Top 6 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị

Thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

Không thể phủ nhận trong xã hội hiện đại, định kiến về giới vẫn còn nhưng chỉ là trong tư tưởng của một số ít người dân. Sự bình đẳng giới, vai trò cân bằng giữa nam và nữ đã được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh vực chính trị, không chỉ tăng lên về số lượng mà chất lượng phụ nữ tham gia cũng được tăng lên về trình độ và năng lực quản lý. Rất nhiều phụ nữ đã trở thành các nhà lãnh đạo, quản lý, nắm giữ những vị trí chủ chốt tại các cơ quan mà mình tham gia. Với những tính cách ưu việt của người phụ nữ Việt Nam, rất nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà lãnh đạo xuất sắc. Tuy vậy, dù xếp thứ hạng cao trên thế giới về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nhưng Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa tỷ lệ nam và nữ (75,6% và 24,4%) và đặc biệt là tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Khu vực ĐBSCL có tỷ lệ nữ tham gia trong cấp ủy Đảng cấp xã cao hơn trung bình cả nước cũng chỉ đạt 19%. Mặc dù công tác cán bộ đã có một bước tiến mới, song tỷ lệ nữ giữ các chức vụ quản lý, lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh, thành phố hiện đạt rất thấp. Không thể phủ nhận trong xã hội hiện đại, định kiến về giới vẫn còn nhưng chỉ là trong tư tưởng của một số ít người dân. Sự bình đẳng giới, vai trò cân bằng giữa nam và nữ đã được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh vực chính trị, không chỉ tăng lên về số lượng mà chất lượng phụ nữ tham gia cũng được tăng lên về trình độ và năng lực quản lý. Rất nhiều phụ nữ đã trở thành các nhà lãnh đạo, quản lý, nắm giữ những vị trí chủ chốt tại các cơ quan mà mình tham gia. Với những tính cách ưu việt của người phụ nữ Việt Nam, rất nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà lãnh đạo xuất sắc. Tuy vậy, dù xếp thứ hạng cao trên thế giới về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nhưng Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa tỷ lệ nam và nữ (75,6% và 24,4%) và đặc biệt là tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Khu vực ĐBSCL có tỷ lệ nữ tham gia trong cấp ủy Đảng cấp xã cao hơn trung bình cả nước cũng chỉ đạt 19%. Mặc dù công tác cán bộ đã có một bước tiến mới, song tỷ lệ nữ giữ các chức vụ quản lý, lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh, thành phố hiện đạt rất thấp.

Với thực trạng trên, tại hội thảo lần này, các đại biểu đã thẳng thắn chỉ rõ những nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan. Bà Phạm Thị Hải Chuyền, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, cho rằng: “Định kiến giới vẫn còn tồn tại ở một số cấp lãnh đạo chính quyền, còn biểu hiện khắt khe trong bố trí cán bộ nữ, thiếu tin tưởng về năng lực và đánh giá chưa khách quan, công bằng đối với cán bộ nữ. Đồng thời công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ chưa được quan tâm đúng mức…”. Còn theo bà Nguyễn Thị Thanh Hòa, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam, thì: “Chất lượng cán bộ nữ đưa vào quy hoạch chưa cao, chủ yếu đưa vào cho đủ số lượng. Có một số tỉnh có tỷ lệ quy hoạch cán bộ nữ cấp ủy cao, song cơ hội trúng cử lại không cao do đại đa số là lãnh đạo cấp phòng, phó ngành (chiếm 90%). Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ nữ còn tự ti, chưa sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được luân chuyển”.

Trả lời những thắc mắc của đại biểu, bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội, Chủ tịch Nhóm nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam cũng đồng tình với đại biểu và cho rằng hiện nay vẫn còn tồn tại không ít những bất hợp lý trong bình đẳng giới cần có sự hướng dẫn, chỉ đạo thêm của Chính phủ. Điều dễ dàng nhận thấy là Việt Nam đã có chủ trương, chính sách về bình đẳng giới cụ thể nhưng gần như thực hiện chưa đến nơi đến chốn. Một nghịch lý là nếu cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật thì bị xử lý, nhưng khi vi phạm, hoặc không thực hiện đúng nghị quyết thì cũng… không sao (?). Do đó, sắp tới Chính phủ cũng cần có những biện pháp nhắc nhở hoặc mạnh hơn đối với việc không thực hiện đúng chủ trương, chính sách về bình đẳng giới, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị.

Theo http://genic.molisa.gov.vn/

Lượt xem: 1,086

Bản đồ tỉnh Quảng Nams

Văn bản điện tử

Một cửa điện tử

Portal Quảng Nam – Giấy phép số: 14/GP-TTĐT cấp ngày 26/6/2015. Đơn vị quản lý: Sở Thông tin Truyền thông – Số 50 – Hùng Vương – Thành phố Tam Kỳ Chịu trách nhiệm chính: Ông Phạm Hồng Quảng – Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông Điện thoại:0235.3818333 – Fax:0235.3811759 – Email:cttdtqnam@quangnam.gov.vn Ghi rõ nguồn chúng tôi khi sử dụng thông tin trên website này

Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị

Thực hiện Chương trình phối hợp, Trang Thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đăng nội dung phối hợp tuyên truyền với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội.

Bình đẳng giới là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam, được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Khoản 3, Điều 5 Luật Bình đẳng giới quy định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.

Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đã được quy định cụ thể tại Điều 11 Luật Bình đẳng giới, đó là:

“1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.

2. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

4. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.

5. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.”

Để hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tỉnh Hưng Yên đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kế hoạch về bình đẳng giới nhằm góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới và công tác phụ nữ trong tình hình mới.

Thực hiện mục tiêu “tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị”, tỉnh Hưng Yên đã đạt được một số kết quả như sau: Nhiệm kỳ 2015-2020, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy: Cấp tỉnh 9/53 người, chiếm 16,98% (tăng 4,78% so với nhiệm kỳ trước), trong đó nữ Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy là 2/15 người, chiếm 13,33%; cấp huyện, thành phố là 16,08% (tăng 0,68%), cấp cơ sở là 18,49% (tăng 2,69%). Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu quốc hội khóa XIV, nhiệm kỳ 2016-2021: 3/7 người, chiếm 42.86%, vượt chỉ tiêu đề ra. Số nữ giới tham gia Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021: cấp tỉnh là 10/53 người (chiếm 18,87%); cấp huyện là 102/332 người (chiếm 30,72%); cấp xã là 956/4.079 người (chiếm 23,44%). Tỷ lệ nữ đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo chính quyền: cấp tỉnh là 12/58 người (chiếm tỷ lệ 20,69%), cấp huyện 3/28 người (chiếm 10,71%) và cấp xã 23/250 người (chiếm 9,2%).

Để đạt được mục tiêu “tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị”, cần tập trung thực hiện các giải pháp:

1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong việc cụ thể hóa các chủ trương và định hướng sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý.

2. Quan tâm xây dựng quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ, nâng cao năng lực của phụ nữ về mọi mặt nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan của hệ thống chính trị; thực hiện quy hoạch gắn với đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng cán bộ nữ, bảo đảm yêu cầu phát triển liên tục, bền vững đội ngũ cán bộ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tránh tình trạng khi đại hội, bầu cử mới tìm kiếm nhân sự đủ tiêu chuẩn.

3. Các sở, ngành, đoàn thể, chính quyền cần chú trọng thực hiện tốt công tác tham mưu, tạo nguồn đào tạo và quy hoạch cán bộ nữ theo từng lĩnh vực, địa phương để thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong thời gian tới.

Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới

Nội dung này được Luật sư Nguyễn Thiện Hùng tư vấn như sau:

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

Về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, tại Nghị định số 48/2009/NĐ-CP của Chính phủ có một số quy định như sau:

1. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này.

2. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội;

b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam để bảo đảm đạt đủ tiêu chuẩn chuyên môn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật;

c) Hỗ trợ, tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam để tăng cường sự chia sẻ giữa nữ và nam trong công việc gia đình và xã hội phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới;

d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam để thực hiện chính sách ưu tiên trong từng lĩnh vực cụ thể;

đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn và việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam để bảo đảm bình đẳng giới.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định rằng các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ đã thay đổi dẫn đến việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không còn cần thiết, nghĩa là khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

Những Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới?

Trả lời: Theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật bình đẳng giới 2006 thì: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm (Điều 19): a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng; b) Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam; c) Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam; d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam; đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; e) Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; Ngoài ra, Luật cũng quy định cụ thể một số biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực cụ thể như sau:– Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm (khoản 5 Điều 11) + Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; + Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.– Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm (khoản 2 Điều 12): + Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật; + Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm (khoản 3 Điều 13): + Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động; + Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ; + Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.– Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm (khoản 5 Điều 14): + Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo; + Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.