Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Tu Từ Ánh Trăng Im Phăng Phắc Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Photomarathonasia.com

Hãy Nêu Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Ánh Trăng

Phân Tích Tác Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Vựng Trong Những Câu Mặt Trời Xuống Biển Như Hòn Lửa…

Ôn Tập Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 8: Chuyên Đề Biện Pháp Tu Từ Và Câu

Mấy Biện Pháp Tu Từ, Hãy Kể Tên Chúng (Kiến Thức Lớp 8)

Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen Biện Pháp Tu Từ

Chỉ Ra Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Các Đoạn Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…

Trăng là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Trăng như một biểu tượng thơ mộng gắn với tâm hồn thi sĩ. Nhưng có một nhà thơ cũng viết về trăng, không chỉ tìm thấy ở đấy cái thơ mộng, mà còn gửi gắm những nỗi niềm tâm sự mang tính hàm nghĩa độc đáo. Đó là trường hợp bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy. Vầng trăng đã từng gắn bó với tuổi thơ, với cuộc đời người lính, đã trở thành người bạn tri kỉ, ngỡ không bao giờ quên. nhưng hoàn cảnh sống đổi thay, con người cũng thay đổi, có lúc cũng trở nên vô tình. Sau chiến thắng trở về thành phố, quen ánh điện cửa gương, khiến cho vầng trăng tình nghĩa vô tình bị lãng quên. nhưng một tình huống đời thường xảy ra làm cho con người phải giật mình tỉnh ngộ, phải đối mặt với vầng trăng mà sám hối:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cài gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng.

Rưng rưng là biểu hiện xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại, trong sáng lại. Bao kỉ niệm đẹp ùa về, tâm hồn gắn bó chan hoà với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng với bể,với sông với rừng. Cấu trúc câu thơ song hành với các biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ cho thấy ngòi bút Nguyễn Duy thật tài hoa. Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, ngôn từ và hình ảnh thơ đi vào lòng người, khắc sâu một cách nhẹ nhàng mà thấm thía những gì nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta.

Khổ thơ cuối mang hàm ý độc đáo và sâu sắc:

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.

Tròn vành vạnh là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn. Trăng vẫn thuỷ chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Ánh trăng im phăng phắc, không một lời trách cứ. Trăng bao dung và độ lượng biết bao. Tấm lòng bao dung độ lượng ấy khiến cho ta phải giật mình. Sự giật mình để tự lột xác, để trở về. Trở về với chính mình tốt đẹp xưa kia. Đó là cái giật mình để tự hoàn thiện.

Tóm lại, với giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng, đoạn thơ trên đã gây nhiều xúc động cho người đọc. Nó như là lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc chân thành. Qua đoạn thơ, tác giả muốn nói rằng: phải thuỷ chung, trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với nhân dân, với đất nước, và ngay với chính bản thân mình.

Vận Dụng Kiến Thức Về Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Đã Học Để Phân Tích Nghệ Thuật Độc Đáo Trong Khổ Thơ Sau: ” Trăng Cứ Tròn Vành Vạnh Kể Chi Người Vô Tình Ánh Trăn

Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt

Một Số Biện Pháp Tu Từ Hay

Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)

Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt

Phân Tích Các Biên Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Ánh Trăng

Mỗi Truyện Của Thạch Lam Là Một Bài Thơ Trữ Tình” Phân Tích Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Để Làm Sáng Tỏ Nhận Định Trên

Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ

Thời Gian Và Không Gian Được Miêu Tả Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Như Thế Nào? Ấn Tượng Của Anh/chị Về Cái Bóng Tối Trong Đêm Phố Huyện?

Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Ngắn Gọn

Phân Tích Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta (Lớp 5)

Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như ” Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, ” Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.

Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam . Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt. “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặïc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh. Nó như một hồi chuông cảnh tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ.

Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ”

Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ. Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người. Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết. Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấâu thơ mà khó có thể quên được. Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng. Với cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ ” với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’.Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù. Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà. Trăng đã thật sự trởø thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máu lửa.

Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị. Vầng trăng đù, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được:

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy. Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông. của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy. Thế rồi cái tâm hồn – vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường”

Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà. Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa gương”. Và rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người. Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc người lính phải đối mặt:

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn -đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn”

Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm. Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó. Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta. “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình. Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình. Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đóan biết trước được. Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách. Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những qunh co, uốn khúc . Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đới. Dường như người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó!

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng”

Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đó khiến cho người lính áy náy dù cho không bị quở trách một lời nào. Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng và mặt người đang cùng nhau trò chuyện . Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và dường như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn “tri kỉ” của mình . Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nới có “sông” và có “bể” .Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại. Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ những điều mà con người cảm nhận được. Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người.

Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kề chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”

Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủù khiến cho con người giật mình. Ánh trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chở cho con người.

“Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó. còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn. Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ. Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâm tình dã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc.

Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T

:chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ

Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai

Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào

Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm

Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Nhân Hóa Trong Văn Bản Ánh Trăng

Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Đoạn Cá Nhụ, Cá Chim Cùng Cá Đé…

Hiệu Quả Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Thuộc Chương Trình Giáo Dục Mầm Non

Luyện Từ Và Câu 3. Nhân Hóa. Ôn Tập Cách Đặt Và Trả Lời Câu Hỏi Để Làm Gì? Dấu Chấm, Chấm Hỏi, Chấm Than Luyen Tu Va Cau3 Ppt

Luyện Từ Và Câu Lớp 3: Nhân Hóa. Cách Đặt Và Trả Lời Câu Hỏi Khi Nào?

Những Giải Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Nước

Lê Đăng Hùng

19/02/2018 20:35:32

Trăng là đề tài muôn thuở của thi ca . Với ánh sáng hiền diệu , với chu kì tròn khuyết lạ lùng , trăng đã gợi cho các thi nhân cổ kim nhiều ý tưởng sâu xa . Nguyễn Duy là nhà thơ lớn lên từ đồng quê , trăng như một ám ảnh . Rồi xê dịch với thời gian , và không gian , trăng vẫn theo đuổi nhà thơ và thế là thành thơ , thành triết lí

Bài thơ ” Anh trăng ” được viết theo thể thơ năm chữ , nhịp điệu linh hoạt để thể hiện sự vận động của không giạn , của thời gian . Nếu như trong bài thơ ” Tre Việt Nam ” Câu thơ lục bát có khi được tách ra thành 2 hoặc 3 dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật biểu đạt gây ấn tượng , thì bài thơ ” Anh trăng ” này lại có một nét mới . Chữ đầu của dòng thơ , câu thơ không viết hoa . Phải chăng nhà thiơ muốn cho cảm xúc được dào dạt trôi theo dòng chảy của thời gian kỉ niệm ?

Hai câu thơ đầu nhà thơ nói về vầng trăng của tuổi thơ và vầng trăng của thời chiến tranh .

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

Vầng trăng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la . Hai câu thơ 10 tiếng , gieo vầng lưng ( đồng – sông ) , từ ” với ” được điệp lại 3 lần nhằm diễn tả một tuổi thơ đi nhiều , được hạnh phúc cảm nhận những vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên , từng được ngắm trăng trên đồng quê , ngắm trăng trên dòng sông và ngắm trăng trên bãi bể . Ta thấy hồi ức được kể lại bằng hình ảnh . Hình ảnh chuyển rất nhanh , cái hay là bằng hình ảnh không gian đã diễn tả được sự vận động của thời gian .

Hai câu thơ tiếp theo nói về thơì chiến tranh , vầng trăng của người lính , trăng đã thành tri kỉ .

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ

Sang khổ thơ thứ 2 như một lời nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuọc đời người lính gắn bó với thiên nhiên , với đất nước bình dị , hiền hậu . Bằng nghệ thuật ẩn dụ , so sánh nhà thơ làm nổi bật chất trần trụi , chất hồn nhiên của người lính những năm tháng ở rừng . Đó là cốt cách của các anh .

Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa

Vầng trăng là biểu tượng của những ăm tháng ấy , đã trở thành vầng trăng tri kỉ , vầng trăng tình nghĩa , ngỡ như không bao gì có thể quên . Một ý thơ làm động đến tâm hồn như một thức tỉnh lương tâm đối với những kẻ vô tình .

Sự thay đổi của lòng người thật đáng sợ . Hoàn cảnh sống thay đổi con người dễ thay đổi , có lúc trở nên vô tình , có kẻ dễ trở thành ” ăn ở bạc “. Từ ở rừng , sau chiến tranh trở về thành phố được sống sung sướng ở buynh đinh cao ốc , quen ánh điện cửa gương , vầng trăng tri kỉ – vằng trăng tình nghĩa đã bị người lãng quên dửng dưng . Cách so sánh của tác giả làm chột dạ nhiều người .

Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường

Trăng được nhân hóa lặng lẽ đi qua đường , trăng như người dưng đi qua chẳng còn ai nhớ , chẳng còn ai hay . Những câu thơ rất bình dị , giọng thơ thầm thì như trò chuyện , giải bày tâm sự cho nên chất trữ tình của thơ trở nên sâu lắng chân thành .

Cũng như dòng sông có thác ghềnh , quanh co uốn khúc . Cuộc đời người cũng có những biến động li kì . Ghi lại một tình huống ” Cuộc sống thành thị ” của những con người mới ở rừng về thành phố , nhà thơ chỉ sử dụng 4 câu thơ 20 từ . Các từ ” Thình lình “, ” vội “, ” Đột ngột ” gợi tả tình thái đầy biểu cảm

Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn

Trăng xưa đã đến với người , vẫn tròn , vẫn đẹp , vẫn thủy chung với mọi người , mọi nhà , với thiên nhiên , với người lính . Người ngắm trăng rồi suy ngẫm bâng khuâng

ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng.

Hai chữ ” mặt ” trong đoạn thơ . Mặt trăng . mặt người cùng ” Đối diện đồng tâm”. Trăng chẳng nói , trăng chẳng trách , thế mà người lính cảm thấy ” có cái gì rưng rưng ” . ” Rưng rưng ” nghĩa là vì xúc động , nước mắt đang ứa ra , sắp khóc . Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại , cái tốt lành hé lộ , bao kỉ niệm đẹp một đời người ùa về , tâm hồn gắn bó , chan hòa với thiên nhiên , với vần trăng xưa , với đồng với bể , với sông , với rừng , với quê hương đất nước . Cấu trúc câu thơ song hành , với biện pháp tu từ so sánh , với điệp ngữ là cho thấy ngòi bút của Nguyễn Duy thật tài hoa . Ta thấy đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành , ở tính biểu cảm , ở hình tượng và cảm xúc . Từ ngôn ngữ hình ảnh đi vào lòng người , khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta một cách nhẹ nhàng , thấm thía .

Khổ thơ cuối mang tính hàm nghĩa độc đáo , đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí .

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình .

Tròn vành vạnh là trăng rằm , một vẻ đẹp viên mãn . Im phăng phắc là im như tờ , không một tiếng động nhỏ . Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ ” kể chi người vô tình “

Là biểu tượng của sự bao dung độ lượng , của nghĩa tình thủy chung trọn vẹn , trong sáng mà không hề đòi hỏi đền đáp . Đó cũng chính là phẩm chất cao cả của nhân dân mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thời chiến tranh chống Mỹ .

Anh trăng là bài thơ hay của Nguyễn Duy . Qua bài thơ tác giả tâm sự với người đọc những sâu kín nhất nơi lòng mình. Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng ” ánh trăng ” đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ. Không nên sống vô tình . phải thủy chung trọn vẹn , phải ngiã tình sắt son với bạn bè , đồng chí , nhân dân . Đó là điều mà Nguyễn Duy nói thật hay, thật cảm động qua bài thơ này .

Skkn Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Trong Làm Văn Miêu Tả Lớp 4

Giải Cùng Em Học Tiếng Việt 4 Tập 2 Tuần 19 Câu 4, 5, 6, Vui Học Trang 7, 8

Giúp Học Sinh Nhận Biết, Sử Dụng Hiệu Quả Phép Tu Từ Nhân Hóa

Cách Viết Tốt Bài Văn Tả Cây Bàng

Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa Để Tả Vườn Cây

Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

Bài 9: Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

Phân Tích Bài Ca Dao Anh Em Nào Phải Người Xa Lớp 7 Hay Nhất

Nghe Tiếng Giã Gạo: Gạo Đem Vào Giã Bao Đau Đớn / Gạo Giã Xong Rồi Trắng Tựa Bông / Sống Ở Trên Đời Người Cũng Vậy / Gian Nan Rèn Luyện Mới Thành Công (Hồ Chí Minh

Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà…

Đề Thi Về Bài Ca Dao: Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà

Trường THPT Dân lập Yên Hưng

Thế nào là trường nghĩa ? Hãy cho biết các từ ngữ sau đây có thuộc cùng một trường nghĩa không: nhà, lều, cao ốc, gạch, cửa, ngói, nhà sàn, vũ trụ, xi-măng, nhà cao cửa rộng, đau đớn, ruộng, nhà rông.

Bài

Các biện pháp tu từ từ vựng

Ví dụ:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Nội dung của câu ca dao trên là gì ? Những từ ngữ nào được dùng để diễn tả nội dung ấy ?

Bản thân các từ ngữ này, nếu tách ra khỏi câu ca dao có mang nghĩa như vậy không ?

Bài

Các biện pháp tu từ từ vựng

A-Biện pháp tu từ từ vựng:

– Là biện pháp sử dụng từ, ngữ cố định một cách sáng tạo để diễn đạt nội dung một cách nghệ thuật (làm tăng hiệu quả diễn đạt của từ ngữ).

B-Các biện pháp tu từ từ vựng:

I-So sánh và ẩn dụ:

1- So sánh:

Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành

* Định nghĩa: Là biện pháp tu từ đối chiếu hai đối tượng A, B vốn có một sự tương đồng nào đó, nhằm làm nổi bật A.

* Cách phân tích: phải căn cứ vào đặc điểm (x) đã biết của B để tìm hiểu đặc điểm của A, từ đó tìm hiểu ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của so sánh.

* Tác dụng:

+Đem lại những hiểu biết về đối tượng được so sánh (nhận thức).

I-So sánh và ẩn dụ:

1- So sánh:

+Tăng thêm tính hình tượng, tính hàm súc, tính truyền cảm cho câu văn.

Luyện tập:

Bài tập 1:

Những phương án nào trong những phương án sau không thể sử dụng làm cái dùng để so sánh (B) được ? Tại sao ?

Da nó trắng như ???(a) như gỗ mun.

(b) như trứng gà bóc.

(c) như cột nhà cháy.

Bài tập 2;

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu.

(Nguyễn Trãi)

Hãy xác định A (cái chưa biết) và B (cái đã biết ).

Hiệu quả, giá trị nghệ thuật của so sánh trên là gì ?

Bài tập 3:

Hãy phân tích giá trị của biện pháp tu từ so sánh trong câu ca dao sau:

Thân em như giếng giữa đàng,

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

2- ẩn dụ:

Ví dụ: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng,

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

(Viễn Phương)

2-ẩn dụ:

* Định nghĩa: Là biện pháp dùng từ hay cụm từ vốn dùng để chỉ sự vật B để chỉ sự vật A, vì giữa A và B có sự tương đồng nào đó, nhằm làm nổi bật A.

* Hai loại ẩn dụ:

+ ẩn dụ tu từ: Không cố định, mang tính chất sáng tạo của mỗi cá nhân.

* Một số loại ẩn dụ thường gặp:

+ ẩn dụ từ vựng: Cố định, mọi người sử dụng.

Ví dụ 1:

Mặt trời lặn, mặt trời không gọi

Mặt trời đi, mặt trời không chờ

(Tiễn dặn người yêu)

+ Nhân hoá: Lấy đặc điểm, trạng thái, tính chất, ?của người gán cho vật.

Ví dụ 2:

Râu hùm, hàm én, mày ngài,

Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.

( Nguyễn Du)

+ Vật hoá: Lấy đặc điểm, trạng thái, tính chất, ?của vật gán cho người.

Ví dụ 3:

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm

(Xuân Diệu)

+ Chuyển đổi cảm giác: Lấy cảm giác của giác quan này để chỉ cảm giác của giác quan khác hoặc các cảm giác nội tâm.

* Một số loại ẩn dụ thường gặp:

+ Nhân hoá: Lấy đặc điểm, trạng thái, tính chất, ?của người gán cho vật.

+ Vật hoá: Lấy đặc điểm, trạng thái, tính chất, ?của vật gán cho người.

+ Chuyển đổi cảm giác: Lấy cảm giác của giác quan này để chỉ cảm giác của giác quan khác hoặc các cảm giác nội tâm.

* Tác dụng và cách phân tích tu từ ẩn dụ: Như biện pháp tu từ so sánh.

Luyện tập

Xác định A, B và phân tích giá trị của các biện pháp tu từ ẩn dụ sau:

Bài tập 2:

Trận Bồ Đằng, sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân, trúc chẻ tro bay.

(Nguyễn Trãi)

Bài tập 1:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

(Trần Tế Xương)

Ôn Tập Phần Tiếng Việt: Một Số Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

9 Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt

Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

Mẹo Hay Giúp Học Sinh Phân Biệt Ẩn Dụ Hoán Dụ Siêu Dễ Dàng

Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ

🌟 Home
🌟 Top