Biện Pháp Tư Pháp Là Gì ? Có Những Biện Pháp Tư Pháp Nào ?

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Hình Phạt Với Biện Pháp Tư Pháp Hình Sự?
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Trong Bộ Luật Hình Sự 2021
  • So Sánh Hình Phạt Và Biện Pháp Tư Pháp
  • Thi Hành Các Biện Pháp Tư Pháp Hình Sự
  • Biện Pháp Tư Pháp Trong Luật Hình Sự Việt Nam Và Vấn Đề Bảo Vệ Quyền Con Người
  • Các biện pháp tư pháp quy định trong Bộ luật Hình sự là những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người phạm tội hoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc gây nguy hiểm cho xã hội và giáo dục họ trở thành những công dân có ích cho xã hội.

    Các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 41 đến Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 ( Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) .

    – Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

    – Vật hoặc tiền phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có.

    – Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.

    Biện pháp thứ hai: Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi (Điều 42 Bộ luật Hình sự). Đây là biện pháp tư pháp buộc người phạm tội trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp hoặc đã sửa chữa những tài sản bị hư hòng do hành vi phạm tội gây ra. Trường hợp người phạm tội gây ra thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc họ phải công khai xin lỗi người bị hại.

    Biện pháp thứ ba: bắt buộc chữa bệnh (Điều 43 Bộ luật Hình sự) là biện pháp tư pháp áp dụng với người phạm tội mà trước, trong hoặc sau khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội họ đã mắc bệnh và buộc phải chữa bệnh dưới sự giám sát của cơ sở điều trị hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Biện pháp thứ tư: là biện pháp áp dụng với người chưa thành niên phạm tội gồm: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng.

    Thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 1 năm đến 2 năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng. Người được giáo dục tại xã, phường thị trấn phải chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Tòa án giao trách nhiệm.

    Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 1 năm đến 2 năm đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần thiết đưa họ vào nơi quản lý giáo dục chặt chẽ.

    Bộ phận tư vấn Luật Hình sự – Công ty luật Minh Khuê

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Thuế Quan Và Phi Thuế Quan Trong Chính Sách Ngoại Thương Của Nhật Bản
  • Thương Mại Quốc Tế (P3: Hàng Rào Phi Thuế Quan)
  • Tìm Hiểu Phi Thuế Quan Là Gì Và Khu Phi Thuế Là Gì?
  • “các Biện Pháp Phi Thuế Quan”
  • Các Biện Pháp Phi Thuế Quan
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Và Hủy Bỏ Biện Pháp Cưỡng Chế

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Cưỡng Chế Tiền Nợ Thuế?
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Đối Với Pháp Nhân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2021 Và Những Vấn Đề Đặt Ra Khi Triển Khai Áp Dụng
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Trong Tố Tụng Hình Sự Là Gì ?
  • Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Các Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Biện pháp cưỡng chế là biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của một cá nhân, tổ chức có thẩm quyền.

    Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.

    Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2021 quy định về biện pháp cưỡng chế như sau:

    “Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tổ tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.”

    Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự , ngoài việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế như: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.

    Hủy bỏ biện pháp cưỡng chế

    Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2021 quy định về hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài sản như sau:

    “1.Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:

    a)Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

    b)Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

    c)Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;

    d)Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.

    2.Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.

    Đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra, truy tố thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định.”

    Các trường hợp cần hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài sản

    Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản là biện pháp cưỡng chế cần thiết cần được áp dụng trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự. Tuy nhiên, những biện pháp này không bắt buộc phải áp dụng trong mọi trường hợp, mọi thời điểm trong quá trình tiến hành tổ tụng. Khỉ có căn cứ cho rằng việc áp dụng là không cằn thiết, biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    -Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

    -Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

    -Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;

    -Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.

    Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp cấp trong giai đoạn điều tra, truy tổ khi hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp kê biên tài sàn, phong tỏa tài khoản phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Tuổi 30 Không Thể Không Biết
  • Các Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Cho Tuổi Trung Niên
  • 3 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da
  • Bật Mí Các Biện Pháp Phòng Chống Lão Hóa Da Mặt Tuổi 40 Hiệu Quả Cao
  • Bí Quyết Ngăn Ngừa Lão Hóa Da Tuổi 30 Hiệu Quả
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

    1. Biện pháp tu từ so sánh

    Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

    Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

    Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

    Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

    Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

    Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

    Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

    “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    Cấu trúc A là B:

    Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

    Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

    Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

    Ví dụ 1:

    “Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 3:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

    Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

    “Người là cha, là bác, là anh

    Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

    ” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

    2. Biện pháp tu từ nhân hóa

    Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

    Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

    • Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..
    • Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

    Ví dụ:

    ” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

    “Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

    “Sông Đuống trôi đi

    Một dòng lấp lánh

    Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

      Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

    Ví dụ:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

    Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

    Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

    Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

      Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

    Ví dụ:

    ” Vân xem trang trọng khác vời

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

      Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

    Ví dụ:

    “Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Không thầy đó mày làm nên”

      Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

    Ví dụ:

    “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

    “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

    ” Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

      Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    Vì dụ:

    ” Bỗng nhận ra hương ổi

    Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ

    Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

    ” Cát lại vàng giòn

    Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

    ” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

    “Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

    4. Biện pháp tu từ hoán dụ

    Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

    Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

      Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

    ” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

    “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

    ” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

    Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

      Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Vì sao trái đất nặng ân tình,

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

      Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

    ” Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

    ” Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

    ” Áo nâu cùng với áo xanh

    Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

      Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

    ” Một cây làm chẳng nên non

    3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

    ” Ngày Huế đổ máu

    Chú Hà Nội về

    Tình cờ chú cháu

    Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

    5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

    Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

    ” Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

    “Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

    Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

    6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

    Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

    7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

    Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

    Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

    8. Biện pháp tu từ chơi chữ

    Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

    Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

    ” Bà già đi chợ cầu Đông

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

    ” Không răng đi nữa cũng không răng,

    Chỉ có thua người một miếng ăn.

    Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép,

    Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

    “Em đây là gái năm con,

    Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

    ” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,

    Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

    9. Biện pháp tu từ liệt kê

    Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

    Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

    “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

    ” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

    “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

    Chiến sĩ anh hùng

    Đầu nung lửa sắt

    Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

    Máu trộn bùn non

    Gan không núng

    Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

    10. Biện pháp tu từ tương phản

    Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

    Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2021

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Áp Dụng Biện Pháp Tư Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Quản Lý Hoạt Động Giảng Dạy Của Giáo Viên Trong Các Trường Trung Học Cơ Sở Quận Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Và Các Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • 8 Biện Pháp Hành Chính Trong Hoạt Động Quản Lý Ngoại Thương
  • Biện Pháp Chống Trợ Cấp Trong Quản Lý Hoạt Động Ngoại Thương Là Gì?
  • Luật Quản Lý Ngoại Thương 2021
  • Biện pháp tư pháp (BPTP) là biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS), do cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt.

    1. Đặc điểm của biện pháp tư pháp 2. Phân loại biện pháp tư pháp

    Căn cứ vào đối tượng bị áp dụng và ý nghĩa thay thế hình phạt có thể chia các BPTP thành hai nhóm:

    vật, tiền là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội là vật hoặc tiền do người phạm tội sử dụng làm công cụ hoặc phương tiện phạm tội. Việc phân biệt công cụ với phương tiện phạm tội tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể, ví dụ, trong vụ án người phạm tội sử dụng xe máy chở đồng phạm khác mang sung đi cướp tài sản thì sung là công cụ phạm tội , xe máy là phương tiện phạm tội. Trong vụ án khác, người phạm tội điều khiểm xe máy gây tai nạn làm chết người đi đường thì xe máy vừa là công cụ vừa là phương tiện phạm tội. Tuy pháp luật hiện hành không quy định cụ thể, nhưng có thể hiểu rằng chỉ áp dụng BPTP là tịch thu công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện tội phạm do lỗi cố ý, bởi ngay trong điều văn của điều luật diễn đạt rất rõ: ” Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội“, nghĩa là người thực hiện hành vi phạm tội đã sử dụng công cụ, phương tiện ấy vào mục đích phạm tội với lỗi cố ý, do vậy, với phương tiện gây ra tội phạm do lỗi vô ý như tội phạm quy định tại Điều 202 BLHS thì không bị tịch thu. Tuy nhiên từ thực tiễn xét xử đã đặt ra vấn đề rất cần sự hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thống nhất về nhận thức và áp dụng đối với trường hợp công cụ, phương tiện là tiền hoặc vàng mà người phạm tội dùng vào việc cho vay lãi nặng theo Điều 163 BLHS, khi xét xử Tòa án có tịch thu số tiền hoặc vàng gốc không? Do pháp luật hiện hành chưa có quy định rõ công cụ, phương tiện phạm tội nào là đối tượng phải áp dụng theo điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS, để HĐXX quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước, nên đang tồn tại hai quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất, số tiền gốc hoặc vàng hay ngoại tệ mà người phạm tội dùng để cho vay với lãi suất rất cao về bản chất đó là phương tiện phạm tội, nên phải bị tịch thu sung quỹ nhà nước, vì nếu như người thực hiện hành vi không dùng số tiền gốc hoặc vàng hay ngoại tệ đó để cho vay lãi nặng thì không cấu thành tội phạm này; động cơ phạm tội là vì vụ lợi nhằm thu lợi bất chính, cũng giống như người phạm tội buôn lậu, ngoài việc bị cáo phải chịu chế tài về hình sự, còn phải bị tịch thu toàn bộ vật chứng là hàng hóa mà bị cáo đã buôn lậu. Hơn nữa, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS không có trường hợp ngoại lệ. Quan điểm thứ hai, riêng dấu hiệu đặc trưng của tội cho vay lãi nặng là số tiền lãi vượt mức quy định của pháp luật, chứ không phải là số tiền gốc mà họ bỏ ra để cho vay, do vậy, không máy móc áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS để tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước. Ngay đối với số tiền lãi thì cũng chỉ tịch thu số tiền lãi cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định, đó mới là ” tiền thu lợi bất chính “. Do chưa có quy định cụ thể, nên đây có lẽ là kẽ hở của pháp luật và có thể bị lợi dụng khi xử lý vì mục đích cá nhân.

    -Vật, tiền mà người phạm tội chiếm đoạt được trong quá trình thực hiện tội phạm có yếu tố chiếm đoạt;

    -Vật, tiền mà người phạm tội có được sau khi định đoạt vật, tiền đã chiếm đoạt được trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt. Đó có thể là vật, tiền do mua, bán, đổi chác những thứ đã chiếm đoạt mà có; vật, tiền lãi từ việc sử dụng trái phép tiền của Nhà nước, tập thể, cá nhân gửi tiết kiệm, cho vay,…

    -Vật, tiền không thuộc hai loại trên, như tiền của người khác thuê, thưởng cho người phạm tội vì đã thực hiện hành vi phạm tội theo yêu cầu họ; vật, tiền là đối tượng chứa chấp, tiêu thụ do người khác phạm tội mà có.

    Như vậy, những vật, tiền mà người phạm tội… hoặc do mua, bán, đổi chác những thứ này mà có (ý 2 điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS), chỉ là một dạng của những vật, tiền bạc mà người phạm tội do thực hiện tội phạm mà có.

    “1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản. 2. Vật chứng được xử lý như sau: a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ; b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước; c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước; d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ. 3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án. 4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.”

    Từ quy định trên có thể hiểu, CQTHTT có quyền áp dụng biện pháp xử lý vật chứng “tịch thu tiêu hủy” đối với công cụ, phương tiện phạm tội, vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành là vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được.

    Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra do nhận định sai hướng điều tra hoặc xác định không đúng mối liên hệ giữa đồ vật, tài sản của người phạm tội hay của người khác với đối tượng chứng minh mà Cơ quan Điều tra đã thu giữ tài liệu, đồ vật nào đó theo thủ tục tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án tiếp theo, CQTHTT có thẩm quyền xác định những tài sản đó không phải là vật chứng của vụ án, việc trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu đó hiện nay cũng chưa có điều luật nào quy định. Theo quan điểm của người viết, cần bổ sung quy định xử lý những loại tài sản không phải là vật chứng được thu giữ trong quá trình điều tra vào Điều 76 BLTTHS, cụ thể là bổ sung vào khoản 3 Điều 76 và được viết lại như sau: “Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp những đồ vật, tài sản không phải là vật chứng của vụ án mà đã bị thu giữ, tạm giữ; trả lại những vật chứng đó cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 của Điều này, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án”.

    Một vấn đề khác, tuy pháp luật có quy định nhưng thực tế cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, nên trong thực tiễn áp dụng còn nhiều vướng mắc, đó là, việc tranh chấp quyền sở hữu đối với vật chứng có thể xẩy ra bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng từ khi điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án. Theo quy định “trong trường hợp có sự tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”, vật chứng ở đây là những vật, tài sản không thuộc vật cấm lưu hành, không thuộc đối tượng tịch thu sung quỹ nhà nước hay tiêu hủy. Việc giải quyết đúng tranh chấp quyền sở hữu đối với vật chứng không những bảo vệ được quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của chủ sở hữu, mà còn là điều kiện để CQTHTT mà chủ yếu là HĐXX có cơ sở xử lý vật chứng đúng đắn.

    -Trường hợp hai bên mua bán trả tiền ngay tức là bên bán đã giao hàng cấm kinh doanh, lưu hành và nhận tiền hoặc vật từ bên mua thì áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS để tịch thu ở người bán với nghĩa vật, tiền do phạm tội mà có;

    -Trường hợp hai bên mua bán chịu (chưa thanh toán tiền hoặc vật ngay), nghĩa là bên bán đã giao hàng cấm nhưng bên mua chưa giao tiền hoặc vật thì áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS để tịch thu ở người mua với nghĩa là vật, tiền dùng vào việc phạm tội.

    -Đối với vật, tiền thuộc cở hữu của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép và được thu thập làm vật chứng của vụ án mà khi xét xử không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì áp dụng điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS để tịch thu sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, từ thực tiễn xét xử có những trường hợp dù xác định rõ chủ sở hữu đối với tài sản là vật chứng của vụ án bị người phạm tội chiếm đoạt, nhưng khi xét xử người bị hại không nhận lại tài sản của họ trước đó bị chiếm đoạt, do trước khi xét xử phía bên bị cáo đã bồi thường thỏa đáng giá trị tài sản là vật chứng thu được, nên Tòa án không thể áp dụng khoản 2 Điều 41 BLHS tuyên trả lại tài sản đã thu hồi được cho người bị hại, do không còn cách nào khác, buộc HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS để tịch thu sung quỹ nhà nước, nhưng cũng có nơi vẫn tuyên trả lại vật chứng cho người bị hại dù thực tế biết rõ thi hành án sẽ không thể thi hành được. Xoay quanh tình huống pháp lý vừa nêu, rõ ràng pháp luật hiện hành quy định về BPTP vẫn chưa dự liệu hết những trường hợp có thể xảy ra trong thực tiễn, chính vì lẽ đó sự vận dụng pháp luật vào thực tiễn chưa bảo đảm tính thống nhất.

    -Đối với những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành nhưng thuộc sự quản lý của cơ quan nhà nước cụ thể và bị người phạm tội chiếm đoạt thì không tịch thu sung quỹ nhà nước mà phải trả lại cho người hoặc cơ quan quản lý hợp pháp.

    3.1.2.Áp dụng biện pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 BLHS: “Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.” Với quy định này, nhà làm luật đã quy định ba chế tài được áp dụng đối với người phạm tội, đó là, “phải trả lại”; “phải sửa chữa”; “phải bồi thường”, mà theo đó, điều kiện áp dụng từng loại chế tài, cụ thể như sau:

    -Người phạm tội phải trả lại vật, tiền đã chiếm đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp khi vật, tiền đó còn nguyên và được thu giữ, quản lý trong quá trình điều tra hoặc người phạm tội đang cất giữ và không thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành.

    -Người phạm tội phải sửa chữa (khắc phục) thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra. Việc phải sửa chữa thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra được áp dụng khi vật bị thiệt hại bị hư hỏng có thể sửa chữa được. Vật đó có thể là đối tượng bị người phạm tội chiếm đoạt làm hư hỏng hoặc sử dụng trái phép vào việc phạm tội. Việc “phải sửa chữa” có thề tiến hành bằng cách người phạm tội sửa chữa trước khi trả lại người chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp hoặc trả tiền cho người bị thiệt hại chi phí việc sửa chữa.

    -Người phạm tội phải bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. Đây là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do vậy, khi áp dụng khoản 1 Điều 42 BLHS buộc người phạm tội phải bồi thường những thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra cần chú ý:

    +Việc xác định thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự(BLDS). Thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra bao gồm: Thiệt hại do tài dản bị xâm phạm; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm. Cụ thể:

    Trường hợp thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, thì các khoản bồi thường bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. Ngoài các khoản bồi thường nêu trên, người xâm phạm đến tính mạng của người khác phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án ấn định mà theo đó mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Khi buộc người phạm tội phải bồi thường thiệt hại về tính mạng bị xâm hại, Tòa án phải áp dụng đồng thời khoản 1 Điều 42 BLHS với các khoản tương ứng của Điều 610 BLDS.

    + Vì là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho nên khi áp dụng BPTP này, Tòa án phải thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại và phải tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội. Do vậy, trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thì Tòa án phải ghi nhận sự thỏa thuận đó trong phần quyết định của bản án mà không áp dụng khoản 1 Điều 42 BLHS và các điều khoản tương ứng của BLDS để buộc người phạm tội phải bồi thường.

    + Mặc dù tại khoản 1 Điều 42 BLHS chỉ quy định ” Người phạm tội phải bồi thường …” nhưng không chỉ người phạm tội phải bồi thường mà tùy từng vụ án cụ thể việc xác định trách nhiệm bồi thường được thực hiện, như sau:

    Trong các trường hợp trên, nếu người phải bồi thường thiệt hại không phải là người bị kết án thì Tòa án không áp dụng khoản 1 Điều 42 BLHS mà áp dụng các điều luật tương ứng của BLDS để buộc họ phải bồi thường thiệt hại.

    -Theo quy định tại khoản 2 Điều 42 BLHS: ” Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Thiệt hại về tinh thần của con người được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải gánh chịu những đau thương, buồn phiền, mất mát về tinh thần, giảm sút về uy tín, bị bạn bè xa lánh do hiểu nhầm,…và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ đã gánh chịu. Tuy khoản 2 Điều 42 BLHS chỉ quy định “Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần…” mà không nêu cụ thể là những tội phạm nào gây thiệt hại về tinh thần cho người bị hại, nhưng theo quan điểm của người viết, các tội xâm phạm đến tính mạng (trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt), sức khỏe, danh dự, nhân phẩm là những tội phạm gây thiệt hại về tinh thần cho người bị hại. Việc bồi thường tổn thất về tinh thần cho người bị xâm hại về sức khỏe đã được đề cập ở phần trên, do vậy, có thể hiểu thiệt hại về tinh thần mà người phạm tội phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 42 BLHS là thiệt hại về tinh thần do các tội xâm phạm đến tính mạng (trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt), danh dự, nhân phẩm gây ra cho người bị thiệt hại. Tuy là thiệt hại về tinh thần nhưng người phạm tội phải bồi thường bằng vật chất theo quy định tại Điều 611 BLDS, mà theo đó, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

    3.2. Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

    Theo quy định tại Điều 43 BLHS, có 3 trường hợp áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thuộc thẩm quyền của Tòa án như sau:

    Khi áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với các trường hợp trên cần lưu ý:

    vì điều luật chỉ quy định ” Tòa án… có thể quyết định ” nên phải hiểu người có thẩm quyền áp dụng BPTP này là Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án. Vì, khoản 2 Điều 38 BLTTHS quy định khi tiến hành giải quyết vụ án hình sự, Chánh án, Tòa án có quyền ra các quyết định và tiến hành các hoạt độgn tố tụng thuộc thẩm quyền của Tòa án và tại khoản 3 Điều 38 BLTTHS quy định khi được phân công giải quyết vụ án, Phó Chánh án Tòa án có nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật này.

    về thời gian bắt buộc chữa bệnh, tại Điều 44 BLHS quy định: “Căn cứ vào kết luận của cơ sở điều trị, nếu người bị bắt buộc chữa bệnh quy định tại Điều 43 của Bộ luật này đã khỏi bệnh, thì tuỳ theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án xét và quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.”, như vậy, khi đình chỉ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người phạm tội trong khi có năng lực TNHS nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, Tòa án khôi phục lại hoạt động tố tụng đối với họ.

    4. Áp dụng biện pháp tư pháp thay thế hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 4.1.Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

    Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là BPTP được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng. Thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm do Tòa án quyết định. Theo khoản 4 Điều 69 BLHS, thì ” Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này”, như vậy, cần phải hiểu Tòa án ở đây là Hội đồng xét xử và việc quyết định áp dụng BPTP phải được thể hiện bằng quyết định của bản án tại phiên tòa. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án không có quyền áp dụng các BPTP này. Người phạm tội được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Tòa án giao trách nhiệm.

    4.2. Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

    Đưa vào trường giáo dưỡng là BPTP áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có tính nghiêm khắc hơn so với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Luật không quy định điều kiện để Tòa án quyết định đưa người chưa thành niên phạm tội vào trường giáo dưỡng, nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 70 BLHS, Tòa án phải xem xét và quyết định có cần hay không việc đưa người chưa thành niên phạm tội vào trường giáo dưỡng, việc quyết định đưa họ vào trường giáo dưỡng phải căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và những tác động không thuận lợi từ môi trường sống của người đó.

    Thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng là từ một năm đến hai năm. Khi chấp hành được ½ thời hạn do Tòa án quyết định, nếu có nhiều tiến bộ, theo đề nghị của tổ chức, cơ quan, nhà trường được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục, tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc thời hạn ở trường giáo dưỡng. Thực tiễn xét xử có trường hợp khi thực hiện hành vi phạm tội họ chưa đủ 18 tuổi, khi xét xử chỉ còn 09 đến 12 tháng nữa là đủ tròn 18 tuổi, nên theo quan điểm của người viết, Tòa án không nên quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng với trường hợp này, vì chỉ một thời gian ngắn họ là người thành niên, mà không thể để người đã thành niên ở lại trường giáo dưỡng, vì trường giáo dưỡng là môi trường giáo dục chỉ dành riêng cho đối tượng là người chưa thành niên, do vậy, khi xét xử Tòa án cần xem xét thật kỹ độ tuổi của bị cáo để quyết định có áp dụng BPTP này hay không, thời gian có lẽ là thích hợp nhất để áp dụng BPTP này tính đền thời điểm xét xử, bị cáo ít nhất còn 24 tháng tuổi nữa mới là người thành niên. Bởi nếu như, họ đã chấp hành được ½ thời gian tại trường giáo dưỡng, nhưng thực tế không có nhiều tiến bộ, điều này đồng nghĩa với việc không thể xem xét chấm dứt thời hạn ở trường giáo dưỡng được, trong khi đó họ đã là người thành niên, mà việc họ tiếp tục ở lại trường giáo dưỡng như những người chưa thành niên là tác nhân xấu đến công tác giáo dục, cải tạo của nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thi Hành Biện Pháp Tư Pháp Bắt Buộc Chữa Bệnh
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Của Việt Nam
  • Điều 46. Các Biện Pháp Tư Pháp
  • Các Biện Pháp Phi Thuế Trong Thương Mại Thế Giới Và Khu Vực Asean
  • Luận Văn: Biện Pháp Bảo Lĩnh Trong Tố Tụng Hình Sự, Hay
  • Biện Pháp Hành Chính Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Hành Chính ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cưỡng Chế Hành Chính Là Gì? Những Hiểu Biết Pháp Luật Chuẩn Nhất
  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Và Đảm Bảo Việc Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính
  • Trình Bày Các Biện Pháp Cưỡng Chế Hành Chính Nhà Nước
  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Và Bảo Đảm Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Giải Pháp Điều Hòa Nhiệt Độ Thông Minh
  • Cách thức được quy định mà chủ thể quản Ií (tổ chức, cá nhân có thẩm quyển) sử dụng quyền lực quản lí được giao để tác động lên đối tượng quản Ií (tổ chức, cá nhân thuộc quyển quản lý) có hành vị vị phạm hành chính, buộc các đối tượng quản Ií phải thực hiện một hành vi nhất định theo ý chí của chủ thể quản lí.

    Biện pháp hành chính có đặc trưng mộnh lệnh đơn phương: 1) Quyền lực – phục tùng của cấp trên đối với cấp dưới, của chủ thể quản Ií đối với đối tượng quản lý; 2) Chỉ có tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lí hành chính mới được sử dụng biện pháp hành chính. Nội dung của các biện pháp hành chính phải được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc các điều lệ, nội quy của cơ quan, tổ chức.

    Có biện pháp hành chính công quyền – do các tổ chức, cá nhân có thẩm quyển quản lí hành chính nhà nước thực hiện và biện pháp hành chính ngoài công quyền – do tổ chức, cá nhân trong tố chức đoàn thể xã hội, đơn vị kinh tế… thực hiện.

    Biện pháp hành chính được thực hiện trong mối quan hệ hành chính giữa cấp trên với cấp dưới (trong hệ thống cơ quan quản lí nhà nước, trong hệ thống hành chính nội bộ của tổ chức), giữa cơ quan quản lí nhà nước thẩm quyền chung với cơ quan nhà nước có thẩm quyển chuyên môn; giữa cơ quan quản lí nhà nước chuyên ngành với cơ quan nhà nước khác trong lĩnh vực chuyên ngành đó; giữa cơ quan quản lí nhà nước với các tổ chức – đoàn thể xã hội; giữa cơ quan quản lí nhà nước với công dân…

    Biện pháp hành chính được bắt đầu bằng việc ban hành các quyết định quản lí, các mệnh lệnh hành chính tron đó thể hiện ý chí của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lí hành chính đối với tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng quản lí hành chính. Tiếp theo là việc đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra việc thực hiện. Và cuối cùng, trong trường hợp có vi phạm thì áp dụng các chế tài xử lí. Tuỳ tính chất, mức độ vi phạm, có thể áp dụng các chế tài xử lí kỉ luật, chế tài xử lí vi phạm hành chính; chế tài hình sự, chế tài dân sự (nếu có thiệt hại). Việc áp dụng chế tài phải đúng thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục đã được quy định.

    Biện pháp hành chính khác với một số biện pháp khác như biện pháp kinh tế (dùng các lợi ích kinh tế để tác động, điểu chỉnh hành vi), biện pháp giáo dục, thuyết phục… Trong thực tế, để bảo đảm hiệu quả quản lí, chủ thể quản lí thường hay sử dụng đan xen, kết hợp các biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp giáo dục thuyết phục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học Là Gì? Những Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học Hiện Nay
  • Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học Là Gì? Ưu Điểm, Nhược Điểm Của Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Khái Niệm Về Ẩn Dụ? Các Hình Thức Ẩn Dụ? Các Phân Biệt Ẩn Dụ Với Các Biện Pháp Khác
  • Ta Dùng Hệ Thống Cưới Tiên Nữ
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Loại Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Quy Định Hiện Nay
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Được Áp Dụng Theo Quy Định Pháp Luật
  • Thủ Tục Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Khi Giải Quyết Tranh Chấp Đất Đai?
  • Thủ Tục Ngăn Chặn Tẩu Tán Nhà Đất Do Đang Có Tranh Chấp
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính
  • Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định từ Điều 114 đến Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2021 là cơ sở pháp lý quan trọng cho Toà án trong việc quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án. So với các biện pháp khác được Tòa án áp dụng trong quá trình tố tụng dân sự, biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) có những điểm khác biệt, vừa mang tính khẩn cấp, vừa mang tính tạm thời.

    Tính khẩn cấp thể hiện ở chỗ, Tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay và quyết định này được thực hiện ngay sau khi Tòa án ra quyết định, nếu không sẽ mất hết ý nghĩa, tác dụng.

    Tính tạm thời thể hiện ở chỗ, quyết định áp dụng BPKCTT chưa phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định này.

    Điều 114 BLTTDS năm 2021 quy định các BPKCTT, bao gồm:

    Riêng với quy định ” Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định”, đây là những yêu cầu áp dụng BPKCTT hiện không được quy định trong BLTTDS năm 2021 nhưng được quy định trong các văn bản pháp luật khác thì Tòa án cũng có trách nhiệm xem xét giải quyết như yêu cầu áp dụng BPKCTT thu giữ, niêm phong… quy định tại Điều 207 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Các BPKCTT, được quy định tại khoản 1 Điều 207 Luật này, như sau:

    Các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây được áp dụng đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hoá đó:

    a) Thu giữ;

    b) Kê biên;

    c) Niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển;

    d) Cấm chuyển dịch quyền sở hữu.

    Căn cứ vào quy định cụ thể của từng BPKCTT, BLTTDS năm 2021 và Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC) năm 2021, các BPKCTT có thể được chia làm 2 loại: 1) Các BPKCTT có thể được áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng kể cả trường hợp Tòa án chưa thụ lý vụ án; 2) Các BPKCTT được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án (bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án).

    1. Các BPKCTT có thể được áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng, bao gồm:

      -Biện pháp giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

      -Biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

      -Biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.

      -Biện pháp buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

      -Biện pháp tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

      -Biện pháp cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.

      -Biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.

      -Biện pháp tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính.

    2. Các BPKCTT được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án, bao gồm

    Việc BLTTDS năm 2021 ghi nhận các BPKCTT, có ý nghĩa tích cực nhằm chống lại các hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại chứng cứ, mua chuộc người làm chứng… qua đó bảo đảm việc giải quyết đúng vụ việc dân sự, bảo toàn được tình trạng tài sản, tránh việc gây thiệt hại không thể khắc phục được, giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hành án, quyết định của Tòa án sau này. Đồng thời đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách của đương sự, tạo điều kiện cho đương sự sớm ổn định được cuộc sống của họ và những người sống phụ thuộc họ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

      Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung chính sau đây:
    • a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
    • b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
    • c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
    • d) Tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
    • đ) Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
    • e) Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể.
    • Tùy theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó.
      Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật này được giải quyết như sau:
    • a) Trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu trước khi mở phiên tòa thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của Bộ luật này thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu;

    3. Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 111 của Bộ luật này thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết.

    4. Trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 10 và khoản 11 Điều 114 của Bộ luật này thì chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.

    Điều 134. Kiến nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

    Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này kiến nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng văn bản, trong đó phải nêu rõ lý do kiến nghị; biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng; tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ; tên, địa chỉ của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tóm tắt nội dung tranh chấp, hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; chứng cứ để chứng minh cho việc kiến nghị của mình là có căn cứ và hợp pháp.

    Điều 135. Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    Điều 136. Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

      Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật này phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu.

    Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 111 của Bộ luật này thì thời hạn thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại khoản này không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu.

      Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn do Tòa án ấn định.

    Trong trường hợp thực hiện biện pháp bảo đảm vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ thì khoản tiền bảo đảm được gửi giữ tại Tòa án. Tòa án phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền đó vào ngân hàng vào ngày làm việc tiếp theo.

    Các điểm mới về thừa kế của Bộ luật dân sự 2021

    Một số điểm mới về thừa kế của Bộ luật dân sự 2021 (Phần 2)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Dân Sự
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Quy Định Hiện Nay
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự
  • Tòa Xin Lỗi “quý Bà Thành Đạt” Vì Lệnh Cấm Xuất Cảnh
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Cừ Larsen Bằng Biện Pháp Ép Tĩnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Thi Công
  • Hướng Dẫn Thi Công Tấm Alu: Uốn Cong, Cắt & Dán • Tân Đại An
  • Hiểu Rõ Hơn Về Các Phương Pháp Thi Công Tấm Ốp Tấm Alu
  • Hướng Dẫn Thi Công Trần Nhôm Austrong Chuẩn Kỹ Thuật
  • Phương Pháp Thi Công Trần Nhôm,trần Nhôm Xương Cài,trần Nhôm Astrongest,austrong
  • THUYẾT MINH BIỆN PHÁP THI CÔNG

    Hạng mục: Ép nhổ cọc cừ Larsen bằn robot Giken FT70, Giken Silent Piler KGK80-C4, Robot Giken Silent Piler KGK130-C4 hoặc đóng nhổ bằng búa rung điện.

    I. THUYẾT MINH BIỆN PHÁP THI CÔNG CỪ LARSEN BẰNG BIỆN PHÁP TĨNH

    1. Dự kiến thời gian thi công:

              – Đối với phương pháp ép cừ bằng máy tĩnh thời gian làm việc từ 6h đến 23h.

    2. Chuẩn bị:

    Hoàn thiện lắp đặt nguồn điện 380V – 125KW, atomat tối thiểu 100A và đ­ường tạm để máy, cẩu thi công; tập kết thu hồi cừ, máy móc

    – Tập kết máy ép, cẩu và vật liệu cừ Larsen về vị trí thi công.

    – Thiết bị thi công bao gồm :

              + Cẩu lốp chuyên dụng :

                       * Nhãn hiệu: Cẩu Cobelco từ 16-25 tấn hoặc cẩu Kato từ 16 đến 25 tấn.

                       * Sức Nâng: từ 16 tấn đến 25 tấn.

                       * N­ước sản xuất: Nhật bản

              + Máy ép cừ tĩnh (robot ép tĩnh)

                       * Nhán hiệu: Giken FT70, Giken Silent Piler KGK80-C4 hoặc Giken Silent Piler KGK130-C4.  

                     * Lực ép đầu cọc: Từ 70 tấn đến 130 tấn.

                       * N­ước sản xuất: Nhật bản.

                       * Nguồn điện: 380V – mô tơ 45KW.

    thuyet-minh-bien-phap-thi-cong-cu-larsen-bang-phuong-phap-ep-tinh  

    2. Thi công:

              – Chúng tôi sử dụng từ 1 đến 2 máy ép cừ thuỷ lực (Có thông số trên) để thi công công tr­ình­ bản vẽ biện pháp thi công và phần cẩu phục vụ ép cừ di chuyển trên đường tạm.

              – Do công tác thi công xây dựng xen kẽ nên chúng tôi phải bố trí nhịp nhàng để tránh việc thi công ảnh h­ưởng đến nhau dẫn đến chậm tiến độ công trình.

              – Độ thẳng đứng của cây cừ larsen có sai số trong khoảng từ 0-1% và đầu cừ nghiêng ra phía ngoài công trình. Độ thẳng đứng của cây cừ trong quá trình ép được căn chỉnh bằng máy và chúng tôi sẽ sử dụng quả rọi để xác định độ thẳng đứng của cừ.

    • Quy trình thi công đ­ược chúng tôi thể hiện tại bản vẽ quy trình biện pháp thi công t­ường cừ: (có bản vẽ chi tiết kèm theo)

    • Thi công ép:

    B­ước 1: Đặt đế vào vị trí ép đầu tiên và chất tải.

    B­ước 2: Đặt máy vào đế, cẩu cừ cho vào đầu kẹp và tiến hành ép cây cừ đầu tiên đến chiều sâu quy định.

    Bước 3: Máy ép thanh cọc cừ thứ 2 và xác định mức chịu tải của cọc.

    B­ước 4: Nâng bộ phận đầu bò của máy lên và dừng lại ở vị trí cái kẹp cọc thấp hơn đầu cọc.

    Bư­ớc 5: Sau khi ổn định nâng máy ép cọc cừ lên.

    B­ước 6: Kéo ray bàn để đẩy máy tiến về phía trư­ớc.

    B­ước 7: Điều chỉnh chân máy tương ứng với hàng cừ, để đ­ặt máy xuống cọc cừ từ từ.

    B­ước 8: Tiếp tục ép cây cừ xuống theo chiều sâu quy định.

    B­ước 9: Ép các cây cừ khác tương tự.

              – Lưu ý của phần ép là phải căn chỉnh cẩn thận để cọc không bị xiên.

    • Thi công nhổ: Phần nhổ làm ngược lại so với phần ép.

    B­ước 1: Đặt máy vào vị trí cây cuối cùng ở quá trình ép ban đầu để nhổ ngược lại.

    Bước 2: Tiến hành nhổ cây đầu tiên và xác định mức chịu tải của cọc.

    B­ước 3: Nâng thân máy lên và dừng lại ở vị trí cái kẹp cọc thấp hơn đầu cọc.

    B­ước 4: Nâng bộ phận đầu bò của máy lên và dừng lại ở vị trí cái kẹp cọc thấp hơn đầu cọc.

    Bư­ớc 5: Sau khi ổn định nâng máy ép cọc cừ lên.

    B­ước 6: Kéo ray bàn để đẩy máy tiến về phía trư­ớc.

    B­ước 7: Điều chỉnh chân máy tương ứng với hàng cừ, để đ­ặt máy xuống cọc cừ từ từ.

    B­ước 8: Tiếp tục nhổ cây cừ lên.

    B­ước 9: Nhổ các cây cừ khác tương tự.

                – Lưu ý khi rút cọc phải dùng cát và nước bơm vào để bù vào lượng hao hụt của đất sau khi nhổ cừ lên, tránh làm sạt lở, lún các công trình lân cận.

    + Khi rút quy định vị trí đứng cẩu để phục vụ rút bên thi công sẽ kết hợp cùng chủ đầu t­ư bàn bạc, nếu không thể đứng đ­ược ở phần đ­ường nội bộ và đ­ường vành đai 2 được chủ đầu t­ư phải cho phép bên thi công cho cần trục xuống sàn tầng hầm để phục vụ công tác rút cọc.

     thuyet-minh-bien-phap-thi-cong-cu-larsen-bang-phuong-phap-ep-tinh

    II. THUYẾT MINH BIỆN PHÁP THI CÔNG CỪ LARSEN BẰNG BIỆN PHÁP RUNG

    1. Dự kiến thời gian thi công:

              – Đối với ph­ương pháp đóng nhổ cừ bằng búa rung  thời gian làm việc từ 7h đến 19h.

    2. Chuẩn bị:

    Hoàn thiện lắp đặt nguồn điện 380V – 150KW, atomat tối thiểu 150A hoặc máy phát tương ứng với công suất của búa và đ­ường tạm để máy, cẩu thi công; tập kết thu hồi cừ, máy móc

    – Tập kết búa, máy phát (nếu có), cẩu và vật liệu cừ Larsen về vị trí thi công.

    – Thiết bị thi công bao gồm:  

               + Cần  trục bánh xích KH100:

                     * Nhón hiệu: HITACHI KH 100

                     * Sức Nâng: 30 tấn.

                     * N­ước sản xuất: Nhật Bản

               + Cần trục bánh xích DH350:

                     * Nhón hiệu: DH350

                     * Sức Nâng: 35 tấn.

                     * Nư­ớc sản xuất: Nhật Bản

               + Búa rung điện: TOMEN

                     * N­ước sản xuất: Nhật Bản.

     * Công suất: 17 tấn

                      * N­ước sản xuất: Nhật Bản.

               + Máy phát điện: HINO

                       * Cụng suất: 300KVA

                       * Nư­ớc sản xuất: Nhật bản          

                + Máy phát điện: MISUBISHI

                       * Cụng suất: 300KVA,

                       * N­ước sản xuất: Nhật bản

    2. Thi công:

    – Chúng tôi sử dụng 01 bộ búa rung cọc cừ larsen ( Có thông số trên ) để thi công cùng bản vẽ biện pháp thi công và phần cẩu phục vụ ép cừ di chuyển trên đ­ường tạm.

    – Quy trình thi công cọc cừ larsen bằng búa rung:

              + Tập kết cọc thiết bị: Cần trục, búa rung, máy phát về vị trí thi công.

              + Dùng móc cẩu phụ của cần trục đ­ặt cọc vào vị trí thi công.

              + Dùng móc cẩu chính của cần trục cẩu búa rung và mở kẹp búa đ­ặt vào vị trí đầu cọc để kẹp cọc.

              + Nhấc cọc đ­ặt vào vị trí cần đóng.

              + Dùng quả rọi để căn chỉnh cho cọc thẳng đứng theo 2 ph­ương.

              + Rung cọc: Dùng cẩu giữ cho cọc xuống từ từ đến chiều sâu thiết kế.

              + Rung xong cọc thứ nhất chuyển sang lấy cọc thứ 2 vào thao tác như­ cọc số 1.

              + Dùng sơn đánh dấu số thứ tự của cọc đã thi công.

    Tr­ường hợp rút cọc :   

    + Khi rút quy định vị trí đứng cẩu để phục vụ rút bên thi công sẽ kết hợp cùng chủ đầu t­ư bàn bạc, nếu không thể đứng đ­ược ở phần đ­ường nội bộ và đ­ường vành đai 2 được chủ đầu t­ư phải cho phép bên thi công cho cần trục xuống sàn tầng hầm để phục vụ công tác rút cọc.

    – Đơn vị thi công chúng tôi đề xuất: Vì thi công cọc larsen bằng búa rung nên cần trục phục vụ sẽ là cần trục xích có tải trọng lớn khó có thể đứng trên sàn của tầng hầm. Vậy để có thể rút cừ đ­ược thuận lợi đề nghị bên Chủ đầu tư­ sẽ đào,  thi công phần t­ường hầm sẽ tiến hành rút cọc rồi mới thi công tiếp phần sàn đáy tầng hầm. ( Để tránh tr­ường hợp cần trục phải di chuyển vào sàn tầng hầm gây hư­ hỏng sàn )

    3. Biện pháp an toàn:

    Trong quá trình thi công chúng tôi đặc biệt quan tâm tới vấn đề an toàn tại công tr­ường, để đạt được điều đó, chúng tôi triển khai các công việc sau:

              – Tr­ước khi thi công,  chúng tôi sẽ kiểm tra, kiểm định tất cả các máy móc thiết bị đủ và đạt tiêu chuẩn.

              – Phối hợp với chủ đầu tư và đơn vị phục trách Chuẩn bị đư­ờng để đảm bảo cho máy móc di chuyển trong quá trình thi công đ­ược an toàn.

              – Phải th­ường xuyên kiển tra các mối hàn liên kết, các bulông, xích truyền lực, puly cáp, mô tơ và hệ thống điện…

              – Chỉ đ­ược dùng khi búa đó ổn định trên cọc. Cáp treo búa thả hơi chùng.

              – Lúc đầu chỉ đ­ược phép rung với tần số thấp để khi cọc xuống ổn định rồi mới được tăng dần lực rung của búa.

              – Đóng xong một cọc khi di chuyển máy đến vị trí cọc mới phải chú ý đến nền đất tránh hiện t­ượng nền đất bị sụt, lún làm nghiêng máy, lật máy.

              – Tuyệt đối không đư­ợc đứng d­ưới đ­ường dây điện cao thế.

              – Trang bị đầy đủ bảo hộ lao động cho công nhân vận hành trên công tr­ường ( Giầy, quần áo, mũ bảo hộ….)

              – Tập huấn quy trỡnh an toàn lao động cho công nhân vận hành và thư­ờng xuyên yêu cầu cán bộ tại công trình kiểm tra, giám sát, nhắc nhở.

              – Đặt các biển bao nguy hiểm tại các vị trí cần thiết.

              – Cử ng­ười hư­ớng dẫn, xi nhan máy, phân luồng ( Nếu cần )

              – Những ng­ười không có nhiệm vụ tuyệt đối không đư­ợc vận hành những máy móc thiết bị thi công trên Công tr­ường.

              – Công nhân lao động chỉ đ­ược làm việc d­ới sự chỉ đạo của Cán bộ kỹ thuật và thợ máy.

              – Tuyệt đối cấm những ng­ười không có nhiệm vụ đi vào khu vực thi công.

    thi-cong-coc-cu-larsen-thi-cong-vang-chong-ham-chui-nut-giao-khuat-duy-tien 

    4. Nghiệm thu và hồ sơ.

              – Cử cán bộ lập Nhật ký thi công và có mặt th­ường xuyên tại công trình để theo dõi, ghi chép công việc làm hàng ngày.

              – Cuối ngày tổng hợp khối lượng cùng chủ đầu tư hoặc đại diện hay giám sát hay tổng thầu ký.

              – Trong trư­ờng hợp xảy ra trục trặc, sự cố thỡ phải báo cáo t­ư vấn và cùng t­ư vấn giám sát lập biên bản hiện tr­ường.

    – Quý khách có nhu cầu mua cừ, thuê cừ, thuê thi công, thi công văng chống, thuê H300, thuê máy ép cừ, hay mua máy hãy liên hệ với công ty chúng tôi.

    Liên hệ: Mr.Kiên – 0979.352.258

    Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

    Website: www.xaydungdichvu.com

    Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Thi Công Cừ Larsen Hiệu Quả Trong Công Trình Xây Dựng
  • Biện Pháp Xây Dựng Nhà Xưởng Bằng Nhà Thép Tiền Chế
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Nhà Xưởng Thép
  • Hướng Dẫn Thi Công Trần Thạch Cao Chìm Phẳng
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Biện Pháp Thi Công Trần Thạch Cao Khung Nổi
  • Biện Pháp Ngăn Chặn Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Ngăn Chặn ?

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Hacker Là Gì ? Biện Pháp Ngăn Chặn Được Hacker
  • Nói Quá Là Gì, Cho Ví Dụ Biện Pháp Nói Quá Lớp 8
  • Nói Quá Là Gì? Tìm Hiểu Về Nói Quá Là Gì?
  • Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, để ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

    Biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự gồm: bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm. Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, những biện pháp bắt người, tạm giữ, tạm giam được quy định trong Luật số 103-SL/L.005 ngày 20.5.1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân. Luật này không quy định các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đăt tiền hoặc tài sản để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn, còn các trường hợp phạm pháp quả tang và trường hợp khẩn cấp được quy định cụ thể trong Sắc luật số 002-SLt ngày 18.6.1957. Trong một thời gian dài, áp dụng các văn bản pháp luật trên đã giúp cho việc đấu tranh chống tội phạm đạt kết quả. Tuy chưa quy định thật đầy đủ các biện pháp ngăn chặn nhưng các văn bản pháp luật trên vẫn là cơ sở đầu tiên để xây dựng và hoàn thiện các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988.

    Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn gồm: để kịp thời ngăn chặn tội phạm; khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội; khi cần để bảo đảm thi hành án (Điều 79).

    Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn phải do người có thẩm quyền quyết định (trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã) và bảo đảm đúng các thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Khi tiến hành tố tụng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án trong phạm vi trách nhiệm của mình phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác (Xf. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn).

    Thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn bảo đảm cho việc giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi; bảo đảm dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Biện Pháp Tương Phản, Đối Lập
  • Thủ Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Trong Truyện Kiều
  • Ước Lệ Trong Nghệ Thuật
  • Thủ Pháp Ước Lệ Trong Nghệ Thuật Là Gì?
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?
  • Liệt Kê Là Gì? Tác Dụng Của Liệt Kê
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 7
  • Số lượt đọc bài viết: 44.470

    Mục đích của biện pháp so sánh là gì? So sánh giúp làm nổi bật một khía cạnh nào đó của sự vật và sự việc, qua đó nhấn mạnh đến ý tưởng và mục đích của người nói, người viết.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh

    Phân tích ví dụ: Đôi mắt trong vắt như nước mùa thu

    Dựa vào ví dụ trên có thể thấy rằng, cấu tạo của một câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh bao gồm: vế được so sánh và vế để so sánh. Giữa hai vế so sánh thường có dấu câu hoặc từ so sánh. Một số từ so sánh là: như, tựa như, như là, giống như, bao nhiêu…bấy nhiêu.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh là gì? Đặc điểm của biện pháp so sánh như nào? – Để phân biệt trong câu có sử dụng biện pháp so sánh hay không, cần dựa vào các căn cứ:

    Các kiểu so sánh thường gặp

    Ví dụ: Ngôi nhà to lớn như một tòa lâu đài

    Mái tóc như chổi lông gà

    Cảnh bình minh tựa như như bức tranh mùa xuân

    Ví dụ: Đứa trẻ tươi tắn như một nụ hoa chớm nở

    Mẹ em như là một bảo bối thần kỳ

    Cậu thanh niên giống như một ngọn núi sừng sững

    Thân em như tấm lụa đào

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát

    Cánh đồng lúa vàng ươm như một dải lụa

    Các ngón tay tròn đầy như là nải chuối

    Ví dụ: Tiếng chim trong như tiếng sáo

    Tiếng hát thánh thót như tiếng họa mi

    Tiếng trống dồn vang như tiếng sấm

    Ví dụ: Điệu múa của vũ công tựa như một con thiên nga đang xòe cánh

    Con sóc chạy nhanh như bay

    Các hình thức trong biện pháp so sánh

    Từ định nghĩa biện pháp so sánh là gì, dấu hiệu của so sánh và các kiểu so sánh, chúng ta cũng cần nắm được các hình thức được sử dụng trong biện pháp so sánh. Dựa theo mức độ so sánh, có thể phân thành:

    • So sánh ngang bằng: thường chứa các từ: như, giống như, tựa như. Ví dụ: Môi đỏ như son, da trắng như tuyết, tóc đen như gỗ mun; Lông con mèo giống như một cục bông gòn trắng xóa.
    • So sánh không ngang bằng: không bằng, chẳng bằng, hơn… Ví dụ: “Những ngôi sao thức ngoài kia/Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”

    Dựa vào đối tượng so sánh, có thể phân thành:

    • So sánh giữa các đối tượng cùng loại: Ví dụ: Cô giáo em như là người mẹ
    • So sánh giữa các đối tượng khác loại: Ví dụ: Lông con mèo như một cục bông gòn
    • So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng: Ví dụ: Thân em như quả ấu gai
    • So sánh cái trừu tượng với cái cụ thể: Ví dụ: Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 24 Câu 1: SGK lớp 6 tập 2 trang 25 Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Luyện tập về biện pháp so sánh

    Câu 1 + 2 SGK lớp 6 tập 2 trang 24:

      a) Hình ảnh so sánh được thể hiện qua:
      b) Sự vật được so sánh:
      c) Giữa các sự vật so sánh có nét giống nhau:
      d) Tác dụng của biện pháp so sánh: làm nổi bật cái được nói đến, làm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt

    • Khoẻ như voi, khỏe như hổ
    • Đen như mực, đen như cột nhà cháy
    • Trắng như bông, trắng như tuyết
    • Cao như núi, cao như cây sào

    Câu 3: SGK lớp 6 tập 2 trang 25: Tìm câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh:

    Trong bài “Bài học đường đời đầu tiên”

    • Những ngọn cỏ…., y như có nhát dao vừa lia qua
    • Hai cái răng ….. như hai lưỡi liềm máy làm việc.
    • Cái chàng Dế Choắt….. như một gã nghiện thuốc phiện.
    • Đã thanh niên rồi …… như người cởi trần mặc áo ghi-lê.
    • Đến khi định thần lại……., như sắp đánh nhau.
    • Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

    Trong bài “Sông nước Cà Mau”

    • Càng đổ dần …….như mạng nhện.
    • … ở đó tụ tập …..như những đám mây nhỏ.
    • … cá nước bơi hàng đàn ….. như người bơi ếch .
    • … trông hai bên bờ, rừng đước …. như hai dãy trường thành vô tận
    • Những ngôi nhà ……như những khu phố nổi.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu
  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • Các Biện Pháp Tránh Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Gia Mỹ Xếp Hạng Những Cách Tránh Thai Hiệu Quả Nhất
  • Mắc Bệnh Tim Mạch, U Xơ Tử Cung Có Được Cấy Que Tránh Thai?
  • 4 Biện Pháp Tránh Thai Cho Phụ Nữ Có U Xơ Tử Cung
  • Biện Pháp Ngừa Thai An Toàn Hiệu Quả
  • 12 Cách Phòng Tránh Thai Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
    • Sử dụng bao cao su là phương pháp tránh thai an toàn và có hiệu quả tránh thai cao. Ngoài ra sử dụng bao quan hệ an toàn còn bảo vệ lây nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục.
    • Bao cao su là một bao mỏng làm bằng cao su nhân tạo được lồng vào dương vật đã cương cứng như một hàng rào bảo vệ ngăn không cho tinh trùng vào trong âm đạo và gặp trứng.
    • Một số người gặp tình trạng dị ứng bao cao su.
    • Khó kiểm soát trường hợp rách hoặc thủng bao cao su.

    2). Đặt vòng tránh thai (dụng cụ tránh thai, dụng cụ tử cung)

    * Ưu điểm: Vòng tránh thai có dạng chữ T đóng vai trò như một vật cản được đặt vào trong tử cung của người phụ nữ giúp ngăn chặn sự bám và làm tổ của trứng đã thụ tinh bằng cách chiếm chỗ trong buồng tử cung.

    – Có thể gây tăng tiết dịch âm đạo, gây viêm không có vi khuẩn trong tử cung.

    – Tăng nguy cơ viêm nhiễm phụ khoa.

    – Làm lượng máu kinh trong mỗi chu kì ra ngiều hơn,

    – Tùy cơ địa mỗi người, có người tử cung thấp hoặc tiền sử tuột vòng tránh thai nhiều lần…

    3). Tính ngày an toàn trong chu kỳ kinh nguyệt:

    • Tùy vào cơ địa mỗi người và yếu tố khách quan khác như tâm lý, chế độ ăn uống, sinh hoạt mà một chu kì kinh nguyệt của phu nữ thường kéo dài từ 28 – 35 ngày. Mỗi tháng trứng thường rụng vào ngày thứ 14 của chu kì kinh nguyệt tiếp theo, trứng sau khi phóng ra sẽ sống trong ống dẫn trứng 1 – 2 ngày để đợi thụ tinh, tinh trùng có thể sống trong cơ quan sinh dục của người phụ nữ từ 2 – 3 ngày, vậy nên thời điểm trước và sau khi trứng rụng vài ngày khả năng thụ thai là rất dễ.
    • Quan hệ trước và sau kì kinh 1 tuần thì tỷ lệ an toàn rất cao, đặc biệt tránh thời gian trứng rụng trước và sau 3 – 4 ngày.
    • Nhược điểm: Chỉ áp dụng cho những bạn có chu kì kinh nguyệt đều đặn hàng tháng

    4). Xuất tinh ngoài âm đạo

    • Ưu điểm: Đây là phương pháp tránh thia tự nhiên khá hiệu quả với tỷ lệ mang thai từ 3 – 4%, trong đó người đàn ông rút dương vật ra khỏi âm đạo người phụ nữ trước khi xuất tinh và bắn tinh dịch ra ngoài.
    • Nhược điểm: Không tạo được thăng hoa trong quan hệ vợ chồng do cảm xúc bị ức chế. Nếu người đàn ông không kịp kiểm soát được thì những giọt tinh dịch đầu tiên vẫn có thể mang tinh trùng vào âm đạo của người phụ nữ nên vẫn có khả năng có thai.

    5). Sử dụng thuốc tránh thai

    Hiện nay có 2 loại thuốc tránh thai, tránh thai khẩn cấp và thuốc tránh thai hàng ngày.

    Thuốc tránh thai khẩn cấp có 2 loại là thuốc tránh thai sử dụng sau quan hệ 24 giờ và 72 giờ.

    Thuốc tránh thai hàng ngày có 2 loại là loại 21 viên và 28 viên. Ngày nào cũng sử dụng vào một giờ nhất định

    • Ưu điểm: giúp bạn phòng tránh thai ngoài ý muốn, điều hòa kinh nguyệt
    • Nhược điểm: Một số phụ nữ có thể gặp các triệu chứng rỉ máu, căng tức ngực, buồn nôn, tăng cân và suy giảm ham muốn tình dục khi dùng thuốc.

    6). Bao cao su cho nữ

    Bao cao su của nữ được làm từ nhựa mềm hoặc chất đàn hồi Polyurethane, có thể tránh được các bệnh lây nhiễm tình dục và ngăn tinh trùng tiếp xúc với trứng rụng. Nó được chèn sâu vào âm đạo, qua cổ tử cung, gần giống với màng chắn. Khác với ‘áo mưa’ của nam, bao cao su nữ có thể được đặt trong âm hộ 8 tiếng trước khi quan hệ.

    7 ). Miếng dán tránh thai

    Miếng dán tránh thai cũng được xem là một dòng trong những loại thuốc tránh thai tiên tiến. Miếng dán thiết kế giống hình con tem, được dán lên vùng da khô như bụng, bắp tay, bả vai, nó giúp tiết hoóc-môn qua da và có tác dụng ngừa thai như viên uống. Suốt thời gian dùng miếng dán tránh thai, kinh nguyệt của bạn vẫn diễn ra đều đặn như bình thường Tác dụng phụ: Bạn sẽ gặp một số tác dụng phụ tương tự như uống thuốc. Vùng da đặt miếng dán sẽ hơi bị ửng đỏ. Cách dán: Dán vào một ngày cố định. Ví dụ: Bạn dán miếng dán vào ngày thứ 2 tuần đầu tiên, đến thức 2 tuần sau, bạn thay miếng dán tránh thai kế tiếp. Sử dụng miếng dán ba tuần thì nghỉ một tuần. Miếng dán được thiết kế khá chắc với độ bám dính cao nên bạn không lo bị rớt ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tránh Thai Cho Phụ Nữ Sau Khi Sinh Con
  • Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Cho Nữ Giới
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Cho Nữ
  • Tận Hưởng Trọn Vẹn Thăng Hoa Với 4 Biện Pháp Tránh Thai Khi Cho Con Bú Này
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Trong Thời Gian Cho Con Bú
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100