Bài Soạn Văn 7: Sài Gòn Tôi Yêu

--- Bài mới hơn ---

  • 4 Biện Pháp Tu Từ Cơ Bản Cần Nhớ Khi Học Môn Ngữ Văn
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Chị Em Thúy Kiều
  • Nghệ Thuật Tả Người Trong Chị Em Thúy Kiều Của Nguyễn Du
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đoạn Trích “chị Em Thuý Kiều” (“truyện Kiều”
  • Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài ( Tỏ Lòng ) Của Phạm Ngũ Lão
    • Mùa xuân của tôi – Vũ Bằng (Trích Thương nhớ mười hai)

    Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ li ti giơ tay vẫy vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh.

    Đã thấy xuân về với gió đông.

    Với trên màu má gái chưa chồng

    Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm

    Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong.

    Từng đàn con trẻ chạy xun xoe

    Mưa tạnh trời quang nắng mới hoe

    Lá nõn nhành non ai tráng bạc

    Gió về từng trận gió bay đi

    Thong thả dân gian nghỉ việc đồng

    Lúa thì con gái mượt như nhung

    Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng

    Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng.

    Trên đường cát mịn một đôi cô

    Yếm đỏ khăn thâm trảy hội chùa

    Gậy trúc giắt bà già tóc bạc

    Lần lần tràng hạt niệm nam vô.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Văn Bản Sài Gòn Tôi Yêu Của Minh Hương
  • Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu)
  • Phân Tích Tác Phẩm Tôi Yêu Em
  • Giáo Án Bài Tôi Yêu Em
  • Phân Tích Văn Bản Sài Gòn Tôi Yêu Của Minh Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Soạn Văn 7: Sài Gòn Tôi Yêu
  • 4 Biện Pháp Tu Từ Cơ Bản Cần Nhớ Khi Học Môn Ngữ Văn
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Chị Em Thúy Kiều
  • Nghệ Thuật Tả Người Trong Chị Em Thúy Kiều Của Nguyễn Du
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đoạn Trích “chị Em Thuý Kiều” (“truyện Kiều”
  • Phân tích Ngữ văn lớp 7 bài Sài Gòn tôi yêu

    Phân tích văn bản Sài Gòn tôi yêu

    Phân tích văn bản Sài Gòn tôi yêu của Minh Hương được VnDoc sưu tầm, hy vọng tài liệu này sẽ giúp quý thầy cô và các em học sinh sẽ có thêm nhiều tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập. Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong chương trình giáo dục phổ thông. HƯỚNG DẪN

    1. Văn bản Sài Gòn tôi yêu được viết theo thể tuỳ bút. Trong văn bản này, Minh Hương lại miêu tả những nét riêng tạo nên phong cách và vẻ đẹp của một thành phố

    Bài văn được viết khá linh hoạt, đan xen những câu ngắn, câu dài, có khi sử dụng kết cấu trùng điệp: “Tôi yêu trong nắng sớm…”, “Tôi yêu thời tiết trái chứng,..” “Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn”,…

    2. Bài văn được triển khai theo các ý:

    – Những cảm nhận chung và tình yêu của tác giả đối với Sài Gòn (từ đầu đến “tông chi họ hàng”).

    – Khẳng định tình yêu thắm thiết của tác giả đối với thành phố (từ “Vậy đó mà” đến hết).

    Trong đoạn mở đầu, tác giả thể hiện những nét riêng của thiên nhiên và khí hậu Sài Gòn bằng một giọng văn đặc biệt. Không phải là những phép thống kê hay đặc tả đơn thuần, mà bằng một giọng văn biểu cảm linh hoạt và nồng nhiệt khác thường: “Tôi yêu Sài Gòn da diết…”, “Tôi yêu trong nắng sớm…”, “Tôi yêu thời tiết trái chứng…”, “Tôi yêu cả đêm khuya…”, “Tôi yêu phố phường náo động…”, “Yêu cả cái tĩnh lặng…”. Tình yêu đó gắn liền với từng biến thái của thiên nhiên (nắng sớm – một thứ nắng ngọt ngào, chiều lộng gió nhớ thương, trời ui ui buồn bã, trong vắt như thuỷ tinh), tình yêu đó gắn liền với mỗi sinh hoạt thường ngày (đêm khuya thưa thớt tiếng ồn, phố phường náo động, dập dìu xe cộ) cho nên, dẫu tác giả có viết: “Nếu cho là cường điệu”, thì mỗi câu vấn vẫn cứ bộc lộ một trạng thái tình cảm rất đỗi chân thành của tác giả.

    Trong bài văn, tác giả đã sử đụng một loạt so sánh. Ban đầu là so sánh giữa một phạm trù vô hạn với một phạm trù hữu hạn (“Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già”) và tiếp đó là so sánh về lịch sử hình thành và phát triển (“Ba trăm năm so với năm ngàn năm của Đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán”). Với cảm hứng dạt dào trước một vùng đất trẻ trung, tác giả viết tiếp: “Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu, chăm bón, trân trọng giữ gìn cái đô thị ngọc ngà này”. Lời văn biểu cảm lôi cuốn, mạch suy nghĩ của tác giả đan xen nhuần nhuyễn đưa người đọc đến với những ấn tượng sâu sắc về thiên nhiên, khí hậu, nhịp sống và sinh hoạt của thành phố, đặc điểm cư dân và phong cách con người Sài Gòn.

    Thể hiện về phong cách của người Sài Gòn, tác giả đã đưa tới một cách nhìn rất riêng: “ở trên đất này, không có người Bắc, không có người Trung, người Nam, người Hoa, người Khơ-me… mà chỉ toàn người Sài Gòn cả”. Sài Gòn – nơi tụ hội và hoà hợp của bốn phương, không phân biệt nguồn gốc. Chính cách nhìn nhận này là điểm tựa để tác giả khái quát: “Sài Gòn bao giờ cũng dang hai cánh tay mở rộng mà đón nhiều người từ trăm nẻo đất nước kéo đến”. Bằng sự từng trải của mình, tác giả nhận xét: Tự nhiên, bộc trực, mạnh bạo, cởi mở và dễ gần là những nét tính cách nổi bật của người Sài Gòn. Đặc biệt, cách ăn mặc, ứng xử của các cô gái Sài Gòn được tác giả tái hiện khá tỉ mỉ, với những lời bình tinh tế. Những nét tính cách đẹp đẽ ấy của người Sài Gòn không chỉ biểu hiện trong đời sông hằng ngày mà đã thử thách qua thời gian.

    Đoạn văn cuối là một khái quát sâu sắc, có tác dụng làm tăng tính thuyết phục cho bài văn; nó gợi lên trong mỗi người đọc về một tình yêu cụ thể đối với đất nước, quê hương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu)
  • Phân Tích Tác Phẩm Tôi Yêu Em
  • Giáo Án Bài Tôi Yêu Em
  • Soạn Bài Tôi Yêu Em ( Puskin )
  • Tìm Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Từ Ấy Trong Tôi Bừng Nắng Hạ…

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ: Từ Ấy (Tố Hữu
  • Viết Một Đoạn Văn Chủ Đề Quê Hương Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ
  • Viết Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Lòng yêu thương là sự đồng cảm, chia sẻ, gắn bó, thấu hiểu… giữa con người với con người. Đó là một trong những phẩm chất cao đẹp của con người. Lòng yêu thương có sự biểu hiện rất đa dạng và phong phú trong cuộc sống. Chẳng hạn như đó có thể là sự cảm thương, quan tâm, giúp đỡ những người có cảnh ngộ bất hạnh, khó khăn trong cuộc sống; hoặc yêu mến và trân trọng những người có phẩm chất, tình cảm cao đẹp;…

    Lòng yêu thương còn là động lực thúc đẩy ta hoàn công việc tốt hơn, có hiệu quả cao hơn. Đó là kết quả có được khi chúng ta biết sống vì người khác. Ngoài ra, nhờ lòng yêu thương, mọi người sẽ cùng nhau đoàn kết tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để động viên nhau cùng nhau vượt qua gian khổ, thử thách, xóa tan những hận thù và cảm hóa được cả những con người lầm lỗi. Nhờ có lòng yêu thương, sự trợ giúp lẫn nhau mà những tai họa do con người hay thiên nhiên gây ra mau chóng được khắc phục, những mảnh đời bất hạnh tìm thấy niềm vui sống, những con người có ước mơ, hoài bão lớn nhưng không có điều kiện thực hiện đã nhanh chóng đạt được điều mình ao ước…

    Bên cạnh đó, khi chúng ta biết sống yêu thương người khác và nhận được tình yêu thương thì tâm hồn chúng ta sẽ được bồi đắp trở nên trong sáng, cao đẹp hơn. Niềm tin vào con người và cuộc sống vì thế mà sẽ được củng cố, vun vén.

    Với những ý nghĩa trên, lòng yêu thương cần phải được nhân rộng và trân quý, ca ngợi trong cuộc sống hôm nay. Mỗi chúng ta cần phải sống có lòng yêu thương với tất cả mọi người, sẵn sàng chia sẻ, cảm thông, giúp đỡ người khác. Song song đó, chúng ta cũng cần phải lên án lối sống thiếu tình yêu thương, ích kỉ, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, và thẳng thắn phê phán những kẻ lợi dụng tình thương để thể hiện những ý đồ đen tối, để tự đánh bóng tên tuổi mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Tiên Trong Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh
  • Xác Định Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Bỗng Nhận Ra Hương Ổi…sang Thu
  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Và Dấu Hiệu Đặc Sắc Trong Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ “sang Thu”
  • Các Dạng Đề Bài Thơ: Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ (Thanh Hải)
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Từ Ấy

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Từ Ấy
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Của Câu Thơ Sau: Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan…nắng Tràn(Tố Hữu)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)
  • Một Số Biện Pháp Tu Từ Hay
  • Nêu biện pháp tu từ trong khổ 2 bài thơ Từ ấy của Tố Hữu, chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong khổ thơ thứ 2 của Từ ấy

    Câu hỏi: Chỉ ra và nêu tác dụng nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ thứ 2 trong bài Từ ấy – Tố Hữu.

    Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người.

    Biện pháp tu từ trong khổ 2 bài Từ ấy

    “Tôi buộc lòng tôi với mọi người

    Để tình trang trải khặp muôn nơi

    Để hồn tôi với bao hồn khổ

    Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

    – Động từ “buộc”, “trang trải”: những hành động có tính tự nguyện .

    “Buộc” ở đây không hề có nghĩa là bắt buộc, miễn cưỡng mà là tự rằng buộc, gắn bó tự giác, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam

    “Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu.

    “Để tình trang trải với trăm nơi”

    – Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, “trang trải”-“trăm nơi” biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.

    – “Bao hồn khổ”: tầng lớp đáng thương nhất trong xã hội đương thời, “để” gợi lên ý thơ chủ động sự gắn kết lòng mình với mọi người hòa làm một, chứa đựng nỗi thương xót tột cùng và sự đồng cảm sâu sắc đối với “đại gia đình” đang trong cảnh lầm than.

    -“Khối đời”: hình ảnh ẩn dụ trừu tượng, thể hiện một khái niệm cuộc sống bao quát, gộp chung, không thể nhìn, cân đong đo đếm, nhưng lại gói ghém thành một sức mạnh phi thường, cụ thể hóa phi vật thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Liệt Kê Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Từ Ấy

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Ra Và Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Của Câu Thơ Sau: Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan…nắng Tràn(Tố Hữu)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)
  • Một Số Biện Pháp Tu Từ Hay
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Nêu biện pháp tu từ trong khổ 3 bài thơ Từ ấy của Tố Hữu, chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong khổ thơ cuối bài Từ ấy

    Câu hỏi: Chỉ ra và nêu tác dụng của nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ cuối trong bài thơ Từ ấy – Tố Hữu.

    Biện pháp tu từ trong khổ 3 bài Từ ấy

    “Tôi đã là con của vạn nhà

    Là em của vạn kiếp phôi pha

    Là anh của vạn đầu em nhỏ

    Không áo cơm ,cù bất cù bơ.”

    – “đã là”, “là con”,”là em”, “là anh”: tình cảm đầm ấm ,thân thiết, gắn bó và gần gũi

    – Đối tượng :”vạn nhà “, “vạn kiếp phôi pha”, “vạn đầu em nhỏ”

    Số từ ước lệ “vạn” nhằm nhấn mạnh, khẳng định tình cảm gia đình nồng ấm, thân thiết, nhà tơ thể hiện và cảm nhận sâu sắc mối quan hệ giữa bản thân và quần chúng lao khổ, những kiếp sống mòn mỏi đáng thương, những mái đầu trẻ thơ tội nghiệp không nơi nương tựa.

    – Điệp từ “là” gắn với những đại từ quan hệ thân thuộc, trìu mến, một mặt thể hiện mối quan hệ tự nhiên mà gắn bó sâu sắc, mặt khác ngầm khẳng định nhiệm vụ, vai trò lớn lao của người thanh niên đối với cộng đồng, xã hội .

    – “Cù bất cù bơ”: tính từ khá mới lạ nhưng người đọc vẫn cảm nhận được hòan cảnh nay đây mai đó, bơ vơ không chỉ riêng tác giả, mà còn dựng lên được cuộc sống mỏng manh của hầu hết đồng bào đang trong đói khổ.

    Sự chuyển biến trong tâm trạng của Tố Hữu: tấm lòng đồng cảm, xót thương đối với mọi người lao khổ. Qua đó còn thể hiện lòng căm giận của nhà thơ trước bao bất công ngang trái của cuộc đời cũ. Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh, nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người “than bụi, lầy bùn” là lực lượng tiếp nối của “vạn kiếp phôi pha”, là lực lượng ngày mai lớn mạnh của “vạn đầu em nhỏ”,để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng. Điệp từ “là” được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này.

    Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, “Từ ấy” đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Từ Ấy
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Liệt Kê Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • Bài Thơ Tôi Yêu Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả, Tác Phẩm
  • ✅ Văn Mẫu: Tôi Yêu Em (Pu
  • Hội Nữ Hộ Sinh Việt Nam
  • Cách Tránh Thai Ngoài Ý Muốn Ở Tuổi Teen
  • Giáo Dục Giới Tính Tuổi Dậy Thì: Ba Mẹ Hãy Vẽ Đường Cho Con Chạy Đúng!
  • Bài thơ: Tôi yêu em (A.X.Pu-Skin)

    Bài giảng: Tôi yêu em – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

    Nội dung bài thơ Tôi yêu em

    I. Đôi nét về tác giả (A.X.Pu-Skin)

    – A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (1799-1837) là Mặt trời của thi ca Nga

    – Xuất thân trong một gia đình đại quý tộc lâu đời ít nhiều đã sa sút ở Mát-xcơ-va

    – Sớm có khát vọng tự do vì say mê cái đẹp. từ nhỏ đã làm thơ, năm 14,15 tuổi được đánh giá là thiên tài thi ca

    – Là người căm ghét bạo lực, cường quyền, trung thành với lí tưởng tự do, bác ái

    – Các tác phẩm chính:

    + tiểu thuyết bằng thơ: Ép-ghê-nhi Ô-nhê-ghin

    + trường ca: Ru-xlan và Li-út-mi-la, Người tù Cáp-ca-dơ

    + truyện ngắn: Cô tiểu thư nông dân, Con đầm pích

    – Đặc điểm sáng tác:

    + thể hiện tuyệt đẹp tâm hồn nhân dân Nga khao khát tự do và tình yêu

    + là tiếng nói Nga trong sáng, thuần khiết, thể hiện cuộc sống một cách giản dị, chân thực

    II. Đôi nét về tác phẩm Tôi yêu em (A.X.Pu-Skin)

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    – Bài thơ sáng tác năm 1829, sau một lần nhà thơ tỏ tình và bị khước từ

    2. Bố cục

    – Phần 1 (4 dòng thơ đầu): những mâu thuẫn giằng xé trong tâm hồn nhà thơ

    – Phần 2 (2 dòng thơ tiếp): khổ đau và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình

    – Phần 3 (còn lại): sự cao thượng, chân thành trong tình yêu của thi sĩ

    3. Giá trị nội dung

    – Bài thơ thấm đượm nỗi buồn của mối tình vô vọng, nhưng là nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đương chân thành, mãnh liệt, nhân hậu, vị tha

    4. Giá trị nghệ thuật

    – Lời giãi bày thể hiện qua ngôn từ giản dị mà tinh tế

    III. Dàn ý phân tích Tôi yêu em (A.X.Pu-Skin)

    1. Những mâu thuẫn giằng xé trong tâm trạng nhà thơ

    – Điệp khúc tôi yêu em xuất hiện ở bên câu thơ đầu thể hiện cảm xúc bị kìm nén, dè dặt, bị lí trí chi phối.

    – Cụm từ tôi yêu em bộc lộ trực tiếp một tình yêu chân thành

    – Sự bày tỏ dè dặt qua cách dùng từ có lẽ, chưa tắt hẳn nhưng bên trong vẫn thể hiện một tình yêu âm ỉ, dai dẳng: Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai

    – Vẫn mãi yêu em nhưng dường như nhà thơ đã nhận thức được tình yêu đơn phương của mình sẽ làm cho người mình yêu băn khoăn, u hoài. Vì vậy trong lí trí, tác giả muốn dập tắt ngọn lửa tình yêu để trả lại sự yên tĩnh, thanh thản trong tâm hồn người mình yêu

    Nhưng không để em bận lòng thêm nữa

    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài

    2. Khổ đau và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình

    – Điệp khúc tôi yêu em lại lần nữa xuất hiện thể hiện sự chuyển đổi đột ngột, tuôn trào của cảm xúc không còn nghe theo sự điều kiển của lí trí nữa

    – Những từ lúc, khi diễn tả những trạng thái tình yêu biến đổi đa dạng nhưng rất đỗi bình thường. Mặc dù tình yêu của tôi là không hi vọng không âm thầm đơn phương nhưng nó vẫn mang đầy đủ sắc thái tâm trạng của một người đang yêu: muốn bày tỏ nhưng lại rụt rè, e ngại bị khước từ; thấy người mình yêu ở bên ai đó cũng ghen tuông, đau khổ

    ⇒ Bề ngoài lí trí thì cứng cỏi nhưng trong chiều sâu tâm trạng vẫn rất yêu em

    3. Sự cao thượng, chân thành trong tình yêu của nhân vật trữ tình

    – Điệp khúc tôi yêu em, yêu lặp lại lần thứ ba thể hiện sự tuôn trào của cảm xúc muốn bộc bạch cho hết sự chân thành, đằm thắm của tình yêu tôi dành cho em, tình yêu ấy không bao giờ lụi tắt mặc dù vì người yêu tác giả sẵn sàng rút lui

    – Rút lui khi ngọn lửa tình vẫn âm ỉ nhưng vẫn cầu mong người mình yêu gặp được người khác yêu thương em như tôi đã từng yêu em vậy⇒ quả là nhân hậu, cao thượng

    – Hai câu kết hàm chứa thật nhiều ý vị:

    + khi yêu người ta thường ích kỉ, yêu càng sâu đậm thì khi chia tay càng hậm hực, nhỏ nhen, hận thù

    + Pu-skin đã vượt qua thói ích kỉ tầm thường ấy bằng một cách ứng xử rất đẹp: yêu là trân trọng người mình yêu, mong muốn người mình yêu được hạnh phúc

    ⇒ Lời giã biệt cho mối tình không thành nhưng vẫn tràn ngập yêu thương, không một chút hận thù mà chứa chan lời cầu mong đầy tính nhân văn

    4. Nghệ thuật

    – Nghệ thuật điệp từ tôi yêu em, yêu được sử dụng vô cùng thành công

    – Nhịp thơ khi ngập ngừng sâu lắng diễn tả đau đớn thổn thức trong trái tim thi sĩ, khi mãnh liệt trào dâng trong cảm xúc yêu đương nồng cháy

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    tac-gia-tac-pham-lop-11.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghệ Thuật Miêu Tả Trong Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân. Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du .
  • Phân Tích Bút Pháp Nghệ Thuật Của Nguyễn Du Qua Đoạn Trích “cảnh Ngày Xuân”
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Và Tác Dụng Trong Đoạn Thơ Tả Bức Tranh Xuân Trong “cảnh Ngày Xuân “
  • Phân Tích Nghệ Thuật Miêu Tả Thiên Nhiên Trong Cảnh Ngày Xuân
  • Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Chiều Tối
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • Đồng Chí (Đầy Đủ) Dong Chi Ppt
  • Bài Thơ: Đồng Chí (Chính Hữu
  • Xác Định Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Gần Mực Thì Đen, Gần Đèn Thì Sáng
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Gần Mực Thì Đen Gần Đèn Thì Sáng
  • Biện pháp tu từ trong 7 câu thơ đầu (khổ 1) bài Đồng Chí

    Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

    Ngay từ những câu thơ mở đầu, tác giả đã lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của anh và tôi – của những người lính Cách mạng:

    “Quê hương tôi nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

    + Phép tương đối: hoàn cảnh sống, xuất thân của hai người lính

    + Thành ngữ “nước mặn đồng chua”, hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”

    + Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện

    Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu:

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

    – Điệp ngữ: kề vai sát cánh, gắn bó keo sơn

    – “Đồng chí” – câu thơ chỉ có 2 tiếng kết hợp với dấu chấm than như một tiếng gọi thốt lên từ tận đáy lòng với bao tình cảm. Hai tiếng “Đồng chí” ngắn gọn nhưng không khô khan, nó là tình người, tình đồng đội, tình tri kỉ.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 2) bài Đồng Chí

    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

    – Hình ảnh “gian nhà không” kết hợp với từ láy “lung lay” ở cuối câu thơ giúp ta cảm nhận được sự trống trải, khó khăn của một gia đình vắng người trụ cột. Người lính cũng hiểu điều đó, lòng anh cũng lưu luyến muốn ở lại.

    – Hai chữ “mặc kệ” đã thể hiện thái độ lên đường thật rõ ràng, dứt khoát. Đây không phải là sự phó mặc, mà theo ngôn ngữ của người lính chỉ là một sự hoãn lại, đợi chờ cách mạng thành công.

    – Hình ảnh ẩn dụ “giếng nước gốc đa” thường được sử dụng trong ca dao để nói về quê hương làng xóm. Nhà thơ đã vận dụng tài tình chi tiết ấy, kết hợp với phép nhân hóa qua động từ “nhớ: để gợi tả cảm giác phía sau người lính còn cả một gia đình, một hậu phương vững chắc đang chờ đợi.

    – Sự lặp lại của cụm từ “anh với tôi” cùng từ “từng” đã gợi cho ta cảm xúc đẹp nhất của anh bộ đội cụ Hồ, mặc dù thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần nhưng mà họ luôn sẵn sàng là điểm tựa dành cho nhau.

    – Một loạt những từ ngữ “ớn lạnh”, “sốt run người”, “ướt mồ hôi” đã đặc tả những cơn sốt rét rừng khủng khiếp mà rất quen thuộc với người lính thời ấy. Nếu trong cuộc sống gia đình, anh được bàn tay dịu dàng của người mẹ, người vợ ân cần chăm sóc thì ở đây, bàn tay ấy được thay bằng bàn tay của đồng đội. Sự chăm sóc ấy có thể vụng về, nhưng vẫn tràn đầy sự quan tâm, thấm đẫm tình đồng chí. Câu thơ đang vươn dài bỗng rút ngắn lại, chuyển sang âm điệu chậm rãi của phép liệt kê, tái hiện lại cuộc sống thiếu thốn của đời lính.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 3) bài Đồng Chí

    Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

    – Phép liệt kê bằng những chi tiết tả thực, hình ảnh sóng đôi “áo anh rách vai” -“quần tôi có vài mảnh vá” là gợi cái thiếu thốn, miêu tả chân thực những khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính trong buổi đầu kháng chiến.

    – Cái “buốt giá” của mùa đông chiến đầu để rồi tỏa sáng nụ cười và càng thương nhau hơn.

    – Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” có sức gợi nhiều hơn tả với nhịp thơ chảy dài. Đây là cách thể hiện tình cảm rất lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập công.

    Biện pháp tu từ trong 3 câu thơ cuối (khổ 4) bài Đồng Chí

    Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

    – Rừng hoang sương muối: sự khắc nghiệt của thời tiết, của gian khổ nhưng qua đó thể hiển rõ nét hơn sức mạnh của tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh rừng hoang; giúp họ phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, ý nghĩa cuộc chiến đấu.

    – Động từ “chờ” gợi tới tư thế sẵn sàng, tinh thần trách nhiệm cao cả của người lính.

    – “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh rất thực và cũng rất lãng mạn. “Súng” và “trăng” – hai hình ảnh tưởng như đối lập song lại thống nhất hòa quyện – là cứng rắn và dịu êm – là gần và xa – là thực tại và mơ mộng – là chất chiến đấu và chất trữ tình – là chiến sĩ và thi sĩ.

    – Từ “treo” tạo nên hình ảnh ánh trăng về đêm lơ lửng treo trên đầu súng là hình ảnh tạo nên nét thi vị, đặc sắc hơn cho bài thơ.

    – Nhịp thơ đều đều 2/2/2 – 2/2/3 cô đọng tất cả nét đẹp của những người lính. Ba câu thơ cuối của bài một lần nữa khắc họa chân thực mà sâu sắc về hình ảnh người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Giáo Án Bài Tôi Yêu Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tác Phẩm Tôi Yêu Em
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu)
  • Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Phân Tích Văn Bản Sài Gòn Tôi Yêu Của Minh Hương
  • Bài Soạn Văn 7: Sài Gòn Tôi Yêu
  • Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    Tiết 94:

    TÔI YÊU EM

    I/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

    1. Kiến thức

    – Nêu được những nét chính về cuộc đời, sự nghiệp thơ Puskin.

    – Thấy được tình yêu chân thành, đắm say, thuỷ chung và cao thượng của nhân vật

    “tôi” thể hiện qua bài thơ; ý nghĩa nhân văn của hình tượng nhân vật trữ tình. Qua

    đó, thấy được tư tưởng và tình cảm của nhà thơ.

    – Phân tích được vẻ đẹp giản dị, trong sáng, tinh tế cả về hình thức ngôn từ và nội

    dung tâm tình.

    2. Kĩ năng

    – Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản.

    – Tạo kĩ năng bình giảng thơ trữ tình và phân tích tâm trạng của nhân vật trong thơ

    trữ tình.

    3. Giáo dục

    – Tôn trọng tình yêu thuỷ chung, chân thành và cao thượng.

    – Hình thành quan niệm tốt đẹp, đúng đắn và ứng xử có văn hóa trong tình yêu.

    II/ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN

    – Sách giáo khoa, sách giáo viên và sách thiết kế Ngữ Văn 11, tập 2, NXB Giáo

    dục, 2009.

    – Các tài liệu tham khảo.

    – Giáo án bài học

    – Bản dịch nghĩa bài thơ “Tôi yêu em”; Bản dịch bài “Ngài và anh, cô và em”.

    III/ CÁCH THỨC TIẾN HÀNH

    GV sử dụng phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, phương pháp

    làm việc nhóm,…hướng dẫn HS tìm hiểu bài học.

    IV/ TIẾN TRÌNH BÀI GIẢNG

    1. Ổn định tổ chức lớp

    Nông Thị Thuỳ Dương

    1

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    2. Dẫn vào bài mới.

    Tình yêu là một đề tài hấp dẫn đối với văn chương, nghệ thuật. nó là nguồn

    cảm hứng vô tận cho thơ ca. Puskin, thi sĩ vĩ đại của tình yêu, đã khơi nguồn cảm

    hứng ấy và dệt nên những bài thơ tình tuyệt diệu, “Tôi yêu em” là một trong

    những kiệt tác trữ tình của Puskin, làm nên sự bất tử của thiên tài.

    Hoạt động của GV và HS

    Nội dung cần đạt

    Hoạt động 1: Hướng dẫn tìm

    hiểu khái quát về tác giả, tác I. Tiểu dẫn

    phẩm.

    – Gọí HS đọc phần Tiểu dẫn trong

    SGK.

    – Nêu những nét chính về cuộc 1. Tác giả

    đời, văn nghiệp của Puskin?

    – A. X. Puskin (1799- 1837) sinh ra và lớn lên

    trong thời đại cả nước Nga đang bị đè nặng

    bởi ách thống trị của chế độ nông nô chuyên

    chế. Mặc dù xuất thân trong môi trường giáo

    dục quý tộc nhưng cả cuộc đời ông gắn bó

    với số phận của nhân dân, đất nước, dũng

    cảm đấu tranh chống chế độ độc đoán Nga

    hoàng.

    – Cuộc đời ngắn ngủi nhưng tài năng và sức

    sáng tạo của Puskin hết sứ mạnh mẽ. Ông đẻ

    lại cho nhân loại một sự nghiệp rực rỡ, một di

    sản lớn lao. Ông thành công trên nhiều thể

    loại văn chương nhưng cống hiến vĩ đại nhất

    của ông vẫn là thơ trữ tình, ông để lại hơn

    800 bài thơ trữ tình có giá trị.

    Nông Thị Thuỳ Dương

    2

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    Các tác phẩm chính:

    + Tiểu thuyết thơ Epghênhi Ônhêghin.

    + Truyện ngắn: Con đầm pích, cô tiểu thư

    nông dân,…

    + Thơ: Tôi yêu em, Ngài và anh, cô và em,

    Con đường mùa đông,…

    – Thơ Puskin thể hiện tâm hồn Nga, khao khát

    tự do và tình yêu qua một tiếng nói Nga trong

    sáng, thuần khiết: “thiên nhiên Nga, lịch sử

    Nga, con người Nga, tâm hồn Nga hiện lên

    thuần khiết, đẹp tới mức như được soi qua

    một thấu kính diệu kì” (Gogol)

    2. Tác phẩm

    – Giới thiệu vắn tắt về hoàn cảnh 2.1. Hoàn cảnh ra đời

    ra đời bài thơ?

    – Thời kì ở Pêterbua, Puskin thường năng lui

    tới nhà vị Chủ tịch Viện Hàn lâm nghệ thuật

    Nga, một phần vì say mê không khí nghệ

    thuật nơi đây, một phần vì A. A. Ôlênhina,

    con gái vị Chủ tịch Viện Hàn Lâm. Rung

    động, say đắm người thiếu nữ xinh đẹp,

    Puskin đã dành cho cô gái nhiều vần thơ đằm

    thắm: Ngài và anh, cô và em, Hết rồi tình đã

    vỡ tan, Hè năm 1828, Puskin cầu hôn nhưng

    bị khước từ (theo Thúy Toàn). Năm 1829, Tôi

    yêu em ra đời trong tâm trạng đó.

     Tôi yêu em là thi phẩm kiệt xuất, thuộc

    trong số những bài thơ mà chỉ một nó thôi

    Nông Thị Thuỳ Dương

    3

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    cũng đủ làm nên sự bất tử của thiên tài nghệ

    thuật.

    2.2. Nhan đề bài thơ:

    – Nhan đề bài thơ gợi cho em cảm

    nghĩ gì?

    Trong thơ Puskin, có một số bài thơ không

    đặt tiêu đề. Vì thế có người gọi đó là bài thơ

    Vô đề. Dịch giả đã lấy điệp khúc “Tôi yêu

    Gợi mở:

    em” làm tiêu đề cho bài thơ này.

    + Tôi ở đây là ai?

    – Đại từ Tôi có nhiều nghĩa:

    + Cặp đại từ nhân xưng tôi – em + Có thể là Puskin.

    giúp em hiểu gì về mối quan hệ + Có thể là trái tim yêu của những chàng trai,

    của 2 người này?

    Puskin là người thư kí trung thành của những

    GV đọc bài “Ngài và anh, cô và trái tim ấy.

    em” để minh họa thêm:

    – Cặp đại từ nhân xưng “Tôi – em”:

    Nàng buột miệng đổi tiếng ngài + Gợi mối quan hệ giữa nhân vật trữ tình với

    trống rỗng

    đối tượng có khoảng cách vừa gần vừa xa,

    Thành tiếng anh thân thiết đậm vừa đằm thắm vừa dang dở

    đà

    + Là tình yêu đơn phương của chàng trai.

    Và gợi lên trong lòng đang say

    đắm

    Bao ước mơ tràn hạnh phúc reo

    ca.

    Trước mặt nàng tôi trầm ngâm

    đứng lặng

    Không thể rời ánh mắt khỏi nàng

    Và tôi nói: Thưa cô, cô đẹp lắm!

    Mà thâm tâm: anh quá đỗi yêu

    Nông Thị Thuỳ Dương

    4

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    em!

    2.3. Kết cấu bài thơ:

    – Bài thơ này gồm mấy câu ?

    Bài thơ được sắp xếp liền mạch 8 câu, không

    chia khổ mà chia thành hai câu thơ lớn và đều

    được bắt đầu bằng điệp ngữ “Tôi yêu em”.

    – Một em đọc 4 dòng thơ đầu và * Bốn dòng thơ đầu:

    cho biết nội dung của 4 dòng này?

    Chàng trai khẳng định tình yêu có lẽ chưa

    hoàn toàn lụi tắt trong lòng mình nhưng

    không muốn làm vướng bận người mình yêu

    vì bất cứ lí do gì.

    – Một em đọc 4 dòng cuối và cho * Bốn dòng thơ cuối:

    biết nội dung 4 dòng này?

    Chàng trai bộc lộ những sắc thái của tình

    yêu, đồng thời bày tỏ tấm lòng nhân ái, cao

    thượng của mình.

    2.4. Tìm hiểu khái quát:

    – Gọi HS đọc bản dịch của Thuý Dịch nghĩa: Tôi yêu em

    Toàn.

    Tôi đã yêu e, tình yêu vẫn, có lẽ

    – Giới thiệu bản dịch nghĩa bài Chưa tắt hẳn trong tâm hồn tôi;

    thơ.

    Nông Thị Thuỳ Dương

    5

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    Cầu trời cho em được người khác yêu thương

    – Đưa ra nhận xét về hai bản như thế.

    dịch?

    * Nhận xét: Có một số từ, ngữ và hình ảnh

    Gợi mở : Các em chú ý theo dõi chưa sát với phần dịch nghĩa.

    và so sánh từng câu trong bản Dòng 1 và 7: Ở phần dịch thơ, động từ yêu

    dịch thơ và dịch nghĩa. Các em sẽ được dùng ở thì hiện tại. Trong nguyên tác

    phát hiện về sự khác biệt giữa Puskin muốn đẩy tình yêu vào quá khứ, thể

    chúng.

    hiện tình yêu đã qua, đã trở thành kỉ niệm.

    Dòng 2: Ở phần dịch thơ: lời thơ bóng bảy

    nhờ hình ảnh “ngọn lửa tình”, không hợp với

    phong cách nghệ thuật thơ trữ tình Puskin: sự

    giản dị trong sáng.

    Dòng 3 và 4: Ý nghĩa khẳng định được nhấn

    mạnh hơn ở phần dịch nghĩa. Sự quyết tâm

    của lí trí thể hiện tren bề mặt ngôn từ: nhưng,

    hãy, để, không.

    Dòng 8: Bài dịch thơ làm thay đổi cả nguyên

    tác. Câu dịch của Thuý Toàn mang hàm ý so

    sánh. Trong nguyên tác, Puskin sử dụng từ

    người khác thể hiện sự khó khăn khi nói.

    Nhưng nó đã được nói ra, thể hiện sự thừa

    nhận: tôi không thể mang lại hạnh phúc cho

    em, người khác có thể mang lại hạnh phúc

    cho em. Sự thừa nhận này là biểu hiện của sự

    tột cùng cao thượng, sự tột cùng đớn đau.

     Tuy ý nghĩa bản dịch thơ chưa hoàn toàn

    sát với nguyên tác nhưng đây là bản dịch khá

    Nông Thị Thuỳ Dương

    6

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    hay và thể hiện được tư tưởng của người sáng

    tác.

    Hoạt động 2: Tìm hiểu bài thơ II. Đọc – hiểu văn bản

    “Tôi yêu em”.

    1. Bốn dòng thơ đầu:

    – Trong câu thơ mở đầu, tôi muốn – Mở đầu bằng những lời tự nhủ trực tiếp,

    nói điều gì?

    chân thành, không ồn ào, mà trầm lắng, giản

    dị: “Tôi yêu em”.

    – Nhận xét của em về cách đặt – Dấu “:”  tôi và tình yêu là 2 chủ thể hoàn

    dấu “:” ở dòng thơ đầu?

    toàn khác, tình yêu vừa là một phần trong tôi

    vừa là một cái gì độc lập tương đối.

    – Cảm nhận về hình ảnh “ngọn lửa – “Ngọn lửa tình” thể hiện tình yêu của tôi là

    tình”?

    niềm say mê âm ỉ, dai dẳng cháy sáng trong

    tâm hồn, như ánh lửa rực cháy.

    – Em có nhận xét gì về giọng – Giọng thơ có sự dè dặt, ngập ngừng trong

    điệu?

    lời thổ lộ: “có thể”, “chưa hoàn toàn”.

    – Qua đó, em hiểu gì về tình yêu – Tình yêu của tôi dành cho em là tình yêu say

    của chàng trai?

    mê, âm thầm, dai dẳng, dấu hiệu của những

    GV liên hệ với những câu thơ cảm xúc vững bền, của một trái tim chung

    trong “Tự hát” của Xuân Quỳnh:

    thuỷ, không phải là những đam mê bột phát,

    Trong cái hữu hạn ngắn ngủi của nhất thời.

    cuộc đời, tình yêu trở thành vĩnh Tiểu kết: Qua hai dòng thơ đầu người đọc

    cửu:

    cảm thấy phần nào tình yêu của tôi thật chân

    Em trở về đúng nghĩa trái tim em

    thành, tha thiết. Đó là tình yêu âm thầm, âm ỉ

    Là máu thịt, đời thường ai chẳng bất chấp thời gian, bất chấp em có đoái hoài

    hay không.

    Cũng ngừng đập khi cuộc đời

    Nông Thị Thuỳ Dương

    7

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    không còn nữa

    Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi

    rồi.

    – Sau lời khẳng định tình yêu ở 2 – Nhưng đứng đầu vế câu thơ chỉ mối quan hệ

    dòng thơ đầu, mạch cảm xúc của giữa tình cảm chân thành, đắm thắm (câu 1 nhân vật trữ tình ở 2 dòng thơ sau 2) với sự kìm nén của lí trí ( câu 3 – 4).

    có gì thay đổi? Đó là tiếng nói

    của lí trí hay tình cảm?

    Những từ chỉ sự phủ định không, chẳng

    muốn được dùng liên tiếp nhấn mạnh dứt

    khoát: cần dập tắt ngọn lửa tình yêu (dù âm

    thầm dai dẳng) không phải vì mệt mỏi, tuyệt

    vọng, không có hồi âm, mà vì sự thanh thản

    của hồn em.

    – Theo em, bên trong những lời – Tiếng nói của lí trí sáng suốt giúp tôi nhận

    nặng ý chí đó, tâm trạng của tôi thức được rằng: Tình yêu của tôi không mang

    như thế nào?

    lại cho em niềm vui, hạnh phúc, chỉ mang tới

    GV liên hệ với những câu thơ cho em sự bận lòng hay nỗi u hoài thì không

    trong “Yêu” của Xuân Diệu:

    thể tiếp diễn. Lời thơ như lời nhắn nhủ, một

    Khi tình yêu không được đáp trả, sự tự ý thức về tình yêu của mình và cũng là

    nó sẽ đem lại những cơn đau, một tiếng nói đầy dịu dàng, trân trọng với hồn

    những nỗi cô đơn:

    em. Bên trong những lời nói điềm tĩnh ấy là

    Yêu là chết ở trong lòng một ít

    một quá trình tự đấu tranh, dằn vặt nội tâm

    Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu

    của nhân vật tôi (Hay chính là nỗi đau khổ

    Cho rất nhiều xong nhận chẳng của tình yêu không được đền đáp, nỗi đau

    bao nhiêu

    phải dập tắt tình yêu chân thành, đằm thắm

    Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng trong lòng mình).

    biết.

    – 4 dòng thơ đầu cho em thấy nét Tiểu kết: Bốn câu thơ đầu cho thấy vẻ đẹp

    Nông Thị Thuỳ Dương

    8

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    gì đáng quý ở nhân vật tôi?

    nhân cách của nhân vật trữ tình đang dần

    được hé lộ: chàng trai có tình yêu trung thực,

    chân thành, biết vượt qua thói vị kỉ để dành

    sự thanh thản cho người mình yêu.

    2. Bốn dòng thơ cuối:

    – Cảm xúc vỡ oà, vẫn khẳng định “Tôi yêu

    em” nhưng “không thốt ra lời”, tuyệt vọng vì

    “không hi vọng”.

    – Trái tim tha thiết yêu thương đau đớn đang

    bị nỗi ghen tuông giày vò. Một trạng thái tình

    cảm thường thấy ở các chàng trai đang yêu.

    Puskin gọi ghen tuông là “nỗi buồn đen tối

    làm mụ mẫm đầu óc”.

    – Em có nhận xét gì về nhịp thơ? – Nhịp thơ nhanh, nhiều ngắt cách với những

    Nhà thơ sử dụng những từ ngữ trạng từ chỉ thời gian “khi”, “lúc”, kết hợp với

    nào để thể hiện sự mâu thuẫn đó?

    những rạng thái chỉ tình cảm biễn đổi liên tục

    “âm thầm”, “không hi vọng”, “rụt rè”, “hậm

    hực lòng ghen” diễn tả thành công bi kịch

    tuyệt vọng giữa lí trí và tình cảm: giữa cái có

    (tình yêu của mình) với cái không có (tình yêu

    của em dành cho tôi), giữa cái mơ ước (được

    em yêu) với cái không thể biến thành sự thật

    (em không hề yêu tôi)

    Nông Thị Thuỳ Dương

    9

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    – Qua việc diễn tả những tâm  Puskin đã nghe thấu nỗi lòng của nhân vật

    trạng của nhân vật trữ tình như trữ tình từ những trải nghiệm của bản thân để

    vậy, em có thể hiểu gì về Puskin?

    thể hiện những đợt sóng tình cảm của một

    con người tha thiết yêu thương mà không

    được cảm thông, có nỗi khổ đau của sự tuyệt

    vọng, sự e ngại, rụt rè, sự ghen tuông giày vò.

    Ông xứng đáng với sự tôn vinh của nhân loại:

    “Thi sĩ vĩ đại của tình yêu”.

    – GV: Lòng ghen tuông dễ làm – Điệp khúc Tôi yêu em được láy lại lần thứ 3

    cho con người

    mất bình tĩnh, để tiếp tục khẳng định bản chất của tình yêu

    không sáng suốt để phân biệt tốt – tôi dành cho em: “chân thành, đằm thắm”.

    xấu, đúng – sai, dễ dẫn tới bi  Chàng trai vượt qua nỗi ghen tuông ích kỉ,

    quan, chán nản, tuyệt vọng. Liệu nỗi buồn u ám để khẳng định tình yêu.

    nhân vật trữ tình trong bài thơ có

    bị nỗi ghen tuông hạ thấp không?

    – GV: Chia tay, nghĩ tốt về nhau

    đã quý, luôn cầu chúc cho nhau

    điều tốt lành còn cao quý hơn…

    – Lời chúc của nhân vật trữ tình – Dòng cuối cùng là sự thăng hoa của tình yêu

    nói lên điều gì?

    “chân thành, đằm thắm” ấy bằng lời chúc

    phúc cho em “được một người khác yêu”.

     Chàng trai đã coi hạnh phúc của em như

    hạnh phúc của mình.

    – Cho biết các tầng ý nghĩa của – Những tầng ý nghĩa mở ra khi bài thơ khép

    bài thơ?

    Nông Thị Thuỳ Dương

    lại:

    10

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    + Bi kịch của một tình yêu “chân thành, đằm

    thắm” nhưng không được đền đáp, từng dấu

    kín nay bật mở.

    + Lời nhắn gửi của trái tim độ lượng, chân

    thành.

    + Lời chia tay của một tình yêu cao thượng

    của một ngưòi có văn hoá, trân trọng mình và

    em; biết hi sinh niềm say mê của mình, cầu

    chúc cho người mình yêu hạnh phúc và coi đó

    là hạnh phúc của mình.

     Bài thơ dường như là lời từ giã của một

    tình yêu không thành, nhưng nét đặc biệt ở

    chỗ: lời từ giã cuối cùng lại trở thành lời giãi

    bày, bộc bạch một tình yêu chẳng thể nào

    nguôi ngoai, vẫn sôi nổi, nồng nàn…

    – Hoạt động 3: Khái quát về III. Tổng kết

    phương diện nội dung và nghệ

    thuật.

    – Rút ra những nhận xét gì về nội 1. Nghệ thuật

    dung và nghệ thuật của bài thơ

    này?

    Ngôn ngữ giản dị, trong sáng hầu như

    không dùng một biện pháp tu từ nào ngoài

    điệp ngữ Tôi yêu em.

    2. Nội dung

    Ca ngợi vẻ đẹp của tình yêu chân thành,

    đằm thắm, đức hi sinh cao thượng quên mình

    vì hạnh phúc của người mà mình trân trọng,

    yêu quý.

    Nông Thị Thuỳ Dương

    11

    Tôi yêu em – A. Puskin (Ngữ Văn 11, học kì II, tiết 94)

    V/ CỦNG CỐ VÀ DẶN DÒ

    -Yêu cầu HS nêu cảm nhận chung về bài thơ

    – Học thuộc lòng bài thơ, làm bài tập về nhà.

    – Soạn bài: Bài thơ số 28 – R. Ta-go.

    Nông Thị Thuỳ Dương

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tôi Yêu Em ( Puskin )
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Phân Tích Tất Cả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ “mùa Xuân Chín” Của Hàn Mặc Tử
  • Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đầy Trên Lưng Mùa Xuân Người Ra Đồng Lộc Trải Dài Nương Mạ Tất Cả Như Hối Hả Tất Cả Như Xôn Xao 1/tìm Và Nêu Tác Dụng Của C
  • Hãy Phân Tích Hai Khổ Thơ Sau: Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đ
  • Soạn Bài Tôi Yêu Em ( Puskin )

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Bài Tôi Yêu Em
  • Phân Tích Tác Phẩm Tôi Yêu Em
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu)
  • Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Phân Tích Văn Bản Sài Gòn Tôi Yêu Của Minh Hương
  • Soạn bài Tôi yêu em ( Puskin )

    Lời dẫn:

    Tình yêu luôn là đề tài bất diệt đối với thi ca. Mỗi thi sĩ đều có một cái nhìn riêng, đặc biệt về những cung bậc khi yêu. Chúng ta biết đến Xuân Diệu là “ông hoàng thơ tình” với những vần thơ nồng nàn, cháy bỏng, mãnh liệt. Đối với nền văn học Nga thì Puskin được xem là “mặt trời thi ca Nga” với những áng thơ bất hủ về tình yêu. Bài thơ “Tôi yêu em” là một điệp khúc tình yêu với những cung bậc thương nhớ da diết khi yêu. Một bài thơ tình gieo vào lòng người nhiều thổn thức, nhiều mong nhớ và nhiều nuối tiếc cho câu chuyện tình đơn phương của tác giả.

    I. Tìm hiểu chung

    1. Tác giả

    a. Cuộc đời

    – A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-vích Puskin, 1799 – 1837

    – Xuất thân trong một gia đình quý tộc mê thơ và biết làm thơ từ thuở học sinh.

    – Là nhà thơ mở đầu, đặt nền móng cho văn học hiện thực Nga thế kỉ XIX.

    b. Sự nghiệp sáng tác

    – Puskin có đóng góp trên nhiều mặt, nhiều thể loại, nhưng cống hiến vĩ đại nhất của ông vẫn là Thơ trữ tình với hơn 800 bài thơ và 13 bản trường ca bất hủ. Vì thế mà Puskin được xem là “Mặt trời của thi ca Nga” (Léc-môn-tốp).

    Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Puski

    – Về nội dung: thơ của Puskin thể hiện tâm hồn khao khát tự do và tình yêu của nhân dân Nga

    – Về nghệ thuật: Puskin có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và phát triển ngôn ngữ văn học Nga hiện đại.

    2. Tác phẩm

    – Hoàn cảnh sáng tác: Tôi yêu em” là một trong những bài thơ tình nổi tiếng của Puskin, được khơi nguồn từ mối tình của nhà thơ với A.Ô-lê-nhi-a, người mà mùa hè năm 1829 Puskin cầu hôn nhưng không được chấp nhận.

    – Nhan đề:

    +thể hiện sự thiết tha của nhân vật trữ tình nhưng có khoảng cách

    +nhân vật trữ tình ý thức được tình yêu đơn phương của mình.

    II. Đọc – hiểu chi tiết

    1. Đọc

    -câu 1-2: chậm, ngập ngừng, vừa như thú nhận, vừa tự nhủ

    -câu 3-4: mạnh mẽ, dứt khoát như lời hứa, lời thề

    -câu 5-6: day dứt, buồn đau, kiểm nghiệm

    -câu 7-8: mong ước, tha thiết, điềm tĩnh.

    2. Bố cục bài thơ: gồm 2 phần

    + Phần 1: 4 câu đầu: Lời giã từ và giãi bày về một mối tình đơn phương.

    + Phần 2: 4 dòng sau: Nỗi đau khổ và lời nguyện cầu về một tình yêu chân thành của tác giả.

    3. Tìm hiểu khái quát

    Trong nguyên bản của bài thơ, Puskin không dụng công trong việc xây dựng hình ảnh, cũng rất ít sử dụng các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tượng trưng…). Hình ảnh ngọn lửa tình vốn không có trong nguyên bản mà do dịch giả thêm vào. Hình ảnh này có lẽ được gợi ý bởi động từ “tắt” trong nguyên bản. Ngôn từ trong bài thơ giản dị, trong sáng. Sức hấp dẫn của bài thơ ở sự chân thành của tình cảm.

    Phần 1: Lời giã từ và giãi bày về một mối tình đơn phương.

    “Tôi yêu em… bóng u hoài?”

    Người dịch, dịch như vậy rất có dụng ý: Nếu dùng “anh” thì lại chưa được phép, vì chủ thể “em” chưa đồng ý hay xác nhận mối quan hệ của 2 người. Nhưng cũng không thể dùng “cô” hay dùng “nàng” vì cách xưng hô đó thể hiện sự khách khí, xuồng xã, hoặc xa cách

    – Bài thơ mở ra ngay lập tức đi thẳng vào điều cốt yếu: “tôi yêu em”, như lời thú nhận lại như lời tự nhủ, trực tiếp, ngắn gọn, giản dị.

    – Xác nhận một Tình yêu đơn phương nhưng vẫn âm ỉ cháy trong tim:

    Chuyển sang câu 3-4:

    + Không muốn quấy rầy em

    + Không muốn làm phiền muộn em bất cứ điều gì. Nghĩa là phải rời xa em – đó là điều mà bản thân nhân vật “tôi” không hề muốn.

    -Hai câu 3-4 như lời hứa, lời thề trang nghiêm, dứt khoát. Rõ ràng, đó không chỉ là lời từ giã một mối tình, đưa nó trở thành kỉ niệm mà còn là lời bày tỏ và khẳng định của một tâm hồn chân thực và tự trọng, vị tha.

    Phần 2. Nỗi đau khổ và lời nguyện cầu về một tình yêu chân thành của tác giả

    “Tôi yêu em …đã yêu em”

    – Điệp ngữ “Tôi yêu em” không chỉ nối liền mạch cảm xúc, tâm trạng giữa hai khổ thơ mà còn tiếp tục khẳng định và giãi bày tâm trạng, tình yêu đơn phương của chủ thể trữ tình chuyển sang những biểu hiện khác.

    Tôi yêu em âm thầm không hi vọng

    -Âm thầm: sự lặng lẽ, thầm kín trong tâm hồn

    Lúc rụt rè khi hậm hực lòng ghen

    -Lúc rụt rè: trạng thái e rè, ngượng nghịu, không mạnh bạo

    – Khi hậm hực: có khi giận hờn, bực tức vì phải chấp nhận điều mà mình không mong muốn.

    Nhưng trong nguyên bản, câu 6 được dùng ở thể bị động

    -nhân vật trữ tình luôn trong tình trạng bị giày vò, đau khổ khi bởi sự rụt rè, khi bởi nỗi ghen tuông, đó đều là những trạng thái tiêu cực trong tình yêu.

    – Cách ghen của nhân vật trữ tình là một cách ghen có văn hóa, nó chứng tỏ một tình yêu đích thực, một tình yêu chân chính: Yêu chân thành, đằm thắm. Điều đó đã được chứng minh qua hai câu kết.

    *Chuyển sang hai câu cuối.

    – Nếu là sự buông xuôi: thì điều đó không dễ dàng gì đối với 1 người có tính cách mãnh liệt như nhân vật “tôi”.

    + Nhân vật trữ tình muốn đặt “em” trước một sự lựa chọn: “Tôi” hoặc người nào khác. Người khác kia là ai? Liệu họ có yêu em như tôi không? Trong khi đó “Tôi” thì rất yêu em, yêu “chân thành, đằm thắm” như vậy.

    – Lời cầu chúc giản dị mà chứa đựng một nhân cách cao thượng. Đây là một lời chúc tuyệt vời nhất mà cũng là lời chúc thông minh nhất rằng: Tôi đã yêu em, đang yêu em và mãi mãi yêu em: chân thành và đằm thắm. Và dù trong trường hợp người em chọn không phải là “tôi” đi chăng nữa thì “tôi” vẫn luôn cầu chúc “em” có một người tình tuyệt vời như tình yêu “tôi” đã dành cho “em”.

    – Lời cầu chúc vừa ẩn chút nuối tiếc, xót xa, vừa tự tin, kiêu hãnh và ngầm thách thức: Chẳng có ai khác yêu em được như tôi đã yêu em; và sao em lại có thể để mất đi một mối tình quý giá chẳng bao giờ có thể tìm thấy ở đâu và ở ai nữa, ngoài tôi!

    III. Tổng kết

    ND: Bài thơ thể hiện tình yêu chân thành, đằm thắm đơn phương nhưng trong sáng và cao thượng của nhân vật trữ tình. Đó là một tình yêu chân chính, giàu lòng vị tha và đức hi sinh luôn mong muốn cho người mình yêu những gì tốt đẹp nhất.

    NT: Ngôn từ nghệ thuật giản dị, trong sáng cùng với những điệp ngữ và nghệ thuật diễn tả lí trí và tình cảm song song tồn tại, giằng co… diễn tả thành công tâm trạng của nhân vật trữ tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Phân Tích Tất Cả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ “mùa Xuân Chín” Của Hàn Mặc Tử
  • Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đầy Trên Lưng Mùa Xuân Người Ra Đồng Lộc Trải Dài Nương Mạ Tất Cả Như Hối Hả Tất Cả Như Xôn Xao 1/tìm Và Nêu Tác Dụng Của C
  • Hãy Phân Tích Hai Khổ Thơ Sau: Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đ
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Thi Thpt Quốc Gia
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

    1. Biện pháp tu từ so sánh

    Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

    Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

    Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

    Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

    Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

    Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

    Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

    “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    Cấu trúc A là B:

    Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

    Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

    Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

    Ví dụ 1:

    “Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 3:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

    Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

    “Người là cha, là bác, là anh

    Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

    ” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

    2. Biện pháp tu từ nhân hóa

    Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

    Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

    • Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..
    • Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

    Ví dụ:

    ” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

    “Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

    “Sông Đuống trôi đi

    Một dòng lấp lánh

    Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

      Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

    Ví dụ:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

    Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

    Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

    Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

      Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

    Ví dụ:

    ” Vân xem trang trọng khác vời

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

      Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

    Ví dụ:

    “Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Không thầy đó mày làm nên”

      Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

    Ví dụ:

    “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

    “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

    ” Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

      Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    Vì dụ:

    ” Bỗng nhận ra hương ổi

    Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ

    Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

    ” Cát lại vàng giòn

    Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

    ” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

    “Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

    4. Biện pháp tu từ hoán dụ

    Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

    Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

      Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

    ” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

    “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

    ” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

    Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

      Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Vì sao trái đất nặng ân tình,

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

      Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

    ” Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

    ” Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

    ” Áo nâu cùng với áo xanh

    Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

      Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

    ” Một cây làm chẳng nên non

    3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

    ” Ngày Huế đổ máu

    Chú Hà Nội về

    Tình cờ chú cháu

    Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

    5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

    Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

    ” Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

    “Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

    Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

    6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

    Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

    7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

    Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

    Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

    8. Biện pháp tu từ chơi chữ

    Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

    Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

    ” Bà già đi chợ cầu Đông

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

    ” Không răng đi nữa cũng không răng,

    Chỉ có thua người một miếng ăn.

    Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép,

    Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

    “Em đây là gái năm con,

    Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

    ” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,

    Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

    9. Biện pháp tu từ liệt kê

    Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

    Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

    “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

    ” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

    “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

    Chiến sĩ anh hùng

    Đầu nung lửa sắt

    Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

    Máu trộn bùn non

    Gan không núng

    Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

    10. Biện pháp tu từ tương phản

    Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

    Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100