Top 18 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp So Sánh Tu Từ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Biện Pháp Tu Từ So Sánh / 2023

Nhằm củng cố, mở rộng, bổ sung thêm kiến thức cho các em học sinh, chúng tôi sưu tầm gửi tới các em Biện pháp tu từ so sánh – Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6 . Chúc các em học tốt!

Biện pháp tu từ so sánh

Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6

I. – NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG 1. Thế nào là so sánh ?

So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sực gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Ví dụ :

– Thuyền xuôi dưới dòng con sông rộng lớn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

(Đoàn Giỏi)

– Trong như tiếng hạc bay qua,

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

(Nguyễn Du)

– Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

(Tô Hoài)

2. Cấu tạo của phép so sánh

So sánh là cách công khai đối chiếu các sự vật với nhau, qua đó nhận thức, được sự vật một cách dễ dàng, cụ thể hơn. Vì vậy, một phép so sánh thông thường gồm bốn yếu tố :

– Vế A : Đối tượng (sự vật) được so sánh.

– Bộ phận hay đặc điểm so sánh (phương diện so sánh).

– Từ so sánh.

– Vế B : Sự vật làm chuẩn so sánh.

Ta có sơ đồ sau đây :

Khi ta nói : Cô gái đẹp như hoa là so sánh. Còn khi nói : Hoa tàn mà lại thêm tươi (Nguyễn Du) thì hoa ở đây là ẩn dụ.

+ Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt. Khi yếu tố (2) vắng mặt người ta gọi là so sánh chìm vì phương diện so sánh (còn gọi là mặt so sánh) không lộ ra do đó sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích trí tuệ và tình cảm người đọc nhiều hơn.

+ Yếu tố (3) có thể là các từ như : giống, tựa, khác nào, tựa như, giống như, là, bao nhiêu… bấy nhiêu, hơn, kém,… Mỗi yếu tố đảm nhận một sắc thái biểu cảm khác nhau

– Như có sắc thái giả định.

– Là có sắc thái khẳng định.

-Tựa thể hiện nlức độ chưa hoàn hảo,…

+ Trật tự của phép so sánh có khi được thay đổi. Ví dụ :

Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng của hai miền.

(Tế Hanh)

3. Các kiểu so sánh

Dựa vào mục đích và các từ so sánh, người ta chia phép so sánh thành hai kiểu :

a) So sánh ngang bằng

Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi các từ so sánh sau đây : là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu… bấy nhiêu.

Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể, sinh động. Vì thế, phép so sánh thường mang tính chất cường điệu.

Ví dụ : Cao như núi, dài như sông

(Tố Hữu)

b) So sánh hơn kém

Trọng phép so sánh hơn kém, từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì.

Ví dụ : Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.

(Tục ngữ)

Muốn chuyển so sánh hơn, kém sang so sánh ngang bằng, người ta thêm một trong các từ phủ định : không, chưa, chẳng vào trong câu và ngược lại.

Ví dụ : – Bóng đá quyến rũ tôi hơn những công thức toán học.

– Bóng đá quyến rũ tôi không hơn những công thức toán học..

4. Tác dụng của so sánh

+ So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả. *

Ví dụ : Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

(Ca dao)

+ So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc, gợi trí tưởng tượng bay bổng. Vì thế trong thơ của thiếu nhi, các em đã thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.

Ví dụ : Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh

(Trần Đăng Khoa)

Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, thật gợi cảm. Yếu tố (2) và yếu tố (3) bị lược bỏ. Người đọc, người nghe tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt so sánh khác nhau làm pho hình tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.

II. – BÀI TẬP 1.

Tìm phép so sánh trong đoạn trích sau đây, nêu rõ tác dụng của phép so sánh đó :

“Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”.

(Đoàn Giỏi)

2. Trong câu ca dao :

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

a) Từ bổi hoi bồi hồi là từ láy có gì đặc biệt ?

b) Giải nghĩa từ láy bổi hổi bồi hồi.

c) Phân tích cái hay của câu ca dao do phép so sánh đem lại.

3. Trong bài Vượt thác có nhiều phép so sánh được thể hiện.

a) Em hãy xác định những phép so sánh đó.

b) Phép so sánh nào độc đáo nhất ? Vì sao ?

4. Em hãy viết một đoạn văn tả cảnh sông nước hay núi non, làng xóm ở quê em trong đó có sử dụng từ hai phép so sánh trở lên.

5. Em hãy kể càng nhiều càng tốt những thành ngữ có sử dụng phép so sánh mà từ chỉ phương diện so sánh là từ láy.

6. Nói về thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ viết: Trẻ em như.búp trên cành.

a) Phép so sánh này bị lược yếu tố nào ?

b) Yếu tố bị lược có thể được thay bằng những từ ngữ nào trong các từ ngữ sau đây : tươi non, quyến rũ, đầy hứa hẹn, đấng trân trọng, chứa chan hi vọng, đầy sức sống, yếu ớt đáng thương, nhỏ nhắn, chưa đáng chú ỷ.

7. Em hãy tìm khoảng mười phép so sánh trong ca dao và thơ, trong đó vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ tơ trùng trùng điệp điệp Cao như núi, dài như sông

Chí ta lớn như biển Đông trước mặt

– Lũ đế quốc như bầy dơi hốt hoảng.

– Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng.

10. Trong bài Lượm của Tố Hữu có đoạn :

Chú bé loắt choắt Cái xắc xỉnh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng…

a) Phép so sánh ở đoạn thơ trên độc đáo ở chỗ nào ? Em hãy phân tích cái hay của phép so sánh đó.

b) Các từ láy trong đoạn thơ thuộc từ loại nào ? Có tác dụng gì ?

11. Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:

Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau.

(Ca dao)

Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh / 2023

Cô Kiều Anh – giáo viên Ngữ văn tại Hệ thống Giáo dục Hocmai sẽ hệ thống lại lý thuyết cũng như có những lưu ý nhằm giúp học sinh nắm chắc biện pháp tu từ so sánh để phát huy trí tưởng tượng về hình ảnh và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong các bài tập làm văn.

Trong chương trình tiếng Việt lớp 3, học sinh đã được làm quen với hai biện pháp tu từ rất quan trọng là so sánh và nhân hoá. Trong đó, là biện pháp tu từ sử dụng nhằm đối chiếu các sự vật, sự việc này với các sự vật, sự việc khác giống nhau trong một điểm nào đó với mục đích tăng khả năng gợi hình và gợi cảm khi diễn đạt.

I. Biện pháp tu từ so sánh

1. Cấu trúc của phép so sánh:

*Mẹo: Để nhận biết phép so sánh : Xác định từ so sánh, thường là những từ “là”, “như”

Ví dụ: “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

(Vũ Tú Nam)

– Sự vật được so sánh ở đây là “mặt biển”

– Phương diện so sánh là “sáng trong” .

– Từ so sánh: “như”, nằm giữa vế một và vế hai

– Sự vật dùng để so sánh: “tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

Trong nhiều trường hợp, “phương diện so sánh” có thể không xuất hiện trong câu.

Cách 2: Chia theo từ so sánh

Nếu phân biệt dựa trên từ so sánh thì câu so sánh được phân ra hai loại là: so sánh ngang bằng và so sánh hơn kém.

So sánh ngang bằng sẽ sử dụng như từ so sánh như: “như”; “tựa như”; “như là”; “giống như”; “chẳng khác gì”…

Vd: Cô giáo giống như người mẹ thứ hai của em

So sánh hơn kém sẽ sử dụng những từ so sánh như: “hơn”; “kém”;”chẳng bằng”; “không bằng”…

VD: Những ngôi sao thức ngoài kia

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

Vì vậy đối với cách chia như này, học sinh cần xác định từ so sánh trước, dựa vào đó phân loại câu vào so sánh ngang bằng hoặc so sánh hơn kém

Mời cha mẹ và học sinh tham khảo video bài giảng tại: https://www.youtube.com/watch?v=bjTwEJMq8ls

Biện Pháp Tu Từ So Sánh Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5 / 2023

Nói đến ngôn ngữ là nói đến công cụ dùng để giao tiếp trong cuộc sống. Có ngôn ngữ thì mới có quan hệ xã hội và quan hệ xã hội chính là nơi để phát triển ngôn ngữ. Xuất phát từ đó môn Tiếng Việt, môn học có vị trí nhiệm vụ rất quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ giao tiếp, là thứ ngôn ngữ dùng trong giao tiếp chính thức của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Ngoài các phân môn khác của tiếng Việt, phân môn tập đọc ra đời với mục tiêu góp phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh cho tâm hồn học sinh. Qua đó tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ em và rèn luyện, phát triển kỹ năng nói và hiểu một cách có nghệ thuật, góp phần khêu gợi tư duy hình tượng của trẻ.

Đối với học sinh tiểu học là giai đoạn hình thành và phát triển nhận thức và nhân cách sống. Vì thế yêu cầu của môn tiếng Việt hết sức quan trọng, trong đó phân môn tập đọc đóng vai trò chủ chốt nên giáo viên cần chú ý quan tâm, ngoài việc rèn luyện các kỹ năng cơ bản như nghe, đọc, nói, viết thì cần chú trọng vào việc cảm thụ biện pháp nghệ thuật của tác phẩm để làm phong phú vốn từ ngữ trong tâm hồn và khơi dậy tình yêu Tiếng Việt một cách bền vững.

Biện pháp nghệ thuật xuất hiện trong các bài tập đọc ở tiểu học, hay nói cách khác xuất hiện trong văn bản tập đọc với một mục tiêu rất lớn đó là cung cấp cho học sinh những giá trị đạo đức, nhân văn mà tác giả muốn gửi đến và qua đó biện pháp nghệ thuật tô điểm thêm cho vẻ đẹp của văn bản làm cho học sinh thêm phần cuốn hút khi tiếp xúc với nội dung văn bản. Ngoài ra biện pháp nghệ thuật còn phát huy trí tưởng tưởng cho học sinh, trau dồi khả năng tư duy và củng cố năng lực diễn đạt khi giao tiếp.

Vậy biện pháp nghệ thuật là những biện pháp nào mà lại có tác dụng lớn trong văn bản tập đọc ở tiểu học như thế? biện pháp nghệ thuật bao gồm các các biện pháp như ẩn dụ, nhân hoá, so sánh tu từ,… nó được các tác giả sử dụng như những công cụ đắc lực trong việc thành công nội dung văn bản.

Một trong những biện pháp nghệ thuật quan trọng có trong các văn bản tập đọc là biện pháp tu từ so sánh. Biện pháp so sánh tu từ là sự đối chiếu hai hay nhiều sự vật với nhau nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu hay hàm ý muốn diễn đạt. So sánh tu từ được sử dụng một cách rộng rãi trong các văn bản tập đọc ở tiểu học giúp cho học sinh dễ cảm thụ giá trị của nội dung diễn đạt của tác giả hơn. Đây cũng là nội dung của đề tài mà tôi đang nghiên cứu về so sánh tu từ trong các văn bản tập đọc ở tiểu học.

Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”Biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu / 2023

1.1. Lí do chọn đề tài. Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có chức năng “kép” (vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ) và là môn học chiếm nhiều thời lượng nhất. Môn Tiếng Việt cung cấp một khối lượng kiến thức cơ bản cho mỗi học sinh trước khi bước vào đời. Đồng thời, nó giúp học sinh rèn luyện, nâng cao trình độ sử dụng một phương tiện học tập và lĩnh hội tri thức khoa học, nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. Học Tiếng Việt không chỉ dừng lại ở những hiểu biết về nó, mà điều quan trọng là sử dụng nó ngày một thành thạo hơn, tốt hơn vào các hoạt động giao tiếp đa dạng trong xã hội. Để đạt được mục tiêu trên, phân môn Luyện từ và câu đã góp phần không nhỏ, ngoài việc củng cố về các mẫu câu và mở rộng vốn từ cho học sinh thì phân môn Luyện từ và câu còn giúp các em làm quen với các biện pháp tu từ, trong đó có biện pháp tu từ so sánh. Đây là mảng kiến thức rất mới đối với học sinh lớp 3. Môn Tiếng Việt lớp 3 nằm trong hệ thống các môn học ở Tiểu học, với mục tiêu nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt như nghe – nói – đọc – viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh. Trong chương trình Tiểu học hiện nay, phân môn Luyện từ và câu lớp 3, không có bài học riêng về kiến thức, chỉ trình bày các kiến thức (về từ gồm cả thành ngữ, tục ngữ về lao động sản xuất, văn hoá, xã hội, bảo vệ Tổ quốc; kiến thức về ngữ pháp như từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất; Dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm. Học sinh nhận biết sơ giản về các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá ) học sinh cần làm quen và nhận biết thông qua các bài tập thực hành. Qua các bài học, các em sẽ nhận biết được các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau trong mỗi khổ thơ, mỗi đoạn văn, các em cần phân biệt được kiểu so sánh của mỗi hình ảnh so sánh ấy; thấy được ý nghĩa, tác dụng của biện pháp so sánh trong biểu đạt ngôn ngữ làm cho sự vật hiện lên sinh động và gần gũi hơn. Để viết được những câu văn hay, những bài văn giàu hình ảnh và cảm xúc, các nhà thơ nhà văn phải có sự quan sát tinh tế và kết hợp với các biện pháp nghệ thuật để tạo nên sự thành công của tác phẩm mà trong đó biện pháp tu từ so sánh góp một phần không nhỏ để làm nên điều đó . Vì vậy dạy phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 là trên cơ sở lấy quan điểm giao tiếp làm định hướng cơ bản và dạy theo tinh thần quan tâm đến việc tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hành làm bài tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Xuất phát từ đó mà tôi chọn đề tài: Giúp học sinh lớp 3 học tốt ” biện pháp tu từ so sánh ” trong phân môn Luyện từ và câu. 1.2. Mục đích nghiên cứu. Tiếng Việt cùng với môn Toán là môn học quan trọng ở Tiểu học. Nó chiếm nhiều thời gian trong quá trình học tập, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức về mảng nghĩa của từ. Đặc biệt là các hình ảnh so sánh là một trong những nội dung mới và khó đối với học sinh. Học sinh hay nhầm lẫn về hình ảnh so sánh và nhân hóa. Vậy để giúp học sinh đạt kết quả học tập tốt hơn trong phân môn Luyện từ và câu. Tôi đã đưa ra một số biện pháp nhận biết biện pháp tu từ so sánh. 1.3. Đối tượng nghiên cứu. Tôi chọn học sinh lớp 3B làm đối tượng nghiên cứu trong năm học 2018-2019 tại nơi tôi công tác. 1.4. Phương pháp nghiên cứu: – Đọc, tham khảo, nghiên cứu tài liệu. – Quan sát học sinh và giáo viên khi dạy phân môn luyện từ và câu trong khi đi dự giờ. – Điều tra, khảo sát thực tế. – Thực nghiệm. – Thống kê, so sánh đối chiếu. – Kiểm tra, đánh giá. 2. NỘI DUNG . 2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN. Thế nào là so sánh? So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc có nét tương đồng, có dấu hiệu chung nào đó nhằm tăng sức gợi cảm hoặc diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của sự vật, sự việc. Trong thực tế có 2 loại so sánh là so sánh tu từ và so sánh luận lý. So sánh tu từ còn gọi là so sánh hình ảnh. Mục đích của so sánh tu từ nhằm diễn tả một cách sinh động đặc điểm của sự vật, sự việc. So sánh luận lý nhằm mục đích xác lập sự tương đương giữa 2 đối tượng. Mặt khác, Nội dung chương trình học Luyện từ và câu lớp 3 về phần so sánh được học trong 10 tiết ở các tuần ở tuần 1,3,5,7,9,10,15,18 của học kỳ 1 với 22 bài tập khác nhau. Nội dung “so sánh” được dạy kèm với các nội dung khác. Có bài chỉ dạy một nội dung về so sánh (bài 5) nhiều bài do kết hợp với các nội dung khác như: So sánh được dạy cùng nội dung ôn kiểu câu: “Ai là gì ?” trong 4 tiết. So sánh được dạy cùng nội dung ôn kiểu câu “ Ai làm gì ?” trong 2 tiết So sánh được dạy cùng nội dung Danh từ (chỉ sự vật) trong 4 tiết Riêng tuần 9 có thêm nội dung “Từ ngữ về quê hương” Ở lớp 3, học sinh vẫn chỉ đang ở cuối giai đoạn của một quá trình nhận thức nên nội dung dạy học so sánh không có tiết lý thuyết riêng phần hình thành kiến thức được cung cấp thông qua hệ thống bài tập. Các bài tập được đưa ra dưới nhiều dạng khác nhau. Việc hiểu và tìm đúng các hình ảnh so sánh giúp học sinh làm bài tập một cách chính xác, tránh những cách hiểu khác nhau. Vậy cần có một số biện pháp đưa ra để giúp học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh. 2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM. 2.2.1. Về việc dạy của giáo viên. Theo quy trình dạy học phân môn Luyện từ và câu, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn cho học sinh nắm kiến thức. Tuy nhiên do thời lượng một tiết có hạn nên giáo viên chưa lồng ghép liên hệ, phân biệt biện pháp tu từ so sánh trong các bài học được. Do đó sau các bài học về so sánh học sinh chỉ nắm được kiến thức một cách riêng biệt. Đôi khi trong dạy học các nội dung này giáo viên có lúc bí từ ( hạn chế về vốn từ) khi lấy thêm ví dụ cụ thể ngoài sách giáo khoa để giúp học sinh phân biệt biện pháp tu từ so sánh với các mạch kiến thức khác. 2.2.2. Về việc học biện pháp tu từ so sánh của học sinh. Khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực quan, vốn kiến thức văn học của học sinh rất ít ỏi nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạn chế. Một thực tế cho thấy khi học và làm bài tập về so sánh tu từ học sinh tiếp thu và làm bài tập nhanh hơn về so sánh lí luận, có lẽ bởi so sánh lí luận trừu tượng hơn so sánh tu từ. Đặc biệt khi làm bài tập biện pháp tu từ so sánh thì đa số học sinh lúng túng và làm bài tập chưa đạt yêu cầu. Các em chưa nắm được yêu cầu cơ bản như: cách nhận diện sự vật, nhận diện về đặc điểm của sự vật được đem ra so sánh, từ thể hiện sự so sánh sao cho phù hợp. Để kiểm tra khả năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh tôi đã cho học sinh lớp 3B làm bài tập sau: Đề bài: Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu thơ, câu văn sau: a) Hai bàn tay em Như hoa đầu cành b) Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con. c) Trường Sơn: chí lớp ông cha Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào d) Mảnh trăng non đầu tháng lơ lửng giữa trời như một cánh diều. Kết quả khảo sát: Tổng số học sinh Số học sinh trả lời đúng Số học sinh trả lời sai Số học sinh không trả lời được 25 em SL TL SL TL SL TL 10 40 10 40 5 20 Chỉ có 10 em trả lời đúng, 10 em chưa xác đinh được các hình ảnh so sánh, còn 5 em không hiểu gì. Đứng trước thực trạng trên, bản thân tôi rất trăn trở. Làm thế nào để giúp học sinh có thể nhận biết được biện pháp so sánh trong quá trình học tập. Bản thân tôi đã đưa ra một số biệp pháp để giúp các em nhận biết được biện pháp so sánh như sau: 2.3. CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2.3.1. Giáo viên phải nắm vững kiến thức về biện pháp tu từ so sánh. a) Về nội dung, yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng. *) Néi dung vÒ “biện pháp so sánh” trong phân môn Luyện từ và câu ë ch­¬ng tr×nh Tiếng Việt lớp 3. Kiến thức lý thuyết về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở phân môn: “Luyện từ và câu”. Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 – Tập I đã dạy về so sánh gồm 8 bài với các nội dung sau: – So sánh: Sự vật – Sự vật. Ví dụ: Hai bàn tay em Như hoa đầu cành. – So sánh: Sự vật – Con người. Ví dụ: Mắt hiền sáng tựa vì sao Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời. – So sánh: Âm thanh – Âm thanh. Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lòng hoa. – So sánh: Hoạt động – Hoạt động. Ví dụ: Con voi đen lông mượt Chân đi như đạp đất. *) Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng: – Tìm được những sự vật được so sánh với nhau câu văn, câu thơ. – Tìm được hình ảnh so sánh trong câu văn, câu thơ. – Nhận biết được các từ chỉ sự so sánh. – Nắm được các kiểu so sánh: So sánh hơn kém ; so sánh sự vật với con người ; so sánh âm thanh với âm thanh ; so sánh hoạt động với hoạt động. – Nêu được các từ so sánh. – Điền từ ngữ vào câu có hình ảnh so sánh. b) Biện pháp tu từ so sánh: So sánh là biện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác nhau nhưng giống nhau ở một điểm nào đó, để hiểu rõ hơn đối tượng được nói đến. So sánh bao gồm: – Đối tượng được so sánh – Phương diện so sánh – Từ biểu thị quan hệ so sánh ( như, như thể, như là, giống, giống như, tựa như, không khác gì, bằng, là, chẳng bằng ) – Đối tượng đưa ra làm chuẩn để so sánh. So sánh có tác dụng như sau: – Về nhận thức: Qua so sánh, đối tượng nói đến được hiểu rõ hơn. – Về biểu cảm: Hình ảnh so sánh làm tăng thêm tính biểu cảm cho câu văn. Bài tập về so sánh có hai loại nhỏ : – Bài tập nhận biết phép tu từ so sánh – Bài tập vận dụng biện pháp tu từ so sánh 2.3.2. H­íng dÉn häc sinh c¸ch häc tõng m¹ch kiÕn thøc vÒ so sánh th«ng qua c¸c bµi tËp cô thÓ. Sách Tiếng Việt lớp 3 không trực tiếp giới thiệu khái niệm so sánh ( với tư cách là một biện pháp tu từ ) cho học sinh, mà thông qua hàng loạt bài tập, dần dần hình thành ở học sinh khái niệm này. Hình thức bài tập thường là nêu câu văn, câu thơ, đoạn văn trong đó có sử dụng biện pháp tu từ so sánh; yêu cầu học sinh chỉ ra các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau trong câu văn, câu thơ, đoạn văn ấy. Chính vì thế tôi đã hướng dẫn học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh thông qua các bài tập cụ thể. a) Kiểu so sánh: Sự vật – Sự vật. Dạng bài tập này được cung cấp đan xen trong 4 tuần : Tuần 1, 3 , 9 và 15 với các bài tập cụ thể như sau: * Ví dụ: a. “Hai bàn tay em Như hoa đầu cành” (Huy Cận) b. “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch” (Vũ Tú Nam) c. “Cánh diều như dấu á Ai vừa tung lên trời” (Lương Vĩnh Phúc) d. “Ơ cái dấu hỏi Trông ngộ ngộ ghê Như vành tai nhỏ Hỏi rồi lắng nghe” (Phạm Như Hà) – (Bài tập SGK-trang 8) a. Mắt hiền sáng tựa vì sao Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời. Thanh Hải b. Em yêu nhà em Hàng xoan trước ngõ Hoa sao xuyến nở Như mây từng chùm. Tô Hà c. Mùa đông Trời là cái tủ ướp lạnh Mùa hè Trời là cái bếp là nung Lò Ngân Sủn d. Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng. Đất nước ngàn năm. (Bài tập SGK-trang 25) Bài 3 : Ghi lại những sự vật được so sánh với nhau trong những câu sau : a. Từ trên cao nhìn xuống, mặt hồ như một chiếc gương bầu dục khổng lồ, sáng long lanh. ( Ngô Quân Miện) b. Cầu Thê Húc màu son, cong cong như con tôm, dẫn vào đền Ngọc Sơn. (Ngô Quân Miện) c. Người ta thấy con rùa lớn, đầu to như trái bưởi, nhô lên khỏi mặt nước. (Bài tập SGK-trang 69) Cách dạy loại bài tập này, trước hết giáo viên cho một học sinh đọc thành tiếng toàn bộ bài tập. Các em khác vừa nghe, vừa nhìn vào bài tập trong sách giáo khoa. Ấn tượng thính giác kết hợp với ấn tượng thị giác giúp các em dễ nhận ra hiện tượng so sánh ẩn chứa trong các câu thơ, câu văn. Sau bước nhận biết sơ bộ đó, giáo viên hướng dẫn học sinh đi vào phân tích từng trường hợp, tìm các sự vật được so sánh hoặc các hình ảnh so sánh theo yêu cầu của bài tập. Với dạng bài tập này tôi thường hướng dẫn học sinh làm theo các bước sau : – Đọc yêu cầu bài tập. Lưu ý đọc toàn bộ bài tập – Hướng dẫn HS phân tích yêu cầu. + Bài tập yêu cầu làm gì ? + Để tìm được các sự vật, hình ảnh được đem ra so sánh em cần làm gì ? (Đọc kĩ yêu cầu và các câu văn câu thơ đề tìm các sự vật, các hình ảnh được đem ra so sánh) – Tìm sự vật được so sánh hoặc các hình ảnh được so sánh. Lưu ý HS : Đã gọi là so sánh thì phải có ít nhất 2 sự vật hoặc 2 hình ảnh trở lên được đem ra để so sánh. – Kết luận : Giáo viên kết luận và phân tích rõ để HS hiểu và tự làm lại được bài tập nếu sai. Theo cách làm này HS sẽ tìm được những sự vật hoặc những hình ảnh được so sánh với nhau theo yêu cầu của bài tập : Cụ thể là : 1. Bài tập 2 – trang 8 a. hai bàn tay em được so sánh với hoa đầu cành. b. mặt biển được so sánh với tấm thảm khổng lồ. c. cánh diều được so sánh với dấu á. d. dấu hỏi được so sánh với vành tai nhỏ. Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao “Hai bàn tay em” được so sánh với “Hoa đầu cành” hay vì sao nói “Mặt biển” như “tấm thảm khổng lồ”? Lúc đó giáo viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng hạn: + Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa. + Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp. + Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á. + Dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai. Hai bàn tay Hoa đầu cành Dấu hỏi Vành tai 2. Bài tập 1 – trang 25 a. Mắt hiền sáng tựa vì sao b. Hoa sao xuyến nở như mây từng chùm. c. Trời là cái tủ ướp lạnh / Trời là cái bếp lò nung d. Dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng 3. Bài tập 2 – trang 69 a. Hồ như một chiếc gương bầu dục khổng lồ b. Cầu Thê Húc cong cong như con tôm c. Đầu (con rùa) to như trái bưởi * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi củng cố cho HS về: – Nhận biết được sự vật hoặc hình ảnh được đem ra so sánh. – Để so sánh được cần phải có ít nhất hai sự vật hoặc hai hình ảnh trở lên trong cùng một ví dụ. – Từ để so sánh trong kiểu so sánh sự vật với sự vật là: như, là, tựa b) Kiểu so sánh hơn kém: Bước đầu sách giáo khoa chỉ cung cấp cho HS làm quen với kiểu so sánh này nên có rất ít trong chương trình. Ví dụ : Bài tập – trang 42, 43 Tìm các hình ảnh so sánh trong những khổ thơ sau : a. Bế cháu ông thủ thỉ – Cháu khỏe hơn ông nhiều Ông là buổi trời chiều Cháu là ngày rạng sáng (Phạm Cúc) b. Ông trăng tròn sáng tỏ Soi rõ sân nhà em Trăng khuya sáng hơn đèn Ơi ông trăng sáng tỏ (Trần Đăng Khoa) Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con Đêm nay con ngủ giấc tròn Mẹ là ngọn gió của con suốt đời. (Trần Quốc Minh) Ở phần này khi kết luận cần cho HS nhận biết được các từ so sánh trong các khổ thơ để khắc sâu cho HS và giúp HS dễ dàng nhận biết được đó chính là kiểu so sánh hơn kém. Từ các bước làm trên HS tìm được các hình ảnh so sánh và kiểu so sánh cụ thể là : Hình ảnh so sánh Kiểu so sánh a. Cháu khỏe hơn ông nhiều Ông là buổi trời chiều Cháu là ngày rạng sáng hơn kém ngang bằng ngang bằng b. Trăng khuya sáng hơn đèn hơn kém c.Những ngôi sao thức chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con Mẹ là ngọn gió của con suốt đời. hơn kém ngang bằng Lưu ý: Trong câu “Trăng khuya sáng hơn đèn” HS sinh gạch dưới từ trăng hoặc cả cụm từ trăng khuya đều được xem là đúng. Hay trong câu “Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con” HS có thể gạch dưới Những ngôi sao hay Những ngôi sao thức ngoài kia, mẹ hay mẹ đã thức vì chúng con đều được. Điều quan trọng là trong mỗi cụm từ đều có các từ nòng cốt : trăng, những ngôi sao, mẹ là được. * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi củng cố cho HS về: – Các hình ảnh được so sánh trong câu thơ. – Các từ so sánh: là – hơn – chẳng bằng – Kiểu so sánh: hơn kém, ngang bằng. c) Kiểu so sánh: Sự vật – Con người. Dạng của mô hình so sánh này là: A như B: + A có thể là con người. + B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh. Với kiểu so sánh này tôi hướng dẫn HS nắm được yêu cầu của đề bài; tìm các hình ảnh so sánh; nhận biết về kiểu so sánh. a. Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan (Hồ Chí Minh) b. Ngôi nhà như trẻ nhỏ Lớn lên với rời xanh (Đồng Xuân Lan) c. Cây pơ-mu đầu dốc Im như người lính canh Ngựa tuần tra biên giới Dừng đỉnh đèo hí vang (Nguyễn Thái Vận) d. Bà như quả ngọt chín rồi Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng. (Võ Thanh An) Với dạng bài tập này học sinh sẽ tìm được sự vật so sánh với con người nhưng các em chưa giải thích được “Vì sao?”. Chính vì thế điều đó giáo viên giúp học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn: Giáo viên cho học sinh xem ảnh chụp búp trên cành và giải thích thêm: Trẻ em” giống như “búp trên cành”. Vì đều là những sự vật còn tươi non đang phát triển đầy sức sống, chứa chan niềm hy vọng. Cây pơ- mu cao lơn đứng hiên ngang như người lính dũng cảm đứng canh gác giữa bầu trời. “Bà” sống đã lâu, tuổi đã cao giống như “quả ngọt chín rồi” đều phát triển đến độ già dặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng. * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi khắc sâu cho HS về: – Các hình ảnh so sánh có trong câu thơ, câu văn, chỉ rõ cho HS biết hình ảnh nào chỉ sự vật hình ảnh nào chỉ người. – Từ so sánh là từ như – Kiểu so sánh: Sự vật với con người d) Kiểu so sánh: Âm thanh – Âm thanh: Mô hình này có dạng sau: A như B: + A là âm thanh thứ 1. + B là âm thanh thứ 2. * Ví dụ: Bài tập 2 – trang 80 a. “Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” (Nguyễn Trãi) b. Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa c. Mỗi lúc, tôi càng nghe rõ tiếng chim kêu náo động như tiếng xóc những rổ tiền đồng. Chim đầu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá. (Đoàn Giỏi) Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ “như”. Chẳng hạn: Âm thanh thứ nhất Từ so sánh Âm thanh thứ hai Tiếng suối Tiếng suối Tiếng chim như như như tiếng đàn cầm tiếng hát xa tiếng xóc những rổ tiền đồng Lưu ý: GV giải thích cho HS hiểu những gì ta chỉ có thể nghe được mà không cầm nắm được đó chính là âm thanh. * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi vừa củng cố và mở rộng cho HS về: – Xác định được từ chỉ âm thanh có trong câu thơ, câu văn. – Từ so sánh: như – Kiểu so sánh mới: So sánh âm thanh với âm thanh đ) Kiểu so sánh: Hoạt động – Hoạt động. Mô hình này có dạng như sau: + A như B. * Ví dụ: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau: + “Con trâu đen lông mượt Cái sừng nó vênh vênh Nó cao lớn lênh khênh Chân đi như đạp đất” (Trần Đăng Khoa) + “Cau cao, cao mãi Tàu vươn giữa trời Như tay