Top 10 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Quản Lý Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Là Gì?

Chương trình giáo dục mầm non là gì? Nội dung dung chương trình giáo dục mầm non được ban hành kèm theo Quyết định số /2006/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có nói “Chương trình Giáo dục mầm non là căn cứ để triển khai và chỉ đạo công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non trong cả nước, đồng thời là căn cứ để đào tạo bồi dưỡng giáo viên mầm non, tăng cường cơ sở vật chất và đảm bảo các điều kiện thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non có chất lượng”.

Chương trình giáo dục mầm non mới đã được triển khai trong giảng dạy tại Việt Nam

Mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non Giáo dục mầm non là bộ phận quan trọng và nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Với mục tiêu nuôi dưỡng, dạy dỗ giúp trẻ có thể phát triển về mọi mặt như: thể chất, trí tuệ, đời sống tinh thần,… Từ đó hình thành nên nhân cách tốt, nền tảng kiến thức sơ khai để trẻ đủ hành trang bước vào lớp một.

Mỗi lứa tuổi mầm non lại có một cách giáo dục riêng phù hợp với thể chất, ngôn ngữ và nhận thức của trẻ. Từ đó các chương trình giáo dục mầm non cũng phải có sự thay đổi để hài hòa và mang lại hiệu quả. Trẻ được học tập trong môi trường giáo dục lành mạnh, toàn diện chắc chắn sẽ phát triển rất tốt.

1.Phát triển nhận thức Trước khi bước chân vào ngôi trường mầm non, trẻ hoàn toàn sống giới hạn trong môi trường gia đình. Mặc dù cha mẹ có quan tâm và dạy dỗ trẻ nhiều điều nhưng sự phát triển về nhận thức vẫn sẽ không có sự đột phá. Thế giới xung quanh bị giới hạn, trong khi một đứa trẻ lại muốn một môi trường để thỏa sự tò mò, thích khám phá của chúng. Do đó nếu cho trẻ tiếp xúc với môi trường giáo dục mầm non hiện đại, trẻ dần hình thành các kỹ năng như quan sát, phán đoán, so sánh, phân loại,… Và những hiểu biết ban đầu về bản thân, môi trường, xã hội xung quanh dần hình thành.

Trẻ được tiếp xúc với chương trình giáo dục mầm non hiện đại sẽ phát triển toàn diện các kỹ năng

Chương trình giáo dục mầm non còn giúp trẻ phát triển khả năng ngôn ngữ nhanh chóng. Đó là lý do vì sao hầu hết trẻ được đi lớp học hoạt ngôn và biết cách diễn đạt rõ ràng ý muốn của mình hơn so với những trẻ khác. Khả năng tiếp thu ngôn ngữ nhanh giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với những ngôn ngữ mới, phát triển kỹ năng đọc viết khi vào lớp một.

3.Phát triển thể chất Trẻ mầm non được vui chơi và trải nghiệm những hoạt động trongchương trình giáo dục mầm non mới giúp chúng phát triển khỏe mạnh về thể chất. Thay vì trẻ quanh quẩn ở nhà, chúng được hòa mình vào môi trường xung quanh, tham gia các hoạt động ngoại khóa thú vị. Cải thiện chiều cao cân nặng, linh hoạt di chuyển, hoạt động các cơ quan một cách khéo léo. Đồng thời tạo dựng thói quen chăm sóc sức khỏe, vệ sinh các nhân và giữ an toàn cho bản thân mình.

Thông qua những hoạt động thực tế, trẻ được phát triển thể chất và nâng cao sức khỏe

4.Phát triển đời sống tinh thần

Khi được học các chương trình giáo dục mầm non hiện đại, trẻ dần phát triển về đời sống tinh thần. Trẻ học được sự bao dung, tình yêu thương, lễ phép với người lớn, không ích kỷ,… Trẻ cũng nhận ra rằng thế giới xung quanh nhiều điều tốt đẹp, từ đó phát triển năng khiếu nghệ thuật đang tiềm ẩn bên trong.

Quản Lý Việc Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Ở Các Trường Mầm Non Thành Phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG

QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2017

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG

QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Văn Nhã

HÀ NỘI – 2017

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào. Hà Nội, tháng 01 năm 2017 TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Bích Hằng

i

LỜI CẢM ƠN Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Quản lý giáo dục, Khoa Sau đại học; Quý thầy giáo, cô giáo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Văn Nhã – người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND, Phòng GD&ĐT, Cán bộ quản lý và giáo viên các trường mầm non thành phố Cẩm Phả cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi được theo học khóa học cao học này cả về thời gian, vật chất, tinh thần và cho tôi những điều chỉ bảo quý báu, những thông tin quan trọng trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài. Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân tôi có nhiều nỗ lực cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, tháng 01 năm 2017 TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Bích Hằng

ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BGH

Ban giám hiệu

CB

Cán bộ

CBQL

Cán bộ quản lý

CS-GD

Chăm sóc – giáo dục

CS-ND-GD

Chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục

CTGDMN

Chương trình giáo dục mầm non

CSVC

Cơ sở vật chất

CĐSP

Cao đẳng sư phạm

CNTT

Công nghệ thông tin

ĐDDH

Đồ dùng dạy học

GD&ĐT

Giáo dục và Đào tạo

GV

Giáo viên

GD

Giáo dục

GDMN

Giáo dục mầm non

GDQD

Giáo dục quốc dân

Hoạt động

MN

Mầm non

QL

Quản lý

TTB

Trang thiết bị

UBND

Ủy ban nhân dân

iii

MỤC LỤC Trang Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

iii

iv

vii

MỞ ĐẦU Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON

7

1.1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề

7

1.2. Một số khái niệm cơ bản

10

1.2.1. Quản lý

10

1.2.2. Chức năng quản lý

12

1.2.3. Quản lý giáo dục

15

1.2.4. Quản lý nhà trường

16

1.2.5. Quản lý trường mầm non

17

1.3. Công tác quản lý hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục của 19

Hiệu trưởng trường mầm non 1.3.1. Hiệu trưởng trường mầm non

19

1.3.2. Biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục của Hiệu trưởng trường mầm non

20

1.4. Chương trình giáo dục và Chương trình giáo dục mầm non

24

1.4.1. Chương trình giáo dục

24

1.4.2. Chương trình giáo dục mầm non

25

1.4.2.1. Mục tiêu chương trình giáo dục mầm non

25

1.4.2.2. Nội dung chủ yếu của chương trình giáo dục mầm non

26

1.4.2.3. Những điểm mới của chương trình GDMN

28

1.4.2.4. Một số điều kiện để thực hiện chương trình hiệu quả

30

1.4.2.5. Kế hoạch triển khai thực hiện chương trình

Tiểu kết chương 1 iv

Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

v

52

2.4. Nhận định chung về thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non của Hiệu trưởng các trường mầm non thành phố Cẩm Phả 2.4.1. Ưu điểm 2.4.2. Tồn tại 2.4.3. Nguyên nhân 2.4.3.1. Nguyên nhân chủ quan 2.4.3.2. Nguyên nhân khách quan Tiểu kết chương 2 Chương 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

3.1. Định hướng phát triển giáo dục mầm non 3.1.1. Phát triển GD mầm non giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020 3.1.2. Định hướng phát triển giáo dục mầm non của thành phố Cẩm Phả – Tỉnh Quảng Ninh 3.2. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 3.2.1. Đảm bảo tính đồng bộ 3.2.2. Đảm bảo tính thực tiễn 3.2.3. Đảm bảo tính khả thi 3.3. Một số biện pháp quản lý thực hiện Chương trình giáo dục mầm non của Hiệu trưởng trường mầm non Thành phố Cẩm Phả 3.3.1. Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh về chương trình giáo dục mầm non 3.3.1.1. Mục tiêu 3.3.1.2. Nội dung 3.3.1.3. Cách thực hiện 3.3.1.4. Điều kiện thực hiện 3.3.2. Quản lý tốt việc soạn bài, chuẩn bị ĐDDH và giờ dạy trên lớp của giáo viên 3.3.2.1.Mục tiêu của biện pháp 3.3.2.2. Nội dung 3.3.2.3. Cách thực hiện 3.3.2.4. Điều kiện thực hiện 3.3.3. Chỉ đạo giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục phù hợp chương trình giáo dục mầm non, nhất là nhóm phương pháp thực hành trải nghiệm 3.3.3.1. Mục tiêu vi

3.3.3.2. Nội dung 3.3.3.3. Cách thực hiện 3.3.3.4. Điều kiện thực hiện 3.3.4. Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng xây dựng nội dung chương trình chi tiết phù hợp điều kiện cụ thể 3.3.4.1. Mục tiêu 3.3.4.2. Nội dung 3.3.4.3. Cách thực hiện 3.3.4.4. Điều kiện thực hiện 3.3.5. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình GDMN của giáo viên 3.3.5.1. Mục tiêu 3.3.5.2. Nội dung 3.3.5.3. Cách thực hiện 3.3.5.4. Điều kiện thực hiện 3.3.6. Tổ chức các hoạt động tăng cường và khai thác hiệu quả các điều kiện về cơ sở vật chất trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi, kinh phí thực hiện chương trình GDMN 3.3.6.1. Mục tiêu 3.3.6.2. Nội dung 3.3.6.3. Cách thực hiện 3.3.6.4. Điều kiện thực hiện 3.3.7. Tổ chức các hoạt động tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy học 3.3.7.1. Mục tiêu của biện pháp 3.3.7.2. Nội dung 3.3.7.3. Cách thực hiện 3.3.7.4. Điều kiện thực hiện 3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp 3.5. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi các biện pháp quản lý thực hiện chương trình GDMN của Hiệu trưởng 3.5.1. Về tính cần thiết 3.5.2. Về tính khả thi Tiểu kết chương 3 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận 2. Khuyến nghị DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Bảng số lượng học sinh tham gia dự thi học sinh giỏi và học sinh đạt giải các cấp………………………………………………………………………39 Bảng 2.2. Đội ngũ giáo viên của các trường thực hiện chương trình GDMN …..43 Bảng 2.3. Đội ngũ cán bộ quản lý của các trường thực hiện chương trình GDMN………44 Bảng 2.4. Kết quả khảo sát đội ngũ Hiệu trưởng các trường thực hiện chương trình GDMN………………………………………………………………………………..45 Bảng 2.5. Số lượng trẻ, nhóm, lớp của các trường thực hiện chương trình GDMN ……46 Bảng 2.6. Tình hình đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho GDMN các trường thực hiện chương trình GDMN……………………………………………………..47 Bảng 2.7. Nhận thức của CBQL về sự cần thiết và đánh giá của giáo viên về mức độ thực hiện các biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non……………………………………………………………………………….52 Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất ………..86 Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất…………..88

viii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1. Chức năng của QL ………………………………………………………………….14 Biểu đồ 2.1. Kết quả xếp loại đạo đức bậc Tiểu học ………………………………..38 Biểu đồ 2.2. Kết quả xếp loại đạo đức bậc Trung học cơ sở ……………………..39 Biểu đồ 2.3. Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý………………………………………………………………54 Biểu đồ 3.1. So sánh mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất………………………………………………………………………………..89

ix

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục mầm non có tầm quan trọng trong việc hình thành cơ sở ban đầu về nhân cách con người mới, tạo tiền đề cho trẻ chuẩn bị vào học tốt ở trường Tiểu học. Nhận thức được tầm quan trọng này, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chăm lo đến công tác chăm sóc và giáo dục trẻ. Tại Hội nghị của Chính phủ về giáo dục mầm non ngày 25/6/2002, Bộ GD & ĐT đã chỉ rõ các quan điểm về phương hướng phát triển giáo dục mầm non đó khẳng định: “Nội dung, phương pháp giáo dục mầm non phải là một thể hoàn chỉnh, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, gắn bó chặt chẽ với giáo dục phổ thông”. Trong những năm qua, các chương trình chăm sóc GD trẻ MN (3-36 tháng, 3-4 tuổi, 4-5 tuổi, 5-6 tuổi) đã được Bộ GD – ĐT ban hành (Năm 19941995) có những hạn chế, bất cập về nội dung cũng như phương pháp. Nội dung và hoạt động học tập còn nặng về cung cấp kiến thức một cách riêng rẽ và chưa coi trọng việc hình thành và phát triển các năng lực, kỹ năng sống cho trẻ. Sự đổi mới của chương trình GD các cấp học, đặc biệt ở tiểu học đòi hỏi GDMN – bậc học đầu tiên trong hệ thống GD quốc dân – phải đổi mới, tạo ra sự tiếp nối có hiệu quả, chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp 1 phổ thông. Hơn nữa, trong xu thế phát triển chung của xã hội, nhu cầu và sự phát triển của trẻ em cũng có những thay đổi, cần có chương trình giáo dục cho phù hợp. Sau 3 năm thí điểm ở 48 trường mầm non thuộc 20 tỉnh thành trong cả nước, đến nay, Chương trình giáo dục mầm non mới chính thức được ban hành theo Thông tư số 17 của Bộ GD & ĐT ra ngày 29-7-2009 và đưa vào thực hiện. Chương trình giáo dục mầm non mới thay thế cho chương trình thí điểm giáo dục mầm non thực hiện từ tháng 9-2006, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông mà trước hết và quan trọng nhất là cấp tiểu học. Chương trình giáo dục mầm non mới đã kế thừa được những thành quả của giáo dục mầm non qua các giai đoạn, những giá trị tốt đẹp của các chương trình giáo 1

dục mầm non mới có trong và ngoài nước, đồng thời nó thể hiện được những định hướng đổi mới của giáo dục mầm non, hướng tới sự phát triển của giáo dục mầm non trong tương lai. Hiện nay, ngành giáo dục nước ta đang triển khai thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về lao động, tổ chức, điều khiển toàn bộ hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo của cấp học. Chất lượng giáo dục các mặt trong nhà trường phụ thuộc nhiều vào năng lực quản lý của người Hiệu trưởng. Nghị quyết TW2 khoá VIII đã khẳng định, phải thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu để đạt mục đích: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, nó góp phần không nhỏ trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Giáo dục mầm non nhằm mục tiêu phát triển trẻ một cách tổng thể, hình thành ở trẻ những năng lực chung, giúp trẻ “Học làm người” và chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào học phổ thông. Trường mầm non là chiếc nôi chăm sóc giáo dục trẻ theo khoa học để giúp trẻ phát triển nhanh nhẹn, khoẻ mạnh, cơ thể hài hoà cân đối, giáo dục cho trẻ giàu lòng yêu thương, biết quan tâm nhường nhịn, giúp đỡ những người gần gũi, phát triển cho trẻ tính thông minh, tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi. Từ đó hình thành những phẩm chất đạo đức – trí tuệ ban đầu giúp trẻ phát triển toàn diện. Trong những năm qua việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các trường đó tạo ra diện mạo mới về chất lượng tại các nhà trường. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, các trường được đầu tư các trang thiết bị theo hướng đồng bộ và hiện đại, các nguồn lực đầu tư được huy động tối đa. Song bên cạnh đó, quá trình quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non chưa đồng bộ ở tất cả các cấp đặc biệt là cấp cơ sở. Do số lượng cán bộ, khả năng nắm bắt tư tưởng của cái mới và khả năng cập nhật thông tin hạn chế nên quá trình quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non tại một số trường còn nhiều bất cập. Để chương trình được triển khai và thực hiện 2

phù hợp với giáo dục của Việt Nam, bắt kịp với xu thế đổi mới của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới thì việc quản lý thực hiện chương trình cần có những biện pháp đồng bộ và hiệu quả hơn, điều đó đặc biệt quan trọng và hết sức cần thiết với người Hiệu trưởng. Thực trạng nói trên đặt ra một yêu cầu cần thiết là phải đẩy mạnh công tác quản lý chỉ đạo việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non trong bậc học mầm non. Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình với tiêu đề: “Quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. 2. Mục đích nghiên cứu Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh thông qua một số biện pháp quản lý hiệu quả của Hiệu trưởng trường mầm non. 3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Thực trạng công tác quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non tại các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. 3.2. Khách thể nghiên cứu Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng về việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non. 4. Phạm vi nghiên cứu 4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý của Hiệu trưởng về việc triển khai chương trình giáo dục mầm non của các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. 4.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Đề tài được triển khai, nghiên cứu tại các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. (Cụm chuyên môn số 2: trường mầm non Hoa Sen, trường mầm non Hoa Hồng, 3

8.3.3. Nhóm phương pháp xử lý số liệu: Chúng tôi sử dụng một số công thức toán học để xử lý số liệu đã thu thập được nhằm tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. 9. Ý nghĩa khoa học của đề tài 9.1. Ý nghĩa lý luận Tổng kết lý luận về công tác quản lý của Hiệu trưởng về việc triển khai chương trình giáo dục mầm non hiện nay ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số biện pháp quản lý hiệu quả cho vấn đề này. 9.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lý của Hiệu trưởng về việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non (2009) ở các trường mầm non trong cả nước. 10. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của biện pháp quản lý chương trình giáo dục mầm non. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý của Hiệu trưởng về việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Các biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non của Hiệu trưởng trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON 1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong quá trình phát triển giáo dục mầm non ở Việt Nam có nhiều chương trình giáo dục ra đời. Bộ GD&ĐT có quyết định số 136/GD&ĐT, ngày 31 tháng 5 năm 1994 ban hành bộ chương trình mẫu giáo cải cách Chương trình này được xây dựng cho 3 độ tuổi trẻ mẫu giáo và là bộ chương trình hoàn chỉnh nhất cho đến thời điểm đó. Chương trình đó xác định rõ mục tiêu giáo dục, yêu cầu cần đạt với từng độ tuổi, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa nội dung chăm sóc, giáo dục, coi trọng hoạt động chủ đạo theo lứa tuổi. Chương trình nhà trẻ “Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ nhà trẻ 3-36 tháng tuổi” được ban hành theo quyết định số 1006/GD&ĐT ngày 24 tháng 3 năm 1995. Chương trình gồm các bài soạn gợi ý về các lĩnh vực: Phát triển vận động, ngôn ngữ, hoạt động với đồ vật, giáo dục âm nhạc và trò chơi. Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ nhà trẻ và mẫu giáo hiện hành còn thiếu một số yếu tố như: mục tiêu, nguyên tắc, đánh giá kết quả giáo dục. Văn bản nội dung chương trình bao gồm cả phần hướng dẫn thực hiện, các bài soạn gợi ý chưa thật sự hợp lý. Mục tiêu của chương trình quá chú trọng đến sự phát triển trí tuệ, nặng về cung cấp kiến thức, chưa chú trọng các lĩnh vực khác mặc dù có đặt ra nhiệm vụ phát triển toàn diện cho trẻ. Trong giờ học, tất cả trẻ được thực hiện cùng một nhiệm vụ theo yêu cầu của giáo viên đó định trước, chưa chú ý sự phát triển cá nhân. Các chiến lược giáo dục và dạy học thực hiện dưới hình thức các môn học riêng biệt, học tập theo nhóm đông số trẻ và mọi trẻ cùng tham gia. Có thể nói, việc thực hiện chương trình cải cách chưa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của trẻ ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong việc giúp trẻ phát triển các năng lực trí tuệ với những kích thích mang tính giáo dục, phát triển cảm xúc xã hội và tạo điều kiện để trẻ có thể chất tốt. 7

Chương trình GDMN bao gồm: – Chương trình GD nhà trẻ – Chương trình GD mẫu giáo Chương trình được xây dựng là chương trình khung, bao gồm những nội dung cơ bản, cốt lõi, và có tính linh hoạt, mềm dẻo làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung giáo dục cụ thể với kinh nghiệm sống, khả năng của trẻ và thực tế của từng địa phương, vùng miền. Chương trình kết hợp hài hoà giữa chăm sóc và giáo dục, giữa các lĩnh vực phát triển: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – kĩ năng xã hội và thẩm mỹ để phát triển trẻ toàn diện, Chương trình không nhấn mạnh cho trẻ những kiến thức, kỹ năng đơn lẻ mà theo hướng tích hợp, phù hợp với đặc điểm phát triển và khả năng của trẻ. Chương trình được xây dựng theo hai giai đoạn: giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo, mang tính đồng tâm, phát triển và chú trọng các hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi, tạo ra các cơ hội cho trẻ hoạt động tích cực phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của trẻ. Thực tế cho thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu về biện pháp của Hiệu trưởng về việc quản lý thực hiện chương trình Nguyễn Thị Kim Thanh, Trần Lan Hương, Lê Thu Hương, Cao Thị Thanh, Vũ Thị Bích Hằng… đã làm phong phú thêm lý luận quản lý nói chung và quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non nói riêng. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã nêu lên được vai trò quản lý của Hiệu trưởng các trường mầm non, đưa ra được các giải pháp chỉ đạo việc thực hiện chương trình ở địa phương nơi tác giả công tác. Mỗi đề tài có góc nhìn riêng nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu vấn đề biện pháp quản lý của Hiệu trưởng về việc thực hiện chương trình GDMN ở các trường mầm non. Vì vậy, đề tài muốn được nghiên cứu theo hướng này, từ đó tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý cho Hiệu trưởng trong quá trình chỉ đạo việc thực hiện chương trình GDMN đáp ứng mục tiêu phát triển GDMN nói chung và Giáo dục mầm non các trường thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh nói riêng. 9

Giáo Trình Giáo Dục Học Mầm Non

GIÁO TRÌNH GIÁO DỤC HỌC MẦM NON GIÁO TRÌNH GIÁO DỤC HỌC MẦM NON (Dành cho hệ Cao đẳng Sư phạm Mầm non) Tác giả: Đinh Văn Vang

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG CỦA GIÁO DỤC HỌC MẦM NON I. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA GIÁO DỤC HỌC MẦM NON “Giáo dục học là khoa học về lí luận và thực tiễn nhằm nghiên cứu những vấn đề cơ bản như giáo dục, giáo dưỡng, dạy học…” Như vậy, có thể hiểu một cách khái lược nhất: Giáo dục học là khoa học về giáo dục con người. Giáo dục học mầm non là một bộ phận, một chuyên ngành của giáo dục học. Với tư cách là một khoa học, Giáo dục học mầm non có đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu đặc trưng của nó. 1. Đối tượng của giáo dục học mầm non Con người là đối tượng của nhiều ngành khoa học (triết học, văn học, sử học, xã hội học, sinh lí học, tâm lí học…), trong đó, con người cũng chính là đối tượng của giáo dục. Giáo dục học mầm non nghiên cứu bản chất của quá trình hình thành nhân cách trẻ em. Trên cơ sở đó xác định mục đích, mục tiêu giáo dục, xây dựng nội dung, chỉ ra phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục thích hợp nhằm tổ chức tối ưu quá trình hình thành nhân cách trẻ em trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

lực – một yếu tố cực kì quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên, giáo dục học mầm non phải dựa trên các thành tựu của khoa học hiện đại nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em dưới 6 tuổi và liên kết phối hợp chặt chẽ với nhiều ngành khoa học khác trong quá trình nghiên cứu về vấn đề này. 3. Phương pháp nghiên cứu giáo dục học mầm non Khi nghiên cứu giáo dục học mầm non với tư cách là một chuyên ngành của giáo dục học, chúng ta cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nói chung, nhưng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phải đặc biệt chú ý một số phương pháp sau: 3.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận Các phương pháp ngiên cứu lí luận là những cách thức thu thập và xử lí thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản tài liệu đã có bằng các thao tác tư duy lôgic để rút ra kết luận khoa học hoặc xây dựng hệ thống lí thuyết cho vấn đề nghiên cứu mới. Những kết luận khoa học hoặc hệ thống lí thuyết mới thường được thể hiện ở một trong những hướng sau: – Khẳng định hay phủ định những luận điểm khoa học giáo dục mầm non đang được bàn luận hay tranh cãi.  Phê phán những sai lầm, thiếu sót, hạn chế của hệ thống lí thuyết trước đây. – Kế thừa, phát triển những chân lí khách quan của những lí thuyết trước đây. Trong nghiên cứu khoa học nói chung, khoa học giáo dục mầm non nói riêng, nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận gồm một số phương pháp sau đây:

– Điều tra thăm dò (câu hỏi rộng và nông) nhằm thu thập tài liệu ở mức sơ bộ về đối tượng. – Điều tra đi sâu (câu hỏi hẹp và đi sâu) nhằm khai thác sâu sắc một vài khía cạnh nào đó của đối tượng nghiên cứu. – Điều tra bổ sung nhằm thu thập tài liệu bổ sung cho các phương pháp khác. Căn cứ vào mục đích, tính chất của việc điều tra, người ta có thể sử dụng nhiều dạng câu hỏi khác nhau: + Câu hỏi “đóng” là những câu hỏi có kèm theo phương án trả lời. Người được trưng cầu ý kiến có thể lựa chọn một hoặc vài ba phương án phù hợp với mình. + Câu hỏi “mở” là những câu hỏi không có phương án trả lời sẵn và người được trưng cầu ý kiến tự trả lời. Sử dụng phương pháp điều tra có thể trong một khoảng thời gian ngắn thu thập được ý kiến của nhiều người ở một phạm vi rộng, tuy nhiên, độ tin cậy của tài liệu thu được bị hạn chế, bởi vì nó phụ thuộc vào chủ quan của người trả lời. Để có tài liệu tương đối chính xác phải điều tra số lượng người đủ lớn. Các câu hỏi cần xây dựng theo một hệ thống, chúng ràng buộc lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau để có thể buộc người trả lời phải bộc lộ ý nghĩ thật của mình. 3.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục Tổng kết kinh nghiệm giáo dục là phương pháp đi từ thực tiễn giáo dục, dùng lí luận phân tích thực tiễn, từ phân tích thực tiễn mà rút ra lí luận. Trong khoa học giáo dục nói chung và giáo dục học mầm non nói riêng, tổng kết kinh nghiệm, tức là dùng cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, dùng tri thức về khoa học giáo dục mầm non và các khoa học khác để tìm hiểu, phân tích, đánh giá các kinh

nghiệm có tác dụng tích cực trong thực tiễn giáo dục, từ đó rút ra những bài học mang tính lí luận, lí luận đó được chỉ đạo trở lại thực tiễn giáo dục. Ví dụ: Kinh nghiệm phòng chống trẻ suy dinh dưỡng ở trường mầm non; kinh nghiệm huy động trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo; kinh nghiệm của các điển hình tiên tiến trong công tác chăm sóc – giáo dục trẻ; kinh nghiệm quản lí của hiệu trưởng trường mầm non… Khi sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục cần đảm bảo một số yêu cầu sau:  Phát hiện xác định đúng đối tượng nghiên cứu. Tức là kinh nghiệm có thật và đang tồn tại chứ không phải là những dự định sẽ làm hoặc đã làm nhưng chưa tới mức gọi là kinh nghiệm. Muốn vậy phải kiểm tra kĩ và đánh giá chính xác hiệu quả đã đạt được do kinh nghiệm mang lại. – Khi thu thập, xử lí các số liệu phải hết sức khách quan. Muốn vậy phải thu thập, xử lí thông tin từ nhiều nguồn và bằng nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp trò chuyện, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra.  Những lí luận tổng kết từ kinh nghiệm cần tiếp tục khẳng định và phát triển, đồng thời phải đem ứng dụng vào thực tế để “nhân” kinh nghiệm bằng cách chỉ đạo điểm hoặc thực nghiệm khoa học. 3.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động Nghiên cứu sản phẩm hoạt động là phương pháp tìm hiểu con người thông qua sản phẩm do họ tạo ra. Ví dụ: Nghiên cứu sản phẩm nặn, vẽ, xé, dán của trẻ mẫu giáo 5 tuổi để hiểu đặc điểm và khả năng sáng tạo của trẻ. Hoặc nghiên cứu sản phẩm của giáo viên mầm non để hiểu về chính họ. Khi nghiên cứu sản phẩm hoạt động cần nắm được đầy đủ điều kiện và quá trình hoạt động của con người đưa đến sản phẩm. Tức là chúng ta không chỉ tìm hiểu con người làm ra cái gì, mà quan trọng hơn là làm như thế nào?

Bởi vì các sản phẩm và năng lực của con người thường bộc lộ qua những điều kiện và quá trình làm ra sản phẩm. 3.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Thực nghiệm sư phạm là phương pháp nghiên cứu một cách chủ động, có hệ thống một hiện tượng giáo dục nhằm xác định mối quan hệ giữa tác động giáo dục với hiện tượng giáo dục cần được nghiên cứu trong những điều kiện đã được khống chế. Nét đặc trưng của phương pháp thực nghiệm sư phạm là nhà nghiên cứu chủ động tạo ra điều kiện nghiên cứu và khi cần thiết có thể lặp lại nhiều lần điều kiện đó. Thường có hai loại thực nghiệm: thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. – Thực nghiệm tự nhiên là những thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện bình thường của quá trình sư phạm. – Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là nhân thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện khống chế nhằm xác định mặt định tính, định lượng và bản chất của hiện tượng giáo dục. Phương pháp thực nghiệm cho phép người nghiên cứu tìm hiểu sâu bản chất của hiện tượng giáo dục để từ đó phát hiện ra cái mới, nhưng đây là phương pháp đòi hỏi sự chuẩn bị công phu cả về lí luận cũng như công việc và trang thiết bị kĩ thuật khi tiến hành thực nghiệm. Thực nghiệm sư phạm có thể được tiến hành theo các bước sau đây: Bước 1: Xác định được vấn đề thực nghiệm với mục đích rõ ràng. Bước 2: Nêu giả thuyết và xây dựng đề cương thực nghiệm. Bước 3: Tổ chức thực nghiệm Gồm các công việc: – Chọn mẫu thực nghiệm.

nhất và thứ hai, về sự phát triển của các cơ quan cảm giác và vận động, về nhu cầu của cơ thể v.v… Chẳng hạn, từ đặc điểm phát triển của trẻ em từ 0 – 6 tuổi mà chúng ta xây dựng chế độ sinh hoạt trong ngày của trẻ, chế độ dinh dưỡng, học tập, vận động một cách khoa học. Những thành tựu khoa học mới về sinh lí trẻ em làm thay đổi cả lí luận và thực tiễn giáo dục mầm non. 4.3. Với tâm lí học Tâm lí học trang bị cho giáo dục học cơ sở khoa học về việc xây dựng lí luận và tổ chức hoạt động thực tiễn giáo dục trẻ em theo các thời kì, với những đặc điểm phát triển tâm lí theo lứa tuổi. Hiểu một cách ngắn gọn thì tâm lí học là cơ sở khoa học của giáo dục học. Chỉ có hiểu biết tâm lí trẻ em mới có thể tổ chức khoa học quá trình giáo dục trẻ em và tránh được sự áp đặt đối với trẻ. 4.4. Với điều khiển học Điều khiển học là khoa học điều khiển tối ưu các hệ thống động phức tạp. Là khoa học nghiên cứu lôgic của những quá trình trong tự nhiên và xã hội, xác định những cái chung, quy định những điều kiện vận hành các quá trình đó. Dựa vào lí thuyết điều khiển học, chúng ta có thể điều khiển quá trình dạy học và giáo dục đạt hiệu quả tối ưu. 4.5. Với đạo đức học và mĩ học Đạo đức học, mĩ học giúp cho việc xây dựng cơ sở phương pháp luận và xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục đạo đức giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mầm non. Tóm lại: Giáo dục học mầm non có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khoa học khác nhau và dựa trên các thành tựu nghiên cứu về con người của các ngành khoa học, giáo dục học mầm non để từng bước hoàn thiện lí luận khoa

học của mình và ngày càng đem đến hiệu quả cao cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

II. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA GIÁO DỤC MẦM NON 1. Mục tiêu giáo dục mầm non Như chúng ta đã biết, mục đích giáo dục là mô hình nhân cách tổng thể đón trước sự phát triển của mỗi học sinh – mỗi người lao động tương lai của đất nước phải đạt được trong một giai đoạn lịch, sử cụ thể, ứng với một nền sản xuất nhất định. Mục đích giáo dục nói chung được thực hiện từng phần, từng mức độ ở từng lứa tuổi, từng cấp học qua từng giai đoạn phát triển nhất định của mỗi người. Mục đích giáo dục bộ phận được gọi là mục tiêu giáo dục, ví dụ: mục tiêu giáo dục mầm non, mục tiêu giáo dục tiểu học, mục tiêu giáo dục trung học, mục tiêu giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp – dạy nghề… Mục tiêu giáo dục mầm non thể hiện ở việc xác định mục tiêu chung và những yêu cầu chủ yếu đối với việc phát triển nhân cách mà trẻ em Việt Nam đến 6 tuổi (trước khi bước vào lớp Một) phải đạt được qua việc nhận sự giáo dục của gia đình và trường mầm non. 1.1. Mục tiêu giáo dục mầm non Giáo dục mầm non là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục mầm non nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi (Điều 21- Luật Giáo dục 2005). Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp Một (Điều 22- Luật Giáo dục 2005). Mục tiêu giáo dục mầm non được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn tuổi nhà trẻ và giai đoạn tuổi mẫu giáo. Mục tiêu của mỗi giai đoạn được xác định là cái đích mà cuối giai đoạn đó trẻ phải đạt được nhờ sự chăm sóc, giáo dục của người lớn. Những mục tiêu này được thể hiện trong Quyết định số:

5205/QĐ-BGD&ĐT ngày 19 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cụ thể là: 1.1.1. Mục tiêu giáo dục mầm non ở cuối tuổi nhà trẻ a) Phát triển thể chất  Trẻ khoẻ mạnh, cơ thể phát triển cân đối. Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A. – Thực hiện được các vận động cơ bản. – Thích nghi với môi trường sinh hoạt ở trường mầm non. – Có một số thói quen tự phục vụ trong ăn uống, vệ sinh cá nhân. b) Phát triển nhận thức – Thích tìm hiểu thế giới xung quanh.  Có sự nhạy cảm của các giác quan: vị giác, khứu giác, xúc giác, thính giác, thị giác. – Nhận biết được về bản thân, một số sự vật, hiện tượng quen thuộc gần gũi. – Có khả năng quan sát, chú ý, ghi nhớ, phát triển tư duy trực quan- hành động và tư duy trực quan- hình ảnh. c) Phát triển ngôn ngữ – Nghe, hiểu được các yêu cầu đơn giản bằng lời nói của người khác. – Diễn đạt được các nhu cầu đơn giản bằng lời nói. – Có khả năng hỏi và trả lời một số câu hỏi đơn giản. d) Phát triển tình cảm – xã hội – Mạnh dạn giao tiếp với những người gần gũi. – Biết được một số việc được phép làm và không được phép làm.  Biết thể hiện cảm xúc trước cái đẹp. Thích múa, hát, đọc thơ, nghe kể chuyện, vẽ, nặn, lắp ghép, xếp hình…

– Thích tự làm một số công việc đơn giản. 1.1.2. Mục tiêu giáo dục mầm non ở cuối tuổi mẫu giáo a) Phát triển thể chất – Trẻ khoẻ mạnh, cơ thể phát triển cân đối. Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A. – Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế. – Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian. – Thực hiện được một số vận động của đôi tay một cách khéo léo.  Có một số thói quen, kỹ năng tốt về giữ gìn sức khoẻ, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và biết cách đảm bảo sự an toàn. b) Phát triển nhận thức  Ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi những sự vật hiện tượng xung quanh. – Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý và ghi nhớ có chủ định. Nhận ra một số mối liên hệ đơn giản của các sự vật hiện tượng xung quanh. – Có một số hiểu biết ban đầu về bản thân, môi trường tự nhiên và xã hội. c) Phát triển ngôn ngữ – Nghe và hiểu được lời nói trong giao tiếp. – Có khả năng diễn đạt bằng lời nói rõ ràng để thể hiện ý muốn, cảm xúc của mình và của người khác. – Có một số biểu tượng về việc đọc và việc viết để vào học lớp Một. d) Phát triển tình cảm – xã hội

– Không ngừng đổi mới nội dung và phương pháp chăm sóc – giáo dục nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ. – Thu hút ngày càng nhiều trẻ em trong độ tuổi vào các loại hình chăm sóc – giáo dục trẻ thích hợp, trong đó nòng cốt là các nhà trẻ, trường mầm non để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mầm non mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành. – Kết hợp chặt chẽ với gia đình và các tổ chức xã hội trong công tác chăm sóc – giáo dục trẻ em.

III. BẬC HỌC MẦM NON TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN 1. Cơ Cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Theo Luật Giáo dục 2005, hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam hiện nay gồm bốn bậc giáo dục sau đây:  Giáo dục mầm non: Thực hiện việc chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi. Bậc học mầm non gồm các cơ sở sau: + Nhà trẻ, nhóm trẻ: Nhận trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi. + Trường, lớp mẫu giáo: Nhận trẻ em từ 3 tuổi đến 6 tuổi. + Trường mầm non: là cơ sở kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi. – Giáo dục phổ thông: Nhận giáo dục trẻ em từ 6 tuổi đến 18 tuổi. Giáo dục phổ thông được chia làm ba bậc nhỏ: + Giáo dục tiểu học: Được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5. Tuổi của học sinh lớp 1 là 6 tuổi. + Giáo dục trung học cơ sở: Thực hiện trong 4 năm, từ lớp 6 đến lớp 9. Học sinh vào lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là 10 tuổi. + Giáo dục trung học phổ thông: Thực hiện trong 3 năm, từ lớp 10 đến lớp 12. Học sinh vào lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là 15 tuổi.

– Giáo dục nghề nghiệp: Nhận đào tạo công nhân và cán bộ thực hành cho các lĩnh vực kinh tế và văn hoá xã hội. Bậc giáo dục nghề nghiệp gồm hai loại trường: + Trường trung cấp chuyên nghiệp: Tiếp nhận học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông để đào tạo. Mục tiêu của trường trung cấp chuyên nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kĩ năng thực hành cơ bản một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc. + Trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, lớp dạy nghề, nhằm đào tạo nguồn nhân lực kĩ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo. – Giáo dục đại học: Tiếp nhận những học sinh khá, giỏi được sàng lọc qua các kì thi tuyển sinh để đào tạo thành những chuyên gia cho các lĩnh vực khoa học và nghiệp vụ, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Giáo dục đại học gồm 4 trình độ đào tạo: + Trình độ cao đẳng đào từ 2 đến 3 năm học tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THPT hoặc có bằng tốt nghiệp trung cấp; từ 1,5 năm đến 2 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành. + Trình độ đại học được thực hiện từ 4 đến 6 năm học tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tất nghiệp THPT hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ 2,5 năm đến 4 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ 1,5 năm đến 2 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành. + Trình độ thạc sĩ được thực hiện từ 1 đến 2 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học. + Trình độ tiến sĩ được thực hiện trong 4 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ 2 đến 3 năm học đối với người có bằng thạc sĩ.

2. Hãy trình bày các phương pháp nghiên cứu của giáo dục học mầm non. 3. Phân tích khái niệm mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục mầm non. 4. Chứng minh rằng bậc học mầm non là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. BÀI TẬP THỰC HÀNH 1. Dựa vào xu thế phát triển của xã hội và thời đại rút ra nhận xét về chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện hành. 2. Theo dõi, ghi chép, mô tả về quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một trẻ em mà bạn gần gũi.

Chương 2. NHIỆM VỤ GIÁO DỤC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON I. NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON 1. Cơ sở triết học Cũng như các lĩnh vực khoa học khác, triết học duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục mầm non nói riêng. Ở đây, triết học duy vật biện chứng cung cấp cơ sở khoa học cho việc xác định bản chất con người, nguồn gốc của ý thức và mối quan hệ giữa quá trình giáo dục với các quá trình khác, chỉ ra nguyên lí của sự phát triển nhân cách con người… Trên cơ sở này, các nhà giáo dục xây dựng mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục mầm non. Trước hết, về bản chất con người, các nhà triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, con người không phải do Thượng đế sinh ra mà con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội. “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của mỗi cá nhân riêng lẻ. Trong tính

Quản Lý Giáo Dục Mầm Non Và Những Lưu Ý

Quản lý giáo dục mầm non là công việc gì? Công việc có đơn giản, người làm công việc này cần những kỹ năng gì? Công việc có những niềm vui gì?,.. là vô vàn câu hỏi thắc mắc xung quanh ngành quản lý giáo dục mầm non. Cùng theo chân KiddiHub tìm hiểu về một trong những vị trí quan trọng có ảnh hướng đến việc giáo dục trẻ mầm non.

Tổng quan về ngành Quản lý giáo dục mầm non

Quản lý giáo dục mầm non theo định nghĩa tổng quát là sự diều hành, điều chỉnh hoạt động của toàn bộ cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng hoàn thiện nhân tài.

Quản lý giáo dục mầm non là công việc đòi hỏi nhiều kỹ năng để có thể ứng phó, sẵn sàng xử lý trước các tình huống rắc rối trong hoạt động của trẻ nhỏ. Dù vậy nhưng đây cũng là một công việc vui nhộn vì liên tục được làm việc với trẻ nhỏ, là người tạo ra các dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời của trẻ thông qua việc giáo dục, chăm sóc trẻ.

Quản lý giáo dục mầm non bao gồm những công việc gì?

Quản lý các hoạt động chung tại trường.

Quản lý điều phối chuyên môn, giám sát việc thực hiện công việc hàng ngày của giáo viên.

Trao đổi với phụ huynh về việc chăm sóc, giáo dục trẻ.

Báo cáo tình hình hoạt động của trường cho Ban Lãnh Đạo

Nghiên cứu triển khai giáo án cùng giáo viên để việc giảng dạy đạt hiệu quả cao.

Tham gia tổ chức các hoạt động ngoại khóa, dã ngoại cho học sinh.

Xây dựng kế hoạch phát triển và quảng bá trường

Các công việc khác theo sự phân công của Ban Lãnh Đạo.

Quản lý về mục tiêu giáo dục, chăm sóc.

Quản lý về phương pháp giáo dục.

Quản lý nội dung giáo dục, chăm sóc.

Quản lý học sinh về các nhận thức, kiến thức, kỹ năng.

Quản lý giáo viên, nhân viên xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.

Quản lý về cơ sở vật chất.

Quản lý về tài chính

Quản lý về chương trình ngày hội, ngày lễ.

Quản lý về quy chế hoạt động nội bộ.

Quản lý về phát triển số lượng học sinh.

Quản lý về kiểm định chất lượng học sinh.

Quản lý về thi đua khen thưởng.

Những kinh nghiệm trong ngành quản lý giáo dục mầm non

Xây dựng biện pháp quản lý giáo dục

Thực hiện xây dựng chuyên môn sư phạm cho giáo viên.

Xây dựng nội bộ đoàn kết, giao nhiệm vụ công bằng cho các giáo viên trong trường.

Quan tâm đến đời sông nhân viên, thường xuyên khích lệ và tạo ra thi đua trong nhà trường.

Kiểm tra chất lượng của giáo viên, kiểm tra chất lượng giảng dạy và học tập của học sinh.

Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, nâng cao chất lượng của giáo viên.

Đảm bảo chất lượng giáo dục hiệu quả, chất lượng

Chú trọng giáo dục đạo đức cho giáo viên và học sinh.

Tạo mọi điều kiện, cơ hội, giúp đỡ để giáo viên tích cữ đổi mới phương pháp.

Duy trì và phát triển các buổi học.

Thường xuyên cải thiên, nâng cao và đổi mới những chương trình lý thú, bổ ích cho học sinh.

Xây dựng tốt các mối quan hệ trong và ngoài trường

Mối quan hệ tốt với các cấp lãnh đạo.

Mối quan hệ với chính quyền địa phương, với các ban ngành đoàn thể trong trường và địa phương.

Mối quan hệ giữa thầy cô và phụ huynh học sinh.

Xây dựng, triển khai tốt công tác xã hội giáo dục

Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh thuận lợi cho việc giáo dục trẻ.

Xây dựng môi trường mầm non thân thiện.

Đa dạng hóa các hình thức học tập của giáo viên và học sinh.

Đa dạng hóa các nguồn nhân lục của nhà trường.

Xây dựng kế hoạch cụ thể, khả thi, xây dựng hồ sơ quản lý phải khoa học, ngăn lắp.

Quản lý giáo dục rất quan trọng trong các cơ sở giáo dục. Với mỗi một cơ sở mầm non lại có phương pháp giảng dạy khác nhau đòi hỏi người quản lý phải linh hoạt, sáng tạo luôn tục đổi mới các hoạt động, phương pháp giáo dục trẻ.

Lời Kết