Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân

--- Bài mới hơn ---

  • Dap An Bai Thi Ha Tinh Voi Binh Dang Gioi
  • Don Xin Mai Am Cong Doan Bai Du Thi Binh Dang Gioi Phuong Doc
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Kinh Tế, Chính Trị Và Lao Động
  • Lý Thuyết Gdcd Lớp 7 Bài 15: Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa
  • Bài 15: Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa
  • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    NGUYỄN THỊ HOÀNG GIANG

    BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT

    HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH VIỆT NAM

    Chuyên ngành: Pháp luật về Quyền con người

    Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY SƠN

    HÀ NỘI – 2014 LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của

    riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong

    bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong

    Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã

    hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ

    tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

    Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem

    xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    1.1.1. Giới, giới tính 7

    1.1.2. Bình đẳng giới 12

    1.1.3. Khái niệm Hôn nhân và gia đình 15

    1.2. Pháp luật quốc tế về bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình 17

    1.2.1. Vai trò pháp luật trong việc thúc đẩy bình đẳng giới 17

    1.2.2. Khái quát các quy định của pháp luật quốc tế về bình đẳng giới 19

    1.3. Một số yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật

    HN&GĐ ở Việt Nam 25

    1.3.1. Những yếu tố tích cực 25

    1.3.2 Những yếu tố gây cản trở đến việc thực thi pháp luật HN&GĐ ở

    Việt Nam 26

    1.4. Các điều kiện cơ bản bảo đảm thực thi pháp luật hôn nhân và

    gia đình Việt Nam 26

    1.4.1. Điều kiện về thể chế 26

    1.4.2. Điều kiện tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực 27

    1.4.3. Điều kiện về nguồn lực tài chính. 27

    Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG

    PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 28

    2.1. Quá trình phát triển pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt

    Nam từ lăng kính bình đẳng giới 28

    2.2. Thực trạng bảo đảm bình đẳng giới trong pháp luật HN&GĐ

    Việt Nam 30

    2.2.1. Bình đẳng giới thể hiện trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ

    Hôn nhân và gia đình Việt Nam 30

    2.2.2. Bình đẳng giới trong kết hôn 35

    2.2.3. Bình đẳng giới trong quan hệ giữa vợ và chồng 43

    2.2.4. Bình đẳng giới trong quan hệ giữa cha mẹ và con 60

    2.2.5. Bình đẳng giới trong việc xác định cha, mẹ, con 67

    2.2.6. Bình đẳng giới trong chế định ly hôn 77

    2.3. Những giá trị tiến bộ và những vấn đề chưa được giải quyết

    (bỏ ngỏ) trong pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành 85

    2.3.1. Về những giá trị tiến bộ 85

    2.3.2. Một số hạn chế trong pháp luật về Hôn nhân và gia đình 87

    Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO

    HIỆU LỰC THI HÀNH PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA

    ĐÌNH VIỆT NAM 92

    3.1. Giải pháp về hoàn thiện pháp luật về Hôn nhân và gia đình

    trong thời gian tiếp theo 92

    3.1.1. Về quyền kết hôn của cộng đồng LGBT 93

    3.1.2. Về độ tuổi kết hôn 93

    3.1.3. Về chế độ tài sản của vợ chồng 94

    3.1.4. Quy định về quyền giám hộ, đại diện của vợ chồng 95

    3.1.5. Về vấn đề ly thân 96

    3.1.6. Các quy định về cấp dưỡng 98

    3.2. Đề xuất, kiến nghị về bảo đảm thi hành pháp luật Hôn nhân

    và gia đình 101

    3.2.1. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật, trợ giúp pháp lý về

    hôn nhân và gia đình đến các tầng lớp nhân dân trong xã hội 101

    3.2.2. Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền địa phương trong

    việc bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong các quan hệ

    HN&GĐ 102

    3.2.3. Bảo đảm sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong các phiên tòa

    giải quyết, xét xử các việc, các vụ án về hôn nhân và gia đình 103

    3.2.4. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước quản lý

    nhà nước về bình đẳng giới và gia đình 104

    3.2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về bình

    đẳng giới trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình 104

    3.2.6. Tăng cường các dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ cho nạn nhân của bạo lực

    gia đình 105

    KẾT LUẬN 107

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

    DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

    BLDS

    : Bộ luật Dân sự

    CEDAW

    : Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối

    xử đối với phụ nữ

    CRC

    : Công ước quốc tế về quyền trẻ em

    HN&GĐ

    : Hôn nhân và gia đình

    ICCPR

    : Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị

    ICESCR

    : Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

    LGBT

    : Nhóm những người đồng tính, song tính và chuyển giới

    UDHR

    : Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền

    DANH MỤC CÁC BẢNG

    Số hiệu bảng

    Tên bảng

    Trang

    Bảng 1.1.

    Phân biệt giữa Giới và Giới tính

    8

    Bảng 2.1:

    Người đứng tên giấy tờ sở hữu/quyền sử dụng một

    số tài sản phân theo thành thị – nông thôn

    58

    Bảng 3.1.

    Kết quả hoạt động của “Ngôi nhà bình yên” từ năm

    2007 đến 15/8/2014

    106 1

    MỞ ĐẦU

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị Ở Việt Nam
  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Làm Thế Nào Để Đạt Được Mục Tiêu Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị?
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Chính Sách Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới
  • Luận Văn: Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân
  • Dap An Bai Thi Ha Tinh Voi Binh Dang Gioi
  • Don Xin Mai Am Cong Doan Bai Du Thi Binh Dang Gioi Phuong Doc
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Kinh Tế, Chính Trị Và Lao Động
  • Lý Thuyết Gdcd Lớp 7 Bài 15: Bảo Vệ Di Sản Văn Hóa
  • Published on

    Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân – gia đình Việt Nam” là cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng trong thời điểm hiện nay.

    1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HOÀNG GIANG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH VIỆT NAM Chuyên ngành: Pháp luật về Quyền con người Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY SƠN HÀ NỘI – 2014
    2. 2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Hoàng Giang
    3. 4. Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM …………..28 2.1. Quá trình phát triển pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam từ lăng kính bình đẳng giới……………………………………………..28 2.2. Thực trạng bảo đảm bình đẳng giới trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam…………………………………………………………………………………30 2.2.1. Bình đẳng giới thể hiện trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ Hôn nhân và gia đình Việt Nam………………………………………………….30 2.2.2. Bình đẳng giới trong kết hôn ……………………………………………………..35 2.2.3. Bình đẳng giới trong quan hệ giữa vợ và chồng……………………………43 2.2.4. Bình đẳng giới trong quan hệ giữa cha mẹ và con…………………………60 2.2.5. Bình đẳng giới trong việc xác định cha, mẹ, con…………………………..67 2.2.6. Bình đẳng giới trong chế định ly hôn ………………………………………….77 2.3. Những giá trị tiến bộ và những vấn đề chưa được giải quyết (bỏ ngỏ) trong pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành………..85 2.3.1. Về những giá trị tiến bộ …………………………………………………………….85 2.3.2. Một số hạn chế trong pháp luật về Hôn nhân và gia đình ………………87 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU LỰC THI HÀNH PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM…………………………………………………………………..92 3.1. Giải pháp về hoàn thiện pháp luật về Hôn nhân và gia đình trong thời gian tiếp theo ………………………………………………………….92 3.1.1. Về quyền kết hôn của cộng đồng LGBT ……………………………………..93 3.1.2. Về độ tuổi kết hôn…………………………………………………………………….93 3.1.3. Về chế độ tài sản của vợ chồng…………………………………………………..94 3.1.4. Quy định về quyền giám hộ, đại diện của vợ chồng………………………95 3.1.5. Về vấn đề ly thân………………………………………………………………………96
    4. 5. 3.1.6. Các quy định về cấp dưỡng………………………………………………………..98 3.2. Đề xuất, kiến nghị về bảo đảm thi hành pháp luật Hôn nhân và gia đình…………………………………………………………………………….101 3.2.1. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật, trợ giúp pháp lý về hôn nhân và gia đình đến các tầng lớp nhân dân trong xã hội……….101 3.2.2. Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền địa phương trong việc bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong các quan hệ HN&GĐ ………………………………………………………………………………..102 3.2.3. Bảo đảm sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong các phiên tòa giải quyết, xét xử các việc, các vụ án về hôn nhân và gia đình……..103 3.2.4. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước quản lý nhà nước về bình đẳng giới và gia đình……………………………………..104 3.2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về bình đẳng giới trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình …………………………..104 3.2.6. Tăng cường các dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ cho nạn nhân của bạo lực gia đình………………………………………………………………………………….105 KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………..107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………109
    5. 6. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLDS : Bộ luật Dân sự CEDAW : Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ CRC : Công ước quốc tế về quyền trẻ em HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình ICCPR : Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị ICESCR : Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa LGBT : Nhóm những người đồng tính, song tính và chuyển giới UDHR : Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
    6. 7. DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang Bảng 1.1. Phân biệt giữa Giới và Giới tính 8 Bảng 2.1: Người đứng tên giấy tờ sở hữu/quyền sử dụng một số tài sản phân theo thành thị – nông thôn 58 Bảng 3.1. Kết quả hoạt động của “Ngôi nhà bình yên” từ năm 2007 đến 15/8/2014 106
    7. 9. 2 và hội nhập quốc tế, như độ tuổi kết hôn giữa nam và nữ; quyền trong hôn nhân của nhóm những người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) – một trong những cộng đồng đang thu hút sự quan tâm, chú ý lớn của cộng đồng quốc tế; vấn đề mang thai hộ; quan hệ tài sản giữa vợ và chồng; vấn đề lựa chọn giới tính trước khi sinh… Xuất phát từ những yêu cầu nêu trên của thực tiễn xã hội, ngày 19/6/2014, Quốc hội đã thông qua Luật HN&GĐ 2014 thay thế Luật HN&GĐ năm 2000. Đây là dịp quan trọng để đánh giá những giá trị tiến bộ trong Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000 và những vấn đề chưa được giải quyết trong Luật này nhằm định hướng tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam trong thời gian tiếp theo cũng như kiến nghị, đề xuất trong việc quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014. Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân – gia đình Việt Nam” là cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng trong thời điểm hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu Vấn đề hoàn thiện pháp luật HN&GĐ để bảo vệ quyền của những chủ thể tham gia quan hệ HN&GĐ đã có không ít những công trình nghiên cứu dưới dạng đề tài khoa học, bài viết, tham luận về vấn đề này, cụ thể như: – Xác định cha, mẹ, con dưới góc độ BĐG – Ths. Nguyễn Thị Lan đăng trên địa chỉ: http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/01/06/8353-2/ – Bài viết: Về quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình – tác giả Hoa Hữu Vân đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000; – Bài viết: Sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình, một số vấn đề cần giải quyết của tác giả Nguyễn Mạnh Hà, trường Đại học Luật Hà Nội đăng trên trang web: http://www.moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=5929;
    8. 11. 4 luật về HN&GĐ trong mối quan hệ với bảo vệ và thúc đẩy quyền con người từ góc độ BĐG, thông qua đó đánh giá những giá trị tiến bộ đạt được trong Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ (năm 2000) và những vấn đề chưa được giải quyết trong Luật này nhằm định hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam, đặc biệt là kiến nghị, đề xuất trong việc quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014. Về phạm vi, Luận văn tập trung phân tích các quy định của pháp luật HN&GĐ Việt Nam từ góc độ BĐG, trong đó tập trung chủ yếu vào Luật HN&GĐ năm 2014 với những vấn đề cơ bản gồm: các nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ; kết hôn; quan hệ giữa vợ và chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; xác định cha, mẹ, con và về ly hôn. 4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam về pháp luật và xây dựng pháp luật. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh để làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong nhiệm vụ của Luận văn. 5. Những đóng góp mới của luận văn Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên một các toàn diện về những giá trị tiến bộ đạt được của Pháp luật HN&GĐ hiện hành mà trực tiếp là Luật HN&GĐ năm 2014 so với các quy định của pháp luật HN&GĐ trước đó trong mối quan hệ với bảo vệ nhân quyền, bảo đảm quyền bình đẳng thực chất giữa nam giới và nữ giới trong quan hệ HN&GĐ. Bên cạnh việc phân tích, chỉ ra những giá trị tiến bộ trong bảo vệ quyền con người, quyền bình đẳng không phân biệt đối xử về giới tính, Luận
    9. 12. 5 văn cũng đã mạnh dạn đưa ra những ý kiến, quan điểm mang tính cá nhân về những hạn chế, những điểm cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về HN&GĐ, bảo đảm tính tương thích với các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền và đặc biệt là bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người trong lĩnh vực HN&GĐ ở Việt Nam – một lĩnh vực vốn chịu sự chi phối nặng nề bởi những tư tưởng, định kiến giới. Trên cơ sở đánh giá những điểm còn hạn chế trong pháp luật HN&GĐ, Luận văn đã đề ra những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về HN&GĐ trong thời gian tiếp theo; những đề xuất, kiến nghị mang tính giải pháp nhằm đưa các quy định của pháp luật HN&GĐ vào thực tiễn cuộc sống; bảo đảm một cách thực chất quyền con người, quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào trong đó có lý do khác biệt về giới tính trong các quan hệ HN&GĐ. 6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn Luận văn đã nghiên cứu toàn diện các chế định về HN&GĐ trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam, mà trực tiếp là Luật HN&GĐ năm 2014 từ góc độ BĐG, đánh giá những tiến bộ đạt được, những tác động tích cực đến bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em – những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội. Cùng với đó Luận văn đã phân tích và chỉ ra những hạn chế của pháp luật HN&GĐ trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền BĐG của các cá nhân trong quan hệ HN&GĐ, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm bảo vệ và thúc đẩy tốt hơn quyền con người, quyền bình đẳng thực chất giữa nam giới và nữ giới trong các quan hệ HN&GĐ ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề mang tính lý luận trong khoa học pháp lý BĐG trong HN&GĐ – một trong những vấn đề hết sức được quan tâm hiện nay. Luận văn không chỉ là tài liệu có giá trị tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa
    10. 13. 6 học mà còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách về pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam, thông qua đó góp phần hoàn thiện pháp luật HN&GĐ – công cụ hữu hiệu trong bảo đảm BĐG trong các quan hệ HN&GĐ ở Việt Nam. Luận văn cũng là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cá nhân có quan tâm. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn bao gồm 3 chương sau: – Chương 1. Khái quát chung pháp luật quốc tế về bình đẳng giới trong Hôn nhân và gia đình. – Chương 2. Bình đẳng giới trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. – Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
    11. 17. 10 giới và cũng không có thời gian cho các hoạt động xã hội và học tập trao đổi kinh nghiệm . Sự khác biệt sức khỏe giữa nam giới và phụ nữ không chỉ do môi trường, nuôi dưỡng và tập quán xã hội, mà còn do bẩm sinh, di truyền như: nam giới có hệ xương lớn thích hợp cho những cộng việc nặng nhọc, nhiệm vụ tái sản xuất xã hội bao gồm trách nhiệm sinh đẻ và chăm sóc con trẻ là của phụ nữ. 1.1.1.4. Về tâm sinh lý Lý thuyết cho rằng nam giới và phụ nữ có sự tiến hóa khác nhau về tác phong và tư duy đã được chấp nhận rộng rãi . Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ Như vậy, về mặt pháp lý, định nghĩa về giới, giới tính được hiểu thống nhất với nghĩa khoa học xã hội của nó, theo đó, giới tính là chỉ sự khác biệt về mặt sinh học và giới là chỉ sự khác biệt về vị trí, vai trò và quan niệm của xã hội về vị trí, vai trò của các giới trong xã hội. 1.1.2. Bình đẳng giới Đây là khái niệm quan trọng, việc nhận thức đúng và đầy đủ về khái niệm này là cơ sở đánh giá, xem xét một cách khách quan và đúng đắn về mức độ BĐG trong pháp luật HN&GĐ, trên cơ sở đó có những đề xuất, kiến nghị cụ thể về những giải pháp nhằm bảo đảm BĐG thực chất trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện nay. Vậy, khái niệm BĐG là gì? Hiện nay, công ước CEDAW sử dụng khái niệm “bình đẳng giới” trong mối quan hệ chặt chẽ với nghĩa vụ quốc gia, cụ thể như điểm a Điều 2 công ước CEDAW quy định các quốc gia thành viên cần tiến hành: “Đưa nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào Hiến pháp quốc gia hoặc các văn bản pháp luật thích hợp khác nếu vấn đề này chưa được đề cập
    12. 20. 13 tới và bảo đảm việc thực thi nguyên tắc này trong thực tế bằng pháp luật và các biện pháp thích hợp khác” . Tuy nhiên, công ước này không đưa ra định nghĩa về “bình đẳng nam nữ” (bình đẳng giới) là gì? thay vào đó, thuật ngữ “phân biệt đối xử với phụ nữ” được định nghĩa chi tiết ngay tại Điều 1, theo đó: Phân biệt đối xử đối với phụ nữ có nghĩa là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, thụ hưởng, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng nam nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào . Theo định nghĩa này, nội hàm của BĐG bao gồm: (1) nam và nữ có vị trí, vai trò ngang nhau; (2) nam và nữ được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực
    13. 21. 14 của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và (3) thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Như vậy, BĐG thực chất là bình đẳng về vị trí, vai trò và bình đẳng về cơ hội cống hiến, cơ hội phát triển và cơ hội thụ hưởng giữa nam giới và nữ giới trong gia đình cũng như trong xã hội. Trên thực tế, vẫn còn tồn tại quan niệm phổ biến về vai trò của người phụ nữ gắn với công việc chăm sóc gia đình và con cái. Đây được xác định là trách nhiệm đương nhiên dựa vào yếu tố giới tính nam và giới tính nữ. Và điều này đã tạo nên sự bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, khi người vợ vì gắn với chức năng chăm sóc gia đình và con cái, không ít trường hợp trong số họ phải nghỉ làm, hệ quả tất yếu trở thành người sống phụ thuộc vào kinh tế của người chồng; hoặc thậm chí có điều kiện đi làm thì họ vẫn không thoát khỏi trách nhiệm đương nhiên là chăm sóc gia đình và con cái và không nhận được sự chia sẻ, cảm thông từ phía người chồng. Điều này tạo nên sự bất bình đẳng giữa nam và nữ vì lý do quan niệm phân biệt đối xử về vị trí, vai trò của nam giới và nữ giới trong gia đình và trong xã hội. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra đó là khái niệm BĐG chỉ hàm ý đến sự bình đẳng giữa nam giới và nữ giới đã toàn diện hay chưa? Trước tiên chúng ta không thể phủ nhận quan niệm BĐG là bình đẳng giữa nam và nữ rất phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, ngay trong chính giới nam hoặc giới nữ lại có những bất bình đẳng nhất định mà pháp luật Việt Nam còn đang bỏ ngỏ. Ví dụ, với một người đàn ông dị tính (là người “bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với người khác giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra” ) thực sự còn khác nhau rất nhiều ở sự kỳ thị, phân biệt đối xử. Hiến pháp và pháp luật hiện hành không cấm nhưng cũng không thừa nhận những người đồng tính kết hôn. Và như vậy, rõ ràng, ngay
    14. 22. 15 trong chính một giới tính nam, người dị tính và người đồng tính đã có sự phân biệt đối xử về quyền. Vì vậy, “Bình đẳng giới cần đề cập đến sự bình đẳng ngay trong một giới (giữa các bản dạng giới, xu hướng tính dục” , cấm tuyên truyền về đồng tính (ví dụ như Thành phố Xanhpetecbua của Nga)… Việc ghi nhận nguyên tắc cấm sự kỳ thị về xu hướng tính dục, bản dạng giới là điều hoàn toàn phù hợp với xu hướng nhân quyền hiện nay. Chính điều đó sẽ làm cho quan niệm về BĐG được toàn diện hơn nữa. Như vậy, BĐG cần được hiểu với một nghĩa rộng hơn và toàn diện hơn là việc chỉ hiểu là sự bình đẳng giữa giới nam và giới nữ hiện nay. Và trong luận văn này, tác giả xem xét, đánh giá BĐG trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam ở nghĩa rộng mà nhiều quốc gia hiện nay đang ghi nhận và phù hợp với thực tiễn xã hội hiện nay. 1.1.3. Khái niệm Hôn nhân và gia đình HN&GĐ là hai khái niệm độc lập, thường đi liền với nhau và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tìm hiểu về từng khái niệm thực chất là tìm hiểu về đối tượng mà pháp luật HN&GĐ điều chỉnh – đối tượng nghiên cứu của Luận văn này. Về khái niệm hôn nhân, theo Từ điển Tiếng Việt, “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” . Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở Châu âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” . Ở Việt Nam, các giáo trình Dân luật dưới chế độ Sài gòn cũ chưa đưa ra khái niệm cụ thể về hôn nhân mà phần nhiều mới đưa ra khái niệm “giá thú”: “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định” . Theo một số luật gia Sài gòn, khái niệm “giá thú” bao gồm có hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất giá thú là hành vi phối hợp vợ chồng (kết hôn). Theo nghĩa thứ hai là tình trạng của hai người đã chính thức lấy nhau làm vợ chồng và thời gian hai người ăn ở với nhau . Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 quy định hôn nhân là “quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” . Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” .. Đây được xác định là một trong những quyền tự do cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và các quốc gia cam kết bằng những hành động riêng rẽ hay phối hợp, sẽ cộng tác với Liên Hợp Quốc trong việc tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo. 1.2.2.2. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (International Convention on Economic, cultural, social rights – ICESCR) tại Điều 10 quy định: Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận rằng: 1. Cần dành sự giúp đỡ và bảo hộ tới mức tối đa có thể được cho gia đình – tế bào cơ bản và tự nhiên của xã hội – nhất là đối với việc tạo lập gia đình và trong khi gia đình chịu trách nhiệm chăm
    15. 28. 21 f. Quyền và trách nhiệm như nhau trong việc trông nom, giám hộ, bảo trợ, nhận uỷ thác và nhận con nuôi hoặc có những quy định tương tự về vấn đề này được thể hiện trong luật pháp quốc gia; trong mọi trường hợp lợi ích của con cái phải được đặt lên trên hết; g. Vợ chồng có quyền như nhau trong việc lựa chọn tên họ, chuyên môn và nghề nghiệp của mình; h. Vợ chồng có quyền như nhau trong việc sở hữu, mua sắm, kiểm soát, quản lý, hưởng thụ và sử dụng tài sản, dù đó là tài sản không phải bỏ tiền ra mua hay có giá trị lớn. 2. Việc hứa hôn và kết hôn của trẻ em phải bị coi là không có hiệu lực pháp lý và phải tiến hành mọi hành động cần thiết, kể cả về mặt pháp luật nhằm quy định độ tuổi tối thiểu có thể kết hôn và bắt buộc phải làm thủ tục đăng ký kết hôn chính thức . Như vậy, theo quy định nêu trên, các quốc gia thành viên công uớc CEDAW có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp thích hợp và không chậm trễ nhằm bảo đảm xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… trong đó có lĩnh vực HN&GĐ. Bên cạnh các biện pháp thích hợp và không chậm trễ, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ áp dụng những biện pháp đặc biệt tạm thời. Những biện pháp đặc biệt tạm thời được các quốc gia thông qua nhằm thúc đẩy nhanh bình đẳng trên thực tế giữa nam giới và phụ nữ sẽ không bị coi là phân biệt đối xử theo định nghĩa được nêu ra trong Công ước CEDAW, nhưng cũng không hoàn toàn vì thế mà duy trì những chuẩn mực không bình đẳng hoặc tách biệt. Những biện pháp này sẽ chấm dứt khi các mục tiêu bình đẳng về cơ hội và đối xử đạt được.
    16. 32. 25 biện pháp, kể cả dân sự và hình sự, để chống lại nạn bạo hành phụ nữ trong gia đình, bao gồm việc thiết lập các trung tâm phụ hồi và các nhà tạm lánh cho những phụ nữ là nạn nhân của tệ nạn này. Tóm lại, quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ một lần nữa khẳng định rõ hơn nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm quyền bình đẳng thực chất của phụ nữ với nam giới trong các vấn đề về quốc tịch, về kinh tế, việc làm, tài sản đã được quy định trong các điều khoản trước của công ước CEDAW, tuy nhiên, nhấn mạnh các quyền này trong các quan hệ HN&GĐ – những quan hệ thường chịu ảnh hưởng nặng nề bởi những tư tưởng, định kiến về vị trí, vai trò giữa nam giới và nữ giới dẫn đến phân biệt đối xử đối với phụ nữ. 1.3. Một số yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam Một hệ thống pháp luật HN&GĐ đầy đủ, toàn diện và tương thích với pháp luật quốc tế về quyền con người là một trong những điều kiện đặc biệt quan trọng để bảo đảm quyền bình đẳng thực chất của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định của pháp luật HN&GĐ trên thực tế ở Việt Nam chịu tác động, ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố về khách quan, chủ quan, tích cực và tiêu cực. Một số yếu tố tác động, ảnh hưởng có thể chỉ ra như sau: 1.3.1. Những yếu tố tích cực gồm: (1) Hệ thống pháp luật Việt Nam từ lâu đời đã bảo vệ người phụ nữ; (2) Tác động của hội nhập quốc tế và các phong trào của cộng đồng quốc tế đã và đang tác động khá tích cực đến tư tưởng của chính các bên nam và nữ trong quan hệ HN&GĐ; (3) Trình độ kinh tế quốc gia ngày càng được cải thiện, thông qua đó vị thế, vai trò và đời sống của bản thân người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội ngày càng được nâng lên.
    17. 33. 26 1.3.2 Những yếu tố gây cản trở đến việc thực thi pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam gồm: (1) Các yếu tố về truyền thống, phong tục, tập quán của người Việt Nam hình thành từ xa xưa và vẫn mang dấu ấn đậm nét trong tư duy của một bộ phận không nhỏ người dân đó là những tư tưởng trọng nam khinh nữ… (2) Bất bình đẳng giới lặp đi lặp lại qua các thế hệ gia đình ở Việt Nam, điều này trở nên đặc biệt khi ở nhiều vùng, miền nông thôn, miền núi ở Việt Nam mô hình gia đình cùng chung sống giữa nhiều thế hệ vẫn đang tồn tại phổ biến; (3) Điều kiện kinh tế ở Việt Nam mặc dù đã có những bước cải thiện nhất định, song về cơ bản vẫn là một nước có nền kinh tế chậm phát triển, theo đó vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình nói riêng và trong xã hội nói chung chưa được cải thiện trong mối quan hệ với nam giới. Những yếu tố ảnh hưởng, tác động tích cực cũng như cản trở đến việc thực thi pháp luật HN&GĐ nêu trên cần được tính đến và xem xét cụ thể trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực thi pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam. 1.4. Các điều kiện cơ bản bảo đảm thực thi pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Để bảo đảm thực thi pháp luật HN&GĐ trên thực tế cuộc sống, từ góc độ của Nhà nước với tư cách là cơ quan ban hành và tổ chức thực thi pháp luật phải bảo đảm các điều kiện như sau: 1.4.1. Điều kiện về thể chế: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ phải được ban hành đầy đủ và toàn diện, bảo đảm tính cụ thể, chi tiết để việc áp dụng pháp luật được thống nhất và đầy đủ. Đây là điều kiện trọng tâm trong bối cảnh Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật HN&GĐ năm 2014 ngày 19/6/2014 và Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
    18. 35. 28 Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 2.1. Quá trình phát triển pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam từ lăng kính bình đẳng giới Pháp luật HN&GĐ là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ, đây là công cụ quan trọng mà thông qua đó, trật tự xã hội trong lĩnh vực HN&GĐ được thiết lập và cũng trên cơ sở những quy định này, mục tiêu về BĐG mà mỗi Nhà nước, quốc gia mong muốn đạt được thể hiện khá rõ nét. Có thể thấy rằng, pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam có lịch sử ra đời và phát triển cùng với quá trình ra đời, phát triển của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Nghiên cứu lịch sử pháp luật HN&GĐ Việt Nam từ lăng kính BĐG, có thể khẳng định, ngay từ thời kỳ phong kiến – thời kỳ mà BĐG về HN&GĐ được xác định theo các nguyên lý của Nho giáo, với tư tưởng “Phụ quyền” và “Gia trưởng”. Đây là những tư tưởng chủ đạo trong các quan hệ HN&GĐ, tục ngữ truyền lại có câu: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Song, trong những quy định pháp luật về HN&GĐ thời kỳ đó cũng đã thể hiện tư duy pháp lý hướng đến các giá trị nhân văn và quyền con người mà đỉnh cao là những quy định tại Bộ luật Hồng Đức thời vua Lê Thánh Tông (1470-1497). Trong Bộ luật này có dành một nội dung lớn bênh vực và bảo vệ quyền lợi cho cho người phụ nữ từ việc kết hôn, “Những nhà quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái kẻ lương dân, thì xử tội phạt, biếm hay đồ”. Từ Cách mạng tháng 8/1945 đến nay, Việt Nam có 04 đạo luật trong lĩnh vực HN&GĐ, Luật HN&GĐ năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 và gần đây nhất Luật HN&GĐ năm 2014 đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Các đạo luật này cũng đã thể hiện rõ nét sự tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em trong quan hệ HN&GĐ. Điểm
    19. 37. 30 chung của cả 04 đạo Luật này đó là Nhà nước Việt Nam xây dựng nhất quán chế độ hôn nhân tự do, tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con. Trên cơ sở những nguyên tắc chung, BĐG trong từng đạo luật được thể hiện qua các chế định cụ thể về kết hôn, về quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với nhau, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, quan hệ khi ly hôn… Luật HN&GĐ năm 2014 được Quốc hội thông qua trên cơ sở sự kế thừa các đạo luật HN&GĐ trước đó, đặt trong mối quan hệ thống nhất với Luật Bình đẳng giới – đạo luật thể hiện tập trung quan điểm của Nhà nước về vấn đề BĐG và kịp thời bổ sung các quy định mới, sửa đổi các quy định cũ nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trên thực tiễn trong lĩnh vực HN&GĐ. Có thể thấy rằng, BĐG là nguyên tắc xuyên suốt trong đạo luật này và ở đó pháp luật HN&GĐ thể hiện tính nhân văn sâu sắc. 2.2. Thực trạng bảo đảm bình đẳng giới trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam 2.2.1. Bình đẳng giới thể hiện trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ Hôn nhân và gia đình Việt Nam Nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ được hiểu là những tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chế độ HN&GĐ Việt Nam. Hiện nay, Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định 05 nguyên tắc/nhóm nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ. Từ góc độ BĐG, có thể thấy những nguyên tắc này thể hiện rõ nét tư tưởng bảo vệ nhân quyền, bảo vệ quyền lợi của những nhóm người dễ bị tổn thương là phụ nữ, trẻ em trong quan hệ HN&GĐ. Cụ thể:
    20. 38. 31 2.2.1.1. Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Đây là nguyên tắc kế thừa, phát huy trong suốt chiều dài lịch sử pháp luật HN&GĐ Việt Nam, từ Bộ luật Hồng Đức đã có quy định hình phạt áp dụng cho hành vi cưỡng ép hôn nhân “Những nhà quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái kẻ lương dân, thì xử tội phạt, biếm hay đồ” – đây là nhóm hành vi ảnh hưởng đến nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân mà Nhà nước đã quy định. Hôn nhân tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng là nguyên tắc trái ngược với triết lý vốn ảnh hưởng sâu sắc trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam đó là “Trai thời năm thê bảy thiếp. Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”. Nguyên tắc này bảo đảm xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, bình đẳng, xóa đi cảnh “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung, kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” đã đi vào thơ của Hồ Xuân Hương trong tác phẩm “Làm lẽ”, qua đó, bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ so với nam giới trong quyền kết hôn và vợ chồng có quyền bình đẳng trong mọi quan hệ từ trong hôn nhân, trong quan hệ về nhân thân, tài sản, quan hệ cha mẹ với con, trong quan hệ cấp dưỡng, trong ly hôn… 2.2.1.2. Nguyên tắc hôn nhân giữa các công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
    21. 39. 32 Nguyên tắc này thể hiện quan điểm của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi cá nhân trong HN&GĐ mà không bị phụ thuộc vào các yếu tố về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng và quốc tịch. Điều này phù hợp với tính phổ quát của quyền con người được pháp luật nhân quyền quốc tế ghi nhận. Và dưới góc độ BĐG, nó chính là cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền bình đẳng và tôn trọng giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ không phụ thuộc vào người vợ/người chồng thuộc về dân tộc nào, theo hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào và mang quốc tịch Việt Nam hay không mang quốc tịch Việt Nam. Cụ thể hóa nguyên tắc này, các quy định về quan hệ nhân thân giữa vợ chồng tại mục 1 Chương III Luật HN&GĐ năm 2014 và Chương VII về Quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài thể hiện đậm nét nguyên tắc này. 2.2.1.3. Nguyên tắc xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con. Nguyên tắc này thể hiện rõ mục tiêu hướng tới trong xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Trong gia đình đó các thành viên gia đình, không phân biệt vợ hay chồng, cha, mẹ hay con, ông, bà hay cháu, con trai hay con gái đều có nghĩa vụ chung là tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Đây được coi là trách nhiệm bình đẳng của mỗi cá nhân trong gia đình. Nguyên tắc này cũng thể hiện rõ quan điểm BĐG của Nhà nước trong HN&GĐ đó là không phân biệt đối xử giữa các con. Sự không phân biệt đối xử giữa các con bao gồm không phân biệt đối xử giữa con trưởng, con thứ, con nuôi, con đẻ và đặc biệt là không phân biệt đối xử giữa con trai và con gái… Nguyên tắc này chi phối toàn bộ các quy định của pháp luật HN&GĐ Việt Nam từ quan hệ cha mẹ và con, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ tài sản, thừa kế tài sản, quan hệ cấp dưỡng…
    22. 40. 33 2.2.1.4. Nguyên tắc Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền HN&GĐ; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật vốn là những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, sự bảo vệ đối với các nhóm đối tượng này trong thực hiện các quyền HN&GĐ được quy định thành một nguyên tắc trong chế độ HN&GĐ Việt Nam là sự bảo đảm bình đẳng trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt – một trong những nguyên tắc được ghi nhận trong pháp luật nhân quyền quốc tế. Điều này hoàn toàn phù hợp với hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế, bên cạnh các văn kiện pháp lý quốc tế quy định quyền con người cho mọi cá nhân như UDHR, ICCPR, ICESCR, Pháp luật nhân quyền quốc tế còn có các Công ước riêng bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của những nhóm người cụ thể như Công ước CEDAW, Công ước về quyền của trẻ em (CRC), Công ước về quyền của người khuyết tật (ICRPD)… 2.2.1.5. Nguyên tắc kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về HN&GĐ Truyền thống được hiểu là “Thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống, nếp nghĩa, được truyền lại từ thế hệ này, sang thế hệ khác” . Như vậy, có thể thấy truyền thống văn hóa, đạo đức là những thói quen, chuẩn mực được hình thành chính trong đời sống quan hệ giữa các cá nhân với nhau, được thừa nhận chung và nó thường “ăn sâu, bám dễ” vào tư duy của mỗi con người. Tính bền vững và bảo thủ là những đặc trưng trong truyền thống và đạo đức. Và hơn bất cứ lĩnh vực nào, HN&GĐ là lĩnh vực hình thành và được điều chỉnh bởi khá nhiều các truyền thống, đạo đức của
    23. 41. 34 dân tộc, của vùng, miền và của mỗi gia đình. Những truyền thống văn hóa, đạo đức của dân tộc, của vùng, miền, của gia đình có thể góp phần xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, ấm no, hạnh phúc nhưng nó cũng có thể có tác động tiêu cực, phá vỡ đi mục tiêu gia đình bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng bởi những phong tục, tập quán, chuẩn mực đạo đức lạc hậu. Việc ghi nhận nguyên tắc kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về HN&GĐ, một mặt thể hiện sự tôn trọng, phát huy và bảo vệ của Nhà nước đối với những truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc trong HN&GĐ, coi đây là nguồn để xây dựng pháp luật, là cánh tay nối dài của pháp luật HN&GĐ trong thiết lập trật tự HN&GĐ trong đó có những giá trị về nhân quyền. Mặt khác, với tiêu chí truyền thống văn hóa và đạo đức tốt đẹp, nguyên tắc này là bảo đảm đảm pháp lý loại bỏ những tập quán lạc hậu đã và đang tồn tại trong các vùng, miền, trong mỗi gia đình Việt Nam với những tư tưởng không dễ để xóa bỏ và đang là bức “trần kính” cản trở việc thực hiện các mục tiêu BĐG như tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”. Thông qua đó bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy tốt hơn quyền con người, quyền BĐG thực chất trong quan hệ HN&GĐ Việt Nam. Qua một số phân tích nêu trên cho thấy, những nguyên tắc cơ bản trong chế độ HN&GĐ Việt Nam nhìn từ góc độ giới đã thể hiện rõ nét quản điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng và bảo vệ chế độ HN&GĐ Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và một trong những tiêu chí quan trọng của chế độ HN&GĐ đó chính là bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa nam giới và nữ giới. Đây không chỉ là một tiêu chí đánh giá mà còn là điều kiện cần để bảo đảm cho một gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc như mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phấn đấu.
    24. 43. 36 hôn cũng không khuyến khích việc kết hôn sớm của công dân, vì Báo cáo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, tuổi kết hôn trung bình của nam, nữ đều cao hơn khá nhiều so với tuổi kết hôn được quy định trong Luật; (3) việc quy định nam, nữ đủ 18 tuổi trở lên được kết hôn là để bảo đảm sự tương thích của pháp luật Việt Nam với cam kết quốc tế của Việt Nam về BĐG; (4) Các nước trên thế giới khi quy định về tuổi kết hôn đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, cách tiếp cận được áp dụng ở hầu hết các nước là người đã thành niên đương nhiên được quyền kết hôn và tuổi kết hôn được tính theo nguyên tắc tròn đủ ; – Điều 2 Công ước về kết hôn tự nguyện, tuổi kết hôn tối thiểu và việc đăng ký kết hôn quy định:
    25. 45. 38 Quan điểm của tác giả luận văn cho rằng, để bảo đảm quyền BĐG giữa nam và nữ về quyền kết hôn, độ tuổi tối thiểu mà pháp luật công nhận cho quyền kết hôn của nam giới và nữ giới nên bằng nhau và bằng đủ 18 tuổi trở lên. Vì đây là độ tuổi được xác định là mỗi cá nhân đã đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức, thực hiện hành vi và chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân mình theo quy định của Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, đây cũng là độ tuổi chín về tâm sinh lý, sức khỏe sinh sản. Việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu của nam giới cao hơn nữ giới 02 tuổi vô hình chung tạo nên sự bất bình đẳng giữa nam và nữ khi mà nam giới kết hôn ở độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên đến dưới 20 tuổi bị coi là bất hợp pháp trong khi đó với nữ giới thì lại được coi là hợp pháp. 2.2.2.2. Điều kiện về sự tự nguyện: Điểm b khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” . Điều kiện về kết hôn tự nguyện bảo đảm hạn chế và loại trừ các trường hợp cưỡng ép hôn nhân trên thực tế vẫn xảy ra vì những lý do như phong tục tập quán hoặc vì lý do kinh tế. Trên thực tế, ở Việt Nam vẫn tồn tại những phong tục, tập quán như tục “cướp vợ” (hoặc kéo vợ) của người H’Mông, tục xem tuổi ở nhiều vùng miền, dân tộc… những phong tục, tập quán này đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền tự quyết định, định đoạt hôn nhân của mỗi bên, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc hôn nhân tự nguyện. Vì lý do kinh tế cũng là một trong những nguyên nhân mà không ít cô gái ở Việt Nam đã kết hôn với người nước ngoài là người Đài Loan, Hàn Quốc… trong khi bản thân họ không hề có hiểu biết về văn hóa,
    26. 46. 39 phong tục, tập quán và đặc biệt là ngôn ngữ bất đồng với gia đình nhà chồng, điều này dẫn đến không ít những vụ việc đáng tiếng đã xảy ra với những cô dâu Việt ở nước ngoài. Việc quy định điều kiện kết hôn tự nguyện là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan quản lý có những giải pháp trong việc hạn chế các trường hợp kết hôn không tự nguyện, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người của mỗi bên trong quan hệ hôn nhân. 2.2.2.3. Điều kiện về năng lực hành vi dân sự, theo đó, nam, nữ kết hôn với nhau cần bảo đảm không bị mất năng lực hành vi dân sự, đây thực chất là một trong những điều kiện nhằm bảo đảm tính tự nguyện trong quan hệ hôn nhân đã được Luật HN&GĐ quy định như đã nêu trên. 2.2.2.4. Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn quy định tại điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014. Khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định các trường hợp này gồm: a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng [36, Điều 5]. Một trong những điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000 về điều kiện kết hôn đó là Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Tuy nhiên Nhà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị Ở Việt Nam
  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Làm Thế Nào Để Đạt Được Mục Tiêu Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị?
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Chính Sách Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới
  • Tăng Cường Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới?
  • Những Biện Pháp Nhằm Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Pháp Luật?
  • Tăng Cường Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Chính Sách Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới
  • Làm Thế Nào Để Đạt Được Mục Tiêu Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị?
  • Nội dung này được Luật sư Nguyễn Thiện Hùng tư vấn như sau:

    Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

    Về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, tại Nghị định số 48/2009/NĐ-CP của Chính phủ có một số quy định như sau:

    1. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này.

    2. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

    a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội;

    b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam để bảo đảm đạt đủ tiêu chuẩn chuyên môn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật;

    c) Hỗ trợ, tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam để tăng cường sự chia sẻ giữa nữ và nam trong công việc gia đình và xã hội phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới;

    d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam để thực hiện chính sách ưu tiên trong từng lĩnh vực cụ thể;

    đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn và việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam để bảo đảm bình đẳng giới.

    Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định rằng các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ đã thay đổi dẫn đến việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không còn cần thiết, nghĩa là khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi 16: Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Được Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào?
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Lao Động
  • Nghị Định Quy Định Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Chính Phủ
  • Bình Đẳng Giới Từ Ngay Trong Mỗi Gia Đình
  • Bình Đẳng Giới Trong Quản Lý Cán Bộ, Công Chức
  • Các Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • #1 Biện Pháp Lồng Ghép Bình Đẳng Giới Trong Xây Dựng Vbqppl
  • Trường Chính Trị Tỉnh Ninh Bình
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Nâng Cao Năng Lực Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Và Vai Trò Của Phụ Nữ Trong Lãnh Đạo, Quản Lý Thời Kỳ Cách Mạng 4.0
  • 1. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

    2. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

    a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội;

    b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam để bảo đảm đạt đủ tiêu chuẩn chuyên môn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật;

    c) Hỗ trợ, tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam để tăng cường sự chia sẻ giữa nữ và nam trong công việc gia đình và xã hội phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới;

    d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam để thực hiện chính sách ưu tiên trong từng lĩnh vực cụ thể;

    đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn và việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam để bảo đảm bình đẳng giới.

    Điều 15. Đề nghị, kiến nghị ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

    1. Quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật.

    2. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị Chính phủ ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo thẩm quyền; đề nghị Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo thẩm quyền.

    3. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có thể đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo thẩm quyền.

    4. Các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân có thể đề nghị, kiến nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo thẩm quyền.

    5. Trình tự, thủ tục đề nghị, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới thực hiện theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    6. Hợp đồng đề nghị ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới gồm các nội dung sau đây:

    a) Tác động của các quy định pháp luật hiện hành đối với nam, nữ và sự chênh lệch, bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới trên thực tế.

    b) Nội dung của biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới;

    c) Dự báo tác động của biện pháp đối với nữ và nam sau khi được ban hành;

    d) Xác định nguồn nhân lực, tài chính cần thiết để triển khai các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bất Bình Đẳng Giới Và Hướng Khắc Phục Trong Gia Đình
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Bình Đẳng Giới Ở Kiên Giang
  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể:những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể
  • Nghiệm Thu Đề Tài Khoa Học “nghiên Cứu Các Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay”
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Những Biện Pháp Nhằm Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Pháp Luật?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Chính Sách Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới
  • Làm Thế Nào Để Đạt Được Mục Tiêu Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị?
  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị Ở Việt Nam
  • Trả lời:

    Theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật bình đẳng giới thì: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

    Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

    Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm (Điều 19):

    a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng;

    b) Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam;

    c) Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam;

    d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam;

    đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

    e) Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

    Ngoài ra, Luật cũng quy định cụ thể một số biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực cụ thể như sau:

    + Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia vềbình đẳng giới;

    + Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia vềbình đẳng giới.

    + Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

    + Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

    + Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

    + Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

    + Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

    + Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

    + Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới?
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới
  • Câu Hỏi 16: Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Được Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào?
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Lao Động
  • Nghị Định Quy Định Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Chính Phủ
  • Những Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Biện Pháp Nhằm Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Pháp Luật?
  • Tăng Cường Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Chính Sách Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới
  • Làm Thế Nào Để Đạt Được Mục Tiêu Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị?
  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Trả lời:

    Theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật bình đẳng giới 2006 thì: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

    Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

    Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm (Điều 19):

    a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng;

    b) Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam;

    c) Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam;

    d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam;

    đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

    e) Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

    Ngoài ra, Luật cũng quy định cụ thể một số biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực cụ thể như sau:

    – Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm (khoản 5 Điều 11)

    + Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

    + Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

    – Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm (khoản 2 Điều 12):

    + Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

    + Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

    Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm (khoản 3 Điều 13):

    + Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

    + Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

    + Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

    – Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm (khoản 5 Điều 14):

    + Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

    + Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới
  • Câu Hỏi 16: Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Được Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào?
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Lao Động
  • Nghị Định Quy Định Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Chính Phủ
  • Bình Đẳng Giới Từ Ngay Trong Mỗi Gia Đình
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Quy Định Của Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới, Đánh Giá Thực Trạng Thực Hiện Tại Thừa Thiên Huế (Kỳ 1)
  • Tăng Cường Công Tác Bình Đẳng Giới Và Nâng Cao Vị Thế Của Phụ Nữ Và Trẻ Em Gái
  • Cần Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới
  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Giáo Dục
  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới
  • Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo quy định của pháp luật Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng; Đào tạo, bồi …

    Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo quy định của pháp luật

    Quy định của pháp luật hiện hành về Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

    Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

    Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

    1. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

    • Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội;
    • Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam để bảo đảm đạt đủ tiêu chuẩn chuyên môn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật;
    • Hỗ trợ, tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam để tăng cường sự chia sẻ giữa nữ và nam trong công việc gia đình và xã hội phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới;
    • Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam để thực hiện chính sách ưu tiên trong từng lĩnh vực cụ thể;
    • Quy định nữ được quyền lựa chọn và việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam để bảo đảm bình đẳng giới.

    2. Đề nghị, kiến nghị ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

    • Quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật.
    • Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị Chính phủ ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo thẩm quyền; đề nghị Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo thẩm quyền.
    • Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có thể đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo thẩm quyền.
    • Các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân có thể đề nghị, kiến nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo thẩm quyền.
    • Trình tự, thủ tục đề nghị, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới thực hiện theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    • Hợp đồng đề nghị ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới gồm các nội dung sau đây:
      • Tác động của các quy định pháp luật hiện hành đối với nam, nữ và sự chênh lệch, bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới trên thực tế.
      • Nội dung của biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới;
      • Dự báo tác động của biện pháp đối với nữ và nam sau khi được ban hành;
      • Xác định nguồn nhân lực, tài chính cần thiết để triển khai các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

    Luật Toàn Quốc hy vọng những gì chúng tôi cung cấp nêu trên sẽ giúp cho quý khách hiểu được phần nào quy định của pháp luật. Còn bất cứ vướng mắc gì quý khách vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật hôn nhân miễn phí 24/7: 1900 6500 để gặp Luật sư tư vấn trực tiếp và yêu cầu cung cấp dịch vụ hoặc gửi thư về Email: [email protected]

    Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của quý khách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiền Giang: Giải Pháp Đảm Bảo Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực
  • Luận Văn Đề Tài Ảnh Hưởng Của Định Kiến Giới Đối Với Việc Thực Hiện Bình Đẳng Giới Và Giải Pháp Xóa Bỏ Định Kiến Giới
  • Giải Pháp Nào Cho Bình Đẳng Giới Tại Trung Tâm Học Tập Cộng Đồng?
  • Hà Nội: Tọa Đàm Bàn Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Năm 2014
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới Và Phòng Chống Bạo Lực Giới Cần Đồng Bộ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội
  • Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách
  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Bình đẳng giới trong gia đình được thể hiện như thế nào? Trên thực tế vấn đề này được đảm bảo thực hiện ra sao?

    Dưới góc độ khoa học pháp lý, bình đẳng giới trong gia đình là việc vợ và chồng, con trai và con gái, các thành viên nam và nữ trong gia đình có vị trí, vai trò ngang nhau, quyền được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của gia đình như nhau, quyền được thụ hưởng về thành quả phát triển của gia đình và xã hội ngang nhau, quyền được tham gia quyết định các vấn đề của bản thân và của gia đình. Trên cơ sở các quyền đó, các thành viên trong gia đình được tự do tham gia vào các công việc gia đình và ngoài xã hội tùy theo khả năng và sở thích của mình, được tự do lựa chọn những vai trò giống nhau hoặc khác nhautrong gia đình tùy theo mục đích của mỗi người, được tự do lựa chọn cách thức thụ hưởng các thành quả tùy theo sở thích của mỗi người. Tuy nhiên, bình đẳng không có nghĩa là bằng nhau, do đặc điểm sinh học khác nhau và tính chất vai trò khác nhau mà sẽ có những sự bình đẳng thực chất phù hợp với từng cá nhân trong gia đình.

    Vai trò, ý nghĩa của bình đẳng giới trong gia đình

    Phụ nữ bình đẳng với nam giới không chỉ góp sức cho xã hội giàu mạnh, văn minh mà trong gia đình là ngọn nguồn của hạnh phúc, đã sản sinh và nuôi dưỡng thế hệ trẻ tốt đẹp. Bình đẳng nam nữ là nền tảng văn hoá của con người, của gia đình và hạnh phúc. Vai trò của phụ nữ được phát huy bình đẳng trong xã hội và trong gia đình, mang một ý nghĩa lớn đối với sự giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và truyền thống văn hoá của dân tộc. Văn hoá gia đình là nền tảng của văn hoá xã hội, ở đó vai trò của người phụ nữ với chức năng sàng lọc và giữ gìn văn hoá dân tộc mang ý nghĩa đặc biệt. Để phụ nữ làm được chức năng quan trọng này với gia đình và dân tộc, trước hết họ phải được bình đẳng để tiến bộ và theo kịp thời đại. Trong cuộc sống đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta lấy dân làm gốc, lấy việc trồng người để mưu cầu lợi ích trăm năm. Trồng người là sự nghiệp tạo dựng thế hệ công dân mới có đức, có tài, thể lực tốt mà gia đình là cái nôi ban đầu và người mẹ đồng thời cũng là người thầy dạy con ngay từ thời mới còn chập chững. Không phải ngẫu nhiên mà phương Đông ta đề cao Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nguyễn Du có câu “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”. Trong dân gian truyền tụng câu “Làm mẹ phải biết để đức cho con”, đức thuộc phạm trù văn hoá.

    Người mẹ ViệtNam thời đại hôm nay đứng trước sứ mệnh sàng lọc và truyền nối để bảo vệ nền văn hoá dân tộc, trước tiên gia đình mình phải là người có đức, có trí, có lực. Họ phải được bình đẳng thì mới đạt được những chuẩn mực mang nội dung thời đại để từ đó xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dưỡng con cái trở thành con người mới, công dân mới xã hội chủ nghĩa. Trong gia đình, vợ chồng thương yêu, tôn trọng lẫn nhau thì con cái mới được chăm sóc đầy đủ và cảm nhận được sự ấm êm, hạnh phúc, luôn luôn là điển tựa cho con người vượt qua mọi thử thách.

    – Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước về thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới

    – Pháp luật quy định thế nào là bình đẳng giới?

    – Xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình

    Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6568 hoặc gửi thư về địa chỉ email: [email protected]

    THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

    – Tư vấn luật miễn phí qua điện thoại

    – Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kính Cận Chơi Đá Bóng Chính Hãng, Giá Tốt. Giao Hàng Toàn Quốc.
  • Tư Vấn Mua Kính Cận Đá Bóng
  • Kính Đá Bóng Cho Người Cận Thị
  • Giải Pháp Giúp Người Cận Thị An Toàn Chơi Bóng Đá
  • Giải Pháp Cho Người Cận Thị Đá Bóng
  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Tp.hồ Chí Minh: Đề Xuất Một Số Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Đối Với Công Chức, Viên Chức Nữ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Hà Nội: Tọa Đàm Bàn Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Năm 2014
  • Bình đẳng giới là nam và nữ đều được tiếp cận với giáo dục, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập, tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị,… Bình đẳng giới có nghĩa rằng không còn sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính, phụ nữ và nam giới cùng có địa vị bình đẳng trong xã hội. Bình đẳng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ hoàn toàn như nhau mà là các điểm tương đồng và khác biệt giữa họ được thừa nhận và tôn trọng.

    Tại sao phải thực hiện bình đẳng giới? Thực hiện bình đẳng giới là đảm bảo quyền con người. Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Thực hiện bình đẳng giới đem lại lợi ích cho phụ nữ và xã hội.

    – Nam giới ít khi làm việc nhà vì họ nghĩ rằng: Nam giới là trụ cột gia đình nên chỉ làm việc lớn; nam giới làm việc vặt sẽ mất thể diện với mọi người trong gia đình, bạn bè, hàng xóm; trong khi phụ nữ làm việc nhà khéo hơn nam giới; Trách nhiệm của phụ nữ là sinh đẻ, nuôi dạy con gắn với nội trợ trong gia đình; Mẹ nói năng nhẹ nhàng, tình cảm nên để mẹ dạy con tốt hơn còn bố nóng tính, hay quát mắng con làm con dễ sợ và bố chỉ dạy con việc lớn. Do vậy, nam giới không thường xuyên làm việc nhà, họ chỉ làm khi không có người phụ nữ nào giúp; nhưng trong thực tế nam giới cũng có thể làm tốt các công việc như đi chợ, nấu ăn, chăm sóc người già, trẻ con, người ốm, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo, chăm sóc, dạy dỗ con.

    – Cùng nhau chia sẻ việc nhà sẽ mang lại nhiều lợi ích:

    Nếu không được người chồng chia sẻ việc nhà thì người vợ phải làm quá nhiều việc nhà, bản thân người vợ phải chịu nhiều thiệt thòi, sức khỏe giảm sút, gầy yếu, nhanh già hơn chồng; có ít thời gian nghỉ ngơi, giải trí; thiếu thời gian học tập nên thiếu kiến thức về mọi mặt; không có thời gian tham gia các hoạt động chung của cộng đồng, nên thiếu mạnh dạn, tự ti, vị trí xã hội thấp dần; thiếu hiểu biết để cùng chồng bàn bạc các công việc gia đình và xã hội; quan hệ vợ chồng thiếu đồng cảm.

    Nếu được người chồng cùng gánh vác công việc gia đình, người vợ sẽ giảm gánh nặng công việc, có thời gian học tập, tham gia hoạt động xã hội để nâng cao kiến thức, mạnh dạn, tự tin trong cuộc sống, địa vị người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội được nâng cao; chị em có thời gian tham gia hoạt động thể dục thể thao rèn luyện sức khoẻ; có thời gian nghỉ ngơi, giải trí làm phong phú đời sống tinh thần, vui vẻ, trẻ lâu và không khí gia đình hòa thuận, hạnh phúc.

    Khi người bố không chia sẻ công việc gia đình thì quan hệ tình cảm giữa bố và con ít gần gũi, thiếu sự cảm thông; trẻ phát triển không toàn diện vì thiếu sự chăm sóc, dạy dỗ của người bố; trẻ em trai chịu ảnh hưởng của tính gia trưởng và thiếu trách nhiệm; trẻ em gái trở lên tự ti, mặc cảm, an phận.

    Khi người bố tham gia nhiều hơn vào việc nhà sẽ mang lại nhiều lợi ích cho con cái; trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh, thông minh, ngoan ngoãn; con cái tự hào về bố, mẹ và gia đình; con học tập gương bố để tự giác làm việc nhà; quan hệ tình cảm bố con gắn bó hơn; trẻ sớm có hiểu biết về bình đẳng giới.

    Người chồng cũng tự hào có gia đình hạnh phúc, vợ đẹp, con khôn; thông cảm hơn với sự vất vả, khó khăn của người vợ; thạo việc gia đình và dạy con làm tốt hơn; là tấm gương tốt cho con noi theo; có uy tín hơn đối với các con.

    – Vẫn còn các bậc cha mẹ quan niệm con gái chỉ cần học vừa đủ. Khi gia đình gặp khó khăn về kinh tế hoặc thiếu lao động thì các bậc cha mẹ thường nghĩ đến việc cho con gái nghỉ học, không xem xét khả năng các con. Một số bậc cha mẹ thường nghĩ rằng con gái là con người ta nên ở nhà giúp đỡ bố mẹ một thời gian rồi đi lấy chồng.

    Nhiều ông bố không quan tâm tới việc việc học hành của con mà giao phó hoàn toàn cho nhà trường và người mẹ. Nhiều ông bố cho rằng: bố nóng tính hay quát mắng con nên dạy con thường làm con sợ, khó tiếp thu bài.

    – Song thực tế nam giới hoàn toàn có khả năng làm tốt và làm chu đáo tất cả các công việc giáo dục con, giúp con phát triển toàn diện bằng cách hướng dẫn, khuyến khích, quan tâm tới việc học tập của con như: Mua sách vở, đồ dùng học tập cho con; họp phụ huynh; đưa con đi học; hàng ngày kiểm tra sách vở, nhắc nhở con học bài; giải đáp thắc mắc của con; dạy con biết cách cư xử với mọi người trong gia đình và ngoài xã hội; tâm tình, trò chuyện với con; động viên, khen ngợi khi con làm được những việc tốt.

    – Cả bố và mẹ phải hiểu rằng việc học hành là cần thiết đối với cả trẻ em gái và trẻ em trai, việc phân biệt đối xử giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong giáo dục là vi phạm quyền trẻ em.

    – Vợ, chồng có kiến thức về chăm sóc sức khoẻ sinh sản sẽ tự tin, chủ động lựa chọn và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản có lợi nhất.

    – Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong thực hiện kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khoẻ sinh sản sẽ có sức khoẻ, trẻ trung, nhan sắc tốt hơn; bên cạnh đó người chồng được hưởng hạnh phúc nhiều hơn do được vợ quan tâm chăm sóc nhiều hơn. Gia đình có điều kiện và cơ hội phát triển kinh tế, nuôi dạy con tốt hơn. Vợ, chồng có điều kiện tham gia hoạt động xã hội, được tận hưởng hạnh phúc nhiều hơn.

    – Đời sống vợ chồng sẽ bền vững và hạnh phúc hơn khi cả nam và nữ đều chủ động tự nguyện kiểm tra sức khỏe trước khi đăng kí kết hôn, để biết về nhau xem có ai bị mắc các bệnh di truyền, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV… để sức khoẻ gia đình được tốt hơn.

    4. Trong phòng, chống bạo lực gia đình

    – Khi vợ mang thai người chồng cần: giúp vợ làm việc nhà; đưa vợ đi khám thai; đảm bảo dinh dưỡng, chế độ nghỉ ngơi, động viên tinh thần cho vợ; không để vợ tiếp xúc với chất độc hại như phun thuốc trừ sâu…Sau khi sinh: vợ, chồng lựa chọn một biện pháp tránh thai phù hợp; cùng chăm sóc, nuôi dạy con với tất cả tình yêu thương và khả năng tốt nhất; cha và mẹ tạo điều kiện để các con được tiếp cận các thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

    – Nam giới, người chồng hãy tránh xa các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện rượu, nghiện ma tuý, mại dâm,…

    – Phụ nữ, người vợ chủ động tìm hiểu các quyền mà phụ nữ được hưởng theo quy định của pháp luật, từ đó có hành vi đúng đắn trong quan hệ ứng xử với chồng và mọi người trong gia đình.

    – Người bị bạo hành cần báo ngay với với các tổ chức, cơ quan có chức năng để được tư vấn và hỗ trợ giải quyết.

    – Mỗi người dân khi phát hiện các trường hợp bị bạo hành phải báo ngay cho lực lượng an ninh địa phương biết để xử lý kịp thời.

    1. Trách nhiệm của gia đình 2. Trách nhiệm của c án bộ, hội viên, phụ nữ:

    5. Vợ, chồng cùng tham gia bàn bạc, quyết định các vấn đề của gia đình như :Phát triển kinh tế gia đình, mua sắm tài sản gia đình; định hướng nghề nghiệp cho con…

    – Tích cực học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới; đồng thời là thành viên tích cực tuyên truyền về bình đẳng giới nhằm góp phần nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới.

    – Gương mẫu thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới;

    – Chia sẻ công việc gia đình cùng chồng con, các thành viên trong gia đình để có thêm thời gian nghỉ ngơi, giải trí, chăm sóc sức khoẻ, tham gia học tập nâng cao trình độ về mọi mặt và trình độ chuyên môn nghề nghiệp;

    3. Trách nhiệm của các cấp Hội phụ nữ

    – Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân.

    – Giáo dục, truyền thông và vận động xã hội thay đổi nhận thức về vai trò giới, bình đẳng giới trong gia đình

    – Tuyên truyền, phổ biến, vận động gia đình hội viên, phụ nữ thực hiệnLuật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình tới cán bộ, hội viên; tổ chức các hình thức truyền thông về bình đẳng giới trong gia đình nhân ngày gia đình Việt Nam 28/6; tháng hành động bình đẳng giới;…

    – Xây dựng các mô hình sinh hoạt tổ nhóm hoặc câu lạc bộ phụ nữ; tổ chức các diễn đàn trao đổi về bình đẳng giới; tổ chức thi tìm hiểu luật;…nhằm thu hút, nâng cao nhận thức cho hội viên, phụ nữ và nam giới về bình đẳng giới; tập trung vào các nội dung như chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ quyền lợi giữa vợ và chồng, vai trò của nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, giáo dục con, phòng chống bạo lực gia đình;

    – Tập huấn cho đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở và đội ngũ công tác viên, huy động cả nam giới, trang bị kiến thức và kỹ năng lồng ghép giới cho thành viên Ban vì sự tiến bộ phụ nữ cùng cấp.

    – Tổ chức các hình thức biểu dương, nêu gương các gia đình, cá nhân thực hiện tốt bình đẳng giới xây dựng gia đình hạnh phúc.

    – Tổ chức các hoạt động hỗ trợ các gia đình phấn đấu đạt bình đẳng giới trong gia đình như: hỗ trợ vốn, kiến thức để chị em có điều kiện khởi nghiệp tăng thu nhập khẳng định địa vị kinh tế; hỗ trợ đào tạo về kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, khởi nghiệp; nuôi dạy con; tư vấn và dạy nghề….

    Theo nghiên cứu của trường đại học tại Anh Quốc thì “Đàn ông sắp mất vai trò trụ cột của gia đình”. Nghiên cứu này cho biết như sau:

    Phụ nữ trẻ trong độ tuổi từ 22 – 29 tuổi đang được trả lương trung bình nhiều hơn nam giới. Trung bình một giờ tiền lương theo giờ của phụ nữ là hơn 10 bảng Anh một giờ và với nam giới chỉ dưới 10 bảng một giờ. Một cuộc điều tra từ Viện Quản lý Chartered nhận thấy, phụ nữ trong độ tuổi 20 bây giờ đã được trả nhiều hơn nam giới khi cùng làm công việc. Nghiên cứu chỉ ra rằng, lương của phụ nữ trong năm tăng lên 2,4% so với 2,1% đối với nam giới.

    Mary Curnock Cook, Giám đốc điều hành của các trường Đại học và Cao đẳng Admission Service cho biết, tại cùng một nơi làm việc, cùng công việc thì hiệu quả công việc của phụ nữ cao hơn nam giới.

    Điều này có nghĩa là có sự đảo ngược vai trò, với nhiều phụ nữ đi ra ngoài để làm việc trong khi các đối tác của họ ở nhà để tận dụng tìm kiếm thu nhập cao hơn, Cook tin tưởng. “Đối với tôi đây là một điểm đặc biệt thú vị bởi vì nếu ở giữa tuổi hai mươi phụ nữ kiếm được nhiều hơn nam giới, điều này chứng minh khả năng của phụ nữ, họ có thu nhập cao trong gia đình, họ phải làm việc cả ngày, còn cánh đàn ông phải dành một phần thời gian chăm sóc con cái”. (Daily Mail dẫn lời Mary Curnock Cook).

    Câu chuyện tôi sắp kể ra đây, sẽ không có gì là phân biệt giới tính, đối xử bất bình đẳng giới trong gia đình của một cặp vợ chồng trí thức, chồng là chủ một doanh nghiệp, vợ là cán bộ ngân hàng, thừa khả năng để chăm sóc chu toàn cho hai đứa con, một trai một gái, cách nhau 2 tuổi… nếu như vào một ngày kia…

    4. Chuyện đôi đũa

    Trong giờ Tập làm văn, cô giáo ra đề bài “Em hãy cho biết ước mơ của bản thân và em có suy nghĩ gì về ước mơ đó?”. Cô giáo rất ngạc nhiên khi đọc được bài làm của một học sinh nữ. Nội dung bài viết “Kể từ ngày cha mẹ có thêm em Bo thì em đã có ước mơ trở thành một đứa con trai giống như em Bo. Vì nếu được là con trai, em sẽ không cô đơn và bị ghẻ lạnh như thế, em sẽ có nhiều đồ chơi mà mình mơ ước, em sẽ được ba mẹ chở đi chơi mỗi buổi chiều cuối tuần hoặc sẽ được đi du lịch vào mỗi dịp hè. Và vui hơn hết là được ba mẹ quan tâm đến công việc học hành, mỗi ngày được ba mẹ dùng xe hơi đưa đón đến trường…”. Cô giáo cũng đã qua thời gian tìm hiểu và biết được những điều cô học trò ghi trong bài tập là đúng sự thật. Ba mẹ cô bé kể từ ngày sinh thêm em Bo, em trai của cô bé thì như là không còn thấy hình dáng cô bé trong nhà nữa. Tất cả mọi yêu thương, chăm sóc dồn về cho cậu con trai quý tử kia. Hoàn toàn không đếm xỉa, đả động đến cô bé…

    Câu chuyện của tôi bắt đầu từ đôi đũa. Trước đây tôi rất lười, và tôi cho rằng việc nấu cơm, rửa bát tôi không thạo nên để vợ làm hết. Có một hôm vợ tôi sắp cơm và sắp thiếu một đôi đũa nên đã nhờ tôi xuống bếp lấy. Tôi thấy việc này cứ lặp đi lặp lại vài hôm, tôi nghi ngờ tại sao dọn cơm lại cứ thiếu 1 đôi đũa. Dần dần, đến bữa cơm, vợ tôi lại bảo con trai hôm lấy cái này thiếu, cái kia thiếu. Vậy là một bữa cơm cả 3 người đều cùng dọn.

    5. Chuyện anh trưởng ấp giặt đồ cho gia đình

    Đến mùa đông, có sự thay đổi mà đầu tiên tôi không nhận ra. Đó là do trời lạnh quá, vợ tôi nhờ tôi chở đi làm. Nhưng bình thường vợ tôi hay đưa con đi học, nên tôi sẽ kiêm luôn cả chở con đến trường luôn. Không ngờ mùa đông kéo dài quá lâu khiến việc chở con đi học và đưa vợ đi làm đã thành thói quen của tôi. Đến khi thời tiết ấm lên thì thói quen này của tôi đã rất khó bỏ rồi.

    Tôi có dịp được xem đoạn phim tại ấp Bắc huyện Thanh Bình thuộc tỉnh Đồng Tháp, anh Sơn được xem là người đầu tiên trong ấp đem đồ ra bờ sông để giặt mà không chỉ giặt đồ cho anh mà cho cả gia đình anh nữa.

    Theo câu chuyện trên đoạn video đó, lần đầu tiên anh rất ngại, mỗi lần đi giặt đồ như thế anh thường làm lén lén có thể đi vào sáng sớm tinh mơ hoặc vào lúc trưa mọi người không ai để ý vì rất ngại và rất mắc cỡ vì sợ mọi người nhìn thấy.

    Sau khi sinh bé Anh 3 tháng, Hạnh đề nghị chồng sử dụng bao cao su để tránh thai nhưng anh không nghe và cho rằng việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình là của phụ nữ. Thấy chồng nói vậy, Hạnh cũng không có ý kiến gì. Bản thân Hạnh cũng không thực hiện biện pháp tránh thai nào. Khi bé Anh tròn 01 tuổi thì Hạnh lại có thai. Hạnh nghĩ có thai thì đẻ, nhưng chồng chị muốn Hạnh đi phá thai, vì anh cho là con còn nhỏ, kinh tế gia đình khó khăn. Thấy chồng có lý vả lại sức khỏe Hạnh không tốt nên đẻ dày sẽ ảnh hưởng, Hạnh cứ phân vân mãi không biết nên như thế nào. Dùng dằng mãi, khi Hạnh đến Trạm y tế gặp bác sĩ thì thai đã lớn. Vừa khóc, Hạnh vừa kể lại câu chuyện chồng muốn phá thai. Các bác sĩ động viên Hạnh cứ yên tâm và khuyên Hạnh ngày mai cùng chồng đến gặp họ. Rất may chồng Hạnh đồng ý đi. Sau khi nghe Bác sĩ phân tích tác hại của việc phá thai to, anh đã thay đổi ý định và đồng ý không để vợ phá thai. Các bác sĩ giới thiệu cho cả 2 vợ chồng các biện pháp tránh thai. Chồng Hạnh đã hiểu ra việc kế hoạch hóa gia đình là trách nhiệm của cả 2 vợ chồng và thống nhất sau khi sinh cháu thứ 2 sẽ dùng bao cao su để không có thai ngoài ý muốn. Anh cũng đã giới thiệu với mọi người về tác hại của việc phá thai đã lớn và các biện pháp tránh thai ngoài ý muốn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách
  • Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới Và Phòng Chống Bạo Lực Giới Cần Đồng Bộ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội
  • Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị Ở Việt Nam
  • Luận Văn: Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân
  • Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân
  • Dap An Bai Thi Ha Tinh Voi Binh Dang Gioi
  • Don Xin Mai Am Cong Doan Bai Du Thi Binh Dang Gioi Phuong Doc
  • Thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

    Không thể phủ nhận trong xã hội hiện đại, định kiến về giới vẫn còn nhưng chỉ là trong tư tưởng của một số ít người dân. Sự bình đẳng giới, vai trò cân bằng giữa nam và nữ đã được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh vực chính trị, không chỉ tăng lên về số lượng mà chất lượng phụ nữ tham gia cũng được tăng lên về trình độ và năng lực quản lý. Rất nhiều phụ nữ đã trở thành các nhà lãnh đạo, quản lý, nắm giữ những vị trí chủ chốt tại các cơ quan mà mình tham gia. Với những tính cách ưu việt của người phụ nữ Việt Nam, rất nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà lãnh đạo xuất sắc. Tuy vậy, dù xếp thứ hạng cao trên thế giới về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nhưng Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa tỷ lệ nam và nữ (75,6% và 24,4%) và đặc biệt là tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Khu vực ĐBSCL có tỷ lệ nữ tham gia trong cấp ủy Đảng cấp xã cao hơn trung bình cả nước cũng chỉ đạt 19%. Mặc dù công tác cán bộ đã có một bước tiến mới, song tỷ lệ nữ giữ các chức vụ quản lý, lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh, thành phố hiện đạt rất thấp.

    Không thể phủ nhận trong xã hội hiện đại, định kiến về giới vẫn còn nhưng chỉ là trong tư tưởng của một số ít người dân. Sự bình đẳng giới, vai trò cân bằng giữa nam và nữ đã được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh vực chính trị, không chỉ tăng lên về số lượng mà chất lượng phụ nữ tham gia cũng được tăng lên về trình độ và năng lực quản lý. Rất nhiều phụ nữ đã trở thành các nhà lãnh đạo, quản lý, nắm giữ những vị trí chủ chốt tại các cơ quan mà mình tham gia. Với những tính cách ưu việt của người phụ nữ Việt Nam, rất nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà lãnh đạo xuất sắc. Tuy vậy, dù xếp thứ hạng cao trên thế giới về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nhưng Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa tỷ lệ nam và nữ (75,6% và 24,4%) và đặc biệt là tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Khu vực ĐBSCL có tỷ lệ nữ tham gia trong cấp ủy Đảng cấp xã cao hơn trung bình cả nước cũng chỉ đạt 19%. Mặc dù công tác cán bộ đã có một bước tiến mới, song tỷ lệ nữ giữ các chức vụ quản lý, lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh, thành phố hiện đạt rất thấp.

    Với thực trạng trên, tại hội thảo lần này, các đại biểu đã thẳng thắn chỉ rõ những nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan. Bà Phạm Thị Hải Chuyền, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, cho rằng: “Định kiến giới vẫn còn tồn tại ở một số cấp lãnh đạo chính quyền, còn biểu hiện khắt khe trong bố trí cán bộ nữ, thiếu tin tưởng về năng lực và đánh giá chưa khách quan, công bằng đối với cán bộ nữ. Đồng thời công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ chưa được quan tâm đúng mức…”. Còn theo bà Nguyễn Thị Thanh Hòa, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam, thì: “Chất lượng cán bộ nữ đưa vào quy hoạch chưa cao, chủ yếu đưa vào cho đủ số lượng. Có một số tỉnh có tỷ lệ quy hoạch cán bộ nữ cấp ủy cao, song cơ hội trúng cử lại không cao do đại đa số là lãnh đạo cấp phòng, phó ngành (chiếm 90%). Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ nữ còn tự ti, chưa sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được luân chuyển”.

    Trả lời những thắc mắc của đại biểu, bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội, Chủ tịch Nhóm nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam cũng đồng tình với đại biểu và cho rằng hiện nay vẫn còn tồn tại không ít những bất hợp lý trong bình đẳng giới cần có sự hướng dẫn, chỉ đạo thêm của Chính phủ. Điều dễ dàng nhận thấy là Việt Nam đã có chủ trương, chính sách về bình đẳng giới cụ thể nhưng gần như thực hiện chưa đến nơi đến chốn. Một nghịch lý là nếu cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật thì bị xử lý, nhưng khi vi phạm, hoặc không thực hiện đúng nghị quyết thì cũng… không sao (?). Do đó, sắp tới Chính phủ cũng cần có những biện pháp nhắc nhở hoặc mạnh hơn đối với việc không thực hiện đúng chủ trương, chính sách về bình đẳng giới, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị.

    Theo http://genic.molisa.gov.vn/

    Lượt xem: 1,086

    Bản đồ tỉnh Quảng Nams

    Văn bản điện tử

    Một cửa điện tử

    Portal Quảng Nam – Giấy phép số: 14/GP-TTĐT cấp ngày 26/6/2015.

    Đơn vị quản lý: Sở Thông tin Truyền thông – Số 50 – Hùng Vương – Thành phố Tam Kỳ

    Chịu trách nhiệm chính: Ông Phạm Hồng Quảng – Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông

    Điện thoại:0235.3818333 – Fax:0235.3811759 – Email:[email protected]

    Ghi rõ nguồn chúng tôi khi sử dụng thông tin trên website này

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Đạt Được Mục Tiêu Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị?
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Chính Sách Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới
  • Tăng Cường Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Những Biện Pháp Nhằm Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Pháp Luật?
  • Những Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100