Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Từ Ấy

--- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Từ Ấy
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Của Câu Thơ Sau: Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan…nắng Tràn(Tố Hữu)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)
  • Một Số Biện Pháp Tu Từ Hay
  • Nêu biện pháp tu từ trong khổ 2 bài thơ Từ ấy của Tố Hữu, chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong khổ thơ thứ 2 của Từ ấy

    Câu hỏi: Chỉ ra và nêu tác dụng nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ thứ 2 trong bài Từ ấy – Tố Hữu.

    Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người.

    Biện pháp tu từ trong khổ 2 bài Từ ấy

    “Tôi buộc lòng tôi với mọi người

    Để tình trang trải khặp muôn nơi

    Để hồn tôi với bao hồn khổ

    Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

    – Động từ “buộc”, “trang trải”: những hành động có tính tự nguyện .

    “Buộc” ở đây không hề có nghĩa là bắt buộc, miễn cưỡng mà là tự rằng buộc, gắn bó tự giác, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam

    “Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu.

    “Để tình trang trải với trăm nơi”

    – Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, “trang trải”-“trăm nơi” biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.

    – “Bao hồn khổ”: tầng lớp đáng thương nhất trong xã hội đương thời, “để” gợi lên ý thơ chủ động sự gắn kết lòng mình với mọi người hòa làm một, chứa đựng nỗi thương xót tột cùng và sự đồng cảm sâu sắc đối với “đại gia đình” đang trong cảnh lầm than.

    -“Khối đời”: hình ảnh ẩn dụ trừu tượng, thể hiện một khái niệm cuộc sống bao quát, gộp chung, không thể nhìn, cân đong đo đếm, nhưng lại gói ghém thành một sức mạnh phi thường, cụ thể hóa phi vật thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Liệt Kê Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Từ Ấy

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Ra Và Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Của Câu Thơ Sau: Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan…nắng Tràn(Tố Hữu)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)
  • Một Số Biện Pháp Tu Từ Hay
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Nêu biện pháp tu từ trong khổ 3 bài thơ Từ ấy của Tố Hữu, chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong khổ thơ cuối bài Từ ấy

    Câu hỏi: Chỉ ra và nêu tác dụng của nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ cuối trong bài thơ Từ ấy – Tố Hữu.

    Biện pháp tu từ trong khổ 3 bài Từ ấy

    “Tôi đã là con của vạn nhà

    Là em của vạn kiếp phôi pha

    Là anh của vạn đầu em nhỏ

    Không áo cơm ,cù bất cù bơ.”

    – “đã là”, “là con”,”là em”, “là anh”: tình cảm đầm ấm ,thân thiết, gắn bó và gần gũi

    – Đối tượng :”vạn nhà “, “vạn kiếp phôi pha”, “vạn đầu em nhỏ”

    Số từ ước lệ “vạn” nhằm nhấn mạnh, khẳng định tình cảm gia đình nồng ấm, thân thiết, nhà tơ thể hiện và cảm nhận sâu sắc mối quan hệ giữa bản thân và quần chúng lao khổ, những kiếp sống mòn mỏi đáng thương, những mái đầu trẻ thơ tội nghiệp không nơi nương tựa.

    – Điệp từ “là” gắn với những đại từ quan hệ thân thuộc, trìu mến, một mặt thể hiện mối quan hệ tự nhiên mà gắn bó sâu sắc, mặt khác ngầm khẳng định nhiệm vụ, vai trò lớn lao của người thanh niên đối với cộng đồng, xã hội .

    – “Cù bất cù bơ”: tính từ khá mới lạ nhưng người đọc vẫn cảm nhận được hòan cảnh nay đây mai đó, bơ vơ không chỉ riêng tác giả, mà còn dựng lên được cuộc sống mỏng manh của hầu hết đồng bào đang trong đói khổ.

    Sự chuyển biến trong tâm trạng của Tố Hữu: tấm lòng đồng cảm, xót thương đối với mọi người lao khổ. Qua đó còn thể hiện lòng căm giận của nhà thơ trước bao bất công ngang trái của cuộc đời cũ. Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh, nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người “than bụi, lầy bùn” là lực lượng tiếp nối của “vạn kiếp phôi pha”, là lực lượng ngày mai lớn mạnh của “vạn đầu em nhỏ”,để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng. Điệp từ “là” được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này.

    Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, “Từ ấy” đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Từ Ấy
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Liệt Kê Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • Phân Tích Khổ 5 Bài Sóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ 5, 6, 7 Trong Bài Thơ Sóng
  • Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Cảm Nhận Khổ 1, 2 Bài Thơ “sóng
  • Hãy Chỉ Ra Các Biện Pháp Nghệ Thuật Và Cho Biết Tác Dụng Của Chúng Trong Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích ( Trích Truyện Kiều )
  • Phân tích khổ 5 bài Sóng – Bài mẫu 1

    Sóng là tiếng thơ tha thiết của Xuân Quỳnh về tình yêu, và cũng ở đó, nhà thơ thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của mình về quy luật muôn thuở của tình yêu – một địa hạt đã được nhiều cây bút đào xới, kiếm tìm. Đặc biệt, bằng cách phổ vào trong Sóng điệu tâm hồn của riêng nữ thi sĩ, cho nên dẫu viết về xúc cảm muôn thuở của đôi lứa yêu nhau ấy là nỗi nhớ, thì nó vẫn có những nét đặc sắc riêng.

    Sóng mang trong mình nỗi nhớ, và sóng chính là nỗi nhớ. Con sóng đập cồn cào da diết hay chính là nhịp thở của đại dương bao la, là những khắc khoải và nhớ thương mà con sóng gửi vào biển cả bất tận. Mượn hình ảnh con sóng cồn cào, con sóng trên mặt nước và cả dưới lòng sâu để diễn tả về nỗi nhớ, Xuân Quỳnh hẳn đã tìm thấy sự đồng điệu của mình trong sóng. Vì thế mà sóng là sự hóa thân, là thân phận của cùng một cái tôi Xuân Quỳnh đã phả vào hình tượng sóng điệu hồn nồng nàn của mình, do vậy tái tạo nó, khiến nó như mới được sinh ra lần đầu trong tình yêu và nỗi nhớ. Nỗi nhớ, hay tên gọi khác là tương tư, là cảm xúc muôn thuở của đôi lứa yêu nhau.

    Ca dao đã từng tương tư:

    Và chàng thi sĩ chân quê Nguyễn Bính cũng góp vào từ điển tình yêu với nỗi nhớ thầm đầy duyên dáng, đằm thắm thôn quê:

    Nhưng để ý có thể thấy, nếu trước Xuân Quỳnh, cái người đọc cảm nhận là sự da diết của nỗi nhớ, thì đến Xuân Quỳnh với hình tượng sóng, nhà thơ đẩy liên tưởng của người đọc đi xa hơn. Nỗi nhớ của nhân vật trong sóng bao trùm, chế ngự cả không gian và thời gian, xâm chiếm toàn bộ thế giới vô biên của tâm hồn, nỗi nhớ cụ thể trong ý thức, nỗi nhớ mơ hồ trong tiềm thức, nỗi nhớ hiện hữu trong từng ý nghĩ, nhịp thở. Cái cồn cào da diết, mãnh liệt cuộn trào của cơn sóng lòng như đã cuốn nhịp thơ nhanh, dồn dập. Chính điều này cũng tạo nên sự khác biệt trong mạch cảm xúc của Xuân Quỳnh, mạch chảy của trái tim bao trùm, chi phối toàn bộ mạch cảm xúc của đoạn thơ, nó không phải là nhịp điệu của bằng trắc một cách cứng nhắc, mà là nhịp điệu của tâm hồn, do đó dễ khơi gợi sự đồng điệu, thấu cảm, và là cây cầu bắc liên tưởng đến cho người đọc.

    Nỗi nhớ trong Sóng cứ như thế miên man vỗ những nhịp đập bất tận vào tâm hồn người đọc, để dẫu đời thơ Xuân Quỳnh có ngừng, thì sóng thơ Xuân Quỳnh vẫn chảy mãi, vẫn da diết và ngân vang những giai điệu riêng của nỗi nhớ trong tâm hồn những kẻ đang yêu.

    Phân tích khổ 5 bài Sóng – Bài mẫu 2

    Chuyện tình yêu không hẳn lúc nào cũng phải tỏ tường bằng những lời hoa mỹ, đẹp đẽ như trong cổ tích, cũng chẳng cần tô vẽ, thắp sáng trên mặt các báo. Chỉ cần tình yêu này đủ lớn trong vòng tay của hai người trong cuộc, hai nửa luôn bên nhau dù tất cả điều gì. Và cô gái Xuân Quỳnh với cái nhìn, cách yêu của mình cũng thế, cô ấy đã đặt vào thơ vô cùng thổn thức. GS TS Trần Đăng Suyền đã từng viết về nhà thơ với bài thơ sóng: “Đó là cuộc hành trình khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở”. Tấm lòng thuỷ chung, son sắt trong tình yêu của nhà thơ sẽ thể hiện rõ ràng ở khổ thơ thứ 5.

    Tất thẩy mọi sự việc luôn cần có một cái nhìn tổng quát từ ngoài vào trong, tương đồng với sóng, người con gái trong tình yêu luôn cần có cái nhìn sâu, thấu trong tấm lòng.Nhà thơ mang một trái tim đa sầu đa cảm, chiều sâu trước tình yêu vì thế mà trước sự nhung nhớ da diết, nhà thơ thả vào con sóng bằng biện pháp nhân hóa “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước” để thấy trái tim đau đáu ngày đêm không ngủ được. Nỗi nhớ dù trong không gian hay thời gian kể cả trong giấc mơ đều lan tỏa đầy ắp, nhìn đâu cũng nhớ về người mình thương. Tình yêu của nhà thơ là thế, yêu là nhớ là thương, nỗi nhớ nồng nàn, da diết cả ý thức lẫn tiềm thức, mỗi suy nghĩ đều hướng về anh. Từ đó mới thấy mạnh dạn, chủ động, mãnh liệt, son sắt hết mình với tình yêu mà còn dịu dàng, tinh tếlà cảm xúc của người con gái trong tình yêu .

    Sóng không phải lúc nào cũng lặng lẽ rồi dữ dội mà đôi lúc nó còn ẩn hiện “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước” nhằm thấy rõ nỗi nhớ trong tình yêu như con sóng tràn khắp không gian cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bờ chính là đích đến, nơi neo đậu cuối cùng của sóng, vì thế mà sẽ chẳng có gì ngăn cản được sóng bất chấp vươn ra tới bờ. Lòng em da diết nhớ về anh không sao ngủ được như con sóng rạo rực, cồn cào không sao yên được. Trong lời thơ sâu thẳm là nỗi nhớ của trái tim người con gái nổi lên, nó cồn cào, da diết mà mãnh liệt vô cùng. Cuộc đời có vùi dập, xô đẩy ra sao thì sau tất cả trái tim nhỏ bé kia vẫn sẽ dành một khoảng nhung nhớ về người thương. Tình yêu có ý nghĩa, nổi trội như thế mới đủ sức níu giữ tấm lòng chung thủy, tin tưởng ở nhà thơ cũng như con sóng ngoài kia dù thế nào vẫn mãi xô vào bờ.

    Sóng cứ luôn dập dìu theo dòng nước dội vào bờ, mang trong mình nỗi nhớ. Tuy nhiên sẽ chẳng bao giờ sóng ngủ, người ta mới liên tưởng đấy là nhịp đập, hơi thở của biển cả. Do vậy nếu mà sóng là sự sống của biển thì nỗi nhớ chính là gia vị, hơi thở của tình yêu. Khi trái tim kia ngừng nhung nhớ cũng là lúc tình yêu đấy đi vào tàn lụi. Trong tình yêu người ta luôn lo sợ sự chia xa, mất đi của nửa còn lại vì thế mà việc nuôi giữ hạnh phúc khi yêu luôn cần có nỗi nhớ chứng minh.

    Tình yêu là thứ tình cảm chẳng thể nói thành lời, cảm giác tim mình đập nhanh chóng, cảm giác nhung nhớ một ai đó, cảm giác hờn giận đau lòng. Tất cả chỉ có ở tình yêu. Và Xuân Quỳnh đã đặt trong từng lời thơ chắc nịch quan điểm về tình yêu của một trái tim tươi trẻ, đầy mới mẻ, cái nhìn hiện đại của người phụ nữ luôn trăn trở, thổn thức mang lại nỗi đồng cảm sâu sắc nơi độc giả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Giảng Khổ 5 Và 6 Bài Thơ Sóng
  • Phân Tích Khổ 2, 3, 4 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh (Ngắn Gọn, Hay Nhất)
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khổ 3 4 Bài Thơ Sóng Của Nữ Sĩ Xuân Quỳnh
  • Cảm Nhận Khổ Thơ 3 Và 4 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Khổ 3 4 Bài Thơ Sóng Của Nữ Sĩ Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ 3 Bài Nhớ Rừng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành) Có Lời Giải
  • Kiến Thức Bài Rừng Xà Nu
  • Đề Thi Thử Thpt Qg Bài Rừng Xà Nu Theo Hướng Mới 2022
  • Xác Định Và Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • ✅ Cảnh Khuya; Rằm Tháng Giêng
  • Trong những năm tháng rực rỡ nhất của phong trào Thơ mới, Thế Lữ hiện lên như một vì sao mai sáng lòa, lấp lánh. Còn lại với thời gian hôm nay, Thế Lữ gắn bó với bạn đọc bởi bài thơ nổi tiếng nhất của ông: bài thơ Nhớ rừng. Bài thơ ấy dưới tiêu đề của nó, tác giả đã đề một dòng chữ nhỏ: “Lời con hổ trong vườn bách thú”. Xuyên suốt tác phẩm, người đọc hiểu rằng bài thơ là những tâm sự đầy uất hận của con hổ trước cảnh đời hiện tại bức bách, tù túng; nó mơ về những ngày xưa tung hoành, lẫm liệt. Bài thơ đã kín đáo bộc lộ tấm lòng yêu nước của người dân ta thuở đó. Nhưng không dừng lại ở đó, thành công của bài thơ còn nằm ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt mĩ – cảnh rừng sơn lâm trong hồi ức đau thương của con hổ “nhớ rừng”. Tiêu biểu phải kể đến bức tranh tứ bình trong đoạn thơ sau:

    “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới

    Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng

    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.

    (Nhớ rừng – Thế Lữ)

    Đoạn thơ nằm trong chuỗi hồi ức về những ngày tháng lẫm liệt chốn rừng xanh uy nghi của con hổ. Giữa cảnh núi rừng dữ dội, lộng lẫy nó là vị chúa tể độc tôn. Đoạn thơ dựng lên bốn cảnh rừng tuyệt mĩ: cảnh đêm trăng, cảnh mưa rừng, cảnh bình minh và cảnh hoàng hôn. Mỗi cảnh được thể hiện bằng hai câu thơ, câu thứ nhất tả cảnh rừng, câu thứ hai miêu tả hình ảnh con hổ trên nền thiên nhiên kì vĩ ấy.

    “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan”.

    “Đêm vàng” là hình ảnh ẩn dụ chỉ đêm trăng sáng mọi vật như được nhuộm vàng, ánh trăng như vàng tan chảy trong không gian. Trong đêm trăng, đứng bên bờ suối càng khiến ta cảm nhận hết được sắc màu rực rỡ của thiên nhiên. Mặt nước trong trẻo đón nhận trọn vẹn sắc vàng của trăng càng trở nên lóng lánh kì lạ. Đứng trước khung cảnh ấy, con hổ “say mồi” không chỉ bởi bữa ăn no nê mà còn bởi “uống ánh trăng tan”. Đó là một hình ảnh lãng mạn, nó tưởng như mình được chiếm lĩnh trọn vẹn cái đẹp của vũ trụ. ‘

    Nếu như hình, ảnh đêm trăng thanh bình bao nhiêu thì cảnh mưa rừng dữ dội bấy nhiêu:

    “Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”

    Cơn mưa ngàn dữ đội, mịt mờ làm rung chuyển núi rừng, làm kinh hoàng những con thú hèn yếu. Nhưng với hổ thì khác, nó không những không sợ hãi trước uy lực của trời đất mà còn coi đó là một thú vui: “Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”. Cái im lặng say mê trong từ “lặng ngắm” của hổ chứa đựng những sức mạnh chế ngự của một bản lĩnh vững vàng. Nó đang lấy cái tĩnh của một vị chúa tể để chế ngự cái dữ dội của rừng già đại ngàn. Hình ảnh của hổ hiện lên thật phi thường, dũng mãnh.

    Câu thơ vừa căng lên đã nhanh chóng tan ra trong tiếng reo ca của cảnh bình minh:

    “Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng”.

    Sau ngày mưa bầu trời bình minh tươi sáng hơn. Con hổ càng khẳng định được vị trí của mình. Ban đêm thì nó thức cùng vũ trụ. Ngày mưa nó “lặng ngắm” giang san. Lúc vạn vật thức dậy thì nó say sưa trong giấc ngủ. Hình ảnh của chúa sơn lâm tự do tự tại muốn gì được nấy, hổ có thể chi phối, chế ngự kẻ khác chứ không ai có thể chế ngự được mình.

    Dữ dội nhất, say mê nhất là cảnh rừng thời khắc hoàng hôn:

    “Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.

    Bức tranh rừng rực rỡ trong gam màu đỏ, đó là màu của máu, màu của ánh sáng mặt trời. Khi chiều tà, ánh mặt trời chuyển sang màu đỏ rực, đó cũng là lúc mặt trời lặn xuống. Nhưng trong con mắt của hổ, thứ ánh sáng bỏng rẫy kia là máu của mặt trời và mặt trời thì đang lịm dần trong cái chết dữ dội. Hổ đang giành lấy quyền lực từ tay vũ trụ để ngự trị.

    Đoạn thơ là bộ tranh tứ bình đẹp lộng lẫy. Bốn cảnh thiên nhiên, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ tráng lệ với hình ảnh con hổ uy nghi. Nhưng đau xót thay, đây chỉ là cảnh trong dĩ vãng huy hoàng, chỉ hiện ra trong nỗi nhớ. Trước mỗi cảnh thơ đều xuất hiện cụm từ “nào đâu”, “đâu những”, chúng thể hiện niềm nuối tiếc khôn nguôi, nỗi xót xa đau đớn trong lòng hổ. Giấc mơ huy hoàng khép lại trong tiếng than: “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Ra Những Đặc Điểm Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Của Bài Thơ Nhớ Rừng (Các Biện Pháp Tu Từ, Thể Thơ, Cách Tả Cảnh, Tả Tình,…)
  • Xác Định Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Của Bài Nhớ Rừng
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Tóm Tắt Tác Phẩm Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Soạn Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành)
  • Cảm Nhận Về Khổ 5 6 Bài Sóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong 8 Câu Thơ Cuối Trong Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích” Câu Hỏi 290654
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ, Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều
  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ, Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều Hay Nhất
  • Đề bài: Cảm nhận của em về khổ thơ 5, 6 trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.

    Bài làm

    Bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh ra đời giữa lúc “mưa bom bão đạn” của Mỹ đang oanh tạc khắp miền Nam Việt Nam. Bài thơ như ngọn lửa hồng làm ấm lòng người, chữa lành đau thương chia cắt của những kẻ đang yêu. Hai khổ thơ 5, 6 một lần nữa ngợi ca tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước

    Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được

    Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức

    Dẫu xuôi về phương bắc

    Dẫu ngược về phương nam

    Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh – một phương”

    Trước hết, nỗi nhớ nhung như cồn cào, da diết, giằng xé trong trái tim của người phụ nữ khi yêu được tác giả thể hiện bằng những vần thơ nhức nhối tâm can:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước

    Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được”

    Trong bài thơ “Sóng”, Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh sóng như một phép ẩn dụ thành công về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Đây cũng là hình ảnh quen thuộc được các nhà thơ xưa và nay sử dụng để bày tỏ lòng mình. Như Huy Cận coi sóng như “nỗi sầu trăm ngả” từ “thiên thu, vạn cổ” đổ về giữa dòng “tràng giang”:

    “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

    (“Tràng giang”)

    Thơ Thâm Tâm mượn sóng để bày tỏ nỗi nhớ nhà:

    “Đưa người ta không đưa qua sông

    Sao có tiếng sóng ở trong lòng”

    Trong thơ Xuân Quỳnh, mỗi hoạt động, động thái khác nhau dù là nhỏ nhất của con sóng đều chất chứa nỗi lòng của người con gái. Đó là những con sóng nơi “lòng sâu” thăm thẳm của đại dương, hay nơi “mặt nước” biển cả đều chung một nỗi “nhớ bờ”. Đó cũng chính là người con gái, dù ngoài mặt hay nội tâm sâu kín đều cuộn trào niềm thương nhớ tha thiết với người yêu.

    Vì “nhớ bờ” nên con sóng không nghỉ, cứ ngày ngày vỗ bờ, cuộn dâng, trào bọt trắng xóa tấp về. Vì “nhớ bờ” nên con sóng “không ngủ được”. Làm gì có con sóng nào lại “không ngủ”. Sóng là thứ vô tri. Chỉ có con người là vẫn thức. Sự thao thức ở đây không giống với “người chưa ngủ” xưa:

    “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

    Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

    (“Cảnh khuya” – Hồ Chí Minh)

    Trong thơ Bác – con người nặng lòng vì Tổ quốc, nhân vật trữ tình thẳng thừng bày tỏ sự thao thức vì cảnh đẹp và vì lo nghĩ cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Còn Xuân Quỳnh – người phụ nữ đằm thắm lại ý tứ thể hiện tình cảm qua hình tượng con sóng không ngủ. Phép nhân hóa này kết hợp với thán từ “ôi” ở đầu câu thơ mang lại thành công cho tác giả khi bộc lộ tâm trạng thao thức, mong chờ của người con gái.

    “Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức”

    Nỗi thao thức, nhớ nhung xen lẫn cả vào những giấc mộng. Nhân vật trữ tình có lẽ chưa có ngày nào yên bình trong tâm hồn. Người đọc thấy đâu đó hỉnh ảnh người phụ nữ đêm khuya vẫn ngồi tựa cửa ngóng ra biển khơi, nhìn về nơi nao xa xăm mà gọi tên một người. Cứ thức mãi, thức mãi tới khi mệt quá thiếp đi song trong trí óc vẫn đang gọi tên người ấy.

    Đến khổ thơ sau, Xuân Quỳnh thể hiện sự thủy chung của người con gái khi yêu:

    “Dẫu xuôi về phương bắc

    Dẫu ngược về phương nam

    Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh – một phương”

    Một lần nữa tác giả lại sử dụng các cặp từ đối lập giữa Bắc – Nam, xuôi – ngược để tạo nên các trạng thái khác nhau. Tuy nhiên, nó không còn là sự đối cực như ở đầu bài thơ mà bổ sung cho nhau để khẳng định giữa không gian rộng lớn ấy, người con gái vẫn chỉ nhìn về một hướng chung, đó là “anh”. Những câu thơ và hình ảnh cứ tha hồ mà dàn trải nhưng có một điều vẫn trụ vững nơi này, đó chính là tình yêu của em dành cho anh. Phải chăng Xuân Quỳnh đang muốn nói điều ấy?

    Sự thủy chung của người con gái trong tình yêu xưa đến nay đều đáng quý, đáng trân trọng. Song chỉ có ở thơ Xuân Quỳnh, sự thủy chung ấy mới bộc lộ rõ nét và sâu sắc đến vậy. Đó có lẽ cũng là tình cảm mà chính Xuân Quỳnh dành cho người chồng Lưu Quang Vũ của mình.

    Tóm lại, khổ thơ 5, 6 trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh đã thể hiện hai nét tính cách vô cùng tốt đẹp của người con gái đó là nghĩa tình và thủy chung. Hai khổ thơ ngắn song được sử dụng nhiều biện pháp tu từ tương phản, điệp từ điệp ngữ, nhân hóa, ẩn dụ đã khẳng định tài năng thơ ca của nữ thi sĩ. Tuy người đã không còn trên cõi đời này, song tôi tin linh hồn Xuân Quỳnh mãi được yên bình bên những con sóng ngày đêm cuộn trào biển cả.

    Hoài Lê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Khổ 5, 6 Trong Bài Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Hướng Dẫn Phân Tích Khổ 5 6 Bài Sóng Hay Nhất
  • Phát Hiện Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Dữ Dội Và Dịu Êm…
  • Phân Tích Bài Thơ “sóng” Xuân Quỳnh Khổ 5,6,7.
  • Phân Tích Khổ 5 6 7 Bài Sóng Câu Hỏi 114108
  • Phân Tích Giá Trị Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Khổ 1 Và 5 Của Bài Ánh Trăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối
  • Đề Thi Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Xác Định Và Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Câu
  • Phân Tích Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai… Không Yên Một Bề
  • Phân Tích Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai
  • Phân Tích Bài Ca Dao Sau: “khăn Thương Nhớvì Một Nỗi Không Yên Một Bề…”
  • Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cách mạng thiên tài của dân tộc nhưng đồng thời, Người cũng là một nhà thơ sánh vai cùng những thi nhân của Đông Tây kim cổ. Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ của dân tộc, bên cạnh những chủ trương, chiến lược đánh đuổi giặc tài tình, Người còn có những vần thơ khiến lòng người rung động. “Cảnh khuya” là một thi phẩm trong số ấy:

    Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

    Bài thơ ra đời giữa lúc cuộc kháng chiến của dân tộc ta đang hồi gay go, quyết liệt: năm 1947. Trên chiến khu Việt Bắc, sau những giờ phút mỏi mệt, trong cảnh đêm của núi rừng, Người bồi hồi xúc động trước cảnh đêm khuya êm ái. Điều đầu tiên Bác cảm nhận được nơi thiên nhiên hoang sơ là tiếng suối róc rách tuôn theo dòng chảy:

    Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Lối so sánh của Bác thật kì lạ! Tiếng suối vốn được cảm nhận bằng thính giác nhưng nghe tiếng suối Người cảm nhận được độ “trong” của dòng chảy. Dòng suối ấy hẳn rất ngọt lành, trong mát, đó hẳn cũng là thứ quà riêng mà thiên nhiên núi rừng ban tặng riêng cho những người chiến sĩ trên đường hành quân xa xôi mệt mỏi. Chẳng những vậy, tiếng suối trong nhưng là “trong như tiếng hát xa”. “Tiếng hát xa” là thứ âm thanh rất đặc biệt. Đó phải là tiếng hát rất cao để có sức lan toả mạnh mẽ, để từ xa con người vẫn có thể cảm nhận được. Đó cũng là tiếng hát vang lên trong thời khắc yên lặng bởi nếu không, nó sẽ bị lẫn vào biết bao âm thanh phức tạp của sự sống, liệu từ xa, con người còn có thể cảm nhận được? Điều thú vị trong câu thơ của Bác Hồ là một âm thanh của tự nhiên được so sánh với tiếng hát của con người. Điều đó thể hiện cảm hứng nhân vãn sâu sắc trong những vần thơ của Bác.

    Cảnh đêm khuya hẳn trong trẻo, tĩnh lặng đến nhường nào Người mới có thế lắng nghe được tiếng suối long lanh ấy. Điều này không khó hiểu bởi không gian núi rừng thường được bao phủ bởi nhịều âm thanh phong phú: tiếng chim kêu, tiếng gió thổi, tiếng cây rừng xao xác tiếng muông thú gọi bầy… Trong bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc”, Bác đã từng viết:

    “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày”.

    Vậy thì có lẽ, đây là chút yên ả hiếm hoi của thiên nhiên núi rừng vào thời khắc đêm khuya. Thiên nhiên yên tĩnh nhưng cũng là tâm hồn con người yên tĩnh, thanh thản hoà mình vào vẻ đẹp của tự nhiên. Thiên nhiên vào giây phút ấy thật hữu tình biết mấy:

    Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

    Hai từ “lồng” cùng nằm trong một câu thơ tạo những ấn tượng rất đặc biệt. “Lồng” là dộng từ chỉ việc các vật nằm vào trong một cách thặt khớp để tạo thành một chỉnh thể. Câu thơ hữu tình như một bức tranh duyên: ánh trăng mênh mông toả sáng bao trùm lên cây cổ thụ, bóng cây cổ thụ lại dịu dàng phủ mình lên những nhành hoa. Bác dùng từ “lồng” rất “đắt”, nó trở thành “nhãn tự” cho câu thơ. Chỉ với một từ ấy, cảnh vật như đang giao hoà, nương dựa vào nhau một cách duyên dáng, đáng yêu. Đôi mắt người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh thật hữu tình, bác ái

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Tự Luyện Vội Vàng
  • Các Đề Văn Về Bài Thơ Vội Vàng
  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Thơ Tre Việt Nam Nguyễn Duy
  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Thơ Tre Việt Nam Của Nhà Thơ Nguyễn Duy
  • So Sánh Tu Từ Trong Thơ Trần Đăng Khoa
  • Xác Định Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Của Bài Nhớ Rừng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Ra Những Đặc Điểm Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Của Bài Thơ Nhớ Rừng (Các Biện Pháp Tu Từ, Thể Thơ, Cách Tả Cảnh, Tả Tình,…)
  • Phân Tích Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành) Có Lời Giải
  • Kiến Thức Bài Rừng Xà Nu
  • Đề Thi Thử Thpt Qg Bài Rừng Xà Nu Theo Hướng Mới 2022
  • …Nào đầu những đêm vàng bên bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

    Đâu những bình minh cây xanh nắng gọi

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

    Đâu nhưng chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

    Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

    Bài thơ Nhớ rừng in trong tập Mấy vần thơ, là bài thơ kiệt tác của Thế Lữ mang tính hàm nghĩa, có hình tượng tráng lệ, nhạc điệu du dương, lôi cuốn hấp dẫn.

    Bài thơ thể hiện tâm trạng nhớ rừng của con hổ bị sa cơ, qua đó nói lên nỗi tủi nhục uất hận bị tù hãm và khát vọng sống tự do. Nhớ rừng gồm có năm đoạn thơ, mỗi đoạn thơ là một nét tâm trạng của chúa sơn lâm. Đây là đoạn thơ thứ ba:

    Nào đâu những đêm vàng bến bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

    Đâu những bình minh cây xanh nắng gọi

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

    Đâu nhưng chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

    Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

    Nằm trong cũi sắt, chúa sơn lâm sống mãi trong tình thương nỗi nhớ…. Nhớ cảnh rừng thiêng bóng cả, cây già nơi hùm thiêng từng ngự trị. Rồi nhớ đến những kỉ niệm một thời oanh liệt. Nhớ những đêm vàng bên bờ suối. Nhớ những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn…. Nhớ những chiều lênh láng máu sau rừng… Mỗi nỗi nhớ gắn liền với một cảnh vật, một sinh hoạt, một khoảnh khắc thời gian. Cấu trúc đoạn thơ là cấu trúc tứ bình mang vẻ đẹp nghệ thuật cổ điển, có ít nhiều cách tân sáng tạo.

    Trước hết là nỗi nhớ khôn nguôi, nhớ suối, nhớ trăng, nhớ những đêm vàng, nhớ lúc say mồi ung dung, thỏa thích bên bờ suối:

    Nào đâu những đèm vàng bến bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

    Hai chữ nào đâu phiếm chỉ, hỏi một kỉ niệm đẹp đã lùi sâu vào dĩ vãng. Biết bao nhớ tiếc bâng khuâng. Thơ nên hoạ, cảnh sắc đầy màu sắc và ánh sáng. Ánh trăng chan hòa trên dòng suối, tan vào nước suối. Hổ say mồi và say trăng. Hình ảnh đêm vàng bên bờ suối là một ẩn dụ đầy mộng ảo nên thơ. Bức tranh thứ nhất trong bộ tứ bình được Thế Lữ vẽ bằng bút pháp tài hoa gợi lên hình ảnh chúa sơn lâm say mồi trong niềm vui hoan lạc giữa một đêm trăng trên bờ suối.

    Bức tranh thứ hai nói lên nỗi nhớ ngẩn ngơ man mác của hể về những ngày mưa rừng. Hổ ung dung “lặng ngắm” cảnh giang sơn, nơi mình ngự trị, xúc động khi thấy giang sơn ta đổi mới. Chữ đâu lần thứ hai xuất hiện, biểu lộ nỗi lòng tiếc nuôi, ngẩn ngơ. Điệp từ ta thể hiện niềm tự hào về những kỷ niệm đẹp thuở vùng vẫy ngày xưa:

    Đâu những ngày mưa chuyền bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm cảnh giang sơn ta đổi mới?

    Bức tranh thứ hai gợi tả một không gian nghệ thuật hoành tráng của giang sơn chúa sơn lâm mang tầm vổc bốn phương ngàn. Kỷ niệm xưa đang mờ dần theo năm tháng, sao không nhớ, sao không nuôi tiếc?

    Kỷ niệm thứ ba nói về giấc ngủ của hể trong cảnh bình minh. Vương quốc tràn ngập trong màu xanh và ánh nắng: bình minh cây xanh nắng gội. Hổ nằm ngủ trong khúc nhạc rừng tưng bừng của tiếng chim ca:

    Đâu những bình minh cây xanh nấng gội

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?.

    Bức tranh thứ ba đầy màu sắc và âm thanh. Có màu hồng bình minh, màu vàng nhạt của nắng sớm, màu xanh bát ngát của cây rừng. Có tiếng ca tưng bừng của đàn chim. Còn có nhạc của thơ. Các từ láy vần bình minh, tưng bừng hoà thanh với vần lưng ca ta như mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc thơ mộng thần tiên. Điệp ngữ đâu với câu hỏi tu từ cất lên như một lời than nhớ tiếc, xót xa… kỷ niệm đẹp ngày xưa, nay còn đâu nữa!

    Nhớ đêm trăng, nhớ ngày mưa, nhớ bình minh… rồi hổ nhớ lại những chiều tà trong khoảnh khắc hoàng hôn chờ đợi. Trong cảm nhận của mãnh hổ, trời chiều không đỏ rực mà là lênh láng máu sau rừng. Mặt trời không lặn mà là chết. Phút đợi chờ của chúa sơn lâm sẽ chiếm lấy riêng phần bí mật của rừng đêm, để tung hoành. Ngôn ngữ thơ tráng lệ, nghệ thuật dùng từ sắc, mạnh, giàu giá trị gợi tả. Bức tranh thứ tư của bộ tứ bình là cảnh sắc một buổi chiều dữ dội, phút đợi chờ lên đường của chúa sơn lâm. Nhớ mà xót xa nuối tiếc:

    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

    Quá khứ càng đẹp, càng oanh liệt bao nhiêu thì nỗi nhớ tiếc càng đau đáu bấy nhiêu. Xưa là tung hoành, là vùng vẫy. Nay là tù hãm, là nằm dài trong cũi sắt. Nuối tiếc thời oanh liệt với bao nỗi buồn đau, mãnh hổ sa cơ chỉ còn biết cất lời than:

    Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

    Bài thơ Nhớ rừng có giá trị nghệ thuật đặc sắc. Ngôn ngữ thơ giàu hình tượng, màu sắc và âm thanh. Nhạc điệu du dương, trầm bổng. Từ ngữ được sử dụng sắc sảo. Đặc biệt các điệp ngữ đâu những, còn đâu, hay các câu hỏi tu từ và cảm thán đem đến bao ám ảnh mênh mang.

    Cũng là cấu trúc tứ bình nhưng bút pháp của Thế Lữ có nhiều sáng tạo đổi mới. Đâu chỉ có từ mùa (xuân, hạ, thu, đông), tứ hữu (trúc, mai, lan, cúc), tứ linh (long, lân, quy, phượng),… Bức tranh tứ bình trong Nhớ rừng rất đa dạng, sinh động. Có thời gian nghệ thuật: đêm trăng, ngày mưa bình minh và chiều tà. Có không gian nghệ thuật: suối và trăng, giang sơn và bốn phương ngàn, cây xanh nắng gội và tiếng chim ca, sau rừng và mảnh mặt trời gay gắt. Có tâm trạng nghệ thuật, bao trùm là nỗi nhớ, nuối tiếc một thời oanh liệt xa xưa. Hổ lúc thì say mồi đứng uống ảnh trăng tan bên bờ suối, lúc thì trầm tư lặng ngắm giang sơn qua màn mưa rừng, có lúc nằm ngủ trong tiếng chim ca bình minh, lại có lúc đợi chờ mặt trời lặn để chiếm lấy riêng phần bí mật của rừng đêm. Qua đó, ta càng thấy rõ đoạn thơ với bức tranh tứ bình được thể hiện bằng một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Tóm Tắt Tác Phẩm Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Soạn Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành)
  • Các Đề Đọc Hiểu Rừng Xà Nu
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Tác Phẩm Rừng Xà Nu
  • Bình Giảng Khổ 5 Và 6 Bài Thơ Sóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khổ 5 Bài Sóng
  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ 5, 6, 7 Trong Bài Thơ Sóng
  • Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Cảm Nhận Khổ 1, 2 Bài Thơ “sóng
  • Hãy Chỉ Ra Các Biện Pháp Nghệ Thuật Và Cho Biết Tác Dụng Của Chúng Trong Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • “Con sóng dưới lòng sâu Hướng về anh một phương”

    Hướng dẫn làm bài bình giảng khổ 5 và 6 bài thơ Sóng

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu đề bài: phân tích các chi tiết, hình ảnh, nội dung, nghệ thuật của khổ 5 và 6 bài thơ Sóng

    – Phương pháp làm bài: phân tích, bình giảng.

    2. Các luận điểm chính cần triển khai

    Luận điểm 1: Tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ

    Luận điểm 2: Tình yêu rất sôi nổi, nồng nhiệt của Xuân Quỳnh cũng là một tình yêu chân thành và trong sáng, một tình yêu đòi hỏi sự gắn bó thủy chung.

    – Thơ Xuân Quỳnh là một hồn thơ rất đỗi trẻ trung, tươi mát, đầy nữ tính. Đặc điểm đặc sắc trong thơ tình yêu của Xuân Quỳnh là: Vừa khát khao một tình yêu lí tưởng, vừa hướng tới hạnh phúc thiết thực của đời thường. Tất cả những điều ấy được thể hiện trong một hồn thơ giản dị, tự nhiên và hồn nhiên. Có thể nói, cùng với “Thuyền và biển”, “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ ” Sóng ” đã kết tinh được tất cả những gì là sở trường nhất của hồn thơ Xuân Quỳnh.

    b) Thân bài

    – Hình tượng trung tâm và nổi trội trong bài thơ là hình tượng “Sóng”, bao trùm cả bài thơ là hình tượng: Sóng.

    + Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ trẻ cũng như mọi sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình của một người phụ nữ được khơi dậy khi đứng trước biển cả.

    + “Sóng” là một trong những hình tượng ẩn dụ, nó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của Xuân Quỳnh. “Sóng” và “em”, vừa hòa hợp là một, lại vừa phân đôi để soi chiếu, cộng hưởng. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng để biểu hiện những trạng thái của lòng mình.

    – Hình tượng sóng đã gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu: Bài thơ có một âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thì thầm sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sóng miên man, vô tận. Âm hưởng ấy được tạo dựng nên bởi thể thơ năm chữ, với những câu thơ liền mạch, từng không ngắt nhịp, các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần (” Khi nào ta yêu nhau”… “Con sóng dưới lòng sâu “).

    – Khổ 5: Tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ. Tâm hồn đang yêu ở đây luôn soi vào sóng để diễn tả cái sâu sắc, bao la của nỗi nhớ trong lòng mình, nó choán đầy cả tầng sâu và bề rộng, nó chiếm lĩnh trọn cả thời gian, cả ngày lẫn đêm:

    – Khổ 6: Tình yêu rất sôi nổi, nồng nhiệt của Xuân Quỳnh cũng lại là một tình yêu chân thành và trong sáng, một tình yêu đòi hỏi sự gắn bó thủy chung. Như mọi con sóng dù “muôn vời cách trở” nhưng vẫn hướng vào bờ và nhất định tới bờ, thì lòng em cũng thế:

    c) Kết bài

    – Khẳng định hình tượng sóng đã làm cho bài thơ thành công.

    – Tình yêu luôn luôn quan trọng với cuộc sống của mỗi con người, mỗi chúng ta ai cũng có quyền yêu và được yêu. Và tình yêu của tuổi trẻ là tình yêu mãnh liệt và cảm xúc trong sáng nhất.

    4. Sơ đồ tư duy phân tích Sóng khổ 5,6

    Văn mẫu tham khảo phân tích khổ 5, 6 bài thơ Sóng

    Phân tích Sóng khổ 5,6 bài số 1

    Đề tài tình yêu là một đề tài đã khiến cho rất nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ tốn nhiều giấy mực. Viết về tình yêu, thì điều đặc biệt là viết về nỗi nhớ, sự thủy chung trong tình yêu, nhưng có lẽ một nhà thơ nữ viết về tình yêu của chính những người phụ nữ thì ít thấy. Nhưng Xuân Quỳnh đã làm được điều đó qua bài thơ Sóng – một bài thơ tình hay nhất trong sự nghiệp của chị.

    Khi nhắc về tình yêu, người ta không thể không nhắc tới nỗi nhớ và sự thủy chung nên trong Sóng chị đã dành cho nỗi nhớ và sự thủy chung một phần khá quan trọng trong hai khổ thơ:

    Con sóng dưới lòng sâu Hướng về anh một phương

    Khi nhắc đến Xuân Quỳnh, người đọc thường nhắc tới một giọng thơ nồng hậu, thiết tha lúc nào cũng khao khát và ngập tràn thương yêu. Tình yêu trong thơ chị lúc nào cũng cồn cào, sâu sắc và mạnh mẽ, nhưng cũng không kém phần dịu dàng nữ tính. Sóng được chị viết vào năm 1967 khi chị còn rất trẻ với một tâm hồn còn đầy rạo rực yêu thương và tình yêu. Bài thơ được in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào. Hai khổ thơ mà ta bình giảng trên nằm ở phần giữa bài thơ, nó nói lên nỗi nhớ nhung của tình yêu và sự thủy chung. Hình tượng xuyên suốt bài thơ vẫn là hình tượng “Sóng” – sóng ở đây được Xuân Quỳnh gửi vào đó cả tâm hồn người con gái khi đang yêu. Mượn sóng để nói đến người phụ nữ và tình yêu của phụ nữ, đây là việc Xuân Quỳnh đã từng làm trong Thuyền và biển. Nhưng ở trong hai khổ thơ này Sóng là sóng của nhớ nhung, chung thủy.

    Ngay khổ thơ thứ nhất, Xuân Quỳnh với cách sử dụng điệp cấu trúc, điệp từ”con sóng” và cách sử dụng tương quan đối lập “dưới lòng sâu”, đối lập với “trên mặt nước” đã miêu tả hai con sóng ở hai vị trí khác nhau nhưng chúng cùng mang một nỗi “nhớ bờ”… Tương quan đối lập được nói ở trên khiến người đọc cảm nhận nỗi nhớ ấy như mạnh mẽ, da diết hơn, nỗi nhớ ấy không chỉ hiện hữu trên mặt nước mà còn ở chiều sâu từng mét nước. Dường như con sóng mang nỗi nhớ tràn ngập trong suốt bản thân mình. Nỗi nhớ như thấm đẫm trên từng ngọn sóng tới chân sóng. Bởi vì sóng là hiện thân của người con gái, là hiện thân của tình yêu mãnh liệt của người con gái nên ở đây ta có thể hiểu nỗi nhớ cũng đang tràn ngập trong lòng người con gái, nó hiện hữu qua khuôn mặt buồn nhớ qua tâm trạng sầu nhớ.

    Câu thơ thứ ba cất lên như một tiếng thốt của tâm trạng: “Ôi con sóng nhớ bờ”. Phải nhớ thương nhiều lắm, nỗi nhớ phải da diết, nồng nàn lắm thì mới có thể thốt lên, mới có thể gọi thành tên như vậy. Từ “Ôi” là từ cảm thán được nhà thơ đưa lên đầu câu thơ càng khiến tứ thơ thêm mềm mại như tâm hồn người con gái:

    Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ

    Xuân Quỳnh đã nhân hóa hình ảnh sóng khiến sóng như một con người cụ thể với những diễn biến tâm trạng sinh động. Chính vì vậy, nỗi nhớ của người phụ nữ qua hình ảnh “sóng nhớ bờ” càng đậm nét. Vẫn với cách nhân hóa hình tượng “sóng” ở câu thơ thứ tư, Xuân Quỳnh đã đem tới một ý thơ mới mẻ “Ngày đêm không ngủ được “. Trạng từ chỉ thời gian “ngày đêm” cùng với đại từ phủ định “không” đã góp phần miêu tả một nỗi nhớ dai dẳng, khôn nguôi luôn luôn thường trực cả trong ngày và đêm. Có lẽ khi tình yêu đến, khi nỗi nhớ trong tình yêu ngập tràn trong lòng, thì đó lại là điều không khó hiểu.

    Nếu như ở khổ thơ này, nỗi nhớ của người phụ nữ trong tình yêu được gián tiếp gửi gắm qua hình tượng con sóng, thì ở hai câu cuối Xuân Quỳnh đã chính thức cất lên tiếng nói nhớ nhung: Lòng em nhớ đến anh / Cả trong mơ còn thức. Sóng “không ngủ được” ở trên, đến đây hoàn toàn có thể hiểu là người con gái không ngủ được. Nỗi nhớ ở đây một lần nữa được tràn ngập trong lòng người con gái nó hiển hiện trong cả lúc có nhận thức và cả trong vô thức “lúc mơ”. Khổ thơ nói tới nỗi nhớ, nhưng cũng góp phần miêu tả một tình yêu sâu sắc mãnh liệt với nhớ nhung là biểu hiện rõ nét nhất của tình yêu. Khổ thơ tiếp theo:

    “Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương”.

    Một lần nữa biện pháp điệp cấu trúc, cách sử dụng tương quan đối lập được Xuân Quỳnh tận dụng để nói tới sự thủy chung trong tình yêu. “Dẫu” là một từ có tính chất phủ định dù có xa xôi cách trở, dù cách xa với những miền đất xa tắp “phương Bắc” hay “phương Nam” thì trong lòng con sóng chỉ có một phương là bến bờ, còn trong lòng người phụ nữ thì chỉ có một phương hướng tới đó chính là tình yêu của mình, đó chính là người yêu. Thủy chung là một đặc tính đặc biệt và hết sức cần thiết trong tình yêu, nó cũng là đặc điểm của những người phụ nữ Việt Nam. Khi sử dụng cụm từ”nơi nào”, Xuân Quỳnh đã như cất lên lời nguyện suốt đời chung thủy với người yêu, với anh. Nếu như xuôi về phương Bắc, ngược về phương Nam là con đường thực tế nối những vùng đất thì “Hướng về anh một phương” là con đường gắn kết nối hai trái tim con người đang tràn ngập yêu thương.

    Với hai khổ thơ, Xuân Quỳnh một lần nữa khắc họa tình yêu người phụ nữ. Cách sử dụng các biện pháp tu từ, đối lập, tương phản, điệp, cách sử dụng từ cảm thán và cách mượn hình tượng sóng đã góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm. Với thành công của mình, Sóng luôn xứng đáng là bài thơ tình được mọi thế hệ thanh niên yêu thích.

    Có thể bạn cũng quan tâm: Những bài văn hay bình giảng 2 khổ cuối bài Sóng (Xuân Quỳnh)

    Phân tích Sóng khổ 5,6 bài số 2

    Sóng” của Xuân Quỳnh (1942-1988) là một bài thơ tình rất đẹp. Vẻ đẹp của một tâm hồn khao khát yêu thương trong mối tình đầu rạo rực của thiếu nữ. Vẻ đẹp của nhạc; nhạc của lòng cũng là nhạc của thơ, nhạc của sóng reo, sóng vỗ. Vẻ đẹp của men say tình ái được cất lên thành lời ca ngọt ngào, tha thiết biết bao:

    “Con sóng dưới lòng sâu Hướng về anh một phương”.

    Hình tượng “sóng” đầy thi vị. Bất cứ ở đâu, dù ở “dưới lòng sâu” hay ở “trên mặt nước”, thì sóng vẫn “nhớ bờ”. Dù cả trong ngày và trong đêm dài vắng vẻ, sóng vẫn “không ngủ được”. Các động từ – vị ngữ: “nhớ bờ”, “không ngủ được” đã được nữ sĩ dùng rất đắt, tinh tế và biểu cảm, đem đến cho ta bao cảm xúc đẹp về tình yêu:

    “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được”.

    Nỗi nhớ ấy rất mãnh liệt. Dù ở không gian nào “dưới lòng sâu hay “trên mặt nước”, dù ở thời gian nào “ngày” cũng như “đêm”, sóng vẫn “nhớ”, sóng vẫn bồn chồn, thao thức “không ngủ được”. Lấy không gian và thời gian để “đo” nỗi nhớ của em, tác giả đã thể hiện một cách sâu sắc một tâm hồn luôn luôn trăn trở, khao khát được yêu thương. Sóng đã được nhân hóa mang hồn em và tình em. Từ cảm “ôi” xuất hiện trong đoạn thơ như một tiếng lòng chấn động rung lên: “Ôi con sóng nhớ bờ…”.

    Từ hiện tượng sóng vỗ xôn xao suốt đêm ngày trên đại dương, nữ sĩ liên tưởng đến tình cảm của thiếu nữ:

    “Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức”.

    “Cả trong mơ” và cả khi “còn thức”, trong thực và trong mộng, em vẫn “nhớ đến anh”. Hình bóng chàng trai – người tình đã choán ngợp tâm hồn cô gái. Yêu là sự hòa nhập hai tâm hồn. Sóng trên đại dương là biểu tượng cho sự sống muôn đời, cũng như tình yêu của “em” đối với “anh” mãi mãi là nỗi khao khát nhớ thương, mong đợi, trong không gian, trong thời gian, và “cả trong mơ còn thức”. Xuân Quỳnh đã có một cách nói mới mẻ, một cách diễn đạt độc đáo khi thể hiện nỗi nhớ trong tình yêu, của “em”. Ta hãy trở về với ca dao:

    “Nhớ ai em những khóc thầm Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa”.

    hay:

    “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”.

    hay:

    “Nhớ ai nhớ mãi thế này? Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”.

    Qua đó, ta mới cảm thấy cái ý vị đậm đà của ngôn từ, cái cảm xúc nồng cháy của tâm hồn thiếu nữ: ” Lòng em nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức“.

    Tình yêu luôn luôn đối diện với bao thử thách, trong đó có sự cách trở về thời gian và không gian. Sự cách trở ấy đã làm cho tâm hồn thiếu nữ, tâm hồn “em” thêm đẹp, đinh ninh lời thề nguyền “trăm năm một chữ đồng đến xương” (Truyện Kiều). Lứa đôi ngày xưa, với sức mạnh của tình yêu, họ quyết tâm vượt qua mọi thử thách “tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua” để được sống dưới một mái ấm hạnh phúc đời đời bên nhau. Với “em” thì dù đi đâu, dù có lên thác xuống ghềnh, “dẫu xuôi về phương Bắc – dẫu ngược về phương Nam” trong bom đạn thời chiến tranh chống Mĩ (1967), lòng em vẫn “hướng về anh một phương”, hướng về “anh”, người mà “em” thương nhớ, đợi chờ:

    “Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương”.

    Các điệp ngữ: “dẫu xuôi về”, “dẫu ngược về”, “phương” (phương Bắc, phương Nam, một phương) đã liên kết với các từ ngữ: “Em cũng nghĩ”, “hướng về anh” làm cho niềm tin đợi chờ trong tình yêu được khẳng định môt cách mạnh mẽ. Chữ “một” trong câu thơ “hướng về anh một phương” đã thể hiện một tình yêu sắt son thủy chung.

    Yêu là chết ở trong lòng một ít”? – Không! Với Xuân Quỳnh, thì tình yêu là “khát vọng, đã làm cho thiếu nữ hồn hậu hơn, cao quý hơn. Bởi lẽ:

    “Tình yêu là thế,em ơi! Hai người mà hóa một người trăm năm …”

    Lạ chưa?” – Tố Hữu

    -/-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khổ 2, 3, 4 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh (Ngắn Gọn, Hay Nhất)
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khổ 3 4 Bài Thơ Sóng Của Nữ Sĩ Xuân Quỳnh
  • Cảm Nhận Khổ Thơ 3 Và 4 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Khổ 3 4 Bài Thơ Sóng Của Nữ Sĩ Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Khổ 2, 3 Và 4 Bài Sóng
  • Phân Tích Khổ 5 6 7 Bài Sóng Câu Hỏi 114108

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ “sóng” Xuân Quỳnh Khổ 5,6,7.
  • Phát Hiện Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Dữ Dội Và Dịu Êm…
  • Hướng Dẫn Phân Tích Khổ 5 6 Bài Sóng Hay Nhất
  • Cảm Nhận Khổ 5, 6 Trong Bài Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Cảm Nhận Về Khổ 5 6 Bài Sóng
  • 1, Mở bài

    – Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm

    2, Thân bài

    * Khái quát: lí luận về thơ

    a, Khổ 5: Nỗi nhớ

    b, Khổ 6: lòng thủy chung của người phụ nữ khi yêu

    c, Khổ 7: khao khát mãnh liệt của người phụ nữ khi yêu

    * Khái quát cuối

    – Đánh giá về nội dung, nghệ thuật

    – Gía trị của tác phẩm

    – Nêu phong cách nghệ thuật của tác giả

    – Liên hệ với các tác phẩm khác

    3, Kết bài

    – Tình cảm của em dành cho bài thơ “Sóng”.

    Từ xưa đến nay, tình yêu luôn là nguồn cảm hứng của biết bao thi nhân. Tuy nhiên mỗi nhà thơ lại có một cách thể hiện khác nhau. Nó có thể đậm chất triết lý như trong thơ Tago hay tha thiết, cháy bỏng như thơ của Xuân Diệu. Với bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh là một tình yêu đầy những âu lo, trăn trở và khát khao hạnh phúc đời thường của người phụ nữ…

    Nếu như tác phẩm tự sự thường phản ánh tư tưởng, tình cảm của tác giả thông qua việc tái hiện khách quan hiện thực đời sống thông qua tình huống truyện, sự kiện, nhân vật, chi tiết…thì thơ ca đi vào phản ánh thế giới tâm hồn con người trước rung cảm tinh tế sâu sắc, trước cuộc sống muôn màu. Vì thế Lê Qúy Đôn nói: “thơ ca khởi phát từ lòng người”. Có thể nói, bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh đã thể hiện rõ nét điều đó. Tac phẩm này được viết vào năm 1967, khi tác giả có chuyến đi thực tế tại biển Diêm Điền. Đứng trước những con sóng nối tiếp, vô tận của biển cả, Xuân Quỳnh đã nhận thấy sự đồng điệu giữa những cung bậc, trạng thái của sóng với cung bậc tình cảm, khát vọng trong tâm hồn của người phụ nữ khi yêu. Bài thơ “Sóng” được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” – tập thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ. Trong tác phẩm này, nhà thơ đã sử dụng hai hình tượng “sóng” và “em” khi tách biệt, khi thống nhất, hòa vào làm một để diễn tả vẻ đẹp trong tình yêu của tâm hồn người phụ nữ. Đồng thời, Xuân Quỳnh đã đem đến một quan niệm mới mẻ, nhân văn về tình yêu, về con người trong những năm tháng chống Mỹ đầy khốc liệt.

    Khổ thơ thứ năm là khổ thơ có số lượng câu thơ nhiều nhất trong “Sóng”. Sáu câu thơ đứng giữa thi phẩm như một đợt sóng lòng cồn lên cao nhất từ tâm điểm của tác phẩm trong đó bốn câu thơ đầu là nỗi nhớ bờ âm ỉ, tha thiết của con sóng:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước

    Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được”

    Tác giả đã sử dụng điệp từ “con sóng” lặp lại liên tiếp nhiều lần. Qua đó không chỉ tạo một giọng thơ sôi nổi phù hợp với mạch cảm xúc mà còn nhấn mạnh hình tượng con sóng đang cuộn chảy, trào dâng trong nỗi nhớ. Dưới ngòi bút tinh tế của nữ thi sĩ, những con sóng ấy trở nên có hồn hơn, chất chứa những suy tư, tình cảm như một con người thực sự. Đó là nỗi nhớ da diết, nỗi nhớ cồn cào về bến đỗ thân thương “bờ”. Bằng biện pháp nhân hóa đặc sắc với động từ “nhớ”, người đọc dường như có thể cảm nhận được một nỗi niềm đau đáu ẩn hiện trong hình hài con sóng biển. Đặc biệt hơn nữa, Xuân Quỳnh còn sử dụng cặp từ đối lập giàu sức gợi “trên mặt nước”-“dưới lòng sâu”, “ngày”-“đêm” vừa tạo nên cấu trúc song hành, đối xứng vừa khiến cho ngôn ngữ thơ cân xứng hài hòa, nhạc điệu thơ nhịp nhàng nhưng trên hết là để nhấn mạnh nỗi “nhớ bờ” khôn nguôi của sóng. Dù ở bất cứ nơi đâu, dù đang ngủ yên dưới lòng biển sâu thẳm hay vận động trên đại dương bao la thì con sóng vẫn luôn “nhớ bờ”, vẫn luôn hướng về nơi phương xa, về nơi dừng chân bình yên của mình. Nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong hình tượng con sóng và nó dường như bao trùm lấy cả không gian mênh mông của biển cả, kéo dài miên man không dứt theo thời gian. Dù trong ngày êm ả hay đêm vắng lặng, con sóng vẫn thao thức “không ngủ được”. Nữ thi sĩ tiếp tục sử dụng biện pháp nhân hóa đầy tinh tế, giàu tính biểu cảm. Nỗi “nhớ bờ” ấy phải cồn cào, da diết như thế nào mới có thể khiến con sóng “không ngủ được”? Không còn là thứ vô tri, vô giác nữa mà con sóng ấy từ lâu đã mang trong mình cả một tâm hồn, một tâm hồn biết “nhớ”, biết “không ngủ được” vì nỗi trăn trở. Đọc những câu thơ này, người ta không chỉ cảm nhận được những âm điệu sôi nổi, mãnh liệt của sóng mà còn hình dung được những con sóng đang trào dâng giữa biển cả với nỗi nhớ bao trùm cả không gian, kéo dài theo thời gian.

    Từ nỗi nhớ của sóng, Xuân Quỳnh đã bày tỏ nỗi nhớ của “em” một cách đầy tự tin, trực tiếp:

    “Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức”

    Nếu người phụ nữ trước khi chỉ dám bày tỏ nỗi nhớ một cách gián tiếp thì người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh đã phá vỡ rào cản mà chủ động, trực tiếp khẳng định tình yêu của mình. Ở đây Xuân Quỳnh đã dùng từ “lòng” thật chính xác để diễn tả tình cảm của người phụ nữ với tình yêu. Lòng là chốn sâu kín nhất của tâm hồn, lòng là kết tinh của tình cảm được chưng cất trong một thời gian dài qua biết bao thử thách. Vì vậy mà tấm lòng ấy không chút hời hợt mà là gan, là ruột của người phụ nữ. “Lòng em nhớ đến anh” là câu nói khẳng định giản dị, chân thành mà nồng nàn, da diết và đầy táo bạo. Điều này chứng tỏ nỗi nhớ và tình yêu của người phụ nữ phải rất cháy bỏng, tha thiết và mãnh liệt mới có thể có đủ can đảm để khẳng định được tấm lòng của mình một cách chủ động như vậy. Đây cũng chính là vẻ đẹp của tình yêu tự do, hiện đại. Để rồi nỗi nhớ ấy không chỉ còn là ở cảm xúc hay ý thức mà nó đã trở thành nỗi nhớ của tiềm thức: “Cả trong mơ còn thức”. Nếu chỉ hiểu theo nhận thức của lí trí thông thường thì khi mơ là đang ngủ mà trạng thái ngủ là hoàn toàn đối lập với trạng thái thức. Cho nên “cả trong mơ còn thức” là điều rất vô lí, trái với nhận thức thông thường. Tuy vậy nhưng câu thơ vẫn được ngợi ca và đón nhận. Tại sao lại như vậy? Có lẽ là bởi nó được lí giải bởi qui luật của tình yêu. Trong tình yêu, mọi thứ vô lí đều có thể trở thành hợp lí và ở đây cũng vậy. Có lẽ chỉ người đã và đang sống trong nỗi nhớ của tình yêu mới có thể cảm nhận trọn vẹn những cung bậc cảm xúc ấy. Có thể nói, Xuân Quỳnh đã đem đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc mà mới mẻ về tình yêu trong tâm hồn người phụ nữ. Đây cũng là trạng thái tình cảm tiêu biểu cho những ai đã, đang và sẽ yêu. Và đằng sau nỗi nhớ “anh” tha thiết ấy là một lời khẳng định đầy mạnh mẽ cho một tình yêu sâu sắc và cao đẹp.

    Ở khổ thơ thứ sáu, ta lại bắt gặp một vẻ đẹp của người phụ nữ khi yêu: đó là lòng thủy chung, son sắt. Người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh không chỉ mạnh mẽ vươn ra biển lớn tìm tình yêu mới trọn vẹn hơn, đẹp đẽ hơn mà còn là một người con gái thủy chung với tình cảm của mình, tuy sẵn sàng bỏ lại mọi thứ nhưng khi tìm được bến bờ hạnh phúc lại một lòng một dạ với người mình yêu:

    “Dẫu xuôi về phương Bắc

    Dẫu ngược về phương Nam

    Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh – một phương”

    Trước hết ở hai câu thơ đầu, chúng ta thấy cách diễn đạt của Xuân Quỳnh thật thú vị:

    “Dẫu xuôi về phương Bắc

    Dẫu ngược về phương Nam”

    Trong cách nói quen thuộc của người Việt Nam, người ta thường chỉ nói “xuôi Nam ngược Bắc”. Thế nhưng Xuân Quỳnh lại viết “xuôi Bắc ngược Nam”. Tại sao tác giả không viết theo quy luật thông thường mà bất ngờ đảo ngược như vậy? Lúc ấy, phương Nam là tiền tuyến, miền Bắc là hậu phương mà ta thường nói xuôi về tiến tuyến, ngược về hậu phương. Điều này khẳng định rõ hơn những gian nan, tất tả, ngược xuôi cách trở éo le mà “em” phải đối diện. Phải chăng, nhà thơ còn muốn khẳng định cho dù vạn vật luôn đổi thay, cuộc đời luôn điên đảo, lòng người dễ thay đen đổi trắng, dễ biến ngược thành xuôi, thì người phụ nữ vẫn luôn thủy chung son sắt trong tình yêu. Nhà thơ còn sử dụng nghệ thuật điệp cấu trúc “Dẫu…” nhằm khẳng định sự mạnh mẽ, táo bạo và chân thành của người phụ nữ khi yêu. Dù có phải trải qua tất cả những thay đổi thăng trầm, người phụ nữ vẫn luôn thủy chung với tình yêu và hạnh phúc với sự lựa chọn của mình. Dường như Xuân Quỳnh muốn phủ nhận tất cả những khó khăn, trái ngang để yêu – một tình yêu đích thực mà người phụ nữ khao khát có được.

    Khép lại trong lòng người đọc là hai câu thơ:

    “Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh – một phương

    Lời đọc thấy tiếng lòng da diết của người phụ nữ khi yêu. Ta không nghe thấy tiếng lòng của sóng chỉ nghe thấy tiếng lòng của em. Xuân Quỳnh đã khẳng định một cách chân thành, mạnh mẽ: Dù ra Bắc hay vào Nam, dù đi ngược hay về xuôi, dù lên rừng hay xuống biển, dù ở bất cứ nơi đâu, dù có đi tới chân trời góc bể, dù em có phải cách xa đến chừng nào thì em vẫn luôn nghĩ về anh, luôn hướng về anh. Và dù trời đất vũ trụ có bốn phương, tám hướng thì trái tim em chỉ có một phương duy nhất – phương anh. Dấu “-” đặt giữa câu thơ, tách hai chữ “một phương” riêng thành một vế. Chính điều đó đã tạo nên điểm nhấn, sâu lắng, nồng nàn của xúc cảm thơ. Xuân Quỳnh quả thực đã rất tự tin và chân thành bày tỏ tình cảm thủy chung của mình trước anh. Đó là sự tự tin của người phụ nữ bản lĩnh dám yêu và cũng dám đi đến tận cùng để đạt tình yêu của cuộc đời.

    Tấm lòng thủy chng trong tình yêu là vẻ đẹp gắn liền với truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Đồng thời đây cũng là phẩm chất quan trọng của tình yêu đích thực, của hạnh phúc đời thường. Ca ngợi về tấm lòng thủy chung của người phụ nữ trong tình yêu đã khẳng định giá trị nhân văn cao đẹp trong thơ Xuân Quỳnh.

    Để có được tình yêu vừa sôi nổi thiết tha, mãnh liệt vừa trong sáng thủy chung thì con sóng phải vượt qua đại dương mênh mông để đến với “bờ anh”

    “Ở ngoài kia đại dương

    ….

    Dù muôn vời cách trở”

    Người phụ nữ đang yêu tin vào tình yêu sẽ đến bến bờ hạnh phúc dù trải qua bao khó khăn thử thách. Đúng vậy! Một tình yêu chân chính, đích thực, một niềm tin mãnh liệt vào tình yêu sẽ giúp họ vượt qua bao sóng gió cuộc đời cập đến bến bờ tương lai của hạnh phúc. Hãy nhìn vào hiện thực như trở thành quy luật, dù gió có ở thật xa nơi bãi bờ thì nó cũng sẽ tìm đến những bãi cát dài dù trải qua thật nhiều khó khăn, cũng như vậy! tình yêu của em dù gặp biết bao trở ngại em vẫn vượt qua để đến bên anh, đến một mái ấm gia đình như Chế Lan Viên từng viết:

    “Cây nối đầu cây chạy đến em

    Đếm cây hoài lại mọc cây thêm

    Tình anh làm cái cây sau chót

    Về tới quê em mọc tận thềm”

    Cũng như vậy ba khổ thơ với nỗi nhớ, sự trăn trở và tấm lòng chung thủy son sắt cùng với phép lặp,nhân hóa, ẩn dụ,sử dụng cách nói ngược với những hình ảnh đối lập đã khẳng định niềm tin mãnh liệt vào tình yêu, tình yêu đẹp sẽ vượt qua mọi thử thách. Tha thiết với tình yêu, khao khát sống mãi trường tồn với tình yêu nhà thơ đã có chút khắc khoải, lo âu về sự tan chảy của thời gian, đời người cũng mong manh và hạnh phúc của trái tim yêu Xuân Quỳnh cũng vậy. Nhưng nhớ da diết, yêu thương nồng nàn luôn đồng hành với nỗi lo âu khắc khoải:

    “Cuộc đời tuy dài thế

    Năm tháng vẫn đi qua

    Như biển kia dẫu rộng

    Mây vẫn bay về xa”

    Đời người trăm năm ngỡ dài thăm thẳm nhưng con tàu thời gian cứ vun vút lao đi không chờ đợi chúng ta. Bằng sự chiêm nghiệm của một trái tim đầy nhạy cảm nhà thơ nhận ra vũ trụ mãi vĩnh hằng-cuộc đời con người thì hữu hạn

    “Cuộc đời tuy dài thế

    Năm tháng vẫn đi qua

    Lo lắng tình yêu đổ vỡ, phai nhạt, khi đứng trước sự chảy trôi của thời gian.Nhưng người phụ nữ ấy vẫn luôn tin vào tương lai của tình yêu, vào ý nghĩa đích thực của tình yêu

    “Như biển kia dẫu rộng

    Mây vẫn bay về xa”

    “Sóng” là một tác phẩm thành công vang dội của Xuân Quỳnh. Bài thơ bộc lộ tất cả những cung bậc trong tình yêu, thể hiện tình cảm son sắt, thủy chung, tha thiết, cao thượng cùng bao nỗi nhớ thương, niềm tin yêu vào tình yêu cao cả không chấp nhận một tình yêu tầm thường và nhỏ hẹp. Khat vọng một tình yêu cao đẹp thủy chung. Phải có một tâm hồn thủy chung thì mới có những vần thơ đẹp và lung linh đến vậy. Xuân Quỳnh đã góp một hơi thở đắm say, một tiếng sóng đẹp đẽ làm tươi thắm thêm cho thi đàn hiện đại Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Văn Bản Và Trả Lời Câu Hỏi : Mười Tay Bồng Bồng Con Nín Con Ơi Dưới Sông Cá Lội, Ở Trên Trời Chim Bay Ước Gì Mẹ…
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Mọc Giữa Dòng Sông Xanh…
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Ở Chương Trình Lớp 7
  • Bài Thơ: Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen (Khuyết Danh Việt Nam)
  • Phân Tích Tác Dụng Của Phép Tu Từ Trong Bài Ca Dao: “trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen … Gần Bùn Mà Chẳng Hôi Tanh Mùi Bùn”
  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

    --- Bài mới hơn ---

  • 9 Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt: Một Số Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Bài 9: Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Phân Tích Bài Ca Dao Anh Em Nào Phải Người Xa Lớp 7 Hay Nhất
  • I. CỦNG CỐ LÍ THUYẾT

    Các biện pháp tu từ từ vựng: So sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, điệp ngữ, chơi chữ, nói quá, nói giảm – nói tránh.

    1. So sánh: Là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Trẻ em như búp trên cành

    2. Nhân hoá: là cách dùng những từ ngữ vốn dùng để miêu tả hành động của con người để miêu tả vật, dùng loại từ gọi người để gọi sự vật không phải là người làm cho sự vật, sự việc hiện lên sống động, gần gũi với con người.

    VD: Chú mèo đen nhà em rất đáng yêu.

    3. ẩn dụ: Là cách dùng sự vật, hiện tượng này để gọi tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa vào nét tương đồng (giống nhau) nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

    4. Hoán dụ: Là cách dùng sự vật này để gọi tên cho sự

    vật, hiện tượng khác dựa vào nét liên tưởng gần gũi nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Đầu bạc tiễn đầu xanh (Người già tiễn người trẻ: dựa vào dấu hiệu bên ngoài).

    5. Điệp ngữ: là từ ngữ (hoặc cả một câu) được lặp lại nhiều lần trong khi nói và viết nhằm nhấn mạnh, bộc lộ cảm xúc…

    VD: Võng mắc chông chênh đường xe chạy

    Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

    6.Chơi chữ: là cách lợi dụng đặc sắc về âm, nghĩa nhằm tạo sắc thái dí dỏm hài hước.

    VD:

    7. Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, qui mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    VD: Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng khen chồng bảo râu rồng trời cho.

    8 Nói giảm, nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    Ví dụ:

    Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

    II. Luyện tập

    Bài tập 1: Phân biệt ẩn dụ, hoán dụ từ vựng học và ẩn dụ, hoán dụ tu từ học?

    Gợi ý: 1.( 1điểm)

    – ẩn dụ, hoán dụ từ vựng học là phép chuyển nghĩa tạo nên nghĩa mới thực sự của từ, các nghĩa này đư­ợc ghi trong từ điển.

    – ẩn dụ, hoán dụ tu từ học là các ẩn dụ, hoán dụ tạo ra ý nghĩa lâm thời (nghĩa ngữ cảnh) không tạo ra ý nghĩa mới cho từ. Đây là cách diễn đạt bằng hình ảnh, hình t­ượng mang tính biểu cảm cho câu nói; Không phải là phư­ơng thức chuyển nghĩa tạo nên sự phát triển nghĩa của từ ngữ.

    Bài tập 2: Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau là gì ?

    Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi .

    ( Truyện Kiều – Nguyễn Du )

    A. ẩn dụ C. Tương phản

    B. Hoán dụ D. Nói giảm , nói tránh .

    Bài tập 3: Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ nào ?

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa”

    A. Nhân hoá và so sánh C. ẩn dụ và hoán dụ.

    B. Nói quá và liệt kê. D. Chơi chữ và điệp từ.

    Bài tập 4: Hãy chỉ ra biện pháp tu từ từ vựng trong hai câu thơ sau:

    Ngày ngày mặt trờ đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trog lăng rất đỏ.

    Gợi ý: Phép tu từ ẩn dụ: Mượn hình ảnh mặt trời để chỉ Bác Hồ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẹo Hay Giúp Học Sinh Phân Biệt Ẩn Dụ Hoán Dụ Siêu Dễ Dàng
  • Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ
  • Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Kiến Thức Bài Tây Tiến
  • 5 Bài Phân Tích Khổ 3 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Tuyển Chọn, Dàn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100