Cách Viết Tốt Bài Văn Tả Cây Bàng

--- Bài mới hơn ---

  • Giúp Học Sinh Nhận Biết, Sử Dụng Hiệu Quả Phép Tu Từ Nhân Hóa
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt 4 Tập 2 Tuần 19 Câu 4, 5, 6, Vui Học Trang 7, 8
  • Skkn Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Trong Làm Văn Miêu Tả Lớp 4
  • Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Nhân Hóa Trong Văn Bản Ánh Trăng
  • Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Đoạn Cá Nhụ, Cá Chim Cùng Cá Đé…
  • Cách viết tốt bài văn Tả cây bàng

    + Em chắc chắn có dàn bài tả cây bàng

    P2. Thân bài:

    – Các mẹ chú ý rằng viết văn ở tiểu học không câu lệ về khuôn mẫu như sách giáo khoa , nhưng người viết ( trẻ) phải có dấu ấn riêng của mình, phải có những chi tiết cơ bản chọn lọc làm cho người đọc người nghe nhận ra đó là cái riêng biệt nhất của loại cây đó tránh kiểu viết: ” thân nó to, tán rộng, xòe ra nhiều phía”

    P3. Kết bài: Nêu suy nghĩ của em về cây bàng đã tả

    + Em chắc chắn viết từ 3 đến 7 đoạn . Mỗi đoạn diễn đạt một ý .

    + Đoạn 1 chắc chắn là Phần mở bài còn đoạn cuối cùng là đoạn kết bài

    + Em chắc chắn tả theo một trật tự nhất định , nhưng theo thầy dễ làm hơn cả và hay hơn cả vấn là cách tả kết hợp Tả bộ phận của cây với tả theo từng thời kì phát triển của cây.

    + Chỉ có viết và đọc lại câu viết của mình mới có câu văn hay.

    + Ở tiểu học, cái làm nên tự tin cho em chính là em nắm chắc cấu tạo bài văn tả cây cối . Em viết rồi em lại đọc lại, Nhớ soát lỗi chính tả và cách dùng từ. Vì mình còn bé mà. Bé mà có những câu văn hay làm cho các thầy các cô trên facebook cứ tưởng của người nhớn viết thế mới tài chứ . Phải không các em.

    vawntieuhoc.com . Bài mẫu minh họaĐề bài: Tả một cây bóng mát mà em biết .Bài làm

    Sân trường em có nhiều cây bóng mát. Cây hoa phượng mùa hè hoa đỏ rực trời.Cây gạo gai tán xòe rộng một góc sân. Nhưng ấn tượng nhất và nhớ nhất vẫn là cây bàng sừng sững ở gần nhà ăn.

    Cây bàng đó không biết có từ bao giờ, chỉ thấy bố em bảo khi bố còn nhỏ đã có cây bàng này rồi. Thân nó to thật, to đến nỗi ba đứa chúng em vòng tay dang cũng không vừa. Dưới gốc nổi lên những u cục bướu giống như những cái gáo dừa. Đứng từ trên tầng hai nhìn xuống, cây bàng giống như một cái nấm khổng lồ , ba tán phủ kín một góc sân. Thân bàng hơi nghiêng một chút như tạo dáng với đất trời. Cành bàng lan tỏa ra nhiều phía.

    Trong cái nắng xuân hồng, đất trời như cựa mình, bàng cũng cựa mình để nhú ra những mầm non. Những mầm bàng giống như những ngọn nến xanh ai đó thắp lên trời cao. Chỉ một vài ngày nữa thôi, những ngọn nến xanh ấy sẽ cháy bùng lên , nở xòe ra những vòng lá non biếc.

    Hè về, trong cái nắng chói chang, bàng xòe tán rộng, lá đan vào nhau đến nỗi cơn mưa nhỏ cũng chẳng làm ướt tóc chúng em đang chơi dưới gốc bàng. Trong vòm lá xanh kia, ngước mắt lên, ai cũng thấy những bông hoa nhỏ li ti vàng nhạt giống như những trứng cua đồng. chỉ mấy tuần nữa thôi, những chùm bàng xanh giống như những quả trám nhỏ lấp ló trong vòm lá. Giờ ra chơi, chúng em tụ tập dưới gốc bàng, những ván bi quyết liệt, những tiếng gieo hò rộn lên dưới gốc bàng ấy để chơi bi chơi đồ.

    Thu về, gió heo may xào xạc, chim chào mào kéo đến, chí choách, tranh nhau những quả bàng vàng xuộm, nhặt những quả bàng rơi, em đập ra, lấy nhân, ăn vừa béo, bùi, ngây ngấy.

    Đông về, những chiếc lá bàng đỏ quạch cong công như những chiếc bánh đa nướng, theo chiều gió rơi lả tả xuống sân. Bác bảo vệ loẹt thu chúng lại về đun bếp vừa đợm vừa hồng. Mưa phùn rắc nhẹ. Trong cái giá lạnh những cành bàng gầy guộc nhô lên trời.

    Năm qua tháng qua, cây bàng vẫn trầm ngâm đứng đó, chứng kiến bao nhiêu kỉ niệm vui buồn của học sinh. Dù mai, em có xa trường này, em vẫn không quên hình ảnh cây bàng già của trường em.

    ====================================

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa Để Tả Vườn Cây
  • Câu 1 : Đặt 3 Câu Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa: A. Đối Với Đồ Vật. B. Đối Với Con Vật C. Đối Với Cây Cối. Câu 2 : Viết Một Đoạn Văn Ngắn Khoảng 100
  • Đoạn Văn Ngắn Có Sử Dụng Phép So Sánh Và Nhân Hóa
  • Ôn Tập So Sánh Và Nhân Hóa Lớp 3
  • Viết Đoạn Văn Tả Cánh Đồng Lúa Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Và Nhân Hóa
  • Ôn Tập Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Và Các Hình Thức Nhân Hoá

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nhân Hóa Là Gì? Một Số Ví Dụ Và Các Hình Thức Của Nhân Hóa
  • Biện Pháp Nhân Hóa: Định Nghĩa
  • Nhân Hóa Là Gì? Có Mấy Kiểu Nhân Hóa Và Ví Dụ
  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Nguyên Nhân Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Phải Có Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí
  • Khái niệm

    Nhân hóa là cách gọi hoặc tả sự vật bằng những từ ngữ được dùng để gọi, tả người,… vốn dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật,…

    Dấu hiệu nhân biết: Các từ chỉ hoạt động, tên gọi của con người: ngửi, chơi, sà, anh, chị,…

    Ví dụ: Ông trời mặc áo giáp đen ra trận

    Các hình thức nhân hóa trong tiếng Việt

    Cách 1: Gọi các sự vật bằng những từ ngữ để gọi con người.

    Các sự vật ( đồ vật, con vật, cây cối,…) không chỉ được gọi một cách thông thường mà được gọi giống như con người.

    Ví dụ: Bác gà trống trông thật oai vệ.

    Cách 2: Miêu tả sự vật bằng những từ ngữ miêu tả con người.

    Đối với miêu tả sự vật, có thể tả dưới nhiều dạng như hành động, tâm trạng, ngoại hình, tính cách….

    Ví dụ: Chú ếch con đang ngồi học bài bên bờ sông.

    Cách 3: Xưng hô với sự vật thân mật như con người.

    Sự vật không còn là vật vô tri vô giác mà trở nên gần gũi thông qua cách đối đáp, trò chuyện của con người.

    Ví dụ: Chị gió ơi! Chị gió ơi!

    Các bước để sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa

    Bước 1: Xác định sự vật ( con vật, đồ vật, cây cối,…) được nhân hóa.

    Việc nhận biết, xác định sự vật được sử dụng biệp pháp nhân hóa là gì? Con vật ( gà, vịt, cá,..), đồ vật ( bàn, ghế, tủ,…), hiện tượng tự nhiên ( mưa, nắng,…)…

    Ví dụ: Trong câu: ” Bác chim đang đậu trên ngọc cây hót véo von”

      Sự vật được nhân hoá trong câu là ” Bác chim”. Dùng từ ngữ của con người ” Bác” để gọi loài chim.

    Bước 2: Sử dụng các hình thức nhân hóa ( gọi, miêu tả, xưng hô) gán cho sự vật được lựa chọn để nhân hóa.

    Các sự vật được nhân hóa được lựa chọn các hình thức nhân hóa phù hợp.

    Ví dụ: Trong câu: ” Ông mặt trời đang ban phát ánh nắng vàng cho cây cối và con người trên thế giới”.

    • Sử dụng từ ngữ xưng hô ” Ông” để gọi Mặt trời.
    • Dùng từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của con người ” ban phát” dùng cho sự vật được nhân hoá.

    Bước 3: Tiến hành thực hiện với nội dung của câu.

    Ví dụ: Điền từ ngữ có sử dụng nhân hoá để hoàn chỉnh câu giới thiệu sau:

    Mỗi loài chim đều có đặc điểm riêng: chim chích choè ………., chào mào…………., vẹt…………., cu gáy ……………….

      Trong trường hợp này, chúng ta nên sử dụng từ ngữ nhân hoá miêu tả hoạt động, tính chất giống như con người.

    Mỗi loài chim đều có đặc điểm riêng: chim chích choè biết múa, chào mào biết hát, vẹt biết nói, cu gáy biết chơi nhạc cụ.

    Để con học tập và ôn luyện tốt hơn môn Tiếng Việt trong năm học 2022-2021, cha mẹ hãy tham khảo CHƯƠNG TRÌNH HỌC TỐT của chúng tôi giúp con có phương pháp hộc tập phù hợp và mang lại thành tích cao trong học tập.

    • Hệ thống đề kiểm tra và bài tập tự luyện có ĐÁP ÁN và HƯỚNG DẪN GIẢI.
    • Đội ngũ giáo viên giỏi chuyên môn và giàu kinh nghiệm giảng dạy.
    • Giúp học sinh tăng cơ hội giành điểm 9 – 10 trong các bài thi, bài kiểm tra.

    Thông tin chi tiết về khóa học, phụ huynh và học sinh hãy gọi ngay hotline 0936 5858 12 để được tư vấn miễn phí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Viên Chủ Nhiệm
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 4
  • 5 Bài Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ Của Nhà Thơ Tú Xương, Văn Mẫu 11
  • Soạn Bài Thương Vợ Của Trần Tế Xương
  • Chuyên Đề 1: Các Biện Pháp Tu Từ So Sánh, Nhân Hoá, Ẩn Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Phân Tích Giá Trị Biểu Cảm Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Dạy Ngữ Văn 7
  • A. Phần Tiếng Việt: Các Kiểu Câu, Biện Pháp Tu Từ I. Các Kiểu Câu 1. Câu Rút Gọn A) Thế Nào Là Câu Rút Gọn? B) Nêu Tác Dụng Của Câu Rút Gọn: C) Khi Rút Gọn
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Đường Giao Thông Nông Thôn Quảng Bình
  • m Những từ so sánh: Các từ so sánh Là, như, y như, giống như, tựa như, tựa như là, bao nhiêu, bấy nhiêu, So sánh ngang bằng. Hơn, hơn là, kém, không bằng, chưa bằng, chẳng bằng, So sánh không ngang bằng. Lưu ý: Các yếu tố trong công thức cấu tạo phép so sánh có thể vắng mặt: Vắng từ ngữ chỉ phương diện SS. Vắng từ so sánh. Vế B có thể đảo lên trước vế A. VD: + Vắng từ SS: Bác ngồi đó lớn mênh mông. Trời cao biển rộng ruộng đồng nước non. (Tố Hữu) + Vắng từ SS và PDSS: Gái thương chồng đương dông buổi chợ Trai thương vợ nắng quái chiều hôm. + Như/ tre mọc thẳng, con người / không chịu khuất. Từ SS B A PDSS 2. Các kiểu so sánh Có hai loại so sánh: So sánh ngang bằng: VD: Gió thổi là chổi trời. So sánh không ngang bằng: VD: Đói no có thiếp có chàng Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình. 3. Tác dụng của so sánh So sánh có tác dụng gợi hình, giúp cho việc miêu tả sự vật, sự việc được cụ thể, sinh động. So sánh có tác dụng biểu hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc. Vận dụng vào viết văn: VD: Cái anh chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như gã nghiện thuốc phiện. (Tô Hoài) Viết đoạn văn có sử dụng phép so sánh. II. NHÂN HOÁ (Người làm: Nguyễn Võ Hương Giang) 1. Khái niệm Nhân hoá là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vậtbằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người. Nhân hoá có tác dụng làm cho các sự vật trở nên sống động gần gũi với con người. Có thể nói thêm rằng: Nhân hoá hay nhân cách hoá là một biến thế của ẩn dụ, ở đó người ta chuyển đổi ý nghĩa của các từ ngữ chỉ thuộc tính của con người sang đối tượng không phải con người. Có người cho nhân hoá thực ra là nhân vật hoá, tức là cách biến mọi vật thành nhân vật đối thoại hay như là một nhân vật của mình 2.Các kiểu nhân hoá Về mặt hình thức, nhân hoá có thể được tổ chức bằng cách: Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật: Dùng những từ vốn gọi người ( cô, dì, chú, bác, anh, chị) để gọi sự vật. Thí dụ: Có con chim vành khuyên nhỏ. Dáng trông thật ngoan ngoãn quá. Gọi "dạ" bảo "vâng".Lễ phép ngoan nhất nhà. Chim gặp bác chào mào, "chào bác!". Chim gặp cô Sơn Ca, " chào cô!". Chim gặp anh chích choè, " chào anh!". Chim gặp chị Sáo Nâu, "chào chị!"- lời bài hát Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật: Thí dụ: Dùng các động từ thuộc về hoạt động của con người để miêu tả sự tồn tại và vận động của trời - núi - trăng- hoa: Vì mây cho núi lên trời Vì chưng gió thổi hoa cười với trăng. Dùng các tình từ miêu tả, các động từ hành vi của người, khoác lên cho các đối tượng không phải người: ...Lúa đã chen vai đứng cả dậy. - Trần Đăng Hoặc: Súng vẫn thức. Vui mới giành một nữa, Nên bâng khuâng sương biếc nhớ người đi.- Tố Hữu Nhờ nhân hoá mà cảnh vật trở nên sinh động lạ thường! Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người Coi các đối tượng không phải người mà như là người và tâm tình nói chuyện với chúng. Thí dụ: ....Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện chăng tơ Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai? Buồn trông chênh chếch sao mai, Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ? - Ca dao Trò chuyện với sự vật, hô - gọi sự vật như trò chuyện với con người, hô gọi con người: Thí dụ: Núi cao chi lắm núi ơi ? Núi che mặt trời chẳng thấy người thương. - Ca dao 3. Nội dung, cơ sở và tác dụng của nhân hóa Về mặt nội dung, cơ sở để tạo nên nhân hoá là sự liên tưởng, nhằm đi đến phát hiện ra những nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải là người. Ở đây đòi hỏi một sự quan sát tinh vi, một sự hiểu biết chính xác về những thuộc tính của con người cũng như thuộc tính của đối tượng không phải con người. Như vậy, sự thống nhất giữa tính chính xác của việc rút ra nét cá biệt giống nhau và tính bất ngờ của sự liên tưởng trong nhân hoá là căn cứ để bình giá nó. Từ sự phân tích về hình thức và nội dung của nhân hoá như trên cho ta thấy cơ sở chung để cấu tạo nên nó, cũng như đối với so sánh và ẩn dụ, là rút ra những nét giống nhau giữa hai đối tượng khác loại. Nhưng nhân hoá khác so sánh ở chỗ chỉ có một vế còn vế kia ngầm thừa nhận. Và nó khác ẩn dụ ở chỗ nó là phương tiện để trực tiếp miêu tả đối tượng không phải con người, còn ẩn dụ là một cách gọi tên khác cho đối tượng định miêu tả. Tác dụng chủ yếu của nhân hoá đối tượng với sự biểu đạt là miêu tả và trữ tình. Trước hết, nhân hoá là cách đưa các đối tượng không phải con người sang thế giới con người. Khi các đối tượng không phải con người được khoác áo con người thì thường tạo nên một không khí mới, sinh động, chúng trở nên gần gụi hơn, dễ hiểu hơn đối với chúng ta, mở rộng trường liên tưởng Thí dụ: Chủ nghĩa cá nhân khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc, mà ai cũng biết: xuống dốc dễ hơn lên dốc - (Hồ Chí Minh- Đạo đức cách mạng) Nhờ sử dụng nhân hoá mà đối tượng được nói đến ở đây trở nên thật sinh động. Qua sự nhân hoá này, chúng ta thấy chủ nghĩa cá nhân vốn có tài ẩn náu, nay hiện ra rất cụ thể, như một con người, tưởng như cũng hành động, cũng nói năng khôn khéo, cũng biết len lõi vào chỗ yếu của con người để tìm nơi dung thân... Sự liên tưởng rút ra nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải người thường gắn với cách nhìn, với thái độ của người nói. Cho nên, bằng nhân hoá, người ta có thể bộc lộ tâm tư của mình một cách kín đáo. Trong nhiều trường hợp, người nói dùng nhân hoá vừa là để miêu tả đối tượng không phải con người, làm phương tiện, làm cái cớ để thể hiện tình cảm riêng, sâu kín của mình. Thí dụ câu ca dao nói với nhện, với sao được trích ra ở trên cho chúng ta thấy đằng sau lời hỏi nhện, nghe sao tha thiết, thoáng hiện lên một nỗi buồn nhớ không nguôi giữa cảnh đêm khuya của một tâm hồn.... Do có cả chức năng nhận thức và tình cảm, cho nên nhân hoá được sử dụng rộng rãi trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau: khẩu ngữ tự nhiên, trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, trong ngôn ngữ chính luận... Bên cạnh nhân hóa, phải kể đến vật hoá hay vật cách hoá, ở đây người ta chuyển đổi ý nghĩa của những từ ngữ chỉ thuộc tính của vật để biểu thị về con người. Vật cách hoá thường được dùng trong văn châm biếm, đùa vui, nhưng nó không phải không có giá trị biểu cảm. Thí dụ: Gái chính chuyên lấy được chín chồng, Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi. Ai ngờ quang đứt lọ rơi, Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng. - Ca dao Hoặc: Người tình ta để trên cơi, Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ Đêm qua ba bốn lần mơ, Chiêm bao thì thấy dậy sờ thì không. - Ca dao Đằng sau sự đùa vui ta cảm thấy một tình yêu tha thiết và một nỗi buồn cô đơn, thấm thía vì sự cách trở với người thương. III. ẨN DỤ ( Người làm: Nguyễn Bảo Ánh) 1. Khái niệm - Ẩn dụ" tiếng La-tinh có nghĩa Metaphoria là một biện pháp tu từ trong Văn học dùng để gọi sự vật - hiện tượng này bằng tên gọi sự vật - hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt mà người dùng muốn. Hằng ngày chúng ta vẫn sử dụng biện pháp Ẩn dụ trong diễn đạt, trình bày, thuyết trình, giảng dạy. Ẩn dụ là một khái niệm thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Cụ thể hơn nó là một biện pháp tu từ trong Văn học được sử dụng cùng với Nhân hóa, So sánh, Hoán dụ. 2. Các kiểu ẩn dụ - Ẩn dụ có 4 hình thức chính là: + Ẩn dụ phẩm chất; + Ẩn dụ hình thức; + Ẩn dụ cách thức và; + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. 3. Tác dụng của từng hình thức ẩn dụ riêng Ẩn dụ phẩm chất là thay thế phẩm chất của sự vật hiện tượng này với phẩm chất tương đồng của sự vật hiện tượng khác. Ví dụ như khi nói về người cha đã già, thay vì nói tuổi chúng ta có thể nói: Người cha mái tóc bạc, người cha lưng còng hay bố đầu đã hai thứ tóc. Ẩn dụ hình thức có thể được thể hiện qua việc "dấu" đi một phần ý nghĩa mà không phải ai cũng biết. Ví như hai câu thơ: Về thăm nhà Bác làng sen/Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng (trong ví dụ này, còn có cả Ẩn dụ cách thức "thắp": nở hoa). Có nhiều cách thức để thể hiện một vấn đề. Ẩn dụ cách thức sẽ giúp chúng ta đưa được hàm ý của mình vào trong câu nói . Bác hồ có câu: Vì lợi ích mười năm trồng cây/Vì lợi ích trăm năm trồng người. - Ẩn dụ chuyển đổi cảm giácVí dụ như: Một tiếng chim kêu sáng cả rừng hay Nói ngọt lọt đến xương đều là những câu được sử dụng biện pháp tu từ Ẩn dụ về cảm giác. Ẩn dụ còn có thể đi cùng với Nhân hoá và một số biện pháp tu từ từ vựng như: So sánh, Điệp ngữ, Chơi chữ, Nói quá, Nói giảm - Nói tránh bạn đọc hãy chọn nét tương đồng để tạo Ẩn dụ tăng hiệu quả biểu đạt trong văn miêu tả, thuyết minh, nghị luận, sáng tác thơ ca. 4. Khái niệm của các kiểu ẩn dụ - Ẩn dụ hình thức là cách gọi sự vật A bằng sự vật B. VD: Người Cha mái tóc bạc (Minh Huệ) Lấy hình tượng Người Cha để gọi tên Bác Hồ. -Ẩn dụ cách thức là cách gọi hiện tượng A bằng hiện tượng B. VD: Về thăm quê Bác làng Sen Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng. (Nguyễn Đức Mậu) Nhìn "hàng râm bụt" với những bông hoa đỏ rực tác giả tưởng như những ngọn đèn "thắp lên lửa hồng". + Ẩn dụ phẩm chất là cách lấy phẩm chất của sự vật A để chỉ phẩm chất của sự vật B. VD: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Tròn và dài được lâm thời chỉ những phẩm chất của sự vật B. + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là những ẩn dụ trong đó B là một cảm giác vốn thuộc một loại giác quan dùng để chỉ những cảm giác A vốn thuộc các loại giác quan khác hoặc cảm xúc nội tâm. Nói gọn là lấy cảm giác A để chỉ cảm giác B. VD: Mới được nghe giọng hờn dịu ngọt 5. Tác dụng của ẩn dụ Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc. Sức mạnh của ẩn dụ chính là mặt biểu cảm. Cùng một đối tượng nhưng ta có nhiều cách thức diễn đạt khác nhau. (thuyền - biển, mận - đào, thuyền - bến, biển - bờ) cho nên một ẩn dụ có thể dùng cho nhiều đối tượng khác nhau. Ẩn dụ luôn biểu hiện những hàm ý mà phải suy ra mới hiểu. Chính vì thế mà ẩn dụ làm cho câu văn giàu hình ảnh và hàm súc, lôi cuốn người đọc người nghe. IV. CÁC BÀI TẬP VẬN DỤNG VÀ GỢI Ý Các bài tập về phép so sánh (Người làm: Ngô Thục Anh) Bài 1: Trong mỗi khổ thơ, câu văn sau, tác giả đã so sánh hai sự vật nào với nhau? Dựa vào dấu hiệu nào? So sánh bằng từ gì? Khi mặt trời lên tỏ Nước xanh chuyển màu hồng Cờ trên tàu như lửa Sáng bừng cả mặt sông. ( Bến cảng Hải Phòng- Nguyễn Hồng Kiên) Quyển vở này mở ra Bao nhiêu trang giấy trắng Từng dòng kẻ ngay ngắn Như chúng em xếp hàng. ( Quyển vở của em- Nguyễn Quang Huy) Trường sơn: chí lớn ông cha Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào. Gợi ý: Khổ thơ Vế A (cái được so sánh) Vế B (cái dùng để so sánh) Phương diện so sánh Từ chỉ sự so sánh a cờ lửa Đều có màu đỏ như b dòng kẻ em (xếp hàng ) Đều ngay ngắn như c chí lớn cha ông lòng mẹ Trường Sơn Cửu Long Đều to lớn, vĩ đại Đều bao la rộng lớn Bài 2: Phân tích hiệu quả của phép tu từ so sánh trong bài thơ sau: Sau làn mưa bụi tháng ba Lá tre bỗng đỏ như là lửa thiêu Bầu trời rừng rực ráng treo Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay. ( Tháng ba- Trần Đăng Khoa) Gợi ý: - Hình ảnh so sánh: "Lá tre bỗng đỏ như là lửa thiêu" " Bầu trời rừng rực ráng treo Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay" - Hiệu quả: Không khí của buổi chiều tháng ba - gợi hồi ức về 1 quá khứ lịch sử oai hùng: chiến công của Thánh Gióng: có lá tre đỏ vì ngựa phun lửa, có hình ảnh ngựa sắt bay... Tất cả như một bức tranh biểu lộ trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ và niềm tự hào về quá khứ hào hùng oanh liệt trong không khí của thời đại chống Mĩ. Bài 3: Chỉ ra và phân tích của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ sau: Đây con sông như dòng sữa mẹ Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây Và ăm ắp như lòng người mẹ Trở tình thương trang trải đêm ngày. ( Vàm Cỏ Đông- Hoài Vũ ) Gợi ý: Các hình ảnh so sánh: "Đây con sông như dòng sữa mẹ" "Và ăm ắp như lòng người mẹ" + Sông chở phù sa, mang nước ngọt làm xanh ruộng lúa vườn cây, như người mẹ lấy dòng sữa ngọt nuôi con thơ. + Ca ngợi tình thương của mẹ bao la, dạt dào, trang trải như dòng sông ăm ắp đêm ngày không bao giờ vơi cạn. Bài 4: Phân tích tác dụng cuả phép so sánh trong các khổ thơ sau: "Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi" (Bầm ơi - Tố Hữu) "Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió" ( Quê hương - Tế Hanh) Gợi ý: - " Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm" + Từ so sánh : chưa bằng . + Kiểu so sánh : không ngang bằng . - " Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bấm sáu mươi" + Từ so sánh : chưa bằng . + Kiểu so sánh : Không ngang bằng . - Hình ảnh so sánh: "Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng" Phép so sánh lấy đối tượng trừu tượng so sánh với đối tượng cụ thể. Tác dụng: Đã làm nổi bật hình ảnh "cánh buồm"- một hình ảnh bình dị bỗng trở nên thiêng liêng lớn lao, thơ mộng. Thể hiện tâm hồn tinh tế, hòa quyện với thiên nhiên, tình yêu quê hương tha thiết của tác giả. Các bài tập về phép ẩn dụ (Người làm: Nguyễn Thuỳ Dương) Bài 1: Phân tích nghệ thuật ẩn dụ trong câu thơ sau: "Thân em vừa trắng lại vừa tròn" (Bánh trôi nước - Hồ Xuân Hương) * Gợi ý: - Nghĩa đen: Bánh trôi nước về màu sắc và hình dáng - Nghĩa bóng : Hình ảnh về vẻ đẹp người phụ nữ có làn da trắng và thân hình đầy đặn . Khi phân tích ta làm như sau : Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật tài tình vì qua hình ảnh cái bánh nhà thơ đã gợi cho người đọc hình dung được một hình ảnh khác thật sâu săc kín đáo đó là hình ảnh (nghĩa bóng) - từ đó gợi cảm xúc cho người đọc về người phụ nữ xưa Bài 2: "Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ" (Viễn Phương - Viếng lăng Bác) - Chỉ ra biện pháp tu từ trong hai câu thơ ? - Phân tích giá trị biểu cảm ? * Gợi ý: - Phép tu từ ẩn dụ: Mượn hình ảnh mặt trời để chỉ Bác Hồ - Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật tài tình vì qua hình ảnh "mặt trời" là một vầng thái dương "nghĩa đen", tác giả tạo ra một hình ảnh so sánh ngầm sâu sắc, tế nhị làm cho người đoc suy nghĩ và hình dung ra được hình ảnh của Bác Hồ (nghĩa bóng) một con người rực rỡ và ấm áp như mặt trời dẫn dắt dân tộc ta trên con đường giành tự do và độc lập xây dựng tổ quốc công bằng dân chủ văn minh từ đó tạo cho người đọc một tình cảm yêu mến khâm phục vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc chúng ta Bài 3: Tìm và phân tích ẩn dụ trong đoạn trích sau: " Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim" ( Từ ấy - Tố Hữu) Gợi ý: - Cảm nhận về sức mạnh và tác động diệu kì của ánh sáng lí tưởng đối với cuộc đời nhà thơ: một loạt từ ngữ mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng, có giá trị gợi tả và biểu cảm mạnh mẽ (bừng nắng hạ, chói qua tim, mặt trời chân lí), thể hiện cảm giác vui sướng, hạnh phúc khi đón nhận lí tưởng cách mạng. Ánh sáng của lí tưởng cộng sản là một nguồn sáng vĩ đại, tác động mạnh mẽ không chỉ tới lí trí mà cả trái tim của nhà thơ. Khoảnh khắc ấy, giây phút ấy, thiêng liêng và hạnh phúc vô ngần, đã choán ngợp cả con tim và khối óc của chàng trai trẻ. Bài 4: Tìm và phân tích ẩn dụ trong các câu thơ sau: "Nghe dào dạt mười bốn triệu miền Nam đang tỉnh thức Không! Ba mươi triệu kim cương của thiên hà Tổ quốc! Không! Hàng nghìn triệu ngôi sao sáng anh em đang chiếm lĩnh bầu trời! Hứa một Mùa Gặt Lớn ngày mai." ( Sao chiến thắng - Chế Lan Viên) Bài 5: Tìm biện phép ẩn dụ trong đoạn thơ sau: "Mùa thu nay sao bão mưa nhiều Những cửa sổ con tàu chẳng đóng Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh " ( Tự hát - Xuân Quỳnh) 3.Các bài tập về biện pháp nhân hoá (Nguyễn Thuỳ Dương) Bài 1: Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ nào ? "Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa" Nhân hoá và so sánh C. Ẩn dụ và hoán dụ. Nói quá và liệt kê. D. Chơi chữ và điệp từ. Gợi ý: A Bài 2. Trong câu ca dao sau đây: "Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta" Cách trò chuyện với trâu trong bài ca dao trên cho em cảm nhận gì ? Gợi ý: - Chú ý cách xưng hô của người đối với trâu. Cách xưng hô như vậy thể hiện thái độ tình cảm gì ? Tầm quan trọng của con trâu đối với nhà nông như thế nào ? Theo đó em sẽ trả lời được câu hỏi. Bài 3: Tìm phép nhân hóa và nêu tác dụng của chúng trong những câu thơ sau: "Trong gió trong mưa Ngọn đèn đứng gác Cho thắng lợi, nối theo nhau Đang hành quân đi lên phía trước." (Ngọn đèn đứng gác- Chính Hữu) Gợi ý: Chú ý cách dùng các từ vốn chỉ hoạt động của người như: - Đứng gác, nối theo nhau, hành quân, đi lên phía trước V. MỞ RỘNG VẤN ĐỀ VÀ MỘT SỐ LƯU Ý VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ ( ẨN DỤ, SO SÁNH, NHÂN HOÁ)( Người làm: Nguyễn Quỳnh Anh) 1. Mở rộng vấn đề a/ Ẩn dụ: - Ẩn dụ được dùng nhiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày làm cho lời nói trong cuộc hội thoại mang đậm màu sắc biểu cảm, cảm xúc. * Ví dụ: - Khi mẹ nựng con thường nói: cục cưng, cục vàng, - Sử dụng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: giọng chua, máu nóng, - Để tăng thêm giá trị hàm súc cho lời nói người ta thường sử dụng những thành ngữ như: Nuôi ong tay áo, gậy ông đập lưng ông, con nhà lính tính nhà quan, b/ So sánh: - Người ta thường sử dụng thành ngữ so sánh để diễn tả hình ảnh được cụ thể, sinh động hơn hoặc trong việc thể hiện tư tưởng tình cảm của người viết sẽ tạo ra lối nói hàm xúc giúp người đọc, người nghe dễ nắm bắt tư tưởng, tình cảm của người nói. * Ví dụ: - Bạn ấy trắng như trứng gà bóc. - Nó chạy nhanh như chớp. c/ Nhân hoá: - Nhân hoá có hai chức năng: nhận thức và biểu cảm.Nhân hoá được dùng rộng rãi trong các phong cách : khẩu ngữ, chính luận,văn chương. Ngoài ra còn có biện pháp vật hoá. Ðó là cách dùng các từ ngữ chỉ thuộc tính, hoạt động của loài vật, đồ vật sang chỉ những thuộc tính và hoạt động của con người. Biện pháp này thường được dùng trong khẩu ngữ và trong văn thơ châm biếm. *Ví dụ: Gái chính chuyên lấy được chín chồng Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi, Ai ngờ quang đứt lọ rơi Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng. ( Ca dao) 2. Một số lưu ý về các biện pháp tu từ a/ Phân biệt ẩn dụ tu từ với ẩn dụ từ vựng: - Ẩn dụ từ vựng là ẩn dụ nghĩa chuyển đã được cố định hoá trong hệ thống ngôn ngữ, được đưa vào trong từ điển và được toàn dân sử dụng. - Trong khi đó, ẩn dụ tu từ mang tính sang tạo riêng. Nó được dùng với nghĩa phù hợp trong từng ngữ cảnh khác nhau, cách chuyển đổi tên gọi lâm thời hay những cách dùng Tiếng Việt có tính cách cá nhân. Ẩn dụ loại này được sử dụng như một biện pháp tu từ nhằm tăng sức gợi cảm, gợi hình và giá trị thẩm mĩ cho sự diễn đạt. *Ví dụ: Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân ( Ca dao) Ở câu trên từ " chân" trong cụm từ" kiềng ba chân" là ẩn dụ từ vựng chỉ phần dưới cùng của người hoặc vật tiếp xúc với mặt nền. Gìn vàng giữ ngọc cho hay Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời ( Nguyễn Du) Câu này, từ "chân" trong cụm từ" kẻ chân mây cuối trời" được dùng để chỉ Kim Trọng. Đây là ẩn dụ tu từ. b/ Phân biệt phép tu từ ẩn dụ với tu từ so sánh * Giống nhau: - Đều là cách liên tưởng để rút ra nét tương đồng giữa hai đối tượng khác loại. Nét tương đồng này là cơ sở để hình thành nên ẩn dụ tu từ và so sánh tu từ. * Khác nhau: - So sánh thường cần đến từ so sánh hoặc dấu hiệu nhận biết phân biệt giữa các vế so sánh và vế được so sánh ( ví dụ: dấu gạch ngang, dấu hai chấm...) So sánh có thể ngang bằng hoặc không ngang bằng. - Ẩn dụ không cần từ hay dấu câu phân biệt giữa các sự vật sự việc được nêu ra. Do vậy, ẩn dụ còn được gọi là so sánh ngầm. Phép ẩn dụ giữa các sự vật sự việc thường mang ý nghĩa ngang bằng, tương đương. * Ví dụ: " Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ" ( Viễn Phương) Trong 2 câu thơ trên hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ nhất là mặt trời thật còn hình ảnh mặt trời ở câu thơ thứ hai để chỉ hình tượng Bác Hồ . Với cách nói ẩn dụ như, nhà thơ Viễn Phương đã làm nổi bật hình tượng Bác Hồ. Bác tượng trưng cho ánh sáng của lí tưởng, soi rõ đường đi cho cả dân tộc Việt Nam. Bác luôn tỏa rạng ánh hào quang bất tử như mặt trời chói lọi trên cao. "Trẻ em như búp trên cành Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan." (Hồ Chí Minh) Trong ví dụ trên" trẻ em" được so sánh với" búp trên cành" c/ Phân biệt so sánh tu từ với so sánh luận lí: * Giống nhau: - Đều là thao tác đối chiếu giữa hai hay nhiều đối tượng với nhau * Khác nhau: - Nếu so sánh tu từ là sự đối chiếu giữa các đối tượng khác loại thì so sánh luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại. - Nếu so sánh tu từ nhằm mục đích gợi lên một cách hình ảnh đặc điểm giữa các đối tượng từ đó tạo nên xúc cảm thẩm mĩ trong nhận thức của người tiếp nhận thì so sánh luận lí đơn thuần chỉ cho ta thấy sự ngang bằng hay hơn kém giữa các đối tượng đấy mà thôi. * Ví dụ: So sánh tu từ So sánh luận lí - Ðôi ta như cá ở đìa Ngày ăn tản lạc, tối dìa ngủ chung - Ðứt tay một chút chẳng đau Xa nhau một chút như dao cắt lòng. - Khôi đã cao bằng mẹ. - Con hơn cha nhà có phúc. -Nam học giỏi như Bắc. d/ Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ: * Điểm giống nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ : - Bản chất cùng là sự chuyển đổi tên gọi: gọi sự vật hiện tượng bằng một gọi khác ( lấy A để chỉ B) - Cùng dựa trên quy luật liên tưởng. - Tác dụng của ẩn dụ và hoán dụ : Làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho lời văn, biểu đạt cảm xúc *Điểm khác biệt giữa ẩn dụ và hoán dụ: - Cơ sở liên tưởng khác nhau: + Ẩn dụ dựa vào sự liên tưởng tương đồng, tức là giữa A và B có điểm gì đó giống nhau, nên người ta dùng A để thay cho tên gọi B. Do đó, trong trường hợp này sự vật chuyển đổi tên gọi và sự vật được chuyển đổi tên gọi thường khác phạm trù hoàn toàn. *Ví dụ : "Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông" ( Truyện Kiều - Nguyễn Du) Ở đây hoa lựu màu đỏ như lửa, bởi vậy lửa ( A) được dùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Củng Cố, Mở Rộng Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ
  • Sau Phá Thai, Nên Chọn Cách Tránh Thai Nào?
  • 5 Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Và Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Cách Sử Dụng Thuốc Tránh Thai An Toàn Nhất
  • Biện Pháp Tránh Thai Nào An Toàn Nhiều Người Dùng Nhất?
  • Sự Nhân Hoá Trong Tiếng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phép Nhân Cách Hóa – Personification – Trong Tiếng Anh
  • 3 Cách Kiểm Soát Ô Nhiễm Không Khí Hiệu Quả
  • Ô Nhiễm Môi Trường: Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Các Nguyên Nhân Gây Ra Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì?
  • Ô Nhiễm Nguồn Nước: Nguyên Nhân, Tác Hại Và Cách Khắc Phục
  • Và thâm chí sựnhân hoá là điều gì đó mà chúng ta bắt đầu mở ra, dù là nó thông qua quỹ đạo cá nhân ở các giáo trình hoặc các phê bình cá nhân chúng tôi đã cho các bạn xem.

    And even personalization is something that we’re starting to see the beginnings of, whether it’s via the personalized trajectory through the curriculum or some of the personalized feedback that we’ve shown you.

    ted2019

    Tình trạng này xảy ra chủ yếu là do việc giảm phúc lợi của nhà nước và sự chuyển dịch sang tư nhân hoá các dịch vụ công.

    This has largely been attributed to the reduction in state benefits and a shift toward the privatisation of public services.

    WikiMatrix

    Sự sống nhân tạo (Artificial life) hay tiến hoá ảo nỗ lực nhằm tìm hiểu quá trình tiến hoá thông qua việc mô phỏng bằng máy tính các dạng sự sống (nhân tạo) đơn giản.

    Artificial life or virtual evolution attempts to understand evolutionary processes via the computer simulation of simple (artificial) life forms.

    WikiMatrix

    Gần như suốt thế kỷ 19 và một vài giai đoạn của thế kỷ 20, người ta tiếp cận đến tiến hóa văn minh nhằm mục đích cung cấp hình mẫu cho sự tiến hoá nhân loại toàn thể, với lập luận rằng xã hội khác nhau ở các giai đoạn khác nhau của sự biến đổi xã hội.

    Most of the 19th-century and some 20th-century approaches to socioculture aimed to provide models for the evolution of humankind as a whole, arguing that different societies have reached different stages of social development.

    WikiMatrix

    Họ cũng nghĩ rằng sự sụp đổ sẽ tạo ra các khả năng sản xuất mới bằng cách hạn chế mệnh lệnh sản xuất từ trung ương, thay thế một hệ thống thị trường phi tập trung, hạn chế những sự bóp méo cấu trúc và nền kinh tế vĩ mô thông qua tự do hoá, và cung cấp sự khích lệ thông qua tư nhân hoá.

    They also thought the collapse would create new production possibilities by eliminating central planning, substituting a decentralized market system, eliminating huge macroeconomic and structural distortions through liberalization, and providing incentives through privatization.

    WikiMatrix

    The Government of Jamaica hopes to encourage economic activity through a combination of privatization, financial sector restructuring, reduced interest rates, and by boosting tourism and related productive activities.

    WikiMatrix

    Đó là khi loài khủng long bị tuyệt chủng, khi 75% các loài động vật và thực vật bị tuyệt chủng, và là khi loài động vật có vú chiếm vị trí sinh thái của các loài khác, và, nói một cách nhân hoá, sự tiến hoá sinh vật giải thích “Hmm, cái vỏ não này khá là tốt,” và nó bắt đầu phát triển vỏ não.

    That’s when the dinosaurs went extinct, that’s when 75 percent of the animal and plant species went extinct, and that’s when mammals overtook their ecological niche, and to anthropomorphize, biological evolution said, “Hmm, this neocortex is ptty good stuff,” and it began to grow it.

    ted2019

    Giống như các giống lừa khác, nguyên nhân chính là cơ giới hoá nông nghiệp và sự suy giảm của các vùng nông thôn.

    As with other donkey breeds, the principal causes were the mechanisation of agriculture and the depopulation of rural areas.

    WikiMatrix

    Bài chi tiết: Hiệp ước về Quyền Trẻ em Hiệp ước về Quyền Trẻ em hay CRC, của Liên hiệp quốc năm 1989 là công cụ có tính bắt buộc pháp lý quốc tế đầu tiên có tích hợp toàn bộ phạm vi nhân quyền –dân sự, văn hoá, kinh tế, chính trị và quyền xã hội.

    The United Nations’ 1989 Convention on the Rights of the Child, or CRC, is the first legally binding international instrument to incorporate the full range of human rights—civil, cultural, economic, political and social rights.

    WikiMatrix

    Vấn đề nằm ở việc xào nấu nó theo điều kiện của mình, và cá nhân hoá giáo dục cho những người bạn đang thực sự dạy dỗ.

    It’s about customizing to your circumstances and personalizing education to the people you’re actually teaching.

    QED

    Món này trở nên phổ biến sau khi sự hạn chế được loại bỏ cuối thế kỷ 18 (và vào thời điểm đó giống thỏ bản xứ đã nhân rộng và giá thành giảm) và sự thuần hoá thỏ, một kỹ thuật có thể đến từ Pháp nhờ những hiệp sĩ Pháp.

    The dish was to become popular after the lifting of restrictions in the late 18th century (and by which time the indigenous breed had multiplied and prices dropped) and the domestication of rabbits, a technique which could have been imported from France thanks to the French Knights.

    WikiMatrix

    Theo các điều khoản của những sự nhượng quyền và các hiệp ước ở trên, Cecil Rhodes thúc đẩy sự thực dân hoá đất đai trong vùng, với sự kiểm soát của Anh về nhân công cũng như các kim loại quý và các nguồn tài nguyên khoáng sản khác.

    In accordance with the terms of aforementioned concessions and treaties, Cecil Rhodes promoted the colonisation of the region’s land, with British control over labour as well as pcious metals and other mineral resources.

    WikiMatrix

    Tôi chỉ là một người trong số nhiều người, xã hội và văn hoá của tôi đã không thực sự dạy tôi rằng cá nhân tôi có bất cứ giá trị nào.

    I was just one of many people, and my society and culture didn’t really teach me that I had any value as an inpidual.

    LDS

    Triều Tiên là xã hội quân sự hoá nhất trên thế giới, với tổng số 9.495.000 quân chính quy và dự bị, và nhân viên bán quân sự.

    It is the country with the highest number of military and paramilitary personnel, with a total of 9,495,000 active, reserve, and paramilitary personnel.

    WikiMatrix

    Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoánhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo; 4.

    To achieve international co-operation in solving international problems of an economic, social, cultural, or humanitarian character, and in promoting and encouraging respect for human rights and for fundamental freedoms for all without distinction as to race, sex, language, or religion; and 4.

    WikiMatrix

    Sau khi Stalin chết và một giai đoạn lãnh đạo tập thể ngắn, một lãnh đạo mới Nikita Khrushchev lên án sự sùng bái cá nhân với Stalin và khởi động quá trình phi Stalin hoá.

    After Stalin’s death and a short period of collective rule, the new leader Nikita Khrushchev denounced the cult of personality of Stalin and launched the policy of de-Stalinization.

    WikiMatrix

    Theo nhà nhân loại học Margaret Mead và nhà tâm lý học Albert Bandura, sự hỗn loạn có trong thiếu niên tại xã hội phương Tây có nguyên nhân văn hoá hơn là thể chất; họ thông báo rằng các xã hội nơi những phụ nữ trẻ tham gia vào hoạt động tình dục tự do không có sự hỗn loạn thiếu niên như vậy.

    According to anthropologist Margaret Mead, the turmoil found in adolescence in Western society has a cultural rather than a physical cause; they reported that societies where young women engaged in free sexual activity had no such adolescent turmoil.

    WikiMatrix

    Và tôi nghĩ đó chính là câu trả lời cho tương lai vì vấn đề không phải là nhân rộng MỘT giải pháp mới; mà là tạo ra một cuộc cách mạng mới trong giáo dục, trong đó, con người sẽ tìm ra lối đi của riêng mình nhưng với sự giúp đỡ của một chương trình giảng dạy được cá nhân hoá.

    And doing that, I think, is the answer to the future because it’s not about scaling a new solution; it’s about creating a movement in education in which people develop their own solutions, but with external support based on a personalized curriculum.

    QED

    Significant challenges face Prime Minister Sir Michael Somare, including gaining further investor confidence, continuing efforts to privatise government assets, and maintaining the support of members of Parliament.

    WikiMatrix

    Tuy nhiên, cùng với sự tự do hoá gần đây trong lĩnh vực này, một vài công ty viễn thông tư nhân đã xuất hiện gồm MTN, Cablenet, TelePassport, OTEnet Telecom và PrimeTel.

    However, following deregulation of the sector, a few private telecommunications companies emerged, including MTN, Cablenet, OTEnet Telecom, Omega Telecom and PrimeTel.

    WikiMatrix

    Thời trang tóc có thể được xem là một khía cạnh của chải chuốt cá nhân, thời trang và mỹ phẩm, mặc dù thực tế, văn hoásự quan tâm phổ biến cũng ảnh hưởng đến kiểu tóc.

    The fashioning of hair can be considered an aspect of personal grooming, fashion, and cosmetics, although practical, cultural, and popular considerations also influence some hairstyles.

    WikiMatrix

    Cựu thủ tướng Sir Mekere Morauta đã tìm cách tái lập tính toàn thể của các định chế nhà nước, ổn định đồng tiền tệ kina, tái lập sự ổn định của ngân sách quốc gia, tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước thích hợp, và đảm bảo tình trạng hoà bình tại Bougainville sau thoả thuận năm 1997 chấm dứt tình trạng bất ổn đòi ly khai tại Bougainville.

    Former Prime Minister Sir Mekere Morauta tried to restore integrity to state institutions, stabilise the kina, restore stability to the national budget, privatise public enterprises where appropriate, and ensure ongoing peace on Bougainville following the 1997 agreement which ended Bougainville’s secessionist unrest.

    WikiMatrix

    Wabi hiện tại bao hàm sự tinh giản hoá, tươi mát hoặc tĩnh lặng một cách mộc mạc, hoặc sự sang trọng được giảm bớt đi, và có thể sử dụng với cả đối tượng tự nhiên và nhân tạo.

    Wabi now connotes rustic simplicity, freshness or quietness, and can be applied to both natural and human-made objects, or understated elegance.

    WikiMatrix

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 4 Ở Tiểu Học
  • Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Về Công Tác Chủ Nhiệm Lớp Bằng Các Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luậttích Cực Ở Trường Trung Cơ Sở
  • Ô Nhiễm Môi Trường Gây Nên Mưa Axit
  • 5 Cách Cải Thiện Môi Trường Sống Hiệu Quả Nhất
  • Tăng Cường Công Tác Quản Lý Chất Lượng Môi Trường Không Khí Ở Việt Nam
  • Viêm Bàng Quang Thần Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thận Hư Ăn Gì? Top Thực Phẩm Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Nhanh Chóng
  • Bị Thận Yếu Nên Ăn Gì, Kiêng Gì Để Nhanh Khỏe Lại?
  • Sau Khi Tán Sỏi Thận Nên Ăn Gì Để Nhanh Phục Hồi Sức Khỏe? Click Xem Ngay
  • Thận Yếu Nên Ăn Gì? Kiêng Gì Để Tăng Cường Sức Khỏe
  • Các Bài Thuốc Nam Chữa Bệnh Thận Yếu Hiệu Quả Nhất
  • Chị Mai Thu Hằng – Bắc Giang (tên bệnh nhân đã được thay đổi) là một trường hợp đáng tiếc vì không điều trị sớm khi phát bệnh. Theo chị Hằng, biểu hiện ban đầu của chị là: đi tiểu nhiều lần, tiểu rắt, tiểu không kiểm soát. Các biểu hiện này của chị kéo dài trong nhiều năm nhưng chị vẫn chủ quan không chữa trị. Đến khi thấy biện ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống thì bệnh đã quá nặng vì thế chữa mãi không khỏi.

    Đến khi bệnh viêm bàng quang của chị Hằng đã bị biến chứng thành bệnh suy thận, bàng quang bị thủng, gia đình chị mới đưa chị vào bệnh viện Việt Đức. Khi chị Hằng nhập viện, tình trạng của chị đã rất nguy cấp. Qua xét nghiệm và chẩn đoán, bác sĩ đã đưa ra phương án là thông bàng quang, cắt bỏ và tạo hình bàng quang mới.

    Sau khi phẫu thuật xong, chị Hằng được các bác sĩ giới thiệu đến Đơn vị niệu động học và phục hồi chắc năng tiết niệu – sinh dục thuộc Trung tâm phục hồi chức năng ở bệnh viện Bạch Mai để điều trị. Đến bệnh viện Bạch Mai, các bác sĩ chẩn đoán chị Hằng bị viêm bàng quang thần kinh do hở ống sống.

    Sau ca phẫu thuật ở bệnh viện Việt Đức, bệnh nhân được giới thiệu đến Đơn vị niệu động học và phục hồi chức năng tiết niệu – sinh dục thuộc Trung tâm Phục hồi chức năng bệnh viện Bạch Mai để tiếp tục điều trị chuyên khoa. Do trước đó chị Hằng đã thực hiện ca mổ cắt bàng quang nên từ giờ chị phải đặt thông tiểu bàng quang. Vậy là từ đó chị Hằng sống chung với cảnh đặt thông ống tiểu bàng quang.

    Viêm bàng quang thần kinh có thể gây suy thận

    Theo bác sĩ Vũ (người trực tiếp điều trị cho chị Hằng), trường hợp của chị Hằng vẫn có thể điều trị để duy trì và không làm nặng thêm tình trạng. Từ đó giảm tỉ lệ tiểu són, tiểu dầm và các triệu chứng khác.

    Bác sĩ Vũ cho biết, với phác đồ điều trị uống thuốc kháng sinh kết hợp với thông tiểu bàng quang, nếu bệnh nhân tuân thủ đúng theo yêu cầu của bác sĩ sẽ cải thiện đáng kể rối loạn đường tiết niệu. Hơn nữa, nó còn giúp giảm chứng suy thận mãn tính và không phát triển thêm. Còn nếu không, bệnh sẽ có thể phát triển đến mức độ suy thận 3B. Nếu để đến mức độ đó thì tính mạng của bệnh nhân sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.

    Viêm bàng quang thần kinh – nguyên nhân gây suy thận

    Viêm bàng quang thần kinh là bệnh lý làm mất chức năng của bàng quang do bị tổn thương một phần hệ thống thần kinh. Bệnh khiến cho bàng quang hoạt động kém hiệu quả, không thể co lại để tống nước tiểu ra bên ngoài như bình thường. Hoặc rất có thể, nó sẽ gây bàng quang hoạt động quá mức, co lại thường xuyên không thể phối hợp với các cơn co thắt của bàng quang.

    Viêm bàng quang thần kinh và cơ chế gây bệnh

    Thông thường, quá trình thông tiểu đòi hỏi phải có sự phối hợp của hệ thần kinh. Trong đó bao gồm: thần kinh trung ương, thần kinh giao cảm và hoạt động bình thường của cơ bàng quang, co thắt niệu đạo. Nếu các tổ chức năng bị tổn thương thì sẽ gây rối loạn bài xuất nước tiểu từ bàng quang.

    Nguyên nhân của sự rối loạn này không đến từ tổn thương hệ thống bàng quang hay niệu đạo mà nó đến từ việc tổn thương hệ thần kinh. Đó chính là nguyên nhân mà gọi đó là hội chứng viêm bàng quang thần kinh.

    Nguyên nhân gây bệnh viêm bàng quang thần kinh

    Viêm bàng quang thần kinh thường do người bệnh chủ quan không điều trị sớm

    Bác sĩ Đỗ Đào Vũ cho biết, viêm bàng quang thần kinh là do hậu quả của những tổn thương thần kinh. Đó là các tổn thương như: tai biến mạch máu não, chấn thương sọ não, u não, bệnh lý parkinson, bệnh lý về tủy sống, HIV, đái tháo đường, các vấn đề sinh dục như herpes,… Những bệnh lý này khiến cho người bệnh đi tiểu không kiểm soát.

    Nếu các bệnh lý trên không được chăm sóc thì hậu quả sẽ rất yếu dẫn đến suy thận. Suy thận là chứng bệnh gây nguy cơ tử vong rất cao.

    Triệu chứng của bàng quang thần kinh

    Bệnh lý bàng quang thần kinh có thể dẫn đến việc người bệnh đi tiểu nhiều và không kiểm soát được việc đi tiểu của mình, buồn tiểu liên tục nhưng tiểu bí, khó tiểu, tiểu nhỏ giọt do bàng quang hoạt động kém không co lại và tống được hết nước tiểu ra ngoài khiến nước tiểu bị ứ đọng trong bàng quang.

    Trường hợp này, nếu nước tiểu ứ đọng lâu ngày sẽ dẫn đến nhiễm khuẩn đường tiểu, viêm thận, bể thận, sỏi tiết niệu, trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên thận.

    Bàng quang thần kinh cũng có thể dẫn đến hiện tượng bàng quang hoạt động quá mức, co bóp thường xuyên, liên tục, không có khả năng phối hợp với cơ vòng khiến cho người bệnh không tự chủ được việc đi tiểu gây ra tiểu gấp, tiểu dầm… ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ.

    Những lưu ý khi điều trị viêm bàng quang thần kinh

    Viêm bàng quang thần kinh là chứng bệnh mới mẻ tuy nhiên nó lại là nguyên nhân dẫn đến suy thận cao. Những người mắc bệnh viêm bàng quang thần kinh là nhóm tiêu tốn nhiều kinh phí của nhà nước, hơn nữa là có chất lượng cuộc sống rất thấp. Vì thế, để hạn chế tối đa những tổn thất, người bệnh cần lưu ý những điểm sau:

    Cần tuân thủ theo đúng pháp đồ của bác sĩ khi điều trị viêm bàng quang thần kinh

    – Phát hiện ra bệnh sớm là điều quan trọng nhất đối với mỗi người bị viêm bàng quang thần kinh. Theo đó, khi thấy có các dấu hiệu rối loạn tiểu tiện cần đến ngay các chuyên khoa tiết niệu hoặc phục hồi chức năng được khám và điều trị kịp thời.

    – Không nhịn tiểu, không chịu đựng nỗi đau hay sự khó chịu mà cần được đi khám chuyên khoa để có hướng điều trị kịp thời

    – Nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng nguyên nhân, hậu quả tất yếu sẽ dẫn đến suy thận, ở cấp độ nặng bệnh nhân phải chạy thận hoặc tử vong. Ngược lại, nếu biết sớm có thể ngăn chặn được, hoặc nếu đã có biến chứng viêm bàng quang thần kinh rồi thì vẫn có thể ngăn chặn để không gây suy thận.

    – BS Vũ nhấn mạnh, trong quá trình điều trị viêm bàng quang thần kinh, bệnh nhân cần tuân thủ chặt chẽ những chỉ định của bác bác sĩ.

    – Không bỏ dở quá trình điều trị ngay cả khi bệnh thuyên giam. Theo bác sĩ Vũ, rất nhiều bệnh nhân do không làm đúng yêu cầu của bác sĩ nên việc điều trị bệnh không tiến triển. Nhiều người không thực hiện tái khám khiến bệnh trở nên nghiêm trọng, khó kiểm soát.

    – Việc tuân thủ chỉ định của bác sĩ là những giải pháp không tốn kém nhưng cực kỳ quan trọng để khống chế căn bệnh viêm bàng quang thần kinh. Bác sĩ điều trị cần giải thích cặn kẽ để bệnh nhân ý thức được việc này.

    Khám và điều trị viêm bàng quang thần kinh ở đâu?

    Viêm bàng quang thần kinh là chứng bệnh cực kỳ nguy hiểm nên cần được chữa trị ngay. Tuy nhiên, điều trị bệnh này ở đâu lại là câu hỏi khó với nhiều người. Trong trường hợp có biểu hiện của bệnh, hãy đến khám tại các chuyên khoa tiết niệu hay khoa phục hồi chức năng ở các bệnh viện lớn.

    Ở Hà Nội, nơi khám chữa và điều trị bệnh viêm bàng quang thần kinh tốt nhất là Trung tâm phục hồi chức năng của bệnh viện Bạch Mai. Mỗi năm, đơn vị này đón nhận nhiều bệnh nhân từ các nơi khác nhau đến thăm khám và điều trị.

    Viêm bàng quang thần kinh là nguy cơ dẫn đến suy thận vô cùng cao vì thế cần được điều trị gấp. Nếu có biểu hiện của bệnh cần đến ngay bệnh viện để được các bác sĩ chuyên khoa tiến hành thăm khám, kiểm tra và có hướng điều trị.

    Xem Thêm: Bài thuốc đông y chữa viêm bàng quang hiệu quả bạn cần biết Nguyễn Lâm Vy (tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Địa Chỉ Tập Phục Hồi Chức Năng Uy Tín Tại Hà Nội
  • Tập Phục Hồi Chức Năng Ở Đâu Tốt Tại Hà Nội
  • Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng
  • Ăn Gì Bổ Thận Tráng Dương Tràn Trề Sinh Lực
  • Thận Yếu Nên Ăn Gì Để Phục Hồi Chức Năng Thận?
  • Biện Pháp Thi Công Hạ Tầng Cây Xanh ⋆

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Thi Công Tô, Trát Tường Mới
  • 7 Lưu Ý Khi Sửa Nhà Cấp 4 Mái Ngói Không Phải Ai Cũng Biết – Web Nhân Công Xây Dựng, Kỹ Thuật
  • Hướng Dẫn Thi Công Trát Tường Phẳng Đúng Kỹ Thuật
  • Tầng Hầm Phương Pháp Bottom
  • Thiết Kế Xây Dựng Nhà Ở,thiết Kế Xây Dựng
  • Hôm nay Blog Xaydungplus xin chia sẻ với các bạn Biện pháp thi công hạ tầng cây xanh mời các bạn cùng tham khảo.

    Sưu tầm:

    Để tải tài liệu các bạn vui lòng ấn nút Tải Xuống (Báo Link Hỏng)

    Tải Tài Liệu như thế nào ? Xem Cách Tải

    Bạn không biếtnhư thế nào ?

          Sưu tầm:

    Website chúng tôi là nơi chia sẻ những tài liệu về ngành xây dựng miễn phí, chia sẻ các mẫu bản vẽ nhà phố, mẫu biệt thự, mẫu công trình cao tầng, mẫu biện pháp thi công các công trình dân dụng, cầu đường. Chia sẻ các thư viện mẫu của Cad, Revit, Sketchup,….

    Website: https://xaydungplus.com

    Email: [email protected]

    Địa chỉ: Mỏ Địa Chất – Phố Viên – Từ Liêm – Hà Nội

    Share this:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thi Công Trạm Biến Áp
  • Biện Pháp Làm Sạch Bề Mặt Kết Cấu Sắt Thép Công Trình Trước Khi Sơn Chống Cháy
  • Quy Trình Thi Công Sơn Kết Cấu Thép Đạt Chuẩn Bạn Nên Tham Khảo
  • Bảng Quy Trình Thi Công Sơn Nước
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nước Nhà Cao Tầng Chuyên Nghiệp
  • Đặt Ống Thông Bàng Quang

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Đang Trở Thành Thách Thức An Ninh
  • Một Số Giải Pháp Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Trong Đảng Bộ Khối Các Cơ Quan Tỉnh
  • Giải Pháp Kiểm Soát An Ninh Mạng
  • Giải Pháp Bảo Mật Mạng
  • Các Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh Mạng Cho Doanh Nghiệp
  • Ống thông bàng quang có nhiều loại thay đổi theo kích cỡ, hình dạng đầu chóp, số cổng, kích cỡ của bóng, loại vật liệu và chiều dài.

    Kích cỡ được chuẩn hóa bằng đơn vị French (F) – còn được gọi là đơn vị Charrière (Ch). Mỗi đơn vị là 0,33 mm, do đó một ống thông 14-F có đường kính 4,6 mm. Kích cỡ từ 12 đến 24 F cho người lớn và 8 đến 12 F cho trẻ em. Ống thông nhỏ thường là đủ để dẫn lưu nước tiểu mà không gây biến chứng và rất hữu ích để dùng cho hẹp niệu đạo và tắc nghẽn cổ bàng quang; các ống thông lớn hơn được chỉ định cho việc rửa bàng quang và một số trường hợp chảy máu bàng quang (ví dụ, sau phẫu thuật hoặc viêm bàng quang chảy máu) và đái mủ do các cục máu đông có thể gây tắc nghẽn các ống thông cỡ nhỏ hơn.

    Đầu ống thông có dạng thẳng ở hầu hết các loại ống thông (ví dụ ống thông Robinson, đầu dạng cái còi) và được sử dụng để đặt ngắt quãng (tức là, ống thông được lấy ra ngay sau khi nước tiểu được dẫn lưu ra khỏi bàng quang). Ống thông Foley có đầu thẳng và một bóng hơi có thể bơm phồng lên để tự giữ tại chỗ. Các ống thông tự giữ khác có thể có đầu to hơn trông như dạng hình nấm (ống thông Pezzer) hoặc hình nấm có lỗ thủng ở 4 cánh (ống thông Malecot); chúng được sử dụng để dẫn lưu bàng quang trên xương mu hoặc hoặc dẫn lưu bể thận. Ống thông có mấu (coudé), là loại ống thông có bóng để tự giữ, có đầu cong lên để ống thông dễ dàng đi qua vị trí hẹp hoặc tắc nghẽn (ví dụ tắc nghẽn do tiền liệt tuyến).

    Cổng ống thông có ở tất cả các ống thông dùng để dẫn lưu nước tiểu liên tục. Nhiều ống thông có cổng để bơm bóng, cổng để bơm rửa, hoặc cả hai (ví dụ, ống thông Foley 3 trạc).

    Bóng trên ống thông tự giữ có thể tích khác nhau, từ 2,5 đến 5 ml trong bóng được dùng cho trẻ em và từ 10 đến 30 mL với ống thông dùng cho người lớn. Ống thông và bóng lớn thường được sử dụng để kiểm soát chảy máu; khi kéo ống thông ra sẽ kéo bóng chèn vào cơ của bàng quang và ép lên các mạch máu, làm giảm chảy máu nhưng có thể gây thiếu máu cục bộ. Khuyến cáo các bóng này chỉ được bơm bằng nước.

    Que dẫn là dụng cụ dẫn đường bằng kim loại có thể uốn theo ý muốn được đưa vào trong ống thông để tạo độ cứng và thuận lợi cho ống thông qua các chỗ bị tắc nghẽn hoặc chỗ hẹp và chỉ nên được sử dụng bởi các bác sĩ có kinh nghiệm với kỹ thuật này.

    Vật liệu tạo ống thông được lựa chọn phụ thuộc vào mục đích sử dụng. Ống thông bằng nhựa, cao su, hoặc polyvinyl clorua được sử dụng cho ống thông dùng đặt ngắt quãng. Ống thông bằng cao su kết hợp với silicone, hydrogel, hoặc polymer phủ bạc hoặc trộn lẫn với bạc (để làm giảm phát triển vi khuẩn) được sử dụng cho ống thông dùng dẫn lưu liên tục. Ống thông làm bằng silicone được sử dụng cho những bệnh nhân dị ứng với cao su.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Loại Thuốc Xương Khớp Của Mỹ Tốt Nhất Trên Thị Trường
  • Vận Động Liệu Pháp Ngừa Thoái Hoá Xương Khớp
  • Cấu Tạo Hình Thành Hệ Vận Động Của Con Người
  • Noni, Tahitian Noni Có Phải Là Thần Dược? Thành Phần Và Tác Dụng Thực Sự Của Noni, Cách Dùng Noni, No Ni, Noni
  • Hướng Dẫn Hoạt Động Của Ban Thanh Tra Nhân Dân (Nhiệm Kì 2022
  • Kế Hoạch Hoá Gia Đình Và Biện Pháp Tránh Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Ngừa Thai Cho Chị Em Một Cách Tự Nhiên
  • ​30% Phụ Nữ Ngừa Thai Thất Bại
  • Những Biện Pháp Tránh Thai Mà Nam Giới Có Thể Chủ Động Được
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Nam Giới
  • Biện Pháp Tránh Thai Tiếng Anh Là Gì? 3 Biện Pháp Tránh Thai Phổ Biến
  • Nói đến kế hoạch hóa gia đình và biện pháp tránh thai thì không thể không nhắc đến bao cao su. Hiện nay, xã hội phát triển đến mức bao cao su dường như đã trở thành một từ khóa phổ biến trên khắp thế giới bởi mức độ tiện dụng và an toàn của nó.

    Bao cao su hay còn gọi là condom trong tiếng Anh hay capote trong tiếng Pháp, là một dụng cụ được sử dụng để tránh thai và giảm nguy cơ lây lan các bệnh qua đường tình dục (giang mai, HIV,…) khi quan hệ.

    Trong kế hoạch hóa gia đình, bao cao su được xem là một công cụ quen thuộc vì giá thành rẻ, hiệu quả tránh thai cao, an toàn cho sức khỏe người sử dụng. Tuy nhiên vẫn có một số rủi ro, và giá bao cao su dành cho nữ đắt hơn 10 lần so với bao cao su nam.

    Dù vậy, bao cao su vẫn là giải pháp hàng đầu trong kế hoạch hóa gia đình, được nhiều người trên thế giới lựa chọn. Bao cao su được chia làm nhiều loại, chủ yếu phụ thuộc vào đối tượng sử dụng là nam hay nữ.

    Đây là loại thông dụng, có mặt sớm nhất và được nhiều người sử dụng nhất vì tính tiện dụng, an toàn nhưng giá thành lại khá rẻ.

    Khác với bao cao su cho nam, bao cao su cho nữ ra đời sau và có giá thành cao hơn bao cao su cho nam, đồng thời nó cũng ít được mọi người biết đến hơn.

    So về chức năng thì nó cũng không khác gì bao cao su cho nam, nhưng khi sử dụng, người phụ nữ sẽ đặt bao đó và trong quan âm đạo. Bên trong bao có một vòng nhỏ di động giúp bao được đưa vào dễ dàng.

    Vòng lớn hơn ở bên ngoài, che phủ âm đạo và trùm kín dương vật khi quan hệ. Phương pháp này an toàn và được phụ nữ hiện đại sử dụng khá thường xuyên, nó ngăn ngừa sự hình thành thai nhi lên đến 95%.

    Tuy nhiên, phương pháp này không được lựa chọn nhiều cũng một phần vì giá thành cao và có nhiều chị em cảm thấy không thoải mái trong khi quan hệ tình dục.

    2. Sử dụng miếng dán ngừa thai

    Miếng dán ngừa thai là một loại thuốc hấp thụ qua da người phụ nữ, không hấp thụ qua đường tiêu hóa nên tác dụng của nó vẫn giữ nguyên khi người phụ nữ bị khó tiêu, ói mửa hoặc các vấn đề khác về đường tiêu hóa. Điều đặc biệt là liều lượng thuốc đưa vào máu luôn được giữ ở một mức độ ổn định nên có thể hạn chế tác dụng phụ xảy ra đối với người sử dụng.

    Ngoài ra, miếng dán tránh thai còn có những ưu điểm như miếng dán có kích thước nhỏ gọn khoảng 4,5 x 4,5 cm tiện dụng, dễ sửa dụng, miếng dán sẽ đạt hiệu quả ngừa thai lên đến 99,9% nếu bạn sử dụng đúng cách.

    Bên cạnh các ưu điểm trên, miếng dán ngừa thai cũng có những nhược điểm đi kèm đó là gây tác dụng phụ như nhức đầu, chóng mặt, nôn ói,..đặc biệt, giá thành của sản phẩm này cũng khá cao so với bao cao su. Dù có một số nhược điểm, đây vẫn được xem là một biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn dành cho các cặp vợ chồng trẻ.

    Khi thực hiện kế hoạch hóa gia đình và biện pháp tránh thai thì cụm từ phim ngừa thai có lẽ vẫn còn là một cụm từ khá mới mẻ đối với các cặp đôi hiện nay.

    Phim ngừa thai hay còn gọi là màng tránh thai đặt trong âm đạo viết tắt tiếng anh là VCF. Phim ngừa thai được dùng trước quan hệ tình dục 5 phút, đặt trong âm đạo người phụ nữ, sẽ đạt hiệu quả cao nếu đặt càng gần cổ tử cung. Đây là một màn phim mỏng, mềm và tan nhanh trong âm đạo, nó ngừa thai nhờ tác dụng của chất nonxynol-9 tiêu diệt tinh trùng, hiệu quả của VCF được cho là ngang với thuốc ngừa thai.

    Tuy nhiên, nhược điểm của phim ngừa thai là không phòng tránh được các bệnh truyền nhiễm như HIV, lậu, giang mai, sùi mào gà… Đồng thời hiệu quả tránh thai sẽ không cao nếu dùng sai cách

    4. Sử dụng màng chắn tránh thai để kế hoạch hoá

    Màng chắn tránh thai có dạng hình vòm, nông, có vành dẻo, thường được làm bằng chất liệu laxte. Màng chắn bao phủ lấy cổ tử cung, tránh thai bằng cách ngăn chặn không để trứng và tinh trùng gặp nhau hoặc ngăn cản sự di chuyển của tinh trùng đến cổ tử cung.

    Đây cũng là một biện pháp tránh thai vô cùng hiệu quả nếu bạn sử dụng đúng cách và hãy đảm bảo rằng màng chắn của bạn đã bao lấy tử cung trước khi giao hợp và chất diệt trùng phải được sử dụng như hướng dẫn. Tuy nhiên, khi đã sử dụng bất cứ 1 biện pháp nào cũng cần có sự hướng dẫn và tư vấn của bác sĩ.

    Tỷ lệ thành công khi sử dụng màng chắn là 94/100 người, vì vậy, nếu bạn chọn sử dụng màng chắn tránh thai thì cần tuân thủ tuyệt đối những quy định như:

    • Không sử dụng chung màng chắn với người khác.
    • Không sử dụng nếu vừa mới phẫu thuật cổ tử cung.
    • Không sử dụng nếu bị dị ứng với latex hoặc chất diệt tinh trùng.
    • Không sử dụng khi vừa sinh được 6 tuần hoặc vừa phá thai sau 3 tháng đầu của thai kỳ.
    • Không sử dụng nếu có vấn đề về tử cung hoặc âm đạo, đau rát khi chạm vào âm đạo.
    • Khó khăn khi đặt màng chắn tránh thai thì không nên dùng màng chắn tránh thai.
    • Không được sử dụng màng chắn khi bị chảy máu âm đạo, cả trong kỳ kinh nguyệt. Vì nó có thể gây ra hội chứng sốc độc tố (TSS) cực kỳ nguy hiểm.

    Cấy que tránh thai là biện pháp được chị em thực hiện khá phổ biến bởi vì hiệu quả cao, tác dụng khoảng 3 đến 7 năm, chi phí cấy que tránh thai phù hợp với khả năng tài chính của nhiều người. Sử dụng biện pháp này, phụ nữ sẽ được đặt 1 hay nhiều que tránh thai có hình dáng như que diêm vào tay không thuận.

    Cơ chế hoạt động của phương pháp này đó chính là trong sản phẩm có chứa chất giúp trứng không bị rụng, ngăn ngừa việc tránh thai cao và không làm ảnh hưởng cảm xúc trong khi quan hệ vợ chồng.

    Tuy nhiên một số tác dụng của que cấy tránh thai là đau đầu, buồn nôn, rối loạn chu kỳ kinh nguyệt…nên các chị em cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thực hiện cuộc phẫu thuật cấy que tránh thai vào người.

    6. Sử dụng thuốc tránh thai

    Thuốc tránh thai cũng hoạt động bằng cách làm dày niêm mạc xung quanh cổ tử cung, khiến tinh trùng khó đi qua để thụ tinh với trứng đã rụng. Các hormone này cũng ức chế phóng noãn làm trứng không rụng được, khi tinh trùng đi vào sẽ không gặp trứng. Hiện nay trên thị trường có 2 loại thuốc tránh thai đó là thuốc tránh thai hàng ngày và thuốc tránh thai khẩn cấp.

    Ngày nay, các biện pháp thực hiện kế hoạch hóa gia đình và biện pháp tránh thai rất đa dạng như đặt vòng, sử dụng màn chắn, bao cao su,…Nhưng tùy thuộc vào từng cơ địa mỗi người sẽ có những phương pháp phù hợp và an toàn nhất cho họ, tốt hơn hết là tham khảo lời khuyên của bác sĩ để có được sự lựa chọn hợp lý và an toàn hơn. Nhưng trên hết, mỗi người chúng ta nên trang bị đầy đủ các kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết về các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toànn để có thể tự bảo vệ mình trước việc mang thai ngoài ý muốn.

    Như Ngọc – Tổng hợpMẹ – Bé –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Đôi Biện Pháp Ngừa Thai: Sự Lựa Chọn Thông Minh
  • Các Biện Pháp Ngừa Thai Trong Hôn Nhân
  • Màng Phim Tránh Thai Vcf Là Gì? Bán Ở Đâu ?
  • Biện Pháp Ngừa Thai Bằng Màng Phim Tránh Thai Vcf
  • Màng Phim Tránh Thai Vcf: Giải Đáp Những Câu Hỏi Phổ Biến Nhất
  • Chức Năng Sinh Lý Của Bàng Quang

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Tiêu Chuẩn, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Y Tế Thôn, Bản
  • Phòng Y Tế Tuyến Huyện: Vì Sao Hoạt Động Chưa Hiệu Quả?
  • Tiêu Chuẩn, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Y Tế Thôn, Bản
  • Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Y Tế Thôn, Bản Làm Công Tác Chăm Sóc Sức Khỏe Ban Đầu
  • Khẳng Định Vai Trò Của Y Tế Thôn Bản Trong Chăm Sóc Sức Khỏe Cộng Đồng
  • Thủy dịch qua quá trình chuyển hóa, phần cặn bã đưỢc đưa về chứa tại Bàng quang, nhò vào sự khí hóa của Thận mà đưa ra ngoài theo đưòng niệu.

    * Phế tạng: sự quan hệ này giúp cho nước lưu thông. Bàng quang bí kết, nước không thải đưỢc, thủy dịch tràn ngập cơ phu gây phù thũng, cản trở chức náng của Phế. Phế khí không tuyên, bì mao bí kết thì Bàng quang phải thải nước tiểu nhiều hơn. Phế khí thái quá, bì mao táng thải mồ hôi thì Bàng quang nước ít mà đậm.

    * Tâm tang: tâm hỏa quá thịnh, huyết ứ Tiếu trưòng thì nước tiếu trong Bàng quang có máu. Tâm âm hư thủy dịch thiếu thì nước tiếu trong Bàng quang ít mà đậm.

    * Can tang: chức náng sơ tiết của Can ảnh hưởng tới việc bài tiết nước tiếu của Bàng quang. Sơ tiết thái quá thì tiếu nhiều, sơ tiết không tốì; thì bí bách.

    * Tỳ tang: tỳ vận hóa thủy cốc, thông qua Tiếu trưòng chất nước đưỢc đưa xuống Bàng quang. Tỳ hóa thấp thông qua việc thải nước tiếu của Bàng quang. Tỳ thấp, kiện vận không tố^t thì đái đục, đái ra dưỡng trấp. Tỳ nhiếp huyết không tốt thì xuất hiện máu trong nước tiếu.

    * Thân tang: thận chủ thủy, thủy dịch chứa tại Bàng quang. Thận khai khiếu ra tiền âm, việc hành niệu do Thận sai khiến.

    – Nhiêm vụ chủ yếu của Thận:

    + Đảm bảo viêc duy trì nòi giống (di truyền và sinh dục)

    + Duy trì hoạt đông biến dưỡng của cơ thể + Duy trì sự cân bằng nước điên giải trong cơ thể

    – Những biểu hiên chủ yếu khi Thận Bàng quang bị rối loạn công năng:

    + Rối loạn hoạt đông biến dưỡng

    + Rối loạn hoạt đông sinh dục

    + Rối loạn nước điên giải

    + Rối loạn hoạt đông nôi tiết

    – Những vị trí thường có biểu hiên triêu chứng khi Thận bị rối loạn công năng:

    + ở toàn thân, ở nhiều chức năng hoạt đông

    + Bô sinh dục, tiết niêu + Thắt lưng, tai

    --- Bài cũ hơn ---

  • *khoa Y Tế Công Cộng Và Dinh Dưỡng
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Khoa Y Tế Công Cộng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Khoa Y Tế Dự Phòng (Bao Gồm Lồng Ghép Các Khoa: Kiểm Soát Bệnh Tật Và Hiv/aids
  • Khoa Y Tế Công Cộng Và Dinh Dưỡng
  • Cách Tắt Đóng Góp Bản Dịch Cho Tiêu Đề Và Mô Tả Video Youtube
  • Già Hoá Dân Số: Giải Pháp Chính Sách Đối Với Già Hoá Dân Số Tại Châu Á

    --- Bài mới hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Và Một Số Giải Pháp Khắc Phục
  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Các Nước Phát Triển
  • Chủ Động Nhiều Giải Pháp Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Đối Mặt Với Già Hóa Dân Số Và Các Giải Pháp
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Già hoá dân số ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

    Quá độ nhân khẩu học

    Một hậu quả không thể tránh khỏi của giảm sinh nhanh và duy trì cải thiện mức tử vong là già hoá dân số. Nhiều nước trong khu vực ESCAP đang phải đối mặt với thách thức về số lượng và tỷ lệ người cao tuổi (60 tuổi trở lên) ngày càng tăng. Năm 2000, cứ 11 người thì có 1 người trong khu vực ở độ tuổi 60 trở lên. Tỷ lệ sẽ tiếp tục tăng 4/1 năm 2050. Tuy nhiên, có những khác biệt cơ bản về dân số già trong từng tiểu vùng.

    Trong một vài thập kỷ qua, mức sinh ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương đã giảm nhanh chóng. Tổng tỷ suất sinh giai đoạn 1950-1955 là 6 con/một phụ nữ đã giảm xuống 2,7 con giai đoạn 1995-2000. Tỷ lệ tử vong giảm một cách bền vững đã dẫn đến việc tăng dần tuổi thọ từ 40 tuổi giai đoạn 1950-1955 đến 66 tuổi giai đoạn 1995-2000, trong đó tuổi thọ của nữ cao hơn và tăng nhanh hơn nam giới .

    Bảng 1. Tỷ lệ phần trăm dân số trong các nhóm tuổi ở khu vực ESCAP

    Nguồn : Liên hợp quốc, 2002

    Sự khác biệt chính trong tiến trình già hoá đó là tốc độ già hoá tại Châu Á- Thái Bình Dương diễn ra nhanh hơn so với phương Tây. Chẳng hạn, để tăng gấp đôi tỷ lệ người 60 tuổi trở lên tại Thuỵ Điển, từ 7% lên 14% thì phải mất 114 năm. Trong khi đó đối với Sin-ga-po thì chỉ cần 18 năm và đối với các nước đông dân số như Trung Quốc và ấn Độ thì cần 25-28 năm. Như trong bảng 1 có thể thấy sự thay đổi nhanh về tỷ lệ dân số trong các nhóm dân số trẻ và dân số già giữa năm 2000 và năm 2050.

    Do dân số khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm trên 60% dân số toàn cầu và mức sinh đang giảm nhanh chóng, nên quy mô dân số cao tuổi hiện là một quan tâm chủ yếu.Theo dự báo của LHQ, đến năm 2025, ở Châu Á-Thái Bình Dương sẽ có 703 triệu người cao tuổi và sẽ tăng lên 1,2 tỷ vào năm 2050. Đây là một vấn đề trọng tâm về mặt chính sách công tại khu vực trong thế kỷ 21.

    Mặc dù có sự đa dạng rõ rệt trong xu hướng nhân khẩu học trong khu vực và tốc độ giảm sinh khác nhau trong khu vực, nhưng sẽ không có nước Châu á nào thoát khỏi tình trạng già hoá dân số trong thế kỷ này. Theo dự báo của LHQ, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên tại Châu á – Thái Bình Dương là 9%. Con số này sẽ tăng lên đến 15,4% vào năm 2025 và 23,5% vào năm 2050. Đến năm 2050, các nước trong khu vực Đông á, Đông Bắc á và Đông Nam á sẽ có tỷ lệ người 60 tuổi trở lên cao hơn: Trung quốc 29,9%, Hồng Kông 35,4%, Nhật Bản 42,3%, Hàn Quốc 33,2%, Sin-ga-po 35%, Thái Lan 27,1% và Việt Nam 23,5%.

    Tuy nhiên, sự thay đổi về tỷ lệ người cao tuổi sẽ rõ rệt hơn trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ này, năm 2040, nhóm dân số trẻ và nhóm dân số già sẽ gần bằng nhau. Ngoài việc tăng tỷ lệ người cao tuổi còn có sự khác biệt về giới trong tuổi thọ, dẫn đến tỷ lệ nữ trong nhóm tuổi từ 80 trở lên cao hơn nhiều so với nam giới . Việc giảm dân số ở độ tuổi lao động, việc tăng quy mô dân số người cao tuổi phụ thuộc và tình trạng nữ hoá dân số cao tuổi đang là những vấn đề nghiêm trọng buộc các nhà hoạch định chính sách phải quan tâm và đề ra các giải pháp cấp bách.

    Bảng 2: Tỷ lệ dân số cao tuổi chia theo giới trong khu vực ESCAP

    Nguồn: Liên hợp quốc, 2002

    Giới tính trong già hoá dân số

    Do tính trung bình phụ nữ sống lâu hơn nam giới nên ở châu á dân số già chủ yếu là nữ, đặc biệt là nữ trên 80 tuổi, nhiều người trong số họ là goá chồng và dễ bị rơi vào hoàn cảnh nghèo và mù chữ hơn nam giới. Mặc dù về mặt thể lực ốm yếu hơn nam giới nhưng phụ nữ vẫn tiếp tục là người phải quán xuyến việc nhà và tiếp tục kiếm kế sinh nhai mà không hề được bảo vệ về mặt xã hội và pháp luật. Vị thế xã hội thấp, quyền sở hữu tài sản yếu hơn nam giới và sự tiếp cận hạn chế hơn đối với các tài sản thừa kế đã ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm kinh tế cho họ đặc biệt ở vào tuổi già .

    Tỷ số giới tính trong số những người cao tuổi cũng đang tăng lên cùng với sự thay đổi về cấu trúc tuổi. Tuy nhiên sự thay đổi này khác nhau theo từng khu vực. Những khác biệt này là do sự hạn chế trong việc tiếp cận đến các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, sự nghèo nàn về dinh dưỡng và nhìn chung là do vị thế kinh tế thấp hơn của phụ nữ ở hầu hết các nước Nam á.

    Tác động về mặt kinh tế – xã hội của già hoá dân số

    Trong 50 năm qua, Chính phủ các nước trong khu vực Châu á-Thái Bình Dương đã rất quan tâm đến vấn đề gia tăng dân số, đặc biệt là vấn đề kiểm soát mức sinh cao, cải thiện tuổi thọ và giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ, trẻ em và trẻ sơ sinh. Do tuổi thọ tăng, các nước bắt đầu nhận thức được tác động về mặt kinh tế – xã hội của già hoá dân số và đề ra các kế hoạch hưu trí hợp lý, hệ thống chăm sóc sức khoẻ và an sinh xã hội, tạo ra các cơ hội kinh tế cho người cao tuổi và tăng cường hệ thống hỗ trợ để xoá bỏ bạo lực và phân biệt đối với người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ.

    Bảng 3: Tỷ số hỗ trợ tiềm năng (tuổi 15-64/65+) tại khu vực ESCAP

    Nguồn : Liên hợp quốc, năm 2002

    Mặc dù có sự thay đổi trong cấu trúc gia đình, hầu hết các nước châu á vẫn duy trì truyền thống người cao tuổi sống cùng với các thành viên trong gia đình. Người cao tuổi thường giúp đỡ gia đình con cái họ các công việc như trông nom các cháu và họ thường là người chăm sóc. Tuy nhiên, họ vẫn bị phụ thuộc vào các hỗ trợ bên ngoài, đặc biệt khi gia đình của họ có nguồn thu nhập thấp và không chắc chắn. Chính phủ các nước cần phải khẩn trương xây dựng các hệ thống bảo đảm xã hội rộng lớn hơn, đặc biệt là an sinh tuổi già. Tại khu vực ESCAP, tỷ số hỗ trợ tiềm năng sẽ giảm từ 11 năm 2000 xuống 4 năm 2050, rõ rệt nhất ở khu vực Đông Nam á và Trung Nam Á.

    Do tỷ lệ phụ thuộc tuổi già ngày càng tăng ở tất cả các nước trong khu vực, nên trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi sống phụ thuộc ngày càng đè nặng lên vai dân số ở độ tuổi lao động (dưới hình thức thuế cao hơn và các đóng góp khác). Với sự hỗ trợ cần thiết của Chính phủ và xã hội, người cao tuổi vẫn có thể có những đóng góp tích cực về mặt kinh tế nếu kinh nghiệm và kỹ năng của họ được khai thác một cách có hiệu quả. Ngoài ra, họ còn là yếu tố kết nối quan trọng trong gia đình khi cấu trúc gia đình đang bị xói mòn nhanh chóng. Mặt khác, nếu người cao tuổi bị từ chối tiếp cận về mặt kinh tế khi họ còn đủ sức khoẻ thì nó sẽ có tác động ngược trở lại đến phúc lợi của chính họ và của gia đình họ. ở góc độ xã hội, lực lượng lao động thu nhỏ và số lượng người cao tuổi phụ thuộc tăng lên sẽ có nghĩa là giảm sút về thu nhập tính theo đầu người, tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư và năng suất cũng như việc tăng chi tiêu công cho an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ và phúc lợi của người cao tuổi. Những vấn đề này cần phải được xem xét trong chính sách và các kế hoạch phát triển quốc gia.

    Các chính sách và chương trình hiện nay đối với người cao tuổi: những thực tiễn tốt nhất

    Một số nước Châu Á đang nỗ lực xây dựng và thực hiện các chính sách và các chương trình cải thiện điều kiện sống và chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi. Những nỗ lực đó bao gồm các chính sách tăng cường đảm bảo thu thập và chăm sóc cho người cao tuổi. Hiện nay, tư liệu về các chính sách cũng như thực tiễn tốt nhằm đảm bảo thu nhập và chăm sóc cho người cao tuổi vẫn còn hạn chế. Các tổ chức như Vụ các vấn đề kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc, ESCAP và các Uỷ ban khác của khu vực, Quỹ Dân số Liên hợp quốc và nhiều tổ chức phi chính phủ khác đã phát động nhiều chương trình nhằm giải quyết nhu cầu của người cao tuổi cũng như thu thập và biên soạn các tài liệu về các thực tiễn tốt nhất. Năm 2001, Ban Thư ký ESCAP đã biên soạn một bản trích yếu gồm những thực tiễn hay nhất trong việc hỗ trợ cho người cao tuổi. Gần đây, UNFPA đã hợp tác với Trường Đại học Co-lum-bi-a đưa ra một sáng kiến xây dựng năng lực ở các nước đang phát triển để hưởng ứng những kiến nghị trong Kế hoạch hành động Madrid 2002 đối với vấn đề già hoá.

    Sự tham gia của cộng đồng

    Các nhà lập kế hoạch, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu đã chú trọng đến nhu cầu đảm bảo và tạo cơ hội cho việc lồng ghép và tham gia xã hội của người cao tuổi trong cộng đồng địa phương của họ để tạo ra lòng tự tin và đảm bảo về mặt tâm lý cho người cao tuổi. ở một số nước châu á các hiệp hội người cao tuổi quản lý các trung tâm cộng đồng đáp ứng các nhu cầu của người già. Đối với đạo Hồi thì các dịch vụ ở nhà thờ Hồi Giáo được tổ chức các hoạt động cộng đồng như một nơi trung tâm cho người già. Các tổ chức tín ngưỡng này trở thành điểm tụ hội để trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin của người cao tuổi.

    Bảo đảm thu nhập

    Tại hầu hết các nước châu á, nơi mà các nguồn bảo đảm về mặt xã hội cũng như hệ thống tiền lương để bảo vệ cho tuổi già còn hạn chế và hầu như là không có thì hầu hết người cao tuổi phụ thuộc vào khu vực phi chính thức để tạo thu nhập. Trong hoàn cảnh đó, các chương trình tín dụng nhỏ của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức dựa trên cơ sở cộng đồng có nhiều tác động tốt. Theo cách này, người cao tuổi đang giữ một vai trò kinh tế và xã hội mới.

    Chăm sóc sức khoẻ

    Để giải quyết việc thiếu các cơ sở chăm sóc sức khoẻ công cộng dành cho người cao tuổi ở một số nước châu á, nhiều tổ chức phi chính phủ đã xây dựng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trọn gói, như Philíppin đào tạo những người cao tuổi thành “các nhà lão khoa cộng đồng”. Tổ chức HelpAge của ấn Độ mở rộng dịch vụ qua các trạm xá lưu động cho người cao tuỏi và những người tàn tật. ở Karachi, Pakistan, một tổ chức phi chính phủ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ không mất tiền cho những người cao tuổi túng thiếu. Tổ chức Tsao của Singapo đã cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đồng bộ cho người cao tuổi có thu nhập thấp.

    Hỗ trợ của gia đình và cùng chung sống

    Tại hầu hết các nước trong khu vực Châu á – Thái Bình Dương gia đình vẫn là nền tảng của cơ cấu xã hội, trong đó việc chăm sóc người cao tuổi là trách nhiệm đặc biệt của gia đình. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của toàn cầu hoá, đô thị hoá, di cư và xu hướng ngày càng tăng của các gia đình hạt nhân, việc thu xếp cùng chung sống với người cao tuổi đang ngày càng trở thành vấn đề khó khăn. Để giải quyết xu hướng đang thay đổi này trong cấu trúc gia đình, nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế đã xây dựng nhà ở và các chương trình dựa trên cơ sở cộng đồng cho người cao tuổi. Nhìn chung trong toàn khu vực, chính phủ các nước một mặt ngày càng chú trọng đến việc sắp xếp tổ chức các giải pháp dành cho người cao tuổi, mặt khác tiếp tục tăng cường và đẩy mạnh hệ thống hỗ trợ gia đình truyền thống.

    Các khuyến nghị hành động

    Tiến tới một xã hội cho mọi lứa tuổi

    Mặc dù các nước trong khu vực châu á -Thái Bình Dương ở vào các giai đoạn phát triển khác nhau và có cấu trúc kinh tế và xã hội khác nhau nhưng đều có thể có được lợi ích từ việc sớm thực hiện các kiến nghị trong Kế hoạch hành động quốc tế về người cao tuổi tại Madrid. Các nước trong khu vực ESCAP cần xem xét sự tương đồng và sự khác biệt của tình hình mỗi nước đối với điều kiện sống của người cao tuổi để xây dựng kế hoạch thực hiện trong khu vực. Mỗi nước cần xây dựng kế hoạch hoạt động quốc gia dựa trên thực tiễn tình hình người cao tuổi của nước mình. Đối với vấn đề này, việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm và thực hành tốt nhất thông qua cơ chế hợp tác Nam-Nam sẽ đem lại nhiều giá trị to lớn.

    Vai trò của gia đình

    Tại hầu hết các nước châu á, gia đình vẫn là nơi chăm sóc chính đối với người cao tuổi. Tuy nhiên áp lực đối với gia đình sẽ ngày càng lớn do số lượng người cao tuổi ngày càng tăng và sẽ tồn tại các hộ gia đình có nhiều thế hệ sống cùng nhau.

    Sự gia tăng số người nhiễm HIV/AIDS đang tác động bất lợi đến người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ vì họ buộc phải chăm sóc các con đã trưởng thành bị HIV/AIDS và các cháu mồ côi. Ngoài ra, do hậu quả của nghèo đói, nguồn lực kinh tế của các gia đình đó trở nên ít ỏi. Sự thay đổi mô hình cấu trúc gia đình, di cư từ nông thôn ra thành thị, phụ nữ đi làm ngoài hộ gia đình và quy mô gia đình nhỏ hơn đang ngày càng làm xấu đi tình hình này. Trước tình trạng này, cần phải xem xét lại vai trò chăm sóc người cao tuổi của gia đình. Chính phủ các nước cần tiến hành các giải pháp chính sách phù hợp và phê chuẩn các kế hoạch khuyến khích vật chất nhằm hỗ trợ và củng cố gia đình để đáp ứng được thách thức này.

    Hệ thống hỗ trợ dựa trên cơ sở cộng đồng

    Hỗ trợ cộng đồng là rất quan trọng đối với phúc lợi của người cao tuổi. Môi trường kinh tế xã hội đóng vai trò then chốt trong vấn đề này. ở một số nước đã phát triển trong khu vực ESCAP, bên cạnh cấu trúc dịch vụ công cộng rất phát triển, còn có các hỗ trợ thêm ngoài hỗ trợ của gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, hầu hết các nước trong khu vực đều thiếu khung hỗ trợ công cộng như vậy. Do vậy, cần phải có các can thiệp của chính phủ cùng với các tổ chức dân sự để tăng cường và bổ sung hỗ trợ thông qua các chương trình dựa trên cơ sở cộng đồng dành cho người cao tuổi.

    Vai trò của các chính phủ

    Chính phủ các nước cần đưa ra các chính sách và phân bổ nguồn lực phù hợp để giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi. Kế hoạch hành động quốc tế về người cao tuổi tại Madrid đã nhấn mạnh: Chính phủ các nước có trách nhiệm chính trong việc thực hiện các kiến nghị của Kế hoạch hành động quốc tế về người cao tuổi tại Madrid. Bước đầu tiên trong việc thực hiện thành công Kế hoạch hành động này là đưa các vấn đề về người cao tuổi và các mối quan tâm của họ vào chiến lược phát triển quốc gia và các chiến lược xoá đói giảm nghèo.

    Vai trò của các tổ chức phi chính phủ

    Các tổ chức phi chính phủ tại nhiều nước trong khu vực đã có nhiều sáng kiến trong việc hỗ trợ người cao tuổi. Tuy nhiên, phạm vi và chất lượng của các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ khác nhau theo từng khu vực và trong nhiều trường hợp các hoạt động của họ phần lớn thực hiện ở vùng đô thị trong khi phần lớn người cao tuổi sống ở nông thôn lại là đối tượng cần được hỗ trợ nhiều hơn; do vậy, cần lưu ý vấn đề này.

    Mặc dù chính phủ các nước chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện các kiến nghị của Kế hoạch hành động Madrid về người cao tuổi nhưng chính phủ các nước cũng cần phải hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân.

    Xây dựng năng lực và phát triển thiết chế

    Nhu cầu và các mối quan tâm của người cao tuổi cần được nêu trong các chính sách và chiến lược ở các cấp quốc gia, khu vực và ở địa phương. Chính phủ các nước, các đối tác phát triển quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trong khu vực châu á và Thái Bình Dương cần đầu tư vào việc tăng cường xây dựng năng lực của các tổ chức trong cộng đồng để đảm bảo hỗ trợ cho các nhóm người cao tuổi bị thiệt thòi nhất, đặc biệt là những người cao tuổi nhất, phụ nữ cao tuổi và những người không có sự hỗ trợ nào của gia đình.

    Giám đốc điều hành Quỹ dân số Liên hợp quốc, bà Thoraya Obaid, đã nhấn mạnh và đưa ra khuyến nghị mạnh mẽ tại Hội nghị Thế giới lần thứ II về già hoá tại Madrid năm 2002 như sau:

    Những vấn đề già hoá dân số phải là trọng tâm của chương trình nghị sự phát triển toàn cầu. Ngày nay, người cao tuổi là nhóm dân số đang tăng nhanh nhất trên thế giới và cũng nghèo nhất. Hiện tại cứ 10 người thì có 1 người ở độ tuổi 60 trở lên, song tỷ lệ này sẽ tăng lên 5/1 người cao tuổi vào năm 2050. Trong thế giới đang phát triển có tới 400 triệu người ở độ tuổi 60 trở lên mà chủ yếu là phụ nữ và con số này dự báo sẽ tăng rất mạnh trong thập kỷ tới. Chúng ta cần đáp ứng các yêu cầu của người cao tuổi hiện sống và lập kế hoạch đáp ứng các nhu cầu của họ ngày mai,

    Tăng cường chăm sóc lão khoa

    Trong khu vực châu á và Thái Bình Dương, trừ một số nước ở Đông á và Đông Nam á, hầu hết các nước không có dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đặc biệt hoặc cơ sở chăm sóc y tế có sẵn cho người cao tuổi. Chăm sóc lão khoa cần được coi là một trong những thành phần chính trong chương trình chăm sóc sức khoẻ dành cho người cao tuổi. Do dân số châu á sẽ trở nên già hơn trong nhiều năm tới nên nguy cơ bệnh tật và tàn tật sẽ tăng lên, đòi hỏi phải có các can thiệp và hệ thống hỗ trợ kịp thời. Chăm sóc lão khoa không nhất thiết phải đặt tại bệnh viện. Cần tăng cường và hỗ trợ để chăm sóc lão khoa tại cộng đồng và gia đình.

    Xây dựng cơ sở dữ liệu

    Nhiều nước đang phát triển thiếu các dữ liệu tin cậy về người cao tuổi. Thông thường tổng điều tra dân số và nhà ở cung cấp các dữ liệu về cơ cấu tuổi tác, giới tính của người cao tuổi, nhưng lại không chú ý nhiều đến thu thập các dữ liệu về hoàn cảnh kinh tế – xã hội, điều kiện sức khoẻ, nơi ở và sinh kế của người cao tuổi. Do vậy, cần thiết lập các hệ thống cơ sở dữ liệu trong đó có các điều tra, nghiên cứu thực tế và số liệu thống kê từ nhiều nguồn khác nhau về người cao tuổi ở nhiều cấp khác nhau như cấp quốc gia, cấp vùng và cấp cơ sở. Những cơ sở dữ liệu này không chỉ tạo điều kiện cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chương trình quốc gia dành cho người cao tuổi mà còn tạo điều kiện cho các nước tuân thủ và giám sát việc thực hiện Kế hoạch hành động quốc tế Madrid về người cao tuổi.

    ESCAP cần dẫn đầu trong việc thiết lập các hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về người cao tuổi. ESCAP cũng cần phải tăng cường nghiên cứu định tính về mặt văn hoá – xã hội để giải quyết nhu cầu và các vấn đề nhạy cảm của người cao tuổi cũng như xem xét ý kiến của chính họ đối với việc đề ra các chính sách và các chương trình phù hợp.

    Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

    Việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) một cách có hệ thống có thể đem lại nhiều dịch vụ và các chương trình hỗ trợ khác cho người cao tuổi. Tại nhiều nước châu á, nhiều người cao tuổi sống ở vùng sâu vùng xa ở nông thôn thường không tiếp cận được đến các dịch vụ. Do vậy, cần có những sáng kiến sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để cải thiện môi trường sống cho người cao tuổi.

    Những thách thức phía trước

    Một thách thức chủ yếu đối với các nhà hoạch định chính sách là việc tránh coi người cao tuổi như là một “vấn đề”. Cần tăng chi tiêu công cho người cao tuổi. Mục tiêu cần đạt là phải có được một xã hội cho mọi lứa tuổi. Thách thức đặt ra trước mắt là phải sử dụng nguồn lực đa dạng và ngày càng phát triển của người cao tuổi trong các xã hội đang có chuyển biến nhanh chóng ở châu á và Thái Bình Dương.

    Trong khi các nước Đông á và Đông Nam á đã trải qua quá độ nhân khẩu học và đang phải đương đầu với tỷ lệ gia tăng số người cao tuổi thì một số nước ở Nam á vẫn đang trải qua chế độ mức sinh cao; do vậy, đối với các nước này phải một hoặc hai thập kỷ nữa mới phải đương đầu với vấn đề người cao tuổi. Trong bối cảnh này, ESCAP có thể tạo điều kiện để các nước trong khu vực Châu á và Thái Bình Dương học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau giúp cho các nước có những chuẩn bị tốt hơn khi tiến trình lão hoá không thể tránh khỏi sẽ xảy ra vào giữa thế kỷ này.

    Có một yêu cầu rất cấp bách là phát triển các thiết chế cũng như năng lực quốc gia như việc hình thành và duy trì các chương trình lão khoa và xây dựng các nhóm chính sách để dự báo, tìm hiểu và lập kế hoạch cho các nhu cầu đang gia tăng của người cao tuổi ở các nước này. Với sự giúp đỡ của các cơ quan tài chính, các chương trình của ESCAP nên xây dựng một chương trình khu vực để hỗ trợ các nước thành viên giải quyết những vấn đề này.

    Theo M.Nizamuddin* Báo cáo chuẩn bị cho Hội nghị Dân số Châu Á – Thái Bình Dươnglần thứ V, Bangkok 11-14/12/2002/ Vũ Quang Thống(lược dịch theo tài liệu của Hội nghị)

    Tạp chí Dân số & Phát triển, website Tổng cục Dân số & KHHGĐ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?
  • Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Để Đảm Bảo Sản Xuất Nông Nghiệp Bền Vững Ở Tây Nguyên
  • Ðồng Bộ Các Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Một Số Biện Pháp Giảm Thiểu Và Thích Ứng Với Bđkh
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100