Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Hai Đứa Trẻ
  • Phân Tích Tính Nghệ Thuật Trong Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam.
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quôc Tuấn
  • a.Cốt truyện: HĐT là kiểu truyện dường như không có cốt truyện, cốt truyện khộng dựa trên những sự kiện, tình tiết mà dựa trên những diễn biến tâm trạng của nhân vật.

    b. Về nhân vật: Không chú ý miêu tả ngoại hình và hành động mà quan tâm tới đời sống nội tâm, đời sống tình cảm.

    c. Về miêu tả cành: Cảnh vật được miêu tả tinh tế với những hình ảnh, mầu sắc, âm thanh, mùi vị hòa quện vào nhau gợi cái hồn riêng của quê hương VN xưa. Đặc biệt hình ảnh bóng tối được gợi đi, gợi lại như một mô típ đầy ám ảnh. Cảnh lại được cảm nhận qua cái nhìn tâm trạng của nhân vật L: “Liên thấy”, “L mải nhìn”, “L nhớ lại”, “L tưởng”,” L lặng theo”.

    L là thiếu nữ mới lớn, dịu hiền nhân hậu và đa cảm. Điều này có ý nghĩa đặc biệt vì nó làm cho cảnh vật thấm đượm cảm xúc, làm cho cảnh vật vốn đơn sơ, tẻ nhạt vẫn mang cai thi vị riêng của nó, làm cho TG được lạ hóa qua cảm tưởng, qua cảm giác của HĐT. Tương xứng với khung cảnh là tâm trạng và cảm xúc của nhân vật L như những nấc thanh tâm lí: L man mác buồn thương trước cảnh chiều tàn, L buồn khắc khoải và thấm thía hơn khi bóng đêm khi bóng đêm buông xuống, L buồn nuối tiếc, ngơ ngẩn mơ tưởng khát khao khi đoàn tầu đi qua. Cách miêu tả đoàn tầu từ xa đến gần, quan sát bằng nhiều giác quan: thính giác, thị giác và bằng nhiều sắc thái cảm giác: hồi ức, thực tại, tương lai.

    Hình ảnh đoàn tầu tương phản với các cảnh vật nơi phố huyện càng thấm thìa niềm mong ước khiêm nhường mà trong sáng, tốt đẹp. Một nét tâm lí rất thật, rất điển hình của những người dân quanh quẩn nơi thôn quê nghèo xưa mà cuộc sống bị trim

    khuất, mỏi mòn trong tăm tối.

    d. Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ truyện giầu cảm xúc, giọng văn điềm tĩnh, nhẹ nhàng như ẩn chứa một tâm sự kín đáo có sức gợi và khơi sâu và cảm xúc người đọc. Nó như một thứ thơ bằng văn xuôi.

    + Truyện là một bức tranh chân thực và đượm buồn về một miền đất, một miền đời bị lãng quên: Một phố huyện nghèo xa vắng với phiên chợ nghèo xơ xác, tiêu điều; những ngọn đèn tù mù như đang lụi dần; những kiếp đời lụi tàn như mẹ con chị

    Tí, những đứa trẻ nghèo, gia đình bác Xẩm, bà cụ Thi điên và HĐT. Họ sống nghèo khổ, tăm tối như trim trong cái ao đời tù túng .Những cảnh vật qua ngòi bút của TL lại gợi cảm vô cùng.

    + Ngòi bút hiện thực của TL đậm chất trữ tình. TL đã viết bằng chính kí ức tuổi ấu thơ của mình gắn với phố huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. Mỗi chi tiết, hình ảnh đều chân thật, xúc động vô cùng.

    + Truyện thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của nhà văn dành cho nhưng con người nhỏ bé, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội cũ. Ở mảnh đất đó, những số phận con người sống trong tăm tối, không biết tới niềm vui và hạnh phúc, họ cũng ước mơ nhưng ước mơ của họ thật nhỏ nhoi, tội nghiệp. Ước mơ chỉ là nhìn thấy con tầu qua phố huyện trong giây lát rồi phố huyện lại trim vào bóng tối. TL không chỉ thấu hiểu, thương cảm mà còn rung lên tiếng chuông cảnh tỉnh: những con người bé nhỏ, thiệt thòi dễ bị XH lãng quên và vùi lấp trong tăm tối, xã hội cần quan tâm đến họ. Họ có thể vô danh nhưng đừng để họ trở thành vô nghĩa.

    + Truyện khẳng định, đề cao ước mơ hạnh phúc, khát vọng đổi đời của con người. Thông điệp mà nhà văn muốn gửi đến với người đọc là tư tưởng nhân đạo sâu sắc này: Những con người phố huyện đêm đêm thức chờ đoàn tầu để được sống trong

    không khí sôi động và luồng ánh sáng rực rỡ. Dù con tầu chỉ xuất hiện trong giây lát nhưng cũng đủ khuấy lên một niềm mơ ước. HĐT thật đáng thương mà cũng thật đáng trọng: chúng đáng thường vì chúng như hai mầm cây mới lớn mà đã còi cọc trên mảnh đất khô cằn; chúng đáng trọng vì những mầm cây còi cọc ấy vẫn cố vươn lên, vẫn hi vọng đươm hoa, kết trái. Truyện HĐT đã đem đến trong lòng người đọc khát vọng yêu thương và tin tưởng vào cuộc sống.

    + HĐT còn là bước phát triển của tư tưởng nhân đạo của văn học 1930 – 1945. Đó là sự thức tỉnh ý thức cá nhân (VD Tỏa nhị

    Kiều – Xuân Diệu; Đời thừa – Nam Cao). HĐT đã tiếp tục tư tưởng nhân đạo này để bênh vực cho quyền sống tốt đẹp của những con người bé nhỏ, thiệt thòi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Tu Từ Trong Thơ Nguyễn Khuyến
  • Soạn Bài Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ
  • Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ
  • Bài Thơ Tiếng Gà Trưa
  • Bài Thơ: Tiếng Gà Trưa
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Hai Đứa Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tính Nghệ Thuật Trong Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam.
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quôc Tuấn
  • Hịch Tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn)
  • Phân tích sự tương phản trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam để làm sáng tỏ dụng ý của tác giả khi muốn nói về cuộc sống khổ cực của những con người sống trong cái phố huyện nhỏ bé ảm đạm, ngập chìm trong bóng tối đậm đặc ngày ngày ước muốn thoát ra khỏi sự tù túng của nghèo đói.

    Đề bài: Viết một bài văn phân tích nghệ thuật tương phản trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Dàn ý phân tích sự đối lập trong Hai đứa trẻ chi tiết

    I. Mở bài:

    – Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm

    – Nêu vấn đề nghị luận

      Ví dụ: Truyện ngắn của Thạch Lam có một phong cách riêng. Đó là những truyện ngắn dường như không có cốt truyện, hoặc cốt truyện thường đơn giản nhưng lại hấp dẫn và gợi lên trong người đọc nhiều suy nghĩ. Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn rất tiêu biểu cho phong cách của Thạch Lam. Tác phẩm thành công trong việc sử dụng nghệ thuật tương phản.

    II. Thân bài: Phân tích sự đối lập trong Hai đứa trẻ

    2. Nghệ thuật tương phản trong truyện ngắn Hai đứa trẻ

    – Tương phản giữa bóng tối và ánh sáng (phân tích dẫn chứng)

    • Ánh sáng và bóng tối đã xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện, ánh sáng yếu ớt của mặt trời “như hòn than sắp tàn” và xen vào đó là những hình ảnh đầu tiên của bóng tối “dãy tre làng trước mặt đen lại”.
    • Nhưng ám ảnh và có sự khơi gợi nhiều hơn cả là một không gian tối – sáng lúc phố huyện vào đêm: “Liên ngồi lặng im bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị”.
    • Trong sự đối lập sáng – tối đó, bóng tối là gam màu chủ yếu. Bóng tối dày đặc mênh mang khắp một vùng còn ánh sáng thì mờ nhạt, nhỏ nhoi, leo lét không đủ để xua đi bóng tối.
    • Thạch Lam thường miêu tả bóng tối nhưng chỉ trong Hai đứa trẻ, bóng tối mới đủ hình hài, cung bậc: “đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối”, bóng người làm công lung lay bóng dài, bóng bác phở Siêu mênh mang ngã xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ”.
    • Phố xá thì tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vài làng lại càng sậm đen hơn nữa. Đêm ở phố huyện tĩnh mịch và đầy bóng tối”. Trong cái thế giới ngập tràn bóng đêm, dưới một bầu trời thăm thẳm bao la đầy bí mật của phố huyện, ánh sáng lại quá yếu ớt, mà nhạt, nhỏ bé, leo lét. Ánh sáng của các cửa hiệu chỉ là những khe sáng, lọt ra ngoài, hắt xuống mặt đường gồ ghề khiến mặt đất dường như nhấp nhô hơn vì những hòn đá nhỏ vẫn còn một bên sáng một bên tối. Ánh đèn của bác phở Siêu chỉ là những chấm nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối. Ánh sáng ngọn đèn của chị em Liên thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa… Đặc biệt là hình ảnh ngọn đèn chị Tí, một quầng sáng nhỏ nhoi, chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ, xuất hiện bảy lần trong tác phẩm, tạo nên sức ám ảnh và khơi gợi về cảnh đời, những kiếp sống nhỏ bé, lay lắt trong đêm đen, trong bóng tối cuộc đời.

    – Tương phản giữa quá khứ và hiện tại (phân tích dẫn chứng)

    Quá khứ đẹp đẽ, sung túc của chị em Liên và An – đối lập với cuộc sống đơn điệu, nghèo nàn, quẩn quanh của hai chị em và của người dân nơi phố huyện.

    – Nghệ thuật tương phản thể hiện tập trung nhất ở phần cuối câu chuyện: khi đoàn tàu chạy qua phố huyện: bóng tối – ánh sáng, quá khứ – hiện tại, hiện tại – tương lai, âm thầm, lặng lẽ – ồn ào, náo nhiệt,…

    3. Tác dụng của nghệ thuật tương phản

    – Tạo nên vẻ đẹp lãng mạn, giàu chất thơ cho tác phẩm

    → Tất cả nhằm thể hiện cuộc sống quẩn quanh, bế tắc, tẻ nhạt, tăm tối của những con người nơi phố huyện đang héo mòn vì bóng tối cuộc đời và niềm khao khát một cuộc sống tươi sáng tốt đẹp hơn, từ đó thấy được tấm lòng chan chứa yêu thương của tác giả với những cuộc đời bé nhỏ nơi phố huyện.

    III. Kết bài: Đánh giá chung:

    • Tác phẩm đã thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Thạch Lam qua nghệ thuật đối lập tương phản.
    • Việc sử dụng bút pháp tương phản giúp Thạch Lam thể hiện rõ nét tư tưởng nghệ thuật của mình và tạo được dấu ấn riêng trong cách viết truyện ngắn.

    Top 3 bài văn hay phân tích nghệ thuật tương phản trong Hai đứa trẻ

    Nghệ thuật tương phản khắc họa cuộc sống tù túng mong mỏi được vươn tới một cuộc sống mới

    Nhà văn Thạch Lam là một cây bút tài ba chuyên viết truyện ngắn và văn xuôi. Các tác phẩm của ông luôn mang một vẻ độc đáo riêng biệt, đó là những truyện ngắn có cốt truyện đơn giản hoặc thậm chí không có cốt truyện, nhưng luôn đọng lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ, hoài niệm. Tiêu biểu trong số đó chính là tác phẩm ” Hai đứa trẻ ” -một tác phẩm đặc trưng cho phong cách văn thơ của ông. Với nghệ thuật tương phản sâu sắc trên nhiều khía cạnh, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả được sinh động cuộc sống và niềm mơ ước của các nhân vật trong truyện.

    Nhân vật chính trong tác phẩm đó chính là hai chị em Liên và An, hai người sống ở một phố huyện nghèo khi gia đình khó khăn phải lui về ở đấy. Khi mới vào tác phẩm, Thạch Lam đã dùng nghệ thuật tương phản để miêu tả rõ nét quang cảnh của buổi chiều tà nơi vùng quê, đó chính là sự đối lập của bóng tối và ánh sáng. Bóng tối cùng màn đêm dần buông xuống, nó bao trùm, ngự trị khắp mọi nơi, mọi ngóc ngách. Phố xá thì tối hết cả, con đường chỉ toàn là những rác rưởi, văng vẳng đâu đó là những tiếng ếch kêu, tiếng vo ve của muỗi. Tất cả mọi thứ làm cho khung cảnh trở nên ảm đạm, tẻ nhạt và vô vị, nó thấm vào sâu thẳm trong cả con người khiến con người ta buồn man mác. Trong gam màu tối chủ đạo ấy, vẫn hiện lên những hình ảnh le lói của những tia sáng yếu ớt. Đó chính là những tia nắng cuối cùng của buổi chiều tà đang tắt dần qua các ngọn núi, là ngọn đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lắt trong nhà ông Cửu, hay đơn giản chỉ là tia sáng phát ra từ những cây nến nhỏ bé.

    Những nguồn sáng ấy quá lẻ loi, đơn độc, chẳng thể nào thắp sáng cả một khu phố, cũng giống như số phận của những con người lao động nơi đây, dù có cố gắng, chăm chỉ làm ăn, nhưng cuộc sống vẫn mãi quẩn quanh trong sự đói nghèo và bế tắc. Tiêu biểu là ánh đèn dầu của chị Tí – một người phụ nữ nghèo khổ, làm lụng vất vả, lúc nào cũng nheo nhóc với đứa trẻ con và đống đồ đạc. Ánh sáng phát ra từ cây đèn là một quầng sáng mờ nhạt, leo lắt, chỉ đủ chiếu tỏ một vùng nhỏ bé, đó giống như một hình ảnh ẩn dụ mà thông qua đó nhà văn Thạch Lam muốn khơi gợi về những mảnh đời cơ cực, những kiếp sống nhỏ bé trong một xã hội đầy những bất công và khổ nhục.

    Quang cảnh tiếp theo thể hiện sự tương phản đó chính là sự đối lập giữa mặt đất và bầu trời. Bầu trời đẹp đẽ bao nhiêu, rực rỡ toàn sao bao nhiêu thì dưới đất lại bẩn thỉu, ngột ngạt bấy nhiêu. Thạch Lam đã miêu tả: “trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía, một mùi âm ẩm bốc lên”, chả có điều gì thơm tho, đẹp đẽ ở đó cả. Những con người trên bề mặt đấy còn khiến ta động lòng, cảm thương hơn nhiều: “Mấy đứa trẻ con nghèo ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được từ các người bán hàng để lại”, hay hình ảnh đứa trẻ con nhà bác xẩm bò ra đường “nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát” không khỏi khiến con người ta phải cảm thương cho những số phận đang vùi mình trong đêm tối ấy.

    Từ sự khác nhau giữa mặt đất và bầu trời ấy, Thạch Lam đã dẫn dắt người đọc sang một nét tương phản khác, đó chính là sự tương phản giữa quá khứ – thực tại và những mơ ước xa xôi. Quá khứ của An và Liên là những ngày tháng tươi đẹp nơi Hà thành, nơi mà hai chị em vô âu vô lo, được mẹ dẫn đi Bờ Hồ chơi, uống những cốc nước xanh đỏ mát lạnh. Ngoài ra những kỉ niệm về Hà Nội đó chính là cả một vùng sáng rực rỡ và lấp lánh. Nhưng giờ đây, hai con người ấy lại phải ngồi ở một nơi đói nghèo, tối tăm, cuộc sống tẻ nhạt, vô vị. Thay vì vui chơi, học hành thì giờ đây Liên đã bắt đầu biết suy nghĩ về cuộc sống, về những thứ xa xôi, chính điều ấy đã khiến cô trở nên trưởng thành hơn. Sống trong một cuộc sống như vậy, cho nên Liên lúc nào cũng mơ về một cuộc sống tốt đẹp, sung túc hơn. Những ước mơ của cô thật xa vời nhưng cũng rất giản dị.

    Thạch Lam đã mượn hình ảnh đoàn tàu hàng ngày chạy qua nơi phố nghèo để nói lên rõ nhất những ước mơ của hai chị em cũng như toàn thể người dân lao động nghèo nơi đây. Đoàn tàu chính là sự hiện thân của ánh sáng, của những hoài niệm đẹp đẽ, ấm áp nơi Hà Thành “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường”, “những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh”. Đoàn tàu ấy như mang một thế giới hoàn toàn khác đi ngang qua nơi này, một thế giới mà Liên ao ước và hoài niệm. Trong một thực tại tối tăm, nghèo đói, bế tắc, nhưng những con người nơi phố huyện vẫn luôn mơ đến những ước mơ xa xôi, mơ về một cuộc sống sung túc, tươi đẹp. Nhưng rồi, khi đoàn tàu đi qua, bóng tối lại bao trùm, màn đêm buông xuống, tất cả trở lại với thực tại tầm thường.

    Bằng bút pháp đối lập tương phản tinh tế, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả một cách khéo léo được quang cảnh nghèo khổ, tẻ nhạt của cuộc sống nơi phố nghèo. Nhưng cũng qua đó mà những nét đẹp của con người Việt Nam đã được tác giả thể hiện, đó chính là sự vô tư, tốt bụng, dù có khó khăn bế tắc thế nào đi chăng nữa nhưng lúc nào cũng chăm chỉ làm ăn, luôn mơ ước về một cuộc sống tươi đẹp ở phía trước.

    Bài văn đạt điểm cao phân tích sự đối lập trong Hai đứa trẻ

    Là một thành viên trụ cột trong bút nhóm Tự lực văn đoàn, Thạch Lam đã tự khẳng định mình bằng một hướng đi riêng, đặc biệt là những tác phẩm viết về nông thôn, những người dân nghèo nơi phố huyện. rút trong tập Nắng trong vườn là một truyện ngắn hay, thấm đẫm tinh thần nhân văn nhân đạo, tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật miêu tả tương phản của ông.

    Giống như hầu hết các truyện ngắn khác của Thạch Lam, Hai đứa trẻ là truyện không có chuyện. Câu chuyện như một bài thơ, cốt chuyện, tình tiết, tâm trạng, biến cố đều nhẹ nhàng, dịu êm… Truyện là tâm trạng thao thức đợi tàu, là những cảm xúc, những mảnh ghép cuộc sống, là cảnh vật xung quanh của hai đứa trẻ Liên và An. Truyện chỉ có vậy nhưng qua ngòi bút của Thạch Lam, những điều ấy trở nên sống động, làm cảm động lòng người. Thủ pháp nghệ thuật tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, giữa bầu trời và mặt đất, giữa quá khứ và hiện tại… đã gọi nên nhiều suy nghĩ thấm thía, sâu xa về những cảnh đời, những kiếp người nhỏ bé, sống vô danh vô nghĩa và héo mòn cùng những hi vọng mỏng manh và mơ hồ trong xã hội cũ.

    Con người luôn khao khát và luôn cần ánh sáng, thế nhưng với chuyển động của thời gian, chuyển động của trái đất quay quanh trục của nó, mặt trời chỉ có thể chiếu sáng cho chúng ta một nửa thời gian trong ngày. Bởi vậy, cái khoảnh khắc thao thức, cái sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối cùng xuất hiện, thời khắc chiều tà và đêm khuya bên cạnh nhau, tương phản nhau, cùng soi tỏ cho nhau. Ánh sáng và bóng tối đã xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện, ánh sáng yếu ớt của mặt trời “như hòn than sắp tàn” và xen vào đó là những hình ảnh đầu tiên của bóng tối “dãy tre làng trước mặt đen lại”. Nhưng ám ảnh và có sự khơi gợi nhiều hơn cả là một không gian tối – sáng lúc phố huyện vào đêm: “Liên ngồi lặng im bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dàn và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị”. Trong sự đối lập sáng – tối đó, bóng tối là gam màu chủ yếu. Bóng tối dày đặc, mênh mang, bao phủ khắp một vùng còn ánh sáng thì mờ nhạt, nhỏ nhoi, leo lét không đủ để xua đi bóng tối. Thạch Lam thường miêu tả bóng tối nhưng chỉ trong Hai đứa trẻ, bóng tối mới đủ hình hài, cung bậc: “đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối”, bóng người làm công lung lay bóng dài, bóng bác phở Siêu mênh mang ngã xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ”.

    Phố xá thì tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sậm đen hơn nữa. Đêm ở phố huyện tĩnh mịch và đầy bóng tối”. Trong cái thế giới ngập tràn bóng đêm, dưới một bầu trời thăm thẳm bao la đầy bí mật của phố huyện, ánh sáng lại quá yếu ớt, mà nhạt, nhỏ bé, leo lét. Ánh sáng của các cửa hiệu chỉ là những khe sáng, lọt ra ngoài, hắt xuống mặt đường gồ ghề khiến mặt đất dường như nhấp nhô hơn vì những hòn đá nhỏ vẫn còn một bên sáng một bên tối. Ánh đèn của bác phở Siêu chỉ là những chấm nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối. Ánh sáng ngọn đèn của chị em Liên thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa… Có lẽ trong văn học xưa nay, ánh sáng cũng đã từng xuất hiện nhiều nhưng không mấy ai miêu tả ánh sáng là khe, là vệt, là chấm, là hột, là quầng… Một cách riết róng như Thạch Lam. Đặc biệt là hình ảnh ngọn đèn chị Tí, một quầng sáng nhỏ nhoi, chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ, xuất hiện hai lần trong tác phẩm, tạo nên sức ám ảnh và khơi gợi về cảnh đời, những kiếp sống nhỏ bé, lay lắt trong đêm đen, trong bóng tối cuộc đời.

    Điều Liên, An và những người dân nơi phố huyện mong chờ là thứ ánh sáng nơi bàn tay con người từ chuyến tàu cuối cùng của đêm “các toa đèn sáng trưng, đồng và kền lấp lánh”… Giữa đêm, thời điểm tưởng như bóng tối nặng nề, đông đặc nhất lại chính là thời điểm ánh sáng bừng lên rực rỡ, sáng lóa cả không gian và tâm hồn con người. Bầu trời bao la và mặt đất cũng có sự đối lập. Mặt đất sau buổi chợ tàn chỉ còn lại rác rưởi, bụi bẩn và mùi của đất, là mặt đất bụi bặm, khổ đau, chứa đầy bóng tối. Còn bầu trời thì khác, nó đỏ rực lúc chiều tà, là hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, là sự kì diệu, thuộc về ước mơ, khao khát, là những kỉ niệm của một thời nay chỉ còn là vang bóng. Ánh sáng và bầu trời thuộc về ước mơ, là để thắp lên, đợi chờ, khát khao. Bóng tối và mặt đất là cái thực tại, là cái hằng chiều, là bóng đêm con người phải sống, phải đối mặt.

    Với việc sử dụng nghệ thuật đối lập tương phản trong thiên truyện. Thạch Lam đã làm nổi bật lên cuộc sống buồn bã, tẻ nhạt, tối tăm của những con người nơi phố huyện đang héo mòn vì bóng tối. Qua đó Thạch lam đã bộc lộ rõ được tinh thần nhân đạo, trong niềm day dứt, dằn vặt, thể hiện cái tài và cái tâm của tác giả, tạo nên cả đẹp lãng mạn nhẹ nhàng đầy thi vị cho tác phẩm.

    Văn mẫu 11 phân tích sự đối lập trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Hai đứa trẻ là tác phẩm nêu lên hiện thực của một vùng phố huyện nghèo, nơi đó có cuộc sống và những con người đang sống trên cảnh nghèo đói, khổ sở, họ phải chật vật lo cho cuộc sống của mình quanh năm vất vả, với việc buôn ba kiếm từng mảnh cơm… Và để lột tả được những điều đó, tác giả đã thể hiện những biện pháp nghệ thuật tương phản nhằm làm tăng lên giá trị phản ánh trong tác phẩm, những điều đó thể hiện một tư tưởng nghệ thuật cũng như giá trị của tác phẩm mà tác giả đang muốn thể hiện. Tương phản ở đây đó là sự đối lập giữa những phạm trù, và để tăng lên sức chú ý và mức độ ảnh hưởng của nó đến toàn bộ con người và sự vật.

    Trong tác phẩm không gian chật hẹp tối tăm còn đối diện với ánh sáng, đó là ánh sáng của cuộc sống tốt đẹp hơn, của những ánh sáng của bóng đèn dầu leo lắt, của hình ảnh của chiếc đèn toa tàu, nó làm sáng rực lên không gian của vùng phố huyện, những cảnh leo lắt, tối tăm đó, nó làm tăng lên sự nghèo đói và khó khăn của những người dân nghèo ở phố huyện, cảnh phố huyện tiêu điều xơ xác với những rác rưởi sau buổi chợ làm cho chúng ta có cảm giác như đang có điều gì đó tăm tối và không có chút sáng sủa.

    Không gian nơi phố huyện thật tiêu điều, xơ xác nó làm cho con người có những cảm giác chật hẹp và bị bó chặt vào cùng không gian nơi đây, đó là những cảm giác tăm tối và con người đang phải trải qua những khó khăn và gian nan nhất, cuộc sống của con người bị bó buộc trong không gian vô cùng chật hẹp, nó đã phản ánh được tình trạng đói khổ, và gian nan của con người, con người dường như đang phải chịu những vất vả do cuộc sống gây nên. Chính sự đối lập tương phản nó đã bao trùm lên toàn bộ vùng không gian của nơi phố huyện, đó là những cảnh tối tăm của không gian, của con người, tất cả đang dần chìm vào những gam màu tối, nó đã làm cho cuộc sống của họ không có chút hy vọng nào.

    Chính những gam màu chính là gam màu tối nó làm cho tác phẩm ngập tràn trong một vùng không gian với rất nhiều những thứ tồi tệ, đó là cảnh nghèo đói, đó là sự tối tăm của không gian con người, con người đang phải sống trong một hoàn cảnh khắc nghiệt, và có chút ánh sáng tiêu điểm, nó cũng đủ để điểm tô thêm những niềm hy vọng mới cho con người, nhưng đó là những điều mà làm cho con người có thêm chút niềm tin vào một tương lai tươi sáng hơn, cuộc sống đang phải tràn ngập và nở rộ những tia hy vọng về một tương lai tươi sáng, ở đó con người có thể sống một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mặc dù ánh sáng nó chỉ là những hình ảnh rất hiếm hoi, leo lắt và tác động nhỏ tới con người, nó không thể bao trùm lên không gian rộng lớn của vùng phố huyện, nhưng nó đủ để tạo nên những niềm tin sâu sắc vào một cuộc sống tốt đẹp hơn.

    Với cách dùng từ một cách tinh tế, tác giả đã thể hiện được tư tưởng và ý nghĩa chủ đạo trong tác phẩm của mình, với những cách miêu tả tinh tế, con người dường như đang lạc vào một thế giới nhiều màu sắc hơn, mặc dù, nhiều chi tiết như: “phố xá thì tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông ra ngõ đều đen sậm lại”. Tất cả cảnh phố huyện đang tràn ngập trong bóng tối, đó là bóng tối của thiên nhiên, và mặt khác nó cũng thể hiện sự khó khăn trong vật chất của con người, con người có thể mong ước điều gì đó mới mẻ và khác lạ hơn sẽ đến trong chính cuộc sống của mình. Ánh sáng mà tác giả thể hiện mặc dù rất yếu ớt đó là ánh sáng của chiếc đèn dầu của chị em nhà Liên và An, nhưng nó đủ để cho con người cảm thấy ấm lòng, hay hình ảnh của toa tàu khi đang đến nó làm cho không gian nơi đây sáng lên rực rỡ trong phút chốc.

    Người luôn mong chờ để đón những tia sáng đến vùng đất của mình để họ có thể cảm nhận và hiểu được những điều tinh tế và tốt đẹp nhất cho con người, con người vẫn đang cần mẫn và phải làm những điều tốt nhất cho chính cuộc đời của mình, trong không gian nơi đây con người dường như đã bị cái tối tăm của không gian bao phủ lấy tâm can, và trái tim của họ, chính vì vậy, cái lớn lao nhất mà họ mong đợi đó là có điều gì đó tốt nhất sẽ đến với chính cuộc đời của họ vượt qua được mọi điều để họ có thể có được điều tốt nhất.

    Tương phản còn thể hiện giữa cuộc sống của Liên và An trong quá khứ và hiện tại, quá khứ tươi đẹp, sáng sủa, hiện tại tối tăm… Tác dụng của nghệ thuật tương phản mà tác giả thể hiện đem đến cho người đọc một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ và sâu sắc về hiện thực nơi đây.

    Truyện kết thúc một cách nhẹ nhàng, nhưng đối với người đọc là cả sự băn khoăn, day dứt, xót thương. Hình ảnh ánh sáng và bóng tối cứ thấp thoáng, cứ ám ảnh người đọc: không biết bao giờ ánh sáng, tương lai và hạnh phúc mới đến với Liên – An và những người dân nghèo nơi phố huyện?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ
  • Câu Hỏi Tu Từ Trong Thơ Nguyễn Khuyến
  • Soạn Bài Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ
  • Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ
  • Bài Thơ Tiếng Gà Trưa
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quôc Tuấn
  • Hịch Tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn)
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Trong Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Phân tích nghệ thuật tương phản trong tác phẩm Hai đứa trẻ

    Nhà văn Thạch Lam là một cây bút tài ba chuyên viết truyện ngắn và văn xuôi. Các tác phẩm của ông luôn mang một vẻ độc đáo riêng biệt, đó là những truyện ngắn có cốt truyện đơn giản hoặc thậm chí không có cốt truyện, nhưng luôn đọng lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ, hoài niệm. Tiêu biểu trong số đó chính là tác phẩm “Hai đứa trẻ”-một tác phẩm đặc trưng cho phong cách văn thơ của ông. Với nghệ thuật tương phản sâu sắc trên nhiều khía cạnh, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả được sinh động cuộc sống và niềm mơ ước của các nhân vật trong truyện.

    Nhân vật chính trong tác phẩm đó chính là hai chị em Liên và An, hai người sống ở một ở một phố huyện nghèo khi gia đình khó khăn phải lui về ở đấy. Khi mới vào tác phẩm, Thạch Lam đã dùng nghệ thuật tương phản để miêu tả rõ nét quang cảnh của buổi chiều tà nơi vùng quê, đó chính là sự đối lập của bóng tối và ánh sáng. Bóng tối cùng màn đêm dần buông xuống, nó bao trùm, ngự trị khắp mọi nơi, mọi ngõ nghách. Phố xá thì tối hết cả, con đường chỉ toàn là những rác rưởi, văng vẳng đâu đó là những tiếng ếch kêu, tiếng vo ve của muỗi. Tất cả mọi thứ làm cho khung cảnh trở nên ảm đảm, tẻ nhạt và vô vị, nó thấm vào sâu thẳm trong cả con người khiến con người ta buồn man mác. Trong gam màu tối chủ đạo ấy, vẫn hiện lên những hình ảnh le lói của những tia sáng yếu ớt. Đó chính là những tia nắng cuối cùng của buổi chiều ta đang tắt dần qua các ngọn núi, là ngọn đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kìa leo lắt trong nhà ông Cửu, hay đơn giản chỉ là tia sáng phát ra từ những cây nến nhỏ bé.

    Những nguồn sáng ấy quá lẻ loi, đơn độc, chẳng thể nào thắp sáng cả một khu phố, cũng giống như số phận của những con người lao động nơi đây, dù có cố gắng, chăm chỉ làm ăn, nhưng cuộc sống vẫn mãi quẩn quanh trong sự đói nghèo và bế tắc. Tiêu biểu là ánh đèn dầu của chị Tí – một người phụ nữ nghèo khổ, làm lụng vất vả, lúc nào cũng nheo nhóc với đứa trẻ con và đống đồ đạc. Ánh sáng phát ra từ cây đèn là một quầng sáng mờ nhạt, leo lắt, chỉ đủ chiếu tỏ một vùng nhỏ bé., đó giống như một hình ảnh ẩn dụ mà thông qua đó nhà văn Thạch Lam muốn khơi gợi về những mảnh đời cơ cực, những kiếp sống nhỏ bé trong một xã hội đầy những bất công và khổ nhục.

    Từ sự khác nhau giữa mặt đất và bầu trời ấy, Thạch Lam đã dẫn dắt người đọc sang một nét tương phản khác, đó chính là sự tương phản giữa quá khứ – thực tại và những mơ ước xa xôi. Quá khứ của An và Liên là những ngày tháng tươi đẹp nơi hà thành, nơi mà hai chị em vô âu vô lo, được mẹ dẫn đi Bờ Hồ chơi, uống những cốc nước xanh đỏ mát lạnh. Ngoài ra những kỉ niệm về Hà Nội đó chính là cả một vùng sáng rực rỡ và lấp lánh. Nhưng giờ đây, hai con người ấy lại phải ngồi ở một nơi đói nghèo, tối tăm, cuộc sống tẻ nhạt, vô vị. Thay vì vui chơi, học hành thì giờ đây Liên đã bắt đầu biết suy nghĩ về cuộc sống, về những thứ xa xôi, chính điểu ấy đã khiến cô trở nên trưởng thành hơn. Sống trong một cuộc sống như vậy, cho nên Liên lúc nào cũng mơ về một cuộc sống tốt đẹp, sung túc hơn. Những ước mơ của cô thật xa vời nhưng cũng rất giản dị.

    Thạch Lam đã mượn hình ảnh đoàn tàu hàng ngày chạy qua nơi phố nghèo để nói lên rõ nhất những ước mơ của hai chị em cũng như toàn thể người dân lao động nghèo nơi đây. Đoàn tàu chính là sự hiện thân của ánh sáng, của những hoài niệm đẹp đẽ, ấm áp nơi Hà Thành ” các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường”, ” những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh”. Đoàn tàu ấy như mang một thế giới hoàn toàn khác đi ngang qua nơi này, một thế giới mà Liên ao ước và hoài niệm. Trong một thực tại tối tăm, nghèo đói, bế tắc, nhưng những con người nơi phố huyện vẫn luôn mơ đến những ước mơ xa xôi, mơ về một cuộc sống sung túc, tươi đẹp. Nhưng rồi, khi đoàn tàu đi qua, bóng tối lại bao trùm, màn đêm buông xuống, tất cả trở lại với thực tại tầm thường.

    Bằng bút pháp đối lập tương phản tinh tế, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả một cách khéo léo được quang cảnh nghèo khổ, tẻ nhạt của cuộc nơi phố nghèo. Nhưng cũng qua đó mà những nét đẹp của con người Việt Nam đã được tác giả thể hiện, đó chính là sự vô tư, tốt bụng, dù có khó khăn bế tắc thế nào đi chăng nữa nhưng lúc nào cũng chăm chỉ làm ăn, luôn mơ ước về một cuộc sống tươi đẹp ở phía trước.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam.
  • Phân Tích Tính Nghệ Thuật Trong Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Hai Đứa Trẻ
  • Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ
  • Câu Hỏi Tu Từ Trong Thơ Nguyễn Khuyến
  • Phân Tích Tính Nghệ Thuật Trong Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam.
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quôc Tuấn
  • Hịch Tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn)
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Phân tích tính nghệ thuật trong Hai đứa Trẻ của Thạch Lam

    Bài văn mẫu Phân tích tính nghệ thuật trong Hai đứa Trẻ của Thạch Lam

    Bài làm

    Mỗi lần đọc Thạch Lam trong tâm trí tôi lại hiện lên hình ảnh cánh cổng gỗ của khu vườn êm ả được miêu tả trong truyện Dưới bóng hoàng lan. Phía ngoài cánh cổng là một thế giới ồn ào, phồn tạp, nắng nôi, nhưng bên trong là bầu không khí mát rười rượi thoảng mùi hương thật thích hợp cho tâm trạng suy tư và cảm nhận, lắng nghe những điều tế nhị của sự sống.

    Văn Thạch Lam cũng như khu vườn bên trong cánh cổng ấy, ít sự kiện, hành động nhưng đầy ắp những bâng khuâng. Nó cho ta cơ hội hiểu thấu sâu xa những cuộc đời giản dị, qua sự chiêm nghiệm lặng lẽ.

    “Hai đứa trẻ” là truyện ngắn rất Thạch Lam. Chất liệu của nó vẫn là cuộc sống tù đọng, mòn mỏi nơi những phố huyện nghèo nàn xơ xác. Nhưng từ thứ chất liệu rất “văn xuôi” đó, nhà văn đã đưa lại cho chúng ta những trang viết hết sức thi vị, không có gì chung với sự thi vị hoá cuộc sống một cách tầm thường. Thi vị ( hay chất thơ) của tác phẩm gắn liền với dụng công của nhà văn muốn khêu gợi trí tưởng tượng nơi người đọc và đánh động khả năng cảm nhận của các giác quan bằng lối hành văn hoặc cách tổ chức lời văn khá riêng biệt. Đây chính là chiều sâu của một nghịch lý tưởng chừng khó giải thích: viết về các sự vật, sự việc tầm thường, đơn điệu mà văn vẫn lôi cuốn đến thế. Điều này phá vỡ một ngộ nhận (chí ít là của người đọc) về tính quyết định của vật liệu. Thực ra nghệ thuật chính là một sự chế ngự vật liệu, vật liệu thông qua những phương thức, phương tiện diễn tả đặc thù.

    Câu văn của Thạch Lam tả rất sát sự thật, sự việc. Nhưng điều đó không có nghĩa ở đây chỉ có sự khớp đúng đến nghẹt thở. Tiết điệu buông chùng của câu mở đầu thiên truyện chứng tỏ điều đó: ” Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều”. Cái lõi ngữ pháp của câu chỉ được nhận ra ở vế sau, nhưng sự cảm nhận của người đọc đã thực sự được khởi hành từ trước cùng cụm danh từ được đảo lên trên. Trong câu này cái đáng chú ý còn có từ “gọi”. Nó xác lập một tương quan mới (dù vô hình) giữa các sự vật mà từ báo hiệu chẳng hạn không nói lên được. Dĩ nhiên câu văn vừa nêu không chỉ Thạch Lam mới viết nổi. Nhưng điều quan trọng là nó xuất hiện có quy luật chứ không ngẫu nhiên, nhằm nhấn mạnh một điều gì khác hơn những sự kiện nổi trên bề mặt. Xin chú ý thêm hai câu văn khác đứng kề nhau: ” Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Trong câu đầu dường như thừa một chữ “chiều”, xét theo góc độ thông tin bình thường. Nhưng thực ra ở đây còn có thông tin về tâm trạng mà riêng hai chữ “chiều rồi” chưa truyền tải được (do thiếu vắng nhịp điệu). Mặt khác, nếu không có chữ chiều ” thừa ra” ấy, sự buông lơi êm đềm của câu sau sẽ ít có hiệu quả. Tính chất thừa tiếp hô ứng của mạch văn cũng thiếu trọn vẹn. Rõ ràng đọc giả đang bị dẫn dắt bởi văn chứ không phải cái gì khác.

    Suốt truyện ngắn, nhà văn nhiều lần nhấn mạnh sự “ngây thơ” của hai nhân vật chị em qua các nhận xét như: “Liên không hiểu sao…”, “Liên tưởng là…”, “tâm hồn Liên… có những cảm giác mơ hồ không hiểu”, “vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ…”,”Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết…”. Rất có thể nhân vật của truyện “không biết”, không hiểu thật, nhưng điều đáng nói là tác giả đã mượn chính tâm trạng nhân vật để ám thị người đọc. Các phủ định từ “không” đã “bẫy” họ sa vào một không khí bất định, mông lung. Độc giả cứ ngỡ mình đang cùng nhà văn theo dõi nhân vật, nhưng thật sự họ đã bị lây nhiễm chính cảm giác của nhân vật và không thôi thao thức. Càng cố gắng hiểu những điều nhân vật “không hiểu” để phân biệt với nó, anh ta càng rơi sâu vào không khí của truyện đến nỗi mất cả đường ra, trong khi tác giả vẫn không ngừng tả, kể để trói anh ta chặt hơn vào câu chuyện mà ông “bịa” ra.

    Truyện tuy rất ít hành động nhưng vẫn thấp thoáng những lời đối thoại. Chúng được phân bố rất đều trong tác phẩm và xuất hiện giữa những đoạn miêu tả cảnh vật – một khung cảnh lặng lẽ, êm đềm, có phần hiu hắt, buồn bã. Chính không khí ấy quy định sắc điệu của lời đối thoại, trong khi bản thân lời đối thoại cũng mang tính chất lơ lửng, không gây nên sự đột biến nào của mạch truyện. Những câu hỏi nêu ra có thể trả lời cũng được mà không cũng được. Nó không nhằm mục đích tìm biết mà chỉ chờ đợi một sự phụ hoạ, xác nhận điều người nói nghĩ và thậm chí cả sự hiện tồn mờ nhạt của họ nữa:

    – Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ?

    – Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế ?

    – Còn cô chưa dọn hàng à?

    – Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không ?

    – A, cô bé làm gì thế ?

    – Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ ?

    – Tàu hôm nay không đông, chị nhỉ ?

    Trước những câu hỏi ấy người đối thoại thường là “mãi rồi mới chép miệng trả lời”, ngẫm nghĩ rồi đáp hoặc có đáp cũng “đáp vẩn vơ”, thậm chí “không đáp”, “không cần ngoảnh mặt ra”. Một số người khi muốn chứng minh luận điểm nói rằng cảnh đời được miêu tả trong truyện thật nghèo nàn buồn tẻ, đã viện đến các chi tiết như đám trẻ con nhặt nhạnh những thứ rơi vãi trên nền chợ, chị Tý dọn hàng đến khuya mà không bán được bao nhiêu, hai chị em Liên xem phở bác Siêu như một thứ quà xa xỉ, một người mua hàng đến nửa bánh xà phòng cũng phải mua chịu… Thật ra cần chú ý hơn đến những mấu đối thoại rời rạc đã nói ở trên. Dụng công của Thạch Lam cũng như hồn văn của truyện chính toát lên từ đấy. Nó đưa tới cho người đọc không phải chuyện này chuyện nọ mà là một ấn tuợng buồn nản, xót thương, thậm chí bực bội trước các câu hỏi tủn mủn, bâng quơ, không cần thiết phải trả lời và những lời đáp quá chừng nhạt nhẽo, phẳng lặng. Những ấn tưọng đó khó gây dựng hơn nhiều so với các nhận xét kết luận “đóng bao”sẵn thường thấy ở nhiều truyện thừa giọng giáo huấn mà thiếu tính nghệ thuật.

    Trong truyện cũng vài lần nổi lên tiếng reo chứa đựng niềm hân hoan mong đợi:

    – Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi.

    – Đèn ghi đã ra kia rồi.

    Nhưng những tiếng reo đó đã nhanh chóng phô ra tính chất tội nghiệp của chúng, niềm vui mới nhóm lên đã bị triệt tiêu bởi lời kể nhẩn nha vô tình mà thật “ác nghiệt”: ” An và Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền , hai chị em không bao giờ mua được ” và “chuyến tàu hôm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn”. Đúng là mong đợi chỉ để mà mong đợi, reo lên chỉ để rồi buồn tiếc và thất vọng hơn. Cảm giác thất vọng của nhân vật chắc chắn là sâu sắc. Nhưng đâu chỉ nhân vật, độc giả cũng thất vọng không kém. Bị trói chặt bởi nhịp cầu lê thê của câu chuyện, họ đã chờ đợi bao nhiêu ở những tiếng reo kia. Thật ra, niềm thất vọng này chính là hiệu quả nghệ thuật của truyện. Sau sự hụt hẫng này, độc giả sẽ vỡ ra những ý nghĩa của đời sống mà truyện muốn hướng tới. Nghệ thuật không phải là nói thẳng mà nói vòng, còn độc giả thì có được cảm giác thật như người trong truyện. Cùng với nhân vật, họ tự nghiệm sinh các giá trị của đời.

    Hai đứa trẻ là truyện ngắn giàu tính nghệ thuật. Tác giả đã rất ung dung, thoải mái khi xử lí chất liệu hiện thực. Tất cả chất liệu đã được tổ chức lại nhằm khơi dậy ở người đọc những cảm xúc nghệ thuật thuần khiết . Nhà văn đưa họ vào thế giới của ông, thôi miên họ, sau đó tự để họ ngẫm nghiệm và rút ra những bài học cần thiết. Ở trên có nhắc tới “khu vườn Thạch Lam”. Thực ra “khu vườn”ấy không chỉ có nghĩa là đề tài. Đó là “khu vườn” của nghệ thuật – một nghệ thuật biết vượt thoát khỏi sự trói buộc của đề tài để làm vang dậy tiếng nói riêng của nhà văn.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-tinh-nghe-thuat-trong-hai-dua-tre-42125n.aspx

    Thông qua việc tìm hiểu các hình ảnh đối lập về hình ảnh, tâm lý nhân vật, tham khảo bài mẫu phân tích những nét đặc sắc nghệ thuật trong Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về nội dung và giá trị nghệ thuật trong bài. Ngoài ra, để dễ dàng ôn tập kiến thức, chuẩn bị tốt cho các bài viết trên lớp, các em cần tìm hiểu bài: Phân tích cảnh đợi tàu của hai chị em Liên trong Hai đứa trẻ, phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương, Mỗi truyện của Thạch Lam là một bài thơ trữ tình, tóm tắt truyện ngắn Hai đứa trẻ,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Hai Đứa Trẻ
  • Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ
  • Câu Hỏi Tu Từ Trong Thơ Nguyễn Khuyến
  • Soạn Bài Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ
  • Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam.

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quôc Tuấn
  • Hịch Tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn)
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Đề bài: Em hãy phân tích nghệ thuật tương phản trong truyện ngắn Hai Đứa Trẻ của Thạch Lam để thấy được tác dụng của chúng.

    Hai đứa trẻ là tác phẩm nêu lên hiện thực của một vùng phố huyện nghèo, nơi đó có cuộc sống và những con người đang sống trên cảnh nghèo đói, khổ sở, họ phải chật vật lo cho cuộc sống của mình quanh năm vất vả, với việc buôn ba kiếm từng mảnh cơm… Và để lột tả được những điều đó, tác giả đã thể hiện những biện pháp nghệ thuật tương phản nhằm làm tăng lên giá trị phản ánh trong tác phẩm, những điều đó thể hiện một tư tưởng nghệ thuật cũng như giá trị của tác phẩm mà tác giả đang muốn thể hiện. Tương phản ở đây đó là sự đối lập giữa những phạm trù, và để tăng lên sức chú ý và mức độ ảnh hưởng của nó đến toàn bộ con người và sự vật.

    Trong tác phẩm không gian chặt hẹp tối tăm còn đối diện với anh sáng, đó là ánh sáng của cuộc sống tốt đẹp hơn, của những ánh sáng của bóng đèn dầu leo lắt, của hình ảnh của chiếc đèn toa tàu, nó làm sáng rực lên không gian của vùng phố huyện, những cảnh leo lắt, tối tăm đó, nó làm tăng lên sự nghèo đói và khó khăn của những người dân nghèo ở phố huyện, cảnh phố huyện tiêu điều xơ xác với những rác rưởi sau buổi chợ làm cho chúng ta có cảm giác như đang có điều gì đó tăm tối và không có chút sáng sủa.

    Không gian nơi phố huyện thật tiêu điều, xơ xác nó làm cho con người có những cảm giác chặt hẹp và bị bó chặt vào cùng không gian nơi đây, đó là những cảm giác tăm tối và con người đang phải trải qua những khó khăn và gian nan nhất, cuộc sống của con người bị bó buộc trong không gian vô cùng chặt hẹp, nó đã phản ánh được tình trạng đói khổ, và gian nan của con người, con người dường như đang phải chịu những vất vả do cuộc sống gây nên. Chính sự đối lập tương phản nó đã bao trùm lên toàn bộ vùng không gian của nơi phố huyện, đó là những cảnh tối tăm của không gian, của con người, tất cả đang dần chìm vào những gam màu tối, nó đã làm cho cuộc sống của họ không có chút hy vọng nào.

    Chính những gam màu chính là gam màu tối nó làm cho tác phẩm ngập tràn trong một vùng không gian với rất nhiều những thứ tồi tệ, đó là cảnh nghèo đói, đó là sự tối tăm của không gian con người, con người đang phải sống trong một hoàn cảnh khắc nghiệt, và có chút ánh sáng tiêu điểm, nó cũng đủ để điểm tô thêm những niềm hy vọng mới cho con người, nhưng đó là những điều mà làm cho con người có thêm chút niềm tin vào một tương lai tươi sáng hơn, cuộc sống đang phải tràn ngập và nở rộ những tia hy vọng về một tương lai tươi sáng, ở đó con người có thể sống một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mặc dù ánh sáng nó chỉ là những hình ảnh rất hiếm hoi, leo lắt và tác động nhỏ tới con người, nó không thể bao trùm lên không gian rộng lớn của vùng phố huyện, nhưng nó đủ để tạo nên những niềm tin sâu sắc vào một cuộc sống tốt đẹp hơn.

    Với cách dùng từ một cách tinh tế, tác giả đã thể hiện được tư tưởng và ý nghĩa chủ đạo trong tác phẩm của mình, với những cách miêu tả tinh tế, con người dường như đang lạc vào một thế giới nhiều màu sắc hơn, mặc dù, nhiều chi tiết như: ” phố xá thì tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông ra ngõ đều đen sậm lại”. Tất cả cảnh phố huyện đang tràn ngập trong bóng tối, đó là bóng tối của thiên nhiên, và mặt khác nó cũng thể hiện sự khó khăn trong vật chất của con người, con người có thể mong ước điều gì đó mới mẻ và khác lạ hơn sẽ đến trong chính cuộc sống của mình. Ánh sáng mà tác giả thể hiện mặc dù rất yếu ớt đó là ánh sáng của chiếc đèn dầu của chị em nhà Liên và An, nhưng nó đủ để cho con người cảm thấy ấm lòng, hay hình ảnh của toa tàu khi đang đến nó làm cho không gian nơi đây sáng lên rực rỡ trong phút chốc.

    Con người luôn mong chờ để đón những tia sáng đến vùng đất của mình để họ có thể cảm nhận và hiểu được những điều tinh tế và tốt đẹp nhất cho con người, con người vẫn đang cần mẫn và phải làm những điều tốt nhất cho chính cuộc đời của mình, trong không gian nơi đây con người dường như đã bị cái tối tăm của không gian bao phủ lấy tâm can, và trái tim của họ, chính vì vậy, cái lớn lao nhất mà họ mong đợi đó là có điều gì đó tốt nhất sẽ đến với chính cuộc đời của họ vượt qua được mọi điều để họ có thể có được điều tốt nhất.

    Tương phản còn thể hiện giữa cuộc sống của Liên và An trong quá khứ và hiện tại, quá khứ tươi đẹp, sáng sủa, hiện tại tối tăm… Tác dụng của nghệ thuật tương phản mà tác giả thể hiện đem đến cho người đọc một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ và sâu sắc về hiện thực nơi đây.

    Bài đã thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Thạch Lam, qua nghệ thuật đối lập tương phản.

    Nguồn: Văn mẫu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tính Nghệ Thuật Trong Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam
  • Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Hai Đứa Trẻ
  • Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ
  • Câu Hỏi Tu Từ Trong Thơ Nguyễn Khuyến
  • Soạn Bài Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Ngắn Gọn

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta (Lớp 5)
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta Của Trần Đăng Khoa
  • So Sánh Tu Từ Trong Thơ Trần Đăng Khoa
  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Thơ Tre Việt Nam Của Nhà Thơ Nguyễn Duy
  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Thơ Tre Việt Nam Nguyễn Duy
  • I. Tìm hiểu chung để soạn bài Hai đứa trẻ

    1. Tác giả

    – Thạch Lam (1910-1942) sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn chương.

    Tác giả Thạch Lam (1910-1942)

    – Ông có sở trường về truyện ngắn, giọng văn giàu chất thơ và luôn mang những giá trị nhân đạo sâu sắc.

    – Những tác phẩm nổi tiếng của ông: Gió đầu mùa, Sợi tóc, Nắng trong vườn,…

    2. Tác phẩm

    – Tác phẩm được rút ra từ tập Nắng trong vườn.

    Tác phẩm “Nắng trong vườn” của Thạch Lam

    – Yếu tố hiện thực và lãng mạn được nhà văn khai thác triệt để.

    – Bố cục tác phẩm:

    + Đoạn 1 (từ đầu đến ” cho chúng “): Cảnh chiều tàn cuối ngày và tâm trạng của Liên.

    + Đoạn 2 (tiếp … đến ” cảm giác mơ hồ không hiểu nổi “): cảnh phố huyện lúc về đêm

    + Đoạn 3 (phần còn lại): cảnh chờ tàu của chị em Liên.

    II. Hướng dẫn soạn bài Hai đứa trẻ chi tiết

    Câu 1:

    Soạn Hai đứa trẻ qua miêu tả không gian và thời gian:

    + Không gian buổi chiều tà: “phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây hồng như hòn than sắp tàn”.

    + Cảnh vật thiên nhiên ngày tàn, nhịp sống buồn của phố huyện nghèo trở nên nhỏ hẹp dần.

    + Quang cảnh ngày tàn nơi phố huyện nghèo đói, bé nhỏ, phiên chợ tàn, cảnh chợ lụp xụp, đơn sơ.

    Câu 2:

    Những kiếp người tàn tạ nơi phố huyện được tác giả miêu tả chân thực đến xót xa:

    – Chị Tí ban ngày đi mò cua bắt ốc … tối dọn hàng nước … thắp ngọn đèn dầu leo lét: cuộc sống mưu sinh cứ thế ngày qua ngày và chị cũng chẳng kiếm được bao nhiêu.

    – Gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau để trước mặt … góp tiếng bằng tiếng đàn bầu bật trong yên lặng: sự đìu hiu, đượm buồn và ảm đạm quẩn quanh căn nhà.

    – Bà cụ Thi điên nghiện rượu … có tiếng cười khanh khách, ghê sợ, xiêu vẹo như bóng ma.

    – Chị em Liên được tác giả miêu tả chi tiết hơn:

    + Thầy Liên thì mất việc nên gia đình phải chuyển về quê, mẹ của Liên dọn cửa hàng tạp hóa cho hai chị em Liên bán thêm.

    + Liên sống tình cảm, thương những đứa trẻ nghèo và suy nghĩ xa xôi về gánh phở của bác Siêu – một món quà quá đỗi xa xỉ.

    + Cuộc sống cùng cực, nghèo khó của gia đình Liên.

    ⇒ Tất cả gợi lên vẻ mệt mỏi, buồn chán, cuộc sống đượm màu tẻ nhạt, cô quạnh lặp đi lặp lại một cách vô cùng đơn điệu và quanh quẩn đến xót thương.

    Mặc dù cuộc sống mờ mịt, nhàm chán đến thế thì họ vẫn hi vọng dù rất mong manh, mơ hồ rằng sẽ có sự thay đổi, tác giả thể hiện kín đáo sự xót thương của mình trước những số phận hẩm hiu này.

    Câu 3:

    Tâm trạng của hai đứa trẻ khi nhìn về khung cảnh thiên nhiên và bức tranh phố huyện được ông miêu tả vô cùng khéo léo, tinh tế:

    + Chị em Liên có những cảm nhận về buổi chiều tàn bằng góc nhìn rất riêng, có một chút buồn, một chút gắn bó.

    + Hòa mình vào thiên nhiên, hai đứa trẻ đã phát hiện ra nhiều điều, chúng ngước mắt tìm dòng sông Ngân Hà.

    + Tâm trạng lúc này của hai đứa trẻ là sự hòa hợp, giao cảm với cỏ cây quê hương (qua kẽ lá bàng…giấc mơ không hiểu).

    ⇒ Hai chị em nghiêm túc lặng lẽ để quan sát nhịp sống bình thường như mọi ngày của phố huyện nhưng đọng lại là cảm giác buồn mênh mang, có trong đó nỗi xót xa, cảm thông với những kiếp người nhỏ bé sống lay lắt trong bóng tối đầy khổ sở, cơ cực.

    Câu 4:

    Hình ảnh sự xuất hiện của đoàn tàu đêm trong sự chờ đợi, trông ngóng đầy háo hức của chị em Liên:

    + Liên dù “buồn ngủ ríu cả mắt” thì vẫn cố chờ đến khi chuyến tàu đêm đi qua, còn An thì dặn chị gọi mình dậy khi đoàn tàu đến.

    + Hai chị em Liên và An cố gắng thức không phải là để bán được món hàng nào đó cho khách tàu mà “muốn được nhìn chuyến tàu”, muốn được nhìn thấy vầng sáng to rộng của đoàn tàu, ánh sáng từ chốn phố thị phồn hoa về vùng đất tối tăm, nghèo khổ.

    Hai chị em Liên chờ đợi đoàn tàu

    – Tác giả tập trung miêu tả chi tiết, kỹ lưỡng theo trình tự không gian, thời gian và tâm trạng của hai nhân vật Liên và An.

    – Ý nghĩa của chuyến tàu về đêm đối với con người phố huyện nghèo:

    + Đó là biểu tượng của một thế giới mới mà nơi đó sự sống mạnh mẽ, giàu sang, sung túc, rực rỡ màu sắc và ánh sáng.

    + Chuyến tàu gợi nhớ lại những kỉ niệm xưa kia đầy đẹp đẽ, ấm no của hai chị em Liên khi mà thầy chưa bị mất việc.

    + Khi chuyến tàu đêm đi qua cũng là lúc người dân nơi phố huyện nghèo chấm dứt những hoạt động thường nhật và màn đêm phủ đen khắp mọi ngõ ngách.

    ⇒ Qua dòng tâm trạng đợi tàu của nhân vật Liên, tác giả như muốn lay tỉnh tất cả những ai đang ôm cuộc sống quẩn quanh, nhàm chán.

    Câu 5

    Nghệ thuật miêu tả và chất văn trong Hai đứa trẻ Thạch Lam :

    – Truyện ngắn miêu tả tinh tế những sắc thái và sự biến chuyển của cảnh vật cùng diễn biến tâm trạng của các nhân vật.

    – Chất văn lôi cuốn, giọng văn nhẹ nhàng, khách quan, chất chứa trong đó là nỗi xót xa thay cho một kiếp người, phải mang phận nghèo khổ, quẩn quanh không lối thoát.

    – Truyện ngắn đậm sắc thái trữ tình và giàu chất thơ.

    Câu 6:

    – Thạch Lam thể hiện thấm thía nỗi xót thương cho những kiếp người sống lay lắt, quẩn quanh nơi phố huyện trong giai đoạn trước Cách mạng.

    – Tác giả đồng thời thể hiện sự trân trọng đối với những ước mong được vươn tới cuộc sống tươi sáng, tốt đẹp của họ.

    – Truyện còn thể hiện tư tưởng nhân đạo vô cùng sâu sắc.

    III. Tổng kết phần soạn bài Hai đứa trẻ

    1. Ý nghĩa tác phẩm

    – Tình cảm xót thương của tác giả đối với những số phận nghèo khổ, kém may mắn trong xã hội giai đoạn trước cách mạng.

    – Trân trọng những ước mong thay đổi số phận, thay đổi cuộc đời sáng tươi, no ấm hơn của những con người khốn khó ấy

    2. Giá trị nhân đạo

    – Thạch Lam phải có đời sống nội tâm phong phú và tâm hồn nhân đạo thì ông mới có những rung cảm chân thật đến vậy.

    – Tình người hiện lên trong tác phẩm cùng với đó là sự xót xa, ngậm ngùi thay cho những kiếp người.

    – Thức tỉnh những ai còn sống lầm đường lạc lối trong sự tẻ nhạt, nhàm chán và không biết trân quý cuộc đời.

    Qua soạn bài Hai đứa trẻ , chúng ta nhận ra những giá trị nhân đạo sâu sắc được Thạch Lam lồng ghép vào từng chi tiết của tác phẩm một cách đầy tinh tế. Tác phẩm là sự cảm thông, niềm trân trọng và sự hy vọng cho những số phận nghèo khó trong xã hội, đó còn là lời lay động đến những ai đang sống trong lay lắt, sầu khổ, buồn chán cần thay thay đổi suy nghĩ và có mong ước, có hy vọng trong cuộc sống. Kiến Guru hy vọng các bạn sẽ nhận ra nhiều điều từ tác phẩm Hai đứa trẻ Thạch Lam rất đáng đọc này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thời Gian Và Không Gian Được Miêu Tả Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Như Thế Nào? Ấn Tượng Của Anh/chị Về Cái Bóng Tối Trong Đêm Phố Huyện?
  • Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ
  • Mỗi Truyện Của Thạch Lam Là Một Bài Thơ Trữ Tình” Phân Tích Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Để Làm Sáng Tỏ Nhận Định Trên
  • Phân Tích Các Biên Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Ánh Trăng
  • Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T
  • Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thời Gian Và Không Gian Được Miêu Tả Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Như Thế Nào? Ấn Tượng Của Anh/chị Về Cái Bóng Tối Trong Đêm Phố Huyện?
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Ngắn Gọn
  • Phân Tích Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta (Lớp 5)
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta Của Trần Đăng Khoa
  • So Sánh Tu Từ Trong Thơ Trần Đăng Khoa
  • Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai Đứa Trẻ

    Hai đứa trẻ là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, in ở tập Nắng trong vườn (1938). Việc miêu tả thiên nhiên, miêu tả cuộc sống của những con người nơi phố huyện nghèo đã thế hiện rõ tình cảm nhân đạo của tác giả và bút pháp nghệ thuật của ông.

    1. Về tình cảm nhân đạo

    a) Lòng nhân đạo của tác giả trước hết thể hiện ở sự đồng cảm với những con người nghèo khổ ở phố huyện nghèo

    Tấm lòng thương cảm sâu xa đối với những kiếp người nhỏ bé, sống cơ cực, quẩn quanh, mòn mỏi, tù túng nơi phố huyện nghèo tăm tối.

    -Ông thương cảm những đứa trẻ phải đi nhặt nhạnh những thứ người ta bỏ lại sau khi chợ tàn.

    -Ông thương cảm cảnh đời tù túng, vất vả của bà cụ Thi.

    -Ông xót xa khi miêu tả hoàn cảnh gia đình bác xẩm. Gia tài của bác chỉ là manh chiếu rách và cái thau cũ dùng để xin tiền.

    -Ông thương cảm mẹ con chị Tí, ngày mò cua bắt ốc, tối về dọn hàng nước để kiếm miếng ăn.

    – Ông cảm thông với sự vất vả của bác phở Siêu. Bác chỉ bán phở gánh chứ nào có tiệm phở gì đâu.

    b)Lòng nhân đạo của tác giả còn thế hiện qua việc Ông trân trọng và nâng niu những nét đẹp bình dị giàu tình thương của những con người lao động nghèo khổ nơi phố huyện nghèo.

    – Ông phát hiện và miêu tả được những con người phố huyện chân thật, chăm chỉ, siêng năng (những đứa trẻ con nhà nghèo, mẹ con chị Tí, bác phở Siêu, gia đình bác xẩm, tình thương của Liên dành cho những đứa trẻ…).

    c)Lòng nhân đạo còn thể hiện qua việc tác giả đã khám phá và miêu tả được những khát khao đổi đời dẫu còn mơ hồ của họ.

    -Ông miêu tả cảnh hai chị em Liên ngồi ngắm sao trời.

    -Ông để cho chị em Liên ngồi đợi chuyến tàu sang trọng, sáng trưng đi qua. Hình ảnh đoàn tàu là hình ảnh của một thế giới khác cuốn hút chị em Liên, gợi ước mơ thay đổi cuộc sống tẻ nhạt, tù đọng nơi phố huyện nghèo.

    2. Về bút pháp nghệ thuật

    -Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lâng mạn với hiện thực, giữa tự sự với trữ,tình trong loại truyện không có cốt truyện. Đó là hiện thực cuộc sống nghèo khố của những con người nơi phố huyện, là những mong ước của họ có cuộc sống tốt đẹp hơn.

    -Phối hợp nhuần nhuyễn giữa tả cảnh với tả tình. Bức tranh thiên nhiên làm nền để tô đậm thêm cho con người nơi phố huyện. Tả thiên nhiên, tả quang cảnh nơi phố huyện là để thể hiện tâm trạng, tình cảm của tác giả đối với con người.

    -Tác giả đã sử dụng điêu luyện ngôn ngữ văn xuôi giàu chất thơ.

    -Qua truyện ngắn Hai đứa trẻ, ta thấy được tình cảm xót thương của Thạch Lam đôi với những con người sông nghèo khổ, quẩn quanh và sự cảm thông, trân trọng của nhà văn trước mong ước của họ về một cuộc sống, tươi sáng hơn.

    -Ta thấy được một vài nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của Thạch Lam qua một truyện ngắn trữ tình.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mỗi Truyện Của Thạch Lam Là Một Bài Thơ Trữ Tình” Phân Tích Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Để Làm Sáng Tỏ Nhận Định Trên
  • Phân Tích Các Biên Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Ánh Trăng
  • Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T
  • :chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • Phân Tích Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Câu Thơ Thứ Hai Trong Bài “hồi Hương Ngẫu Thư” Và Nêu Hiệu Quả Của Biện Pháp Nghệ Thuật Ấy

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 10. Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê (Hồi Hương Ngẫu Thư)
  • Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Hồi Hương Ngẫu Thư Của Hạ Tri Chương, Hay, Đ
  • Bài Thơ Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê
  • Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, Top 10 , Nckhspud, Skkn, : Trong Câu Văn “cái Lặng Im Lúc Đó Mới Thật Dễ Sợ: Nó Như Bị Chặt Ra Từng Khúc, Mà Gió Thì Giống Những Nhát Chổi Lớn Muốn Quét Đi Tất Cả, Ném Vứt Lung Tung…” Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì? Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó.
  • Bài Thơ: Ánh Trăng (Nguyễn Duy
  • Nghệ thuật Bài thơ có cấu tứ ( cách tổ chức ý thơ) độc đáo:

    giữa hai câu thơ đầu và hai câu thơ cuối có sự chuyển biến ý thơ bất ngờ mà vẫn hợp lí, tự nhiên. Hai câu thơ đầu nêu hoàn cảnh về quê qua lời kể kết hợp với tả, giọng điệu tự thuật. Hai câu thơ cuối nêu lên một hoàn cảnh đầy kịch tính, cũng qua lời kể kết hợp với tả, lời thơ mang sắc thái đùa vui, hóm hỉnh nhưng bộc lộ nỗi lòng đầy ngậm ngùi, xót xa. Sự ngậm ngùi, xót xa là nền tâm trạng của cả bài. Ý thơ của hai câu thơ đầu đều xây dựng trên nền tâm trạng ấy. Tác giả không trực tiếp bộc lộ tình cảm mà giọng điệu câu thơ mang nỗi niềm tâm trạng. Chính vid vậy mà ý thơ càng kín đáo sâu sắc thì lại càng có sức gợi mạnh mẽ – Nghệ thuật đối được sử dụng linh hoạt có hiệu quả lớn: Ở hai câu thơ đầu đều có phép đối trong một câu thơ ( còn gọi là tiểu đối hoặc tự đối): ” Thiếu tiểu li gia”/ “lão đại hồi”; “Hương âm vô cải”/ “mấn mao tồi”. Nhà thơ không câu nệ việc đối lời (số chữ trong hai vế đối của câu thơ không bằng nhau: 4/3) mà coi trọng sự đối ý. Về phương diện này thì phép đối rất chỉnh : thiếu tiểu đối với lão, li gia đối với đại hồi; hương âm đối với mân mao; vô cải đối với tồi. Bao trùm lên tất cả sự tương phản giữa cái đổi thay (mái tóc) và điều khồn thay đổi (giọng nói quê hương). Tác giả đã lấy hồn quê. Nghệ thuật đối làm nổi bật lên tình cảm quê hương thiết tha, sâu nặng: con người sau hơn nửa thế kỉ xa quê mà giọng quê không đổi thì chứng tỏ chất quê nhà, hồn quê nhà đã thấm vào máu thịt, tình quê hương không lúc nào phai. – Thủ pháp nghệ thuật ” ngụ bi ư hài” (gửi cái bi vào trong cái haig): ở hai câu thơ cuối, hình thứ bên ngoài là lời kể kết hợp với tả, mang giọng điệu đùa vui hóm hỉnh nhưng tận đáy lòng là nỗi ngậm ngùi, xót xa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Hồi Hương Ngẫu Thư
  • Phân Tích Nghệ Thuật Trong Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Hịch Tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn)
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Từ Ấy
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Từ Ấy
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Của Câu Thơ Sau: Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan…nắng Tràn(Tố Hữu)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)
  • Đọc đoạn trích và trả lời các câu hỏi sau:

    Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời. Chiều, chiều rồi. Một buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn thơ ngây của chị; Liên không sao hiểu, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. (Trích “Hai đứa trẻ“- Thạch Lam, Ngữ văn 11, tập 1, NXB giáo dục Việt Nam 2011)

    Câu 1:Cho biết văn bản trên nói về điều gì?

    Câu 2:Hãy xác định và nêu ý nghĩa tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn một của văn bản.

    Câu 3:Cho biết các phương thức biểu đạt trong văn bản và phương thức biểu đạt nào là chủ yếu?

    Câu 4:Giải thích cách sử dụng dấu chấm phẩy “;” trong câu cuối của văn bản.

    Câu 5:Nhận xét gì về nét đặc sắc nghệ thuật trong văn bản trên?

    Đáp án đề đọc hiểu Hai đứa trẻ số 1

    Câu 1: Văn bản trên miêu tả bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng vào buổi chiều tàn qua cảm nhận của Liên.

    – Biện pháp tu từ trong đoạn trích trên là:

    • Nhân hóa: “Tiếng trống thu không …… gọi buổi chiều.”
    • So sánh: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn.”

    – Tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn trích trên là: hình ảnh miêu tả trong đoạn văn có tính gợi hình, gợi cảm. Thiên nhiên trở nên tươi đẹp thơ mộng trong thời khắc của ngày tàn.

    – Các phương thức biểu đạt trong văn bản trên là: miêu tả, biểu cảm.

    – Phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên là: miêu tả

    Câu 4: Cách sử dụng dấu chấm phẩy “;” trong câu cuối của văn bản là:

    • Dấu chấm phẩy là một dấu câu thông dụng, có tác dụng ngắt quãng câu hoặc dùng để liệt kê.
    • Dấu chấm phẩy dùng trong câu cuối của văn bản để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép song song, giữa các vế có sự liệt kê, bổ sung về nghĩa.

    Câu 5: Những nhận xét về nét đặc sắc nghệ thuật trong văn bản trên:

    – Ở đoạn trích trên, nghệ thuật đặc sắc được sử dụng đó là nghệ thuật miêu tả:

    • Quan sát tinh tế: không gian tĩnh lặng, màu sắc hài hòa nhưng có tính đối lập giữa sáng và tối, âm thanh đa dạng nhưng gần gũi.
    • Dùng từ ngữ, hình ảnh có tính hình tượng và đầy chất thơ thông qua lối nhân hóa, so sánh, miêu tả cảnh và tâm trạng bâng khuâng, man mác.

    Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

    (Ngữ văn 11,Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr.95-96)

    Câu 1. Đoạn trích trên được trích từ tác phẩm nào? Của ai? Giới thiệu vài nét về tác giả đó.

    Câu 2. Nêu nội dung chính của đoạn trích.

    Câu 3. Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của những câu văn: Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào.

    Câu 4. Bức tranh phố huyện được tác giả thắp lên bằng những nguồn ánh sáng nào? Cảm nhận của anh/chị về các chi tiết miêu tả ánh sáng của những ngọn đèn ở các câu văn in đậm trong đoạn trích.

    Câu 5. Những âm thanh được gợi tả nói lên điều gì về cuộc sống của những người dân nơi phố huyện?

    Đáp án đề đọc hiểu Hai đứa trẻ số 2

    Câu 1:

    – Đoạn trích được trích từ tác phẩm Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam.

    – Giới thiệu tác giả: Thạch Lam (1910 – 1942) là người đôn hậu và rất tinh tế, rất thành công ở truyện ngắn. Ông chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ. Mỗi truyện của ông như một bài thơ trữ tình…

    Câu 2: Nội dung chính của đoạn trích là: bức tranh phố huyện lúc chiều tàn

    Câu 3: Những câu văn: Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào…hấp dẫn người đọc bằng giọng văn nhẹ nhàng, chậm rãi, đậm chất thơ. Những câu văn giàu hình ảnh, nhạc điệu, uyển chuyển, tinh tế không những giúp người đọc hình dung được cảnh vật êm đềm, tĩnh lặng mà còn khơi gợi xúc cảm yêu mến xen lẫn nỗi buồn man mác trước khung cảnh chiều muộn nơi phố huyện nghèo.

    – Bức tranh phố huyện được tác giả thắp lên bằng những nguồn ánh sáng là:

    • Bầu trời (phía tây): đỏ rực như lửa cháy. Ráng chiều, khối sáng này chỉ bừng lên phút chốc rồi sẽ tắt lụi nhanh chóng. Đây là thứ ánh sáng dọn đường cho bóng tối.
    • Mây: ánh hồng như những hòn than sắp tàn, cụ thể hoá sự lụi tàn nhanh chóng của ráng chiều.

    – Quá trình biến đổi từ đỏ rực đến ánh hồng, từ lửa cháy đến những hòn than sắp tàn thể hiện sự thuyên chuyển sắc độ của ánh sáng diễn ra nhanh chóng trong khoảnh khắc.

    • Dãy tre làng đen lại, so với các sắc độ bên trên, màu sắc hoàn toàn biến đổi.
    • Đèn: đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, đèn dây sáng xanh trong hiệu khách. Phố huyện nhiều đèn nhưng không cái nào toả ánh sáng thực rạng rỡ mà chỉ leo lét, sáng xanh – thứ ánh sáng yếu ớt của cuộc sống mòn mỏi, nghèo khó và tù hãm (trong nhà, trong nhà, trong hiệu khách).

    – Ở các câu văn in đậm trong đoạn trích, nhà văn đã thắp lên rất nhiều ngọn đèn: đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, đèn dây sáng xanh trong hiệu khách. Tuy nhiên, tất cả đều là chỉ thứ ánh sáng yếu ớt (leo lét, sáng xanh) và giam hãm (trong nhà bác phở Mĩ, trong nhà ông Cửu, trong hiệu khách). Ngần ấy nguồn sáng được thắp lên nhưng không đủ để chiếu sáng vùng đất cát phía trước mà chỉ có thể làm cho cát lấp lánh từng chỗ và đường mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối. Chi tiết đắt giá tô đậm cuộc sống tăm tối, tù hãm của những người dân của phố huyện nghèo.

    – Bức tranh phố huyện còn được tác giả dựng lại bằng khá nhiều âm thanh:

    • Tiếng trống thu không báo hiệu trời sắp tối. Từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều, thưa thớt, chậm rãi, buồn bã.
    • Tiếng ếch nhái văng vẳng kêu ran ngoài đồng ruộng. Âm thanh có vẻ rộn ràng, náo động nhưng lại từ xa vọng lại, gợi sự heo hút, vắng lặng.
    • Tiếng muỗi vo ve, tả âm thanh gần, gợi sự cái tăm tối, tù đọng.
    • Tiếng chõng nan cót két gợi sự tàn tạ.

    Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi nêu ở dưới:

    “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời. Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối muỗi đã bắt đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen ; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị ; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn.” (Trích “Hai đứa trẻ” – Thạch Lam, SGK Ngữ văn 11 tập 1, NXBGD năm 2014)

    Câu hỏi:

    Câu 1: Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?

    Câu 2: Nêu nội dung của đoạn văn?

    Câu 3: Những đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn văn? Tác dụng?

    Câu 4: Vẻ đẹp văn phong Thạch Lam qua đoạn văn trên

    Đáp án đề đọc hiểu Hai đứa trẻ số 3

    Câu 1: Phương thức miêu tả chính của đoạn văn trên là: miêu tả.

    Câu 2: Nội dung của đoạn văn là: bức tranh thiên nhiên phố huyện với vẻ đẹp trầm buồn, tĩnh lặng, rất đỗi thơ mộng lúc chiều tà và tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của Liên.

    – Những đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn văn là:

    • Hình ảnh so sánh độc đáo: Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn
    • Ngôn ngữ: tinh tế, giàu chất thơ
    • Âm điệu: trầm buồn

    – Tác dụng: làm nổi bật nội dung đoạn văn và ngòi bút tài hoa của tác giả

    Câu 4: Vẻ đẹp văn phong của Thạch Lam trong đoạn văn trên là: Ngôn ngữ trong văn Thạch Lam giàu hình ảnh, giàu chất thơ, giọng văn nhẹ nhàng mà thấm thía, đậm chất trữ tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Liệt Kê Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Bài Soạn Lớp 12: Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Câu Thơ Thứ Hai Của Bài Qua Đèo Ngang Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung & Nghệ Thuật Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Cảm Nhận Về 2 Khổ Thơ Đầu Trong Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Câu Thơ Thứ Hai Của Bài Qua Đèo Ngang Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Rải Rác Biên Cương Mồ Viễn Xứ Sử Dụng Những Biện Pháp Nghệ Thuật , Câu Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Một Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Quả Dừa – Đàn Lợn Con Nằm Trên Cao Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Bác Nằm Trong Giấc Ngủ Bình Yên Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, Câu Thơ Sương Chùng Chình Qua Ngõ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Hãy Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Khổ , Câu Thơ Cuối Trăng Nhòm Khe Cửa Ngắm Nhà Thơ Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, Câu Thơ Nào Sử Dụng Bút Pháp Nghệ Thuật ước Lệ Tượng Trưng, Nghệ Thuật Chiến Dịch Chiến Thuật Của Đảng Qua 2 Cuộc Chiến Chống Pháp Mĩ, Nội Dung Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá, Nghệ Thuật Nội Dung Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá, Giáo Trình Công Nghệ Chế Biến Sữa Và Các Sản Phẩm Từ Sữa. Nhà Xuất Bản Khoa Học Kỹ Thuật. 2008, Hãy Giải Thích Cơ Sở Của Biện Pháp Kỹ Thuật Sau Phải Làm Đất Thật Tơi Xốp, Câu Thơ Nào Trong Bài Thơ ông Đồ Sử Dụng Thành Công Nghệ Thuật Tả Cảnh Ngụ , Hãy Phân Tích Dụng ý Nghệ Thuật Của Hệ Thống Câu Hỏi Trong Bài Thơ Đây Thôn , Quy Định Kỹ Thuật Về Thăm Dò, Đánh Giá Trữ Lượng Đá Khối Sử Dụng Làm ốp Lát Và Mỹ Nghệ, Noi Dung, Bien Phap Xay Dung Chi Uy, Chi Bo Tsvm; Cong Tac Giao Duc, Quan Ly Ren Luyen Va Phat Trien, Noi Dung, Bien Phap Xay Dung Chi Uy, Chi Bo Tsvm; Cong Tac Giao Duc, Quan Ly Ren Luyen Va Phat Trien, Khóa Luận Tốt Nghiệp: Một Số Biện Pháp Marketing Nâng Cao Hiệu Quả Xuất Khẩu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ, 4 Nội Dung 7 Biện Pháp Xây Dựng Chính Quy, 1 Bài Thơ Có Sử Dụng Biện Pháp Nói Quá, Câu Thơ Gần Xa Nô Nức Yến Anh Đã Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì, Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ ẩn Dụ, Phương Pháp Ngang Trong Nhân Trắc Học Máy Mac, Phương Pháp Ngang Trong Nhân Trắc Học, Câu Thơ Rừng Mơ ôm Lấy Núi Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì, Bài Giảng Biện Pháp Sử Dụng Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất, Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ, Phương Pháp Ngang Trong Nghiên Cứu Nhân Trắc Học May Mặc, Đơn Yêu Cầu áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng, Phuong Phap Ngang Trong Nghiê Cuu Nhân Trac Hoc Nghanh May, Bài Thi Dừng Xe Ngang Dốc, Nội Dung Bài Qua Đèo Ngang, Câu Thơ Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nào, Hãy Kể Tên Một Số Món ăn Được Chế Biến Bằng Phương Pháp Không Sử Dụng Nh, 5 Câu Thơ Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nào, Hãy Kể Tên Và Cho Ví Dụ Các Phương Pháp Chế Biến Thực Phẩm Có Dùng Nhiệt, Câu Thơ Lũ Bướm Vàng Lơ Đãng Lướt Bay Qua (anh Thơ) Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nào, Mẫu Số 5 Bảng Tổng Hợp Số Liệu áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Hành Chính, Nghị Quyết Hướng Dẫn áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Thầy/cô Đã Có Những Biện Pháp Gì Để Thu Hút Học Sinh Làm Quen Và Hứng Thú Học Tập Với Nội Dung Các B, Biện Pháp Tổ Chức Thực Hiện Xây Dựng Thôn Bản Vững Mạnh, Đề Tài: Các Biện Pháp Quản Lý Nhằm Đẩy Mạnh ứng Dụng Cntt Trong Dạy Học Tại Trường Thpt Hoà Phú, Chi, Đề Tài: Các Biện Pháp Quản Lý Nhằm Đẩy Mạnh ứng Dụng Cntt Trong Dạy Học Tại Trường Thpt Hoà Phú, Chi, Đề Tài: Các Biện Pháp Quản Lý Nhằm Đẩy Mạnh ứng Dụng Cntt Trong Dạy Học Tại Trường Thpt Hoà Phú, Chi, Nghệ Thuật Bon Sai, Văn Học & Nghệ Thuật Anh Ngữ, Nghệ Thuật Phòng The, Nghệ Thuật Quyến Rũ, Xếp Sách Nghệ Thuật, Nghệ Thuật Xem Tướng, Ngon Ngu Nghe Thuat, Công Nghê Kĩ Thuật ôtô , Nghệ Thuật Lãnh Đạo, Nghệ Thuật Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Ky Thuat San Xuat Rau Cong Nghe Cao, Chuyên Đề Công Nghệ Kỹ Thuật ô Tô, Nghệ Thuật Điêu Khắc, Quannieemj Nghệ Thuật Về Con Người Của Nam Cao, ý Nghĩa Tài Liệu Văn Học Nghệ Thuật, Quan Niệm Nghệ Thuật Là Gì, Chủ Đề Nghệ Thuật Diễn Thuyết, Nghệ Thuật Chủ Yếu Của Văn Bản “sống Chết Mặc Bay” Là Gì, Bài Giảng Nghệ Thuật Đàm Phán, Nghệ Thuật Bán Hàng Đỉnh Cao, Luận Văn Về Nghệ Thuật Lãnh Đạo, Bản Khai Lý Lịch Trích Ngang Dùng Để Xác Định Hàng Thừa Kế, Khi Điều Khiển Xe Sử Dụng Hộp Số Cơ Khí Vượt Qua Rãnh Lớn Cắt Ngang Mặt Đường, Người Lái Xe Cần, Luận án Tiến Sĩ Nghệ Thuật Thẩm Mỹ, Bài Tập Làm Văn Kể Về Một Buổi Biểu Diễn Nghệ Thuật, Bài Tập Làm Văn Về Buổi Biểu Diễn Nghệ Thuật, Quan-niem-nghe-thuat-ve-con-nguoi-cua-nam-cao, Ngành Công Nghệ Kĩ Thuật Môi Trường Sgu, Quản Lý Nhà Nước Về Tác Phẩm Văn Học Nghệ Thuật, Tiểu Luận Nghệ Thuật Lãnh Đạo, Nghệ Thuật Hoạt Động Chính Trị, Kinh Thánh Về Nghệ Thuật Lãnh Đạo, Bài Văn Mẫu Kể Về Một Buổi Biểu Diễn Nghệ Thuật, Bài Thuyết Trình Xếp Sách Nghệ Thuật, Quan Niệm Nghệ Thuật Về Con Người, Giáo Trình Học Xăm Hình Nghệ Thuật, Giáo Trình Xăm Hình Nghệ Thuật, Câu Thơ Ai Biết Tình Ai Có Đậm Đà Đạt Hiệu Quả Nghệ Thuật Như Thế Nào, Mẫu Đơn Xin Cấp Phép Biểu Diễn Nghệ Thuật, Chương Trình Đào Tạo Công Nghệ Kỹ Thuật ô Tô, Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Nghe Giảng Pháp Luân Đại Pháp, Bài Thiết Trình Xếp Sách Nghệ Thuật Hình Chữ S, Hãy Phân Tích Giá Trị Của Một Số Đặc Điểm Nghệ Thuật Thường Có Của Tục, Luận Văn Quản Lý Nhà Nước Về Tác Phẩm Văn Học Nghệ Thuật, Địa Chỉ Trường Sư Phạm Nghệ Thuật Trung ương, Thuyết Trình Về Sếp Sách Nghệ Thuật Lăng Bác, Bài Thuyết Trình Xếp Sách Nghệ Thuật Hình Chữ S, Giáo án Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật, Hãy Kể Tên Một Số Công Trình Nghệ Thuật Dân Gian Mà Em Biết, Bài Thuyết Trình Về Xếp Sách Nghệ Thuật Hình Chữ S, Thuyết Trình Về Xếp Sách Nghệ Thuật Hình Chữ S,

    Câu Thơ Thứ Hai Của Bài Qua Đèo Ngang Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Rải Rác Biên Cương Mồ Viễn Xứ Sử Dụng Những Biện Pháp Nghệ Thuật , Câu Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Một Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Quả Dừa – Đàn Lợn Con Nằm Trên Cao Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Câu Thơ Bác Nằm Trong Giấc Ngủ Bình Yên Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, Câu Thơ Sương Chùng Chình Qua Ngõ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào, Hãy Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Khổ , Câu Thơ Cuối Trăng Nhòm Khe Cửa Ngắm Nhà Thơ Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, Câu Thơ Nào Sử Dụng Bút Pháp Nghệ Thuật ước Lệ Tượng Trưng, Nghệ Thuật Chiến Dịch Chiến Thuật Của Đảng Qua 2 Cuộc Chiến Chống Pháp Mĩ, Nội Dung Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá, Nghệ Thuật Nội Dung Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá, Giáo Trình Công Nghệ Chế Biến Sữa Và Các Sản Phẩm Từ Sữa. Nhà Xuất Bản Khoa Học Kỹ Thuật. 2008, Hãy Giải Thích Cơ Sở Của Biện Pháp Kỹ Thuật Sau Phải Làm Đất Thật Tơi Xốp, Câu Thơ Nào Trong Bài Thơ ông Đồ Sử Dụng Thành Công Nghệ Thuật Tả Cảnh Ngụ , Hãy Phân Tích Dụng ý Nghệ Thuật Của Hệ Thống Câu Hỏi Trong Bài Thơ Đây Thôn , Quy Định Kỹ Thuật Về Thăm Dò, Đánh Giá Trữ Lượng Đá Khối Sử Dụng Làm ốp Lát Và Mỹ Nghệ, Noi Dung, Bien Phap Xay Dung Chi Uy, Chi Bo Tsvm; Cong Tac Giao Duc, Quan Ly Ren Luyen Va Phat Trien, Noi Dung, Bien Phap Xay Dung Chi Uy, Chi Bo Tsvm; Cong Tac Giao Duc, Quan Ly Ren Luyen Va Phat Trien, Khóa Luận Tốt Nghiệp: Một Số Biện Pháp Marketing Nâng Cao Hiệu Quả Xuất Khẩu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ, 4 Nội Dung 7 Biện Pháp Xây Dựng Chính Quy, 1 Bài Thơ Có Sử Dụng Biện Pháp Nói Quá, Câu Thơ Gần Xa Nô Nức Yến Anh Đã Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì, Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ ẩn Dụ, Phương Pháp Ngang Trong Nhân Trắc Học Máy Mac, Phương Pháp Ngang Trong Nhân Trắc Học, Câu Thơ Rừng Mơ ôm Lấy Núi Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì, Bài Giảng Biện Pháp Sử Dụng Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất, Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ, Phương Pháp Ngang Trong Nghiên Cứu Nhân Trắc Học May Mặc, Đơn Yêu Cầu áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng, Phuong Phap Ngang Trong Nghiê Cuu Nhân Trac Hoc Nghanh May, Bài Thi Dừng Xe Ngang Dốc, Nội Dung Bài Qua Đèo Ngang, Câu Thơ Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nào, Hãy Kể Tên Một Số Món ăn Được Chế Biến Bằng Phương Pháp Không Sử Dụng Nh, 5 Câu Thơ Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nào, Hãy Kể Tên Và Cho Ví Dụ Các Phương Pháp Chế Biến Thực Phẩm Có Dùng Nhiệt, Câu Thơ Lũ Bướm Vàng Lơ Đãng Lướt Bay Qua (anh Thơ) Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nào, Mẫu Số 5 Bảng Tổng Hợp Số Liệu áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Hành Chính, Nghị Quyết Hướng Dẫn áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Thầy/cô Đã Có Những Biện Pháp Gì Để Thu Hút Học Sinh Làm Quen Và Hứng Thú Học Tập Với Nội Dung Các B, Biện Pháp Tổ Chức Thực Hiện Xây Dựng Thôn Bản Vững Mạnh, Đề Tài: Các Biện Pháp Quản Lý Nhằm Đẩy Mạnh ứng Dụng Cntt Trong Dạy Học Tại Trường Thpt Hoà Phú, Chi, Đề Tài: Các Biện Pháp Quản Lý Nhằm Đẩy Mạnh ứng Dụng Cntt Trong Dạy Học Tại Trường Thpt Hoà Phú, Chi, Đề Tài: Các Biện Pháp Quản Lý Nhằm Đẩy Mạnh ứng Dụng Cntt Trong Dạy Học Tại Trường Thpt Hoà Phú, Chi, Nghệ Thuật Bon Sai, Văn Học & Nghệ Thuật Anh Ngữ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Cảm Nhận Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)
  • Tóm Tắt Những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí
  • Dàn Ý Bài Văn Kể Về Người Bạn Em Mới Quen Tlv 3, Lớp 6