện khó khăn về vật chất và tinh thần để các em đi học đầy đủ.

    Giải pháp quan trọng nhất là Nhà trường,Gia đình và xã hội phải phối hợp chặt chẻ với nhau,để cùng nhau giúp đỡ về mọi mặt,tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tiếp tục đến trường.Giảm tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm.

    4 . Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:

    Mặc dù các em rất hiếu học và được sự quan tâm tận tình của giáo viên chủ nhiệm cũng như Ban giám hiệu nhà trường,nhưng kết quả duy trì sĩ sô hàng năm đạt chưa cao.

    Sau khi xác định được mục đích, nhiệm vụ về đề tài nghiên cứu, Tôi đã xây dựng hệ thống các nội dung nghiên cứu, nắm bắt số liệu duy trì sĩ số học sinh từ năm học của trường. Để bổ sung và tin cậy số liệu trên,chúng tôi đã gặp gỡ một số giáo viên chủ nhiệm lớp Năm để hỏi thêm việc duy trì sĩ số hàng năm ở trong lớp,đồng thời gặp gỡ những gia đình có con em bỏ học để tìm hiểu thực tế.Qua quá trình điều tra,tôi đã thu thập được các số liệu về duy trì sĩ số học sinh qua các năm học; cụ thể như sau:

    Qua nội dung nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy việc duy trì sĩ số học sinh của trường đạt kết quả rất cao. Tình hình học sinh bỏ học nửa chừng không còn nữa.

    Qua theo dõi số em học sinh bỏ học thuộc diện đói nghèo, phần lớn đều rất hiếu học nhưng do hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, kinh tế eo hẹp nên các em phải nghỉ học để làm phụ thêm cùng gia đình. Một số nữa là do gia đình quá xa trường nên các em theo học nữa chừng rồi cũng bỏ học. Ngoài ra,một số em thuộc diện con em gia đình khá giả,nhưng do ý thức của cha mẹ, quan tâm không thấu đáo, chưa thấy được tầm quan trọng của việc học cũng cho con mình nghỉ học; Một số em vì học yếu, hoang nghịch, thường xuyên bị thầy cô và các bạn bè khiển trách,sự giáo dục của gia đình không đến nơi đến chốn và cuói cùng cũng bỏ học đi chơi lêu lổng,thành phần này có thể gây ra nhiều tác hại,ảnh hưởng xấu đối với xã hội như: Kết bè đảng, đánh bậy,trộm cắp…

    Việc duy trì sĩ số hàng năm không đảm bảo cũng ảnh hưởng đến việc thi đua của nhà trường.Các giáo viên chủ nhiệm cũng bị khiển trách; song những vấn đề chưa quan trọng và đều nhức nhối mà mỗi chúng ta đều phải quan tâm suy nghĩ là: Những em học sinh bỏ học rồi đây rồi sẽ ra sao? Tương lai của các em sau này sẽ như thế nào? khi trình độ học vấn của các em chưa hết bậc tiểu học? Liệu sau này các em sẽ giúp ích được gì cho đời,cho xã hội…

    Đất nước ngày một phát triển,xã hội ngày một văn minh,khoa học kỹ thuật đòi hỏi ngày càng cao: với trình độ chưa hết bậc tiểu học sẽ không đáp ứng nổi mọi nhu cầu của xã hội. Sẽ làm trì trệ sự phát triển của xã hội, sự phát triển đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hoá của đất nước sẽ gặp không ít khó khăn.Vì vậy, mỗi chúng ta:Gia đình,Nhà trường và xã hội phải hết sức quan tâm,chú trọng tìm ra nhữnggiải pháp phù hợp,hữu ích để giúp trẻ được đến trường.

    *Một số nguyên nhân dẫn đến việc duy trì sĩ số học sinh không đảm bảo là:

    – Do điều kiện đời sống kinh tế của một số gia đình gặp nhiều khó khăn,không thể tiếp tục cho con em tới trường học tập.

    – Do địa bàn dân cư quá thưa thớt,trường học quá xa,học sinh đi lại quá khó khăn.

    – Do sự quan tâm chưa đúng mức,và sự nhận thức chưa sâu sắc của một số phụ huynh về việc học của con em.

    – Do sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương chưa kịp thời đối với những gia đình gặp khó khăn về kinh tế.Chưa tạo điều kiện cho học sinh đi học gần,trường lớp quá xa.

    Nhìn chung qua nghiên cứu thực trạng và những biện pháp duy trì sỉ số của học sinh trường tiểu học …. cho chúng ta thấy được hiệu quả rất khích lệ. Công tác phối hợp với các đoàn thể ở trong nhà trường và ban đại diện cha mẹ học sinh và các tổ chức chính quyền ở địa phương có hiệu quả, số học sinh bỏ học không còn. Nguyên nhân thành công là do sự đoàn kết cao ở trong nhà trường. Xây dựng kế hoạch về việc duy trì sỉ số chặt chẽ thường xuyên đưa vào các buổi họp, hội đồng nhà trường để bàn bạc thống nhất.

    Cho học sinh thấy được việc học là rất quan trọng đối với các em.Giúp cha mẹ học sinh nhận thức được trách nhiệm của mình đối với việc học của con trẻ,cho trẻ có được sự học vấn là vốn quý nhất của con người.

    Nhà trường phải có nhiều biện pháp thích hợp để tìm hiểu động viên kịp thời khi có trường hợp học sinh bỏ học; tìm hiểu nguyên nhân bỏ học để tạo điều kiện về mặt tinh thần cũng như vật chất; tham mưu với chính quyền địa phương quan tâm giúp đỡ những gia đình gặp khó khăn, việc này đối với nhà trường là nhiệm vụ trọng trách có hiệu quả tốt khi có trường hợp học sinh bỏ học.

    Các cơ quan đoàn thể và chính quyền địa phương cũng phải phối hợp chặt chẽ với nhau để động viên kịp thời khi gặp gia đình có con em bỏ học.Đây cũng là một việc làm hết sức quan trọng tạo điều kiện cho những gia đình gặp khó khăn cũng giúp được phần nào về mặt kinh tế.

    Vậy muốn cho việc duy trì sĩ số đạt được kết quả tốt thì mỗi chúng ta: Gia đình – Nhà trường – Xã hội phải phối hợp chặt chẽ với nhau để cùng nhau tìm ra những giải pháp hữu hiệu giúp trẻ có điều kiện thuận lợi để tiếp tục đến trường học tập nhằm bảo vệ được quyền học tập của trẻ,góp phần nâng cao tỷ lệ duy trì sĩ số học sinh của trường đạt kết quả tốt.Sau này lớn lên sẽ có một số vốn kiến thức giup ích cho đời,cho xã hội.

    – Tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ có vốn kiến thức để sau này giúp ích cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội. Nhằm đáp ứng xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Đối với hội cha mẹ học sinh quan tâm nhiều hơn nữa đến các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đến những em học sinh có đông anh em đi học nhằm động viên kịp thời cho các em học sinh phấn khởi đi học.

    Đối với chính quyền địa phương có biện pháp giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn và tạo điều kiện cho họ vay vốn để làm kinh tế, từ đó họ có kiều kiện để động viên con em đi học đầy đủ, không bỏ học nửa chừng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn: Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Công Tác Chủ Nhiệm
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Ở Tiểu Học
  • Bài 4. Luyện Tập: Este Và Chất Béo
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Chương Este Bai Tap Trac Nghiem Chuyen De Este Docx
  • Điều Chế Este Và Ứng Dụng Của Este
  • Các Giải Pháp Duy Trì Cạnh Tranh Và Chống Độc Quyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Chống Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế
  • Chống Độc Quyền… Kiểu Việt Nam
  • Chống Độc Quyền Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Nổi Bật Trong Chính Sách Tiền Tệ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • 5 Giải Pháp Cho Chính Sách Tiền Tệ Từ Nay Đến Cuối Năm
  • Từ thực trạng độc quyền ở Việt Nam ta thấy rằng: còn nhiều tồn tại cần tháo gỡ.

    Từ thực trạng cho thấy cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn có nhiều tồn tại, nguyên nhân của các tồn tại đó là do:

    – Thủ tục hành chính chưa được cải thiện, đơn giản hoá kịp thời nên còn gây nhiều phiền hà cho các nhà đầu tư và cũng tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh, làm tăng chi phí giao dịch, giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư ở trong nước so với các nước khác.

    – Hệ thống thông tin còn yếu kém, chưa kịp thời cân xứng thiếu minh bạch đã gây ra sự bất bình đẳng trong các cơ hội kinh doanh, ảnh hưởng không tốt đến môi trường cạnh tranh.

    – Quá trình cải cách hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước diễn ra còn chậm. Còn nhiều doanh nghiệp Nhà nước hoạt động không có hiệu quả nhưng vẫn bao cấp, duy trì, bảo hộ…

    Trong thời gian tới trước yêu cầu duy trì phát triển kinh tế với nhịp độ cao và của quá trình hội nhập thì việc cải thiện môi trường cạnh tranh là yêu cầu cấp bách để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế thế giới. Để duy trì cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền chúng ta cần phải thực hiện một số biện pháp sau:

    Thứ nhất: tiếp tục đổi mới nhận thức về cạnh tranh, phải thống nhất quan điểm đánh giá vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế. Phải coi cạnh tranh trong nền kinh tế pháp luật hợp thức là động lực của sự phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Xác định một cách rõ ràng và hợp lý vai trò của Nhà nước cũng như vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế, hạn chế bớt những doanh nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh. Thúc đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước. Độc quyền của các doanh nghiệp Nhà nước cần phải được giảm dần, các rào cản đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần được tháo gỡ dần nhằm giảm giá thành sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh chung của toàn bộ nền kinh tế, tăng tính hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, đồng thời giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia.

    Việc đổi mới nhận thức cần được thể hiện trong toàn bộ hệ thống quản lý Nhà nước, trong các chương trình và chiến lược cải cách hành chính, trong tổ chức, phong cách làm việc hành vi ứng xử của các cơ quan công quyền.

    Muốn như vậy thì trước tiên cần phải đưa nội dung về cạnh tranh và độc quyền vào chương trình giáo dục của các trường đại học thuộc khối kinh tế và kinh doanh. Để có được đội ngũ cán bộ, các nhà kinh tế sau khi ra trường có một tầm hiểu biết về cạnh tranh và độc quyền. Đào tạo các khoá ngắn hạn cho các doanh nghiệp và công chức Nhà nước để nâng cao, trau dồi kiến thức về cạnh tranh và độc quyền. Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền về cạnh tranh và độc quyền. Để từ đó có một chính sách cạnh tranh phù hợp và việc thực hiện các chính sách cạnh tranh này dễ dàng hơn.

    Thứ hai: cải tổ pháp luật về cạnh tranh để cho cơ chế cạnh tranh được vận hành một cách trôi chảy, hạn chế những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Nới lỏng các điều kiện ra nhập và rút lui khỏi thị trường để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia sản xuất kinh doanh. Như vậy việc hình thành nên khung pháp lý chung cho các loại hình kinh doanh thuộc các khu vực kinh tế khác nhau là điều cần thiết. Việc cải tổ pháp luật về cạnh tranh cần phải sửa đổi từ quy trình ban hành pháp luật:

    Xây dựng văn bản dưới luật: phải đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh và sự tham gia rộng rãi của những người chịu ảnh hưởng của quy định.

    Việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý kinh doanh cần xoá bỏ những quy định hiện hành không phù hợp với nền kinh tế thị trường, với những cam kết quốc tế nhằm mở rộng quyền kinh doanh, quyền chủ động cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

    Bổ xung những luật và văn bản dưới luật còn thiếu, chưa hướng dẫn thi hành. Trong tâm xem xét là các lĩnh vực pháp luật về cạnh tranh độc quyền.

    Thứ tư: cải thiện môi trường thông tin và pháp luật theo hướng minh bạch và kịp thời hơn, đồng thời nhanh chóng cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh. Cụ thể:

    – Việc thành lập doanh nghiệp mới: việc quyết định thành lập các doanh nghiệp Nhà nước cần được chuyển sang cho các cơ quan quyền lực đại biểu của nhân dân. Việc tăng cường kiểm tra giám sát từ các cơ quan này sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động tích cực và có hiệu quả hơn, tiết kiệm được các nguồn lực của Nhà nước .

    Thành lập, bổ sung đầy đủ, chi tiết và cập nhật hàng năm những ngành nghề mà doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoải không được đăng ký kinh doanh. Ngoài các mục này các doanh nghiệp được thành lập theo chế độ đăng ký với một cơ quan đăng ký thống nhất trong quốc gia. Cơ quan đăng ký kinh doanh đồng thời chịu trách nhiệm cả về việc điều chỉnh nội dung giấy đăng ký kinh doanh và việc mở văn phòng đại diện, chi nhánh trong nước và nước ngoài theo chế độ doanh nghiệp chủ động đăng ký. Xoá bỏ các điều kiện cấp phép về nội địa hoá, tỉ lệ xuất khẩu, tự cân đối ngoại tệ.

    Các cơ quan cấp phép hiện hành sẽ chuyển chức năng cấp phép, thẩm định sang chức năng xúc tiến và cung cấp dịch vụ đầu tư.

    – Đất đai: chuyển các thủ tục hành chính xin chuyển đổi mục đích và quyền sử dụng về một cơ quan giải quyết. Điều này sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho các doanh nghiệp khi xin thuê đất quy hoạch và xây dựng khu công nghiệp.

    – Về vốn: mở rộng khả năng vay vốn từ các nguồn ưu đãi để đầu tư phát triển khả năng tự huy động vốn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp nước ngoài thông qua các kênh phát hành trái phiếu và chứng khoán.

    Trên cơ sở nguyên tắc cạnh tranh, chỉ áp dụng việc giới hạn mua cổ phần của những doanh nghiệp lớn có khả năng chi phối thị trường, tạo nên độc quyền, còn đối với những người quản lý, người ngoài doanh nghiệp, người nước ngoài nên khuyến khích để tăng nguồn vốn của doanh nghiệp, tạo điều kiện đổi mới máy móc, đầu tư trang thiết bị nâng cao năng suất lao động.

    – Về lao động: các loại quy định về thang bảng lương, lương thực tế , trợn cấp, chế độ thưởng, lương tối thiểu, thuế thu nhập, các hình thức tuyển dụng lao động cần phải có sự thống nhất dựa trên khung pháp lý chung của Nhà nước và có sự đóng góp ý kiến của công đoàn.

    – Tiếp cận thị trường.

    + Quyền xuất nhập khẩu: mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong nước.

    + Xây dựng và ban hành các thủ tục, điều kiện cấp phép nhập khẩu, có nhiều loại thuế thay thế hợp lý tương đương đối với các mặt hàng để khi thực hiện không gây các cản trở cho việc trao đổi hàng hoá, thương mại.

    Triển khai cải cách các thủ tục hải quan theo hướng đơn giản hoá và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, thống nhất thủ tục trong cả nước.

    – Về thuế quan: miễn giảm thuế tối đa đối với mọi mặt hàng xuất khẩu, kể cả hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu tại chỗ.

    Về thuế nhập khẩu: xoá bỏ cách đánh thuế đựa trên mục đích sử dụng, giảm số thuế và mức thuế. giảm thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất trong nước tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.

    – Về chuyển giao công nghệ: cần tăng ngân sách cho các ngành nghiên cứu khoa học công nghệ, có chế độ đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ cán bộ làm nghiên cứu khoa học, trọng dụng nhân tài, được cung cấp phổ biến thông tin, phát biểu ý kiến khách quan dưới góc độ nghiên cứu khoa học. Hạn chế việc chảy máu chất xám, khuyến khích thu hút các nhà khoa học nước ngoài vào trong nước nghiên cứu khoa học.

    Khuyến khích tư nhân đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ sản xuất. Sửa đổi chế độ hoạch toán, kế toán nhằm khuyến khích khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ, phát triển thành lập các trung tâm nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với việc chuyển giao công nghệ. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với quốc tế, sử dụng kinh nghiệm quản lý của quốc tế để áp dụng cho các doanh nghiệp.

    Đơn giản hoá thủ tục xuất nhập cảnh, cấp phép lao động, thuê chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài làm việc cho các tổ chức, cơ quan Việt Nam.

    – Giảm chi phí đầu vào:

    Cải tiến thủ tục và trình tự thu thuế, hạn chế tình trạng thu thuế ngoài thẩm quyền của các bộ ngành và địa phương.

    Giảm mức thuế, bao gồm thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân thu nhập doanh nghiệp, tương đương với các nước trong khu vực. Xem xét lại mức đóng góp bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và công đoàn phí. Từ đó giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp.

    Thứ năm: cơ cấu lại và kiểm soát độc quyền kể cả độc quyền tự nhiên.

    Cần xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh, chỉ duy trì độc quyền ở một số ngành quan trọng phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế như: sản xuất và truyền tải điện năng, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, xây dựng cơ sở hạ tầng… kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp độc quyền thuộc Nhà nước.

    Hướng thứ hai: chia tách các doanh nghiệp đang chiếm vị trí chủ đạo trong lĩnh vực thành các đơn vị nhỏ độc lập, đồng thời chia tách các doanh nghiệp không trực tiếp gắn với cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng khỏi doanh nghiệp chủ đạo. Việc chia tách này cần đảm bảo các doanh nghiệp độc lập với nhau không phụ thuộc vào nhau hay vào doanh nghiệp chủ đạo. Như vậy sẽ làm tăng sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau mà không bị hạn chế lĩnh vực và địa bàn kinh doanh.

    Trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực thì sự tham gia trực tiếp của Nhà nước vào sự hoạt động của các doanh nghiệp là không cần thiết. Trường hợp này Nhà nước chỉ cần ban hành một số quy định hướng dẫn hoạt động và hạn chế cạnh tranh không lành mạnh vào để cho các doanh nghiệp tự điều chỉnh hoạt động của mình dựa vào thị trường.

    Trường hợp vẫn phải duy trì độc quyền một số ngành chủ đạo thì Nhà nước cần ban hành những quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các công ty này. Xây dựng các luật đặc thù cho từng lĩnh vực như: luật viễn thông, luật điện lực… Để kiểm soát độc quyền của các doanh nghiệp này và tránh tình trạng lạm dụng ưu thế để chi phối thị trường mà vẫn đảm bảo quyền tự chủ của các doanh nghiệp. Trong các tổng công ty độc quyền cần phải tách bộ phận xây dựng hoạch định chính sách với bộ phận kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách để có một chính sách kinh doanh có hiệu quả, khách quan.

    Nhật Bản:

    Để bảo vệ người tiêu dùng Nhật đã ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng, yêu cầu của luật cần có “Những biện pháp cần thiết để điều chỉnh những hoạt động hạn chế một cách vô lý tự do cạnh tranh và bình đẳng trong lĩnh vực giá cả hàng hoá và dịch vụ là những điều hết sức quan trọng đối với cuộc sống người dân”. Luật bảo vệ người tiêu dùng ra đời thể hiện mối quan tâm về cách ứng xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp và mong muốn có một chế độ cạnh tranh tự do lành mạnh. Luật bảo vệ người tiêu dùng còn có những quy định cần có những chỉ dẫn về đặc tính và chất lượng sản phẩm và “Những chỉ dẫn gian dối và gây hậu quả nghiêm trọng phải bị xử lý”. Ngoài luật bảo vệ người tiêu dùng thì các cơ quan cạnh tranh của Nhật Bản cho rằng luật chống độc quyền cũng bảo vệ người tiêu dùng.

  • biện pháp duy trì cạnh tranh và chống độc quyền
  • luật chống độc quyền trên thế giới
  • tinh trng doc quyen trong phap luat cạnh tranh
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Con Người Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Một Số Ý Kiến Về Định Hướng Chiến Lược Phát Triển Con Người Trong Giai Đoạn Mới (Phần 2)
  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Nhằm Phát Triển Con Người Việt Nam Phục Vụ Cho Sự Nghiệp Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Giải Pháp Đột Phá Xây Dựng Con Người Việt Nam
  • Một Số Vấn Đề Về Xây Dựng Con Người Việt Nam
  • Một Số Biện Pháp Trong Việc Duy Trì Sĩ Số Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Viết Biện Pháp Dự Thi Giáo Viên Dạy Giỏi
  • Biện Pháp Dự Thi Giáo Viên Dạy Giỏi
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dạy Lớp Ghép
  • Đặc Điểm, Mục Tiêu Của Quá Trình Dạy Học Lớp Ghép Tiểu Học
  • Giáo Dục Quá Trình Dạy Học Và Phát Triển Lớp Ghép Tiểu Học
  • BẢNG TÓM TẮT ĐỀ TÀI

    Tên đề tài:

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP

    TRONG VIỆC DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH

    Họ và tên: Ngô Thanh Hoài

    Đơn vị công tác: Trường trung học cơ sở Bàu Năng.

    1/ Lí do chọn đề tài

    Nhiệm vụ một giáo viên chuyên trách công tác phổ cập phải kết hợp cùng giáo viên

    chủ nhiệm tìm ra giải pháp, biện pháp khả thi khắc phục hạn chế học sinh bỏ học và

    học sinh có nguy cơ bỏ học .

    2/Mục đích nghiên cứu

    Cũng cố,duy trì phát huy thành quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở tạo điều kiện

    học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề cho đối tượng từ

    15 tuổi đến 21 tuổi.

    3/ Đối tượng

    Nghiên cứu, tìm hiểu học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học nắm rỏ nguyên

    nhân,phân loại đối tượng.

    4/ Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp điều tra.

    Phương pháp vận động.

    Phương pháp thuyết phục.

    Phương pháp giúp đở.

    5/ Đề tài đưa ra giải pháp mới

    Giáo viên đã sử dụng các giải pháp,biện pháp thích hợp để hổ trợ cho nhà trường

    trong khâu duy trì sĩ số.

    6/ Hiệu quả áp dụng

    1

    Khi áp dụng những giải pháp,biện pháp vận động học sinh bỏ học và học sinh có

    nguy cơ bỏ học tiếp tục đi học nâng cao trình độ dân trí,đáp ứng nhu cầu xã hội. giúp

    giáo viên chuyên trách phổ cập hoàn thành nhiệm vụ của mình.

    7/ Phạm vi áp dụng

    Áp dụng đối với giáo viên được phân công chuyên trách phổ cập và giáo viên chủ

    nhiệm Trường trung học cơ sở Bàu Năng và một số trường trong huyện.

    Bàu Năng, ngày15 tháng 03 năm 2011

    Người thực hiện

    Ngô Thanh Hoài

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    1/ Lý do chọn đề tài

    Xuất phát từ thực tế, hiện tượng học sinh bỏ học có thể được xem là một vấn đề

    khá phổ biến trong xã hội ta hiện nay, mặc dù trong mấy năm qua, việc phổ cập giáo

    dục trung học cơ sở đã đạt chuẩn và tiếp tục duy trì đến năm 2010, nhưng thường khi

    đến mùa vụ thu hoạch, tết nguyên đán đến thì học sinh lại bỏ học để phụ giúp gia đình

    hoặc theo làm ở các cơ sở chế biến. Đây là một công việc rất khó khăn đối với những

    người làm công tác giáo dục.

    2

    Dưới góc độ giáo viên chuyên trách phổ cập một đơn vị, tôi thấy mình cần phải kết

    hợp cùng giáo viên chủ nhiệm và tham mưu Ban chỉ đạo phổ cập xã làm gì, làm thế

    nào để hạn chế việc bỏ học của học sinh, nhằm làm giảm nhẹ gánh nặng cho công tác

    phổ cập giáo dục trung học cơ sở cũng như phổ cập giáo dục bậc trung học.

    Bước vào thế kỷ XXI Đảng và Nhà nước xác định nguồn nhân lực giữ vai trò quyết

    định trong việc phát huy nội lực, phát triển đất nước , hợp tác , cạnh tranh hội nhập

    khu vực và quốc tế đòi hỏi đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

    dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Do vậy toàn xã hội phải thực hiện công tác phổ cập.

    . . .Và đó cũng chính là vấn đề thúc đẩy tôi đến với đề tài nầy .

    2/ Mục đích nghiên cứu

    2.1/ Một trong những vấn đề trăn trở cuả ngành giáo dục cũng như những giáo viên

    có tâm huyết với nghề, đó là vấn đề học sinh bỏ học ngày có chiều hướng gia tăng

    không những sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất đào tạo chung của ngành, chất lượng giáo

    dục cuả trường.Thực chất, tỷ lệ học sinh bỏ học gia tăng không những ảnh hưởng đến

    trình độ trí lực cuả xã hội:

    Nghĩ học quá sớm tương lai cuả các em sẽ đi về đâu? Các em sẽ làm gì gì khi tuổi

    đời còn quá trẻ, sẽ trở thành những đứa trẻ không ngoan, trong số đó có em lại vướng

    vào tệ nạn xã hội hoặc bị lạm dụng sức lao động…Chính vì thế chủ trương cuả nhà

    nước về thực hiện chương trình phổ cập giáo dục giúp các em hoàn thiện trình độ văn

    hoá cuả mình, tạo cho các em có cuộc sống tốt đẹp hơn.

    2.2/ Cũng cố, duy trì phát huy thành quả phổ cập giáo dục xóa mù chữ, phổ cập giáo

    dục trung học cơ sở tạo điều kiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông, trung học

    chuyên nghiệp và đào tạo nghề cho đối tượng từ 15 tuổi đến 21 tuổi.

    2.3/ Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, đảm bảo mọi học sinh được phát triển

    toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, có những hiểu

    biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp.

    Tăng tỉ lệ học sinh trong độ tuổi phổ cập vào các trường trung học phổ thông, trung

    học chuyên nghiệp và trường dạy nghề.

    3

    3/ Đối tượng nghiên cứu

    Nghiên cứu, tìm hiểu học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học ở độ tuổi phổ

    cập nắm rỏ nguyên nhân, phân loại đối tượng

    4/ Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp điều tra.

    Phương pháp vận động.

    Phương pháp thuyết phục.

    Phương pháp giúp đở.

    5/ Giả thuyết khoa học

    Khi áp dụng những giải pháp, biện pháp vận động học sinh bỏ học và học sinh có

    nguy cơ bỏ học tiếp tục đi học nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu xã hội. giúp

    giáo viên chuyên trách phổ cập hoàn thành nhiệm vụ của mình.

    Áp dụng đối với giáo viên được phân công chuyên trách phổ cập và giáo viên chủ

    nhiệm trường trung học cơ sở Bàu Năng và một số trường trong huyện.

    4

    II. NỘI DUNG

    1/ Cơ sở lý luậncủa đề tài

    5

    1.1/ Các văn bản chí đạo các cấp

    Trên cơ sở chỉ thị số 61-CT/TW, ngày 28 tháng 12 năm 2000 của Ban chấp hành

    Trung ương Đảng về thực hiện phổ cập trung học cơ sở.

    Chỉ thị số 01-CT/TU, ký ngày 26 tháng 03 năm 2001của tỉnh ủy tỉnh Tây Ninh

    về thực hiện phổ cập trung học cơ sở .

    Quyết định số 149-QĐ/UB, ngày 07 tháng 08 năm 2001 của Ủy ban nhân dân

    tỉnh Ninh về thực hiện phổ cập trung học cơ sở ..

    Công văn số 05-CV/H, ngày 04 tháng 04 năm 2001 của huyện uỷ Dương Minh

    Châu về về việc thực hiện phổ cập trung học cơ sở .

    Kế hoạch số 08/2001/KH, ngày 23 tháng 08 năm 2001 của Ủy ban nhân dân

    huyện về thực hiện phổ cập trung học cơ sở.

    1.2/ Các quan niệm khác về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở

    Cũng cố thành tựu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phấn đấu ngày

    càng có nhiều trường tiểu học đủ điều kiện học hai buổi tại trường, được học ngoại

    ngữ và tin học.

    Đẩy mạnh nhanh tiến độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tạo điều kiện cho

    những địa phương có khả năng hoàn thành sớm việc phổ cập bậc trung học phổ thông

    qua việc mở rộng quy mô đào tạo và phát triển đa dạng các loại hình trường phổ thông

    trung học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

    Mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở giai đoạn 200-2011 phải bảo đảm

    cho hầu hết thanh niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ trung

    học cơ sở trước khi hết tuổi18, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

    dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    2/ Cơ sở thực tiễn

    2.1/ Thực trạng địa bàn về công tác phổ câp

    Xã Bàu Năng có tổng diện tích tự nhiên là 1832 ha với tổng số dân là 16.156

    người đa số sống bằng nghề nông, trong đó số học sinh đang học các cấp từ tiểu học

    đến trung học cơ sở là 4.322 người chiếm tỉ lệ 28,8 % so với dân số toàn xã.

    6

    Trong năm qua ngành giáo dục xã có những biến đổi đáng kể về số lượng và

    chất lượng, cơ sở vật chất được tăng cường trong công tác dạy và học.Hiện nay xã Bàu

    năng có 5 trừơng học (2 trừơng mẫu giáo,1trường trung học cơ sở và 2 trường tiểu

    học).

    Từ những năm 1990 Dương Minh Châu đã thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học

    và chống mù chữ xã Bàu Năng được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo

    dục tiểu học và chống mù chữ năm 1996, giáo dục đúng độ tuổi năm 2004 và tiếp tục

    xã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2004 và đang duy

    trì đạt chuẩn quốc gia về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010-2011.

    Đây là cơ sở phát huy mặt tích cực, rút ra những kinh nghiệm quí báu để thực

    hiện tiếp tục công tác phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

    2.2/ Sự cần thiết của đề tài

    Bảo đảm duy trì, cũng cố kết quả và hoàn thiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung

    học cơ sở, nhằm có kinh nghiệm thực hiện công tác phổ cập bậc trung học phổ thông.

    Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trung học cơ sở, giảm tỷ lệ lưu ban,

    bỏ học, đảm bảo tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm.

    Huy động số học sinh tốt nghiệp tiểu học hàng năm vào học trung học cơ sở đạt

    tỷ lệ chuẩn đúng quy định.

    3/ Nội dung vấn đề

    3.1/ Vấn đề đặt ra:

    Nhìn chung, hầu hết tất cả học sinh trường THCS Bàu Năng đều có thái độ học

    tập đúng đắn, đạo đức tác phong tốt, có tinh thần cầu tiến, chuyên cần, ham học

    hỏi.Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh chưa xác định đúng đắn động cơ

    học tập như :

    Ham chơi hơn ham học dễ dẫn đến nguy cơ học kém, bỏ học. Đồng thời vẫn

    còn một số hộ gia đình ít đất canh tác, còn thiếu thốn về kinh tế nên cho con em nghỉ

    học khi vào mùa vụ để đi làm thuê.

    Cha mẹ lơ là trong việc quản lý, đôn đốc, nhắc nhở con em mình trong vấn đề

    học tập, điều này cũng tạo cho nguy cơ bỏ học của học sinh tăng cao.

    7

    Công tác chủ nhiệm của giáo viên cũng là một vấn đề cần phải sớm chấn chỉnh

    :

    Giáo viên chỉ biết lý do học sinh bỏ học, nhưng bản thân họ chưa biết cách nào

    để giúp các em có điều kiện trở lại lớp, như đến gia đình cùng phụ huynh tìm cách

    tháo gỡ; tham mưu Ban giám hiệu, Hội cha mẹ học sinh . . . để kịp thời giúp đỡ cũng

    như vận động các em trở lại lớp.

    Vào đầu năm học, giáo viên chưa nắm chắc được đối tượng học sinh có nguy

    cơ bỏ học để kịp thời có biện pháp ngăn chặn.Mặt khác, chính đối tượng này thường

    có học lực yếu nên thường xuyên bị thầy, cô la rầy, vô tình giáo viên tạo khoảng cách

    với các em ngày một lớn hơn, và khi các em đã bỏ học thì rất khó vận động trở lại.

    Chính vì chưa giải quyết tốt các vấn đề trên,nên hàng năm ở đơn vị luôn có

    học sinh bỏ học.

    Cụ thể như:

    Năm học 2005 – 2006 có 18 học sinh bỏ học chiếm tỉ lệ 1,96%;

    Năm học 2006 – 2007 có 13 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 1,47%;

    Năm học 2007 – 2008 có 15 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 1,81%;

    Năm học 2008 – 2009 có 6 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 0,71%;

    Năm học 2009 – 2010 có 5 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 0,61%.

    3.2/ Các giải pháp

    3.2.1/Thực hiện tốt công tác giáo dục nhận thức

    Tổ chức triển khai đến các đảng viên trong chi bộ, giáo viên ,công nhân viên

    trong nhà trường và nhân dân trong xã quán triệt tinh thần các văn bản chỉ đạo về công

    tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

    Ban chỉ đạo xã tham mưu với Đảng uỷ thường xuyên chỉ đạo và kiểm tra tiến

    độ thực hiện công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào tiêu chuẩn xét tư cách

    đảng viên có con em không ra lớp, Ban chỉ đạo chỉ đạo kịp thời các ban ngành đoàn

    thể, ban quản lý ấp, tổ tự quản vận động các em ra lớp phổ cập và chính qui.

    3.2.2/ Xây dựng kế họach tổ chức thực hiện:

    8

    Xây dựng kế hoạch tham mưu Ủy ban nhân dân xà thành lập Ban chỉ đạo

    trong đó đồng chí phó Chủ tịch ủy ban nhân dân xã làm trưởng ban chi đạo và 9 thành

    viên các thành viên Ban chỉ đạo luôn nhiệt tình và tham gia có hiệu quả trong việc

    đề ra cách tổ chức thực hiện.

    Hàng tháng Ban chỉ đạo họp định kỳ và có sơ kết công tác tháng, để đề ra

    biện pháp thực hiện cho tháng tới, phân công cụ thể từng thành viên Ban chỉ đạo phụ

    trách địa bàn.

    3.2.3/ Kết hợp với ban ngành và các đòan thể ở địa phương

    Nhà trường và giáo viên chuyên trách tham mưu với Ban chỉ đạo, chỉ đạo

    Ban quản lý ấp, tổ tự quản kết hợp với trường trung học cơ sở điều tra theo dõi trình

    độ học vấn và dân số trong độ tuổi phải phổ cập của địa bàn. Lấy tổ tự quản làm cơ sở

    để thực hiện công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở .Chỉ đạo các ban ngành đoàn

    thể xã tham gia vận động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 100%

    đồng thời vận động số học sinh bỏ học giữa chừng ra lớp và huy động đối tượng ra

    lớp.

    Ban ngành đoàn thể đưa công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào kế

    hoạch của mình và xác định đây là nhiệm vụ chung phải thực hiện.

    Vận động các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực cho sự nghiệp giáo dục nói

    chung và công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ thông trung học nói riêng.

    3.2.4/ Tuyên truyền công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở:

    Văn hoá thông tin tuyên truyền cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ chủ

    trương của Đảng và nhà nước ta về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở là

    nâng cao trình độ dân trí.

    Ban chỉ đạo ra quyết định, gửi công văn đến Ban ngành đoàn thể, tổ tự quản

    nắm chắc các đối tượng trong độ tuổi cần huy động và chịu trách nhiệm về công tác

    vận động các em ra lớp chính quy và lớp phổ cập, luôn hỗ trợ trẻ trong độ tuổi ra lớp,

    số học sinh bỏ học giữa chừng để có biện pháp kết hợp cùng nhà trường vận động các

    em ra lớp.

    3.2.5/ Đối với trường Trung học cơ sở:

    9

    đình học sinh, nhằm phân loại học sinh thành những nhóm khác nhau, như : nhóm

    “không có nguy cơ bỏ học” và nhóm “có nguy cơ bỏ học”.

    Đối với nhóm học sinh “có nguy cơ bỏ học” tôi chia ra thành các dạng sau :

    Dạng 1

    Học kém, hỏng kiến thức, nhóm nầy có 14 học sinh, chiếm tỉ lệ 1,7% .

    Dạng 2

    Ham chơi thường hay trốn học , gia đình quản lý không chặt chẽ, nhóm nầy có 10

    học sinh, chiếm tỉ lệ 1,25%.

    Dạng 3 :

    Gồm những học sinh có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt như : gia đình nghèo, cha ghẻ,

    mồ côi, ở trọ gia đình người thân để đi học, nhóm nầy gồm có 53 học sinh ,chiếm tỉ lệ

    6,7%.

    3.4/ Biện pháp thực hiện

    Sau khi đã phân chia nhóm, tôi tiến hành các biện pháp khác nhau để hạn chế

    học sinh bỏ học như sau :

    * ĐỐI VỚI DẠNG I

    Đối với các em học sinh ở dạng nầy do hỏng kiến thức cơ bản của những năm

    học trước nên việc tiếp thu kiến thức mới bị hạn chế, chưa thật sự cố gắng trong học

    tập, chưa có phương pháp học tập đúng đắn, dẫn đến tình trạng yếu kém về kiến thức,

    từ đó dễ có tư tưởng bỏ học.

    Đối với những học sinh nầy tôi kết hợp cùng giáo viên chủ nhiệm tiến hành

    các biện pháp như sau :

    1.3/Phân tích cho các em hiểu tầm quan trọng của việc học.

    ( Giáo viên nói, giảng cho các em biết tình hình kinh tế, xã hội hiện nay chỉ có những

    con người có trình độ, có kiến thức khoa học, có đạo đức mới có thể đảm bảo được

    đời sống và con người đó mới có ích cho xã hội…)

    2.3/Củng cố, hệ thống hóa lại các kiến thức cơ bản mà các em đã hỏng .(Về

    vấn đề nầy, đầu năm Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên lập ra danh sách các em học

    sinh yếu kém ở 2 môn Tiếng Việt và Toán -qua kiểm tra chất lượng đầu năm- để phụ

    11

    đạo cho đối tượng này giờ học lòng vào giờ học chính khóa và có kế hoạch giảng dạy

    hợp lý cho đối tượng này).

    3.3/Hướng dẫn các em có phương pháp học tập đúng đắn, tổ chức các nhóm

    học tập, đôi bạn học tập, phân công các bạn giỏi kèm cặp.( Đây là một vấn đề rất khó

    khăn,cần có sự kiên trì của giáo viên phụ trách lớp vừa động viên các em học yếu ,

    vừa thuyết phục các em học khá giỏi để giúp đỡ nhau, cùng nhau tiến bộ.Các em nầy

    phải đến lớp sớm 20 phút để được các em giỏi kiểm tra, hướng dẫn ).

    4.3/Giáo viên phụ trách (Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chuyên trách phổ cập

    và giáo viên chuyên trách tổng phụ trách đội) phải thường xuyên liên hệ với phụ

    huynh học sinh, nhằm động viên, nhắc nhở con em mình trong học tập.( Giáo viên có

    quyển sổ nhỏ ghi số điện thoại gia đình các em hoặc số điện thoại ở gần nhà các em

    đó, để tiện liên lạc và theo dõi – nhanh, thường xuyên).

    5.3/Kịp thời thông báo với phụ huynh học sinh những biểu hiện lơ là như đi

    học trễ, nghỉ học (có phép cũng như không phép ), nhằm nâng cao tối đa tỉ lệ chuyên

    cần của các em và cũng từ đó nhằm giảm tối đa nguy cơ bỏ học của các em.

    Đối với những em học sinh ở dạng nầy, chủ yếu giáo viên chủ nhiệm phải

    tìm mọi cách để củng cố, nâng cao kiến thức của các em, giúp các em đuổi kịp với các

    bạn và vượt lên trong học tập. Từ đó tạo cho các em lòng mong muốn chiếm lĩnh tri

    thức, hăng say trong học tập, nhằm loại bỏ hẳn suy nghĩ bỏ học (nếu có) trong tư

    tưởng của các em.

    * ĐỐI VỚI DẠNG II

    Đối với các em học sinh ở dạng nầy có thể học lực từ trung bình trở lên

    nhưng ham chơi thường trốn học, đồng thời gia đình quản lí không chặt chẽ. Những

    học sinh thuộc dạng nầy thường có những thái độ bất cần, ít nghe lời thầy cô, vô phép,

    trong lớp ít chú ý nghe giảng, bài học học không được kỹ lắm và ít khi làm bài đầy đủ,

    từ đó mất phương hướng trong học tập dẫn đến nguy cơ bỏ học. Đối với những học

    sinh nầy tôi tiến hành các biện pháp như sau :

    1.3/Giáo viên chủ nhiệm gặp riêng các em thường xuyên, trao đổi nhỏ to tâm

    sự, phân tích cho các em hiểu được tầm quan trọng của việc học tập, nâng cao trí tuệ

    12

    cũng như trong phát triển nhân cách và tùy từng tình huống mà dùng biện pháp nhẹ

    nhàng hay nghiêm khắc.

    2.3/Quản lý chặt chẽ các em trong suốt buổi học, về vấn đề nầy giáo viên phụ

    trách cũng phải thường xuyên hỏi han các giáo viên có giảng dạy các bộ môn lớp

    mình.

    3.3/Kết hợp với phụ huynh của các em, cách ly các học sinh nầy với những

    bạn xấu, đề nghị phụ huynh học sinh quản lý chặt chẽ các em ở nhà. Riêng ở lớp, giáo

    viên chủ nhiệm xếp cho các em ngồi đầu bàn (nơi giáo viên dễ quan sát ) cùng nhóm

    với những những em học sinh ngoan, học khá giỏi.

    4.3/Kết hợp với các tổ chức giáo dục trong nhà trường như tổ chức Đoàn,

    Đội, tổ chức các buổi sinh hoạt vui chơi lành mạnh để hướng các em vào các hoạt

    động bổ ích. (Với nam, giáo viên giới thiệu các em vào đội bóng đá mi ni của trường

    để các em được vui, khỏe trong học tập.Với nữ, cho các em vào đội văn nghệ của

    lớp…)

    5.3/Giao cho các em một số công việc nhất định trong lớp và theo dõi đôn

    đốc các em hoàn thành nhiệm vụ được giao.Ở đây, giáo viên phụ trách giao cho các

    em làm tổ phó của các tổ, xem về việc giữ trật tự trong giờ học, vệ sinh của tổ…

    6.3/Đề nghị với phụ huynh các em( nếu có thể được) vì một lý do nào đó mà

    con em mình nghỉ học thì phải trực tiếp xin phép hoặc điện thoại với giáo viên phụ

    trách, hạn chế việc viết đơn xin phép nghỉ học của con em.

    Đối với những em học sinh ở dạng nầy ngoài việc kết hợp với phụ huynh

    học sinh với các tổ chức giáo dục trong nhà trường nhằm giáo dục để phát triển nhân

    cách cho các em.

    Giáo viên phụ trách cần phải nâng cao chất lượng học tập của các em như

    đối với các em học sinh ở dạng một, từ đó điều chỉnh những hành vi, thái độ không

    phù hợp, giúp các em hòa đồng với các bạn và nhận thấy tầm quan trọng của việc học,

    có như thế mới giảm thiểu được nguy cơ bỏ học của các em.

    * ĐỐI VỚI DẠNG III

    13

    Những em học sinh ở dạng nầy vì hoàn cảnh gia đình nghèo, đang gặp khó

    khăn cần phải phụ giúp gia đình nên ít có điều kiện trong học tập, các em không yên

    tâm trong học tập, thường nghỉ học để phụ giúp gia đình hoặc giữ nhà, trông em, nếu

    giáo viên phụ trách không tạo điều kiện giúp đỡ thì nguy cơ bỏ học sẽ dễ đến đối với

    các em.

    Đối với những em học sinh ở dạng nầy tôi tiến hành các biện pháp như sau :

    1.3/Giáo viên chủ nhiệm liên hệ và hướng dẫn gia đình điều kiện để được

    miễn các khoản đóng góp về hội phí, xây dựng . Đây là việc làm ở đầu năm học, giáo

    viên phải khẩn trương xem xét tỉ mỉ, chu đáo.

    2.3/ Liên hệ với tổ chức Đoàn, Đội giúp đỡ các em về vật chất như viết, tập .

    . . ( Tổng phụ trách đội đã động viên các đội viên của trường tặng sách cũ,dụng cụ học

    tập . . . Kết quả : đội viên,học sinh tặng 36 xuất quà/36 học sinh trị giá 8 triệu đồng ,

    sách cũ và 200 quyển tập ).

    3.3/Giáo viên chủ nhiệm liên hệ với thư viện trường cho các em mượn sách .

    Giáo viên phụ trách lập danh sách gửi cho cán bộ thư viện trường những ngày đầu

    năm học, và các em đã mượn được đầy đủ tất cả sách giáo khoa .

    4.3/Giáo viên phụ trách sinh hoạt với tập thể lớp trong việc giúp đỡ các bạn

    có hoàn cảnh khó khăn ở lớp.Công việc này các lớp thực hiện rất tốt ( Ở đây, ta còn

    giáo dục được ở các em lòng tương thân tương ái ).

    5.3/Xây dựng không khí tập thể hòa thuận, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn

    nhau, nhằm làm giảm đi sự mặc cảm của những học sinh nghèo. Ở đây, trong giờ sinh

    hoạt giáo viên thường nói chuyện , tổ chức sinh hoạt lớp, vui chơi cùng với các em.

    6.3/Giáo viên phụ trách gặp trực tiếp phụ huynh của các em học sinh nầy

    nhằm phân tích cho họ nhận thấy tầm quan trọng của việc học đối với các em, từ đó họ

    động viên con em mình vượt khó trong học tập : thường sau những cuộc đại hội hoặc

    sau cuộc họp phụ huynh học sinh của lớp (trao đổi riêng).

    Đối với những em học sinh nầy, ngoài việc giáo viên phụ trách kết hợp

    với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tạo điều kiện thuận lợi về vật

    chất cũng như tinh thần giúp các em yên tâm đến lớp, bên cạnh đó giáo viên phụ trách

    14

    HS đầu

    Chết,

    Ch.

    Huy

    Bỏ học

    HS cuối

    Tỷ lệ

    2006-2007

    13

    1,47

    2007-2008

    845

    16

    6

    3

    15

    823

    1,81

    2008-2009

    848

    14

    4

    5

    6

    837

    0,71

    2009-2010

    811

    17

    3

    2

    5

    794

    0,61

    15

    III. KẾT LUẬN

    1/ Bài học kinh nghiệm

    Qua việc áp dụng các biện pháp về việc duy trì sĩ số học sinh , tôi rút ra được

    những bài học quý giá như sau :

    1.1/ Làm sao cho tỉ lệ chuyên cần tăng thì chất lượng học tập cũng như việc duy trì sĩ

    số cũng được nâng cao và chuyển biến tốt đẹp theo.

    1.2/ Cần phải kết hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong

    việc duy trì sĩ số học sinh .

    1.3/Phải thường xuyên kết hợp với phụ huynh học sinh , thông báo kịp thời với phụ

    huynh học sinh về các mặt hoạt động của các em, đặc biệt là vấn đề chuyên cần của

    các em để phụ huynh kịp thời hỗ trợ .

    1.4/ Ban chỉ đạo phổ cập-chống mù chữ xã thường xuyên đổi mới phương thức

    hoạt động cho phù hợp với tình hình thực tế địa bàn, từng đối tượng, đẩy mạnh

    hoạt động và tăng cường công tác kiểm tra,giám sát việc tổ chức thực hiện công

    tác này.

    1.5/ Tăng cường đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy-học tập để

    giảm học sinh tỷ lệ học sinh yếu kém, chú trọng công tác chủ nhiệm nhằm sớm phát

    hiện và ngăn chặn tình trạng học sinh trung học cơ sở có nguy cơ bỏ học, bỏ học giữa

    chừng.

    1.6/Việc duy trì sĩ số của học sinh đối với dạng 3 rất khó phải phụ thuộc vào rất

    nhiều yếu tố, như nhận thức của phụ huynh, học sinh ; điều kiện kinh tế sống của gia

    đình các em chúng tôi đó đối với việc duy trì sĩ số ở dạng 3 nầy, muốn đạt kết quả cao,

    cần phải được sự hỗ trợ của các ban ngành, của Ủy ban nhân dân, nơi gia đình các em

    cư trú như chương trình xóa đói giảm nghèo, miễn giảm thuế, miễn giảm lao động

    công ích . . . Bên cạnh đó, cần có biện pháp khống chế của địa phương nếu những con

    em của gia đình nầy bỏ học .

    2/ Hướng áp dụng đề tài

    16

    17

    18

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Dạy Học Trực Tuyến E
  • Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực 【Thành Công Nhất】
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Được Sử Dụng Phổ Biến
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Là Gì? Dạy Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Về Phương Pháp Dạy Học
  • Skkn – Biện Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Pcgd Đúng Độ Tuổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phổ Cập Giáo Dục Và Xóa Mù Chữ
  • Chuyên Đề: “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Giáo Dục Hướng Nghiệp”
  • Đổi Mới Quản Lý Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Seminar : Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Âm Nhạc Cho Sinh Viên, Đáp Ứng Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Bình Dương: Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Giục Nghề Nghiệp
  • – Công chức, viên chức năm học 2014 – 2022:

    2.  Thuận lợi – Khó khăn

    a)Thuận lợi:

    Trường TH Lý Thường Kiệt được thành lập vào tháng 9 năm 1997, cách trung tâm huyện CưMgar khoảng 1000m, giao thông đi lại thuận tiện; Trường được đặt nơi yên tĩnh, thoáng mát, cơ sở vật chất đầy đủ, khang trang tạo điều kiện thuận lợi cho công tác dạy – học;  trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I.

    Công tác phổ cập giáo dục luôn được nhận được sự quan tâm của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã  EaM’nang, sự chỉ đạo sát sao của Phòng giáo dục đào đạo huyện CưM’gar, ban chỉ đạo phổ cập, Ban giám hiệu của trường và các ban ngành đoàn thể trên địa bàn xã EaM’nang cũng như của giáo viên trường TH Lý Thường Kiệt.

    Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình, học sinh hiếu học, chăm ngoan học giỏi. Tỉ lệ học sinh giỏi khá hằng năm chiếm nhiều.

    Cơ sở vật chất, mạng lưới trường lớp, hệ thống sân chơi bãi tập, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ đảm bảo cho học sinh đủ điều kiện học 6-7 buôi/tuần đảm bảo nâng cao chất lượng dạy và học.

    Số giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng an tâm công tác. Thường xuyên đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy và học.

              b)  Khó khăn:

    Đối tượng học sinh con hộ nghèo, hộ khó khăn còn nhiều; một bộ phận nhân dân địa phương di cư từ các tỉnh phía Bắc vào sinh sống và lập nghiệp nên trình độ dân trí không đồng đều ảnh hưởng đến việc chăm lo học hành của các em học sinh.

    Chưa tạo được mối đồng thuận cao các đơn vị, các cơ quan đoàn thể đến cán bộ thôn buôn nê dẫn đến việc tổ chức triển khai thực hiện công tác phổ cập còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là trong công tác điều tra và công tác nhập dữ liệu.

    Phần mềm quản lý cả 3 cấp từ Mầm non đến Trung học cơ sở nên trong quá trình làm việc còn gặp nhiều bất cập.

    3.  Điều tra thực trạng: 

    Qua quá trình 2 năm nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng vấn đế của đề tài tôi đã tiến hành thống kê kết quả đạt được 2 năm trước đây về công tác Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi kết quả đạt được như sau:

    Năm 2012 trường đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Mức độ 1.

    Năm 2013 trường đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Mức độ 1.

    Với kết quả đạt được như trên có thể nói rằng đó là nổ lực phấn đấu hết mình của Cán bộ giáo viên và nhân viên của trường trong công tác Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi trong những năm vừa qua. Tuy nhiên trong 3 tiêu chuẩn đạt được theo quy đinh thông tư 36/2009/TT-BGD ĐT ngày 4 tháng 12 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì một số tiêu chuẩn đạt nhưng không có tính bền vững nếu không có sự chỉ đạo kịp thời thì sẽ không duy trì được kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 1 và không nâng cao được kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2

    Qua điều tra nghiên cứu thực trạng việc duy trì và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi nhà trường đã có những thành công và hạn chế như sau:

    a)Thành công

    Có sự chỉ đạo và giúp đỡ kịp thời của ban chỉ đạo phổ cập. Các thành viên trong ban chỉ đạo có sự phối hợp chặt chẽ và quan tâm đến công tác phổ cập các trường một cách sâu sát.

    Trình độ đào tạo trên chuẩn của cán bộ, giáo viên trong  trường chiếm tỷ lệ cao.

    Trường nằm trong dự án SEQAP “chương trình đảm bảo dạy học cả” được hỗ trợ về cơ sở vật chất; hỗ trợ học sinh ăn trưa; học sinh có thời lượng ôn tập ở buổi thứ hai nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập của trường.

    Chất lượng học sinh ngày càng tiến bộ, chất lượng giáo dục năm sau cao hơn năm trước.

    Đội ngũ giáo viên năng nổ nhiệt tình và hợp tác tốt trong công tác phổ cập.    Nhà trường luôn tạo mọi điều kiện tốt cho công tác phổ cập. Động viên và khuyến khích kịp thời cho mọi thành viên trong nhà trường trong quá trình làm công tác phổ cập.

     Nguyên nhân thành công

    Nhà trường luôn phối kết hợp Ban chỉ đạo phổ cập, với các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường và xã hội, triển khai sâu rộng các công văn hướng dẫn, thông tư chỉ thị có nhiều biện pháp chỉ đạo làm chuyển biến tích cực về nhận thức, quan điểm, nhiệm vụ của bản thân mỗi người đối với việc thực hiện công tác phổ cập của nhà trường cũng như của địa phương.

    Nhà trường luôn chú trọng bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho giáo viên. Thường xuyên chỉ đạo tốt trong công tác chuyên môn đặc biệt là công tác nâng cao chất lượng cho học sinh.

    Thực hiện tốt công tác duy trì sô lượng, công tác tuyển sinh hằng năm. Nhà trường thực hiện  nhiều chính sách đãi ngộ để giúp đỡ học sinh học sinh nghèo học sinh có hoàn cảnh khó khăn tiếp tục đến trường

    Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng sửa sang, mua sắm bổ sung cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị dạy học để điều kiện dạy – học đảm bảo.

    hằng năm khi bắt tay vào làm công tác phổ cập nhà trường luôn tổ chức tập huấn lại cách điều tra cụng như nhập liệu cho toàn thể giáo viên của trường nên giáo viên càng ngày càng có nhiều kỹ năng hơn trong các khâu trên.

    b)Hạn chế

    Bên cạnh những kết quả đạt được, mặt khác vẫn còn tồn tại những hạn chế mà Nhà trường cần phải khắc phục đó là

    Do nhân dân trong địa phương thường xuyên chuyển đi, chuyển đến nên việc theo dõi cập nhật chưa kịp thời

    Việc giáo viên đi điều tra từng hộ gia đình tính chính xác chưa cao còn xảy ra những trường hợp trùng tên trùng họ. Thông tin ghi trên phiếu điều tra không đầy đủ.

    Dữ liệu trên máy so với danh sách theo dõi học sinh của nhà trường chưa được trùng khớp còn xảy ra như: khi còn thiếu học sinh, khi thì thừa học sinh…

    Một bộ phận nhỏ giáo viên khi phân công làm công tác phổ cập còn tránh né chưa coi đây là nhiệm vụ của mình.

     Nguyên nhân hạn chế

    Một giáo viên chưa đề cao tinh thần trách nhiệm, chưa gương mẫu trong các lĩnh vực công tác phổ cập. Họ chưa chú trọng công tác phổ cập mà chỉ chăm lo công tác giảng dạy trên lớp.

    Giáo viên đa số ở xã không thông thuộc địa bàn nên việc điều tra còn gặp nhiều hạn chế.

    Nhân dân địa phương khi tách hộ không xóa tên trong sổ gốc gia đình mà để nguyên vì vậy khi điều tra bị trùng hộ trùng tên.

    Tổ nhập liệu chưa có nhiều kỹ năng nên khi nhập thông tin trên phiếu qua máy thường hay bị sai.

    III. Biện pháp thực hiện

    1. Thực hiện tốt công tác tham mưu, chỉ đạo

    Hằng năm nhà trường có kế hoạch tham mưu với Đảng ủy, chính quyền địa phương và ban chỉ đạo phổ cập của xã kiện tòan Ban chỉ đạo Phổ cập. Từ đó phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên về nhiệm vụ phổ cập giáo dục để nâng cao hiệu quả nhiệm vụ được giao.

    Tổ chức các cuộc họp giao ban Ban chỉ đạo phổ cập để triển khai kế hoạch phổ cập chung của toàn xã trong đó bao gồm Phổ cập giáo dục giáo dục tiểu học đúng độ tuổi cho các trường để các thành viên nắm bắt. Cán bộ chuyên trách phổ cập của xã nên có kế hoạch tập huấn về công tác phổ cập, hướng dẫn lại nghiệp vụ điều tra cũng như công tác nhập liệu cho các trường để có kỹ năng tốt hơn về công tác phổ cập.

    Hằng năm ban chỉ đạo phổ cập cấp xã cần tiến hành kiểm tra tổng kết, đánh giá việc thực hiện phổ cập trong một năm. Khen thưởng kịp thời nhằm động viên các cá nhân và tập làm tốt công tác này, đồng thời có biện pháp xử lý chấn chỉnh  những cá nhân và tập thể còn thực hiện chưa tốt phần nhiệm vụ của mình.

    2. Bồi dưỡng nhận thức tư tưởng chính trị cho đội ngũ giáo viên

    Nhận thức là tiền đề của hoạt động, có nhận thức đúng mới có hành động đúng đó là cơ sở để hướng tới kết quả hoàn thiện.

    Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến cho đội ngũ tầm quan trọng của công tác phổ cập giáo dục nói chung và Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi trong nhà trường nói riêng. Giải thích cho mọi thành viên trong nhà trường hiểu công tác phổ cập là của toàn hội đồng nhà trường và của toàn xã hội. Một hội đồng thực hiện hai nhiệm vụ; không phải nhiệm vụ của mình đến trường là giảng dạy mà ngoài ra còn phải tham gia tích cực các công việc khác khi cần thiết đặc biệt là công tác phổ cập.

    Mặt khác, khi phân công tổ trưởng phụ trách công tác điều tra và nhập liệu tôi thường phân công cho đội ngũ Đảng viên gánh vác, để trong quá trình thực hiện họ có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các thành viên trong nhóm của mình làm việc có hiệu quả hơn.

    Ngoài ra thường xuyên tham mưu với ban chỉ đạo của địa phương tuyên truyền sâu rộng về nhiệm vụ phổ cập giáo dục đến mọi tầng lớp nhân dân, các ban ngành đoàn thể trên địa bàn để họ hiểu và cùng hỗ trợ tạo điều kiện cho trường thực hiện nhiệm vụ được tốt hơn.

    3. Thực hiện tốt công tác huy động và tuyển sinh 

    – Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác giáo dục. Vì vậy hằng năm nhà trường luôn quan tâm tới công tác huy động học sinh trong độ tuổi ra lớp, vận động trẻ khuyết tật, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã đến trường. Để làm tốt điều đó nhà trường đã thường xuyên phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể trong các thôn trên địa bàn tuyên truyền sâu rộng ” Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường” để cho phụ huynh nắm bắt. Những trường hợp nào chưa ra lớp nhà trường đã phân công giáo viên và kết hợp với cán bộ trong thôn đến tận nhà động viên phụ huynh cho con em ra lớp. Với cách làm như vậy trong những năm vừa qua trường chúng tôi huy động 100% học sinh trong độ tuổi ra lớp kể cả học sinh khuyết tật. Đặc biệt không có trường hợp em học sinh nào bỏ học giữa chừng.

    Song song với với việc huy động thì nhà trường cũng thường xuyên quan tâm duy trì sô lượng học sinh trên lớp. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm có nhiều biện pháp tốt trong công tác chủ nhiệm đặc biệt là duy tốt số lượng của lớp mình phụ trách để hạn chế tối đa học sinh bỏ học giữa chừng trong độ tuổi đến trường.

    4. Nâng cao chất lượng đội ngũ và nâng cao chất lượng dạy và học

              – Hằng năm nhà trường luôn chú trọng đội ngũ giáo viên đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng như  trình độ chuẩn hóa và trên chuẩn. Bố trí và sử dụng đội ngũ giáo vên phù hợp với chuyên môn và sở trường cũng như điều kiện gia đình của bản thân từng đồng chí để giáo viên an tâm công tác thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Động viên và tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên của trường tham gia tự học các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để thực hiện nâng chuẩn.

    – Nhà trường thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và năng lực sư phạm cho giáo viên, chú trọng các chuyên đề  nâng cao chất lượng dạy và học. Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ động tích cực sáng tạo của học sinh trong học tập. Thường xuyên rèn kỹ năng, tự học, tự nghiên cứu cho học sinh. Làm tốt công tác phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, hạn chế tối đa học sinh lưu ban.

    – Nhà trường luôn tạo điều kiện để giáo viên chủ động trong việc thực hiện kế hoạch giảng dạy học sinh của lớp mình chủ nhiệm. Từ đó giáo viên cũng sẽ tự tin hơn trong quá trình cụ thể hóa chương trình, chủ động trong việc giảng dạy chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng.

    5. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất trong nhà trường đáp ứng yêu cầu giáo dục. 

    Nhằm đáp ứng được yêu cầu giáo dục đảm bảo cho mọi trẻ em đều được đến trường, được học tập trong môi trường gần gũi, trong lành và thân thiện thì nhà trường phải là nơi các em yêu thích, được mọi người quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giáo dục tốt, đòi hỏi người cán bộ quản lý làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục. Tích cực tham mưu cho các cấp các ngành và chính quyền địa phương cũng như hội cha mẹ học sinh cùng chung tay góp sức xây dựng hệ thống trường lớp để học sinh được học 2 buổi/ngày, đồng thời cũng có các phòng đa chức năng để học sinh học tập, sinh hoạt và vui chơi thoải mái.  Tham mưu mua sắm trang bị thiết bị dạy học hiện đại phục vụ cho việc dạy và học có hiệu quả.

    Cụ thể: Trong những năm qua trường tôi tuy đã đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I nhưng cơ sở vật chất vẫn còn gặp nhiều khó khăn như diện tích sân chơi bãi tập cho học sinh còn ít, phòng học còn thiếu chưa đủ để học sinh học 2 buổi/ngày, phương tiện dạy học hiện đại chưa có, nhà vệ sinh chưa đảm bảo…Nhưng nhờ nhà trường làm tốt công tác tham mưu và huy động nên đã xây mới được 2 phòng học, 2 nhà vệ sinh, mua thêm đất để mở khuôn viên sân chơi bãi tập cho học sinh, được trang bị  02 hệ thống đèn chiếu để giảng dạy(Trong đó được cấp 01 hệ thống đèn chiếu và huy động hội cha mẹ học sinh mua mới 01 hệ thống đền chiếu). Chính vì vậy hiện nay trường đã tổ chức được cho học sinh học 7-8 buổi/tuần, học sinh có sân chơi bãi tập thoải mái. Giáo viên có trang thiết bị hiện đại để giảng dạy thường xuyên. Đây là một trong những biện pháp nhằm thực hiện tốt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.

    6. Đẩy mạnh công tác nhân đạo từ thiện, khuyến học khuyến tài trong nhà trường đối với học sinh.

    Bất cứ trường học nào cũng sẽ có một bộ phận không nhỏ học sinh nghèo, học sinh không nơi nương tựa, học sinh khuyết tật, học sinh có bệnh hiểm nghèo hoặc học sinh có hoàn cành khó khăn. Làm sao để học sinh nằm trong những hoàn cảnh trên vẫn có điều kiện đê tiếp tục đến trường, đó là một vấn đề trăn trở đối với những người làm công tác quản lý, làm công tác giáo dục. Ở trường chúng tôi số học sinh nằm trên diện trên chiếm tỷ lệ tương đối cao( trên 60 em)

    Tập thể nhà trường trong những năm qua đã làm tốt công tác nhân đạo từ thiện đối với những em có hoàn cảnh như trên để các em vơi bớt những khó khăn trong cuộc sống tạo điều kiện các em tự tin vượt lên trong học tập. Bằng cách nhà trường cùng các đoàn thể trong trường thường xuyên phát động nhiều đợt quyên góp trong năm học để  giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh không may mắn vẫn đượcj đi học.

    Cụ thể như:  đầu năm học đã tổ chức quyên góp tiền để mua quần áo, sách vở, cặp, đồ dùng học tập để giúp các em có điều kiện đến trường để học tập; Tết nguyên đán cùng nhau góp gạo, góp tiền mua quần áo mới, mua bánh kẹo giúp tặng học sinh nghèo ăn tết; trường có 2 em mắc bệnh hiểm nghèo toàn thể cán bộ, giáo viên và nhân viên cũng đã quyên góp 2 đợt được 4 500 000 đồng giúp 2 em đi chữa bệnh. Hiện tại nhà trường đã nhận giúp tiền 01 học sinh bị bệnh máu trắng đi thay máu bằng cách đóng góp Đảng viên 30 000 đồng/ tháng, quần chúng 20 000 đồng tháng…

    Ngoài ra nhà trường còn kêu gọi các mạnh thường quân trên địa bàn thường xuyên giúp đỡ chia sẻ để động viên các em an tâm học hành. Nhờ đẩy mạnh công tác nhân đạo từ thiện trong trường mà nhiều năm qua trên địa bàn của trường tôi quản lý không có em nào bỏ học giữa chừng hoặc không đi học vì hoàn cảnh khó khăn,  học sinh khuyết tật đều được ra lớp với tỉ lệ cao 82%

    ( Những em còn lại do khuyết tật quá nặng không đi được)

    Hằng năm nhà trường đều phát động giáo viên và học sinh tự nguyện đóng góp xây dựng được quỹ khuyến học khuyến tài trong nhà trường. Từ nguồn quỹ đó nhà trường đã giúp những em học sinh con nhà nghèo có hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn vươn lên và giành được nhiều kết quả cao trong học tập cũng như các kỳ thi cấp huyện. Nhờ nguồn động viên khích lệ kịp thời như vậy nên làm cho các em rất vui và phấn khới tự tin nhiều hơn trong học tập.

    7. Theo dõi, cập nhật, quản lý hệ thống hồ sơ phổ cập của trường đầy đủ, chính xác khoa học

    Để đảm bảo số lượng trẻ trong diện phổ cập theo dõi một cách chính xác trên hệ thống hồ sơ sổ sách thì từ phiếu điều tra, sổ phổ cập, số đăng bộ, danh sách học sinh đang học hằng năm, sổ chuyển đi chuyển đến, tất cả các thông tin số liệu phải đảm bảo đầy đủ, chính xác trùng khớp nhau. Hằng năm cập nhật tổng hợp các thông tin lên lớp, ở lại chuyển đi chuyển đến kịp thời vào sổ phổ cập và sổ Đăng bộ.

    Ngoài ra hằng năm nhà trường phải có một số theo dõi riêng số học sinh trong địa bàn theo học các nơi khác và học sinh ngoài địa bàn học tại trường, học sinh khuyết …

    Nếu làm tốt các khâu đó thì việc thống kê số liệu trên các biểu mẫu sẽ thuận lợi hơn nhiều.

    8. Phân chia quản lý đối tượng phổ cập  theo từng địa bàn thôn cụ thể cho các trường.

    Công tác phổ cập là một việc làm liên tục có tính kế thừa không phải việc làm mang tính thời vụ. Vì vậy đòi hỏi  người phụ trách công tác phổ cập phải có tính sáng tạo, khoa học thì mới đạt được hiệu quả cao. Trước đây trong quá trình làm phổ cập nhiều năm Ban chỉ đạo phổ cập của địa phương đã chỉ đạo  nhiều cách làm khác nhau nhưng rồi hiệu quả vẫn đạt không cao. (Ví dụ như có năm thì chỉ đạo cho giáo viên tiểu học điều tra, giáo viên trung học cơ sở nhập liệu; có năm giáo viên cả 3 cấp điều tra, sau đó cùng nhau nhập liệu nhưng rồi vẫn xảy ra sai sót dẫn đến không ai chịu trách nhiệm.)

    Từ khi áp dụng biện pháp phân chia cho các trường quản lý từng thôn. Mỗi trường đều có trách nhiệm vừa điều tra vừa nhập liệu thôn mà trường mình được phân công cụ thể. Ban chỉ đạo phổ cập có trách nhiệm lập một địa chỉ Email phổ cập để liên lạc. Các trường lập danh sách học sinh của trường mình theo từng đội, thôn cụ thể chính xác gửi lên Email để bộ phận phổ cập của xã có cần thì lên địa chỉ đó để lấy. Các nhóm điều tra của các trường sau khi điều tra và  nhập liệu xong các thôn của mình phụ trách, dựa vào danh sách học sinh của các trường gửi lên gmail thì có trách nhiệm đối chiếu lại cho đúng và trùng khớp các thông tin với nhau, nếu trường nào làm sai thì phải tự kiểm tra và tìm cho bằng được lỗi của trường mình sai sót. Bằng cách làm đó thì trường nào cũng có trách nhiệm về nhiệm vụ của mình và tự chịu trách nhiệm trước Ban phổ cập. Mặt khác sẽ  kiểm tra và quản lý được đối tượng học sinh đang học của 3 cấp từ mầm non đến trung học cơ sở một cách chính xác và đồng bộ.

    IV. Kết quả sau 3 năm thực hiện các biện pháp để duy trì và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

    Trong những năm qua trường tôi áp dụng những biện pháp trên để duy trì và nâng cao cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học tại trường đã thu được nhiều kết quả đáng kể. Trường đã đạt chuẩn được các tiêu chuẩn quy định về công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1 và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 theo Thông tư 36/2009/TT-BGD ĐT ngày 4 tháng 12 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    . Cụ thể

    Tiểu chuẩn về học sinh: 3 năm liền trường đã huy động 100% học sinh 6 tuổi ra lớp, số học sinh 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học năm sau cao hơn năm trước. Không có học sinh bỏ học trong đội tuổi 6-11 tuổi, học sinh lưu ban ngày càng giảm.

    Tiêu chuẩn về giáo viên: Đội ngũ giáo viên của trường đầy đủ để dạy các môn học văn hóa và các môn năng khiếu. Trường đã có giáo viên dạy Tin học và Ngoại ngữ. Giáo viên giảng dạy nhiệt tình đảm bảo chất lượng; 3 năm qua số giáo viên tự học để đạt trình độ trên chuẩn chiếm nhiều, đến nay có 26/31 giáo viên tốt nghiệp Cao đẳng và Đại học chiếm tỉ lệ 83%

    Tiêu chuẩn về cơ sở vật chất: 3 năm qua nhờ làm tốt công tác tham mưu các cấp các ngành và huy động vốn của phụ huynh đóng góp nên cơ sở vật chất của trường đã được cải thiện rõ rệt. Vì vậy mạng lưới trường lớp đã được kiên cố hóa hiện tại trường có 20 phong học đạt tỉ lệ 0,9 phòng/ lớp đảm bảo cho học sinh 6-7 buổi/tuần; có hệ thống sân chơi bãi tập cũng như nhà nhà vệ sinh cho học sinh và giáo viên đầy đủ.

    Nhờ đạt được chuẩn và cao các tiêu chuẩn trên nên năm 2012 và năm 2013 trường đã duy trì bền vững kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1; năm 2014 không những duy trì bền vững kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1 mà trường còn đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2. Đây chính là nền tảng vững chắc cho các năm học tiếp theo.

    Với kết quả đạt được như trên có thể nói rằng đó là thành quả lao động không nhỏ trong công tác phổ cập của cán bộ, giáo viên và nhân viên trường tập thể trường tiểu học Lý Thường Kiệt trong thời gian qua. Từng cán bộ giáo viên nhân viên trong nhà trường cũng đã thấy rõ vai trò trọng trách của mình để tự giác tham gia công tác điều tra huy động trẻ ra lớp, cập nhập thống kê số liệu chính xác giúp cho cán bộ quản lý phổ cập làm tốt công tác phổ cập mà cấp trên giao phó.

    IV. Bài học kinh nghiệm

    Làm tốt công tác tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể và các trường đóng chân trên địa bàn về công tác phổ cập. Tổ chức việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đội ngũ nhà giáo và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn.

    Hằng năm kiện toàn Ban chỉ đạo phổ cập, có kế hoạch làm việc sáng tạo, phân công nhiệm vụ cho các trường đảm bảo tính khoa học. Tổ chức sơ kết, tổng kết hằng năm để đánh giá công tác phổ cập từ đó đúc rút kinh nghiệm, khắc phục thiếu sót.

    Có kế hoạch cụ thể để phát triển đội ngũ giáo viên đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng. Phải tập trung nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên cũng như học sinh.

    Coi  công tác xã hội hóa giáo dục và công tác xã hội hội hóa phổ cập giáo dục là một phương án tối ưu để thực hiện thành công công tác phổ cập tiểu học đúng độ tuổi.

    Trong quá trình thực hiện phổ cập giáo dục đúng độ tuổi phải gắn liền với phổ cập trung học cơ sở và phổ cập giáo dục mầm non. Bởi hiện tại phổ cập giáo dục của 3 cấp có chung một phần mềm nên cần có sự bổ trợ lẫn nhau.

    Ban phổ cập của các trường phải có sự phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình làm phổ cập.

    Công tác phổ cập là một việc làm thường xuyên liên tục và mang tính kế thừa vì vậy hiệu trưởng các trường khi phân công cán bộ phụ trách phổ cập của trường nên để một người làm lâu dài không nên thay đổi thường xuyên.

    I. KẾT LUẬN

    Nhiệm vụ của công tác Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi là một trong những công tác khó khăn phức tạp của các trường nói chung và trường tiểu học Lý Thường Kiệt nói riêng. Chúng ta chỉ đạo và làm tốt công tác Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phần nào đáp ứng được  nguồn nhân lực thực sự có chất lượng để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

    Đề tài ” Một số biện pháp duy trì và nâng cao công tác Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi ở trường Lý Thường Kiệt”  bước đầu đã đưa lại có hiệu quả, đáp ứng được mục đích, yêu cầu đề ra trong công tác phổ cập tại đơn vị. Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng các biện pháp trên bản thân tôi nhận thấy rằng công tác Phổ cập tại đơn vị đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ  trong nhận thức của mọi người cũng như về kết quả đạt được trong 2 năm qua. Mỗi  thành viên trong đơn vị giờ đây đã có nhận thức đúng đắn và có tinh thần trách nhiệm hơn về vai trò, vị trí, nhiệm vụ của mình đối với công tác phổ cập. Vì vậy mà trong thời gian qua chất lượng đội ngũ, chất lượng học sinh được nâng lên rõ rệt, hệ thống cơ sở vật chất trong nhà trường ngày một khang trang và đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi hằng không những giữ vững kết quả phổ cập của đơn vị đạt mức độ 1 mà còn đạt kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.

    Để  duy trì bền vững và nâng cao công tác Phổ cập giáo dục tiểu học tại đơn vị  đòi hỏi mỗi thành viên trong hội đồng  phải có trách nhiệm, nâng cao tinh thần tự giác, tự nguyện. Không nên xem nhẹ một tiêu chuẩn nào trong các tiêu chuẩn phổ cập đã quy định có như vậy mới duy trì và nâng cao được công tác Phổ cập tại đơn vị. Tôi tin chắc rằng nếu mọi người làm được điều đó thì kết quả phổ cập hằng năm được giữ vững. Và tôi vẫn hy vọng trong những năm tiếp theo trường  Lý Thường Kiệt vẫn luôn giữ vững kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.

    II. KIẾN NGHỊ

    1. Đối với lãnh đạo ngành và lãnh đạo địa phương 

    Thường xuyên quan tâm giúp đỡ và chỉ đạo sát sao về công tác phổ cập cho từng trường. Cần đầu tư thêm cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị dạy học nhằm nâng chất lượng dạy và học; Tổ chức tập huấn hỗ trợ kỹ thuật trong việc điều tra và xư lý số liệu.

    Luôn tuyên truyền vận động mọi tầng nhân dân và phụ huynh học sinh  trên địa bàn hiểu rõ các chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác phổ cập.

     2. Đối với Ban chỉ đạo Phổ cập

    Hằng năm nên có kế hoạch cụ thể, tiến hành làm phổ cập cần phải triển khai sớm , có thể là trong hè không nên để thời gian cuối năm.

    Các thành viên trong ban chỉ đạo cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau để  chỉ đạo các trường thực hiện kế hoạch một cách đồng bộ và có hiệu quả.

    Hằng năm nên tổ chức tập huấn cho các thành viên trường nắm bắt kỹ hơn các kỹ năng về làm công tác phổ cập

     3. Đối với lãnh đạo  nhà trường

    Phải coi đây là một nhiệm vụ trong tâm trong kế hoạch của nhà trường.

    Có kế hoạch chỉ đạo cụ thể, tuyền truyền để mọi thành viên trong nhà trường nhận thức được vai trò, vị trí và nhiệm vụ của công tác Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

    Tạo điều kiện thuận lợi để bộ phận Phổ cập hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

    4. Đối với các thành viên trong nhà trường

    Cần phải nhiệt tình có trách nhiệm hơn trong công tác phổ cập. Phải coi đây là nhiệm vụ trọng tâm thứ 2 của mình mà cấp trên giao phó. Không nên làm việc mang tính đối phó qua loa lấy lệ, không né trách nhiệm khi được phân công.

    Hồ sơ sở sách quản lý học sinh các thông tin phải đảm bảo chính xác để hỗ trợ thêm cho bộ phận phổ cập của trường.

     5. Đối nhân dân trên địa bàn

    Phải tạo điều kiện, giúp đỡ và không gây khó dễ cho giáo viên khi đến nhà điều tra.

    Cán bộ các thôn cần phải hỗ trợ thêm cho giáo viên trong quá trình điều tra  từng hộ gia đinh trong đội, thôn mình. Để tránh tình trạng xảy ra thiếu hộ, trùng hộ và trùng tên.

    EaM’nang, ngày 15 tháng 4 năm 2022

    Người thực hiện

    Cao Thị Tuấn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Vùng Dtts
  • Đề Tài Đề Tài Một Vài Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Giảm Thiểu Học Sinh Lưu Ban Trong Trường Th Nvx
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng Tại Các Tổ Chức Cơ Sở Đảng Trong Tình Hình Mới Hiện Nay
  • Những Đột Phá Cần Có Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Địa Lí 8 Tuần 5 Tiết 5: Đặc Điểm Dân Cư
  • Địa 8/ Tuần 5/ Tiết 5
  • Bài 5. Đặc Điểm Dân Cư, Xã Hội Châu Á
  • 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • MỤC LỤC

    Trang

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lý do chọn đề tài 1

    II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu 1

    1. Mục đích 1

    2. Phương pháp 2

    III . Giới hạn của đề tài 2

    IV . Kế hoạch thực hiện 2

    B. PHẦN NỘI DUNG

    I . Cơ sở lý luận 3

    II. Cơ sở thực tiễn 4

    III. Thực trạng và những mâu thuẫn 4

    1.Thuận lợi……………………………………………………………………….4

    2.Khó khăn……………………………………………………………………….4

    IV . Các biện pháp giải quyết vấn đề 4

    1. Xác định nguyên nhân, lập kế hoạch dạy học sinh yếu kém………………….4

    2. Biện pháp dạy học bằng tình thương………………………………………….5

    3. Biện pháp giao việc cho học sinh yếu kém 6

    4. Biện pháp thư giãn (vui chơi) trong các tiết học 7

    5. Tạo môi trường giáo dục tốt 8

    6. Biện pháp tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp ………………………… 9

    7. Phong trào “Giúp bạn vượt khó “…………………………………………… 9

    8. Phối hợp với phụ huynh học sinh …………………………………………….10

    V . Hiệu quả áp dụng 11

    C. KẾT LUẬN

    I . Ý nghĩa của đề tài đối với công tác 13

    II . Khả năng áp dụng 13

    III . Bài học kinh nghiệm 13

    Tài liệu tham khảo 15

    www.sangkienkinhnghiem.com

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lý do chọn đề tài:

    Hiện nay, việc duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần ở trường tiểu học đóng một vai trò

    rất quan trọng trong việc học tập của học sinh nói riêng và trong việc thực hiện phổ

    cập giáo dục nói chung. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ

    và mang lại kết quả học tập tốt. Nhưng hiện nay, một số học sinh trong địa phương

    thuộc con em gia đình lao động nghèo, một số từ nơi khác đến thị xã Hồng Ngự tạm

    trú, đa phần là làm thuê, vì cuộc sống mưu sinh họ gửi con em vào Trường Tiểu học

    An Thạnh 1 để học. Chính vì mãi lo cho kinh tế gia đình một số phụ huynh ít quan tâm

    đến việc học tập của các em. Nên việc các em nghỉ học, bỏ học trong thời gian nhiều

    ngày ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài và kết quả học tập là điều không tránh khỏi.

    Trong những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học ngày càng phổ biến. Cấp học

    càng cao tỷ lệ học sinh bỏ học càng lớn. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng

    học sinh bỏ học nhưng trong đó nguyên nhân chính là các em học tập yếu kém nên

    không thích đi học, không thích đến trường.

    Xã hội ngày càng phát triển, thì yêu cầu về giáo dục cũng được nâng cao. Đòi hỏi

    trong xã hội ai cũng được học hành, được tiếp thu được kiến thức kĩ năng, kĩ xảo từ

    nhà trường để phục vụ cuộc sống sau này. Chúng ta ngày đêm đang ra sức phổ cập

    giáo dục ở các cấp học. Nhưng trên thực tế có biết bao nhiêu học sinh bỏ học giữa

    chừng. Biết bao nhiêu trẻ em không biết đọc, biết viết hoặc đọc viết không thông thạo

    mà đã nghỉ học. Tất cả đều là sản phẩm của nhà trường, do không quan tâm đến học

    sinh, không có biện pháp để giúp đỡ học sinh yếu kém.

    Vì thế, qua nhiều năm công tác bản thân tôi luôn suy nghĩ “Biện pháp để duy trì sĩ

    số và đảm bảo chuyên cần học sinh bậc tiểu học “. Do đó tôi quyết định chọn đề tài

    này.

    II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu:

    1. Mục đích :

    – Nhằm đánh giá lại môi trường giáo dục, chất lượng giảng dạy học sinh yếu kém

    ở các trường tiểu học trong những năm qua và hiện nay.

    – Tìm ra những nguyên nhân tại sao việc học sinh chán học và hiện tượng học sinh

    có nguy cơ bỏ học vì học yếu vẫn còn.

    2

    www.sangkienkinhnghiem.com

    – Đưa ra một số giải pháp trong việc đổi mới phương pháp giúp đỡ học sinh yếu

    kém học tập có tiến bộ hơn, tạo môi trường học thân thiện gần gũi giúp học sinh ham

    thích học tập, thích đi học nhiều hơn.

    2. Phương pháp :

    – Phương pháp lấy tư liệu.

    – Phương pháp học mà chơi, chơi mà học.

    – Phương pháp đàm thoạ.

    – Phương pháp xử lý thông tin.

    – Phương pháp thực nghiệm.

    – Phương pháp cải tiến.

    III. Giới hạn của đề tài:

    – Học sinh khối 5 thuộc Trường Tiểu học An Thạnh 1. Đội ngũ thầy (cô) cùng cô

    tổng phụ trách. Phụ huynh học sinh khối 5 của tường.

    IV. Kế hoạch thực hiện:

    – Chọn đề tài.

    – Lập đề cương nghiên cứu.

    – Đọc, thu thập đề tài, viết đề tài.

    – Thu nhập thực tế.

    – Hoàn thành sáng kiến.

    Hội đồng xét duyệt của trường An Thạnh, ngày 27 tháng 04 năm 2012

    Xếp loại:……. Người viết

    CTHĐ

    15

    www.sangkienkinhnghiem.com

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1 . Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học _ NXBGD_Xuất bản 2006

    2 . Giáo trình cao đẳng sư phạm _GS.TS. Diệp Quang Ban_ NXB đại học sư phạm_

    Xuất bản 2001

    3. Giáo trình giáo dục học Tiểu học – GS. TS. Đặng Vũ Hoạt_NXB đại học Huế_Xuất

    bản 2002.

    4. Giáo trình tâm lý học Tiểu học_GS.TS. Bùi Văn Huệ_ NXB đại học Huế_Xuất bản

    2002.

    16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Suy Dinh Dưỡng Trẻ Em : Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả Từ Chuyên Gia
  • Suy Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em
  • Trẻ Bị Suy Dinh Dưỡng Nặng
  • Skkn Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Skkn Về Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực Môn Lịch Sử Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực Môn Lịch Sử Lớp 5 Skkn Mai Hong Suong 20112012 Doc
  • Hiểu Đầy Đủ Bản Chất Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Giáo Dục Học: Bản Chất Của Phương Pháp Dạy Học
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    ĐỀ TÀI:

    “MỘT SỐ BIỆN PHÁP DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH LỚP 5”

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Lý do chọn đề tài:

    Hiện nay, việc duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần ở trường tiểu học đóng một vai trò

    rất quan trọng trong việc học tập của học sinh nói riêng và trong việc thực hiện phổ cập

    giáo dục nói chung. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và

    mang lại kết quả học tập tốt. Nhưng hiện nay, một số học sinh trong địa phương thuộc

    con em gia đình lao động nghèo, một số từ nơi khác đến thị xã Hồng Ngự tạm trú, đa

    phần là làm thuê, vì cuộc sống mưu sinh họ gửi con em vào Trường Tiểu học An Thạnh 1

    để học. Chính vì mãi lo cho kinh tế gia đình một số phụ huynh ít quan tâm đến việc học

    tập của các em. Nên việc các em nghỉ học, bỏ học trong thời gian nhiều ngày ảnh hưởng

    đến việc tiếp thu bài và kết quả học tập là điều không tránh khỏi.

    Trong những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học ngày càng phổ biến. Cấp học

    càng cao tỷ lệ học sinh bỏ học càng lớn. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng

    học sinh bỏ học nhưng trong đó nguyên nhân chính là các em học tập yếu kém nên không

    thích đi học, không thích đến trường.

    Xã hội ngày càng phát triển, thì yêu cầu về giáo dục cũng được nâng cao. Đòi hỏi

    trong xã hội ai cũng được học hành, được tiếp thu được kiến thức kĩ năng, kĩ xảo từ nhà

    trường để phục vụ cuộc sống sau này. Chúng ta ngày đêm đang ra sức phổ cập giáo dục ở

    các cấp học. Nhưng trên thực tế có biết bao nhiêu học sinh bỏ học giữa chừng. Biết bao

    nhiêu trẻ em không biết đọc, biết viết hoặc đọc viết không thông thạo mà đã nghỉ học. Tất

    cả đều là sản phẩm của nhà trường, do không quan tâm đến học sinh, không có biện pháp

    để giúp đỡ học sinh yếu kém.

    Vì thế, qua nhiều năm công tác bản thân tôi luôn suy nghĩ “Biện pháp để duy trì sĩ số

    và đảm bảo chuyên cần học sinh bậc tiểu học “. Do đó tôi quyết định chọn đề tài này.

    II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu:

    1. Mục đích :

    – Nhằm đánh giá lại môi trường giáo dục, chất lượng giảng dạy học sinh yếu kém ở

    các trường tiểu học trong những năm qua và hiện nay.

    – Tìm ra những nguyên nhân tại sao việc học sinh chán học và hiện tượng học sinh có

    nguy cơ bỏ học vì học yếu vẫn còn.

    – Đưa ra một số giải pháp trong việc đổi mới phương pháp giúp đỡ học sinh yếu kém

    học tập có tiến bộ hơn, tạo môi trường học thân thiện gần gũi giúp học sinh ham thích

    học tập, thích đi học nhiều hơn.

    2. Phương pháp :

    – Phương pháp lấy tư liệu.

    – Phương pháp học mà chơi, chơi mà học.

    – Phương pháp đàm thoạ.

    – Phương pháp xử lý thông tin.

    – Phương pháp thực nghiệm.

    – Phương pháp cải tiến.

    III. Giới hạn của đề tài:

    – Học sinh khối 5 thuộc Trường Tiểu học An Thạnh 1. Đội ngũ thầy (cô) cùng cô

    tổng phụ trách. Phụ huynh học sinh khối 5 của tường.

    IV. Kế hoạch thực hiện:

    – Chọn đề tài.

    – Lập đề cương nghiên cứu.

    – Đọc, thu thập đề tài, viết đề tài.

    – Thu nhập thực tế.

    – Hoàn thành sáng kiến.

    B. PHẦN NỘI DUNG

    I.Cơ sở lý luận:

    Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học : Học sinh tiểu học lứa 6 đến 11 tuổi

    các em rất nghịch hiếu động, chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là

    đúng và điều gì là sai, hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quanh

    mình. Khả năng tiếp thu kiến thức nhanh hay chậm của từng nhóm đối tượng học sinh

    cũng khác nhau. Ở các em ý thức học tập chưa có, chưa hiểu rõ mục đích của việc học.

    Các em đi học phần lớn là do sự bắt buộc của gia đình, chỉ một phần nhỏ là ham thích đi

    học (vì đi học được thầy (cô) khen, được điểm 10, được chơi cùng bạn vv…). Do đó ý

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp Chủ Nhiệm
  • Một Số Biện Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Duy Trì Sỉ Số Lớp
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Mot So Bien Phap Duy Tri Si So Hoc Sinh Vung Dan Toc Thieu So Doc
  • Trắc Nghiệm Công Nghệ 10 Bài 10 (Có Đáp Án): Biện Pháp Cải Tạo Và Sử Dụng Đất Mặn, Đất Phèn
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn: Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Công Tác Chủ Nhiệm
  • Những Biện Pháp Hay Nhằm Duy Trì Sĩ Số Học Sinh
  • Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • * Gia đình phải có trách nhiệm về con em, phải tạo mọi điều kiện để trẻ được theo học. Phải coi việc học của trẻ là hết sức quan trọng. Nếu thấy con em mình không vui hoặc có vấn đề gì khó khăn trong việc học tập của con em thì phải báo ngay với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường để nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ.

    * Giáo viên chủ nhiệm phải nhiệt tình,năng nổ phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương pháp giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng ở trong nhà trường đặc biệt là từng em học sinh để lôi cuốn học sinh,học sinh vui vẻ, tự tin trước khi đến trường tạo thêm niềm vui, phấn khởi thực sự để hội cha mẹ học sinh nhận thấy được ở trường là chỗ dựa vững chắc cho phụ huynh tin tưởng từ đó tạo niềm tin cho phụ huynh phấn khởi và xây dựng môi trường thân thiện ở trong nhà trường .

    – Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với Đoàn thể, với địa phương ,tạo những điều kiện môi trường giáo dục tốt.

    – Phải tạo đoàn kết, thương yêu giúp đỡ học sinh trong lớp qua các phong trào. Tạo cho các em động cơ ham học trong việc uốn nắn các em,giáo viên chủ nhiệm phải luôn giữ thái độ bình tĩnh,không nóng vội,không dùng lời lẽ nặng nề với các em, hoà đồng vui vẻ với các em, xem học sinh là con đẻ của mình, chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp.

    -Học sinh tiểu học trong độ tuổi biết tự ái, giận hờn, thích được động viên khen thưởng, tuyệt đối không nên dùng hình phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt không ham thích đến lớp, phải tạo cho các em một niềm tin để các em an tâm học tập và xem giáo viên chủ nhiệm là người mẹ hiền.

    -Nên tổ chức vui chơi tập thể trong các giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và giáo viên.Trong chương trình giảng dạy nên tổ chức những buổi “Học vui,vui học” dưới hình thức ôn tập.

    Việc chuyên cần học tập của học sinh đã quyết định sự tiến bộ của các em,nếu để các em nghỉ học một hai lần với lý do không cần thiết lắm thì các em sẽ thích nghỉ học đi chơi hơn là đến lớp bởi nhiều lý do: Sợ bị phạt, sợ bị chế giễu. Giáo viên nên giải thích tai hại của việc bỏ học và đi học không đầy đủ đẫn đến hậu quả không tốt, ảnh hưởngđến kết quả học tập.

    *Giáo viên chủ nhiệm và nhà trường phải quan tâm tìm hiểu hoàn cảnh của học sinh để tạo điều kiện giúp đỡ, bố trí buổi học phù hợp có thể lập Quỹ tình thương để hổ trợ một phần nào cho các em về mặt vật chất, đồng thời cắt cử các em học sinh trong lớp thường xuyên giúp đỡ,đỡ đần bớt các công việc gia đình để bạn có thời gian đến trường.

    * Các đoàn thể xã hội như: Phụ nữ, nông dân, phải phối hợp với nhà trường quan tâm, giúp đỡ những gia đình gặp khó khăn. Xây dựng quỹ khuyến học trong từng thôn xã, họ hàng để hỗ trợ thêm cho những em gặp khó khăn trong đời sống kinh tế để giúp các em có thể tiếp tục học tập.

    *Chính quyền địa phương phải có kế hoạch bố trí dân cư hợp lý để tạo điều kiện cho các em đi học gần.Đồng thời có chính sách đãi ngộ đối với những hộ gia đình nghèo, đông con và gặp khó khăn về kinh tế.

    Công đoàn nhà trường xây dựng quỹ khuyến học, quỹ tình thương, quỹ hỗ trợ những học sinh có điều kiện khó khăn về vật chất và tinh thần để các em đi học đầy đủ.

    Giải pháp quan trọng nhất là Nhà trường,Gia đình và xã hội phải phối hợp chặt chẻ với nhau,để cùng nhau giúp đỡ về mọi mặt,tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tiếp tục đến trường.Giảm tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm.

    + Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, gia đình và xã hội.

    + Nắm bắt tình hình cụ thể về các gia đình có học sinh đi học. Các gia đình có đông con; những gia đình có hoàn cảnh khó khăn…

    + Các tổ chức, đoàn thể ở chính quyền địa phương, hội cha mẹ học sinh. Các tổ chức chính trị xã hội ở trong nhà trường; các giáo viên chủ nhiệm.

    + Tìm hiểu về các lí do mà các em thường bỏ học nữa chừng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 4. Luyện Tập: Este Và Chất Béo
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Chương Este Bai Tap Trac Nghiem Chuyen De Este Docx
  • Điều Chế Este Và Ứng Dụng Của Este
  • Biện Pháp Cải Tạo Đất Mặn
  • Biện Pháp Cải Tạo Đất Mặn Đất Phèn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100