Phân Tích Đoạn Thơ ” Mình Về Mình Có Nhớ Ta …”

--- Bài mới hơn ---

  • 4 Bài Mẫu Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Tiếng Hát
  • 5 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Thơ: “ta Về, Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiế
  • Mình Về Mình Có Nhớ Ta Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng. Mình V
  • Bình Giảng Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu: Ta Về, Mình Có Nhớ Ta. Ta Về, Ta Nhớ Những Hoa Cùng Người… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Phân Tích Đoạn Thơ Ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”

    Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:

    “Mình về mình có nhớ ta

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

    Mình về mình có nhớ không

    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

    Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ. Các xưng hô “mình – ta” mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: “Mình về ta chẳng cho về – Ta nắm dải áo, ta đề bài thơ”. “15 năm” là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh, đồng thời cũng là chi tiết gợi cảm – nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn.

    Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều – Mười lăm năm bằng thời gian Kim – Kiều xa cách thương nhớ mong đợi hướng về nhau (Những là rày ước mai ao – Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình). Cảm xúc đậm đà chất dân gian, đậm đà chất Kiều. Âm điệu ngọt ngào, giọng thơ nồng ấm, tình cảm do vậy dạt dào thiết tha. Việt Bắc hỏi về: “Mình về mình có nhớ không – Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”. Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc – cội nguồn cách mạng.

    Bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về:

    “Tiếng ai tha thiết bên cồn

    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

    Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

    Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, mười lăm năm gian khổ có nhau, mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu, giờ phải chia tay rời xa để làm nhiệm vụ mới về tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10-1954), biết mang theo điều gì, biết lưu lại hình ảnh nào, tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềm bâng khuâng khó tả.¼”Bâng khuâng, bồn chồn” là hai từ láy gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui, luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong

    “Áo chàm đưa buổi phân li” là một ẩn dụ, màu áo chàm, màu áo xanh đen đặc trưng của người miền núi Việt Bắc – tác giả hướng nỗi nhớ Việt Bắc qua hình ảnh cụ thể “áo chàm”, chiếc áo, màu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước.

    Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đầy tính chất biểu cảm – biết nói gì không phải không có điều để giải bày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nói không biết phải nói điều gì. Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng…

    12 câu tiếp theo kết thúc đoạn trích, là lời tâm tình của Việt Bắc:

    “Mình đi, có nhớ những ngày

    Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

    Mình về, có nhớ chiến khu

    Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

    Mình về, rừng núi nhớ ai

    Trám bùi để rụng măng mai để già

    Mình đi, có nhớ những nhà

    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

    Mình về, có nhớ núi non

    Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

    Mình đi, mình có nhớ mình

    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”

    Điệp từ “nhớ” lập đi lập lại nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ, nhắc nhở. Hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc. Tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ mong, gài lại niềm thương theo cách:

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

    Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian lao vất vả, hoạt động chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn.

    “Mình về có nhớ chiến khu

    Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

    “Miếng cơm chấm muối” là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Và cách nói “mối thù nặng vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta. Cảm xúc thương nhớ xa vắng thả vào không gian rừng núi, gợi nỗi niềm dào dạt:

    “Mình về, rừng núi nhớ ai

    Trám bùi để rụng, măng mai để già”

    Hình ảnh “Trám bùi để rụng, măng mai để già” gợi nỗi buồn thiếu vắng – “Trám rụng – măng già” không ai thu hái. Nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại. Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên cái nền của sự chiến thắng đó, đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng. Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăng đợi thuyền”, đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm “lòng son” của người cán bộ chiến sĩ. Xin đừng quên thời kỳ “kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, đừng quên cội nguồn cách mạng, đừng quên để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng.

    “Mình đi, mình có nhớ mình

    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”

    Tóm lại, đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc. Đoạn thơ trên tiêu biểu sắc thái phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm, mang đậm phong vị ca dao dân gian, đề cập đến con người và cuộc sống kháng chiến. Thông qua hình tượng Việt Bắc, tác giả ca ngợi phẩm chất cách mạng cao đẹp của quân dân ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Làm Chủ Đề Về Biện Pháp Tu Từ Trong Môn Văn
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Môn Ngữ Văn 9 Thời Gian Làm Bài: 15 Phút
  • Trắc Nghiệm Ngữ Văn Lớp 10: Bài
  • Phân Tích Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, 7 Bài Văn,
  • Bài Thơ: Việt Bắc (Tố Hữu
  • 5 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Thơ: “ta Về, Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiế

    --- Bài mới hơn ---

  • Mình Về Mình Có Nhớ Ta Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng. Mình V
  • Bình Giảng Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu: Ta Về, Mình Có Nhớ Ta. Ta Về, Ta Nhớ Những Hoa Cùng Người… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Phân Tích Đoạn Thơ Ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Chứng Minh Tính Dân Tộc Trong Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Qua Đoạn Thơ: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung”
  • Đọc Văn Bản Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Nêu Ở Dưới. Mình Về Mình Có Nhớ Ta, Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng
  • Đề bài: Phân tích đoạn thơ: “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” trong bài Việt Bắc

    Phân tích đoạn thơ: “Ta về, mình có nhớ ta.. trong bài Việt Bắc

    Mẹo Phương pháp phân tích bài thơ, đoạn thơ đạt điểm cao

    Bài mẫu số 1: Phân tích đoạn thơ: “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” trong bài Việt Bắc

    Kể về những thành tựu xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp xâm lược, có lẽ chúng ta không thể nào không nhắc đến Việt Bắc của Tố Hữu. Đây là một bài thơ mang đậm màu sắc dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu. Thông qua đó, thế hiện niềm nhớ thương tha thiết và tình cảm sắt son, đằm thắm của nhân dân Việt Bắc với cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ, đồng thời cũng thể hiện tình cảm của người cán bộ kháng chiến với thiên nhiên, núi rừng và con người Việt Bắc.

    Đoạn thơ gồm năm câu lục bát nhắc lại những cảnh thân thiết và tươi đẹp nhất về cánh và người Việt Bắc trong hồi ức cùa người cán bộ cách mạng miền xuôi, ở đây chính là nhà thơ.

    Ta về mình có nhớ ta

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người.

    Đây là hai câu thơ mở đầu nhưng nó mang cảm xúc chung cho toàn đoạn. “Ta” là người ra đi mà cũng là chính tác giả. Ở đây đoạn thơ kết cấu theo lối đối đáp thông thường trong dân ca truyền thống. Do đó, đây chính là lời hỏi ngọt ngào của người ra đi với người ở lại để liên tưởng đây là một thiếu nữ địa phương. Và câu hỏi tu từ này là cái cớ bày tỏ tình yêu của một chàng trai miền đồng bằng với cô gái miền cao.

    “Hoa và người” thực là nỗi nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Ở đây, thiên nhiên hòa điệu với con người, giữa chúng ngoài mối quan hệ tương hỗ còn có mối tương sinh lẫn nhau. Việt Bắc sinh ra con người và con người làm nóng ấm quê hương Việt Bắc.

    Tiếp theo, tám dòng lục bát còn lại như là một bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người nơi đây. Với bốn dòng lục, nhà thơ đã miêu tả phong cảnh núi rừng qua bốn mùa, mỗi mùa là một bức tranh thiên nhiên có nét đẹp riêng biệt. Qua đây, ta thấy chỉ riêng đoạn thơ này đã thấm đậm tính chất dân gian.

    Bài văn Phân tích đoạn thơ Mình về mình có nhớ ta…ân tình thủy chung

    Đầu tiên là bức tranh tả cảnh và khơi gợi cho chúng ta tình cảm mến thương của mùa đông Việt Bắc. Tại sao lại là mùa đông? Vì đây là hồi ức của tác giả trong giờ phút chia tay. Chúng ta còn nhớ, vào một đêm mùa đông 1946, Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân kháng chiến. Đặc biệt ở Hà Nội, những người lính cảm tử sau hai tháng giam chân địch trong thành phố đã bí mật vượt sông Hồng để lên căn cứ cách mạng Việt Bắc. Sự kiện này, đến tận bây giờ vẫn sống mãi bởi một khúc hát quen thuộc:

    Lưu Trọng Lư trong Một mùa đông đã từng viết:

    Đôi mắt em lặng buồn,

    Nhìn tôi mà không nói.

    Tình đôi ta vời vợi,

    Có nói cũng vô cùng

    Trời hết một mùa đông

    Không một lần đã nói…

    Thế mà, ở chốn núi rừng heo hút này đột ngột bừng lên màu đỏ tươi của hoa chuối rừng như những bó đuốc thắp lên sáng rực. Vẻ đẹp nên thơ và rực rỡ của Việt Bắc vào mùa đông gợi cho người đọc những rung động sâu xa. Thông qua bức tranh, ta thấy dù mùa đông lạnh giá nhưng sự sống núi rừng vẫn cứ như tuôn trào, cảm giác đem đến cho lòng người sự ấm áp lại.

    Thiên nhiên đáng yêu như thế, còn con người thì sao? Ta xét tiếp câu hát:

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

    Thời gian được xác định bởi yếu tố “ngày xuân”. Chính ấn tượng thời gian này tạo sự vận động, sinh sôi nảy nở. Không gian ở đây như là cổ tích. Mới vừa rồi màu xanh bạt ngàn điểm hoa chuối đỏ, bây giờ nở bung ra những rừng mơ trắng muốt thoảng hương thơm. Cái màu trắng dìu dịu tinh khiết ấy phủ lên cả cánh rừng, gợi lên trong lòng ta một cảm giác thơ mộng bâng khuâng. Ngoài ra màu trắng của hoa mơ gợi cho người ta cái thanh thoát hơn, đem lại cho lòng người sự thanh thản, thảnh thơi. Câu thơ làm cho ta thấy dường như màu xanh đã bị lấn lướt. Mùa xuân ở đây không tưng bừng như mùa xuân của Xuân Diệu mà nó đến một cách lặng lẽ, âm thầm nhưng không kém niềm vui.

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    Mùa xuân miêu tả trong câu thơ rất đặc trưng cho mùa xuân Việt Bắc. Sợi giang là sản phẩm của Việt Bắc. Do vậy, người lao động đó là người Việt Bắc chứ không phải là người miền xuôi. Nhìn thấy được từng sợi giang, tức là con người được nhìn ở tầm gần.

    Thế rồi, khoảnh khắc của mùa xuân cũng qua mau, con người tiếp tục sống cuộc sống của họ.

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình.

    Bức tranh gợi sự chú ý cho người đọc bằng thị giác, lẫn thính giác. Đầu tiên, cái độc đáo ờ đây chính là âm thanh, âm thanh mùa hạ, tiếng “ve kêu”. Câu thơ tạo ra hình ảnh nhân hóa. Con ve là loài vật, vậy mà nó biêt kêu, biết gọi, nó xui khiến rừng phách “đổ vàng”. Chúng ta nên dành một ít thời gian để tìm hiểu cái rừng phách kì lạ này. Phách là một loài cây thân gỗ ở rừng Việt Bắc, nở hoa vàng vào đầu mùa hạ.

    Tiếng ve kêu râm ran đây đó báo hiệu mùa hạ, nhưng lúc này đã là cuối hạ. Lá cây bắt đầu chuyến sang màu vàng, cả rừng phách thay áo mới, chiếc áo vàng óng ánh dưới ánh nắng mặt trời. Cảnh thiên nhiên đẹp và rực rỡ thêm lại càng lãng mạn hơn, vì trong cánh rừng bạt ngàn ấy có thêm bóng dáng của một sơn nữ “hái măng một mình”. Đọc tới đây khiến ta liên tưởng đến một hình ảnh tương tự trong thơ Nguyễn Bính, nhà thơ của đồng quê trong phong trào Thơ mới.

    Đây là khổ thơ thứ nhất trong bài thơ Cô hái mơ. Ta thấy có sự giống nhau rất ngẫu nhiên: cũng là rừng núi và cô gái đang làm việc. Chỉ có điều ở đây là “hái mơ” chứ không phái “hái măng”.

    Từ “hái” ở đây dường như không thể thay thế bằng một động từ khác như bẻ, đốn… vì chỉ có nó mới phù hợp với nét dịu dàng, uyển chuyển, mềm mại của cô gái mà thôi. Ta hãy thử tưởng tượng bức tranh mùa hạ như thế này đẹp biết bao! Cảnh thiên nhiên tuyệt mĩ như thế lại khảm chạm thêm vào hình ảnh một người thiếu nữ nhẹ nhàng làm việc. Quả thật bức tranh vừa đẹp vừa có hồn. Rõ ràng thiên nhiên và con người đã hòa quyện vào nhau, tô điểm cho nhau.

    Cuối cùng đoạn thơ kết thúc bằng hình ảnh mùa thu cũng không kém phần đẹp đẽ:

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

    Câu thơ đã xác định rõ, đây là mùa thu. Thiên nhiên mùa thu được miêu tả bằng ánh trăng. Việc sứ dụng hình ảnh trăng thật ra cũng không có gì độc đáo và mới mẻ. Tuy nhiên, đặt vào hoàn cảnh Việt Bắc lúc bấy giờ, ta thấy được niềm mơ ước hòa bình của người cán bộ cũng như toàn dân Việt Bắc. Tất cả đều nói lên niềm tin tưởng chiến thắng sẽ đến với cách mạng, với đất nước.

    Câu thơ thiếu cụ thể nên con người ở đây cũng thiếu cụ thể. Từ “ai” nhòa đi để tạo nền cho cả đoạn và cũng nhằm trả lời cho câu hỏi đầu tiên: “Mình về có nhớ ta chăng?”. Tuy hỏi thế nhưng trong lòng họ vẫn biết rằng con người ấy vẫn thủy chung, son sắt. Đây là lời đồng vọng trong tâm hồn của cả người đi và người ở lại.

    Qua đây ta thấy bao trùm cả đoạn thơ là tình cảm nhớ thương tha thiết tiếp tục âm hưởng chung của nghệ thuật ca dao. Câu thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, ý nọ gợi ý kia cứ trào lên dào dạt trong lòng người ra đi và người ở lại. Đặc biệt là qua cách xưng hô “mình” với “ta”. Ở đây điệp từ “nhớ” dùng để xoáy sâu vào cảm hứng chủ đạo là hồi ức. Bên cạnh đó, nhạc điệu dịu dàng trầm bổng khiến cả đoạn thơ mang âm hưởng bâng khuâng, êm êm như một khúc hát ru – khúc hát ru kỉ niệm. Có lẽ khúc hát ru này không của ai khác mà là của “ta” và cho người nhận là “mình”. Cả “ta” và “mình” đều cùng chung nỗi nhớ, cùng chung “tiếng hát ân tình” và ân tình sâu nặng ấy mãi còn lưu luyến vấn vương trong những tâm hồn chung thủy.

    Có thể nói đây là đoạn thơ hay và có giá trị nhất trong bài Việt Bắc. Cảnh hiên nhiên và con người trong đoạn thơ được miêu tả hết sức tuyệt vời và tươi đẹp tràn ngập sức sống. Và với giọng thơ ngọt ngào, tâm tình khiến đoạn thơ như một bản tình ca về lòng chung thủy, sắt son của người cách mạng đối với nhân dân, quê hương Việt Bắc.

    Sau khi đã Phân tích đoạn thơ: “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” trong bài Việt Bắc các em có thể đi vào Việt Bắc thể hiện rất đậm đà tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu hoặc tham khảo Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận mỗi nhà thơ lại có cách khám phá thể hiện riêng. Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến và Việt Bắc nhằm củng cố kiến thức của mình.

    Bài mẫu số 2: Phân tích đoạn thơ: “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” trong bài Việt Bắc

    Việt Bắc là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu. Lời thơ như khúc hát ân tình tha thiết về Việt Bắc, quê hương của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ở đó, bên cạnh cách những bức tranh hùng tráng, đậm chất sử thi về cuộc sống đời thường gần gũi, thân thiết được bao bọc bởi thiên nhiên vô cùng tươi đẹp:

    Ta về, mình có nhớ ta

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

    Đây là bức tranh được dệt bằng ngôn từ nghệ thuật toàn bích, có sự hòa quyện giữa cảnh và người, giữa cuộc đời thực với tấm lòng của nhà thơ 1 cách mạng.

    Mười câu thơ trên nằm trong trường đoạn gồm 62 câu thơ diễn tả tâm tư tình cảm của người cán bộ sắp sửa rời Việt Bắc, nơi mình đã 15 năm gắn bó với bao tình cảm máu thịt. Đoạn thơ mở đầu bằng một câu hỏi:

    Ta về, mình có nhớ ta.

    Nhưng thực ra, hỏi chỉ để mà hỏi, hỏi để tạo thêm cái cớ để giải bày nỗi lòng của mình:

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

    Câu thơ có nhịp điệu êm ái nhờ những điệp từ tạo và các thanh bằng B (6/8) như một lời ru, một câu hát không chỉ diền tả tâm trạng tha thiết của nhân vật trữ tình. Đây còn là lời ngợi ca về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Trong ngôn ngữ Việt, hoa còn có ý nghĩa biểu trưng về thiên nhiên, về những gì tươi đẹp. Đặt hoa bên cạnh người là sự tôn vinh về thiên nhiên và con người Việt Bắc.

    Vả lại hoa và người hòa quyện, gắn bó với nhau. Nói tới thiên nhiên không thể không nói đến con người và ngược lại, những con người ấy đã ở trong một thiên nhiên đẹp gần gũi.

    Phân tích nỗi nhớ của người cán bộ cách mạng với Việt Bắc trong đoạn thơ Ta về mình có nhớ ta

    Bốn câu thơ lục bát còn lại là một bức tranh liên hoàn về con người và thiên nhiên Việt Bắc. Nhiều người gọi đây là bộ tứ bình(xuân, hạ, thu, đông). Nhà thơ kế thừa nghệ thuật hội họa cổ truyền của dân tộc trong khi miêu tả thiên nhiên. Mỗi một câu thơ khắc hòa một bức tranh cụ thể nhưng cũng có thể ghép lại thành một bộ liên hoàn.

    Bức tranh thứ nhất:

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

    Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn. Trên cái nền xanh bạt ngàn của rừng, nổi bật lên hình ảnh những bông hoa chuối đỏ tươi. Nghệ thuật điểm xuyết trong thơ cổ (Cỏ non xanh rợn chân trời – cành lê trắng điểm một vài bông hoa – Nguyễn Du) tỏ ra rất hữu hiệu. Giữa bạt ngàn xanh của núi rừng Việt Bắc, màu đỏ của hoa chuối bỗng gợi lên sự ấm áp, có sức lan tỏa. Vì thế, thiên nhiên hùng vĩ ấy không xa lạ; trái lại, gần gũi, thân thiết với con người:

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

    Cũng là cách điểm xuyết những hình ảnh điểm nổi rõ hơn cảnh. Hơn nữa, cách điểm xuyết ấy rất độc đáo: càng chọn điểm nhỏ nhất thì sức gợi càng lớn hơn. Vì thế, câu thơ có sự nhấp nháy (nắng ánh) của hình ảnh và cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch, bỗng có sức sống, sự chuyền động- Thơ ca là nghệ thuật của thời gian. Với những nghệ sĩ tài hoa đó, việc tạo dựng nên những lớp thời gian chồng lấp và không gian không bất động, bất biến mà ngang sức sống nhờ sự tái sinh của những lớp ngôn từ. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng là một câu thơ như thế.

    Bức tranh thứ hai:

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    Khác bức. tranh thứ nhất, bức tranh thơ thứ hai mở đầu có sự định vị về thời gian (Ngày xuân). Nhưng tự thân thời gian ấy cũng đã mở ra không gian:

    Ngày xuân mở nở trắng rừng.

    Cách điệp âm (mơ / nở; trắng / rừng) cùng với hình ảnh của hoa mơ (màu trắng) tạo ra một không gian vừa rộng lớn, vừa có sự rộn ràng, náo nức của thiên nhiên. Nếu ở bức tranh thơ thứ nhất, nghệ thuật miêu tả của tác giả ở điểm xuyết, tìm hình ảnh gợi, sắc màu sáng (hoa đỏ, nắng ánhí dể diễn tả sự chuyển động của cảnh vật thì ở đây, nhà thơ lại hướng cái nhìn vào sự bao quát điệp trùng để tìm cái rạo rực (tiềm ẩn) của thiên nhiên.

    Trên cái nền không gian rộng lớn và náo nức ấy, nhà thơ hướng mắt nhìn về một hoạt động có vẻ tỉ mỉ:

    Người đan nón chuốt từng sợi giang.

    Nhiều người nói câu thơ ca ngợi “dáng diệu cần mẫn, cẩn trọng và tài hoa” trong “công việc thầm lặng” của người Việt Bắc. Có người nói “dưới ánh sáng của rừng mơ mùa xuân, hình ảnh cô gái Việt Bắc hiện lên thanh mảnh, dịu dàng”. Câu thơ có hình ảnh ấy. Con người Việt Bắc trong hoài niệm của Tố Hữu là như thế. Nhưng đó là hình ảnh thực. Trong chuồi hoài niệm của tác giả, hình ảnh kia chỉ là một điểm gợi nhớ. Câu thơ gợi lên cách cảm, cách nhìn của tác giả hơn là tả thực. Đó là hình ảnh đặc trưng của sinh hoạt đời thường ở Việt Bắc. Với nhiều người, nó có thể nhỏ nhật, không đáng nhớ. Với một nhà thơ ân tình như Tố Hữu, đó lại là hình ảnh khắc ghi trong tâm khảm.

    Bức tranh thứ ba:

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình.

    Câu thơ mở đầu bằng âm thanh (ve kêu), nhưng cũng là cách định vị bằng thời gian (mùa hè). Dòng thơ vừa có âm thanh rộn ràng, vừa có màu sắc đặc trưng của rừng Việt Bắc. Âm thanh và màu sắc ấy tạo nên cảnh tưng bừng của thiên nhiên. Nếu nói thiên nhiên cũng có đời sống riêng của nó thì đây quả thực là ngày hội của cảnh vật. Vì vậy, trong “ngày hội” ây hình ảnh cô em gái hái măng một mình không lẻ loi mà góp phần tạo nên bức tranh thơ hoàn chỉnh:

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình.

    Như đã nói, hoa và người Việt Bắc trong thơ Tố Hừu hòa quyện, cùng tôn vinh lẫn nhau. Trong hoài niệm này, tác giả dùng bút lực của mình để ca ngợi, tôn vinh sự hài hòa đó. Và chính sự hài hòa đó đã tạo nên chất thơ. Vì thế, không nên suy diễn, giàu chất tượng trứng với những nét sinh hoạt, lao động của cuộc sống thực.

    Bức tranh thứ tư:

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

    Câu thơ có kiểu mở đầu bằng sự định vị cả không gian lẫn thời gian (rừng thu). Đến đây, ta chú ý các kiểu định vị ở những câu thơ trên:

    Ứng với mỗi câu thơ và cách định vị trên là một mùa của thiên nhiên (mùa đông, mùa xuân, mùa hạ). Câu thơ này cũng là bức tranh về một mùa của thiên nhiên (mùa thu). Nhưng có lẽ vì đó là bức tranh cuối của bộ tứ bình và là tiếng hát cuối của một trường đoạn hoài niệm nên hình ảnh tất thảy đều trở nên tượng trưng, âm hưởng cũng bao quát hơn:

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

    Không gian mênh mông chẳng khác gì cảnh thu huyền ảo của thơ mới:

    Nai cao gót lẫn trong mù

    Xuống rừng nẻo thuộc nghìn thu mới về.

    (Huy Cận)

    (Hằng Phương)

    Rừng thu Việt Bắc trong thơ Tố Hữu mênh mông nhưng không lạnh lẽo. “Trăng rọi hòa bình” vừa mang ý nghĩa ánh trăng của cuộc đời ân tình ấy, lại vừa mang ý nghĩa cuộc sống có sự soi rọi ấm áp của niềm tin, tự do. Và, trong cuộc sống ấm áp ấy, có biết bao nhiêu nghĩa tình sâu nặng.

    Thơ Tố Hữu là khúc hát của tự do, của ân tình cách mạng. Bản thân cuộc đời ân tình ấy, đối với nhà thơ, luôn là bài ca sâu nặng. Vì thế, nhà thơ không chỉ cảm, nghĩ về cuộc dời mà cất tiếng ca ngợi. Tiếng hát ân tình thuỷ chung trong bài thơ Việt Bắc là tiếng hát như thế.

    Bộ tứ bình bằng thơ về cảnh và người Việt Bắc được dệt dưới ánh sáng của hoài niệm da diết. Thông thường, người ta chỉ nhớ những gì mang ấn tượng nhất của quá khứ và thời gian càng lùi xa thì ấn tượng ấy càng trở nên tươi dẹp, huyền ảo hơn. Hàng loạt điệp từ nhớ (5 từ) trong một thơ như là sư nối dài của lòng hoài niệm không dứt.

    Việt Bắc là bài thơ hay của Tố Hữu. Ở đó, nhà thơ thể hiện sự tài hoa của mình trên nhiều phương diện của nghệ thuật sáng tạo thi ca. Sự tài hoa ấy được dẫn dắt của một điệu tâm hồn đầy tình nghĩa của nhà thơ. Đoạn thơ trên là một trong những đoạn thơ hay nhất của bài thơ Việt Bắc bởi kết tinh một nghệ thuật thơ ca vừa giàu tính dân tộc, vừa mang tính hiện đại trong một điệu tâm hồn say đắm.

    Bài mẫu số 3: Phân tích đoạn thơ: “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” trong bài Việt Bắc

    Tố Hữu một nhà thơ xếp thứ hai sau Hồ Chí Minh về thơ ca cách mạng. Chàng thi sĩ ngày nào vẫn còn bâng khuâng đi kiếm lẽ yêu đời với ước nguyện sống sao cho có ích thì nay đã được giác ngộ cách mạng và trở thành một nhà thơ- chiến sĩ xuất sắc trên cả hai lĩnh vực thơ ca và chiến đấu trên mặt trận. Bài thơ Việt Bắc được viết để nói về sự kiện thắng lợi Điện Biên Phủ của nhân dân ta. Chiến sĩ bộ đội phải chia tay với đồng bào Việt Bắc để trở về Hà Nội. Bấy nhiêu thời gian sinh sống và sinh hoạt cùng nhau tình quân dân gắn kết khiến cho cuộc chia ly bịn rịn. Đặc biệt trong bài thơ đoạn thơ “Ta về mình có nhớ ta/…./ Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” là đoạn thơ vừa tả cảnh vừa ca ngợi vẻ đẹp của người dân Việt Bắc. Đây là bức tranh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt bốn mùa nơi Việt Bắc yêu dấu.

    Bức tranh thiên nhiên ấy mở đầu bằng mùa đông. Không phải tự nhiên nhà thơ lại chọn mùa đông mở đầu cho bức tranh ấy, theo lẽ thường thì xuân hạ thu rồi mới đến đông. Thế nhưng ở đây nhà thơ chọn mùa đông trước vì đây chính là khoảng thời gian mà người cách mạng đến với Việt Bắc:

    Người cách mạng tự hỏi khi mình về liệu người dân Việt Bắc có nhớ đến mình không. Cách xưng hô mình ta được nhà thơ kế thừa từ trong ca dao dân ca thể hiện sự thân thiết, gần gũi. Người cách mạng trở về xuôi sẽ nhớ cả cảnh và người Việt Bắc. Bức tranh thiên nhiên mùa đông được tô điểm bằng hình ảnh của những bông hoa chuối rừng. Trên nền rừng xanh ngát những bông chuối màu đỏ tươi nở rộ như tô thắm cả một cánh rừng. Nói đến mùa đông người ta thường nghĩ đến những khung cảnh ảm đạm, lạnh lẽo, cây lá rụng cành lìa gốc mà rơi vậy mà ở xưa Việt Bắc này màu sắc lại tươi đẹp đến thế. Trên nền cảnh tươi sáng ấy con người xuất hiện với hình ảnh lao động. Trên đèo cao ánh nắng ban chiếu vào con dao gài ở thắt lưng người Việt Bắc khiến cho con dao sáng lên. Đèo cao đấy, con người nhỏ bé thật đấy nhưng con người vẫn cao hơn đèo. Ở đây ta có thể thấy sự làm chủ thiên nhiên, sự chủ động của người Việt Bắc.

    Phân tích đoạn thơ Ta về mình có nhớ ta trong Việt Bắc để thấy được tình cảm thủy chung của người cán bộ về xuôi

    Tiếp theo là bức tranh mùa xuân, nơi Việt Bắc thân yêu của nhà thơ những cảnh vật mùa xuân hiện lên là hoa mơ trắng và người đan nón:

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ ai đan nón chuốt từng sợi giang”

    Việt Bắc mùa xuân đến hoa mơ trắng nở rộ khắp cánh rừng, nó mang đến cho thiên nhiên một cảnh đẹp nền nã, dịu dàng. Những cánh trắng hoa mơ trước ánh nắng nhẹ nhàng của mùa xuân trở nên tinh khiết và trong trắng làm sao. Người chiến sĩ cách mạng trước cảnh đẹp nên thơ ấy lại nhớ đến hình ảnh người Việt Bắc chăm chỉ kiên trì chuốt từng sợi giang đan nón. Ở đây ta thấy được vẻ đẹp chăm chỉ, bền bỉ và kiến trì của con người Việt Bắc.

    Mùa xuân qua đi mùa hạ lại về, hoa mơ được thay thế bằng rừng phách, màu trắng được thay thế bằng màu vàng – màu đặc trưng của mùa hạ. Đặc biệt trong cảnh ngày hè ấy không thể thiếu âm thanh của những dàn đồng ca mùa hạ là tiếng của những chú ve:

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ con em gái hái măng một mình”

    Nhà thơ sử dụng thật đắt, thật hay từ “đổ”, nối tiếp câu thơ tả cảnh mùa xuân, mùa hè hiện ra như đổ màu vàng thay thế cho cánh rừng hoa mơ trắng. Cánh rừng ấy đang ngả mình đón mùa hè với màu sắc khác biệt, rực rỡ hơn. Người chiến sĩ nhớ người con gái Việt Bắc hái măng một mình. Hai từ “một mình” cho ta thấy sự nguy hiểm luôn dình dập bên cạnh cô gái nhưng đồng thời cũng cho thấy được sự gan góc, dũng cảm của người em gái Việt Bắc.

    Cuối cùng là bức tranh mùa thu, bức tranh ấy hiện lên với những hình ảnh của ánh trăng và tiếng hát của người thủy chung:

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

    Mùa thu là mùa của ánh trăng, nếu trước đây Hồ Chí Minh từng viết:

    Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

    Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,

    Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

    Thì nay Tố Hữu đã được “Rừng thu trăng rọi hòa bình”. Trước đây Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ của đất nước còn lo nỗi nước nhà trước ánh trăng đẹp thì giờ đây ánh trăng nơi Việt Bắc đã là ánh trăng của hòa bình. Ánh trăng ấy mang ánh sáng của niềm tin yêu cuộc sống,của sự ấm no yên bình. Người Việt Bắc hiện lên với những tiếng hát tình nghĩa thủy chúng. Người chiến sĩ và người Việt Bắc có thể tạm thời phải chia li nhưng nhưng trong lòng cả hai bên vẫn luôn nhớ về nhau với những kỉ niệm đẹp.

    Có thể nói nhà thơ Tố Hữu đã rất thành công khi vẽ lên một bức tranh thiên nhiên bốn mùa nơi Việt Bắc núi cao, đèo lớn. Những hình ảnh thiên nhiên ấy gắn liền với hai từ Việt Bắc, con người nơi đây hiện lên với những nét đẹp tâm hồn và tính cách chăm chỉ, kiên trì, làm chủ, gan góc, tình nghĩa. Những đức tính ấy cũng góp phần làm nên chiến thắng cho dân tộc ngày hôm nay.

    Bài mẫu số 4: Phân tích đoạn thơ: “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” trong bài Việt Bắc

    Tố Hữu luôn viết về lí tưởng, về lẽ sống, lòng trung thành với cách mạng, là một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu nhất của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông là người có tấm lòng yêu dân, yêu nước sâu sắc, vì vậy các sáng tác của ông rất gần gũi với nhân dân. Bài thơ Việt Bắc là một bức tranh trữ tình mà hoàng tráng, bao quát cả một không gian toàn bộ Việt Bắc là một bài thơ dài, không phải đoạn nào viết cũng đều tay. Nhưng có những đoạn quả thật là đặc sắc mà ở đó người đọc thấy được vẻ đẹp của ngòi bút Tố Hữu.

    Trong mỗi câu thơ tác giả đã có sự kết hợp giữa hoa và người. Nó là một bức tranh tứ bình diễn tả họa và người ở Việt Bắc trong bốn mùa bằng những nét đặc trưng nhất của miền này. Có thể nói, cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc tuy được mô tả rải rác trong cả bài thơ nhưng dường như nó được kết tinh vào đoạn này một cách hàm súc, cô đúc nhất.

    Mỗi một câu thơ như một lời đối đáp thân tình của cặp đôi trai gái, lời thơ ngọt ngào tha thiết, đi vào lòng người:

    “Ta về mình có nhơ ta”

    Lời đối đáp nghe thật thắm thiết, quyến luyến của đôi trai gái, nhưng với cách xưng hô ta – mình, mình – ta, khiến cho tình cảm của hai người lại trở nên bình dị, vô tư. Cũng nhờ cách xưng hô này, đôi trai gái lại có điều kiện thoải mái để bày tỏ tình cảm của mình. Ta vẫn chẳng biết mình có nhớ ta không, nhưng ngay cả khi mình không nhớ ta thì ta vẫn cứ nhớ mình. Mà nỗi nhớ mới duyên dáng và tế nhị làm sao:

    “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”

    Người ra về lưu luyến với Việt Bắc không chỉ có cảnh đẹp mà còn cả con người tình nghĩa nơi đây. Trong nỗi nhớ của người đi, hai hình ảnh này là đồng hiện, soi chiếu vào nhau. Hoa là thứ đẹp nhất của thiên nhiên, còn người ta lại là “hoa của đất”. Vì vậy, hễ nhớ đến người thi hiện bóng hoa, hễ nhớ về hoa thì hiện hình người. Hoa và người không thể tách rời. Mà nói với một người con gái, lại nói “hoa cùng người” thì đó chẳng phải là một lời đánh giá kín đáo hay sao?

    Hình ảnh đẹp và được tác giả nhắc đến là hình ảnh hết sức bình dị, diễn ra ở mọi nơi trên đất trời Việt Bắc:

    “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

    Một màu xanh man mác, dấu hiệu của cuộc sống tươi đẹp, tràn trề nhựa sống đang bao trùm không gian, đất trời vùng Việt Bắc. Đó là một màu xanh mênh mông, trầm tĩnh của rừng già. Nó gợi ra hình ảnh một xứ sở êm đềm, lặng lẽ, yên tĩnh. Nhưng trên cái nền xanh ấy, chúng ta nhìn thấy hình ảnh hoa chuối rừng bập bùng cháy như những bó đuốc. Ai đã biết hoa chuối nở, sẽ thấy rằng tuy tác giả viết hai chữ “đỏ tươi” nhưng cũng đủ gợi cho chúng ta biết hoa chuối đã làm sáng lên một góc rừng. Thế là hoa chuối làm cho cảnh rừng trở nên sống động hơn. Đồng thời hình ảnh hoa chuối lại được tô điểm thêm những tia nắng ở câu thứ hai càng làm cho không khí vốn trầm mặc ở nơi này lại trở nên tươi sáng và linh động. Trên nền cảnh ấy, hình ảnh con người xuất hiện:

    ”Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

    Đó là hình ảnh những con người lao động của núi rừng Việt Bắc. Họ đang bước lên đèo với một tinh thần lao động miệt mài, không quản khó nhọc. Thiên nhiên cũng như hòa cùng vào niềm vui với những người lao động. Người đứng trên đỉnh đèo cao, ánh nắng chiếu vào lưỡi dao trên thắt lưng, lóe sáng. Nó gợi được một tư thế vững chãi, tự tin của người làm chủ núi rừng. Tố Hữu thường mô tả con người trong những tư thế ấy. Trong bài Lên Tây Bắc tác giả có viết:

    Trong đoạn thơ trên nhà thơ không vẽ kĩ mà chỉ chấm phá vài nét song cũng đủ cho ta hình dung khá rõ nét về hình tượng. Vậy là, tương ứng với một cảnh hoa là một dáng điệu người, mỗi dáng điệu toát lên một phẩm chất của người Việt Bắc.

    Văn mẫu Phân tích đoạn thơ Ta về mình có nhớ ta trong Việt Bắc lớp 12

    Mùa xuân ở Việt Bắc thì đẹp lắm, làm say đắm lòng người. Nhưng đi vào thơ ca Tố Hữu thì vẽ đẹp ấy thật đời thường, nhưng không phải ai cũng có thể nhận ra vẻ đẹp ấy.

    “Ngày xuân hoa nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

    Một màu trắng tinh khiết của hoa mơ đã bao trùm khắp núi rừng Việt Bắc. Hai chữ “trắng rừng” khiển cảnh rừng bừng sáng. Phải nói rằng đây là một hình ảnh có sức ám ảnh lớn đối với hồn thơ Tố Hữu. Việt Bắc trong nỗi nhớ của Tố Hữu dường như không thể thiếu được sắc hoa này. Về sau, trong bài Theo chân Bác, Tố Hữu viết:

    Giữa một không gian bao la tươi đẹp ấy là hình ảnh những người lao động cần cù, đáng quý. Hai chữ “chuốt từng” gợi ra được dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng và tài hoa. Không gì người đan nón kia gửi vào từng sợi giang nỗi niềm gì, ước mơ gì?

    “Ve kêu rừng phách đỏ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình”

    Bức tranh thiên nhiên tác giả nói đến không chỉ thấy màu sắc, đường nét và ánh sáng, mà chúng ta còn nghe thấy được âm thanh của rừng, đó là tiếng nhạc ve. Nhạc ve làm cho không khí trở nên xao động. Phải nói rằng trong các bức tranh ở đây thì Việt Bắc mùa hè là đặc sắc hơn cả. Trong câu thơ, chúng ta thấy dường như có một có một phản ứng dây chuyền chạy từ đầu đến cuối câu thơ. Ve kêu gọi hè đến, hè đến làm cho những rừng phách ngả sang màu vàng. Ai đã lên Việt Bắc, dễ thấy hình ảnh kì lạ của những cánh rừng phách vẫn là màu xanh, nụ hoa vẫn náu kín trong những kẽ lá. Nhưng khi những tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên thì chúng đồng loạt trổ hoa vàng. Chỉ có một vài ba ngày mà những rừng phách đã lênh láng sắc vàng. Chữ “đổ” là một chữ tinh tế. Nó nhấn mạnh khía cạnh mau lẹ trong việc biến đổi màu sắc, đồng thời diễn tả những trận mưa hoa vàng rừng phách mỗi khi có một luồng gió ào qua. Rõ ràng, gam màu đến đây đã thay đổi hẳn, sắc trắng đã nhường chổ hẳn cho sắc vàng. Dường như âm thanh đã làm biến đổi thay màu sắc. Trên nền cảnh ấy xuất hiện một hình ảnh lao động đầy kiên nhẫn của một cô gái Việt Bắc: “Nhớ cô em gái hãi măng một mình”. Hình ảnh này làm toát lên dáng điệu chịu thương, chịu khó, hay lam hay làm, giàu đức hi sinh. Bao bọc lên hình ảnh này dường như chúng ta thấy sự cảm thương kín đáo của người viết.

    Ngày ở Việt Bắc đã đẹp, đêm trăng mới tĩnh mịch, thơ mộng làm sao. Bức tranh vẽ ra những ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành một khung cảnh huyền ảo:

    “Rừng thu trăng rọi hòa bình”.

    Tác giả đã tái hiện lên cảnh đêm trăng trên nứi rừng Việt Bắc, của những đêm hòa bình, không có bóng giặc, tạo cho dân làng cuộc sống yên bình. Đây đúng là khung cảnh hữu tình dành cho những cuộc hát dao duyên. Cho nên nó cũng là cảnh cuối cùng:

    “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

    Chữ “ai” là cách nói bóng gió, ám chỉ người đang hát cùng với mình, làm cho lời lẽ trở nên tình tứ hơn. Và qua tiếng hát chúng ta thấy được phẩm chất ân tình, chung thủy của người Việt Bắc.

    Với những từ ngữ hết sức bình dị, lời thơ du dương Tố Hữu đã tái hiện lại những gì là đặc trưng nhất của quê hương cách mạng. Đó là tình yêu của tác giả với căn cứ quan trọng của cuộc cách mạng. Chính nơi thơ mộng này đã nuôi dưỡng và rèn luyện những người con của cách mạng, làm cho họ thấm nhuần lí tưởng cách mạng và thêm yêu đất nước quê hương, làm động lực để tiếp tục đứng lên chống lại bom đạn của kẻ thù.

    Bài mẫu số 5: Phân tích đoạn thơ: “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” trong bài Việt Bắc

    Lịch sử dân tộc không ít những trang viết bằng thơ. Một trong những trang viết tiêu biểu ấy là thơ Tố Hữu – một nhà thơ lớn của thơ ca cách mạng Việt Nam. Ta bắt gặp trong thơ Tố Hữu chặng đường cách mạng của dân tộc. Các sự kiện, các dấu mốc của lịch sử Việt Nam suốt hơn nửa thế kỉ từ khi Đảng ra đời đến sau chiến thắng mùa xuân 1975 được ông ghi lại trong những vần thơ trữ tình cách mạng tha thiết. Việt Bắc là một trong số đó. Bài thơ ghi lại sự kiện Đảng và Nhà nước chuẩn bị rời Việt Bắc về Hà Nội sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Trong bài thơ của mình, Tố Hữu đã thể hiện những tình cảm tha thiết của người đi – kẻ ở, thể hiện những cảm nhận sâu sắc của tác giả về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Điều này được thể hiện rõ nét qua đoạn thơ:

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

    Đoạn thơ là một bức tranh Việt Bắc qua bốn mùa và hàm chứa một nỗi nhớ nhung da diết cũng như biểu lộ tấm lòng chung thủy của tác giả nói riêng cũng như người cán bộ nói chung đối với Việt Bắc.

    5 bài mẫu Phân tích đoạn thơ Ta về mình có nhớ ta trong Việt Bắc

    Hai câu đầu của đoạn thơ là lời hỏi và kể của người ra đi, muốn biết lòng người ở lại như thế nào và tự bộc lộ tấm lòng mình. Tám câu tiếp theo vẽ nên thiên nhiên Việt Bắc đầy thơ mộng và con người Việt Bắc đầy thân thương qua lời của người đi. Đầu tiên mùa đông xuất hiện với những bông chuối đỏ rực trên nền rừng xanh thẫm của những buổi hoàng hôn và hình ảnh con người lao động vui tươi. Tiếp đến là mùa xuân rực rỡ màu trắng của mơ và hình ảnh người đan nón. Rồi mùa hạ đến đầy màu vàng của rừng phách và đầy âm thanh của tiếng ve. Con người lại xuất hiện dưới hình ảnh cô gái một mình đang hái măng. Kết thúc là rừng thu ngập ánh trăng và không gian ngập tiếng hát. Cứ mỗi câu thơ tả thiên nhiên lại có một câu thơ tả con người, con người hoà quyện trong thiên nhiên nhưng không chìm trong thiên nhiên và luôn ở tư thế lao động, chủ động, thiên nhiên là nền nâng con người, tô điểm cho con người.

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người

    Cái đẹp của câu thơ là hình ảnh hoa cùng người, bởi chăng con người cũng là một bông hoa trong vườn hoa sự sống. Hình ảnh tạo nên nét hài hoà giữa thiên nhiên và con người, hoa và người tôn vẻ đẹp của nhau. Bốn câu lục bát sau tả bức tranh bốn mùa với những hình ảnh, màu sắc tươi tắn và âm thanh rộn ràng. Dù là mùa đông hay mùa hạ, mùa xuân hay mùa thu, tất cả đều có màu tươi vui. Màu đỏ của hoa chuối làm cho mùa đông bớt lạnh. Màu trắng của hoa mơ và màu vàng của rừng phách càng tôn thêm vẻ rực rỡ của thiên nhiên một sự êm ả, thơ mộng và cảm giác thanh bình cho lòng người. Tất cả những đường nét đó vẽ nên bức tranh tứ bình đặc sắc bởi lời thơ mềm mại. Song nếu chỉ là bức tranh thì chưa đủ bởi thiếu âm thanh thiên nhiên Việt Bắc: Ta về, ta nhớ những hoa cùng người, không thiếu âm thanh, còn có tiếng ve kêu mùa hạ và tiếng hát của con người. Tác giả chọn tiếng ve là một sự lựa chọn hợp lí và mang tính tiêu biểu. Bởi ở Việt Nam, nói đến tiếng ve là người ta nghĩ ngay đến mùa hè. Tiếng ve rả rích tuy bình thưởng nhưng là một biểu tượng bằng âm thanh cho mùa hạ với màu vàng rất riêng của Việt Bắc tạo nên một sự kết hợp nghe – nhìn đặc biệt làm cho bức tranh mùa hạ vừa có nét riêng của Việt Bắc vừa có nét chung của đất nước. Phải chăng dụng ý của tác giả là để từ đó, dù mai sau có ở đâu, khi nghe tiếng ve kêu, ai cũng có thể liên tưởng và nhớ lại Việt Bắc? Vậy là thiên nhiên Việt Bắc, chỉ qua vài câu thơ đã được miêu tả đầy đủ và mang tính cách riêng độc đáo với hình ảnh và âm thanh chọn lọc khéo léo.

    Trên nền thiên nhiên tuyệt đẹp đó, con người hiện ra trong tư thế chủ động và đầy sức sống. Bốn câu bát nói về con người cũng rất tinh tế và tình cảm. Tác giả chọn lọc phác họa những hình ảnh con người lao động thấp thoáng nhưng đủ sức gợi. Đó là hình ảnh người đi rẫy, đan nón, hái măng, hay kín đáo hơn một tiếng hát khi lao động hay trong một đêm sinh hoạt văn nghệ. Hình ảnh nắng ánh dao gài thắt lưng rất đặc trưng khoẻ khoắn và vui tươi. “Nắng” như tiếp thêm sự sống động cho con người chứ không mang vẻ gay gắt. Khi nhớ về hình ảnh người đan nón, tác giả gián tiếp bày tỏ lòng biết ơn đối với những đóng góp của Việt Bắc cho kháng chiến. Một cách bày tỏ kín đáo và tế nhị! Kí ức về cô em gái hái măng rất tình cảm bởi cách sử dụng từ “cô em gái” một cách trìu mến. Hơn nữa cảnh thiên nhiên thật rực rỡ, tươi đẹp, đầy âm thanh và màu sắc sống động. Cuối cùng, kỉ niệm về tiếng hát gây cho người đối thoại của nhân vật trữ tình xưng “ta” cũng như cả người đọc sự xúc động thật sự. Bởi tiếng hát xuất phát từ tâm hồn và tiếng hát “ân tình thuỷ chung” theo người đi là một kỉ niệm, một tình cảm êm dịu và lâu dài. Tiếng hát ấy phải chăng cũng chính là tâm hồn của tác giả.

    Tố Hữu có biệt tài chọn lọc hình ảnh và phối hợp ánh sáng rất độc đáo. Ông có một tâm hồn nhạy cảm và có khả năng truyền cảm xúc của mình cho người khác. Chẳng hạn như chỉ với hai câu thơ:

    Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan

    Đường bạch dương sương trắng nắng tràn.

    Cũng đủ khiến cho người đọc có cảm giác như mình đang ở Ba Lan thật sự. Tâm hồn Tố Hữu say mê và mạnh mẽ nhưng cũng rất sâu lắng và thủy chung. Với Tố Hữu, chính trị là một nguồn thơ thực sự, ông say mê sống với lí tưởng cách mạng và với niềm tin chân thật, ông muốn mang lí tưởng đó đến cho mọi người, ông thực hiện điều đó bằng tài năng thi ca của mình. Một điều đáng tiếc là những tập thơ sau này của ông như Ra trận, Máu và hoa có phần trở nên khô khan, đôi khi mang nặng tính triết lí và giáo huấn. Tuy nhiên, đoạn thơ vừa được phân tích ở trên là một bằng chứng hùng hồn cho tài năng sáng tạo của ông. Với tôi, đoạn thơ thực sự là một điểm son trong những sáng tác của Tố Hữu mang đậm tính dân tộc và cảm xúc chân thực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Bài Mẫu Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Tiếng Hát
  • Phân Tích Đoạn Thơ ” Mình Về Mình Có Nhớ Ta …”
  • Hướng Dẫn Làm Chủ Đề Về Biện Pháp Tu Từ Trong Môn Văn
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Môn Ngữ Văn 9 Thời Gian Làm Bài: 15 Phút
  • Trắc Nghiệm Ngữ Văn Lớp 10: Bài
  • 4 Bài Mẫu Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Tiếng Hát

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Thơ: “ta Về, Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiế
  • Mình Về Mình Có Nhớ Ta Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng. Mình V
  • Bình Giảng Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu: Ta Về, Mình Có Nhớ Ta. Ta Về, Ta Nhớ Những Hoa Cùng Người… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Phân Tích Đoạn Thơ Ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Chứng Minh Tính Dân Tộc Trong Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Qua Đoạn Thơ: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung”
  • Với giọng điệu tha thiết, ngọt ngào, đoạn thơ “Ta về mình có nhớ ta…ân tình thủy chung” là đoạn thơ đặc sắc khẳng định tình cảm thủy chung, nghĩa tình của người cách mạng về xuôi với con người Việt Bắc. Bài văn Cảm nhận về đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài Việt Bắc giúp các em có thêm những gợi ý hay khi viết bài cảm nhận về đoạn thơ hay bài cảm nhận về bài thơ Việt Bắc sâu sắc, hấp dẫn.

    Đề bài: Cảm nhận về đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài Việt Bắc

    4 bài văn mẫu Cảm nhận về đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài Việt Bắc

    Mẹo Cách cảm nhận một tác phẩm thơ, văn

    Bài mẫu số 1: Cảm nhận về đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài Việt Bắc

    Lịch sử dân tộc không ít những trang viết bằng thơ. Một trong những trang viết tiêu biểu ấy là thơ Tố Hữu – một nhà thơ lớn của thơ ca cách mạng Việt Nam. Ta bắt gặp trong thơ Tố Hữu chặng đường cách mạng của dân tộc. Các sự kiện, các dấu mốc của lịch sử Việt Nam suốt hơn nửa thế kỉ từ khi Đảng ra đời đến sau chiến thắng mùa xuân 1975 được ông ghi lại trong những vần thơ trữ tình cách mạng tha thiết. Việt Bắc là một trong số đó. Bài thơ ghi lại sự kiện Đảng và Nhà nước chuẩn bị rời Việt Bắc về Hà Nội sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Trong bài thơ của mình, Tố Hữu đã thể hiện những tình cảm tha thiết của người đi – kẻ ở, thể hiện những cảm nhận sâu sắc của tác giả về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Điều này được thể hiện rõ nét qua đoạn thơ:

    Ta về mình có nhớ ta,

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

    Đoạn thơ là một bức tranh Việt Bắc qua bốn mùa và hàm chứa một nỗi nhớ nhung da diết cũng như biểu lộ tấm lòng chung thủy của tác giả nói riêng cũng như người cán bộ nói chung đối với Việt Bắc.

    Cảm nhận về đoạn thơ “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong Việt Bắc

    Hai câu đầu của đoạn thơ là lời hỏi và kể của người ra đi, muốn biết lòng người ở lại như thế nào và tự bộc lộ tấm lòng mình. Tám câu tiếp theo vẽ nên thiên nhiên Việt Bắc đầy thơ mộng và con người Việt Bắc đầy thân thương qua lời của người đi. Đầu tiên mùa đông xuất hiện với những bông chuối đỏ rực trên nền rừng xanh thẫm của những buổi hoàng hôn và hình ảnh con người lao động vui tươi. Tiếp đến là mùa xuân rực rỡ màu trắng của mơ và hình ảnh người đan nón. Rồi mùa hạ đến đầy màu vàng của rừng phách và đầy âm thanh của tiếng ve. Con người lại xuất hiện dưới hình ảnh cô gái một mình đang hái măng. Kết thúc là rừng thu ngập ánh trăng và không gian ngập tiếng hát. Cứ mỗi câu thơ tả thiên nhiên lại có một câu thơ tả con người, con người hoà quyện trong thiên nhiên nhưng không chìm trong thiên nhiên và luôn ở tư thế lao động, chủ động, thiên nhiên là nền nâng con người, tô điểm cho con người.

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người

    Cái đẹp của câu thơ là hình ảnh hoa cùng người, bởi chăng con người cũng là một bông hoa trong vườn hoa sự sống. Hình ảnh tạo nên nét hài hoà giữa thiên nhiên và con người, hoa và người tôn vẻ đẹp của nhau. Bốn câu lục bát sau tả bức tranh bốn mùa với những hình ảnh, màu sắc tươi tắn và âm thanh rộn ràng. Dù là mùa đông hay mùa hạ, mùa xuân hay mùa thu, tất cả đều có màu tươi vui. Màu đỏ của hoa chuối làm cho mùa đông bớt lạnh. Màu trắng của hoa mơ và màu vàng của rừng phách càng tôn thêm vẻ rực rỡ của thiên nhiên một sự êm ả, thơ mộng và cảm giác thanh bình cho lòng người. Tất cả những đường nét đó vẽ nên bức tranh tứ bình đặc sắc bởi lời thơ mềm mại. Song nếu chỉ là bức tranh thì chưa đủ bởi thiếu âm thanh thiên nhiên Việt Bắc: Ta về, ta nhớ những hoa cùng người, không thiếu âm thanh, còn có tiếng ve kêu mùa hạ và tiếng hát của con người. Tác giả chọn tiếng ve là một sự lựa chọn hợp lí và mang tính tiêu biểu. Bởi ở Việt Nam, nói đến tiếng ve là người ta nghĩ ngay đến mùa hè. Tiếng ve rả rích tuy bình thưởng nhưng là một biểu tượng bằng âm thanh cho mùa hạ với màu vàng rất riêng của Việt Bắc tạo nên một sự kết hợp nghe – nhìn đặc biệt làm cho bức tranh mùa hạ vừa có nét riêng của Việt Bắc vừa có nét chung của đất nước. Phải chăng dụng ý của tác giả là để từ đó, dù mai sau có ở đâu, khi nghe tiếng ve kêu, ai cũng có thể liên tưởng và nhớ lại Việt Bắc? Vậy là thiên nhiên Việt Bắc, chỉ qua vài câu thơ đã được miêu tả đầy đủ và mang tính cách riêng độc đáo với hình ảnh và âm thanh chọn lọc khéo léo.

    Trên nền thiên nhiên tuyệt đẹp đó, con người hiện ra trong tư thế chủ động và đầy sức sống. Bốn câu bát nói về con người cũng rất tinh tế và tình cảm. Tác giả chọn lọc phác họa những hình ảnh con người lao động thấp thoáng nhưng đủ sức gợi. Đó là hình ảnh người đi rẫy, đan nón, hái măng, hay kín đáo hơn một tiếng hát khi lao động hay trong một đêm sinh hoạt văn nghệ. Hình ảnh nắng ánh dao gài thắt lưng rất đặc trưng khoẻ khoắn và vui tươi. “Nắng” như tiếp thêm sự sống động cho con người chứ không mang vẻ gay gắt. Khi nhớ về hình ảnh người đan nón, tác giả gián tiếp bày tỏ lòng biết ơn đối với những đóng góp của Việt Bắc cho kháng chiến. Một cách bày tỏ kín đáo và tế nhị! Kí ức về cô em gái hái măng rất tình cảm bởi cách sử dụng từ “cô em gái” một cách trìu mến. Hơn nữa cảnh thiên nhiên thật rực rỡ, tươi đẹp, đầy âm thanh và màu sắc sống động. Cuối cùng, kỉ niệm về tiếng hát gây cho người đối thoại của nhân vật trữ tình xưng “ta” cũng như cả người đọc sự xúc động thật sự. Bởi tiếng hát xuất phát từ tâm hồn và tiếng hát “ân tình thuỷ chung” theo người đi là một kỉ niệm, một tình cảm êm dịu và lâu dài. Tiếng hát ấy phải chăng cũng chính là tâm hồn của tác giả.

    Tố Hữu có biệt tài chọn lọc hình ảnh và phối hợp ánh sáng rất độc đáo. Ông có một tâm hồn nhạy cảm và có khả năng truyền cảm xúc của mình cho người khác. Chẳng hạn như chỉ với hai câu thơ:

    Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan

    Đường bạch dương sương trắng nắng tràn.

    Cũng đủ khiến cho người đọc có cảm giác như mình đang ở Ba Lan thật sự. Tâm hồn Tố Hữu say mê và mạnh mẽ nhưng cũng rất sâu lắng và thủy chung. Với Tố Hữu, chính trị là một nguồn thơ thực sự, ông say mê sống với lí tưởng cách mạng và với niềm tin chân thật, ông muốn mang lí tưởng đó đến cho mọi người, ông thực hiện điều đó bằng tài năng thi ca của mình. Một điều đáng tiếc là những tập thơ sau này của ông như Ra trận, Máu và hoa có phần trở nên khô khan, đôi khi mang nặng tính triết lí và giáo huấn. Tuy nhiên, đoạn thơ vừa được phân tích ở trên là một bằng chứng hùng hồn cho tài năng sáng tạo của ông. Với tôi, đoạn thơ thực sự là một điểm son trong những sáng tác của Tố Hữu mang đậm tính dân tộc và cảm xúc chân thực.

    Bài mẫu số 2: Cảm nhận về đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài Việt Bắc

    Ân tình và chung thủy – đó là một nét đẹp trong rất nhiều nét đẹp của con người cách mạng. Nét đẹp ấy thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ta cũng bắt gặp nét đẹp ấy trong Việt Bắc của Tố Hữu. Tập trung, tiêu biểu nhất là ở đoạn thơ:

    “Ta về mình có nhớ ta …

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

    Việt Bắc tràn đầy nỗi nhớ của người kháng chiến về xuôi với quê hương cách mạng trong mười lăm năm “thiết tha mặn nồng tình nghĩa. Biết bao chữ ”nhớ” vang lên trong bài thơ cùng với bao nhiêu nỗi nhớ của người ra đi và người ở lại. Nhớ chiến khu, nhớ “mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”, nhớ những đêm “quân đi điệp điệp trùng trùng”, nhớ “ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang” và cả “nhớ gì như nhớ người yêu”… Giữa rất nhiều nỗi nhớ ấy, hiện lên một nỗi nhớ vừa đằm thắm thiết tha lại vừa bâng khuâng man mác:

    Ta về mình có nhớ ta…

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

    Mười câu thơ trên là đoạn thơ thứ năm của bài thơ Việt Bắc, tự nó đã có tính hoàn chỉnh. Đó là bức tranh toàn cảnh và tiêu biểu của Việt Bắc qua bốn mùa trong năm. Bức tranh ấy rực rỡ, tươi tắn nhưng cũng bâng khuâng, man mác vì nó được lọc qua nỗi nhớ của người về xuôi. Nỗi nhớ được bộc lộ tha thiết trong buổi chia tay:

    Ta về mình có nhớ ta

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người.

    Hai lần “ta về” láy lại ở đầu câu – cùng một thời điểm chia tay, nhưng câu trên là hỏi người, câu dưới là giãi bày lòng mình. Cái giọng thơ tâm tình của Tố Hữu ở đây thật ngọt ngào dễ thương. Cuộc chia tay giữa người kháng chiến và người Việt Bắc, giữa miền ngược với miền xuôi đã trở thành một cuộc giã bạn đôi lứa (ta – mình). Nỗi nhớ về những ngày gian nan gắn bó với cảnh và người Việt Bắc cứ hiện dần trong tâm trí người đi. Cảnh vật, con người Việt Bắc, cái gì cũng đáng yêu, đáng nhớ. Nhớ trước nhất là hoa cùng người. Hoa và người hoà quyện trong nỗi nhớ. Nhớ hoa là nhớ tới cái đẹp của thiên nhiên Việt Bắc, mà cái đẹp của Việt Bắc không thể tách rời với cái đẹp của những con người Việt Bắc đã từng cưu mang, gắn bó với người đi, với cách mạng, vẻ đẹp bức tranh Việt Bắc, trước tiên là vẻ đẹp của sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người.

    Cảm nhận về đoạn thơ Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung- mẫu số 2

    Bức tranh đó được diễn tả bằng những câu thơ êm ả, nhẹ nhàng. Có màu sắc tươi tắn rực rỡ, có ánh sáng lung linh chan hoà, có âm thanh vui tươi, đầm ấm. Cảnh và người hoà quyện vào nhau: bốn cặp lục bát tả bốn mùa, thì câu trên nhớ cảnh, câu dưới nhớ người. Mà cảnh nào, người nào được nhắc tới cũng đều có cái riêng để nhớ. Tất cả đã hiện lên trước mắt ta một bức tranh Việt Bắc tuyệt diệu, nên thơ qua nét bút chấm phá tài tình của tác giả.

    Mỗi mùa được nhà thơ nhớ lại bằng một nét tiêu biểu nhất, với cách diễn tả tinh tế gợi cảm, Nhớ mùa đông Việt Bắc là nhớ tới “rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”. Giữa cái bạt ngàn của màu xanh, hiển hiện một màu sắc ấm nóng (tươi đỏ), bức tranh mùa đông của Việt Bắc đâu còn cái lạnh lẽo, hoang vu nữa. Xuân sang sắc màu lại đổi khác, tràn ngập sinh sôi một màu trắng tinh khiết, thơ mộng: “ngày xuân mở nở trắng rừng”. Cảnh này có gì đó giống như cảnh Bác về nước:

    Ôi sáng xuân nay, Xuân 41

    Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

    Bác về… Im lặng. Con chim hót

    Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…

    (Theo chân Bác, Tố Hữu)

    Bốn cặp lục bát sau Tố Hữu dùng để tả cảnh hè đến và cảnh mùa thu. Nếu như sắc màu chủ đạo của cảnh động là màu xanh điểm vào đó có sắc hoa tươi đỏ, của cảnh xuân là màu trắng hoa mơ, thì của mùa hè là màu vàng tươi đẹp của rừng phách: Ve kêu rừng phách đổ vàng. Đây là một câu thơ vào loại hay nhất của bài thơ Việt Bắc. Câu thơ sáu chữ mà thấy được sự chuyển đổi của cảnh sắc thiên nhiên. Câu thơ ấy ran lên một tiếng ve kêu không dứt trong màu vàng chói chang của rừng phách dưới nắng hạ. Cuối cùng, cảnh thu hiện ra với màu sắc dịu hiền của ánh trăng, màu của mơ ước về cuộc sống hoà bình giữa những ngày gian khổ. Cảnh nào cũng đẹp, mùa nào cũng đáng yêu và mỗi mùa là một bức tranh nên thơ, kì thú.

    Bức tranh bốn mùa ấy còn ánh lên vẻ đẹp đằm thắm của con người Việt Bắc. Cảnh làm nền cho người và người gắn với cảnh, chúng quyện hoà vào nhau và tô điểm cho nhau. Dường như những cảnh ấy phải có những con người này và nhà thơ đã đưa vào bức tranh Việt Bắc những con người thật bình dị đáng yêu: hình ảnh người lên núi với lưỡi dao lấp lánh ánh nắng cạnh sườn, bàn tay “chuốt từng sợi giang” của người đan nón và “cô em gái hái măng một mình” giữa khúc nhạc ve ran và sắc vàng rừng phách. Cả tiếng hát ân tình nữa cũng làm cho rừng thu êm dịu và ánh trăng hoà bình toả sáng lung linh.

    Không hiểu Việt Bắc sâu sắc, không yêu Việt Bắc nồng nàn và nhớ Việt Bắc tha thiết thì không thể dựng lên bức tranh quê hương cách mạng đẹp tuyệt diệu và ấm tình người đến thế. Nhưng để có bức tranh này, còn có quan điểm đúng đắn và cách nhìn tiến bộ của nhà thơ cách mạng. Khác với những cái nhìn sai lệch trước đây về miền núi và con người miền núi là nơi “ma thiêng nước độc” với những con người dữ tợn, kém văn minh,…) Tố Hữu đã có một cách nhìn đầy thông cảm, thương yêu và ưu ái với quê hương cách mạng. Bức tranh thơ này chính là bắt nguồn từ sự gắn bó chung thủy, từ lòng nhớ thương sâu nặng của nhà thơ đối với cảnh và người Việt Bắc.

    Tình cảm nhớ thương tha thiết ấy là âm hưởng bao trùm cả đoạn thơ và nhịp điệu dịu dàng trầm bổng của thể thơ lục bát làm cho âm hưởng đó bâng khuâng, tha thiết. Kết cấu của bài thơ Việt Bắc là kết cấu đối đáp, có ta và mình, có người đi kẻ ở, nhưng thực ra đó chỉ là sự phân thân của một chủ thể trữ tình.

    Câu thơ trên là lời đáp, lời giãi bày của người đi nhưng không hẳn là thế. Nhớ cảnh nhớ người, nhớ đến từng chi tiết sống động như vậy là nỗi nhớ chung của con người đã cùng gắn bó với nhau, đồng cam cộng khổ trong “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”.

    Khép lại đoạn thơ là tiếng hát ân tình, thuỷ chung của người chiến sĩ cách mạng miền xuôi, của đồng bào Việt Bắc. Tiếng hát ấy vang trong lòng người đi, luôn nhắc nhớ những ngày tháng nghĩa tình sắt son. Tiếng hát ấy là chiếc cầu nối giữa tấm lòng với tấm lòng, giữa quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

    Bài mẫu số 3: Cảm nhận về đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài Việt Bắc

    “Ôi! Nỗi nhớ, có bao giờ thế!”. Nỗi nhớ đi qua thời gian, vượt qua không gian. Nỗi nhớ thấm sâu lòng người… Và nỗi nhớ ấy cứ ray rứt, da diết trong tầm hồn người chiến sĩ cách mạng miền xuôi khi xa rồi Việt Bắc thân yêu – nơi đã từng nuôi nấng mình trong những ngày kháng chiến gian lao…

    Ta về, mình có nhớ ta

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai – tiếng hát ân tình thủy chung.

    Trong cùng một đoạn thơ ngắn nhưng từ “nhớ” đã được lặp lại năm lần. Nỗi nhớ xuyên suốt từ câu đầu đến câu cuối đoạn. Hai dòng đầu là lời khơi gợi, “nhắc khéo”: mình có nhớ ta không? Riêng ta, ta vẫn nhớ! Cách xưng hô gợi vẻ thân mật, tình cảm đậm đà tha thiết. Ta với mình tuy hai mà một, tuy một mà hai.

    Người ra đi nhớ những gì? Việc Bắc có gì để mà nhớ, đế mà thương? Câu thơ đã trình bày rất rõ?

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

    Núi rừng, phong cảnh Việt Bắc được ví như “hoa”. Nó tươi thắm, rực rỡ và “thơm mát”. Trong bức tranh thiện nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên giản dị, chân chất, mộc mạc mà cao đẹp vô cùng! Con người và thiên nhiên lồng vào nhau, gắn kết với nhau tạo nên cái phong thái riêng của Việt Bắc.

    Cảm nhận về đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” hay nhất

    Bốn mùa đất nước đi qua trong những câu thơ ngắn gọn bằng các hình ảnh, chi tiết chắt lọc, đặc trưng. Mỗi mùa mang một hương vị độc đáo riêng.

    Mùa đông, rừng biếc xanh, điểm lên những bông hoa chuối “đỏ tươi” và ánh nắng vàng rực rỡ. Xuân đến, cả khu rừng bừng sáng bởi màu trắng của hoa mơ. Hè sang, có ve kêu và có “rừng phách đổ vàng”. Và khi thu về, thiên nhiên được thắp sáng bởi màu vàng dìu dịu của ánh trăng. Đoạn thơ tràn ngập những màu sắc chói lọi, rực rỡ: xanh, đỏ, vàng, trắng… Những màu sắc ấy đập mạnh vào giác quan của người đọc. Tiếp xúc với những câu thơ của Tố Hữu, ta như được chiêm ngưỡng một bức tranh sinh động. Trong đó, những gam màu được sử dụng một cách hài hòa tự nhiên càng tôn thêm vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc.

    Thời gian vận hành nhịp nhàng trong những dòng thơ. Nó bước những bước rắn rỏi, vững chắc khiến ta chẳng thể thấy phút giao mùa. Thiên nhiên Việt Bắc còn được mô tả theo chiều dọc thời gian. Buổi sáng hoa “mơ nở trắng rừng”, trưa nắng vàng rực rỡ và khi đêm về, trăng rọi bàng bạc khắp nơi… Núi rừng Việt Bắc như một sinh thế đang biến đổi trong từng khoảnh khắc…

    Và cái phong cảnh tuyệt vời, đáng yêu ấy càng trơ nên hài hòa nắng ấm, sinh động hẳn lên khi xuất hiện hình ảnh của con người. Con người đang lồng vào thiên nhiên, như một đóa hoa đẹp nhất, có hương thơm ngào ngạt nhất. Mỗi câu thơ tả cảnh đi cặp với một câu thơ tả người. Cảnh và người đan xen vào nhau một cách hài hòa. Đây là những con người lao động, gắn bó, hăng say với công việc. Kẻ “dao gài thắt lưng”, người “đan nón”, “cô em gái hái măng một mình” và tiếng hát ân tình của ai đó vang lên giữa đêm rừng núi xôn xao… Hình ảnh con người làm nét đẹp của thiên nhiên thêm rực rỡ. Chính họ đã gợi nên nỗi nhớ da diết cho người ra đi. Đọc đoạn thơ, ta có cảm nhận những vẻ dẹp bình dị mà trong sáng của tâm hồn người Việt Bắc. Ở đó họ đối xừ với nhau bằng tình nghĩa mặn mà, chân thật, bằng sự thủy chung “trước sau như một”. Họ đã nuôi chiến sĩ, nuôi cách mạng, nuôi cuộc kháng chiến của dân tộc… Những con người Việt Bắc tuy bình dị nhưng thật anh hùng.

    Khơi gợi hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây, Tố Hữu đã thể hiện một tình cảm tha thiết, ân tình sâu nặng và nỗi nhớ thương sâu sắc. Ta với mình, mình với ta đã từng:

    Thương nhau chia củ sắn lùi

    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

    Đã từng san sẻ những ngọt bùi, gian nan vất vả như thế! Ta, mình làm sao có thể quên nhau được. Tình cảm mến thương ấy đã ăn sâu vào tâm hồn kẻ ở, người đi. Vì thế, khi ra đi, nhớ là nỗi niềm khắc đậm sâu trong tâm khảm, tình cảm của tác giả.

    Giọng thơ lục bát nhẹ nhàng mà sâu lắng. Cả khổ thơ ôm chứa niềm lạc quan, vui sống và tin tưởng vào cuộc sống. Nó mang âm điệu trữ tình, thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người tha thiết và tấm lòng yêu nước thiết tha của Tố Hữu. Cuối đoạn thơ vang lên tiếng hát ngọt ngào khơi gợi bao kỉ niệm. Ki niệm ấy theo mãi dấu chân người đi và quấn quýt bên lòng kẻ ở lại…

    Những câu thơ cùa Tô Hữu có tính khái quát cao so với toàn bài. Lời thơ giản dị mà trong sáng thể hiện niềm rung động thật sự trước vẻ đẹp của núi rừng và con người Việt Bắc. Nỗi nhớ trong thơ của Tố Hữu đã đi vào tâm hồn người đọc, như khúc dân ca ngọt ngào để lại trong lòng ta những tình cảm sâu lắng, dịu dàng

    Bài mẫu số 4: Cảm nhận về đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” trong bài Việt Bắc

    Tố Hữu ( 1920-2002) được đánh giá là lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam .Ông để lại một sự nghiệp văn chương phong phú , giàu giá trị và một phong cách nghệ thuật độc đáo mang tính trữ tình-chính trị sâu sắc , đậm đà tính dân tộc . Rất tiêu biểu cho những tìm tòi sáng tạo không ngừng của nhà thơ là bài thơ Việt Bắc .Có thể nói , tinh hoa của tác phẩm lắng đọng trong mười câu thơ diễn tả nỗi nhớ của người về xuôi với cảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc:

    Ta về mình có nhớ ta ,

    Ta về , ta nhớ những hoa cùng người

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh , dao gài thắt lưng

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

    Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10-1954 , ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi , các cơ quan trung ương Đảng và chính phủ từ Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội . Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm với Việt Bắc , nay từ biệt chiến khu để về xuôi . Bài thơ như được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó .

    Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt , đầy xúc động bâng khuâng . Tố Hữu đã vận dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống , sử dụng sáng tạo cặp đại từ nhân xưng mình-ta , lối đối đáp quen thuộc của ca dao , giọng thơ tâm tình ngọt ngào , lời thơ đậm sắc thái dân gian để mở ra bao nỗi niềm nhớ thương , bao kỉ niệm về một thời kháng chiến gian khổ mà anh hùng . Qua đó nghĩa tình gắn bó thắm thiết thuỷ chung của những người kháng chiến với nhân dân, với Việt Bắc , với đất nước được bộc lộ một cách thấm thía , chân thành , cảm động .

    Văn mẫu Cảm nhận về đoạn thơ Ta về mình có nhớ ta…Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung trong Việt Bắc của Tố Hữu

    Phần đầu của bài thơ , dưới hình thức đối đáp giữa mình và ta , đã tập trung khắc hoạ một khung cảnh tiễn đưa đầy thương nhớ , bịn rịn , bồn chồn , lưu luyến của kẻ ở người đi . Qua lời đối đáp ân tình , cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp .

    Và có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ Việt Bắc là ấn tượng không phai về những người dân hoà quyện với thiên nhiên , núi rừng tươi đẹp :

    Ta về mình có nhớ ta

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người

    Đoạn thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ , nhưng hỏi chỉ là cái cớ để bộc lộ chiều sâu tình cảm . Điệp từ “ta” và “nhớ” khẳng định , nhấn mạnh nỗi nhớ da diết của người về thủ đô. Phép liệt kê ” những hoa cùng người” nêu lên đối tượng của nỗi nhớ . Đó là những gì tươi đẹp nhất của chiến khu . Hoa là kết tinh hương sắc của thiên nhiên còn người là kết tinh vẻ đẹp của đời sống xã hội . Xét cho cùng , người cũng là một loại hoa của đất . Hoa và người đặt cạnh nhau càng tôn tạo vẻ đẹp cho nhau , làm sáng lên cả không gian núi rừng Việt Bắc trùng điệp .

    Những câu thơ tiếp theo tập trung tái hiện cụ thể , chân thực vẻ đẹp bốn mùa của chiến khu . Cảnh và người hoà quyện , đan xen vào nhau , cứ câu thơ lục tả cảnh thì câu thơ bát tả người . Mỗi mùa lại có một vẻ đẹp riêng tạo thành một bức tranh tứ bình tràn ngập ánh áng , màu sắc , đường nét , âm thanh vui tươi , ấm áp .

    Mở đầu cho bức tranh tứ bình là khung cảnh mùa đông :

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

    Nhớ về mùa đông Việt Bắc , nhà thơ không nhớ về cái giá rét âm u mà lại nhớ tới những ngày nắng đẹp rực rỡ . Biện pháp tiểu đối ” rừng xanh” với “hoa chuối đỏ tươi” đã tái hiện một không gian rừng núi mênh mông , bạt ngàn màu xanh tươi của cây cỏ , ẩn hiện trong sắc xanh sống động đó là những bông chuối rừng ngời ngời sắc đỏ như những ngọn đuốc . Hai gam màu ấm nóng kết hợp với nhau tạo cảm giác vui tươi , làm ấm cả không gian , tạo ám ảnh trong tâm hồn con người . Trong núi rừng ấy không chỉ có những bông chuối đỏ tươi mà còn có những con người vượt lên không gian , xuất hiện trên đỉnh đèo cao ở tư thế đầy kiêu hãnh , xuất hiện trong ánh sáng lấp lánh của mặt trời phản chiếu vào chiếc dao đi rừng gài ngang lưng . Hình bóng con người lồng lộng trong không gian , giữa núi và nắng, giữa trời và rừng xanh chính là kết tinh vẻ đẹp của núi rừng , là điểm nhấn của núi rừng .

    Hai câu thơ tiếp khắc hoạ cảnh mùa xuân :

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

    Hai động từ “nở trắng” đặt cạnh nhau vừa diễn tả bước đi của mùa xuân vừa nhấn mạnh vào màu sắc của Việt Bắc ngày xuân . Mùa xuân đến đem theo sức sống mới , làm cho từng cây , từng cây mơ nở hoa trắng rồi dần dần làm cho cả núi rừng tràn ngập sắc hoa trắng tinh khiết , dịu dàng , thơ mộng . Màu trắng của hoa mơ lấn át các màu sắc khác làm cả khu rừng như toả sáng , khiến cho lòng người không khỏi xao xuyến , bâng khuâng , nhung nhớ . Và nhà thơ đã nhớ đến những người đan nón . Hành động chuốt từng sợi giang là biểu hiện của sự cần mẫn , khéo léo , tài hoa trong tâm hồn , tính cách người dân Việt Bắc . Họ nhẫn nại , tỉ mỉ trong từng cử chỉ để tạo ra những sản phẩm đẹp cho đời . Câu thơ chứa đựng một thái độ trìu mến , thân thương , trân trọng những người lao động của nhà thơ Tố Hữu .

    Tiếp đến , mùa hè chiến khu hiện lên trong âm thanh và màu sắc không thể nào quên :

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Qua cách miêu tả của nhà thơ , tiếng ve râm ran như khúc nhạc rộn rã không chỉ làm cho núi rừng vang động mà còn làm cho màu sắc cây lá biến đổi . Động từ “đổ vàng” đã diễn tả tài tình sự thay màu đột ngột của rừng phách . Khi tiếng ve vang lên báo hiệu hè đến , cả rừng phách xanh tươi bỗng khai nở muôn nghìn cánh hoa màu vàng óng ả như được trộn bằng mật ong và nắng rừng ngọt ngào . Trong giàn nhạc và thảm hoa ấy , nhà thơ nhớ đến một người em gái . Cô sơn nữ một mình trong núi rừng không gợi ấn tượng buồn hiu hắt mà lại mang vẻ đẹp khoẻ khoắn vì cô hiện lên trong tư thế lao động vất vả , giản dị nhưng cũng rất thơ mộng , vui vẻ .

    Nhớ về mùa thu , nhà thơ không thể nào quên ánh trăng :

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

    Câu thơ mở ra một không gian tràn ngập ánh trăng thanh bình soi chiếu khắp núi rừng chiến khu . Ánh trăng ấy không chỉ mang vẻ đẹp tự nhiên mà nó còn gắn với niềm xúc động của những con người từng trải qua bao năm khốc liệt , gian khổ của chiến tranh . Trong khu rừng thấm đẫm ánh vàng ấy bỗng ngân nga lên tiếng hát ân tình làm rạo rực lòng người .Tiếng hát bộc lộ lòng người , bộc lộ tâm hồn thuỷ chung , tình nghĩa của con người Việt Bắc cũng chính là tấm lòng của người về xuôi với chiến khu . Thế nên dường như ánh trăng cũng ngời sáng hơn và tiếng hát cũng du dương và vang xa hơn.

    Như vậy , nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng VB với vẻ đẹp vừa hiện thực vừa thơ mộng , thi vị , riêng biệt , độc đáo , khác hẳn những miền quê khác của Tổ quốc . Gắn liền với cảnh là những con người lao động bình dị nhưng chính họ đã gióp phần to lớn tạo nên chiến tháng vĩ đại của dân tộc . Chỉ những người gắn bó sâu nặng , coi VB là quê hương thân thiết mới có những xúc cảm , ấn tượng và nỗi nhớ da diêt như thế .

    Nỗi nhớ VB còn được tác giả khắc sâu và mở rộng trong những đoạn thơ sau của tác phẩm . Theo dòng hoài niệm , VB trong kháng chiến hiện lên vừa gian khổ vừa hào hùng với niềm tin vào Đảng , vào Bác Hồ vĩ đại , với cảm hứng ngợi ca đất nước sâu sắc .

    Đoạn thơ ngắn 10 dòng trên mang âm điệu ngọt ngào , từ ngữ trong sáng giản dị giàu sức gợi , in đậm phong cách thơ Tố Hữu đã bộc lộ sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với Việt Bắc . Qua nỗi nhớ , niềm trân trọng tha thiết của nhà thơ , cảnh và người VB hiện lên thật gần gũi , chân thực mà thơ mộng , trữ tình. Thông qua tình cảm riêng của mình , Tố Hữu đã nói lên tình cảm của cả một thế hệ với quê hương đất nước , đã ngợi ca tình nghĩa thuỷ chung ân tình của nhân dân ta .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Thơ ” Mình Về Mình Có Nhớ Ta …”
  • Hướng Dẫn Làm Chủ Đề Về Biện Pháp Tu Từ Trong Môn Văn
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Môn Ngữ Văn 9 Thời Gian Làm Bài: 15 Phút
  • Trắc Nghiệm Ngữ Văn Lớp 10: Bài
  • Phân Tích Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, 7 Bài Văn,
  • Mình Về Mình Có Nhớ Ta Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng. Mình V

    --- Bài mới hơn ---

  • Bình Giảng Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu: Ta Về, Mình Có Nhớ Ta. Ta Về, Ta Nhớ Những Hoa Cùng Người… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Phân Tích Đoạn Thơ Ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Chứng Minh Tính Dân Tộc Trong Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Qua Đoạn Thơ: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung”
  • Đọc Văn Bản Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Nêu Ở Dưới. Mình Về Mình Có Nhớ Ta, Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng
  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc
  • Lời giải của Tự Học 365

    Giải chi tiết:

    a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

    b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cảm nhận đoạn trích, từ đó thấy được nét nổi bật trong phong cách thơ Tố Hữu: thơ trữ tình chính trị, có tính dân tộc, giọng thơ ngọt ngào thương mến.

    c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận (đặc biệt là thao tác phân tích, so sánh); kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

    Thí sinh có thể triển khai bài làm theo nhiều cách nhưng phải đảm bảo những nội dung chính sau:

    * Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:

    – Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam với phong cách thơ trữ tình – chính trị, mang khuynh hướng sử thi và tính dân tộc đậm đà.

    Việt Bắc là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp, cũng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu, ra đời nhân sự kiện lịch sử tháng 10/1954, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội. Tác phẩm là khúc hùng ca và tình ca về cách mạng.

    Đoạn trích mở đầu tác phẩm, thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của nhà thơ.

    * Cảm nhận đoạn thơ:

    Đoạn thơ là cảnh đưa tiễn lưu luyến, bịn rịn, đầy nhớ thương của người đi và kẻ ở. Bằng cách sử dụng kết cấu đối đáp giữa ” mình” với ” ta” quen thuộc trong ca dao giao duyên truyền thống, cảnh đưa tiễn của đồng bào Việt Bắc với cán bộ cách mạng về xuôi được diễn tả như cảnh chia tay lưu luyến của đôi bạn tình, đôi lứa yêu nhau.

    + 4 câu đầu: Lời của người ở lại với người ra đi

    . Hai câu hỏi được láy đi láy lại: ” Mình về mình có nhớ ta/Mình về mình có nhớ không“, kết hợp với biện pháp điệp ngữ ” có nhớ ” đã cho thấy niềm day dứt khôn nguôi, sự băn khoăn, lo lắng của kẻ ở về sự đổi thay trong tình cảm của người ra đi cũng như thể hiện nỗi nhớ thương trào dâng mãnh liệt. Đây là trạng thái tình cảm tất yếu trong lòng người ở lại.

    . Kết hợp với hai câu hỏi là hai câu thơ gợi nhắc kỉ niệm. Người ở lại đã gợi nhắc, nhắn nhủ người ra đi nhớ về: kỷ niệm mười lăm năm kháng chiến đầy nghĩa tình; về đạo lý sống nghĩa tình, thủy chung đẹp đẽ mang tính truyền thống của dân tộc; về không gian quen thuộc của thiên nhiên Việt Bắc; gợi nhắc Việt Bắc là cái nôi, quê hương cách mạng.

    + 4 câu sau: Lời đáp của người ra đi với người ở lại

    . Trước nỗi niềm của kẻ ở, người đi im lặng trong trạng thái trữ tình sâu lắng để tri âm, thấu hiểu, đồng cảm với ” Tiếng ai tha thiết bên cồn ” tạo thành sự hô ứng, đồng vọng tình cảm nhớ nhung, quyến luyến trong giờ phút chia li.

    . Những từ láy ” bâng khuâng“, ” bồn chồn” đặt trong vị trí mở đầu hai vế câu thơ, với nhịp chẵn 4/4 cân xứng, từ “dạ” đặt giữa dòng tạo nên câu thơ trĩu nặng tâm trạng, cảm xúc. Đó là nỗi nhớ thương, day dứt, khắc khoải, bịn rịn…

    . Hình ảnh hoán dụ ” áo chàm ” đã khắc sâu trong tâm khảm hình ảnh người dân Việt Bắc mộc mạc cùng tấm lòng son sắt.

    . Buổi chia tay, đưa tiễn xúc động trào dâng đến đỉnh điểm khiến cả người đi kẻ ở đều nghẹn lời. Hành động ” cầm tay nhau”, kết hợp với nhịp thơ 3/3/2 trong câu ” Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay …” đã thể hiện sức nặng của tình cảm, của những lời trao gửi, và sự bịn rịn, lưu luyến.

    – Nghệ thuật:

    + Thể thơ lục bát kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển với chất dân gian, âm hưởng tha thiết ngọt ngào.

    + Đoạn thơ sử dụng kết cấu đối đáp gồm hai cặp lục bát cân đối, chủ yếu ngắt nhịp chẵn tạo sự hô ứng, đồng cảm.

    + Ngôn ngữ quen thuộc, hình ảnh thơ gần gũi, giàu giá trị biểu cảm.

    + Vận dụng sáng tạo cặp đại từ nhân xưng “mình” – “ta”.

    + Tính dân tộc đậm đà:

    . Về nội dung: thể hiện tình cảm gắn bó thủy chung, sâu nặng, nghĩa tình của người cách mạng với nhân dân Việt Bắc và ngược lại; khắc họa bức tranh thiên nhiên quen thuộc…

    . Về nghệ thuật: thể thơ lục bát truyền thống; sử dụng kết cấu đối đáp mình – ta của ca dao, dân ca; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị; vận dụng những phép tu từ quen thuộc của ca thơ ca dân gian; giai điệu thơ ngọt ngào, sâu lắng; sử dụng các từ láy, dùng vần và phối hợp các thanh điệu… kết hợp với nhịp thơ tạo thành nhạc điệu phong phú, diễn tả nhạc điệu bên trong của tâm hồn mà ở bề sâu của nó là điệu cảm xúc và tâm hồn dân tộc.

    – Đánh giá:

    + Đoạn thơ đã giới thiệu cảm hứng chủ đạo của thi phẩm, và thể hiện tập trung những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật của tác giả.

    + Những nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật Tố Hữu đã tạo nên diện mạo riêng và sự thành công cho thơ ông. Nó còn góp phần làm nên sức hấp dẫn đặc biệt cho thơ ca cách mạng, đặc biệt là thơ trữ tình – chính trị. Đồng thời bộc lộ tình cảm sâu sắc của tác giả đối với cách mạng và kháng chiến.

    d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

    e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Thơ: “ta Về, Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiế
  • 4 Bài Mẫu Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Tiếng Hát
  • Phân Tích Đoạn Thơ ” Mình Về Mình Có Nhớ Ta …”
  • Hướng Dẫn Làm Chủ Đề Về Biện Pháp Tu Từ Trong Môn Văn
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Môn Ngữ Văn 9 Thời Gian Làm Bài: 15 Phút
  • Phân Tích Đoạn Thơ Ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung

    --- Bài mới hơn ---

  • Chứng Minh Tính Dân Tộc Trong Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Qua Đoạn Thơ: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung”
  • Đọc Văn Bản Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Nêu Ở Dưới. Mình Về Mình Có Nhớ Ta, Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng
  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc
  • Phân Tích Đoạn Thơ Những Đường Việt Bắc Của Ta… Đèo De, Núi Hồng
  • Phân Tích Đoạn Thơ “những Đường Việt Bắc Của Ta… Đèn Pha Bật Sáng Như Ngày Mai Lên”
  • Phân tích đoạn thơ Ta về mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

    Nội dung: Mượn lời đáp trả của người ra đi với người ở lại, nhà thơ Tố Hữu bộc lộ tình cảm nhớ nhung sâu sắc về thiên nhiên và nhân dân Việt Bắc.

    chúng tôi câu đầu thể hiện cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ:

    “Ta về, mình có nhớ ta

    Ta về, ta nhở những hoa cùng người”

    -Người ra đi tự xưng là “ta” và gọi người ở lại là “mình”. Hai đại từ này thường thấy trai gái xưng hô trong ca dao: “Mình về ta chẳng cho về. Ta nắm vạt áo ta dề câu thơ”. Cách xưng hô này cho thấy cuộc chia tav giữa người kháng chiến và nhân dân Việt Bắc giông cuộc giả biệt bạn lứa đôi, thắm thiết ân tình.

    -Cụm từ “ta về” được láy lại hai lần cùng câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta” tạo giọng điệu da diết, qua đó nói lên nồi bịn rịn, luyến lưư và khát khao được giãi bày lòng mình của người ra đi.

    -“Hoa” là hình ảnh hoán dụ tượng trưng cho thiên nhiên. Trong kí ức của người về xuôi, Việt Bắc lộng lầy, rực rỡ với vẻ đẹp của các loài hoa thi nhau khoe sắc thắm. Còn “người” là hình ảnh hoán dụ tượng trưng cho nhân dân Việt Bắc. Với người kháng chiến đã từng gắn bó với chiến khu cách mạng thì Việt Bắc luôn đẹp trong sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người.

    -Tám câu có kết cấu đồng nhất: bốh cầu lục nói về thiên nhiên, bôn câu bát nói về con người. Tất cả hiện lên trước mắt ta một bức tranh Việt Bắc tuyệt diệu, nên thơ qua nét bút chấm phá tài tình của tác giả.

    * Bức tranh mùa dông:

    -Nếu theo trình tự bốn mùa xuân, hạ, thu, đông thì mùa xuân phải được đề cập đến trước nhất. Nhưng trong đoạn thơ, tác giả miêu tả bức tranh mùa đông trước tiên. Có lẽ mùa đông là mùa chia tay giữa Việt Bắc và cách mạng nên đã để lại trong nhà thơ nhiều ấn tượng nhất:

    “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.

    -Trên nền màu xanh trải dài khắp núi rừng, thì màu “hoa chuối đỏ tươi” rực rỡ như những ngọn đuốc bập bùng cháy giữa màu xanh của rừng già, gợi cảm giác ấm áp, hưng phân.

    -Vượt qua cái lạnh lẽo của mùa đông buốt giá, con người vẫn lên rừng, lên nương, cuốc rẫy, trồng ngô… Hình ảnh con dao quắn cài ở thắt lưng lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời càng tôn thêm vẻ đẹp của họ.

    -Giữa cái bạt ngàn của núi rừng, con người như một chấm nhỏ di động nhưng hoàn toàn không bị thiên nhiên lấn át, chìm khuất, mà thực sự thiên nhiên đang tôn lên vẻ đẹp của con người. Trên đèo cao, con người như mang tư thế một vị chủ nhân của núi rừng Việt Bắc.

    *Bức tranh mùa xuân:

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    -Màu trắng rừng của hoa mơ diễn tả cái tinh khôi, trinh bạch của thiên nhiên Việt Bắc vào xuân. Hai chữ “trắng rừng” đã bộc lộ cảm giác ngỡ ngàng, hạnh phúc của nhân vật trữ tình trước vẻ xuân dâng ngập đất trời.

    -Các động từ “dan”, “chuốt” không chỉ làm nổi bật nét óng ánh của nhừng sợi giang dùng để đan nón mà còn thể hiện đức tính tỉ mỉ, siêng năng của nhân dân Việt Bắc. Con người chính là chủ nhân của mùa xuân, là kẻ đang tô điểm cho sắc xuân của đất trời thêm lộng lẫy.

    *Bức tranh mùa hạ:

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình.

    -Cụm từ “rừng phách đổ vàng” có thế hiểu theo cách:

    + Hiếu theo nghĩa rừng phách đang trố hoa: thì khắp không gian như lênh láng sắc vàng rực rỡ.

    + Cũng có thể hiểu “đổ vàng” là lá cây đồng loạt ngả sang màu vàng để chuẩn bị cho mùa thu trút lá.

    + Động từ “đô” thật đắt: Màu vàng như từ trời cao đố xuống làm cho khắp không gian thấm đẫm sắc vàng.

    Hai động từ “kêu” và “đổ” thê hiện cái không khí rộn rực rất đặc trưng của mùa hạ. Câu lục xôn xao “tiếng nói” không chỉ của sắc màu mà lẫn cả âm thanh, chỉ cần tiếng ve kêu vang, cả rừng phách như hối hả, chóng vánh thay màu.

    -Hình ảnh cô gái “hái măng một mình” với dáng vẻ lẻ loi, cô đơn nhưng vần đẹp trong sự cần mần, khơi dậy trong ta những rung động ngọt ngào, sâu lắng.

    Bức tranh mùa hạ vừa hoành tráng với những nét bút mạnh mẽ, vừa mảnh mai, tinh tế thắm đượm tính trữ tình, gợi cả một trường liên tưởng mênh mông.

    *Bức tranh mùa thu:

    “Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.

    -Từ “hòa bình” vừa vẽ ra khung cảnh êm đềm ở an toàn khu, vừa muôn nói đến sự thanh tĩnh, mát mẻ của ánh trăng giữa rừng khuya.

    -Con người không hiện lên thành bóng dáng mà bằng “tiếng hát ân tình thủy chung” nghe thật ấm lòng.

    Câu thơ gợi nhớ đến cảnh sinh hoạt ca hát của nhân dân Việt Bắc, của những đôi trai gái Việt Bắc yêu thương nhau, hò hẹn mãi mãi thủy chung. Tiếng hát vọng về trong nỗi nhớ đã nói hộ được nỗi lòng hiện tại của người ra đi.

    -Đoạn thơ thế hiện tính dân tộc đậm đà: giọng thơ ngọt ngào, da diết; ngôn ngữ giản dị nhưng rất giàu hình ảnh, nét vẽ lúc phóng khoáng, bao quát, nhưng cũng có lúc cụ thể, tỉ mỉ…

    -Mỗi bức tranh miêu tả đặc trưng của từng mùa, tuy chúng có giá trị độc lập nhưng không phá vỡ sự hài hòa của bộ tranh tứ bình.

    -Cảnh đông và hạ sắc màu rực rỡ, kích thích mọi giác quan con người, thì cảnh xuân thu như cân bằng trở lại, màu sắc tinh khôi, êm dịu.

    -Linh hồn trong toàn bộ bốn bức tranh là con người: con người cần cù, chăm chỉ, siêng năng, tĩ mỉ và thủy chung với cách mạng, với kháng chiến.

    Tóm lại, Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là bản tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể thơ lục bát, kiểu kết câu đối đáp, ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian – tất cả đâ góp phần khắc sâu lời nhắn nhủ của Tố Hữu: Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thông quý báu anh hùng bất khuất, ân nghĩa thủy chung của cách mạng, của con người Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Giảng Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu: Ta Về, Mình Có Nhớ Ta. Ta Về, Ta Nhớ Những Hoa Cùng Người… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Mình Về Mình Có Nhớ Ta Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng. Mình V
  • 5 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Thơ: “ta Về, Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiế
  • 4 Bài Mẫu Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Tiếng Hát
  • Phân Tích Đoạn Thơ ” Mình Về Mình Có Nhớ Ta …”
  • Bình Giảng Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu: Ta Về, Mình Có Nhớ Ta. Ta Về, Ta Nhớ Những Hoa Cùng Người… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Thơ Ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Chứng Minh Tính Dân Tộc Trong Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Qua Đoạn Thơ: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung”
  • Đọc Văn Bản Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Nêu Ở Dưới. Mình Về Mình Có Nhớ Ta, Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng
  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc
  • Phân Tích Đoạn Thơ Những Đường Việt Bắc Của Ta… Đèo De, Núi Hồng
  • 1. Mở bài

    Tố Hữu là nhà thơ cách mạng nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Đặc biệt, bài thơ Việt Bắc trong tập thơ cùng tên của Tố Hữu là một sáng tác nghệ thuật đặc sắc. Ở tập thơ ấy, tiếng nói của quảng đại quần chúng, nhân dân đã được Tố Hữu nâng lên thành thơ.

    2. Thân bài

    a. Cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ

    Ta về mình có nhớ ta

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người.

    Khúc dạo đầu ấy đã làm “thoảng bay” nội dung của cả đoạn thơ nỗi nhớ da diết về thiên nhiên nơi núi rừng Việt Bắc và con người ở nơi “ân tình thủy chung” ấy.

    – Cặp từ “ta – mình”: một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, khơi nguồn cho dòng mạch nhớ thương trôi chảy.

    – “Ta về mình có nhớ ta” là câu hỏi tu từ được dùng làm cái cớ để bộc lộ tình cảm của chính bản thân mình: “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”.

    b. Thiên nhiên và con người Việt Bắc

    * Thiên nhiên: đẹp như một bức tranh tứ bình, hiện lên ở câu lục:

    – Mùa đông: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    – Mùa xuân: Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    – Mùa hạ: Ve kêu rừng phách đổ vàng

    – Mùa thu: Rừng thu trăng rọi hòa bình.

    * Con người

    Con người Việt Bắc là linh hồn của cả bức tranh thơ, là trung tâm của nỗi nhớ mênh mang.

    c. Đánh giả

    – Thiên nhiên và con người hòa quyện, quấn quýt bên nhau và điểm tô cho nhau.

    – Nghệ thuật điệp câu trúc cú pháp, đổi trật tự cú pháp, điệp từ được nhà thơ sử dụng rất thành công.

    – Nhịp, âm điệu thơ hài hòa, mềm mại, uyển chuyển, làm say lòng người.

    – Cách xưng hô “mình.” – “ta” rất gần với điệu hát dao duyên trong kho tàng ca dao – dân ca.

    – Sự kết hợp điêu luyện, hài hòa giữa nghệ thuật thơ ca với các yếu tố hội họa, âm nhạc, điện ảnh đã chứng tỏ Tố Hữu là một người nghệ sĩ tài hoa, yêu cảnh, yêu người, yêu quê hương đất nước sâu nặng.

    3. Kết bài

    Trích đoạn trên thuộc những dòng thơ đặc sắc nhất, tài hoa nhất, chất chứa vẻ mĩ học sâu sắc nhất trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, là đoạn thơ “có thể sánh với bất kì đoạn thơ miêu tả thiên nhiên nào trong văn học cổ điển”(Hoài Thanh).

    B. BÀI LÀM

    Tố Hữu là nhà thơ cách mạng nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Tố Hữu được Chủ tịch nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (Đợt I – 1996). Ông để lại cho đời nhiều tập thơ (tính đến năm 2001): Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra trận (1972), Máu và hoa (1977), Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999). Thơ Tố Hữu vượt thời gian nhờ một phong cách nghệ thuật độc đáo. Đó là một hồn thơ cách mạng sôi nổi, mãnh liệt. Đó là nhà thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn, của lòng thương mến và ân tình thủy chung. Đó là một nghệ thuật thơ ca giàu tính dân tộc và hồn nhiên. Đặc biệt, bài thơ Việt Bắc trong tập thơ cùng tên của Tố Hữu là một sáng tác nghệ thuật đặc sắc. Ở tập thơ ấy, tiếng nói của quảng đại quần chúng, nhân dân đã được Tố Hữu nâng lên thành thơ. Đây là một đoạn thơ trong bài Việt Bắc:

    Ta về, minh có nhớ ta

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng,

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, hiệp định Giơ-ne- vơ về Đông Dương được kí kết (tháng 7-1954), hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10-1954, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc để trở về thủ đô Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Phần đầu bài thơ tái hiện một giai đoạn gian khổ, vẻ vang của Cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỉ niệm sâu đậm trong lòng người. Phần sau nói lên sự gắn bó giữa miền ngược và miền xuôi trong một viễn cảnh hòa bình tươi sáng của đất nước và kết thúc bằng lời ngợi ca công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng đối với dân tộc.

    Việt Bắc là một đỉnh cao chói lọi của thơ Tố Hữu, là một bản hợp xướng của nhân dân Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Pháp xâm lược.

    Cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ được bộc lộ ở hai câu đầu:

    Ta về mình có nhớ ta

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

    Đây là lối nói đưa đẩy, “vòng vo” – một mô-típ trong nghệ thuật thơ ca dao, dân ca – là một khúc dạo đầu của bài ca trữ tình, chan chứa nghĩa tình cách mạng. Khúc dạo đầu ấy đã làm “thoảng bay” nội dung của cả đoạn thơ: nỗi nhớ da diết về thiên nhiên thơ mộng của núi rừng Việt Bắc và con người ở nơi “ân tình thủy chung” ấy.

    Cặp từ”ta”- “mình”- một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, khơi nguồn cho dòng mạch nhớ thương tuôn chảy. Trong tiếng Việt, từ “mình”, “ta” có hai ý nghĩa chính:

    “Ta”: (1) tiếng mình tự xưng (người phát ngôn); (2) tiếng để chỉ mình đối với người, có nghĩa là chúng mình, chúng ta.

    “Mình”: (1) thân người tả (2) tiếng xưng hô thân mật giữa vợ chồng.

    Ở đoạn thơ, từ “ta” – “mình”chủ yếu được dùng theo nghĩa (2) để tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa hai nhân vật đối lập.

    Câu hỏi tu từ “ta về mình có nhớ ta” được dùng làm cái cớ để lộc lộ tình cảm chính bản thân mình. “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”.

    Ở tám câu thơ lục bát còn lại nhà thơ chìm lắng trong cõi nhớ mênh mang. Thiên nhiên ở các câu lục hiện lên đẹp như một bức tranh tứ bình.

    Thứ nhất là bức tranh mùa đông:

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi.

    Những đốm đỏ tươi của hoa chuối rừng bùng lên như một bó đuốc sáng rực, cháy trên sắc biếc xanh bạc ngàn của lá. Sự tương phản giữa gam màu xanh và đỏ càng làm cho bức tranh thơ lộng lẫy, chói chang hơn.

    Thứ hai là bức tranh mùa xuân:

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng.

    Sự ngàn ngập sắc trăng tinh khôi, thanh khiết của hoa mơ phủ lên cả cánh rừng gợi cảm giác choáng ngợp, thơ mộng trong những chuỗi ngày xuân cách mạng. Câu thơ gợi nhớ, gợi thương cái duyên với hoa mơ của Tố Hữu năm nào:

    Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt

    Trăng rừng biên giới nở hoa mơ.

    Thứ ba là bức tranh mùa hạ:

    Ve kêu rừng phách đổ vàng.

    Bức tranh này không chỉ có màu sắc, ánh sáng mà còn có cả những âm thanh vang ngân của núi rừng: tiêng “ve kêu” – khúc nhạc rừng. Tiếng “ve kêu” báo hiệu hè sang. Khi đức vua mùa hạ đến ngự trị thì cả rừng phách chuyển màu vàng rực. Nếu Xuân Diệu dùng từ “đổ” để ca ngợi vẻ đẹp của mùa thu:

    Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá

    Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.

    (Thơ duyên)

    thì Tố Hữu dùng từ “đổ” để gợi vẻ mĩ miều của mùa hạ. Mặt khác, từ chính là “con mắt”(nhãn tự) của câu thơ. Nó miêu tả được sự luân chuyển sống động của thời gian (ve kêu – hè về) và không gian (rừng phách đổ vàng) trong sắc thái rộn rã, huy hoàng. Như vậy, sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ là thời gian cũng mang màu sắc.

    Thứ tư là bức tranh mùa thu:

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhìn chung, khung cảnh bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông của núi rừng Việt Bắc rất rực rỡ, thi vị, lãng mạn và gợi cảm. Bức tranh thơ sống động, hòa quyện ánh sáng, màu sắc ấy vừa chuyên chở vẻ đẹp cổ điển vừa chuyên chở vẻ đẹp hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển dễ làm độc giả liên tưởng bộ tứ bình trong Truyện Kiều của thiên tài văn học Nguyễn Du vẽ đã hơn 200 năm qua:

    Sen tàn, cúc nở hoa,

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân.

    Nếu các câu lục miêu tả bức tranh thiên nhiên thì các câu bát là bức tranh con người Việt Bắc. Con người Việt Bắc là linh hồn của bức tranh thơ, là trung tâm của cõi nhớ: Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng.

    Nghệ thuật quan sát và miêu tả của nhà thơ rất tinh tế, sắc sảo, mang màu sắc ” rất Việt Bắc”. Các luồng sáng của nắng bỗng chói lên bởi sự phản quang của lưỡi dao trên thắt lưng người lao động tạo nên hình ảnh lấp lánh ” nắng ánh”. Nhưng cái thế đứng cao vời vợi, mạnh mẽ, tự tin của người làm chủ thiên nhiên đẹp hơn.

    Ở câu bát nối tiếp, nhà thơ nhớ về cô gái làm nghề thủ công mĩ nghệ:

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    “Chuốt” là cách làm cho vật thật nhẵn bằng cách đưa nhẹ lưỡi dao sắc nhiều lần sát bề mặt. “Từng” là mỗi cái một, riêng rẽ. Cách phối hợp hai từ “chuốt” và “từng” vô cùng ăn ý, điêu luyện làm tăng sức gợi tả đức tính tỉ mỉ, cẩn thận, chịu thương, chịu khó của người con gái thạo nghề đan nón. Những chiếc nón xinh xắn, dễ thương được đan từ vật liệu “sợi giang” như món quà của đồng bào Việt Bắc gửi tặng người miền xuôi. Ôi! Tình tứ làm sao! Bởi vậy, một trái tim nhạy cảm như Tố Hữu không nhớ nhung, không luyến lưu làm sao được!

    Vì “Nhớ người đan nón” nên nhà thơ không thể không:

    Nhớ cô em gái hái măng một mình.

    Nghệ thuật gieo vần lưng “gái” – “hái” và điệp phụ âm đầu “m”: “măng” – “một”- “mình” làm tăng tính nhạc cho lời thơ. Cô gái Việt Bắc “hái măng một mình” nhưng cảm thấy cô đơn, trống vắng vì cô vừa hăng say lao động vừa lắng đọng tâm hồn mình để thưởng thức khúc nhạc rừng trong trẻo. Mặt khác, sự hiện diện của cô làm tăng thêm nét duyên dáng, mềm mại và sự trẻ trung của bức tranh mùa hạ.

    Ở câu bát cuối cùng của trích đoạn, tiếng hát ai bỗng vọng về từ hai đầu nỗi nhớ:

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

    Lời thơ cô đọng, súc tích đồng thời là lời ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn cùa con người Việt Bắc. Những con người ấy rất thật thà, chất phác, nhân hậu, thủy chung, trung thành tuyệt đối với Đảng, Cách mạng và Bác Hồ vĩ đại. Họ đã cần cù, kiên nhẫn, hay làm, tần tảo ngược xuôi để nuôi nấng, đùm bọc, cưu mang che chở bộ đội, góp công sức to lớn trong thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

    Có thể nói rằng, sự xuất hiện của con người, đặc biệt là bóng dáng của các cô sơn nữ Việt Bắc đã làm giảm đi cái vẻ hoang sơ, hiu hắt của núi rừng. Núi rừng trở thành một người bạn gần gũi, thắm thiết vô hạn với con người. Câu thơ: “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy ” như lời đồng vọng trong tâm hồn của đôi lứa yêu nhau, dù khi ở gần nhau hay xa nhau đều hướng về nhau, đều có sợi nhớ, sợi thương xuyên suốt, buộc chặt.

    Đặc biệt, Tố Hữu đã phối hợp nhiều biện pháp nghệ thuật để nâng cao tính dân tộc cho đoạn thơ, bài thơ. Nghệ thuật điệp cấu trúc cú pháp và đổi trật tự cú pháp đã làm tăng tính cân xứng, nhịp nhàng của bức tranh thơ kép. Nhịp thơ lục bát mềm mại, uyển chuyển, câu nọ gọi câu kia như một tiếng gọi hoài niệm ngọt ngào, bâng khuâng. Âm điệu thơ khi bổng, khi trầm, khi du dương, khi réo rắt, khi ngân nga như một khúc hát ru kỉ niệm, đưa độc giả vào một thế giới tâm tình da diết, đong đầy ân nghĩa. Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại nhiều lần ở đoạn thơ, kết hợp với nghệ thuật tăng tiến có tác dụng nhấn mạnh nỗi nhớ cồn cào, cháy bỏng và tấm lòng vấn vương của nhà thơ đối với quê hương, cách mạng. Tuyệt diệu hơn còn ở cách xưng hô “mình” – “ta” thắm thiết như đôi lứa đang yêu, rất gần! với điệu hát giao duyên trong kho tàng dân ca – ca dao Việt Nam. Ngoài ra, sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật thi ca với các loại hình nghệ thuật hội họa, âm nhạc, điện ảnh đã chứng tỏ Tố Hữu là người ghệ sĩ tài hoa, yêu cảnh, yêu người, yêu quê hương đất nước sâu nặng. Vả lại, vẻ đẹp mộc mạc. dung dị và bừng bừng sức sống của Việt Bắc đã mở ra cái nhìn mới mẻ! về Việt Bắc: chiến khu cách mạng không phải là nơi rừng sâu nước độc, âm u, hiểm trở.

    Tóm lại, trích đoạn trên thuộc những dòng thơ đặc sắc nhất, tài hoa nhất, chất chứa vẻ mĩ học sâu sắc nhất trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, là đoạn thơ “có thể sánh với bất kì đoạn thơ miêu tả thiên nhiên nào trong văn học cổ điển” (Hoài Thanh). Vì lẽ đó, bài thơ Việt Bắc và tập thơ cùng tên của nhà thơ xứng đáng là một viên ngọc sáng long lanh trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại.

    Thu Trang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mình Về Mình Có Nhớ Ta Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng. Mình V
  • 5 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Thơ: “ta Về, Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiế
  • 4 Bài Mẫu Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Tiếng Hát
  • Phân Tích Đoạn Thơ ” Mình Về Mình Có Nhớ Ta …”
  • Hướng Dẫn Làm Chủ Đề Về Biện Pháp Tu Từ Trong Môn Văn
  • Chứng Minh Tính Dân Tộc Trong Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Qua Đoạn Thơ: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung”

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Văn Bản Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Nêu Ở Dưới. Mình Về Mình Có Nhớ Ta, Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng
  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc
  • Phân Tích Đoạn Thơ Những Đường Việt Bắc Của Ta… Đèo De, Núi Hồng
  • Phân Tích Đoạn Thơ “những Đường Việt Bắc Của Ta… Đèn Pha Bật Sáng Như Ngày Mai Lên”
  • 4 Bài Văn Phân Tích Đoạn Thơ Sau: “những Đường Việt Bắc Củal
  • Chứng minh tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu qua đoạn thơ: “Ta về mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

    DÀN Ý

    * Trên phương diện nội dung:

    Thơ ca Tố Hữu phản ánh cuộc đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, truyền thống của dân tộc Việt Nam được lưu giữ từ bao đời nay

    – Tác phẩm đề cập đến một sự kiện lịch sử có tính chất trọng đại của dân tộc: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, hiệp định Giơ-ne-vo được kí kết, hòa bình lập lại với miền Bắc.Tháng 10/1954 Trung ương Đảng và chính phủ rời khu căn cứ địa từ Việt Bắc về thủ đô. Nhân sự kiện lịch sử đó Tố Hữu đã viết “Việt Bắc”

    – Tác phẩm thể hiện cốt cách con người Việt Nam, một tâm hồn mang vẻ đẹp truyền thống: đạo lí uống nước nhớ nguồn, ân tình thủy chung son sắc, tinh thần đoàn kết, đồng lòng đồng sức trong kháng chiến cũng như tinh thần lạc quan vào ngày mai tươi sáng, tin tưởng vào cách mạng:”Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

    – Tác phẩm miêu tả chân thực đời sống sinh học, cảnh quan đặc trưng ở Việt Bắc – bức tranh thiên nhiên ( bức tranh tứ bình)

    ;

    + Mùa thu: hình ảnh quen thuộc “ánh trăng” khung cảnh Việt Bắc đẹp thơ mộng huyền ảo

    – Hiện thân của chiến khu Việt Bắc, hình ảnh hiện thân cho con người Việt Nam thời chiến trở nên thiêng liêng, cao quý, đại diện cho hồn thiêng đất Việt

    + Con người trong lao động tỉ mỉ, cần mẫn bình dị

    + Trong nỗi nhớ, con người Việt Bắc hiện lên thật giản dị, ân tình ân nghĩa.Họ là một trong những lực lượng làm nên dại thắng vẻ vang. Đó là nỗi nhớ sâu đậm nhất, nỗi nhớ mang tính tri âm sâu sắc

    * Trên phương diện nghệ thuật:

    + Sử dụng thể thơ lục bát nhiều

    + Ngôn ngữ giản dị, quen thuộc gần gũi giàu giá trị gợi tả và biểu cảm

    + Sử dụng nhiều biện pháp tu từ quen thuộc: so sánh, ẩn dụ, điệp từ, câu hỏi tu từ

    + Kết cấu đối đáp dao duyên, cặp đại từ “mình-ta”

    Minh Nguyệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Thơ Ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Bình Giảng Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu: Ta Về, Mình Có Nhớ Ta. Ta Về, Ta Nhớ Những Hoa Cùng Người… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Mình Về Mình Có Nhớ Ta Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng. Mình V
  • 5 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Thơ: “ta Về, Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiế
  • 4 Bài Mẫu Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Tiếng Hát
  • Đọc Văn Bản Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Nêu Ở Dưới. Mình Về Mình Có Nhớ Ta, Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc
  • Phân Tích Đoạn Thơ Những Đường Việt Bắc Của Ta… Đèo De, Núi Hồng
  • Phân Tích Đoạn Thơ “những Đường Việt Bắc Của Ta… Đèn Pha Bật Sáng Như Ngày Mai Lên”
  • 4 Bài Văn Phân Tích Đoạn Thơ Sau: “những Đường Việt Bắc Củal
  • Cảm Nhận Của Anh Chị Về Đoạn Thơ Sau,trích Tác Phẩm “việt Bắc”
  • Mình về mình có nhớ ta

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

    Mình về mình có nhớ không

    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

    – Tiếng ai tha thiết bên cồn

    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

    Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

    (Trích “Việt Bắc” – Tố Hữu)

    Văn bản trên được được tổ chức theo hình thức nào?

    Vản bản nói về nội dung gì?

    3. Nội dung đó được thể hiện thông qua việc sử dụng từ ngữ, kiểu câu như thế nào?

    4. Văn bản đã sử dụng thành công các biện pháp tu từ cơ bản nào? Nêu tác dụng cụ thể của các phép tu từ trên

    5. Hãy đặt tiêu đề cho văn bản trên.

    Gợi ý:

    Văn bản trên được tổ chức theo hình thức đối đáp giữa người đi và kẻ ở.

    Nội dung nói về sự băn khoăn, lưu luyến, bịn rịn của con người trong buổi chia tay.

    – Sự băn khoăn, lưu luyến, bịn rịn ấy được thể hiện rất rõ thông qua việc sử dụng các từ láy bộc lộ tâm trạng con người như: bâng khuâng, bồn chồn và việc sử dụng các câu hỏi tu từ với từ ( Mình về mình có nhớ ta, mình về mình có nhớ không). Hỏi nhưng không chỉ đề hỏi mà còn là để gợi nhắc những kỉ niệm gắn bó.

    Văn bản đã sử dụng thành công phép tu từ hoán dụ và im lặng

    + Hoán dụ: Áo chàm được dùng để chỉ người đưa tiễn. Qua hình ảnh này ta hiểu được tính chất của cuộc chia tay. Đó là cuộc chia tay lớn, cuộc chia tay lịch sử. Trong cuộc chia tay này, không phải chỉ có một người, hai người đưa tiễn mà là cả Việt Bắc bao gồm nhân dân sáu tỉnh Cao – Bắc – Lạng; Hà – Tuyên – Thái và cả thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc tiễn đưa người đi, cán bộ kháng chiến.

    + Phép tu từ im lặng (dấu chấm lửng) ở cuối câu có (Khoảng lặng cảm xúc) tác dụng diễn tả phút ngừng lặng, trùng xuống của một cuộc chia tay đầy xúc động, bâng khuâng, tay trong tay mà không nói lên lời. Khoảng lặng cảm xúc gợi cảm hứng, gợi cảm xúc đánh thức tâm hồn con người.

    Tên văn bản: Cuộc chia tay lịch sử, cảnh chia tay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chứng Minh Tính Dân Tộc Trong Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Qua Đoạn Thơ: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung”
  • Phân Tích Đoạn Thơ Ta Về Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Bình Giảng Đoạn Thơ Sau Trong Bài Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu: Ta Về, Mình Có Nhớ Ta. Ta Về, Ta Nhớ Những Hoa Cùng Người… Nhớ Ai Tiếng Hát Ân Tình Thủy Chung
  • Mình Về Mình Có Nhớ Ta Mười Lăm Năm Ấy Thiết Tha Mặn Nồng. Mình V
  • 5 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Thơ: “ta Về, Mình Có Nhớ Ta… Nhớ Ai Tiế
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    b/ Cấu tạo của biện pháp so sánh:

    – A là B:

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    + So sánh không ngang bằng:

    “Con đi trăm núi ngàn khe Con đi đánh giặc mười năm

    + So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại:

    Trường Sơn: chí lớn ông cha

    2/ NHÂN HÓA:

    a/ Khái niệm: Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi … vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn.

    b/ Các kiểu nhân hóa:

    – Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật: Chị ong nâu, Ông mặt trời, Bác giun, Chị gió,…

    – Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật:

    – Trò chuyện với vật như với người:

    + Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức

    + Ẩn dụ phẩm chất – tương đồng về phẩm chất

    “Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

    “Cha lại dắt con đi trên cát mịn

    + AD từ vựng: cách nói quen thuộc, phổ biến, không có/ ít có giá trị tu từ: cổ chai, mũi đất, tay ghế, tay bí, tay bầu,…

    4/ HOÁN DỤ:

    a/ Khái niệm: Hoán dụ là BPTT gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    b/ Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:

    + Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể:

    Đầu xanh có tội tình gì

    + Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Vì sao trái đất nặng ân tình, Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh”

    + Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

    Một cây làm chẳng nên non Lưu ý:

    Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau:

    – Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Hoa trôi man mác biết là về đâu ? Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    – Điệp ngữ có nhiều dạng:

    + Điệp ngữ cách quãng:

    Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh”

    8) CHƠI CHỮ:

    + Điệp vòng tròn:

    “Bà già đi chợ cầu đông Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

    [Tố Hữu]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Thương Mại Quốc Tế
  • Các Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Thực Hiện Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh
  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?
  • Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ ( về từ, câu , văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người đọc về một hình ảnh, một cảm xúc hay một câu chuyện.

    Mục đích: Sử dụng biện pháp tu từ sẽ tăng giá trị biểu đạt và biểu cảm

    Bên cạnh việc nắm được định nghĩa của các biện pháp tu từ là gì, bạn cũng cần ghi nhớ vai trò của các biện pháp tu từ trong các văn bản nghệ thuật. Hầu hết trong những văn bản nghệ thuật người ta thường xuyên kết hợp các biện pháp tu từ cùng một lúc để gia tăng sự sinh động cũng như khiến đọc giả suy ngẫm kĩ về tác phẩm đó. Bài viết này rất phù hợp với các sĩ tử của kì thi THPTQG năm 2022. Bắt đầu sớm là một lợi thế. Hãy đọc bài viết này để nhớ lại một phần kiến thức tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng cần thiết và quan trọng.

    Các biện pháp tu từ

    1. So sánh

    Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    Cấu tạo: mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:

    Vế A: nêu tên sự vật, sự việc được so sánh.

    Vế B: nêu tên sự vật, sự việc được dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A.

    Từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

    Từ ngữ chỉ ý so sánh ( gọi tắt là từ so sánh).

    Trong thực tế, mô hình cấu tạo nói trên có thể thay đổi ít nhiều:

    Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh có thể được lược bớt.

    Các kiểu so sánh:

    Ví dụ: Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

    2. Nhân hóa

    Ví dụ về một đoạn văn sử dụng biện pháp nhân hóa

    Hè năm nào tôi cũng về nhà nội chơi, sau nhà có vườn cây do chính tay ông tôi trồng và chăm sóc. Trong vườn, gia đình nhà chuối tiêu chen chúc, tựa sát vào nhau trông thật thân thiết . Mấy cây bưởi già thưa thớt lá, sai trĩu những quả xanh ngắt, giống bưởi này ngon lắm, đây là thứ cây mà ông tôi tâm đắc nhất. Phía góc vườn là cây măng cụt rậm rạp, cao hơn hẳn những cây khác, ông tôi thường gọi nó là anh cả của cả vườn, nghe ông kể, anh măng cụt này cũng kiêu ngạo lắm , ông tôi phải vất vả chăm sóc suốt năm trời mới được đón lứa quả đầu tiên. Ngự trị giữa vườn là chị xoài , tán cây rộng lớn như những cánh tay treo đầy trái xoài mập mạp. Tôi thích khu vườn này lắm, một phần vì có nhiều thứ quả ngon, một phần vì nó chứa đựng biết bao tâm huyết của ông nội tôi.

    + Chuối tiêu – chen chúc, tựa sát

    + Măng cụt – kiêu ngạo

    + Trái xoài – mập mạp

    3. Ẩn dụ

    b/ Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp:

    + Ẩn dụ hình thức – tương đồng về hình thức

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

    + Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức

    “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    “Về thăm quê Bác làng Sen,

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”

    + Ẩn dụ phẩm chất – tương đồng về phẩm chất

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

    “Cha lại dắt con đi trên cát mịn

    Ánh nắng chảy đầy vai”

    “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” Ở đây hoa lựu màu đỏ như lửa, bởi vậy lửa ( A) được dùng làm ẩn dụ chỉ hoa lựu (B) Hoán dụ dựa vào sự liên tưởng tương cận ( gẫn gũi ) giữa các đối tượng. Mối quan hệ giữa tên mới (A) và tên cũ (B) là mối quan hệ gần kề Ví dụ : Đầu xanh có tội tình gì Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi” Đầu xanh : là bộ phận cơ thể người ( gần kề với người) , được lấy làm hoán dụ chỉ người còn trẻ ( ví dụ tương tự : đầu bạc- người già) Má hồng: chỉ người con gái đẹp Như vậy , các em có thể hiểu nôm na là : Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau: – Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng

    – Điệp ngữ có nhiều dạng:

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    + Điệp vòng tròn:

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” [Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm]

    7. Nói giảm nói tránh

    Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ dùng cách biểu đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá buồn đau, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu văn hóa. Nói giảm là phương tiện tu từ làm nhẹ đi, yếu đi một đặc trưng nào đó được nói đến mà người nghe vẫn hiểu được nội dung nhưng không gây ra cảm giác nặng nề, tiêu cực. Còn nói tránh là sự biểu đạt bằng một hình tượng khác, một phương thức khác, hoặc đề cập một đối tượng khác, tức là không đề cập trực tiếp đến yếu tố muốn nói, để không gây một sự bất ngờ tiêu cực hoặc tạo sự xúc phạm đến người nghe. Chẳng hạn, khi chê trách một điều gì, để người nghe dễ tiếp nhận, ta thường nói giảm nói tránh bằng cách phủ định điều ngược lại với nội dung đánh giá. Trong thực tế có nhiều thí dụ: Bạn đến chơi nhà đã quá lâu, chủ nhà rất phiền, vì còn bận việc khác thì có thể nói: “Cũng đã trưa lắm rồi, mời anh vào phòng nằm nghỉ”, hoặc “Hôm nay gặp chị rất vui, nhưng em lỡ có hẹn lúc 3 giờ chiều nay, hay là chị vào phòng em nghỉ để em đi một chút về chị em ta nói chuyện tiếp?”… Cách nói giảm nói tránh đó sẽ được người nghe hiểu rằng chủ nhà đang bận hoặc muốn kết thúc câu chuyện nhưng không gây phật ý người nghe.

    8. Chơi chữ

    Chơi chữ là BPTT lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,…. làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

    “Bà già đi chợ cầu đông

    Xem một que bói lấy chồng lợi chăng

    Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

    Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn”

    – Các lối chơi chữ thường gặp:

    + Dùng từ ngữ đồng âm

    + Dùng lối nói trại âm (gần âm)

    + Dùng cách điệp âm

    + Dùng lối nói lái.

    + Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    9. Liệt kê

    Theo SGK liệt kê là sắp xếp, nối tiếp nhau các từ hoặc cụm từ cùng loại với nhau nhằm diễn tả các khía cạnh hoặc tư tưởng, tình cảm được đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc hơn đến với người đọc, người nghe.

    Như vậy, phép liệt kê có thể thấy trong nhiều văn bản khác nhau. Để nhận biết có phép liệt kê được sử dụng có thể thấy trong bài viết có nhiều từ hoặc cụm từ giống nhau, liên tiếp nhau và thông thường cách nhau bằng dấu phẩy “,” hoặc dấu chấm phẩy “;”.

    1. Các kiểu liệt kê

    – Dựa vào cấu tạo chia ra thành:

    + Liệt kê theo từng cặp.

    + Liệt kê không theo từng cặp.

    – Dựa vào ý nghĩa chia ra thành:

    + Liệt kê tăng tiến

    + Liệt kê không theo tăng tiến.

    – Ví dụ về liệt kê theo từng cặp:

    Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan với hoa cúc, hoa mai với hoa đào, hoa hồng và hoa ly.

    Cũng với ví dụ trên ta sẽ liệt kê không theo từng cặp:

    Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan, hoa cúc, hoa mai, hoa đào, hoa hồng, hoa ly.

    Dựa theo cấu tạo có thể tìm ra phép liệt kê đang sử dụng, rất dễ dàng.

    – Ví dụ về liệt kê tăng tiến

    Gia đình em gồm có nhiều thành viên gắn bó với nhau gồm có em gái, em, anh trai, bố, mẹ và ông bà.

    Đây là phép liệt kê tăng tiến, thứ tự trong phép liệt không thể đảo lộn.

    Trên con đường trung tâm có rất nhiều loại phương tiện khác nhau như xe ô tô, xe đạp, xe tải, xe cứu thương đang chạy ngược xuôi.

    Trong ví dụ các thứ tự các loại xe có thể thay đổi mà không làm thay đổi ý nghĩa câu.

    10. Tương phản

    Nghệ thuật tương phản đối lập là tạo ra những hành động, những cảnh tượng, những tính cách trái ngược nhau để qua đó làm nổi bật ý tưởng, một bộ phận trong tác phẩm hoặc tư tưởng chính của tác giả

    + Tố cáo sự vô trách nhiệm, tham lam khốn nạn của bọn quan lại – những kẻ được xem là cha mẹ của nhân dân

    + Cảnh khốn cùng, tuyệt vọng của người dân trước cơn thịnh nộ của thiên nhiên khi chống chọi với bão lũ

    Ví dụ cụ thể về đoạn văn kết hợp những biện pháp tu từ

    1. Giờ ra chơi, trường ồn như vỡ chợ. Vài nhóm nữ sinh tụ tập dưới tán lá mát rượi của cụ bàng; từng cặp từng cặp bạn nam chơi đá cầu với nhau, trên vai ai nấy đều ướt đẫm ánh nắng; một đám học sinh khác lại ùa đến căn-tin ăn quà vặt;… Cảnh vui tươi, nhộn nhịp đó khó có người học trò nào quên được. Bởi sau mỗi giờ ra chơi lại khiến chúng tôi thấy tinh thần sáng khoái hơn, tràn trề sức lực để học tập tốt hơn. *lại: phó từ chỉ sự tiếp diễn tương tự. *ồn như vỡ chợ: so sánh *cụ bàng: nhân hóa kiểu dùng những từ vốn dùng để gọi người để gọi sự vật. *ướt đẫm ánh nắng: ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. (thị giac – xúc giác) *trường: hoán dụ kiểu lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.
    2. Chú gà trống làm việc rất cần mẫn và đúng giờ. Chính vì thế, chú được coi là chiếc đồng hồ báo thức. Cả nhà em đều yêu quí chú.

      + gà trống – oai vệ : nhán hóa Ò ó o…o…” Tiếng gáy to vang vọng của chú gà trống nhà em đấy. Chú đánh thức mọi người dậy – một ngày mới bắt đầu. Chú gà trống trông thật oai vệ. Thân hình cường tráng như võ sĩ trên lễ đài. Chú khoác trên mình tấm áo lông sặc sỡ, nhiều màu, bóng mượt như bôi mỡ. Lông cườm ở cổ đỏ tía. Đầu chú tròn bằng nắm tay, trên đội một chiếc vương miện đỏ chót. Mỏ hơi khoằm xuống, cứng như thép. Mắt tròn long lanh như nước. Đôi cánh cứng cáp như hai mảnh vỏ trai úp lại. Hai chân vàng bóng, bới đất tìm giun rất tài. Mỗi chân chú có một cái cựa dài nhọn hoắt chìa ra. Chùm lông đuôi vồng cong như cầu vồng bẩy sắc. Chú gà trống thật đẹp mã. Hằng ngày vào sáng sớm tinh mơ, chú từ chuồng nhảy ra, phóng lên cành bưởi đứng gáy. Chú vươn cái cổ đủ màu sắc và xoà cánh ra vỗ phành phạch rồi chú gáy một tràng dài, vang xa làm các con vật phải im lặng. Nghe tiếng gáy của chú, cây cối tưng bừng xoè lá đón ánh nắng mặt trời. Chim ca lích rích trong vòm lá. Sau nhiệm vụ báo thức của mình, chú ta nhảy xuống chạy đi kiếm mồi. Chú đến bên sân mổ lia lịa những hạt thóc mà bà tung ra.

      + cứng như thép : so sánh + ….

    3. Cũng giống như những con sông khác, con sông quê em cũng uốn lượn như một con rồng. Nó mang hương vị mặn mòi của vùng quê em, vùng quê có di tích lịch sử (đền thờTiên La), vùng quê địa linh nhân kiệt. Chính cài hương vị ấy đã gắn bó với em đến từng thớ thịt. Tuy con sông không rộng lắm nhưng nó rất dài. Buổi sáng khi ông mặt trời nhô lên thì dòng sông mặc chiếc áo lụa đào tha thướt, trưa về chiếc áo lụa đào ấy được thay bằng chiếc áo xanh biếc mới may, chiều về chiếc áo lại được dát vàng long lanh. đêm đến, sông mặc chiếc áo đen cài một vầng trăng vào giữa ngực và những ngôi sao được gắn vào dải áo như những dải kim cương. Nước sông như dòng sữa ngọt tưới tiêu cho đồng ruộng, dòng nước mát luôn dang tay đón chúng em tắm mát, bơi lội nô đùa trong những ngày hè oi bức. Con sông đã trở thành một phần máu thịt của quê hương em. Con sông đã chứng kiến bao kỷ niệm đẹp của tuổi thơ chúng em. Rồi mai ngày em sẽ lớn khôn, nhưng rồi có đi đâu xa chân trời góc biển em vẫn nhớ về quê em, những kỉ niệm với dòng sông sẽ vẫn còn mãi trong em.+ Nước sống như dòng sữa ngọt : So sánh

      + uốn lượn như một on rồng : so sánh + Sông – máu thịt của quê hương : nhân hóa

    4. Nhà tôi ở một làng chài ven biển. Chiều hè, tôi thường ra đây hóng mát. Tôi ngước nhìn lên trời và bỗng reo lên: “Biển trên trời!” Tôi ngắm nhìn biển không chớp mắt, thích thú: Đẹp quá đi! đẹp quá đi! Bầu trời cao, xanh vời vợi tựa như mặt biển xanh hiền hoà. Những đám mây đuổi nhau, xô đẩy chẳng khác gì những con sóng lớn, xô mạnh vào bờ làm bọt biển văng tung toé. Gió cùng biển thổi rì rào tạo nên một bản nhạc không lời. Xa xa, những đàn chim hải âu bay dập dờn chẳng khác gì những cánh buồm trắng xoá trôi lửng lờ. Tôi như nghe thấy từ trên trời cao tiếng hót véo vón của những chú chim, tiếng xao động của lá cây, tiếng dạt dào của sóng biển. Tất cả như hoà cùng màu xanh dịu êm của biển. Một màu xanh bát ngát có lẽ chỉ có ở trời cao làm cho chị nắng như vẫn còn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kì diệu đó! Cây cối cũng phải ghen tị, ước ao có được màu sắc đó! Mọi người vẫn thả lưới, giăng buồm ra khơi. Riêng tôi vẫn ngồi đây trầm ngâm với những bác dừa xanh mát cả một vùng để ngắm nhìn biển, thèm khát được chơi với biển, cưỡi lên những con sóng mạnh xô vào bờ. Những cánh diều no gió của đám trẻ làng chài thi nhau bay cao vút như chắp cách cho ước mơ của trẻ thơ bay cao, bay xa hơn nữa!. Những hòn đảo nhấp nhô tựa những cung điện dưới thuỷ cung bao la, bát ngát. Những đàn cá lội tung tăng, vẩy nước tung toé. Tôi nhìn biển mà tự hỏi: “Biển đẹp đến thể mà sao còn thua cả sắc trời?”.Hôm đó, một kỉ niệm ngọt ngào nhất mà tôi đã từng có, giờ đây vẫn còn in dấu theo thời gian. Nhìn biển đẹp đến thế, tôi mới cảm nhận được hết vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên! Biển chính là người mẹ thứ hai của tôi!… Biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • Phương Pháp Bơm Tinh Trùng Vào Tử Cung (Iui) Là Gì?
  • Thụ Tinh Nhân Tạo Iui Là Gì? Các Bước Chuẩn Bị, Quy Trình Và Chi Phí