Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Ca Dao

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Lớp 10
  • Ẩn Dụ Là Gì, Hoán Dụ Là Gì? Cho Ví Dụ Và Có Mấy Loại
  • Đề Bài: Đọc – Hiểu “Bài Ca Ngất Ngưỡng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Đề Thi Thử Môn Văn Thpt Quốc Gia Số 23
  • Tổng Hợp 10 Biện Pháp Tu Từ + Sách Tham Khảo Ngữ Văn Cấp 3
  • Thơ ca trữ tình dân gian là nơi bộc lộ rõ nhất tâm hồn dân tộc. Ý nghĩa cơ bản của thơ ca trữ tình dân gian là biểu đạt những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc của nhân dân.Những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc ấy được chuyển tải thông qua những hình ảnh giàu giá trị tạo hình và qua một thế giới nghệ thuật lung linh sắc màu. Một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc của ca dao là ẩn dụ. 

    1. Khái niệm

    – Ẩn dụ là phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái khác mà bản thân cái được nói đến thì được ẩn đi một cách kín đáo.

    2. Ý nghĩa của ẩn dụ trong ca dao.

    a. Ý nghĩa nhận thức

     - Biện pháp ẩn dụ đưa đến cho ta một nhận thức mới, một lối tư duy mới về sự vật.

    Tiếc thay hạt gạo tám xoan

    Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà

    Ở đây trong nghĩa hiển ngôn ta tiếp nhận được đặc điểm và suy ra mối quan hệ giữa gạo tám xoan, nồi đồng(những thứ đáng giá) với nước cà(là thứ vô giá trị) là mối quan hệ khập khiễng không tương xứng, từ nhận thức về mối quan hệ giữa các sự vật ấy giúp người tiếp nhận liên tưởng về những sự khập khiễng trong cuộc đời, về những sự vô tâm, vô tình, hờ hững của những mối quan hệ giữa con người.

     Như vậy rõ ràng ẩn dụ đã tạo ra một lối tư duy mới cả về phương diện miêu tả sự vật cụ thể lẫn những khái niệm trừu tượng, không định hình, khó đong đếm.

     

    b. Ý nghĩa thẩm mỹ.

    Biện pháp ẩn dụ giúp cho tác giả dân gian diễn tả được những điều thầm kín, thậm chí những điều khó nói nhất, khó diễn đạt nhất bằng những hình tượng nghệ thuật vừa khái quát vừa giàu chất thơ.

    Quả đào tiên ruột mất vỏ còn

    Buông lời hỏi bạn, lối mòn ai đi

    Quả đào tiên là loại quả quý nhưng cái quý nhất là ruột thì lại mất rồi , chỉ còn lại cái vỏ mà thôi. Ngụ ý bài ca dao này nói về một cô gái không còn giữ được phẩm chất, nhân cách. Vậy thiết nghĩ ít có cách diễn đạt nào tế nhị, bóng bẩy và hay như thế.

     

    c. Ý nghĩa biểu cảm

    Trong đặc điểm của loại hình nghệ thuật sáng tác theo phương thức trữ tình, cái đọng lại trong lòng người tiếp nhận không chỉ ở chỗ sự vật ấy được phản ánh ra sao mà quan trọng là tình cảm, trạng thái tâm hồn của con người thể hiện như thế nào qua cách phản ánh ấy.

    Trong thơ ca trữ tình dân gian, tính chất trữ tình đặc biệt được thể hiện qua các thán từ “trách ai”, “tiếc thay”…

    Tiếc thay hạt gạo trắng ngần

    Đã vo nước đục lại vần than rơm.

     

    Trách người quân tử vô tình

    Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao

     

        Em tưởng nước giếng sâu em nối sợi gầu dài

        Ai ngờ nước giếng cạn em tiếc hoài sợi dây

     

         Công anh bắt tép nuôi cò

        Cò ăn cò lớn cò dò lên cây.

    Như vậy thông qua các thán từ, tác giả dân gian đã bộc lộ rất rõ cảm xúc, thái độ, tình cảm đối với đối tượng được đề cập, ca dao có bao hàm và chứa đựng hầu hết các ý nghĩa: Thẩm mỹ, nhận thức và biểu cảm.

     

    Ca dao là thể loại văn học dân gian được các nhà nghiên cứu để tâm đến nhiều bởi giá trị nhiều mặt của nó. Những thế giới nghệ thuật trong ca dao như một mảnh đất rộng rãi và hấp dẫn cho những ai quan tâm, yêu thích vẻ đẹp của ca dao.

    Trung tâm gia sư – dạy kèm tại nhà NTIC

                                                                    (nguồn từ internet)

    LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN CHI TIẾT

    ĐÀO TẠO NTIC  

    Địa chỉ: Đường nguyễn lương bằng, P.Hoà Khánh Bắc, Q.Liêu Chiểu, Tp.Đà Nẵng

    Hotline: 0905540067 - 0778494857 

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém
  • Vận Chuyển Và Xử Lý Chất Thải Nguy Hại
  • Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Nguy Hại An Toàn, Hiệu Quả Nhất
  • Một Số Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Nguy Hại Hiện Nay
  • Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẹo Hay Giúp Học Sinh Phân Biệt Ẩn Dụ Hoán Dụ Siêu Dễ Dàng
  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • 9 Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt: Một Số Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Nhằm củng cố, mở rộng, bổ sung thêm kiến thức cho các em học sinh, chúng tôi sưu tầm gửi tới các em Biện pháp tu từ ẩn dụ – Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6. Chúc các em học tốt!

    Biện pháp tu từ ẩn dụ

    Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6

    I. – NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG

    Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng quen thuộc nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Ẩn dụ thực chất là một kiếu so sánh ngầm trong đó yếu tô được so sánh giảm đi chỉ còn yếu tố làm chuẩn so sánh được nêu lên.

    Muốn có được phép ẩn dụ thì giữa hai sự vật, hiện tượng được so sánh ngầm phải có nét tương đồng quen thuộc nếu không sẽ trở nên khó hiểu.

    Câu thơ:

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    (Viễn Phương)

    mặt trời ở dòng thơ thứ hai chính là ẩn dụ.

    Ca dao có câu :

    Thuyền vê có nhớ bến chăng ? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    Bến được lấy làm ẩn dụ để lâm thời biểu thị người có tấm lòng thuỷ chung chờ đợi, bởi những hình ảnh cây đa, bến nước thường gắn với những gì không thay đổi là đặc điểm quen thuộc ở những con người có tấm lòng chung thuỷ.

    Ân dụ chính là một phép chuyển nghĩa lâm thời khác với phép chuyển nghĩa thường xuyên trong từ vựng. Trong phép ẩn dụ, từ chỉ được chuyển nghĩa lâm thời mà thôi.

    2. Các kiểu ẩn dụ

    Dựa vào bản chất của sự vật, hiện tượng được đưa ra so sánh ngầm, ta chia ẩn dụ thành các loại sau :

    + Ẩn dụ hình tượng là cách gọi sự vật A bằng sự vật B.

    Ví dụ :

    Người Cha mái tóc bạc

    (Minh Huệ)

    Lấy hình tượng Người Cha để chỉ Bác Hồ.

    + Ẩn dụ cách thức là cách gọi hiện tượng A bằng hiện tượng B.

    Ví dụ :

    Về thăm quê Bác làng Sen Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.

    (Nguyễn Đức Mậu)

    Nhìn “hàng râm bụt” với những bông hoa đỏ rực, tác giả tưởng như những ngọn đèn “thắp lên lửa hồng”.

    + Ẩn dụ phẩm chất là cách lấy phẩm chất của sự vật A để chỉ phẩm chất của sự vật B.

    Ví dụ : Ớ bầu thì tròn, à ống thì dài.

    Tròn và dài được lâm thời chỉ những phẩm chất của sự vật B.

    + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là những ẩn dụ trong đó B là một cảm giác vốn thuộc một loại giác quan dùng để chỉ những cảm giác A vốn thuộc các loại giác quan khác hoặc cảm xúc nội tâm. Nói gọn là lấy cảm giác A để chỉ cảm giác B.

    Ví dụ :

    Mới được nghe giọng hờn dịu ngọt Huế giải phóng nhanh mà anh lại muộn về.

    (Tố Hữu)

    3. Tác dụng của ẩn dụ

    Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc. Sức mạnh của ẩn dụ chính là tính biểu cảm. Cùng một đối tượng nhưng ta có nhiều cách thức diễn đạt khác nhau (thuyền – biển, mận – đào, thuyền – bến, biển – bờ) cho nên một ẩn dụ có thể dùng cho nhiều đối tượng khác nhau. Ẩn dụ luôn biểu hiện những hàm ý mà phải suy ra mới hiểu. Chính vì thế mà ẩn dụ làm cho câu văn giàu hình ảnh và hàm súc, lôi cuốn người đọc, người nghe.

    Ví dụ : Trong câu : Người Cha mái tóc bạc nếu thay Bác Hồ mái tóc bạc thì tính biểu cảm sẽ mất đi.

    II. – BÀI TẬP

    1. Xác định các kiểu ẩn dụ trong các câu sau đây :

    Người Cha mái tóc bạc Đốt lửa chó anh nằm.

    (Minh Huệ)

    Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã cố ai vào hay chưa ?

    (Ca dao)

    Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn ?

    (Ca dao)

    Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông nhường nào.

    (Xuân Quỳnh)

    Này lắng nghe em khúc nhạc thơm.

    (Xuân Diệu)

    Em thấy cơn mưa rào Ngập tiếng cười của bố.

    (Phan Thế Khải)

    2.

    Ẩn dụ sau đây thuộc kiểu ẩn dụ nào ? Sử dụng ẩn dụ như vậy có tác dụng gì ?

    “Mà bên nước tôi thì đang hửng lên cái nắng bốn giờ chiều, cái nắng đậm đà của mùa thu biên giới.”

    (Nguyễn Tuân)

    3. Những câu sau đây có câu nào sử dụng ẩn dụ không ? Nếu có, em hãy chỉ ra những ẩn dụ cụ thể.

    – Chúng ta không nên nướng tiền bạc của cha mẹ.

    – Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

    (Hổ Chí Minh)

    4. Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta thường hay sử dụng ẩn dụ để trao đổi thông tin và bộc lộ tình cảm. Em hãy kể một số ẩn dụ trong sinh hoạt hằng ngày.

    6. Em hãy làm bài thơ theo thể thơ năm chữ có sử dụng ít nhất một phép ẩn dụ.

    7. Trong đoạn thơ sau đây :

    Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương vù rộn tiếng chim.

    (Tố Hữu)

    a) Tìm các phép so sánh và ẩn dụ trong đoạn thơ.

    b) Hãy viết thành văn xuôi đoạn thơ trên.

    8.

    Có người nói : “Sức mạnh của so sánh là nhận thức, sức mạnh của ẩn dụ là biểu cảm”. Em hãy tìm vài ví dụ tiêu biểu để chứng minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Kiến Thức Bài Tây Tiến
  • 5 Bài Phân Tích Khổ 3 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Tuyển Chọn, Dàn
  • Bình Giảng Khổ 3 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Phân Tích Tây Tiến Đoạn 3 Chuẩn Theo Barem Của Bộ
  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Dựa Vào 4 Câu Thơ Đầu Của Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân, Viết Đoạn Văn Ngắn Tả Cảnh Thiên Nhiên Trong Đó Có Sử Dụng 1 Vài Biện Pháp Tu Từ (Gạch Dưới Biện Pháp Tu Từ Đó)
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Thi Thpt Quốc Gia
  • Hãy Phân Tích Hai Khổ Thơ Sau: Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đ
  • Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đầy Trên Lưng Mùa Xuân Người Ra Đồng Lộc Trải Dài Nương Mạ Tất Cả Như Hối Hả Tất Cả Như Xôn Xao 1/tìm Và Nêu Tác Dụng Của C
  • Phân Tích Tất Cả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ “mùa Xuân Chín” Của Hàn Mặc Tử
  • Đề bài: Phân tích các biện pháp tu từ ẩn dụ trong Truyện Kiều.

    Hướng dẫn giải

    Nguyễn Du là người nghệ sĩ bậc thầy, ông không chỉ tài năng trong cách vận dụng thể thơ lục bát thuần dân tộc để sáng tác nên Truyện Kiều bất hủ. Mà để tạo nên thành công cho tác phẩm, ta không thể không nhắc đến tài năng vận dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật trong tác phẩm của mình, đặc biệt là nghệ thuật ẩn dụ. Trong khuôn khổ của một bài khảo cứu ngắn, chúng tôi chỉ khảo sát nghệ thuật ẩn dụ trên hai phương diện là: nghệ thuật ẩn dụ trong tả người và nghệ thuật ẩn dụ trong tả cảnh.

    Trước hết về nghệ thuật ẩn dụ trong tả người của Nguyễn Du cũng đã đạt đến độ điêu luyện, xuất thần. Bằng những phác họa hết sức ít ỏi nhưng họ đã làm bật lên vẻ đẹp chân dung tinh thần của hai nàng Kiều: “Mai cốt cách tuyết tinh thần/ Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” . Và để từ đó lần lượt hiện lên chân dung hai nàng:

    Vân xem trang trọng khác vời

    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

    Tác giả đã vẽ nên bức chân dung Thuý Vân bằng nghệ thuật so sánh ẩn dụ và ngôn ngữ thơ chọn lọc, chau chuốt: khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, tươi sáng như mặt trăng; lông mày sắc nét như con ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo; mái tóc đen óng ả hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn. Còn với nàng Thúy Kiều, không đi vào chi tiết, mà chỉ vào tập chung vào đôi mắt đầy xúc cảm của nàng:

    “Làn thu thủy nét xuân sơn

    Hoa ghen thua thắm liễu hơn kém xanh”.

    Đây là nghệ thuật điểm nhãn đặc trưng của văn học trung đại. Tác giả không đi vào miểu tả kĩ đối tượng, giống như Thúy Vân, chi tiết từng bộ phận trên mặt, mà chỉ lấy một vài điểm ấn tượng nhất, có hồn nhất để làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật. Với nàng Kiều chính là đôi mắt và đôi mày. Mắt nàng nhưng làn nước mùa thu trong vắt gợi đôi mắt long lanh, thông minh mà đa tình, đa cảm, ẩn dưới nét lông mày như nét vẽ của Kiều. Còn đôi lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân, tươi trẻ đầy sức sống. Hệ thống hình ảnh ẩn dụ được sử dụng để miêu tả vẻ đẹp của Kiều: “thu thủy”, “xuân sơn”, “hoa”, “liễu”. Nếu như thiên nhiên được dùng để miêu tả Vân là một thế giới thiên nhiên viên mãn, tròn đầy, ổn định thì Thúy Kiều lại gắn với một thiên nhiên sống động, biến hóa. Hơn nữa, trước vẻ đẹp của Thúy Kiều, thiên nhiên phải “hờn”, “ghen”, do vậy cũng báo trước một số phận đầy sóng gió. Như vậy kết hợp với bút pháp gợi tả cùng với nghệ thuật ẩn dụ tài tình, Nguyễn Du đã tạc lên trước mắt chúng ta hai mĩ nhân tuyệt đẹp, đặc biệt là vẻ đẹp của nàng Kiều. Thúy Kiều đẹp vượt ngoài quy chuẩn của thiên nhiên, đó chính là nhan sắc của tuyệt thế giải nhân, chim sa cá lặn, nhưng đồng thời sau bức chân dung đó lại dự báo một số phận đầy sóng gió, truân chuyên.

    Không chỉ thành thục trong việc vận dụng nghệ thuật ẩn dụ trong tả người, mà Nguyễn Du còn tỏ ra hết sức tài năng, khéo léo khi vận dụng nghệ thuật ẩn dụ trong miêu tả khung cảnh thiên nhiên. Đó là khung cảnh lễ hội mùa xuân náo nức, vui tưới, nam thanh nữ tú đua nhau đi hội:

    Gần xa nô nức yên anh

    Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

    Nguyễn Du đã mượn hình ảnh chim yến chim oanh để miêu tả cảnh nam thanh nữ tú, từng đoàn người nô nức đi chơi xuân như chim én, chim oanh bay ríu rít. Và ấn tượng nhất là nghệ thuật ẩn dụ trong tám câu thơ cuối của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, đến đây nghệ thuật ẩn dụ đã đạt đến độ tài tình.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dầu dầu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh.

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    Điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu tạo nên âm điệu trầm buồn, mở ra bốn cảnh, mỗi cảnh lại là một tâm trạng khác nhau của Kiều. Nỗi buồn đó ngày càng mãnh liệt, chồng chất triền miên qua nghệ thuật tăng cấp. Kết hợp với điệp từ là những hình ảnh so sánh ẩn dụ đặc sắc, giàu giá trị biểu đạt. Con thuyền lẻ loi đơn độc kia chẳng phải đó cũng chính là ẩn dụ cho cuộc đời lênh đênh, chìm nổi của nàng Kiều đó sao. Không chỉ vậy hình ảnh con thuyền còn biểu tượng cho khát khao đoàn tụ, sum họp gia đình của nàng. Hình ảnh ẩn dụ “hoa trôi man mác” là biểu tượng cho thân phận chìm nổi, bé bỏng, mong manh của Kiều. Kiều cũng như cánh hoa kia, lênh đênh theo dòng đời, không biết rồi số phận của mình sẽ ra sao, không biết sẽ trôi dạt về đâu. Câu hỏi tu từ “biết là về đâu” vang lên như một tiếng than ai oán càng nhấn mạnh sự vô định không có quyền tự quyết số phận cuộc đời mình. Từ đó càng làm tăng thêm sự buồn tủi về thân phận bèo bọt, phụ thuộc. Và khung cảnh thiên nhiên càng trở nên dữ dội hơn nữa, màu xanh nhạt nhòa, héo úa, những cơn sóng điện cuồng ập đến bủa vây lấy người con gái nhỏ bé, đáng thương, tội nghiệp. Lời độc thoại “buồn trông” lặp đi lặp lại cùng với các hình ảnh ẩn dụ đặc sắc càng khắc sâu nỗi buồn da diết, dai dẳng, triền miên của Thúy Kiều.

    Với ngôn ngữ cô đọng, hàm súc kết hợp với các biện pháp nghệ thuật đặc biệt là nghệ thuật ẩn dụ, Nguyễn Du đã làm cho tác phẩm của mình giàu sức sống, hàm ẩn nhiều ý nghĩa để bạn đọc các thế hệ cùng khám phá. Nghệ thuật ẩn dụ trong tác phẩm Truyện Kiều đã đạt đến độ bậc thầy, truyền tải giá trị tư tưởng nhân văn của thi hào Tố Như.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hyip, Make Money Online, Crypto, Bitcoin,: Bài Tập Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Có Gợi Ý Và Hướng Dẫn Làm Bài
  • Các Biện Pháp Tu Từ Vựng Cac Bien Phap Tu Tu Tu Vung Ppt
  • Các Biện Pháp Tu Từ Vựng
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Giáo Án Đọc Văn: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Phương Pháp Phân Biệt Hai Biện Pháp Tu Từ: Ẩn Dụ Và Hoán Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoán Dụ Là Gì? Các Kiểu Hoán Dụ? Sự Khác Nhau Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Hoán Dụ Là Gì, Lấy Ví Dụ Ngữ Văn 6 (Có Giải Bài Tập)
  • Khái Niệm Và Ví Dụ Chi Tiết Nhất Về Phép Hoán Dụ
  • Vi Sinh Vật Môi Trường
  • Quá Trình Nitrat Hóa Là Gì?các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quá Trình Nitrat Hóa
  • Điểm giống nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ

    Theo khái niệm trong SGK, ẩn dụ là việc gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác dựa trên mối quan hệ tương đồng (giống nhau) giữa chúng. Ẩn dụ gồm bốn loại, cụ thể:

      Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: là miêu tả tính chất, đặc điểm của sự vật được nhận biết bằng giác quan này nhưng lại được miêu tả bằng từ ngữ sử dụng cho giác quan khác. Ví dụ: “Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay tôi hứng” . Câu thơ sử dụng biện pháp ẩn dụ dựa trên sự chuyển cảm giác từ thị giác sang xúc giác. Những giọt sương long lanh phải được cảm nhận bằng thị giác nhưng ở đây lại được chuyển sang xúc giác.

    Thầy Nguyễn Phi Hùng hướng dẫn học sinh cách phân biệt 2 biện pháp tu từ

    Trong khi đó, hoán dụ là việc gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác dựa trên mối quan hệ tương cận (gần gũi) giữa chúng. Hoán dụ cũng được chia thành 4 loại như sau:

      Lấy cái cụ thể chỉ cái trừu tượng: “Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” là ví dụ điền hình cho loại hoán dụ này. Hình ảnh “một cây” để chỉ sự đơn lẻ không đoàn kết “ba cây” để là chỉ số lượng nhiều, tinh thần tập thể. Câu ca dao đã sử dụng những hình ảnh cụ thể để nói về chân lí trừu tượng một mình ta làm sẽ không bằng chúng ta đoàn kết lại cùng nhau làm.

    Từ khái niệm của ẩn dụ và hoán dụ, có thể thấy ẩn dụ và hoán dụ đều là những biện pháp tu từ giúp sự diễn đạt thêm sinh động, tăng sự gợi cảm gợi hình, đồng thời bản chất của hai biện pháp tu từ này đều là cách gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác.

    Điểm khác nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ

    Mối liên hệ giữa hai sự vật chính là yếu tố quyết định để phân biệt biện pháp tu từ đó là ẩn dụ hay hoán dụ.. Nếu hai sự vật có mối quan hệ tương đồng, có đặc điểm giống nhau thì ta có biện pháp tu từ ẩn dụ. Mặt khác, nếu mối quan hệ giữa chúng là tương cận, có sự gần gũi nhau thì ta có biện pháp tu từ hoán dụ.

    Khi thêm từ so sánh “áo nâu như người nông dân” không hợp lý. Áo nâu là trang phục đặc trưng của người nông dân chứ họ không thể giống như chiếc áo, bởi một cái là sự vật còn kia là cả một con người. Đây không thể là mối quan hệ tương đồng. Tương tự, sử dụng phép thử với lần lượt các hình ảnh, ta có thể thấy cả hai câu thơ trên đều sử dụng biện pháp tu từ hoán dụ.

    Qua những chia sẻ bổ ích của thầy Nguyễn Phi Hùng, mong rằng phụ huynh có thể dễ dàng chỉ dạy cho con mình cũng như học sinh có thể thành thạo trong việc phân biệt, áp dụng hai biện pháp tu từ trên vào bài tập.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Ẩn Dụ Là Gì? Hoán Dụ Là Gì? Cách Phân Biệt Hai Biện Pháp Này
  • Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Hạn Chế Rác Thải Nhựa Ra Môi Trường
  • Xử Lý Rác Thải Nhựa Đúng Cách
  • Các Biện Pháp Hạn Chế Rác Thải Nhựa Trên Thế Giới
  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ, Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ, Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều Hay Nhất
  • Bảng Thống Kê Các Biện Pháp Tu Từ
  • Giúp Em Nha Các Mod Văn Bài Tập: Tìm Và Nêu Nét Độc Đáo Trong Việc Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Ở Các Ví Dụ Sau: A) Không Có Kính Rồi Xe Không Có Đèn,
  • Phân Tích Đoạn 1 Tây Tiến: Dàn Ý Chi Tiết + Bài Viết Mẫu
  • Phân Tích Đoạn 1 Bài Thơ Tây Tiến
  • Đề bài: Giáo sư Đặng Thanh Lê có viết: ” Nguyễn Du có biệt tài vận dụng các biện pháp tu từ của văn học dân tộc, đặc biệt là ẩn dụ”. Hãy phân tích một số câu, một số đoạn trong Truyện Kiều để làm sáng tỏ nhận xét trên.

    Truyện Kiều – mẫu mực và đỉnh cao về ngôn ngữ thi ca và xây dựng nhân vật

    Truyện Kiều” của thi hào dân tộc Nguyễn Du là kiệt tác trong nền văn học cổ Việt Nam. Tuy mượn đề tài, cốt truyện từ “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm tài nhân (Trung Quốc) nhưng áng thơ dài 3254 câu thơ lục bát này đậm đà bản sắc đân tộc, chứa chan một tình nhân ái bao la “rung động đất trời” (Tố Hữu).

    Về phương diện nghệ thuật, truyện thơ này là mẫu mực và đỉnh cao về ngôn ngữ thi ca và xây dựng nhân vật. Đọc ” Truyện Kiều“, ta cảm nhận một cách sâu sắc: ” Nguyễn Du có biệt tài vận dụng các biện pháp tu từ của văn học dân tộc, đặc biệt là ẩn dụ” mà giáo sư Đặng Thanh Lê đã nhận xét.

    Khi tả cảnh cũng như lúc tả người, tả tình, với cá tính sáng tạo của một thiên tài, Nguyễn Du đã vận dụng nhiều biện pháp tu từ của văn học dân tộc, đặc biệt tả ẩn dụ làm cho câu thơ, đoạn thơ đầy hình tượng và biểu cảm.

    Mùa xuân về tưng bừng trong ngày hội “Đạp Thanh” của tuổi trẻ. Ba chị em Kiều cũng “sắm sửa bộ hành chơi xuân”. Khắp các ngả đường, dòng người trẩy hội kéo dài vô tận:

    “Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.”

    Đằng biện pháp tu từ hoán dụ (ngựa xe, áo quần), so sánh (… như nước … như nêm) và đối (2 vế câu 8 đối nhau) nhà thơ đã tái hiện cảnh trẩy hội mùa xuân tấp nập, đông vui, rộn ràng của giai nhân, tài tử.

    Đây là hai câu tỏ tình của chàng Kim:

    “Tiện đây xin một hai điều, Đài sen soi đến dấu bèo cho chăng?”

    “Dấu bèo” (ẩn dụ) chỉ kẻ tầm thường, thấp hèn. Kim Trọng khiêm tốn, nhún mình. “Đài sen” (ẩn dụ) chỉ con người cao quý, được trân trọng. “Đài sen soi đến…” (nhân hóa): lời tỏ tình tế nhị. Chàng Kim hào hoa, đa tình biểu lộ một tâm tình say đắm người đẹp, bày tỏ một tấm lòng khao khát yêu đương. Cách tỏ tình vừa hoa mỹ vừa truyền cảm.

    Trước lầu Ngưng Bích” là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc trong ” Truyện Kiều“. Tác giả vận dụng tài tình các biên pháp tu từ như điệp ngữ, ẩn dụ, hoán dụ,… để viết nên những vần thơ tuyệt diệu. Điệp ngữ “Buồn trông” đứng ở đầu câu sáu, láy lại bốn lần liên tiếp, khơi gợi nỗi sầu thương nặng trĩu, triển miên, day dứt trong lòng Kiều. Cửa bể chiều hôm hoang vắng, xa lạ, mịt mờ với con thuyền và cánh buồm, ngọn nước mới sa và hoa trôi man mác, nội cỏ rầu rầu và chân mây, mặt đất,… gió cuốn và ầm ầm tiếng sóng – là những hình ảnh ẩn dụ và hoán dụ đặc tả một kiếp người lưu lạc đang lênh đênh, trôi dạt trên dòng đời vô định đầy bão tố, với tâm trạng sợ hãi, cô đơn và tuyệt vọng. Ngoại cảnh hòa hợp với tâm cảnh:

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu ? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

    Xưa nay, đoạn thơ tả tài sắc hai chị em Kiều vẫn được nhiều người tán thưởng. Bức chân dung “hai ả tố nga” vô cùng xinh đẹp, một vẻ đẹp thanh tân, tuyệt mĩ:

    “Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.”

    Thúy Kiều và Thúy Vân cốt cách, yểu điệu như “mai”, tinh thần trắng trong như “tuyết”; từ dáng vẻ, dung nhan đến tâm hồn đều kiều diễm “mười phân vẹn mười”. Hai hình ảnh ẩn dụ “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” là những nét vẽ tài hoa, có giá trị thẩm mỹ tinh tế.

    Bốn câu thơ tiếp theo tả sắc đẹp Thúy Vân. Gương mặt đầy đặn xinh tươi như vầng trăng rằm, lông mày thanh tú xinh xắn như “mày ngài”, miệng cười tươi như “hoa”, tiếng nói trong như “ngọc”, tóc mềm bóng đẹp hơn “mây”, da trắng mịn hơn “tuyết”. Trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết,… tiêu biểu cho vẻ đẹp của thiên nhiên được ví với gương mặt, nụ cười, giọng nói, mái tóc, màu da … của giai nhân. Cách miêu tả ấy tuy mang tính chất ước lệ, nhưng ngòi bút “thần” của Tố Như đã viết nên những cảu thơ có hình ảnh ẩn dụ hấp dẫn lạ thường:

    “Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.”

    Nếu Vân là một giai nhân thì Kiều là một giai nhân tuyệt thế, mặn mà, sắc sảo tài sắc vẹn toàn. Nguyễn Du đã sử dụng biện pháp ẩn dụ – nhân hóa gợi tả vẻ đẹp mộng mơ của Thúy Kiều. Mắt nàng trong như nước mùa thu, lông mày xinh xắn như dáng núi mùa xuân… Sắc đẹp ấy làm cho hoa phải “ghen”, liễu phải “hờn”:

    “Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

    Những câu thơ, những hình ảnh ẩn dụ – nhân hóa ấy là bông hoa nghệ thuật tươi thắm mãi với thời gian tỏa hương vào hồn người. Nó còn thể hiện tấm lòng ưu ái của nhà thơ đối với cái đẹp trong nhân gian.

    Nguyễn Du không những đã tiếp thu thi liệu, điển tích của văn học Trung Hoa mà còn học tập dân ca, ca dao, học lời ăn tiếng nói của người trồng dâu, trồng gai nơi đồng nội để sáng tạo nên vần thơ đặc sắc.

    “Hạt mưa” là hình ảnh so sánh ẩn dụ trong ca dao, dân ca nói về thân phận, số phận của người con gái ngày xưa: “Thân em như hạt mưa sa, Hạt rơi đài các, hạt ra ruộng cày'”… Trước cảnh gia biến, nàng Kiều nghĩ và hành động:

    “Hạt mưa sá nghĩ phận hèn, Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân. “

    “Hạt mưa, tấc cỏ, ba xuân” là những hình ảnh ẩn dụ mang ý nghĩa tượng trung, nói ít mà gợi nhiều, hàm súc, hình tượng và truyền cảm. Kiều là một thiếu nữ giàu đức hi sinh, hiếu thảo, quyết bán mình chuộc cha khỏi vòng tù tội.

    Nghệ thuật của “Truyện Kiều” là đa dạng, phong phú, đặc sắc độc đáo. Những câu Kiều vừa trích dẫn ở trên đã khẳng định nhận xét của giáo sư Đặng Thanh Lê là đúng đắn.

    Ước lệ và tượng trưng là đặc điểm của thi pháp cổ. Lúc tả cảnh, tả người, tả tình… Nguyễn Du cũng sử dụng bút pháp ước lệ, tượng trưng nhưng với cá tính sáng tạo của một nghệ sĩ thiên tài, câu thơ Kiều đầy nhạc điệu, hình ảnh “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”, rất sống động và tinh tế. Đặc biệt là những câu Kiều mang hình ảnh ẩn dụ đã in sâu vào tâm trí mỗi chúng ta: “Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày…” (Tố Hữu).

    Truyện Kiều” đã làm rạng rỡ nền văn học cổ Việt Nam. Tên tuổi thi hào dân tộc Nguyễn Du sống mãi trong tâm hồn của nhân dân ta với bao tình cảm kính phục, tự hào.

    Phân tích các biện pháp tu từ ẩn dụ trong Truyện Kiều

    Nguyễn Du là người nghệ sĩ bậc thầy, ông không chỉ tài năng trong cách vận dụng thể thơ lục bát thuần dân tộc để sáng tác nên Truyện Kiều bất hủ. Mà để tạo nên thành công cho tác phẩm, ta không thể không nhắc đến tài năng vận dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật trong tác phẩm của mình, đặc biệt là nghệ thuật ẩn dụ. Trong khuôn khổ của một bài khảo cứu ngắn, chúng tôi chỉ khảo sát nghệ thuật ẩn dụ trên hai phương diện là: nghệ thuật ẩn dụ trong tả người và nghệ thuật ẩn dụ trong tả cảnh.

    Trước hết về nghệ thuật ẩn dụ trong tả người của Nguyễn Du cũng đã đạt đến độ điêu luyện, xuất thần. Bằng những phác họa hết sức ít ỏi nhưng họ đã làm bật lên vẻ đẹp chân dung tinh thần của hai nàng Kiều: “Mai cốt cách tuyết tinh thần/ Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Và để từ đó lần lượt hiện lên chân dung hai nàng:

    Vân xem trang trọng khác vời Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

    Tác giả đã vẽ nên bức chân dung Thuý Vân bằng nghệ thuật so sánh ẩn dụ và ngôn ngữ thơ chọn lọc, chau chuốt: khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, tươi sáng như mặt trăng; lông mày sắc nét như con ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo; mái tóc đen óng ả hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn. Còn với nàng Thúy Kiều, không đi vào chi tiết, mà chỉ vào tập chung vào đôi mắt đầy xúc cảm của nàng:

    “Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”.

    Đây là nghệ thuật điểm nhãn đặc trưng của văn học trung đại. Tác giả không đi vào miêu tả kĩ đối tượng, giống như Thúy Vân, chi tiết từng bộ phận trên mặt, mà chỉ lấy một vài điểm ấn tượng nhất, có hồn nhất để làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật. Với nàng Kiều chính là đôi mắt và đôi mày. Mắt nàng nhưng làn nước mùa thu trong vắt gợi đôi mắt long lanh, thông minh mà đa tình, đa cảm, ẩn dưới nét lông mày như nét vẽ của Kiều. Còn đôi lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân, tươi trẻ đầy sức sống. Hệ thống hình ảnh ẩn dụ được sử dụng để miêu tả vẻ đẹp của Kiều: “thu thủy”, “xuân sơn”, “hoa”, “liễu”. Nếu như thiên nhiên được dùng để miêu tả Vân là một thế giới thiên nhiên viên mãn, tròn đầy, ổn định thì Thúy Kiều lại gắn với một thiên nhiên sống động, biến hóa. Hơn nữa, trước vẻ đẹp của Thúy Kiều, thiên nhiên phải “hờn”, “ghen”, do vậy cũng báo trước một số phận đầy sóng gió. Như vậy kết hợp với bút pháp gợi tả cùng với nghệ thuật ẩn dụ tài tình, Nguyễn Du đã tạc lên trước mắt chúng ta hai mĩ nhân tuyệt đẹp, đặc biệt là vẻ đẹp của nàng Kiều. Thúy Kiều đẹp vượt ngoài quy chuẩn của thiên nhiên, đó chính là nhan sắc của tuyệt thế giai nhân, chim sa cá lặn, nhưng đồng thời sau bức chân dung đó lại dự báo một số phận đầy sóng gió, truân chuyên.

    Không chỉ thành thục trong việc vận dụng nghệ thuật ẩn dụ trong tả người, mà Nguyễn Du còn tỏ ra hết sức tài năng, khéo léo khi vận dụng nghệ thuật ẩn dụ trong miêu tả khung cảnh thiên nhiên. Đó là khung cảnh lễ hội mùa xuân náo nức, vui tưới, nam thanh nữ tú đua nhau đi hội:

    Gần xa nô nức yên anh Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

    Nguyễn Du đã mượn hình ảnh chim yến chim oanh để miêu tả cảnh nam thanh nữ tú, từng đoàn người nô nức đi chơi xuân như chim én, chim oanh bay ríu rít. Và ấn tượng nhất là nghệ thuật ẩn dụ trong tám câu thơ cuối của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, đến đây nghệ thuật ẩn dụ đã đạt đến độ tài tình.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu ? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh. Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    Điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu tạo nên âm điệu trầm buồn, mở ra bốn cảnh, mỗi cảnh lại là một tâm trạng khác nhau của Kiều. Nỗi buồn đó ngày càng mãnh liệt, chồng chất triền miên qua nghệ thuật tăng cấp. Kết hợp với điệp từ là những hình ảnh so sánh ẩn dụ đặc sắc, giàu giá trị biểu đạt. Con thuyền lẻ loi đơn độc kia chẳng phải đó cũng chính là ẩn dụ cho cuộc đời lênh đênh, chìm nổi của nàng Kiều đó sao. Không chỉ vậy hình ảnh con thuyền còn biểu tượng cho khát khao đoàn tụ, sum họp gia đình của nàng. Hình ảnh ẩn dụ “hoa trôi man mác” là biểu tượng cho thân phận chìm nổi, bé bỏng, mong manh của Kiều. Kiều cũng như cánh hoa kia, lênh đênh theo dòng đời, không biết rồi số phận của mình sẽ ra sao, không biết sẽ trôi dạt về đâu. Câu hỏi tu từ “biết là về đâu” vang lên như một tiếng than ai oán càng nhấn mạnh sự vô định không có quyền tự quyết số phận cuộc đời mình. Từ đó càng làm tăng thêm sự buồn tủi về thân phận bèo bọt, phụ thuộc. Và khung cảnh thiên nhiên càng trở nên dữ dội hơn nữa, màu xanh nhạt nhòa, héo úa, những cơn sóng điện cuồng ập đến bủa vây lấy người con gái nhỏ bé, đáng thương, tội nghiệp. Lời độc thoại “buồn trông” lặp đi lặp lại cùng với các hình ảnh ẩn dụ đặc sắc càng khắc sâu nỗi buồn da diết, dai dẳng, triền miên của Thúy Kiều.

    Với ngôn ngữ cô đọng, hàm súc kết hợp với các biện pháp nghệ thuật đặc biệt là nghệ thuật ẩn dụ, Nguyễn Du đã làm cho tác phẩm của mình giàu sức sống, hàm ẩn nhiều ý nghĩa để bạn đọc các thế hệ cùng khám phá. Nghệ thuật ẩn dụ trong tác phẩm Truyện Kiều đã đạt đến độ bậc thầy, truyền tải giá trị tư tưởng nhân văn của thi hào Tố Như.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong 8 Câu Thơ Cuối Trong Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích” Câu Hỏi 290654
  • Cảm Nhận Về Khổ 5 6 Bài Sóng
  • Cảm Nhận Khổ 5, 6 Trong Bài Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Một Số Phương Tiện Và Biện Pháp Tu Từ Trong Ca Dao Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Tiện Và Biện Pháp Tu Từ Biểu Thị Khoa Trương Trong Tác Phẩm Của Mạc Ngôn
  • Phân Tích Đoạn Thơ Sau Trong Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Của Huy Cận: Mặt Trời Xuống Biển Như Hòn Lửa,… Dàn Đan Thế Trận Lưới Vây Giăng.
  • ✅ Tôi Đi Học
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Sử Dụng Đất Canh Tác Ở Phường Cẩm Thượng, Thành Phố Hải Dương
  • Luận Văn Chuyên Đề Giải Pháp Bảo Vệ Và Sử Dụng Hợp Lý Nguồn Tài Nguyên Đất
  • MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    1.1. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao chiếm một vị

    trí quan trọng. Ca dao là tiếng nói phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm của

    quần chúng nhân dân, phản ánh lịch sử xã hội, và do vậy, nó là một kho tài

    liệu phong phú về phong tục, tập quán trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và

    tinh thần của nhân dân lao động. Nội dung trữ tình của ca dao hết sức phong

    phú. Ta bắt gặp trong ca dao những “tiếng tơ đàn” ngân lên những giai điệu

    về tình yêu đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi, tiếng hát than thân,

    tiếng cười trào lộng… Xét về hình thức, ca dao là kho kinh nghiệm quí báu

    trong lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ. Không phải ngẫu nhiên, nhiều nhà thơ tài

    năng ở các thời đại khác nhau đã tìm thấy ở ca dao những bài học sáng tạo

    đáng giá. Ta mới hiểu vì sao, đối với ngành Ngữ văn lâu nay, việc học tập,

    tìm hiểu, nghiên cứu ca dao vẫn chưa hề mất tính thời sự. Từ những góc nhìn

    khác nhau, các nhà nghiên cứu không ngừng cho ra đời các công trình có giá

    trị về mảng đề tài này.Tuy thế, ca dao Việt Nam, nhất là bộ phận ca dao thuộc

    các vùng miền vẫn ẩn chứa những vấn đề thú vị, đòi hỏi được tìm hiểu kĩ

    lưỡng, sâu sắc thêm.

    1.2. Trên tấm “bản đồ văn hóa dân gian Việt Nam” miền đất Nam Bộ

    có nhiều nét đặc thù. Bộ phận ca dao của vùng đất này là một minh chứng

    sinh động. Với những gì đã sưu tập được, ta có thể thấy tính đa dạng, phong

    phú và đặc sắc của ca dao Nam Bộ ở cả phương diện nội dung lẫn hình thức

    biểu hiện.Trong thực tế, việc nghiên cứu ca dao Nam Bộ vẫn chưa được tiến

    hành đầy đủ, đúng với những gì lẽ ra nó được tìm hiểu. Chọn vấn đề Một số

    phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao Nam Bộ làm đề tài luận văn

    thạc sĩ, chúng tôi muốn đi sâu vào một trong những biểu hiện đa dạng và đặc

    sắc nhất của hình thức ca dao vùng này, nhằm khám phá sâu sắc thêm các giá

    trị tiềm ẩn, cắt nghĩa sức sống lâu bền của nó, đồng thời hiểu được những nét

    2

    riêng về văn hoá của một vùng đất. Đặt vấn đề này trong bối cảnh nghiên cứu

    của ngành Ngữ văn hiện nay, chúng tôi cho rằng đây là sự lựa chọn có ý

    nghĩa.

    1.3. Hiện nay, trong chương trình Ngữ văn THPT và nhất là bậc đại học, ca

    dao được đưa vào giảng dạy và học tập với số lượng tác phẩm đáng kể. Các

    nhà soạn sách giáo khoa đã có quan điểm đúng khi chú ý đến ca dao của người

    Kinh và của các tộc người thiểu số, của vùng Bắc cũng như vùng Trung và Nam

    Bộ. Việc có mặt các tác phẩm ca dao thuộc nhiều vùng miền khác nhau như vậy

    mới phản ánh được sự đa sắc của nó. Trước tình hình ấy, sự lựa chọn đề tài nghiên

    cứu của chúng tôi có thêm ý nghĩa thực tiễn. Nếu công trình thực sự có chất

    lượng, giải quyết tốt nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, chắc chắn sẽ góp phần thiết thực

    nhất định cho việc tìm hiểu, học tập ca dao ở các bậc học trong nhà trường.

    2. Lịch sử vấn đề

    Việc tìm hiểu tu từ nghệ thuật (nghiên cứu ở phương tiện tu từ ngữ nghĩa)

    trong ca dao đã và đang được nhiều người quan tâm từ hai góc độ: lý luận và

    nghiên cứu ứng dụng. Tất nhiên, trong những công trình, bài viết mang tính lý

    luận vẫn có những ví dụ minh họa như là một phần ứng dụng. Ngược lại, trong

    những công trình ứng dụng, không thể thiếu những luận điểm lý thuyết.

    Cho đến nay, đã có không ít công trình với những tính chất và qui mô

    khác nhau về ca dao Nam Bộ. Ca dao dân ca Nam Bộ (Bùi Mạnh Nhị chủ biên,

    Nxb chúng tôi 1984) là một cuốn sưu tập, nhưng cũng đã phác họa được đôi nét

    về đặc điểm nghệ thuật của bộ phận ca dao này. Cuốn Ca dao Đồng Tháp Mười

    (Đỗ Văn Tân, Sở VH – TT Đồng Tháp, 1984) đã tập hợp trên 900 câu ca dao một thành công đáng kể trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá

    dân tộc ở vùng Đồng Tháp Mười. Giang Minh Đoán có Kiên Giang qua ca dao

    (Nxb chúng tôi 1997) sưu tầm 272 câu ca dao về thiên nhiên, con người ở vùng

    đất Kiên Giang, qua đó, tác giả nêu lên một số nét trong phong tục tập quán của

    vùng sông nước, khu sinh thái U Minh Thượng. Tập thể tác giả của Khoa Ngữ

    3

    4

    miệt vườn, ruộng rẫy, các hiện tượng tự nhiên, vật thể vũ trụ… Đặc biệt, bài viết

    đề cập rất cụ thể về thế giới nghệ thuật trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ: thiên

    nhiên và các hiện tượng so sánh, ẩn dụ, biểu tượng… Tác giả xác định: “thiên

    nhiên thay đổi trong tiến trình khai phá thì văn hóa dân gian cũng in dấu rõ nét”.

    Đề tài đã góp phần tìm hiểu những đặc điểm riêng của văn hóa vùng đất Nam Bộ.

    Bùi Thị Tâm – tác giả luận văn thạc sĩ với đề tài Những đặc điểm ngôn ngữ trong

    ca dao đồng bằng sông Cửu Long (1998) – đã nghiên cứu sự phong phú và đa

    dạng của lớp từ ngữ mang sắc thái địa phương, đặc điểm câu và câu thơ trong

    ngôn ngữ ca dao đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, luận văn cũng đề cập một

    số công thức mang ý nghĩa biểu trưng như so sánh, ẩn dụ mặc dù công công trình

    không đi sâu nghiên cứu các phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao . Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã phân

    loại, miêu tả các biểu tượng nghệ thuật thông qua các hình thức so sánh nổi, ẩn dụ

    tu từ trong ca dao, đồng thời trình bày cấu tạo và vai trò của chúng đối với thi pháp

    ca dao người Việt trong luận án tiến sĩ Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền

    thống người Việt (2002) đề cập đến những hình ảnh quen thuộc

    với người dân vùng sông nước nơi đây là chiếc ghe, con đò, dòng sông, chiếc cầu…

    Trong luận án tiến sĩ Biểu trưng trong ca dao Nam Bộ (2004), Trần Văn Nam đã

    nghiên cứu về biểu trưng trong ca dao xét trên bình diện thi pháp học, từ đó, tác giả

    đã nêu bật vai trò của các biểu trưng trong việc thể hiện đặc điểm văn hóa của vùng

    đất và con người Nam Bộ .

    5

    6

    4. Mục đích nghiên cứu

    – Nhận diện một cách đầy đủ các phương tiện và biện pháp tu từ được sử

    dụng ở ca dao Nam Bộ, phân tích giá trị biểu đạt; so sánh, đối chiếu để làm nổi

    bật những nét riêng, đặc sắc của ca dao Nam Bộ so với ca dao các vùng miền

    khác, từ đó, thấy được những nét riêng trong bản sắc văn hóa của vùng đất này.

    – Vận dụng thao tác phân tích ngôn ngữ học vào việc tiếp cận tác phẩm

    ca dao, rút ra những nguyên tắc cần thiết cho việc đọc hiểu ca dao đang đặt ra

    trong nhà trường hiện nay.

    5. Phương pháp nghiên cứu

    Triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng và phối hợp các phương pháp

    chính sau đây:

    – Phương pháp thống kê,

    – Phương pháp hệ thống,

    – Phương pháp phân tích ngôn ngữ học,

    – Phương pháp so sánh,

    – Phương pháp nghiên cứu liên ngành.

    Cấu trúc luận văn

    Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai thành 3 chương:

    Chương 1: Ca dao và vấn đề nghiên cứu hình thức nghệ thuật của ca dao.

    Chương2: Một số phương tiện tu từ trong ca dao Nam Bộ.

    Chương 3: Một số biện pháp tu từ trong ca dao Nam Bộ.

    Sau cùng là Tài liệu tham khảo.

    7

    Chương 1

    CA DAO

    VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT

    CỦA CA DAO

    1.1. Ca dao và các hướng nghiên cứu ca dao ở Việt Nam

    1.1.1. Khái quát về ca dao Việt Nam

    Trong ngành nghiên cứu Ngữ văn nước ta, ca dao là đối tượng được

    nghiên cứu khá sớm và đạt nhiều thành tựu. Riêng vấn đề thuật ngữ, khái

    niệm ca dao đã được lí giải ở nhiều công trình.

    Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm cho rằng: “Ca dao (ca:

    hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân

    gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân” .

    Các tác giả công trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 viết: “Ca dao là

    những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân

    tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm” .

    Các nhà nghiên cứu văn học dân gian Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên cho

    rằng: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt. Theo cách hiểu thông thường thì ca

    dao là lời của các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy, hoặc ngược

    lại là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca” .

    Phong cách học có vai trò to lớn trong việc nghiên cứu, xác định cái đẹp

    của ngôn ngữ; nghiên cứu tác dụng trở lại của hình thức ngôn ngữ đối với nội

    15

    dung diễn đạt tức là cũng nghiên cứu sự lựa chọn, sử dụng các phương tiện

    ngôn ngữ phù hợp nhất với nội dung tư tưởng, tình cảm trong những điều kiện

    hoàn cảnh giao tiếp nhất định.

    Muốn cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ, cần khảo sát, phân loại và

    miêu tả có hệ thống phương tiện tu từ và biện pháp tu từ được sử dụng trong văn

    bản. Qua đó, chúng ta sẽ thấy được giá trị nghệ thuật của các phương tiện tu từ và

    biện pháp tu từ ấy trong việc biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tác phẩm văn học.

    Do đó, phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý

    nghĩa sữ vật – lôgic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ; còn

    biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện

    ngôn ngữ, không kể trung hòa hay tu từ (còn được gọi là diễn cảm) trong một ngữ

    cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ.

    1.3.2. Vấn đề tu từ nghệ thuật trong ca dao

    Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ là khái niệm cơ sở của phong cách

    học. Mọi hoạt động ngôn ngữ đều có mục đích, phương tiện (công cụ) biện pháp

    (cách thức) nhất định. Muốn cảm nhận, chiếm lĩnh giá trị đích thực của tác phẩm

    văn học cần phải nắm vững và đánh giá được chức năng và vai trò của phương

    tiện tu từ và biện pháp tu từ – những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị thẩm mĩ.

    Phân loại, phân tích đánh giá được các phép tu từ là nắm chắc chìa khóa để mở

    cánh cửa đi vào cảm thụ giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn chương.

    Phương tiện và biện pháp tu từ là những yếu tố quan trọng tạo nên vẻ

    đẹp của tác phẩm văn học dân gian, nhất là thơ ca trữ tình. Do yêu cầu biểu

    đạt của nó, ca dao là thể loại mà ở đó, các phương tiện và biện pháp tu từ

    được sử dụng một cách rộng rãi nhất.

    Chỉ cần đọc qua ca dao của bất cứ vùng đất nào, có thể dễ dàng nhận thấy

    tác giả dân gian thật phóng túng về phương diện tu từ. Về tu từ ngữ âm, cách gieo

    vần, tạo nhịp, phối ứng thanh điệu, sử dụng từ láy, phép điệp âm… là những biện

    pháp được dùng với tần suất cao. Về tu từ từ vựng, có thể nhận thấy sự khác biệt

    16

    của các lớp từ mang dấu ấn phong cách như từ địa phương, từ địa danh, từ nghề

    nghiệp, từ thi ca, từ sinh hoạt… trong ca dao thuộc mọi chủ để. Về tu từ ngữ nghĩa,

    so sánh, nhân hóa, thậm xưng, chơi chữ, nói giảm, nói tránh… là những biện pháp

    rất được ưa dùng trong ca dao. Về tu từ cú pháp, phép song song, phép lặp, câu

    hỏi tu từ… cũng được sử dụng nhiều. Có thể khẳng định, ca dao là mảnh đất màu

    mỡ cho việc nghiên cứu các biện pháp và phương tiện tu từ trong văn học.

    Từ trước đến nay, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, thi pháp học đã ít

    nhiều đề cập đến vấn đề tu từ trong ca dao trữ tình Việt Nam như Vũ Ngọc Phan,

    Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Hoàng Tiến Tựu, Triều Nguyên… Các tác

    giả đã đưa ra những kiến giải, kết luận có giá trị về đặc điểm tu từ, màu sắc tu từ

    trong các tác phẩm văn chương nói chung, trong ca dao nói riêng dưới ánh sáng

    của phong cách học, thi pháp học. Các tác giả đã đánh giá sắc thái tu từ qua việc

    lựa chọn, sử dụng các phương tiện, biện pháp tu từ qua các mặt từ vựng, ngữ

    nghĩa, ngữ pháp và ngữ âm, từ đó, đưa ra những kết luận khoa học có giá trị.

    1.4. Ca dao Nam Bộ và việc sử dụng các hình thức nghệ thuật trong

    ca dao Nam Bộ

    1.4.1. Vài nét về vùng đất và con người Nam Bộ

    1.4.1.1. Vài nét vùng đất Nam Bộ

    Nam Bộ là một vùng đất cuối cùng phía Nam của Tổ quốc – miền đất vừa rất

    cổ lại vừa rất mới. Từ lâu đã có những nền văn hóa độc đáo nằm rải trên một địa

    bàn rộng lớn ở cả vùng trên, vùng dưới lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long.

    Trước thế kỷ XVI, miền đất này chìm trong hoang sơ của rừng rậm, sình lầy… Từ

    đầu thế kỉ XVII, cùng với số dân bản địa ít ỏi và thưa thớt (chủ yếu là người Chăm

    và người Khơ-me), những người Việt lớp trước và lớp sau, bằng nhiều con đường

    vượt bể, xuyên rừng, băng núi, với mọi nỗ lực phi thường, đã đến miền đất này lật

    thêm những trang sử vàng chói lọi cho một thời kì khai phá mới.

    Từ đó tới nay, hơn 300 năm, trên vùng đất mới này của Tổ quốc đã trải qua

    những biến động lớn. Từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, cuộc khẩn hoang vĩ đại nhất

    17

    của dân tộc ta về chiều rộng cũng như chiều sâu. Trận thủy chiến vang lừng của

    nghĩa quân Tây Sơn đã tiêu diệt năm vạn quân Xiêm xâm lược. Nơi đây, chứng

    kiến sự nổi dậy và ngã gục của triều đình phong kiến nhà Nguyễn; chứng kiến bước

    đường xâm lược và sự thất bại nhục nhã của thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Chính

    nơi này, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được giữ gìn và phát huy rực rỡ,

    phong phú. Thực dân Pháp xâm lược nước ta, thực hiện chính sách “chia để trị”,

    chia nước Việt Nam thành 3 kì: Bắc kì, Trung kì, Nam kì. Trái với ý đồ của kẻ thù,

    nhân dân ta với tư tưởng và tình cảm hướng về một cội nguồn, một chỉnh thể thống

    nhất giữa các miền của Tổ quốc. “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông

    có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi” (Hồ Chí Minh).

    Xét về mặt địa lí tự nhiên, vùng đất Nam Bộ bao gồm 17 tỉnh từ Bình Phước

    trở xuống phía nam và hai thành phố là thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần

    Thơ. Miền đất Nam Bộ đã hình thành hai khu vực lớn: Đông Nam Bộ và Tây Nam

    Bộ. Nối liền hai khu vực đó là thành phố Hồ Chí Minh. Đông Nam Bộ rộng khoảng

    26.000 km2 , bao gồm các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà

    Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh. Vùng đất này cao, phù sa cổ đệm giữa cao

    nguyên với châu thổ Cửu Long; có những ngọn núi thưa thớt xen giữa các triền đồi

    đất đỏ hoặc đất xám trùng điệp, lượn sóng nhấp nhô, rừng bạt ngàn, ít sông rạch.

    Những cư dân người Việt đã cư ngụ đầu tiên ở mảnh đất này trước khi lấn xuống

    đồng bằng sông Cửu Long. Còn Tây Nam Bộ với diện tích hơn 40.000 km2, bao gồm

    các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Hậu

    Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ.

    Nhìn chung, vùng Tây Nam Bộ được khai thác muộn hơn Đông Nam Bộ. Nếu như

    trước đây, cư dân bản địa không thể khai phá rộng rãi và cư ngụ lâu dài ở châu thổ

    sông Cửu Long, buộc phải thu mình trên những giồng đất, gò đồi, thì sau này, những

    cư dân Việt đã làm được điều đó. Đồng bằng Tây Nam Bộ hay còn gọi là đồng bằng

    sông Cửu Long. Là sản phẩm bồi tụ của sông Cửu Long – một trong mười con sông

    lớn nhất thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long tương đối thấp, bằng phẳng, khí hậu

    18

    mát mẻ, điều hòa quanh năm, là châu thổ phì nhiêu, trung tâm công nghiệp lớn nhất

    của nước ta. Trên đồng bằng này có nhiều dòng chảy tự nhiên, tạo nên một mạng lưới

    sông rạch chi chít. Theo thời gian con người đã đan thêm vào hệ thống đường thủy tự

    nhiên ấy những hệ thống kênh đào dày đặc, phục vụ cho các mục đích kinh tế, văn

    hóa, quốc phòng. Hiếm có nơi nào mà đời sống con người lại gắn bó mật thiết với

    sông nước như ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, ở vùng đồng bằng sông

    Cửu Long còn có những cánh đồng mênh mông, màu mỡ – vựa lúa của nước ta và

    khu vực Đông Nam Á. Chính điều kiện tự nhiên và con người nơi đây đã góp phần

    quan trọng trong việc hình thành và phát triển nền văn học dân gian đồng bằng sông

    Cửu Long, trong đó có ca dao Nam Bộ.

    Theo lịch sử, trước kia nơi đây vốn là lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân

    Lạp. Thời chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn, vùng đất này là xứ Gia Định, mới được

    khai khẩn từ thế kỷ 17. Năm 1698, xứ Gia Định được chia thành 3 dinh: PhiênTrấn,

    Trấn Biên và Long Hồ. Vua Gia Long nhà Nguyễn gọi vùng này là Gia Định

    Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (tức là

    Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường và Hà Tiên. Năm 1834, vua Minh Mạng gọi

    là Nam Kỳ. Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định, mở đầu cuộc xâm lược

    đất Việt Nam. Ngày 13 tháng 4 năm 1862, triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đông

    Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) nhượng cho Pháp. Năm 1867, Pháp

    đơn phương tuyên bố toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp. Từ đó, Nam Kỳ

    được hưởng quy chế thuộc địa, với chính quyền thực dân, đứng đầu là một thống

    đốc người Pháp. Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên

    bang Đông Dương. Tháng 3 năm 1945, Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ

    thành Nam Bộ. Năm 1945, thời Đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim

    tuyên bố sáp nhập Nam Kỳ lại thành một bộ phận của nước Việt Nam độc lập. Sau

    khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ đó ra mắt

    ngày 25 tháng 8 năm 1945 do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Sau cuộc đảo chính

    Pháp tại Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật đã tuyên bố trao lại

    19

    quyền độc lập cho Việt Nam do vua Bảo Đại cai trị. Cùng với việc thành lập chính

    phủ, vua Bảo Đại cũng cho phân vùng lãnh thổ Việt Nam thành 3 khu vực hành

    chính, trong đó Nam Bộ là khu vực tương ứng với Nam Kì cũ. Thực dân Pháp nổ

    súng ở Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945 rồi dần dần đánh rộng ra chiếm lại Nam

    Bộ. Chính phủ Nam Kỳ quốc được thành lập theo sự chỉ đạo của Pháp hòng tách

    Nam Bộ ra khỏi Việt Nam với tên Nam Kỳ Quốc. Không đánh bại được Việt Minh,

    Pháp phải dựng “giải pháp Bảo Đại”, công nhận nền độc lập và sự thống nhất của

    Việt Nam. Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ

    phiếu thông qua việc trả Nam Bộ cho Việt Nam. Nam Bộ trở thành lãnh thổ nằm

    trong Quốc gia Việt Nam.

    Trải qua hơn 300 năm với nhiều tên gọi khác nhau, cuối cùng tên gọi Nam

    Bộ dùng để chỉ mảnh đất phía Nam của Tổ quốc. Nam Bộ là tên gọi được sử dụng

    lâu dài nhất cho đến ngày nay.

    Văn hóa Nam Bộ được tính mốc là năm 1623 khi vua Chân Lạp cho chúa

    Nguyễn di dân Việt đến định cư ở Prey Kụr (thành phố Hồ Chí Minh hiện nay).

    Vùng đất Nam Bộ bấy giờ chỉ là một vùng hoang dại với hệ thống đất đai trũng,

    úng, sình lầy và sông rạch chằng chịt. Bắt đầu từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp,

    Cửa Tiểu, Cửa Đại trở vào, dân cư chủ yếu là người Chăm và Khơ- me. Cuối thế

    kỷ 17, chúa Nguyễn tiếp nhận một đoàn người Hoa đến quy thuận và cho họ đến

    khai phá và định cư ở Biên Hoà – Đồng Nai. Tiếp đó mộ dân từ Quảng Bình vào

    và chia đặt doanh, huyện, lập hộ tịch. Như vậy, phải gần một thế kỷ sau Nam Bộ

    mới bước đầu được định hình một vùng văn hóa. Một nền văn hóa vùng miền

    hình thành qua thời gian một thế kỷ không phải là dài và khi người Việt đến vùng

    đất mới mang theo hành trang với vốn văn hóa đúc kết hàng ngàn năm của dân tộc

    Việt đã góp phần tạo nên nền tảng của hệ giá trị văn hóa Nam Bộ. Những giá trị

    trải qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội trong lịch sử, dần

    tạo nên những giá trị của nền văn hóa Nam Bộ như hiện nay.

    20

    Đất Nam Bộ cũng là một vựa lúa chính, đồng thời là vựa trái cây nổi tiếng

    với đủ các chủng loại hoa quả miền nhiệt đới. Từ chôm chôm, vú sữa, măng cụt,

    sầu riêng cho đến mít, chuối, xoài, ổi, nhãn, cam, quít… Mỗi địa phương đều có bảo

    tồn loại sản vật riêng, đa dạng và phong phú. Với ưu thế sông ngòi, kênh rạch chằng

    chịt, bưng biền ngập nước mênh mông là nơi sinh sống lý tưởng của rắn rết, cá sấu,

    rùa , ba ba, tôm, cá, cua, còng… và cả các loại chim chóc nữa. Nam Bộ tập trung

    nhiều món ăn ngon, nhiều sản vật lạ từ lâu đó đi vào kho tàng văn học dân gian.

    Nam Bộ là vùng đất vừa có bề dày lịch sử văn hóa lại vừa giàu sức trẻ do

    các tộc người ở đây đang dày công gây dựng nên. Từ vị thế địa lý, văn hóa, Nam

    Bộ đang trở thành trung tâm của quá trình tiếp biến văn hóa. Điều đó phần nào tạo

    cho vùng đất này những nét đặc thù, diện mạo mới đối với các vùng văn hóa khác

    ở Việt Nam. Hệ giá trị văn hóa Nam Bộ là truyền thống văn hóa dân tộc và những

    giá trị cốt lõi hình thành phong cách văn hóa riêng của vùng. Tính mở của một

    vùng đất mới đã làm nên tính năng động, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm của người

    dân Nam Bộ. Tính mở là cơ sở cho việc tiếp nhận và tiếp biến thành công nhiều

    giá trị văn hóa cao và tiến tới một nền văn minh hiện đại.

    Như vậy, vùng đất Nam Bộ hiện lên với vẻ hoang sơ nhưng rất cởi mở thuần

    hậu và chất phác,… Những nét độc đáo về địa hình sông nước và văn hóa của vùng

    “đất trẻ” đã tạo nên một Nam Bộ với sức sống riêng: mạnh mẽ, độc đáo và hấp dẫn.

    1.4.1.2. Vài nét về con người Nam Bộ

    Khi nghiên cứu ca dao Nam Bộ, chúng ta cần tìm hiểu về con người và

    tính cách đặc trưng của con người nơi đây. Bởi vì, ca dao Nam Bộ đã nêu bật

    được những nét tính cách, văn hóa, ngôn ngữ một cách rõ nét nhất. Khi

    nghiên cứu về tính cách người Việt ở Nam Bộ, các nhà nghiên cứu đều thống

    nhất cho rằng người Nam Bộ rất năng động sáng tạo, hào hiệp trong cuộc

    sống, hiếu khách, bình đẳng trong giao tiếp, ít bảo thủ, yêu nước nồng nàn,

    trọng nhân nghĩa, bộc trực, thẳng thắn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 1:biện Pháp Rèn Luyện Và Bảo Vệ Vận Động Câu 2:các Thành Phần Của Máu, Chức Năng Của Huyết Tương Và Hồng Cầu Câu 3: Nêu Môi Trường Trong Cơ Thể Câu 4:phân
  • Ôn Thi Tn Thpt Quốc Gia 2022 Môn Địa Lý 12. Trắc Nghiệm
  • Bệnh Sán Lá Gan Trên Gia Súc Và Cách Phòng Trị
  • Bệnh Sán Lá Gan Ở Trâu Bò
  • Giáo Án Sinh Học 7
  • Nghị Luân Về Việc Ca Dao Thường Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Ẩn Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Đợt Nghỉ Dịch Bd So Sanh 2 Pptx
  • Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong Tình Ca Ban Mai Của Chế Lan Viên
  • Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chế Lan Viên
  • Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chếlanviên
  • Ngữ Văn 6 Bài 19 Hướng Dẫn Và Luyện Tập So Sánh
  • Đề: Ca dao thường dùng biện pháp so sánh, ẩn dụ. Hãy tìm hiểu từ 3 đến 5 bài ca dao dùng so sánh, ẩn dụ để thấy tác dụng của nó.

    Nếu như chất liệu của âm nhạc là âm thanh, giai điệu; của hội họa là đường nét, màu sắc… thì văn học lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng. Ngôn ngữ văn học không giống với các bộ môn khoa học khác, cũng không phải là ngôn ngữ giao tiêp trong đời sống hàng ngày, mà đó là thứ ngôn ngữ đã được cảm XUC thăng hoa thông qua rất nhiều biện pháp nghệ thuật. Trong đó, so sánh và ẩn dụ là hai biện pháp rất hay đươc sử dụng trong các tác phẩm văn học. Đặc biệt, khi đến với ca dao, ta băt gặp mọt loạt các hình ảnh so sánh và ẩn dụ rất phong phú, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, trở thành dấu ấn riêng của ca dao.

    “Ca cao là một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình” (Hê-ghen). Qua ca dao xưa, quần chúng nhân dân rất hay dùng so sánh ví von để phô diễn ý tình. Chất liệu so sánh, ẩn dụ không lấy ở đâu xa, mà chính là cảnh vạt thiên nhiên làng quê quen thuộc, gần gũi với lao động, sinh hoạt. Từ sân đình, cây đa, giếng nước, con thuyền, bến đò cho đến những mieng cau khô, tấm lụa đào… đeu có thể trở thành vật chở bao nỗi niềm tâm tư tình cảm của người bình dân. Đôi khi “cái đẹp nằm ngay^ trong sự giản dị”. Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ rất giàu sức gợi cảm, gần gũi, ý tình trở nên bóng bẩy, ý nhị, kín đáo.

    Người bình dân thường dùng hình ảnh những con vật bé nhỏ như con cò, cái kiến… khi nói về thân phận mình. Có khá nhiều những câu, bài ca dao Việt Nam nói đến con cò và mượn con cò để xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật độc đáo, sắc nét, giàu sức gợi, giàu ý nghĩa nhân sinh như bài ca dao:

    Con cò mà đi ăn đêm,

    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi! Ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo mãng

    Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

    Sự rủi ro, không may, tai nạn bất ngờ xảy ra trong đời sống của con người cũng như của loài vật là điều không thể tránh khỏi. Nhưng sự rủi ro của con cò trong bài ca dao lại rất đặc biệt. Bởi “ăn đêm” trái với sinh hoạt bình thường, tự nhiên của loài cò. Phải chăng cuộc sống của loài cò khốn khó đến nôi ban ngày kiếm ăn không được mà phải mò cả ban đêm, điều này được ví như cuộc sống những người nông dân trong xã hội phong kiến? Và sự rủi ro ấy cũng chính là cái nền, cái cớ để tác giả thể hiện tinh tế những điều muốn nói bằng ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật:

    Ông ơi! Ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

    Tiếng kêu lạc lõng, đứt đoạn của con cò thật đáng thương. Con cò là ẩn dụ tượng trưng cho thân phận người nông dân xưa dù cuộc sống khó khăn, bế tắc nhưng họ chưa bao gíờ hết niềm tin vào cuộc sống, vẫn rất ham sống. Và đặc biệt, họ dám nhìn thẳng vào thực tế, dám đón nhận cái chết và bày tỏ thái độ dứt khoát của mình: “Có xảo thì xảo nước trong”. Đó là thái độ “chết trong còn hơn sống đục”, luôn giữ được phẩm chất thanh cao, trong sáng của mình trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hình ảnh ẩn dụ “con cò” có giá trị khái quát hiện thực cao, đồng thời thể hiện được giá trị nhân sinh sâu sắc, để lại bài học quý giá về lẽ sống ở đời.

    Người phụ nữ cũng vậy. Họ phải chịu những luật lệ hà khắc trói buộc quyền sống của họ. Đến với những bài ca dao về người phụ nữ, ta bắt gặp một loạt các. câu hát than thân mở đầu bằng “thân em” với rất nhiều hình ảnh so sánh khác nhau:

    – Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

    – Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

    – Thân em như miếng cau khô

    Kể thanh tham mỏng, người thô tham dày.

    Chỉ hai chữ “thân em” thôi nhưng cũng đủ khiến người đọc không khỏi xót xa, thương cảm cho cuộc đời họ, đồng thời thây được hiện thực xã hội bấy giờ. Sau này, “bà chúa thơ Nôm” – Hồ Xuân Hương’ đã vận dụng trong một bài thơ rất nổi tiếng của mình – Bánh trôi nước:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non

    Chỉ có điều, nếu như Hồ Xuân Hương tả theo lối vịnh vật, tả chiếc bánh trôi từ màu sắc, hình dáng đến cách làm bánh cốt để chuyển nghĩa nói về người phụ nữ thì ca dao lại dùng những hình ảnh so sánh rất riêng, phong phú, sinh động:

    – Thân em như tấm lụa đào

    – Thân em như giếng giữa đàng

    – Thân em như miếng cau khô

    “Tấm lụa đào” rất quý giá, đẹp đẽ. Nhưng đây không phải tấm lụa đào được nâng niu cất giữ mà đang treo “phất phơ giữa chợ” cũng như người con gái bị đem ra bán giữa chợ đời, không được làm chủ cuộc đời mình. Và “giếng” nưóc mới trong trẻo, mát lành làm sao, mà lại ở ngay giữa đàng – nơi bao người lại qua, bị sử dụng tùy tiện: rửa mặt, rửa chân. Còn cả “miếng cau khô” kết với trầu làm thom miệng, hồng má mọi người, không thể thiếu được trong các cuộc vui “miếng trầu là đầu câu chuyện”, cũng bị cắt xẻ tùy vào khẩu vị người ăn. Giá trị của tấm lụa, giếng nước, miếng cau kia không được đánh giá qua bản thân chúng mà bị phụ thuộc vào người dùng…

    Đó là sự tự ý thức về chân giá trị của mình: một vẻ đẹp xinh xắn trẻ trung như tấm lụa đào, một vẻ đẹp dân dã, giản dị nhưng rất cần thiết và không thể thay thế được của mình với cuộc đời như giếng giữa đàng, như miếng cau khô kia.. Nhưng cuối cùng không phải tất cả đều có được cuộc sống hạnh phúc mà rất nhiều trong số những người phụ nữ xưa bị bạc đãi, thậm chí bị chà đạp phũ phàng. Những câu ca dao với những hình ảnh so sánh có giá trị nghệ thuật cao như vậy là tiếng hát thấm nhuần tư tưởng nhân đạo và cũng là một hình thức đấu tranh đòi khôi phục vị trí xứng đáng của người phụ nữ.

    Có thể nói đây là những hình ảnh so sánh hay nhất, giàu ý nghĩa xã hội nhất và cũng giàu chất ca dao nhất. Đọc qua hoặc nghe qua thì thấy chúng có bề ngoài giống nhau: đều mở đầu bằng “thân em”, nhưng nếu ta tập trung lắng nghe và cảm nhận sẽ thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi bài. Thiếu đi cái riêng dù là rất ít rất nhỏ này thì mỗi bài ca dao sẽ không có và không thể có “cái duyên” và cũng không còn lí do để tồn tại. “Cái duyên” ấy chính bởi khả năng dùng hình ảnh so sánh, phong phú, linh hoạt của tác giả dân gian.

    Yêu thương và căm giận, đó là hai trạng thái tình cảm luôn đi cùng nhau trong mỗi con người, “thơ sinh ra từ nụ cười trong sáng hay những giọt nước mắt đắng cay” (Gam-da-tốp). Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới những câu ca dao tràn đầy tình yêu thương. Chiếm một số lượng lớn trong kho tàng ca dao là những câu hát về tình yêu nam nữ. Và có lẽ những hình ảnh so sánh, ẩn dụ đẹp nhất đều được dành để viết tặng cảm xúc thi vị này. Ta bắt gặp trong ca dao rất nhiều cặp hình ảnh ẩn dụ: khách bộ hành – cây đa, còn đò – bến cũ… rất gần gũi với cuộc sống làng quê, trong đó thuyền – bến là cặp hình ảnh phổ biến, rộng rãi nhất:

    Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    Thuyền – bến là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm đôi lứa. Thuyền là ẩn dụ chỉ người con trai nay đây mai đó để cho bến – ẩn dụ chỉ người con gái chờ đợi mỏi mòn. Câu ca dao cất lên đã thể hiện nỗi nhớ mong, hi vọng và cả sự chung thủy sâu sắc của người con gái. Đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân ta xưa, sống giàu tình mà cũng rất nặng nghĩa.

    Thật khó có thể kể hết được vẻ đẹp của những hình ảnh so sánh và ẩn dụ trong ca dao. Song dẫu có phong phú đến đâu, tất cả những hình ảnh ấy đều xuất phát từ tâm hồn người bình dân – từ những gì rất gần gũi, gắn bó với cuộc sống thôn quê và phản ánh tâm tư, tình cảm của họ. Nó không những góp phần lớn vào việc thể hiện nội dung tư tưởng mà còn chứng tỏ tài năng nghệ thuật của những người lao động chân lấm tay bùn. Không ít các nhà thơ sau này đã học được những so sánh, ẩn dụ ấy trong thơ mình. Ta bắt gặp “lặn lội thân cò khi quãng vắng” trong thơ Tú Xương, lối mở đầu bằng “thân em” trong hồ Hồ Xuân Hương… Đúng như Hoài Thanh từng nhận định: “Lời thơ dân gian không những bước đầu cho ta quen với tâm tư, tình cảm đồng bào ta xưa mà còn giúp ta học được những cách nói tài tình chính xác”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Các Kiểu So Sánh Và Lấy Ví Dụ
  • Biện Pháp So Sánh: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài Của Phạm Ngũ Lão Để Làm Sáng Tỏ Hào Khí
  • Soạn Bài Vội Vàng Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2
  • Phân Tích Bài Thơ Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quốc Tuấn
  • Giúp Học Sinh Học Tốt Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ, Hoán Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ, Soạn Văn Lớp 10
  • Soạn Bài Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ (Chi Tiết)
  • Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ
  • Tuần 15. Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Trước thực tế này, cô Tạ Thị Ngọc Anh (Trường THCS Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội) chia sẻ kinh nghiệm giúp học sinh cảm nhận và vận dụng tốt hai biện pháp tu từ này.

    Những đặc trưng của tu từ ẩn dụ, hoán dụ

    Ẩn dụ tu từ được coi là so sánh ngầm vì cơ sở cấu tạo giống như so sánh tu từ.

    Các nhà nghiên cứu thường căn cứ vào đặc điểm cấu tạo của ẩn dụ tu từ để phân chia thành các kiểu sau: Ẩn dụ hình tượng, ẩn dụ bổ sung, ẩn dụ tượng trưng.

    Dựa trên cơ sở mối tương đồng giữa đối tượng được thay thế tên gọi và đối tượng được sử dụng làm ẩn dụ, ẩn dụ hình tượng được phân loại thành bốn kiểu.

    Cách phân chia 4 loại ẩn dụ trong SGK hiện nay như sau: Ẩn dụ phẩm chất, hành động; ẩn dụ hình thức; ẩn dụ cách thức, phương tiện; ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

    Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng logic khách quan giữa hai đối tượng” (Cù Đình Tú- Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt- NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983)

    Về hình thức, hoán dụ tu từ chỉ có vế biểu hiện còn vế được biểu hiện không phô ra mà ẩn giấu. Người tiếp nhận phải dựa vào quan hệ liên tưởng logic khách quan để phát hiện đối tượng được biểu hiện.

    Bằng biện pháp hoán dụ, một đặc điểm tiêu biểu của đối tượng được sử vào dấu hiệu của đối tượng có thể phân chia kiểu hoán dụ này thành các tiểu loại sau:

    Dùng dấu hiệu hình thức của đối tượng biểu thị đối tượng; dùng vật sở thuộc, phương tiện, kết quả của đối tượng biểu thị đối tượng; dùng dấu hiệu trạng thái, tính chất, hành động biểu thị đối tượng; dùng dấu hiệu không gian tồn tại của đối tượng, sự vật tồn tại trong đối tượng biểu thị đối tượng.

    Dựa trên mối liên hệ logic khách quan giữa đối tượng biểu hiện và đối tượng được biểu hiện, hoán dụ được phân loại thành các kiểu sau:

    Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng; hoán dụ dựa trên quan hệ giữa dấu hiệu của đối tượng và đối tượng; hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận và toàn thể; hoán dụ dựa trên quan hệ giữa đối tượng chứa đựng và đối tượng được chứa đựng : (Đây là cách phân chia trong SKG).

    Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ:

    – Tác dụng: đều là biện pháp tu từ nên chúng có tác dụng làm cho câu văn thêm gợi hình gợi ảnh,giàu tính biểu cảm

    – Cấu tạo: lấy sự vật hiện tượng này để gọi cho sự vật hiện tượng khác.

    – Dựa trên quan hệ tương cận

    – Lô gíc có thực, mang tính khách quan

    – Dựa trên quan hệ tương đồng

    – Lô gic chủ quan

    Tổ chức học sinh cảm thụ và sử dụng biện pháp tu từ

    Giáo viên có thể chia ra 3 mức độ cảm thụ biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ của học sinh.

    Theo đó, với mức 1: Nhận diện biện pháp tu từ, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo 3 bước:

    Bước 1: Tìm xem biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ được thể hiện qua chi tiết hình ảnh nào.

    Bước 2: Tìm ra sự vật, hiện tượng bị ẩn đi.

    Bước 3: Tìm ra sự tương đồng giữa sự vật, hiện tượng bị ẩn đi với sự vật, hiện tượng dùng để thay thế.

    Mức 2: Viết được đoạn văn cảm nhận được giá trị biện pháp tu từ. Ở mức này, giáo viên cũng hướng dẫn theo 3 bước như sau:

    Bước 1: Nhận diện được biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ.

    Bước 2: Xác định giá trị của biện pháp tu từ đó

    Bước 3: Viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh. Trong đoạn văn này sẽ có mở đoạn (Văn bản đó sử dụng biện pháp tu từ nào?);

    Thân đoạn: Biện pháp tu từ ấy được thông qua hình ảnh, chi tiết nào? Đối tượng nào đã được ẩn đi? Diễn đạt câu văn ra sao? Đối tượng được ẩn đi được miêu tả như thế nào và mang ý nghĩa gì? Tình cảm và tài năng của tác giả?;

    Kết đoạn: Khẳng định ngắn gọn giá trị của biện pháp tu từ.

    Mức 3: Học sinh vận dụng biện pháp tu từ trong bài làm của mình.

    Ở bước này, giáo viên tổ chức cho học sinh đặt câu. Học sinh làm việc theo nhóm và từng nhóm lên trình bày và nhận xét.

    Khi tổ chức cho học sinh viết đoạn văn, giáo viên nên thực hiện trong phần luyện tập, thời gian kiểm tra bài cũ, trong bài kiểm tra 15 phút hoặc kiểm tra 1 tiết. Phần này không nên làm theo nhóm mà làm việc cá nhân. Sau đó, giáo viên sẽ mời một học sinh lên đọc, một số học sinh khác sẽ nhận xét.

    Với việc tổ chức cho học sinh viết bài tập làm văn, giáo viên chỉ có thể thực hiện vào giờ kiểm tra hai tiết tập làm văn, có thể đan lồng trong các bài văn miêu tả hoặc kể chuyện sẽ dễ dàng hơn với học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Luyện Thi Vào Lớp 10
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Tác Dụng Và Cách Ghi Nhớ
  • Bí Quyết Đạt Điểm Tuyệt Đối Phần Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Bài 23: Vai Trò Và Tác Dụng Của Một Số Biện Pháp Tu Từ
  • Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học: Ẩn Dụ Và Hoán Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Của Lê Hữu Trác
  • Phân Tích Bút Pháp Kí Sự Trong Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Phân Tích Giá Trị Hiện Thực Của Đoạn Trích Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Giáo Án Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực : Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Giao An Van 11 Chuan
  • Hướng dẫn phân biệt ẩn dụ và hoán dụ trong tiếng Việt. Cách nhận biết các biện pháp tu từ thường gặp. Bí quyết làm đề đọc hiểu đạt điểm tuyệt đối trong kì thi THPT Quốc gia.

    Điểm giống nhau giữa Ẩn dụ và hoán dụ

    Về bản chất, ẩn dụ và hoán dụ có những nét giống nhau như sau:

    + Đều lấy tên sự vật, hiện tượng này để gọi tên sự vật hiện tượng khác. Về mặt hình thức hoán dụ giống ẩn dụ ở chỗ chi có một vế (vế biểu hiện), còn vế kia(vế được biểu hiện) bị che lấp đi.

    + Cùng được dùng trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau, trong đó cơ bản là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

    Vì giống nhau nhiều điểm như vậy nên nếu chỉ nhìn vào mặt hình thức, học sinh sẽ rất dễ bị nhầm lẫn về hai biện pháp nghệ thuật này.

    Điểm Khác nhau giữa Ẩn dụ và hoán dụ

    Giữa hai sự vật, hiện tượng có mối quan hệ tương đông, tức giống nhau về phương diện nào đó (hình thức; cách thức thực hiện; phẩm chất; cảm giác).

    Ấn dụ lâm thời biểu hiện mối quan hệ giống nhau giữa hai sự vật.Cơ sở của ẩn dụ dựa trên sự liên tưởng giống nhau của hai đối tượng băng so sánh ngầm. Về mặt nội dung(cấu tạo bên trong), ẩn dụ phải rút ra nét cá biệt giống nhau giữa hai đối tượng vốn là khác loại, không cùng bản chất. Nét giông nhau là cơ sở để hình thành ẩn dụ, đồng thời cũng là hạt nhân nội dung của ẩn dụ.

    Chức năng chủ yếu của ân dụ là biểu cảm. Hiện nay ẩn dụ được dùng rộng rãi trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau, không những trong văn xuôi nghệ thuật mà còn trong phong cách chính luận nhưng nhiều nhất vẫn là trong thơ ca.

    Xét ví dụ sau:

    Trăm năm đành lỗi hẹn hò

    Cây đa bến cũ con đò khác đưa

    (Ca dao)

    Trong ví dụ trên, cây đa bến cũ có những nét tương đồng với những kỉ niệm đẹp, con đò khác đưa có ý nghĩa tương tự việc cô gái đã đi lấy người con trai khác làm chồng, đã thay đổi, xa nhau về tình cảm. Thông qua nghệ thuật ẩn dụ, tác giả dân gian đã chọn được hình ảnh quen thuộc, gợi nhớ diễn đạt được một lời oán trách kín đáo.

    Xét một ví dụ khác về ẩn dụ:

    Dưới trăng quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông

    (Nguyễn Du)

    Trong ví dụ trên, tác giả đã sứ dụng hình ảnh lửa lựu đế ẩn dụ cho việc mùa hè đến (cùng tính chất nóng). Đây là việc tác giá so sánh ngầm giữa tính chất của lửa và tính chất của mùa hè với nhau, tạo nên liên tưởng thú vị.

    Giữa hai sự vật, hiện tượng có mối quan hệ tương cận, tức đi đôi, gần gũi với nhau ( bộ phận -toàn thế; vật chứa đựng -vật bị chứa đựng; dấu hiệu của sự vật. sự vật; cụ thể -trừu tượng).

    Hoán dụ biểu thị mối quan hệ gần gũi, có thực giữa đối tượng biểu hiện và đối tượng được biếu hiện. Hoán dụ không thể hiện sự giống nhau giữa hai đối tượng được đưa ra mà chỉthê hiện sự đi đôi, sóng đôi, liên tưởng đến nhau giữa hai đối tượng.

    Cơ sở của hoán dụ dựa trên sự liên tưởng kế cận của hai đối tượng mà không so sánh. Ve mặt nội dung cơ sở để hình thành hoán dụ là sự liên tưởng phát hiện ra mối quan hệ khách quan có thực có tính chất vật chất hoặc logic giữa các đối tượng.

    Chức năng chủ yếu của hoán dụ là nhận thức. Nó được dùng trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau nhưng thường đắc dụng trong văn xuôi nghệ thuật, vì sức manh của nó vừa ở tinh cá thể hoá và tính cụ thể vừa ở tính biểu cảm kín đáo và sâu sắc.

    Xét ví dụ sau:

    Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ

    Bắp chân ầău gối vẫn săn gân.

    (Tố Hữu)

    Trong câu thơ trên, hình ảnh “bắp chân đầu gối vẫn săn gân” không chỉ một thực tế về cơ thể của các anh lính mà nhằm thể hiện ý nghĩa ca ngợi về ý chí chiến đấu của các anh lính bộ đội cụ Hồ là một ý chí dẻo dai, bền bỉ. Đây là hai hình ảnh gần gũi, đi đôi với nhau, được suy ra từ một sự liên tưởng phát hiện, chứ không hoàn toàn đồng nhất như tính chất của ẩn dụ.

    Xét một ví dụ khác có sử dụng cả hoán dụ và ẩn dụ trong một cặp câu thơ:

    Thôn Đoài ngôi nhớ thôn Đông

    Cau thôn Đoài nhớ giaafu không thôn nào

    (Nguyễn Bính)

    Ở câu thơ trên, câu đầu nhà thơ sử dụng nghệ thuật hoán dụ khi dùng “thôn Đoài” và “thôn Đông” nhưng ám chỉ đến “người ở thôn Đoài” và “người ở thôn Đông”.

    Ở câu thơ dưới, “cau” và “trầu” tương đồng với những người đang yêu nhau, đang nhớ nhau, tạo nên cách nói lấp lửng, thập thò, bóng gió của những đôi lứa yêu nhau nhưng còn ngại ngùng chưa dám ngỏ lời. (ngoài nghệ thuật ẩn dụ và hoán dụ, việc nói “thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” có thế được coi là việc tác giả đã sử dụng nghệ thuật nhân hoá)

    Mối quan hệ giữa hai đối tượng

    Tương đồng (giống nhau)

    Tương cận (gần gũi, đi đôi với nhau)

    Cơ sở tạo thành

    So sánh ngầm giữa hai đối tượng giống nhau

    Liên tưởng kề cận

    Phân loại cụ thể

    hình thức; cách thức thực hiện; phẩm chất; chuyên đổi cảm giác

    bộ phận để chi toàn thê; vật chứa đựng đê’ gọi vật bị chứa đựng; dấu hiệu của sự vật đế gọi sự vật; cụ thế đế chi trừu tượng

    Tiêu chí phân biệt ẩn dụ và hoán dụ:

    Để phằn biệt được ẩn dụ và hoán dụ, học sinh dựa vào ba tiêu chí sau:

    + Tiêu chí khái niệm: Xem xét câu văn, câu thơ được đưa ra có đối tượng nào được nhắc đến, đối tượng nào là đối tượng được ngầm ẩn đằng sau. Sau đó học sinh tìm hiểu quan hệ giữa hai đối tượng này là mối quan hệ tương đồng, giống nhau (thể hiện một trong bốn kiểu: hình thức; cách thức thực hiện; phẩm chất; cảm giác) hay là mối quan hệ tương cận, gần gũi, đi đôi cùng nhau (thể hiện một trong bốn kiểu đi cùng nhau là- bộ phận – toàn thể; vật chứa đựng – vật bị chứa đựng; dấu hiệu của sự vật – sự vật; cụ thể – trừu tượng).

    Nếu giữa hai đối tượng (miêu tả và được miêu tả, ngầm ẩn đăng sau) là mối quan hệ tương đồng (không trải qua sự liên tưởng, suy tưởng) thì kết luận là ẩn dụ, nếu là mối quan hệ tương cận, gần gũi, đi đôi cùng nhau (cần có sự liên tưởng kề cận) thì là hoán dụ.

    Ví dụ:

    Xét câu văn “Dân tộc Việt Nam nay lại được đặt trước hai con đường: một là khoanh tay cúi đầu trở lại nô lệ; hai là đấu tranh đến cùng để giành lây tự do và độc lập” của Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy:

    Từ “khoanh tay cúi đầu” và tánh chất “hèn hạ, kém cỏi, chấp nhân thua cuộc” là hai điều có mối quan hệ tương đồng với nhau, không cần trải qua sự suy tưởng, do đó kết luận đây là việc nhà văn sử dụng biện pháp nghệ thuật ẩn dụ.

    Một ví dụ khác:

    Hỡi cô yếm thắm loà xoà

    Lại đây đập đất trông cà với anh

    Trong câu ca dao trên, hình ảnh “cô yếm thắm loà xoà” là hình ảnh được đối chiếu đề mang ý nghĩa chỉ những cô gái hay ăn diện, rong chơi. Với ý nghĩa như trên, chỉ bằng dấu hiệu của cô gái (ăn mặc loà xoà) mà nhà thơ gợi dẫn đền phẩm chất của cô (ăn diện), đầy là hai điều có mối quan hệ tương cận, gần gũi, cần phải trải qua bước liên tưởng kế cận mới thấy được. Do đó đây là câu ca dao mà nhân dân ta đã khéo léo sử dụng biện pháp nghệ thuật hoán dụ.

    + Tiêu chí phân loại:

    Để rõ ràng về bản chất của chi tiết được sử dựng trong văn bản nghệ thuật là hoán dụ hay ẩn dụ, cách tốt nhất là học sinh tự trả lời câu hỏi: Nếu là ẩn dụ thi đây là loại án dụ nào trong bốn kiểu ẩn dụ? Còn nếu như là hoán dụ thì đây là loại hoán dụ nào trong bốn kiểu hoán dụ?

    Trả lòi và giải thích một cách rõ ràng về loại ẩn dụ/ hoán dụ đã nêu, học sình sẽ có cơ sở rõ ràng về kết luận của mình, tránh suy đoán theo cảm tính.

    + Tiêu chí nội dung, giá trị của chi tiết nghệ thuật

    Tiêu chí này cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định biện pháp thuật mà nhà thơ sử dụng là ẩn dụ hay hoán dụ.

    Xét ví dụ sau:

    Hươu cao cổ

    Có móc câu

    Gật gật đầu

    Trông ngộ quá

    Cho nắm lá

    Hươu không ăn ;

    Hươu vững tâm

    Làm việc nặng

    Yêu bến cảng

    Có bầy hươu

    Sớm lại chiều

    Câu hàng hóa

    (Định Hải – Hươu cao cổ)

    Đối với ví dụ trên, hươu cao cổ là hình ảnh ẩn dụ cho chiếc cần cẩu, cách thức ẩn dụ là ẩn dụ hình thức (chiếc cần cẩu trông giống như hươu cao cổ). Xét về mặt nội dung của bài thơ, đối tượng hướng đến là trẻ em (cách ví von chiếc cần cẩu là chú hươu cao cổ là cách ví von hồn nhiên, ngộ nghĩnh dành cho trẻ thơ, khiến câu thơ trở nên dễ hiểu hơn). Nếu hiểu như vậy, câu thơ sẽ phù hợp hơn với đối tượng (không hiểu bài thơ sử dụng biện pháp hoán dụ, loại hoán dụ là loại lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật thì sẽ khiến câu thơ trở nên phức tạp, khó hiểu, khó giải thích về tư tưởng và dụng ý của tác giả)

    Xét các ví dụ tương tự khác:

    Nếu được sống một nghìn cuộc đời

    Với một trái tim như thế

    Buốt nhức vì giận hòm

    vì yêu

    vì nhớ

    Thì tôi chẳng bao giờ đổi

    Trái tim buốt nhức này

    để lấy một trái tim bình yên khác

    (Lâm Thị Mỹ Dạ)

    Trái tím đừng lúc nào tĩnh vật

    Mà thiết tha đời như ngọn cây

    (Lâm Thị Mỹ Dạ)

    Trong hai ví dụ trên, hình ảnh trái tim là hình ảnh khiến học sinh bàn khoăn là hình ảnh ẩn dụ phẩm chất hay là hình ảnh hoán dụ lấy đấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật. Khi hiểu theo trường hợp thứ hai, người đọc nhận thấy hợp lí với nội dung mà nhà thơ muốn phản ánh hon. Bên cạnh mối quan hệ giữa “trái tim” và ‘”đời sống tình cảm của người phụ nữ” là mối quan hệ tương cận, ở đây người viết muốn phản ánh không phải tính chất, phẩm chất của trái tim mà hơn cả là nhà thơ muốn khẳng đinh tính chất phong phú, phức tạp, nhiều cung bậc phong phú của tâm hồn người phụ nữ.

    Bài tập giúp phân biệt ẩn dụ và hoán dụ

    (1) Hỡi anh đi đường cái quan

    Em xem khăn gói anh mang những gì?

    Hay là giận vợ ra đi,

    Anh cứ thú thật em thì mang cho

    (Ca dao)

    (2) Hội trường đứng dậy vồ tay đón chào diễn giả đang đến với niềm hưng phấn vô ngần.

    (3)

    Em đi, như chiều đi

    Gọi chim vườn bay hết

    Em về tựa mai về

    Rừng non xanh lộc biếc

    Em ở, trời trưa ở

    Nắng sáng màu xanh tre

    Tình em như sao khuya

    Rải hạt vàng chi chít

    ( Chế Lan Viên )

    (4) Đàn buồn, đàn lặng ôi đàn chậm

    Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

    (5)

    Anh xin làm sóng biếc

    Hôn mãi cát vàng em

    Hôn thật khẽ, thật êm

    Hôn êm đêm mãi mãi

    Đã hôn rôi, hôn lại

    Cho đến mãi muôn đời

    Đến tan cả đất trời

    Anh mới thôi dào dạt…

    (Xuân Diệu, Biển)

    ( 6) Mẹ ơi, con bận trăm công nghìn việc chứ có phải là con rảnh rỗi đâu!

    ( 7)

    tiếng ghi ta nâu

    bầu trời cô gái ấy

    tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

    tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

    tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy

    (Thanh Thảo, Đàn ghi-ta của Lorcà)

    (8)Ôi trảng dầu những chiếc lá khô cong

    mỗi bước chân rì rầm tiếng nói

    Đêm hành quân qua nhiều đống lửa

    Bùng tự nhiên ngay giữa lối mòn

    thế hệ chúng tôi bùng ngọn lửa chính mình

    Soi sáng đường đi tới

    Có những đêm mưa quất bốn bề

    Giữa Tháp Mười không mái lá nương che

    Nước đã giật phải đẩy xuồng băng trấp

    Lúc ấy chân trời là lưng người đi trước

    Vụt loé lên qua ánh chớp màn mưa

    (9) Cả năm châu lục đêu hưởng ứng

    ( 10).

    Hái một nụ thơm em

    Là bước đầu biết khổ

    Hái thêm lá em mở

    Đau suốt đời ngẩn ngơ

    Khi vẫn là hai bờ

    Một dòng sông ngang trái.

    (Hoàng Cầm,Duyên kiếp)

    (11)

    Chiều êm đềm, người thanh thản lại qua,

    Cây thốt nốt rắc nắng vàng xuống cỏ

    Lũ trẻ gấp những tàu bay nhỏ

    Thả là là trên mặt cỏ xanh

    (Đào Ngọc Phong, Tượng đài chiến sĩ Việt Nam)

    (1 – Không, không thể ở bên này được

    Ngày mai, ngày mai, bọn giặc

    Cơn lũ gầm lên, thách thức

    (Trần Nhật Thu, Nhịp cầu em gái)

    Đáp án

    (Lưu ý chi nên xem sau khi đã thực hiện xong bài tập vào vở bài tập)

    Những câu văn sử dụng nghệ thuật ẩn dụ: (3), (4), (5), (10), (11)

    Những câu ván sử dụng nghệ thuật hoán dụ: (1), (2), (6), (7), (8), (9)

    Học sinh tự giải thích nguyên nhân tại sao lại là hoán dụ, ấn dụ dựa vào các tiêu chí đã phân tích ở trên: khái niệm, phân loại và nội dung câu thơ, tư tưởng mà nhà thơ muốn phản ánh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Lớp 9: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Văn 9 Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)
  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ, Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảng Thống Kê Các Biện Pháp Tu Từ
  • Giúp Em Nha Các Mod Văn Bài Tập: Tìm Và Nêu Nét Độc Đáo Trong Việc Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Ở Các Ví Dụ Sau: A) Không Có Kính Rồi Xe Không Có Đèn,
  • Phân Tích Đoạn 1 Tây Tiến: Dàn Ý Chi Tiết + Bài Viết Mẫu
  • Phân Tích Đoạn 1 Bài Thơ Tây Tiến
  • Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng, Văn Mẫu Hay, Chọn Lọc
  • Đề bài: Gíao sư Đặng Thanh Lê có viết: ” Nguyễn Du có biệt tài vận dụng các biện pháp tu từ của văn học dân tộc, đặc biệt là ẩn dụ“. Hãy phân tích một số câu, một số đoạn trong truyện Kiều để làm sáng tỏ nhận xét trên

    Bài giảng: Truyện Kiều – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

    Bài văn mẫu

    “Truyện Kiều” của thi hào dân tộc Nguyễn Du là kiệt tác trong nền văn học cổ Việt Nam. Tuy mượn đề tài, cốt truyện từ “Kim-Vân-Kiều Truyện” của Thanh Tâm tài nhân (Trung Quốc) nhưng áng thơ dài 3254 câu thơ lục bát này đậm đà bản sắc đân tộc, chứa chan một tình nhân ái bao la “rung động đất trời” (Tố Hữu).

    Về phương diện nghệ thuật, truyện thơ này là mẫu mực và đỉnh cao về ngôn ngữ thi ca và xây dựng nhân vật. Đọc “Truyện Kiều”, ta cảm nhận một cách sâu sắc. “Nguyễn Du có biệt tài vận dụng các biện pháp tu từ của văn học dân tộc, đặc biệt là ẩn dụ mà giáo sư Đặng Thanh Lê đã nhận xét.

    Khi tả cảnh cũng như lúc tả người, tả tình, với cá tính sáng tạo của một thiên tài, Nguyễn Du đã vận dụng nhiều biện pháp tu từ của văn học dân tộc, đặc biệt tả ẩn dụ làm cho câu thơ, đoạn thơ đầy hình tượng và biểu cảm.

    Nguyễn Du có biệt tài về vận dụng biện pháp tu từ của văn học dân tộc

    Mùa xuân về tưng bừng trong ngày hội “Đạp Thanh” của tuổi trẻ. Ba chị em Kiều cũng “sắm sửa bộ hành chơi xuân”. Khắp các ngả đường, dòng người trây hội kéo dài vô tận:

    " Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước, áo quần như nêm."

    Đằng biện pháp tu từ hoán dụ (ngựa xe, áo quần), so sánh ( … như nước … như nêm) và đối (2 vế câu 8 đối nhau) nhà thơ đã tái hiện cảnh trẩy hội mùa xuân tấp nập, đông vui, rộn ràng của giai nhân, tài tử.

    Đây là hai câu tỏ tình của chàng Kim:

    " Tiện đây xin một hai điều, Đài sen soi đến dấu bèo cho chăng?"

    “Dấu bèo” (ẩn dụ) chỉ kẻ tầm thường, thấp hèn. Kim Trọng khiêm tốn, nhún mình. “Đài sen” (ẩn dụ) chỉ con người cao quý, được trân trọng. “Đài sen soi đến …” (nhân hóa): lời tỏ tình tế nhị. Chàng Kim hào hoa, đa tình biểu lộ một tâm tình say đắm người đẹp, bày tỏ một tấm lòng khao khát yêu đương. Cách tỏ tình vừa hoa mỹ vừa truyền cảm.

    “Trước lầu Ngưng Bích” là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc trong “Truyện Kiều. Tác giả vận dụng tài tình các biên pháp tu từ như điệp ngữ, ẩn dụ, hoán dụ, … để viết nên những vần thơ tuyệt diệu. Điệp ngữ “Buồn trông” đứng ở đầu câu sáu, láy lại bốn lần liên tiếp, khơi gợi nỗi sầu thương nặng trĩu, triển miên, day dứt trong lòng Kiều. Cửa bể chiều hôm hoang vắng, xa lạ, mịt mờ với con thuyển và cánh buồm, ngọn nước mới sa và hoa trôi man mác, nội cỏ dầu dầu và chân mây, mặt đất, … gió cuốn và ầm ầm tiếng sóng – là những hình ảnh ẩn dụ và hoán dụ đặc tả một kiếp người lưu lạc đang lênh đênh, trôi dạt trên dòng đời vô định đầy bão tố, với tâm trạng sợ hãi, cô đơn và tuyệt vọng. Ngoại cảnh hòa hợp với tâm cảnh:

    " Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu ? Buồn trông nội cỏ dầu dầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh. Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"

    Nguyễn Du có biệt tài … đặc biệt là ẩn dụ

    Ẩn dụ là lối ví ngầm. Xưa nay, đoạn thơ tả tài sắc hai chị em Kiều vẫn được nhiều người tán thưởng. Bức chân dung “hai ả tố nga” vô cùng xinh đẹp, một vẻ đẹp thanh tân, tuyệt mĩ:

    " Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười."

    Thúy Kiều và Thúy Vân cốt cách, yểu điệu như “mai”, tinh thần trắng trong như “tuyết”; từ dáng vẻ, dung nhan đến tâm hồn đều kiều diễm “mười phân vẹn mười”. Hai hình ảnh ẩn dụ “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” là những nét vẽ tài hoa, có giá trị thẩm mỹ tinh tế.

    Bốn câu thơ tiếp theo tả sắc đẹp Thúy Vân. Gương mặt đầy đặn xinh tươi như vầng trăng rằm, lông mày thanh tú xinh xắn như “mày ngài”, miệng cười tươi như “hoa”, tiếng nói trong như “ngọc”, tóc mềm bóng đẹp hơn “mây”, da trắng mịn hơn “tuyết”. Trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết, … tiêu biểu cho vẻ đẹp của thiên nhiên được ví với gương mặt, nụ cười, giọng nói, mái tóc, màu da … của giai nhân. Cách miêu tả ấy tuy mang tính chất ước lệ, nhưng ngòi bút “thần” của Tố Như đã viết nên những của thơ có hình ảnh ẩn dụ hấp dẫn lạ thường:

    " Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang. Mây thua nước tốc, tuyết nhường màu da."

    Nếu Vân là một giai nhân thì Kiều là một giai nhân tuyệt thế, mặn mà, sắc sảo tài sắc vẹn toàn. Nguyễn Du đã sử dụng biện pháp ẩn dụ – nhân hóa gợi tả vẻ đẹp mộng mơ của Thúy Kiều. Mắt nàng trong như nước mùa thu. Lông mày xinh xắn như dáng núi mùa xuân … Sắc đẹp ấy làm cho hoa phải “ghen”, liễu phải “hờn”:

    " Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh"

    Những câu thơ, những hình ảnh ẩn dụ – nhân hốa ấy là bông hoa nghệ thuật tươi thắm mãi với thời gian tỏa hương vào hồn người. Nó còn thể hiện tấm lòng ưu ái của nhà thơ đối với cái đẹp trong nhân gian.

    Nguyễn Du không những đã tiếp thu thi liệu, điển tích của văn học Trung Hoa mà còn học tập dân ca, ca dao, học lời ăn tiếng nói của người trồng dâu, trồng gai nơi đồng nội để sáng tạo nên vần thơ đặc sắc.

    “Hạt mưa” là hình ảnh so sánh ẩn dụ trong ca dao, dân ca nói về thân phận, số phận của người con gái ngày xưa: “Thân em như hạt mưa sa, Hạt rơi đài các, hạt ra ruộng cày” … Trước cảnh gia biến, nàng Kiều nghĩ và hành động:

    " Hạt mưa sá nghĩ phận hèn, Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân."

    “Hạt mưa, tấc cỏ, ba xuân” là những hình ảnh ẩn dụ mang ý nghĩa tượng trung, nói ít mà gợi nhiều, hàm súc, hình tượng và truyền cảm. Kiều là một thiếu nữ giàu đức hi sinh, hiếu thảo, quyết bán mình chuộc cha khỏi vòng tù tội.

    Nghệ thuật của Truyện Kiêu” là đa dạng, phong phú, đặc sắc độc đáo. Những câu Kiều vừa trích dẫn ở trên đã khẳng định nhận xét”của giáo sư Đặng Thanh Lê là đúng đắn.

    Ứớc lệ và tượng trưng là đặc điểm của thi pháp cổ. Lúc tả cảnh, tả người, tả tình … Nguyễn Du cũng sừ dụng bút pháp ước lệ, tượng trưng nhưng với cá tính sáng tạo của một nghệ sĩ thiên tài, câu thơ Kiều đầy nhạc điệu, hình ảnh “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”, rất sống động và tinh tế. Đặc biệt là những câu Kiều mang hình ảnh ẩn dụ đã in sâu vào tâm trí mỗi chúng ta: “Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày …” (Tố Hữu)

    “Truyện Kiều” đã làm rạng rỡ nền văn học cổ Việt Nam. Tên tuổi thi hào dân tộc Nguyễn Du sống mãi trong tâm hồn của nhân dân ta với bao tình cảm kính phục, tự hào.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ, Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong 8 Câu Thơ Cuối Trong Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích” Câu Hỏi 290654
  • Cảm Nhận Về Khổ 5 6 Bài Sóng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100