Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ

--- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Trong Ngữ Văn Lớp 12
  • Các Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Tìm Hiểu Bài Việt Bắc, Tố Hữu
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Nghìn Đêm Thăm Thẳm Sương Dày…
  • Vài nét về tác giả, tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ

    – Thanh Hải (1930-1980), tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, quê tỉnh Thừa Thiên – Huế.

    – Hoạt động văn nghệ từ kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông bám trụ ở lại quê hương, cầm súng, cầm bút và có công xây dựng văn học Cách mạng miền Nam từ những ngày đầu.

    – Tác phẩm tiêu biểu: Huế mùa xuân (tập I – 1970, tập II – 1975); Dấu võng Trường Sơn;…

    Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ ra đời tháng 11/1980, khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh và một tháng sau ông qua đời. Lúc này, đất nước đã thống nhất, đang xây dựng cuộc sống mới với muôn ngàn khó khăn, thử thách.

    Biện pháp nghệ thuật và tu từ trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

    “Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc”.

    + Xứ Huế vào xuân với “dòng sông xanh”, với “bông hoa tím biếc”. Sắc xanh hiền hòa của sông điểm xuyết nét chấm phá của bông hoa tím biếc gợi một sắc xuân tươi tắn, rực rỡ mà vẫn rất mực bình dị, dân dã mang đậm chất Huế.

    + Động từ “mọc” được đảo lên đầu câu thơ gợi ấn tượng đậm nét về vẻ đẹp duyên dáng, và sức sống mạnh mẽ của bông hoa mùa xuân. Có thể là bông hoa lục bình, cũng có thể là bông trang, bông súng. Với sắc màu tím biếc mang nét đặc trưng của xứ Huế mộng mơ như đang vươn lên, đang trỗi dậy. Hoa tím biếc mọc trên dòng sông xanh – cái hài hòa, tự nhiên của màu sắc đem đến vẻ đẹp dịu nhẹ, thanh mát, say người của thiên nhiên ban tặng.

    – Bức tranh mùa xuân xứ Huế không chỉ tươi tắn sắc màu mà còn rộn rã âm thanh:

    “Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời”.

    Tiếng hót của chim chiền chiện mở ra một không gian mùa xuân cao vời và trong lành. Với từ cảm thán “Ơi” và lời hỏi “Hót chi”, Thanh Hải đã đưa vào lời thơ giọng điệu ngọt ngào, dịu nhẹ, thân thương của người dân xứ Huế, diễn tả cảm xúc vui say đến ngỡ ngàng trước một mùa xuân tươi đẹp – một mùa xuân giàu chất thơ.

    – Trước mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, cảm xúc của thi nhân được gợi tả bằng những câu thơ giàu chất tạo hình:

    “Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng”.

    + Đây là một hình ảnh đẹp – đẹp trong cách diễn đạt cảm xúc một cách tự nhiên, giản dị mà giàu sức biểu cảm. “Giọt long lanh rơi” có phải giọt sương, giọt nắng, giọt mưa, hay chính là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện đã ngưng đọng thành hình, thành khối, thành sức sống mùa xuân có sắc màu lóng lánh? Rõ ràng, âm thanh tiếng chim vô hình, vô ảnh vốn được cảm nhận bằng thính giác đã được hữu hình, hữu ảnh thành vật thể được cảm nhận bằng thị giác và xúc giác. Phép tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được thi nhân vận dụng tài hoa, tinh tế qua trí tưởng tượng phong phú.

    + Trong cảm xúc của nhà thơ, âm thanh tiếng chim đồng nội trở thành giọt vui, giọt hạnh phúc ở đời đáng được nâng niu, trân trọng, để rồi: “Tôi đưa ta tôi hứng”. Lập lại hai lần đại từ “tôi” trong câu thơ năm chữ trở thành nhịp 3/2 cùng cử chỉ “hứng” đã diễn tả chân thực tâm trạng say sưa, ngây ngất của con người trước cảnh đất trời vào xuân.

    “Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ

    + Các điệp ngữ “mùa xuân”, “lộc”, “người” như trải rộng khung cảnh hiện thực gắn với cuộc sống lao động, chiến đấu của nhân dân.

    + Nhà thơ đã sáng tạo cặp hình ảnh sóng đôi để nói về hai lực lượng chủ yếu của Cách mạng, hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước: người chiến sĩ và người lao động – bảo vệ và xây dựng đất nước.

    + Ẩn dụ “Lộc” tượng trưng cho vẻ đẹp mùa xuân và sức sống mãnh liệt của đất nước. Người lính khoác trên lưng vành lá ngụy trang xanh biếc mang theo sức sống của mùa xuân, sức mạnh của dân tộc để bảo vệ Tổ quốc. Người nông dân đem sức lao động cần cù, nhỏ giọt mồ hôi làm nên màu xanh của ruộng đồng.

    “Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao.”

    – Nghệ thuật điệp ngữ “tất cả”, các từ láy “hối hả”, “xôn xao” làm nổi bật không khí náo nức, khẩn trương của đất nước khi bước vào mùa xuân mới.

    “Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước”

    + Với nghệ thuật hoán dụ “Đất nước bốn ngàn năm”: biểu hiện bề dày truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, một dân tộc cần cù, chịu khó, không chấp nhận dưới sự bóc lột của đế quốc xâm lăng, sẵn sàng anh dũng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ tổ quốc.

    + Phép tu từ so sánh được nhà thơ sử dụng vô cùng đặc sắc, làm ý thơ hàm súc – “Đất nước như vì sao”. Sao là nguồn sáng kì diệu của thiên hà, là vẻ đẹp lung linh của bầu trời đêm, là hiện thân của sự vĩnh hằng trong vũ trụ. So sánh như thế là tác giả đã ca ngợi đất nước đẹp lung linh tỏa sáng như vì sao với tư thế đi lên.

    “Ta làm con chim hót Ta làm một cành hót Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến”.

    – Để bày tỏ lẽ sống của mình, ngay từ những câu thơ mở đầu đoạn, Thanh Hải đã đem đến cho người đọc cái giai điệu ngọt ngào, êm ái của những thanh bằng liên tiếp “ta” – “hoa” – “ca”.

    – Điệp từ “ta” được lặp đi lặp lại thể hiện một ước nguyện chân thành, thiết tha. Động từ “làm” – “nhập” ở vai trò vị ngữ biểu lộ sự hoá thân đến diệu kỳ – hóa thân để sống đẹp, sống có ích.

    – Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống để bày tỏ ước nguyện: con chim, một cành hoa, một nốt trầm.

    – Với cách sử dụng đại từ này, nhà thơ đã khẳng định giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng và cái chung.

    – Hình ảnh “nốt trầm” và lặp lại số từ “một” tác giả cho thấy ước muốn tha thiết, chân thành của mình. Không ồn ào, cao giọng, nhà thơ chỉ muốn làm “một nốt trầm” nhưng phải là “một nốt trầm xao xuyến” để góp vào bản hoà ca chung.

    “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”.

    – Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ Thanh Hải rất chính xác, tinh tế và gợi cảm: làm một mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng hiến cho cuộc đời. ” Mùa xuân nho nhỏ ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, biểu lộ một cuộc đời đáng yêu, một khát vọng sống cao đẹp. Mỗi người hãy làm một mùa xuân, hãy đem tất cả những gì tốt đẹp, tinh túy của mình, dẫu có nhỏ bé để góp vào làm đẹp cho mùa xuân đất nước.

    – Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy một thái độ chân thành, khiêm nhường, lấy tình thương làm chuẩn mực cho lẽ sống đẹp, sống để cống hiến đem tài năng phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

    – Điệp từ: “Dù là” như nhấn mạnh ước nguyện cống hiến cho đời của tác giả là không kể thời gian, tạo âm điệu thơ sâu lắng, ý nghĩa.

    Tham khảo bài văn mẫu: Phân tích đoạn thơ 4, 5 trong bài Mùa xuân nho nhỏ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước
  • Giáo Án Bài Ca Ngất Ngưởng Soạn Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng, 4 Bài Văn Mẫu Lớp 11, Mở Bài, Thân Bài,
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13, 14: Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Phân Tích Bài Thơ “bài Ca Ngất Ngưởng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Phân Tích Tất Cả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ “mùa Xuân Chín” Của Hàn Mặc Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Soạn Bài Tôi Yêu Em ( Puskin )
  • Giáo Án Bài Tôi Yêu Em
  • Phân Tích Tác Phẩm Tôi Yêu Em
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu)
  • Đọc tựa bài, ta hầu như đã cảm nhận được cái “ngon lành”, cái đỉnh cao tận cùng của “Mùa xuân chín”. Nếu có “xuân chín” thì hẳn cũng có “xuân xanh” ; “xuân già”. Nằm giữa ranh giới của cái “non trẻ”, cái “già nua”, “Mùa xuân chín” trở nên giá trị nhưng cũng ngắn ngủi, mong manh vô cùng. Để lòng say đắm trong giây phút hoàn hảo nhất của vũ trụ ấy thì còn gì bằng!

    “Trong Tan nắng ửng: khói mơ tan,

    Đôi mái nhà tranh lẫm tấm vàng.

    “Nắng ửng”. Từ “ửng” mang một ý nghĩa đặc biệt. Ta có thể liên tưởng đến ngay cái “chín ửng” của quả đào, quả hồng, cái “ưng ửng” hây hây của đôi má các cô gái trong tiết lạnh đầu xuân. Cũng như vậy, xuân đang “chín” lên trong cái “ửng” của nắng. Dấu hai chấm sau đó nhắc nhở ta cái gì sẽ hiện nhiên xẩy ra như quả chín thì chuyển từ xanh sang hồng. Những làn khói sương tan trong nắng, lượn lờ, bồng bềnh nâng tâm hồn thi sĩ lên khỏi mặt đất, khỏi thực tại, bước vào cõi “mơ”. “Đôi mùi nhả tranh lẫm tấm vàng”. Những “lấm tấm vàng” đó là hạt nắng hay chính là những ảo ảnh trong đôi mắt của người đang say Không phải cái say “quên trời, quên đất”, cái say của nhà thơ là những phút giây đắm chìm, mê mải, chăm chú, cả âm thanh, cả hình ảnh, màu sắc cũng hòa làm một: khói tan, mái nhà lấm tấm vàng, gió sột soạt tà áo, giàn thiên lí. Đó là “bóng xuân”. Chỉ là “bóng”, rất mơ hồ, huyền ảo, mùa xuân cô gái đẹp, đẹp như trong mơ, đẹp như quả chín, đẹp hoàn hảo lướt qua trong tâm hồn nhà thơ.

    “Bao cô thôn nữ hát trên đồi”. Tiếng hát của những cô gái đánh thức Hàn Mặc Tử, đưa nhà thơ trở lại với thực tại. Toàn khổ thơ là tâm trạng tiếc nuối, ngậm ngùi :

    Ngày mai trong đám xuân xanh ấy Có kẻ theo chồng bò cuộc chơi…

    Nhà thơ nghĩ đến ngày mai đây, cảnh vật, con người sẽ đỗi khác, những cô gái sẽ không còn những giây phút hồn nhiên, vô tư ca hát với mùa xuân, cũng như xuân rồi cũng sẻ qua, “xuân chín” rồi thì xuân sẽ tàn. Tâm hồn đa cảm ấy, không thể không rung lên xúc động. “Đám xuân xanh ấy” Mùa xuân tươi đẹp của đời người, cũng là mùa xuân tươi đẹp của thiên nhiên mà thi sĩ vẽ ra trước mắt người đọc làm ta không khỏi suy tư. Thế thì ta hãy tận hưởng cho hết những giờ khắc tuyệt vời ấy.

    Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi ,

    Hổn hển như lời của nước máy…

    Thầm thi với ai ngồi dưới trúc

    Nghe ra ý vị và thơ ngây…

    Trí tưởng tượng của tác giả đã lên đến tột độ, tiếng hát thánh thót như đang “vắt vẻo lưng chừng núi”, đang “hổn hển như lời của nước máy”. Những âm thanh không bay cao, bay xa mà vẫn “thầm thì với ai ngồi dưới trúc”. Từ “ai” rối rắm nghịch lý ấy cho ta thấy những cảm xúc vô cùng tinh tế trong tâm hồn thi sĩ. Tiếng hát bay khắp không gian, thi sĩ “thu”lại chỉ riêng cho “ai”. Chính là mình rồi tự thốt lên:

    Nghe ra ý vị và thơ ngây

    Có mấy ai cảm nhận hết cả đất trời như vậy! Nghĩ đến đất trời, về những cuộc đổi thay, về mùa xuân, tác giả lại nghĩ về mình Khác xa gặp lúc mùa xuân chín

    Thì ra mình chỉ là một người tha phương, lẻ loi, cô độc gặp “Mùa xuân chín” mới có được giây phút ấm lòng. Hàn Mặc Tử nhớ về làng xưa trí bâng khuâng sực nhớ làng”.

    Cái “sực nhớ” bất ngờ, dồn dập, tên tác giả, cái têu mà cha mẹ anh em vẫn gọi đối với Hàn Mặc Tử thân thương biết mấy, gần gũi biết mấy. Ngẫu nhiên, đó cũng là một từ rất phú hợp với nỗi nhớ của tác giả. Nhớ về quê xưa, hình ảnh đầu tiên đến với cái “sực nhớ” của tác giả là hình ảnh của người con gái. “Chị ấy” là chị ruột, chị họ hàng hay chí là một người quen hay là… ? Ta không thể biết được. Nhưng ta hiểu được rằng tác giả đã dành sẵn một tình cảm rất trân trọng, rất tha thiết cho người con gái ấy. Tại sao hình ảnh đầu tiên mà tác giả nhớ không phải là cha mẹ, anh em, mái nhà xưa ‘! Bởi vì đây là cái “sực nhớ”, điều mà ý thức không kiêm soát được mà là của con tim đang dồn dập, nóng bỏng vì nỗi nhớ điều khiển. Những từ, tiếng vần liền “trắng, nắng”, “chang chang” tạo cho người đọc cảm giác rõ rệt về một bờ sông cát trắng, nắng chói rất thật rất rõ ràng tạo thành hình ảnh con người thật đẹp.

    Chị ấy năm nay còn gánh thóc

    Dọc bờ sông trắng nắng chang chang

    Mùa xuân luôn cảm hứng của bao nhiêu thi sĩ. Thế nhưng trong “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử vẫn rất đặc sắc vẫn rất sâu đậm, không những chỉ có “Mùa xuân chín” mà còn “chín” cả lòng người thi sỉ, “chín” cả nỗi nhớ làng, nhớ người xưa trong thơ Hàn Mặc Tử.

    Bài thơ dạt dào cảm xúc khiến lòng người bâng khuâng. Với tâm hồn lãng mạn cùng những lời thơ trữ tình đặc sắc, Hàn Mặc Tử đã để lại cho đời một bức tranh xuân, một hình ảnh xuân một nét xuân đầm thắm dịu dàng. Người thì đã đi xa nhưng tình người còn vương vấn mãi. Bài thơ ấy cùng với cái tôn Hàn Mặc Tử vẫn tồn tại muôn đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đầy Trên Lưng Mùa Xuân Người Ra Đồng Lộc Trải Dài Nương Mạ Tất Cả Như Hối Hả Tất Cả Như Xôn Xao 1/tìm Và Nêu Tác Dụng Của C
  • Hãy Phân Tích Hai Khổ Thơ Sau: Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đ
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Thi Thpt Quốc Gia
  • Dựa Vào 4 Câu Thơ Đầu Của Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân, Viết Đoạn Văn Ngắn Tả Cảnh Thiên Nhiên Trong Đó Có Sử Dụng 1 Vài Biện Pháp Tu Từ (Gạch Dưới Biện Pháp Tu Từ Đó)
  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều
  • Phân Tích Tác Dụng Của Phép Tu Từ Trong Khổ Đầu Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ (Thanh Hải)
  • Các Dạng Đề Bài Thơ: Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Và Dấu Hiệu Đặc Sắc Trong Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ “sang Thu”
  • Xác Định Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Bỗng Nhận Ra Hương Ổi…sang Thu
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Tiên Trong Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh
  • Phân tích khổ đầu chủa bài thơ Mùa xuân nho nhỏ:

    Mùa xuân là hoa nở trên nhành mai Mùa xuân là chim hót trên cành cây Mùa xuân là ánh mắt em nhìn ai Thoáng trên mắt môi bao nụ cười…

    Mùa xuân, đó có thế gọi là một khoảng thời gian tươi đẹp nhất trong năm. Nói đến mùa xuân là ta dường như đang nói đến lòng yêu đời đang cuồn cuộn chảy và những mơ ước cháy bỏng của con người trong cuộc sống. Có lẽ chính vì vậy mà từ lâu mùa xuân đã trở thành một đề tài quen thuộc của các nhà thơ. Viết về mùa xuân, thì mỗi thi nhân đều có được những vần thơ thật hay, thật đặc trưng và nhất là đều mang được tính độc đáo riêng của mình, ở đây, ta chỉ nói về hình ảnh của mùa xuân trong bài thơ quen thuộc “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải.

    Mở đầu bài thơ, tác giả đã phác họa lên một bức tranh mùa xuân trước mắt chúng ta giữa khung cảnh thiên nhiên và đất trời, vũ trụ:

    Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi! Con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời…

    Khung cảnh mùa xuân dần dần được hiện ra với một vẻ đẹp thật bình dị, đơn sơ nhưng cũng không kém phần nên thơ và sâu sắc. Ở đây, mùa xuân của Thanh Hải đến với ta không rực rỡ kiêu sa với cánh đào Hà Nội, với những nụ mai vàng đang phô trương sắc thắm, mà chỉ đơn giản là một bông hoa tím đang mọc lên giữa dòng sông nước xanh như lọc. Cánh hoa nghiêng mình xuống mặt nước tựa như gương ấy để nổi bật lên trên một khung trời được in bóng dưới lòng sông, với màu sắc thật nhẹ, thật hài hòa mà cũng rất dễ thương, Thanh Hải đã tạo nên cho bức tranh mùa xuân của mình một nét gì đó vô cùng độc đáo. Và bức tranh ấy lại càng được đẹp hơn, có “hồn” khi cái màu tím kia được nhà thơ tô đậm lên thành “tím biếc”. Gam màu ấy đã được tô vẽ vào bức tranh thật khéo léo, tài tình, làm cho người đọc chúng ta có thể hình dung ra ngay trước mắt cả một bông hoa tím biếc, thật nhỏ, thật xinh, nhưng dường như cũng có đủ khả năng để nhuộm tím cả bầu trời, cả không gian mùa xuân đang căng tràn sức sống. Cái màu tím ấy lan ra, chơi vơi, và khẽ lay động theo những ngọn gió xuân đang thổi lên từ lòng sông xanh mát rượi. Cảnh vật mùa xuân trong bài thơ có lẽ cũng bình dị, giản đơn, và thâm trầm, tĩnh lặng như vùng đất miền Trung quê hương tác giả. Xứ Huế vốn nổi tiếng mộng mơ với núi Ngự sông Hương, với những điệu hò mái nhì mái đẩy, giờ lại càng thêm xinh đẹp dưới ngòi bút tô vẽ của nhà thơ…

    Bức tranh thiên nhiên kia nãy giờ đang tĩnh lặng như chất chứa suy tư, chợt sinh động và “sống” hẳn lên vì một nét đâm ngang của cánh chim chiền chiện:

    Ơi! Con chim chiền chiên Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng!

    Bức tranh ấy giờ đây chợt đẹp hẳn lên và cũng độc đáo hơn vì có sự pha trộn giữa hai sắc màu: hài hoa (xanh, tím) và lung linh rực rỡ (long lanh). Câu thơ giờ cũng mang một nét gì đó lạ lùng chừng như là vô lí; con chim chiền chiện mà lại hót đến vang cả trời! Thực ra, khoảng trời ấy chính là khoảng không gian của riêng tác giả, trong tim tác giả, vì vậy mà chỉ có một mình tác giả mới cảm nhận được và nghe thấy được mà thôi. Tâm hồn nhà thơ nhỏ bé trước đất trời, chính vì vậy mà tất cả mọi cảnh của tâm hồn ấy cũng trở nên nhỏ xinh và dễ thương đến lạ: con chim nhỏ của mùa xuân nhỏ trong một khoảng không gian nhỏ. Nhưng chính cái “nhỏ” ấy đã phần nào tạo nên được nét độc đáo riêng trong thế đối lập của câu thơ. Tâm hồn ấy, trái tim ấy tuy nhỏ nhưng chỉ chính nó mới cảm nhận được hết mùa xuân của đất trời và vũ trụ thiên nhiên… Và giờ đây tiếng chim lại vang lên, tiếng chim quen thuộc của đồng quê dân dã:

    Ồ!tiếng hát vui say Con chim chiền chiện Trên đồng lúa chiêm Xuân chao mình bay liệng… (Tố Hữu)

    Say mê với tiếng chim, trước mắt nhà thơ dường như xuất hiện những giọt long lanh đang nhẹ nhàng rơi xuống: “Từng giọt long lanh rơi, Tôi đưa tay tôi hứng!”.

    “Từng giọt long lanh”… giọt gì? Giọt nắng, giọt sương, giọt hạnh phúc, hay là giọt xuân đang êm đềm rơi xuống từ cánh chim chiền chiện nhỏ đang tung mình bay lượn để ban phát mùa xuân đến cho mọi người? Nhưng chính xác hơn nhất có lẽ là giọt tiếng chim, giọt tiếng chim mà chỉ có một mình tác giả cảm nhận được, và “trông thấy” được! Nhìn được những vật mà mắt thường không thấy có lẽ do Thanh Hải đang nhìn bằng con mắt của một nhà thơ. Tiếng chim thì nghe, nhưng ở đây tác giả lại nhìn. Hiện tượng chuyến đổi cảm giác này lẽ ra chỉ có được ở những người say. Câu thơ đang vô lí giờ lại bỗng nhiên hợp lí. Quả thật Thanh Hải đang say, ông say trước khung cảnh thiên nhiên vào mùa xuân thật xinh tươi, đẹp đẽ, say vì nàng chúa xuân quá diễm lễ, yêu kiều. Và từ đó trân trọng, thật nhẹ nhàng, tác giả đã đưa tay ra hứng để đón lấy những điều may mắn, cái tốt đẹp và cái “lộc” của mùa xuân đã ban tặng cho tâm hồn của mỗi con người, và đặc biệt là cho tác giả.

    Càng đọc thơ Thanh Hải, ta càng thêm cảm thấy thú vị và say sưa. Nhất là sau khi đọc “Mùa xuân nho nhỏ”, ta như thấy được cả men rượu của mùa xuân đang lan tỏa vào đất trời, hòa vào trong lòng mùa xuân và trong lòng người đọc. Đây quả thật đúng là mùa một “mùa xuân nho nhỏ” mà Thanh Hải đã dâng tặng cho đời. Nếu chúng ta biết rằng Thanh Hải viết bài thơ này khi ông đang nằm trên giường bệnh, ông viết không phải vào dịp xuân… và chỉ ít tháng thôi ông đã ra đi mãi mãi… dù sao, bông hoa tím biếc chung với đời, dòng sông xanh biếc của hi vọng, của niềm tin với đời vẫn là hình ảnh nhỏ nhẹ nói với ta bao điều…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Cảm Nhận Của Em Về Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Của Xuân Quỳnh
  • Cảm Nghĩ Về Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Của Xuân Quỳnh
  • Bài Văn Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Tiếng Gà Trưa, Hay, Tuyển Ch
  • Những Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp Lớp 11
  • Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Đầu Của Bài Tây Tiến
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Tác Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ Đầu Bài Thơ ” Mùa Xuân Nho Nhỏ ” Câu Hỏi 342045

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu : Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Mặt Trời Xuống Biển Như Hòn Lửa…
  • Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm)
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn 2022 Thpt Ngô Sĩ Liên
  • .Mùa xuân là hoa nở trên nhành mai

    Mùa xuân là chim hót trên cành cây

    Mùa xuân là ánh mắt em nhìn ai

    Thoáng trên mắt môi bao nụ cười…

    Mùa xuân, đó có thể gọi là một khoảng thời gian tươi đẹp nhất trong năm. Nói đến mùa xuân là ta dường như đang nói đến lòng yêu đời đang cuồn cuộn chảy và những mơ ước cháy bỏng của con người trong cuộc sống. Có lẽ chính vì vậy mà từ lâu mùa xuân đã trở thành một đề tài quen thuộc của các nhà thơ. Viết về mùa xuân, thì mỗi thi nhân đều có được những vần thơ thật hay, thật đặc trưng và nhất là đều mang được tính độc đáo riêng của mình, ở đây, ta chỉ nói về hình ảnh của mùa xuân trong bài thơ quen thuộc “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải.

    Mở đầu bài thơ, tác giả đã phác họa lên một bức tranh mùa xuân trước mắt chúng ta giữa khung cảnh thiên nhiên và đất trời, vũ trụ:

    Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc

    Ơi! Con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời…

    Khung cảnh mùa xuân dần dần được hiện ra với một vẻ đẹp thật bình dị, đơn sơ nhưng cũng không kém phần nên thơ và sâu sắc. Ở đây, mùa xuân của Thanh Hải đến với ta không rực rỡ kiêu sa với cành đào Hà Nội, với những nụ mai vàng đang phô trương sắc thắm, mà chỉ đơn giản là một bông hoa tím đang mọc lên giữa dòng sông nước xanh như lọc. Cành hoa nghiêng mình xuống mặt nước tựa như gương ấy để nổi bật lên trên một khung trời được in bóng dưới lòng sông, với màu sắc thật nhẹ, thật hài hòa mà cũng rất dễ thương, Thanh Hải đã tạo nên cho bức tranh mùa xuân của mình một nét gì đó vô cùng độc đáo. Và bức tranh ấy lại càng được đẹp hơn, có “hồn” khi cái màu tím kia được nhà thơ tô đậm lên thành “tím biếc”. Gam màu ấy đã được tô vẽ vào bức tranh thật khéo léo, tài tình, làm cho người đọc chúng ta có thể hình dung ra ngay trước mắt cả một bông hoa tím biếc, thật nhỏ, thật xinh, nhưng dường như cũng có đủ khả năng để nhuộm tím cả bầu trời, cả không gian mùa xuân đang căng tràn sức sống. Cái màu tím ấy lan ra, chơi vơi, và khẽ lay động theo những ngọn gió xuân đang thổi lên từ lòng sông xanh mát rượi. Cảnh vật mùa xuân trong bài thơ có lẽ cũng bình dị, giản đơn, và thâm trầm, tĩnh lặng như vùng đất miền Trung quê hương tác giả. Xứ Huế vốn nổi tiếng mộng mơ với núi Ngự sông Hương, với những điệu hò mái nhì mái đẩy, giờ lại càng thêm xinh đẹp dưới ngòi bút tô vẽ của nhà thơ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Của Thanh Hải ( Bài 2).
  • Tổng Hợp Câu Hỏi Bài Thơ: Mùa Xuân Nho Nhỏ (Thanh Hải)
  • Phân Tích Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ Và Viếng Lăng Bác
  • A Bai Tap Noi Qua Bai Tap Noi Qua Doc
  • Phân Tích Bài Ca Dao Lỗ Mủi Mười Tám Gánh Lông Chồng Yêu Chồng Bả
  • Bài 15. Mùa Xuân Của Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 7
  • Giáo Án Ngữ Văn 7, Tập 1
  • Bài Thơ: Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm)
  • ‘mẹ Và Quả’ Ẩn Dụ Để Tìm Tứ Thơ Hay
  • Hãy Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Khổ
  • NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG

    CÁC THẦY CÔ VÀ CÁC EM HỌC SINH

    VỀ DỰ THAO GIẢNG

    LỚP 7A5

    KIỂM TRA BÀI CŨ

    -Hãy cho biết vài nét về thể loại tùy bút?

    -Trong văn bản “Một thứ quà của lúa non : Cốm”, Thạch Lam cho rằng thưởng thức cốm phải thưởng thức như thế nào?

    HOA ĐÀO

    HOA ĐẶC TRƯNG CHO MÙA XUÂN MIỀN BẮC

    TUẦN 16

    TIẾT 61,62 Văn bản

    MÙA XUÂN CỦA TÔI

    Vũ Bằng

    1.Tác giả

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    -Vũ Bằng (1913- 1984) sinh tại Hà Nội.

    -Là nhà văn, nhà báo sáng tác từ trước Cách mạng tháng Tám 1945.Năm 1954 vào Sài Gòn viết văn, làm báo, hoạt động cách mạng.

    -Sở trường: truyện ngắn, tùy bút, bút kí.

    Hãy nêu vài nét về tác giả?

    (Thời đại, quê quán, công việc, sở trường)

    1.Tác giả

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    2.Tác phẩm

    -Xuất xứ:

    +Trích từ thiên tùy bút “Tháng giêng mơ về trăng non và rét ngọt” trong tập tùy bút – bút kí “Thương nhớ mười hai”.

    +Sáng tác trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt,tác giả phải sống xa quê hương.

    Văn bản “Mùa xuân của tôi” được trích từ đâu?

    Được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh nào?

    1.Tác giả

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    2.Tác phẩm

    -Xuất xứ:

    +Trích từ thiên tùy bút “Tháng giêng mơ về trăng non và rét ngọt” trong tập tùy bút – bút kí “Thương nhớ mười hai”.

    +Sáng tác trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt,tác giả phải sống xa quê hương.

    -Thể loại:

    Tùy bút

    -Phương thức biểu đạt :

    biểu cảm xen miêu tả

    Đọc

    HD:Giọng chậm rãi,sâu lắng,mềm mại,

    thấm đẫm niềm thương nỗi nhớ

    Tác phẩm được sáng tác theo thể loại nào?

    Phương thức biểu đạt chính

    của văn bản là gì?

    1.Tác giả

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    2.Tác phẩm

    -Xuất xứ

    -Thể loại

    – Phương thức biểu đạt

    -Bố cục :

    +Phần1: “Tự nhiên…mê luyến mùa xuân”

    +Phần2:”Tôi yêu sông xanh…liên hoan”

    +Phần còn lại:

    ba phần

    Cảm nhận chung về mùa xuân

    Cảnh sắc và không khí mùa xuân

    Cảnh sắc mùa xuân sau rằm tháng giêng

    Hãy xác định ranh giới của từng phần theo bố cục trên?

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    1.Tác giả

    2.Tác phẩm

    II.Tìm hiểu văn bản

    1.Cảm nhận chung về mùa xuân

    -Nghệ thuật : Liệt kê, nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc câu.

    -Khẳng định tình cảm yêu mến mùa xuân là tình cảm rất tự nhiên của con người.

    Tự nhiên như thế : ai cũng chuộng mùa xuân .

    Mà tháng giêng là tháng đầu của mùa xuân , người ta

    càng trìu mến , không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng

    thương nước , bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương

    gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con;

    ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được

    người mê luyến mùa xuân

    Trong đọan văn trên,

    tác giả đã sử dụng

    những biện pháp nghệ thuật nào?

    Việc sử dụng những biện pháp

    nghệ thuật đó nhằm nhấn mạnh điều gì?

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    1.Tác giả

    2.Tác phẩm

    II.Tìm hiểu văn bản

    1.Cảm nhận chung về mùa xuân

    2.Cảnh sắc, không khí của mùa xuân

    Cảnh sắc: mưa riêu riêu, gió lành lạnh

    Không khí : tiếng nhạn kêu, tiếng trống chèo và câu hát huê tình

    -Lựa chọn hình ảnh, chi tiết gợi hình gợi cảm của cảnh sắc thiên nhiên rất riêng, mang đặc trưng của mùa xuân miền Bắc.

    Bài văn viết về

    cảnh sắc và mùa xuân ở đâu?

    Cảnh sắc mùa xuân

    được gợi tả qua những

    chi tiết nào?

    Không khí mùa xuân được gợi tả qua những chi tiết nào?

    Em có nhận xét gì về cảnh sắc và không khí tác giả vừa gợi tả?

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    1.Tác giả

    2.Tác phẩm

    II.Tìm hiểu văn bản

    1.Cảm nhận chung về mùa xuân

    2.Cảnh sắc, không khí của mùa xuân

    -Lựa chọn hình ảnh, chi tiết gợi hình gợi cảm của cảnh sắc thiên nhiên rất riêng, mang đặc trưng của mùa xuân miền Bắc.

    -Miêu tả cảnh sinh hoạt gia đình đầm ấm, yêu thương thắm thiết ; truyền thống tưởng nhớ tổ tiên ông bà thể hiện sự tôn kính.

    -Bầu không khí gia đình: đoàn tụ, êm ấm .

    -Nghi lễ thờ cúng tổ tiên: bàn thờ, đèn nến,

    hương trầm…

    Tác giả đã miêu tả bầu không khí

    gia đình như thế nào?

    Em có nhận xét gì về nghi lễ thờ cúng ông bà?

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    1.Tác giả

    2.Tác phẩm

    II.Tìm hiểu văn bản

    1.Cảm nhận chung về mùa xuân

    2.Cảnh sắc, không khí của mùa xuân

    -Lựa chọn hình ảnh, chi tiết gợi hình gợi cảm của cảnh sắc thiên nhiên rất riêng, mang đặc trưng của mùa xuân miền Bắc.

    -Miêu tả cảnh sinh hoạt gia đình đầm ấm, yêu thương thắm thiết ; truyền thống tưởng nhớ tổ tiên ông bà thể hiện sự tôn kính.

    -So sánh để diễn tả sinh động sức sống của mùa xuân, khơi dậy tình yêu cuộc sống.

    -Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên

    trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm

    êm mãi không chịu được phải chồi ra..

    -Tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, đập mạnh hơn…

    -Trong lòng thì cảm như có không biết bao nhiêu là hoa

    mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan.

    Mùa xuân đã khơi dậy sức sống trong thiên nhiên và con người như thế nào?

    Ở đây tác giả đã

    sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

    Tình cảm gì trỗi dậy

    trong tác giả khi mùa xuân đến ?

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    1.Tác giả

    2.Tác phẩm

    II.Tìm hiểu văn bản

    1.Cảm nhận chung về mùa xuân

    2.Cảnh sắc mùa xuân

    3.Cảnh sắc mùa xuân sau rằm tháng giêng

    + Dào hơi phai nhưng nhuỵ vẫn còn phong.

    + Cỏ không mướt xanh . nhưng nức một mùi hương thơm man mác

    + Mưa xuân thay thế cho mưa phùn.

    +Bầu trời hiện lờn nh?ng ln sỏng h?ng nhu cỏnh con ve mới lột.

    + Ong bay đi kiếm nhị hoa.

    + Sinh hoạt gia dỡnh đã trở lại nhịp sống bỡnh thường.

    Cảm nhận tinh tế, nhạy cảm của tác giả trong từng chi tiết ngoại cảnh.

    -Cảm nhận tinh tế vẻ đẹp hồi sinh của đất trời.

    -Cuộc sống êm đềm thường nhật trở lại.

    Cảnh sắc thiên nhiên sau rằm tháng giêng được miêu tả

    như thế nào?

    Qua đó thể hiện sự nhạy cảm tinh tế của tác giả

    như thế nào?

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    1.Tác giả

    2.Tác phẩm

    II.Tìm hiểu văn bản

    1.Cảm nhận chung về mùa xuân

    2.Cảnh sắc mùa xuân

    3.Cảnh sắc mùa xuân sau rằm tháng giêng

    -Cảm nhận tinh tế vẻ đẹp hồi sinh của đất trời.

    -Cuộc sống êm đềm thường nhật trở lại.

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    1.Tác giả

    2.Tác phẩm

    II.Tìm hiểu văn bản

    1.Cảm nhận chung về mùa xuân

    2.Cảnh sắc mùa xuân

    3.Cảnh sắc mùa xuân sau rằm tháng giêng

    III.Tổng kết

    1.Nghệ thuật

    Nét đặc sắc nghệ thuật của van b?n l gỡ?

    Sử dụng hỡnh ?nh so sánh mới mẻ.

    Lời van giu hỡnh ảnh và nhịp điệu.

    Kết hợp các phương thức biểu đạt linh hoạt.

    Tất cả các ý trên.

    Sử dụng hình ảnh so sánh mới mẽ, lời văn giàu hình ảnh và nhịp điệu, kết hợp các phương thức biểu đạt linh họat.

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    1.Tác giả

    2.Tác phẩm

    II.Tìm hiểu văn bản

    1.Cảm nhận chung về mùa xuân

    2.Cảnh sắc mùa xuân

    3.Cảnh sắc mùa xuân sau rằm tháng giêng

    III.Tổng kết

    1.Nghệ thuật

    2.Nội dung

    Nội dung biểu cảm chính của văn bản là gì?

    -Cảnh sắc thiên nhiên, không khí mùa xuân ở Hà Nội và miền Bắc nước ta được cám nhận, tái hiện trong nỗi nhớ thương da diết.

    -Biểu lộ chân thực và cụ thể tình yêu quê hương, đất nước, lòng yêu cuộc sống và tâm hồn tinh tế, nhạy cảm.

    TIẾT 61.Văn bản MÙA XUÂN CỦA TÔI -Vũ Bằng

    I.Giới thiệu văn bản

    1.Tác giả

    2.Tác phẩm

    II.Tìm hiểu văn bản

    1.Cảm nhận chung về mùa xuân

    2.Cảnh sắc mùa xuân

    3.Cảnh sắc mùa xuân sau rằm tháng giêng

    III.Tổng kết

    1.Nghệ thuật

    2.Nội dung

    Dòng nào sau đây nêu đúng nhất vẻ đẹp của mùa xuân Hà Nội – Bắc Việt?

    C?nh s?c thiờn nhiờn tươi tắn và sôi động.

    C?nh s?c thiờn nhiờn lạnh lẽo và u buồn.

    Thiên nhiên se lạnh nhưng lòng người ấm áp.

    IV.Luyện tập

    Nêu sự giống nhau và khác nhau của mùa xuân hai miền Nam-Bắc?

    * Hướng dẫn về nhà

    Nắm được nội dung và nghệ thuật của van b?n.

    Viết một đoạn van diễn tả cảm xúc của em về mùa xuân quê hương em.

    Chu?n b? bi Hửụựng daón tửù hoùc “Saứi Goứn toõi yeõu”

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Bài Văn Vẻ Đẹp Mộng Mơ Và Ý Nghĩa Sâu Sắc Của Bài Thơ Mây Và Sóng Củ
  • Soạn Bài Mây Và Sóng Siêu Ngắn
  • Phân Tích Bài Thơ Mây Và Sóng Của Ta
  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Chi Tiết)
  • Bài Thơ Mây Và Sóng
  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

    --- Bài mới hơn ---

  • 9 Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt: Một Số Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Bài 9: Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Phân Tích Bài Ca Dao Anh Em Nào Phải Người Xa Lớp 7 Hay Nhất
  • I. CỦNG CỐ LÍ THUYẾT

    Các biện pháp tu từ từ vựng: So sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, điệp ngữ, chơi chữ, nói quá, nói giảm – nói tránh.

    1. So sánh: Là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Trẻ em như búp trên cành

    2. Nhân hoá: là cách dùng những từ ngữ vốn dùng để miêu tả hành động của con người để miêu tả vật, dùng loại từ gọi người để gọi sự vật không phải là người làm cho sự vật, sự việc hiện lên sống động, gần gũi với con người.

    VD: Chú mèo đen nhà em rất đáng yêu.

    3. ẩn dụ: Là cách dùng sự vật, hiện tượng này để gọi tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa vào nét tương đồng (giống nhau) nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

    4. Hoán dụ: Là cách dùng sự vật này để gọi tên cho sự

    vật, hiện tượng khác dựa vào nét liên tưởng gần gũi nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Đầu bạc tiễn đầu xanh (Người già tiễn người trẻ: dựa vào dấu hiệu bên ngoài).

    5. Điệp ngữ: là từ ngữ (hoặc cả một câu) được lặp lại nhiều lần trong khi nói và viết nhằm nhấn mạnh, bộc lộ cảm xúc…

    VD: Võng mắc chông chênh đường xe chạy

    Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

    6.Chơi chữ: là cách lợi dụng đặc sắc về âm, nghĩa nhằm tạo sắc thái dí dỏm hài hước.

    VD:

    7. Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, qui mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    VD: Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng khen chồng bảo râu rồng trời cho.

    8 Nói giảm, nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    Ví dụ:

    Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

    II. Luyện tập

    Bài tập 1: Phân biệt ẩn dụ, hoán dụ từ vựng học và ẩn dụ, hoán dụ tu từ học?

    Gợi ý: 1.( 1điểm)

    – ẩn dụ, hoán dụ từ vựng học là phép chuyển nghĩa tạo nên nghĩa mới thực sự của từ, các nghĩa này đư­ợc ghi trong từ điển.

    – ẩn dụ, hoán dụ tu từ học là các ẩn dụ, hoán dụ tạo ra ý nghĩa lâm thời (nghĩa ngữ cảnh) không tạo ra ý nghĩa mới cho từ. Đây là cách diễn đạt bằng hình ảnh, hình t­ượng mang tính biểu cảm cho câu nói; Không phải là phư­ơng thức chuyển nghĩa tạo nên sự phát triển nghĩa của từ ngữ.

    Bài tập 2: Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau là gì ?

    Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi .

    ( Truyện Kiều – Nguyễn Du )

    A. ẩn dụ C. Tương phản

    B. Hoán dụ D. Nói giảm , nói tránh .

    Bài tập 3: Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ nào ?

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa”

    A. Nhân hoá và so sánh C. ẩn dụ và hoán dụ.

    B. Nói quá và liệt kê. D. Chơi chữ và điệp từ.

    Bài tập 4: Hãy chỉ ra biện pháp tu từ từ vựng trong hai câu thơ sau:

    Ngày ngày mặt trờ đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trog lăng rất đỏ.

    Gợi ý: Phép tu từ ẩn dụ: Mượn hình ảnh mặt trời để chỉ Bác Hồ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẹo Hay Giúp Học Sinh Phân Biệt Ẩn Dụ Hoán Dụ Siêu Dễ Dàng
  • Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ
  • Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Kiến Thức Bài Tây Tiến
  • 5 Bài Phân Tích Khổ 3 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Tuyển Chọn, Dàn
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh
  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?
  • Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ ( về từ, câu , văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người đọc về một hình ảnh, một cảm xúc hay một câu chuyện.

    Mục đích: Sử dụng biện pháp tu từ sẽ tăng giá trị biểu đạt và biểu cảm

    Bên cạnh việc nắm được định nghĩa của các biện pháp tu từ là gì, bạn cũng cần ghi nhớ vai trò của các biện pháp tu từ trong các văn bản nghệ thuật. Hầu hết trong những văn bản nghệ thuật người ta thường xuyên kết hợp các biện pháp tu từ cùng một lúc để gia tăng sự sinh động cũng như khiến đọc giả suy ngẫm kĩ về tác phẩm đó. Bài viết này rất phù hợp với các sĩ tử của kì thi THPTQG năm 2022. Bắt đầu sớm là một lợi thế. Hãy đọc bài viết này để nhớ lại một phần kiến thức tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng cần thiết và quan trọng.

    Các biện pháp tu từ

    1. So sánh

    Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    Cấu tạo: mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:

    Vế A: nêu tên sự vật, sự việc được so sánh.

    Vế B: nêu tên sự vật, sự việc được dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A.

    Từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

    Từ ngữ chỉ ý so sánh ( gọi tắt là từ so sánh).

    Trong thực tế, mô hình cấu tạo nói trên có thể thay đổi ít nhiều:

    Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh có thể được lược bớt.

    Các kiểu so sánh:

    Ví dụ: Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

    2. Nhân hóa

    Ví dụ về một đoạn văn sử dụng biện pháp nhân hóa

    Hè năm nào tôi cũng về nhà nội chơi, sau nhà có vườn cây do chính tay ông tôi trồng và chăm sóc. Trong vườn, gia đình nhà chuối tiêu chen chúc, tựa sát vào nhau trông thật thân thiết . Mấy cây bưởi già thưa thớt lá, sai trĩu những quả xanh ngắt, giống bưởi này ngon lắm, đây là thứ cây mà ông tôi tâm đắc nhất. Phía góc vườn là cây măng cụt rậm rạp, cao hơn hẳn những cây khác, ông tôi thường gọi nó là anh cả của cả vườn, nghe ông kể, anh măng cụt này cũng kiêu ngạo lắm , ông tôi phải vất vả chăm sóc suốt năm trời mới được đón lứa quả đầu tiên. Ngự trị giữa vườn là chị xoài , tán cây rộng lớn như những cánh tay treo đầy trái xoài mập mạp. Tôi thích khu vườn này lắm, một phần vì có nhiều thứ quả ngon, một phần vì nó chứa đựng biết bao tâm huyết của ông nội tôi.

    + Chuối tiêu – chen chúc, tựa sát

    + Măng cụt – kiêu ngạo

    + Trái xoài – mập mạp

    3. Ẩn dụ

    b/ Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp:

    + Ẩn dụ hình thức – tương đồng về hình thức

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

    + Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức

    “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    “Về thăm quê Bác làng Sen,

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”

    + Ẩn dụ phẩm chất – tương đồng về phẩm chất

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

    “Cha lại dắt con đi trên cát mịn

    Ánh nắng chảy đầy vai”

    “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” Ở đây hoa lựu màu đỏ như lửa, bởi vậy lửa ( A) được dùng làm ẩn dụ chỉ hoa lựu (B) Hoán dụ dựa vào sự liên tưởng tương cận ( gẫn gũi ) giữa các đối tượng. Mối quan hệ giữa tên mới (A) và tên cũ (B) là mối quan hệ gần kề Ví dụ : Đầu xanh có tội tình gì Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi” Đầu xanh : là bộ phận cơ thể người ( gần kề với người) , được lấy làm hoán dụ chỉ người còn trẻ ( ví dụ tương tự : đầu bạc- người già) Má hồng: chỉ người con gái đẹp Như vậy , các em có thể hiểu nôm na là : Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau: – Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng

    – Điệp ngữ có nhiều dạng:

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    + Điệp vòng tròn:

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” [Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm]

    7. Nói giảm nói tránh

    Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ dùng cách biểu đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá buồn đau, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu văn hóa. Nói giảm là phương tiện tu từ làm nhẹ đi, yếu đi một đặc trưng nào đó được nói đến mà người nghe vẫn hiểu được nội dung nhưng không gây ra cảm giác nặng nề, tiêu cực. Còn nói tránh là sự biểu đạt bằng một hình tượng khác, một phương thức khác, hoặc đề cập một đối tượng khác, tức là không đề cập trực tiếp đến yếu tố muốn nói, để không gây một sự bất ngờ tiêu cực hoặc tạo sự xúc phạm đến người nghe. Chẳng hạn, khi chê trách một điều gì, để người nghe dễ tiếp nhận, ta thường nói giảm nói tránh bằng cách phủ định điều ngược lại với nội dung đánh giá. Trong thực tế có nhiều thí dụ: Bạn đến chơi nhà đã quá lâu, chủ nhà rất phiền, vì còn bận việc khác thì có thể nói: “Cũng đã trưa lắm rồi, mời anh vào phòng nằm nghỉ”, hoặc “Hôm nay gặp chị rất vui, nhưng em lỡ có hẹn lúc 3 giờ chiều nay, hay là chị vào phòng em nghỉ để em đi một chút về chị em ta nói chuyện tiếp?”… Cách nói giảm nói tránh đó sẽ được người nghe hiểu rằng chủ nhà đang bận hoặc muốn kết thúc câu chuyện nhưng không gây phật ý người nghe.

    8. Chơi chữ

    Chơi chữ là BPTT lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,…. làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

    “Bà già đi chợ cầu đông

    Xem một que bói lấy chồng lợi chăng

    Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

    Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn”

    – Các lối chơi chữ thường gặp:

    + Dùng từ ngữ đồng âm

    + Dùng lối nói trại âm (gần âm)

    + Dùng cách điệp âm

    + Dùng lối nói lái.

    + Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    9. Liệt kê

    Theo SGK liệt kê là sắp xếp, nối tiếp nhau các từ hoặc cụm từ cùng loại với nhau nhằm diễn tả các khía cạnh hoặc tư tưởng, tình cảm được đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc hơn đến với người đọc, người nghe.

    Như vậy, phép liệt kê có thể thấy trong nhiều văn bản khác nhau. Để nhận biết có phép liệt kê được sử dụng có thể thấy trong bài viết có nhiều từ hoặc cụm từ giống nhau, liên tiếp nhau và thông thường cách nhau bằng dấu phẩy “,” hoặc dấu chấm phẩy “;”.

    1. Các kiểu liệt kê

    – Dựa vào cấu tạo chia ra thành:

    + Liệt kê theo từng cặp.

    + Liệt kê không theo từng cặp.

    – Dựa vào ý nghĩa chia ra thành:

    + Liệt kê tăng tiến

    + Liệt kê không theo tăng tiến.

    – Ví dụ về liệt kê theo từng cặp:

    Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan với hoa cúc, hoa mai với hoa đào, hoa hồng và hoa ly.

    Cũng với ví dụ trên ta sẽ liệt kê không theo từng cặp:

    Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan, hoa cúc, hoa mai, hoa đào, hoa hồng, hoa ly.

    Dựa theo cấu tạo có thể tìm ra phép liệt kê đang sử dụng, rất dễ dàng.

    – Ví dụ về liệt kê tăng tiến

    Gia đình em gồm có nhiều thành viên gắn bó với nhau gồm có em gái, em, anh trai, bố, mẹ và ông bà.

    Đây là phép liệt kê tăng tiến, thứ tự trong phép liệt không thể đảo lộn.

    Trên con đường trung tâm có rất nhiều loại phương tiện khác nhau như xe ô tô, xe đạp, xe tải, xe cứu thương đang chạy ngược xuôi.

    Trong ví dụ các thứ tự các loại xe có thể thay đổi mà không làm thay đổi ý nghĩa câu.

    10. Tương phản

    Nghệ thuật tương phản đối lập là tạo ra những hành động, những cảnh tượng, những tính cách trái ngược nhau để qua đó làm nổi bật ý tưởng, một bộ phận trong tác phẩm hoặc tư tưởng chính của tác giả

    + Tố cáo sự vô trách nhiệm, tham lam khốn nạn của bọn quan lại – những kẻ được xem là cha mẹ của nhân dân

    + Cảnh khốn cùng, tuyệt vọng của người dân trước cơn thịnh nộ của thiên nhiên khi chống chọi với bão lũ

    Ví dụ cụ thể về đoạn văn kết hợp những biện pháp tu từ

    1. Giờ ra chơi, trường ồn như vỡ chợ. Vài nhóm nữ sinh tụ tập dưới tán lá mát rượi của cụ bàng; từng cặp từng cặp bạn nam chơi đá cầu với nhau, trên vai ai nấy đều ướt đẫm ánh nắng; một đám học sinh khác lại ùa đến căn-tin ăn quà vặt;… Cảnh vui tươi, nhộn nhịp đó khó có người học trò nào quên được. Bởi sau mỗi giờ ra chơi lại khiến chúng tôi thấy tinh thần sáng khoái hơn, tràn trề sức lực để học tập tốt hơn. *lại: phó từ chỉ sự tiếp diễn tương tự. *ồn như vỡ chợ: so sánh *cụ bàng: nhân hóa kiểu dùng những từ vốn dùng để gọi người để gọi sự vật. *ướt đẫm ánh nắng: ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. (thị giac – xúc giác) *trường: hoán dụ kiểu lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.
    2. Chú gà trống làm việc rất cần mẫn và đúng giờ. Chính vì thế, chú được coi là chiếc đồng hồ báo thức. Cả nhà em đều yêu quí chú.

      + gà trống – oai vệ : nhán hóa Ò ó o…o…” Tiếng gáy to vang vọng của chú gà trống nhà em đấy. Chú đánh thức mọi người dậy – một ngày mới bắt đầu. Chú gà trống trông thật oai vệ. Thân hình cường tráng như võ sĩ trên lễ đài. Chú khoác trên mình tấm áo lông sặc sỡ, nhiều màu, bóng mượt như bôi mỡ. Lông cườm ở cổ đỏ tía. Đầu chú tròn bằng nắm tay, trên đội một chiếc vương miện đỏ chót. Mỏ hơi khoằm xuống, cứng như thép. Mắt tròn long lanh như nước. Đôi cánh cứng cáp như hai mảnh vỏ trai úp lại. Hai chân vàng bóng, bới đất tìm giun rất tài. Mỗi chân chú có một cái cựa dài nhọn hoắt chìa ra. Chùm lông đuôi vồng cong như cầu vồng bẩy sắc. Chú gà trống thật đẹp mã. Hằng ngày vào sáng sớm tinh mơ, chú từ chuồng nhảy ra, phóng lên cành bưởi đứng gáy. Chú vươn cái cổ đủ màu sắc và xoà cánh ra vỗ phành phạch rồi chú gáy một tràng dài, vang xa làm các con vật phải im lặng. Nghe tiếng gáy của chú, cây cối tưng bừng xoè lá đón ánh nắng mặt trời. Chim ca lích rích trong vòm lá. Sau nhiệm vụ báo thức của mình, chú ta nhảy xuống chạy đi kiếm mồi. Chú đến bên sân mổ lia lịa những hạt thóc mà bà tung ra.

      + cứng như thép : so sánh + ….

    3. Cũng giống như những con sông khác, con sông quê em cũng uốn lượn như một con rồng. Nó mang hương vị mặn mòi của vùng quê em, vùng quê có di tích lịch sử (đền thờTiên La), vùng quê địa linh nhân kiệt. Chính cài hương vị ấy đã gắn bó với em đến từng thớ thịt. Tuy con sông không rộng lắm nhưng nó rất dài. Buổi sáng khi ông mặt trời nhô lên thì dòng sông mặc chiếc áo lụa đào tha thướt, trưa về chiếc áo lụa đào ấy được thay bằng chiếc áo xanh biếc mới may, chiều về chiếc áo lại được dát vàng long lanh. đêm đến, sông mặc chiếc áo đen cài một vầng trăng vào giữa ngực và những ngôi sao được gắn vào dải áo như những dải kim cương. Nước sông như dòng sữa ngọt tưới tiêu cho đồng ruộng, dòng nước mát luôn dang tay đón chúng em tắm mát, bơi lội nô đùa trong những ngày hè oi bức. Con sông đã trở thành một phần máu thịt của quê hương em. Con sông đã chứng kiến bao kỷ niệm đẹp của tuổi thơ chúng em. Rồi mai ngày em sẽ lớn khôn, nhưng rồi có đi đâu xa chân trời góc biển em vẫn nhớ về quê em, những kỉ niệm với dòng sông sẽ vẫn còn mãi trong em.+ Nước sống như dòng sữa ngọt : So sánh

      + uốn lượn như một on rồng : so sánh + Sông – máu thịt của quê hương : nhân hóa

    4. Nhà tôi ở một làng chài ven biển. Chiều hè, tôi thường ra đây hóng mát. Tôi ngước nhìn lên trời và bỗng reo lên: “Biển trên trời!” Tôi ngắm nhìn biển không chớp mắt, thích thú: Đẹp quá đi! đẹp quá đi! Bầu trời cao, xanh vời vợi tựa như mặt biển xanh hiền hoà. Những đám mây đuổi nhau, xô đẩy chẳng khác gì những con sóng lớn, xô mạnh vào bờ làm bọt biển văng tung toé. Gió cùng biển thổi rì rào tạo nên một bản nhạc không lời. Xa xa, những đàn chim hải âu bay dập dờn chẳng khác gì những cánh buồm trắng xoá trôi lửng lờ. Tôi như nghe thấy từ trên trời cao tiếng hót véo vón của những chú chim, tiếng xao động của lá cây, tiếng dạt dào của sóng biển. Tất cả như hoà cùng màu xanh dịu êm của biển. Một màu xanh bát ngát có lẽ chỉ có ở trời cao làm cho chị nắng như vẫn còn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kì diệu đó! Cây cối cũng phải ghen tị, ước ao có được màu sắc đó! Mọi người vẫn thả lưới, giăng buồm ra khơi. Riêng tôi vẫn ngồi đây trầm ngâm với những bác dừa xanh mát cả một vùng để ngắm nhìn biển, thèm khát được chơi với biển, cưỡi lên những con sóng mạnh xô vào bờ. Những cánh diều no gió của đám trẻ làng chài thi nhau bay cao vút như chắp cách cho ước mơ của trẻ thơ bay cao, bay xa hơn nữa!. Những hòn đảo nhấp nhô tựa những cung điện dưới thuỷ cung bao la, bát ngát. Những đàn cá lội tung tăng, vẩy nước tung toé. Tôi nhìn biển mà tự hỏi: “Biển đẹp đến thể mà sao còn thua cả sắc trời?”.Hôm đó, một kỉ niệm ngọt ngào nhất mà tôi đã từng có, giờ đây vẫn còn in dấu theo thời gian. Nhìn biển đẹp đến thế, tôi mới cảm nhận được hết vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên! Biển chính là người mẹ thứ hai của tôi!… Biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • Phương Pháp Bơm Tinh Trùng Vào Tử Cung (Iui) Là Gì?
  • Thụ Tinh Nhân Tạo Iui Là Gì? Các Bước Chuẩn Bị, Quy Trình Và Chi Phí
  • Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Ra Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Thơ: Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ “mùa Xuân Nho Nhỏ” Của Thanh Hải
  • Câu Thơ Một Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào
  • Giải Thích Một Cây Làm Chẳng Nên Non Ba Cây Chụm Lại Nên Hòn Núi Cao
  • Một Cây Làm Chẳng Nên Non, Ba Cây Chụm Lại Nên Hòn Núi Cao. Hãy Chứng Minh Nội Dung Câu Tục Ngữ Bằng Những Dẫn Chứng Rút Ra Từ Lịch Sử Bảo Vệ Và Xây Dựng Tổ Quốc Của Nhân Dân Ta.
  • Bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)

    Nội dung bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

    I. Vài nét về tác giả

    – Thanh Hải (1930-1980) tên thật là Phạm Bá Ngoãn

    – Quê quán: Phong Điền- Thừa Thiên Huế

    – Sự nghiệp sáng tác:

    + Từ năm 1954 đến năm 1964 ông làm cán bộ tuyên huấn

    + Từ năm 1964 đến năm 1967 ông phụ trách báo cờ giải phóng của thành phố Huế sau đó làm Ủy viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam

    + Tiếp đó sau năm 1975 ông được làm Tổng thư kí Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên cùng đó là ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp văn học nghệ thuạt Việt Nma, Ủy viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam

    + Các tác phẩm tiêu biểu:

    – Phong cách sáng tác:

    + Thanh Hải thường viết về thien nhiên và lòng yêu cuộc sống

    + Thơ ông bình dị, nhẹ nhàng nhưng đậm chất triết lí về cuộc đời thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết

    II. Tác phẩm

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    – Bài thơ viết vào tháng 11-1980 trong hoàn cảnh đất nức đã thống nhất, đang xây dựng cuộc sống mới nhưng còn vô vàn khó khăn gian khổ, thử thách, không đầy một tháng trước khi nhà thơ qua đời. Bài thơ như một lời tâm niệm chân thành, gửi gắm tha thiết của nhà thơ để lại với đời

    2. Bố cục

    Gồm 4 phần

    – Khổ 1: Cảm xúc trước mùa xuân thien nhiên đất nước

    – Khổ 2 +3: Cảm xúc về mùa xuân của đất nước

    – Khổ 4 +5: Ước nguyện của tác giả

    – Khổ 6: Lời ngợi ca quê hương đất nước qua điệu dân ca xứ Huế

    3. Giá trị nội dung

    – Bài thơ bộc lộ cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm một “mùa xuân nho nhỏ” dâng hiến cho đời

    4. Giá trị nghệ thuật

    – Bài thơ theo thể thơ năm tiếng, có nhạc điệu trong sáng, thiết tha gần gũi với dân ca, nhiều hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, nhiều so sáng và ẩn dụ sáng tạo

    5. Phân tích tác phẩm I. Mở bài

    – Vài nét về nhà thơ Thanh Hải: Một nhà thơ có thể nói là đã cống hiến cả đời mình cho cách mạng

    – Giới thiệu về hoàn cảnh ra đời đặc biệt của bài thơ: được viết trong những ngày cuối cùng Thanh Hải nằm trên giường bệnh, cả cuộc đời ông đã dùng để cống hiến cho cách mạng, giờ đây ông lại cất lên niềm khát khao, niềm mong mỏi có thể tiếp tục cống hiến “mùa xuân nho nhỏ” cho cuộc đời này

    II. Thân bài

    1. Cảm xúc trước mùa xuân thien nhiên đất nước

    – Nhà thơ vẽ ra trước mắt độc giả bức tranh thiên nhiên mùa xuân với:

    + Không gian: cao rộng của bầu trời, dài rộng của “dòng sông xanh”

    + Âm thanh: âm thanh rộn rã vui tươi của “chim chiền chiện”

    + Mùa sắc: xanh của dòng sông, tím của hoa

    ⇒ Nghệ thuật đảo cú pháp: không gian cao rộng, màu sắc tươi sáng và âm thanh rộn ràng như thiết tha mời gọi níu giữ con người ở lại với cuộc sống, với mùa xuân xứ Huế tươi đẹp này

    – Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên:

    + Nhà thơ có cái nhìn trìu mến với cảnh vật

    + Đưa tay ra “hứng” “giọt long lanh”: là giọt sương, cũng có thể là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác chỉ tiếng chim “hót vang trời”

    ⇒ Cảm xúc ngây ngất trước vẻ đẹp của mùa xuân của thiên nhiên, khao khát hòa mình với thiên nhiên đất trời

    2. Cảm xúc về mùa xuân của đất nước

    – Mùa xuân của đất nước gắn với hình ảnh người cầm súng (những người làm nhiệm vụ chiến đấu) và hình ảnh “người ra đồng”, “lộc”- niềm hi vọng tươi sáng đang theo họ đi khắp nơi hay hay chính họ đã đem mùa xuân đến mọi nơi trên đất nước

    – Nhịp độ khẩn trương : “Tất cả như…xôn xao”: Công cuộc xây dựng mùa xuân của đất nước diễn ra khẩn trương, sôi động

    – Nhà thơ nhắc lại về lịch sử bốn nghìn năm “vất vả và gian lao” của đất nước đầy tự hào, đồng thời tin tưởng vào tương lai tươi đẹp của đất nước mai sau bằng hình ảnh so sánh đẹp mang nhiều ý nghĩa “Đất nước như vì sao…phía trước”

    3. Ước nguyện của tác giả

    – Nhà thơ bộc lộ chân thành và thiết tha khát khao cống hiến giản dị, chân thành cho cuộc đời:

    + Tác giả muốn làm “con chim hót”: góp tiếng hót cho cuộc đời

    + Tác giả muốn làm “nhành hoa”: góp chút sắc hương cho cuộc sống

    + Tác giả muốn làm “nốt trầm”: cho sự hoàn thiện của bản nhạc cuộc sống

    + Tất cả những khát khao của tác giả chỉ là “một”: khát khao mong ước giản dị nhưng ý nghĩa

    – Thanh Hải đúc kết tất cả những mong ước của mình thành “Một mùa xuân nho nhỏ – Lặng lẽ dâng cho đời”

    + “Mùa xuân nho nhỏ mang nghĩa ẩn dụ cho khao khát cống hiến phần tươi đẹp nhất của mình cho cuộc đời chung

    + Từ láy “lặng lẽ” thể hiện sự cống hiến thầm lặng lẽ

    4. Lời ngợi ca quê hương đất nước qua điệu dân ca xứ Huế

    – Giai điệu được cất lên chính là điệu hát truyền thống của xứ Huế mộng mơ

    + “Nam Ai, Nam Bình”: làn điệu dân ca ngọt ngào xứ Huế, thể hiện tình yêu mến với di sản văn hóa phi vật thể

    – “Mùa xuân ta xin hát” : không chỉ mở ra không gian nó còn mở ra niềm tự hào về lối sống nghĩa tình của cha ông

    III. Kết bài

    – Khái quát những đặc sắc về nghệ thuật làm nên thành công của bài thơ: Thể thơ năm chữ, có nhạc điệu trong sáng, thiết tha gần gũi với dân ca, nhiều hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, nhiều so sáng và ẩn dụ sáng tạo

    – Liên hệ trình bày khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ cho cuộc đời

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Các bài Soạn văn lớp 9 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 9 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 9 hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Nghệ Thuật Tả Tâm Trạng Trong Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Chuyên Đề Luyện Tập Làm Văn Thuyết Minh Có Sử Dụng Các Biện Pháp Nghệ Thuật Và Yếu Tố Miêu Tả
  • Thuyết Minh Về Con Trâu Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Và Yếu Tố Miêu Tả.
  • Thuyết Minh Về Con Mèo Có Sử Dụng Miêu Tả & Biện Pháp Nghệ Thuật
  • Phân Tích Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Từ Ấy

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Từ Ấy
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Của Câu Thơ Sau: Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan…nắng Tràn(Tố Hữu)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)
  • Một Số Biện Pháp Tu Từ Hay
  • Nêu biện pháp tu từ trong khổ 2 bài thơ Từ ấy của Tố Hữu, chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong khổ thơ thứ 2 của Từ ấy

    Câu hỏi: Chỉ ra và nêu tác dụng nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ thứ 2 trong bài Từ ấy – Tố Hữu.

    Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người.

    Biện pháp tu từ trong khổ 2 bài Từ ấy

    “Tôi buộc lòng tôi với mọi người

    Để tình trang trải khặp muôn nơi

    Để hồn tôi với bao hồn khổ

    Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

    – Động từ “buộc”, “trang trải”: những hành động có tính tự nguyện .

    “Buộc” ở đây không hề có nghĩa là bắt buộc, miễn cưỡng mà là tự rằng buộc, gắn bó tự giác, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam

    “Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu.

    “Để tình trang trải với trăm nơi”

    – Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, “trang trải”-“trăm nơi” biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.

    – “Bao hồn khổ”: tầng lớp đáng thương nhất trong xã hội đương thời, “để” gợi lên ý thơ chủ động sự gắn kết lòng mình với mọi người hòa làm một, chứa đựng nỗi thương xót tột cùng và sự đồng cảm sâu sắc đối với “đại gia đình” đang trong cảnh lầm than.

    -“Khối đời”: hình ảnh ẩn dụ trừu tượng, thể hiện một khái niệm cuộc sống bao quát, gộp chung, không thể nhìn, cân đong đo đếm, nhưng lại gói ghém thành một sức mạnh phi thường, cụ thể hóa phi vật thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Liệt Kê Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Phân Tích Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Mặt Trời Xuống Biển Như Hòn Lửa…
  • Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Mẹ Và Quả (Nguyễn Khoa Điềm)
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn 2022 Thpt Ngô Sĩ Liên
  • Luận Văn Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Và Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh
  • Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Và Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh
  • Mùa xuân vốn là đề tài quen thuộc trong thi ca nói riêng , văn học nghệ thuật nói chung . Cái tiết trời ấm áp , thiên nhiên tươi sáng , vạn vật sinh sôi nảy nở của mùa xuân đã đi vào trong thơ của các thi sĩ một cách tự nhiên . Vì vậy đã không ít những bài thơ đặc sắc viết về mùa xuân như : Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử . Xuân của Chế Lan Viên , một nhành xuân của Tố Hữu .

    Thế nhưng hễ nhắc đến mùa xuân hình như mỗi chúng ta lại không thể không nhớ tới một mùa xuân khiêm nhường , cảm động trong bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ của nhà thơ Thanh Hải . Bài thơ diễn tả mùa xuân thiên nhiên đất nước , con người trong chiến đấu và lao động . Nhưng có lẽ hay và đặc sắc hơn cả vẫn là những lời tâm nguyện cảm đông thiết tha của nhà thơ . Đó là ước nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho mùa xuân đất nước .

    Thật vậy , Bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ viết theo thể thơ năm chữ ngắn gọn , nhịp nhàng , lời ít mà gợi nhiều . Mở đầu bài thơ là đôi nét phác họa về bức tranh của mùa xuân thiên nhiên xứ Huế .

    Nhà thơ có nói gì nhiều đâu chỉ một bông hoa tím mọc giữa dòng sông xanh và tiếng chim chiền chiện hót vang trời cũng đủ cho ta thấy được mùa xuân đất trời ở vẻ đẹp , ở sức sống và niềm vui rạo rực . Từ chỗ cảm nhận nhà thơ cảm xúc tràn đầy , mở rộng tâm hồn để đón nhận để ngây ngất trước cảnh vật mùa xuân . Từ cảm thán ơi và mấy tiếng hót chi mà thể hiện sự yêu thương thiết tha , cảm xúc say sưa ngây gất đó .

    Giọt gì long lanh rơi ? Gịot mưa , giọt nắng , gịot ánh sáng, giọt mùa xuân , giọt hạnh phúc hay giọt tiếng chim mà nhà tơ đưa tay hứng một cách nâng niu trân trọng . Rõ ràng tiếng chim chiền chiện hót vang trời mà nhà thơ nghe được đó nó đang đọng thành giọt mà tác giả nhìn thấy được và hứng được . Như vậy ta thấy có sự chuyển đổi cảm giác mang tính chủ quan của nhà thơ . Hình ảnh thơ có tính chất phi lí nhưng có thể chấp nhận được vì đây là biểu hiện sự say sưa ngây ngất của nhà thơ trước cảnh đất trời vào xuân .

    Từ mùa xuân thiên nhiên nhà thơ nghĩ về con người trong khổ thơ này tác giả đưa ra hai hình ảnh đối xứng giữa người lính và người nông dân để nói về mùa xuân sản xuất và chiến đấu của nhân dân ta . Cấu trúc câu thơ song hành để chỉ rõ hai nhiệm vụ chiến lược ấy .

    Lộc là chồi non , cành biếc mơn mởm . Khi mùa xuân về cây lá đâm chồi nẩy lộc . Lộc ở đây mang ý nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp mùa xuân và sức sống mãnh liệt của đất nước . Người lính khoát trên lưng vành lá ngụy trang xanh biếc , mang theo sức sống mùa xuân , sức mạnh của dân tộc để bảo vệ tổ quốc . Người nông dân , đem mồ hôi và sức lao động cần cù làm nên màu xanh cho ruộng đồng . Ý thơ vô cùng sâu sắc . Máu và mồ hôi của nhân dân đã góp phần tô điểm mùa xuân và để giữ lấy mùa xuân mãi mãi .

    Cả dân tộc bước vào mùa xuân với khí thế khẩn trương và náo nhiệt .

    Hối hả nghĩa là vội vả , gấp gáp khẩn trương , xôn xao là có nhiều âm thanh xen lẫn vào nhau , làm cho náo động . Các từ láy cùng điệp ngữ tất cả làm cho câu thơ vang lên nhịp điệu vui tươi , mạnh mẽ khác thường . Đó là hành khúc mùa xuân của thời đại Hồ Chí Minh .

    Đến đây từ mùa xuân con người tươi đẹp nhà thơ lại nghĩ về đất nước , môt đất nước bốn ngàn năm lịch sử chồng chất biết bao vất vả và gian lao . Một đất nước từ khi xây dựng đến nay phải chống chọi lại với biết bao kẻ thù xâm lược , chống chọi lại với biết bao thiên tai hà khắc . Nhưng đất nước không dừng lại mà cứ đi lên phía trước . Bằng nghệ thuật so sánh Đất nước như vì sao nhà thơ như khẳng định lòng tin ở sự phát triển của đất nước . Một đất nước có sức mạnh trổi dậy xé màn đêm đen tối mà lao về phía trước .

    Từ cuộc đời chung nhà thơ nghĩ về mình , ta phải làm gì đây trong mùa xuân trời đất , mùa xuân con người và lịch sử đất nước đang ở thế phát triển không ngừng . Nhà thơ đã chọn nhiều hình ảnh để thể hiện lẽ sống tâm niệm của đời mình .

    Nhà thơ không mơ ước những gì to tát cao siêu , nhà thơ chỉ ước được làm một tiếng chim hót lánh lót như con chim chiền chiện , góp phần làm cho mùa xuân quê hương thêm rạo rực , sống động . Nhà thơ nguyện làm một cành hoa nhỏ bé trong trắng tô điểm thêm cho hương sắc của mùa xuân quê hương đất nước . Nhà thơ không mơ làm một nốt nhạc bỗng cao vút trong bản hòa ca của dân tộc mà chỉ khiêm nhường làm một nốt trầm xao xuyến lòng người . Nốt trầm ấy có thể là nốt nhạc phụ nhưng không thể thiếu bởi nó là yếu tố góp phần làm nên sự thành công của bản hòà ca . Điệp ngữ ta làm được lặp lại nhiều lần như càng nhấn mạnh những ước nguyện tuy đơn sơ , bình dị nhưng không kém phần da diết , trăn trở của nhà thơ . Nếu ở những khổ thơ trên nhà t hơ xưng tôi ( Tôi đưa tay tôi hứng ) thì đến khổ thơ này nhà thơ lại xưng ta , đó là biểu tượng cho sự gặp gỡ giữa cái tôi và cái ta , cái chung và cái riêng . Đại từ ta vừa là số ít ( nhà thơ ) vừa là số nhiều ( tất cả ) . Dường như ước nguyện của mỗi cá nhân đã hòa vào dòng chảy của muôn người : Tất cả đều muốn cống hiến một phần công sức nhỏ bé của mình cho quê hương đất nước .

    Một mùa xuân nho nhỏ hay phải chăng cũng là một ẩn dụ cho cuộc đời Thanh Hải : Sống là cống hiến , cống hiến là mùa xuân của cuộc đời nhà thơ . Nhà thơ khiêm nhường xin làm một mùa xuân nho nhỏ và nếu mỗi người là một mùa xuân nho nhỏ thì sẽ có một mùa xuân lớn lao của dân tộc . Thế nhưng , có lẽ điều làm cho người đọc xúc động chính là sự khiêm nhường ấy đồng nghĩa với những hi sinh thầm lặng Lặng lẽ dâng cho đời và sự hi sinh ấy là vô điều kiện , nó vượt qua mọi không gian và thời gian qui ước .

    Tuổi 20khi tóc bạc ở đây là hai hình ảnh hoán dụ giàu sức gợi cảm . Nó không những chỉ một đời người từ trẻ đến già mà còn chỉ mọi thế hệ : già cũng như trẻ , gái cũng như trai . Điệp ngữ dù là được láy lại như một lời hứa , lời khẳng định của nhà thơ , Sống là phải cống hiến tuyệt đối . Phải chăng đó là lẽ sống đầy trách nhiệm mà Thanh Hải muốn nhắn gởi đến chúng ta . Có điều những ước mơ của nhà thơ tại sao chỉ là một : Một nhành hoa , một tiếng chim , một nốt trầm , một mùa xuân nho nhỏ …Có lẽ nhà thơ quan niệm mùa xuân lớn lao là mùa xuân thiên nhiên đất nước được miêu tả ở các khổ thơ đầu , còn mỗi con người chỉ là một phần nhỏ bé của mùa xuân nên chỉ là con số tượng trưng cho sự tối thiểu mà thôi ! Chúng ta chợt nhớ đến những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu .

    Nếu chúng ta biết rằng nhà thơ Thanh Hải đã viết những câu thơ chân thành cảm động này trên giường bệnh thì chúng ta càng đồng cảm với ước nguyện của nhà thơ hơn bởi Thanh Hải không chỉ là người trung thành với một lẽ sống cao cả đầy trách nhiệm , mà còn sống với một niềm tin và tinh thần lạc quan yêu đời đáng khâm phục .

    Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được kết thúc bằng tiếng hát mùa xuân . Đây là khúc ca nam ai nam bình xứ Huế trầm buồn hưng lạc quan chứa đựng tình yêu quê hương đất nước .

    Có đọc và hiểu hoàn cảnh ra đời của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ ta mới thấy hết giá trị và ý nghĩa cao đẹp của nó . Bài thơ được viết tháng 11 năm 1980 là lúc mùa đông tiết trời giá lạnh , lúc này tác giả đang nằm trên giường bệnh . Ta chợt hiểu mùa xuân trong bài thơ là mùa xuân xuất phát từ trong lòng tác giả . Đây là mùa xuân vĩnh cửu , xuân của cuộc đời , xuân của lòng người . Mùa xuân ấy giúp tác giả quên đi sự đe dọa của bệnh tật , của cái chết đem lại cho nhà thơ niềm say sưa với cuộc sống . Đau đớn thay ! đây lại là bài thơ cuối cùng của tác giả , một bài thơ ông gởi hết tâm tư tình cảm , nguyện vọng và lời nhắn nhủ của mình trước lúc ra đi .

    Mua xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải đã góp cho thơ ca dân tộc một bài thơ xuân đẹp , đậm đà tình nghĩa . Bằng thể thơ năm chữ , giọng thơ lúc mạnh mẽ , lúc tha thiết ngân vang . Ngôn ngữ thơ trong sáng , hàm súc , các biện pháp tu từ vận dụng sắc sảo tài hoa . Chúng ta cảm nhận được tình yêu mùa xuân gắn liền với tình yêu đất nước , quê hương được Thanh Hải diễn tả sâu sắc cảm động .Mỗi cuộc đời cũng là một mùa xuân . Đất nước ta mãi mãi lànhững mùa xuân tươi đẹp .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu : Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Tác Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ Đầu Bài Thơ ” Mùa Xuân Nho Nhỏ ” Câu Hỏi 342045
  • Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Của Thanh Hải ( Bài 2).
  • Tổng Hợp Câu Hỏi Bài Thơ: Mùa Xuân Nho Nhỏ (Thanh Hải)
  • Phân Tích Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ Và Viếng Lăng Bác