Top 14 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Nghệ Thuật Nói Với Con / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Nêu Giá Trị Nội Dung, Nghệ Thuật Của Bài Nói Với Con / 2023

Gía trị nội dung:

Nói với con về tình cảm cội nguồn, tình cảm gia đình, quê hương được tác giả thể hiện trong khung cảnh gia đình ấm cúng, đầy ắp tiếng cười nói:

Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười

Theo năm tháng, người con cứ lớn dần lên trong tình yêu thương che chở của cha mẹ. Cha mẹ là điểm tựa vững chắc, nâng đỡ từng bước đi của con. Cách nói rất sinh động: “Chân phải…”, “Chân trái”, “Một bước…”, “Hai bước,…” vừa diễn tả được từng bước đi của con, vừa diễn tả được tình cảm của cha mẹ trong quá trình chăm chút, nuôi dường con lớn lên.

Con không chỉ lớn lên dưới sự chăm sóc của cha mẹ, con còn được lớn lên trong tình yêu thương của người đồng mình, trong cuộc sống lao động và trong môi trường thiên nhiên thơ mộng, tình nghĩa:

Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tẩm lòng

Bằng cách vận dụng lối diễn đạt của người dân tộc miền núi, tác giả đã sáng tạo nên những hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa mang tính khái quát cao, mà vẫn giàu chất bay bổng về vẻ đẹp trong cuộc sống của người dân tộc miền núi. Với những hình ảnh mộc mạc, lời nói chân tình như: Đan lờ cái nan hoa / Vách nhà ken câu hát / Rừng cho hoa ! Con đường cho những tấm lòng, tác giả đã diễn tả được vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của tình người, vẻ đẹp của cuộc sống lao động và sinh hoạt tinh thần của người miền núi. Qua đó, tác giả muốn nhắc nhở con về tình cảm cội nguồn, về niềm yêu quý, tự hào đối với quê hương và gia đình.

Nói với con về sức sống bền bỉ, mãnh liệt của quê hương

Từ những câu thơ bộc lộ một cách cụ thể tình cảm gia đình, nghĩa tình quê hương, tác giả muốn mượn lời người cha nói với con về sức sống bền bỉ, mãnh liệt của quê hương. Đức tính cao đẹp của người đồng mình hiện dần lên qua những lời tâm tình của người cha. Đó là cuộc sống gian khổ và ý chí của con người vượt lên gian khổ:

Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thi cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trên thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc

Người cha muốn con thấy được sức sống mãnh liệt, bền bỉ của người đồng mình, muốn con hiểu được rằng mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình cằn cỗi và hiểm trở, nhưng trên mảnh đất đó những nqười đồng mình đã can trường, dũng cảm, có ý chí vượt qua thác ghềnh để xây dựng quê hương. Bởi vậy, người cha muốn con hãy biết yêu thương những con người tuy thô sơ da thịt nhưng họ không nhỏ bé về tâm hồn. Chính họ là những người tạo nên văn hóa tốt đẹp của bàn làng, quê hương: “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương / Còn quê hương thì làm phong tục”.

Người cha muốn con mình nhận thức rõ vẻ đẹp, đức tính quý báu, truyền thống lao động sáng tạo văn hóa của bản làng, quê hương. Nhà thơ cũng muốn nhắc nhở Con không được quên cội nguồn, không được đánh mất mình, phải biết thương yêu quê hương gian lao, vất vả, biết tự hào về khí phách và ý chí vươn lên của con người quê hương, phải biết kế tục xứng đáng truyền thống tốt đẹp cúa tổ tiên.

Nghệ thuật:

– Thể thơ tự do.

– Bài thơ giản dị,với những hình ảnh vừa cụ thể vừa mang ýnghĩa biểu tượng, giàu sắc thái biểu đạt và biểu cảm.

– Cách nói giàu bản sắc của người miền núi tạo nên một giọngđiệu riêng cho lời tâm tình mộc mạc mà sâu sắc của người cha đối với đứa con.

Bài Thơ Nói Với Con / 2023

Nói với con (Y Phương)

Bài giảng: Nói với con – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

Nội dung bài thơ Nói với con

I. Vài nét về tác giả

– Y Phương (sinh năm 1948) tên thật là Hứa Vĩnh Sước

– Quê quán: Trùng Khánh- Cao Bằng , ông là người dân tộc Tày

– Sự nghiệp sáng tác:

+ Ông nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội đến năm 1981 chuyển về công tác tại sở văn hóa và thông tin tỉnh Cao Bằng

+ Năm 1993 là chủ tịch hội văn nghệ Cao Bằng

+ Năm 2007 ông được nhận giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật. Đây quả là một giải thưởng cao quý rất xứng đáng với những gì ông đã cống hiến cho nền văn học nước nhà

+ Các tác phẩm tiêu biểu: “Người hoa núi”, “Lời chúc”, “Đàn then”…

– Phong cách sáng tác:

+ Thơ ông thể hiện tâm hồn mạnh mẽ, chân thực và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người dân tộc miền núi, mang đậm bản sắc vùng cao.

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ được sáng tác năm 1980, khi đất nước mới hòa bình thống nhất nhưng gặp rất nhiều khó khăn thiếu thốn. Từ hiện thực ấy nhà thơ sáng tác bài thơ như lời tâm sự, động viên chính mình đồng thời nhắc nhở con cái sau này.

2. Bố cục

– Đoạn 1: Con lớn lên trong tình yêu thương, sự giúp đỡ của cha mẹ , trong cuộc sống lao động của quê hương

– Đoạn 2: Lòng tự hào về sức sống bền bỉ, manh mẽ về truyền thống cao đẹp của quê hương và niềm mong ước con sẽ kế tục những truyền thống đáng quý

3. Giá trị nội dung

– Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống, niềm tự hào về quê hương, dân tộc mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc đến tình cảm đẹp đẽvới quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống

4. Giá trị nghệ thuật

– Bài thơ được làm theo thể thơ tự do phóng khoáng làm cho cảm xúc cụ thể, rõ ràng, giọng điệu thơ trìu mến, thiết tha. Ngôn ngữ thơ cụ thể, hàm súc, nhiều ý nghĩa, hình ảnh thơ độc đáo sinh động mang đậm bản sắc thơ ca miền núi cũng là những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm

5. Phân tích I. Mở bài

– Giới thiệu một vài nét về Y Phương: là người dân tộc Tày, thơ ông thể hiện tâm hồn mạnh mẽ, chân thực và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người dân tộc miền núi, mang đậm bản sắc vùng cao.

– Giới thiệu về bài thơ “Nói với con”: là lời tâm sự, động viên chính mình đồng thời nhắc nhở con cái sau này của nhà thơ

II. Thân bài

1. Cội nguồn sinh dưỡng của con

– Cội nguồn gia đình

+ Con lớn lên trong những tháng ngày chờ trông, mong đợi của cha mẹ

+ “Chân phải- chân trái”, “một bước- hai bước”: phép đối tạo âm điệu vui tươi, tạo không khí đầm ấm, hạnh phúc, mỗi nhịp bước của con đều có cha mẹ dang rộng vòng tay che chở

⇒ Đó là tình cảm thiêng liêng mà con luôn phải khắc cốt ghi tâm

– Cội nguồn quê hương

+ đan lờ (dụng cụ đánh bắt cá), đan lờ cài nan hoa( công việc đã tạo nên vẻ đẹp của con người lao động), vách nhà ken câu hát( cuộc sống hòa với niềm vui”: Cuộc sống lao động của người đồng mình được gợi lên qua nhiều hình ảnh đẹp đẽ

+ Sử dụng các động từ: đan, ken ,cài : vừa diễn tả những động tác cụ thể , khéo léo vừa nói lên cuộc sống gắn bó với niềm vui

+ “Con đường cho những tấm lòng”: đâu chỉ đãn lối mà còn cho những tấm lòng cao cả tấm lòng cao cả, thủy chung

2. Quê hương và gia đình nuôi con khôn lớn

– “Người đồng mình”- những người sống chung trên một miền quê, cùng một dân tộc, “thương lắm”- sự gắn bó yêu thương, đùm bọc

– Người đồng mình có chí khí mạnh mẽ

⇒ Cuộc sống vẫn nhiều buồn lo cực nhọc nhưng tâm càng sáng chí càng bền, tầm nhìn càng xa càng rộng

– Người đồng mình thủy chung tình nghĩa

+ “Sống”- khẳng định tâm thế bản lĩnh kiên cường, bất chấp khó khăn gian khổ

⇒ Mặc dù cuộc sống quê hương khó khăn vất vả nhưng họ “không chê”, học vẫn thủy chung với quê hương, gắn bó với uqee hương để tạo dựng cuộc sống

– Lối sống phóng khoáng đầy nghị lực

+ So sánh “như sống như suối” : sức sống mãnh liệt, đầy ắp nghĩa tình

+ Dù “lên thác xuỗng ghềnh” nhưng người đồng mình vẫn không lo cực nhọc, vẫn đầy sự yêu mến tự hào về quê hương

– Người đồng mình giàu lòng tự trọng

+ “Người đồng mình thô sơ da thịt”- họ có thể thô ráp, nói không hay, làm không khéo, làn da mái tóc dãi dầu mưa nắng nhưng phẩm chất bên trong không hề nhỏ bé, tầm thường

– Người đồng mình khát vọng xây dựng quê hương giàu đẹp

+ Người đồng mình tự lực tự cường, tự xây dựng quê hương bằng bàn tay khối óc

+ Họ xây dựng quê hương, đưa quê hương có thể sánh ngang với các cường quốc năm châu

⇒ Người cha gợi cho con niềm tự hào và khát vọng xây dựng quê hương, kế tục truyền thống đáng tự hào của dân tộc

3. Điều cha mong muốn ở con

– Cha nhắc con “lên đường” là khi con trưởng thành, dù ở bất cứ đâu, đi bất cứ nới nào cũng không bao giờ được sống một cách tầm thường phải luôn giữ lấy cốt cách giản dị, ý chí của dân tộc để vững bước

⇒ Qua đó cha thể hiện tình yêu con

⇒ Đó còn là lời của cha anh đi trước nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải vững tin vào cuộc đời để xây dựng quê hương giàu đẹp

III. Kết bài

– Khẳng định những giá trị nội dung, nghệ thuật làm nên thành công của bài thơ:

+ Thể thơ tự do, nhịp điệu vui tươi, các hình ảnh thơ đẹp, sử dụng các biện pháp tu từ quen thuộc,…

+ Cha đưa con về với cội nguồn sinh dưỡng nhắc nhở con phát huy phẩm chất cao đẹp của quê hương để vững bước trên cuộc đời

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Các bài Soạn văn lớp 9 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 9 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 9 hơn.

Nói Quá Là Gì? Tác Dụng Của Nghệ Thuật Nói Quá / 2023

Nói quá là phép tu từ phóng đại quá mức, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

Nói quá còn được gọi là ngoa dụ, phóng đại, thậm xưng, khoa trương.

Nói quá còn được gọi là ngoa ngữ (lòi nói ngoa, nói quá sự thật), phóng đại (phóng ra cho to), cường điệu (nói mạnh, nói hơn lên), thậm xưng (nói quá sự thật thưòng nhằm mục đích hài hước).

Một ví dụ điển hình trong môi trường học đường:

Bài toán khó quá ”nghĩ nổ não” mà không ra.

Hay trong bài hát Duyên phận có câu hát:

“Bước qua dòng sông hỏi từng con sóng Đời người con gái không muốn yêu ai được không?”

Tác dụng của nghệ thuật nói quá

Phóng đại, nói quá thường được sử dụng trong khẩu ngữ thường ngày. Trong văn học, phóng đại, nói quá đã trở thành một biện pháp tu từ được sử dụng với chức năng nhận thức, khắc sâu hơn bản chất đối tượng, tăng sức biểu cảm, nhấn mạnh, gây ấn tượng mạnh.

Nói quá không phải là nói sai sự thật, nói dối mà chỉ tăng tính chất, sức biểu cảm và gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Đôi khi, chúng ta hoàn toàn có thể kết hợp những biện pháp tu từ khác như so sánh vào để câu văn, câu nói thêm sinh động.

Không chỉ vậy phép tu từ nói quá còn dùng trong các tác phẩm văn học cụ thể như các bài ca dao, châm biếm, anh hùng ca.

Trong câu thơ trên, biện pháp tu từ nói quá góp phần làm tăng tính chất anh hùng ca trong hành động của nhân vật Từ Hải.

Nói quá còn có tác dụng tăng sức biểu cảm, nhấn mạnh, gây ấn tượng mạnh.

Nói quá sự thật bởi: Đêm… chưa nằm đã sáng, Ngày… chưa cười đã tối, đêm gì mà chưa nằm đã sáng, ngày gì mà chưa cười đã tối. Đây là cách nói quá về tiết tròi mùa hè: ngày dài, đêm ngắn và mùa đông: ngày ngắn, đêm dài, tuân theo quy luật của tự nhiên

Sự khác nhau giữa nói quá và nói khoác

Cần phân biệt rõ ràng giữa nói quá và nói khoác tránh nhầm lẫn khi sử dụng trong đời sống cũng như khi diễn đạt trong các bài tập làm văn.

Nói quá: nói đúng sự thật (tích cực), là biện pháp cường điệu tạo ấn tượng, tăng biểu cảm.

Nói khoác: nói sai sự thật (tiêu cực), mục đích khoe khoang là chính. Không những không có giá trị biểu cảm mà còn khiến người khác có thể hiểu nhầm, sai ý nghĩa.

“Nói quá” còn được gọi là “ngoa dụ”, “phóng đại”, “thậm xưng”, “khoa trương”, là “phép tu từ phóng đại” quá mức, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

Luyện tập sách giáo khoa ngữ văn

Câu 1: a. Ý nghĩa: Lao động đã mang lại cho con người cuộc sống no ấm. b. không ngại khó khăn, gian khổ. c. Ý muốn nói quá về lời nói của con người có quyền hành .Câu 2: a. Ở nơi chó ăn đá gà ăn sỏi thế này, đến cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà. b. Nhìn thấy tội ác của giặc ai ai cũng bầm gan tím ruột. c. Cô Nam tính tình xởi lợi ruột để ngoài da. d. nở từng khúc ruột. e. vắt chân lên cổ.

Câu 3: – Kiều có vẻ đẹp nghiên nước nghiêng thành. – Việc xây dựng các nhà máy thủy điện, có khác gì chúng ta dời non lấp biển. – Đoàn kết là sức mạnh lấp biển vá trời để kiến tạo một cuộc sống tự do. – Bộ đội ta mình đồng da sắt. – Bài toán này tớ nghĩ đã nát óc mà chưa giải được.

Thuyết Minh Về Con Trâu Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Và Yếu Tố Miêu Tả. / 2023

Đề tài: Thuyết minh về con trâu ở làng quê Việt Nam.

Nhóm thực hiện: Tổ 5 – Lớp 9/10

Từ xưa đến nay, hình ảnh con trâu đã đi sâu vào đời sống làng quê Việt Nam. Cứ mỗi khi về quê, ta lại sẽ thấy những chú trâu đang lầm lũi cày bừa dọc theo mảnh ruộng bát ngát. Chính những người bạn ”đồng cam cộng khổ” này mà suốt mấy ngàn năm nay, chúng ta đã được biết bao nhiêu bữa cơm no.

Trâu Việt Nam xuất phát từ giống trâu rừng thuần hoá thuộc nhóm trâu đầm lầy. Trâu rừng ở nước ta ngày nay số lượng còn rất ít do gần như đã lai hết với trâu nhà, chủ yếu sống ở miền Tây Thanh Hoá.

Trâu nước ta thuộc lớp thú, các chú thường khoác một lớp da dày khô và bao phủ lên lớp da là bộ lông thưa và cứng màu xám hoặc xám đen với nhiệm vụ điều hoà nhiệt độ vào những buổi hè oi bức. Với thân hình vạm vỡ, đôi vai khoẻ mạnh cùng với hai đôi chân thẳng, gân guốc và chắc như cột nhà, trâu bao giờ cũng khiến cho người nông dân hết sức tin tưởng vào khả năng của mình. Nhưng vẻ đẹp của các chú đâu chỉ nằm ở cái thân hình to khoẻ kia mà còn cả đôi sừng dài, sắc nhọn và cong như lưỡi liềm nữa.Nhìn chung thì kết cấu hình dạng của các chú chủ yếu phù hợp với mục đích kéo cày là chính.

Nguồn lương thực chính của trâu thường là cỏ, dù như thế nhưng khối lượng của trâu rất nặng. Các chú trâu đực thì nặng từ 400-450kg, thì chỉ nặng từ 350-400kg còn nghé hay còn gọi trâu con chỉ nặng chừng 22-25kg. Ba tuổi thì trâu cái đã có thể sinh lứa đầu, mỗi năm các cô sinh một lứa, mỗi lứa một con và một đời trâu cái thường sinh 5-6 nghé con.

Ngày nay, máy móc hiện đại đã có thể giúp người nông dân trong việc cày cáy nhưng hình ảnh ”con trâu đi trước, cái cày theo sau” vẫn rất quen thuộc khi nói đến công việc cày bừa:

“Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta. Cất cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quản công…”

Bằng việc nhìn ngắm những chú trâu với tinh thần sung sức cùng với cặp sừng nhọn hoắt của mình va chạm vào nhau và hết mình hò hét, người dân đã phần nào giải toả được những căng thẳng hàng ngày. Đó chẳng phải là nhờ công của các chú trâu đầy uy nghi và oai phong hay sao? Thậm chí tuổi thơ Việt Nam cũng gắn bó mật thiết với trâu. Chỉ cần về quê, bạn sẽ thấy ngay những đứa trẻ đang vui vẻ thả những chiếc diều đầy màu sắc và hình thù hay say sưa thổi những khúc sáo trên tấm lưng vững chắc điển hình của loài trâu. Trâu còn là phương tiện di chuyển của trẻ em vào những buổi đi học và nhà thơ Giảng Nam đã đưa hình ảnh này bài thơ ”Quê hương” của ông:

Thưở còn thơ ngày hai buổi đến trường, Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ. Ai bảo chăn trâu là khổ Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.”

Tất nhiên ta không thể quên những buổi đánh trận giả đã trở thành thú vui quen thuộc của tuổi thơ trẻ em nông thôn. Các chú trâu dường như cũng hoà mình vào trò chơi kinh điển này. Trông các chú chẳng khác gì những chiến binh quả cảm đang chiến đấu cùng người đồng chí tí hon của mình. Và những khung cảnh làng quê thuần thuý này đã được đưa vào những bài thơ ca nổi tiếng, xuất hiện trong các bức tranh Đông Hồ truyền thống đầy nghệ thuật, nó đã tốn biết bao nhiêu giấy mực của các nhà văn, nhà thơ . Chính Vua Trần Nhân Tông cũng đã nhắc đến hình ảnh con trâu trong bài ”Thiên trường vãn vọng” của ông: ”Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết”. N hững kỉ niệm mà trâu mang lại cho ta thật đáng quý làm sao!

Hình ảnh chú trâu còn đã từng là biểu tượng của SEA Games 22 Đông Nam Á được tổ chức tại Việt Nam. Biểu tượng ” chú trâu vàng” mặc bộ quần áo cầu thủ chào đón vận động viên chính là sự tôn trọng to lớn của không chỉ riêng Việt Nam mà cả Đông Nam Á đối với trâu. Trâu gắn bó đó với mọi người, từ già đến trẻ, từ núi cao đến đồng bằng,… ở mọi nơi. Chính vì thế chúng ta cần phải trân trọng điều này, quý trọng cái biểu tượng linh thiêng này.

Những giá trị tinh thần lẫn vật chất mà trâu mang lại cho dân Việt Nam thật sự không đếm hết. Do đó, tuy đã qua nhiều thế kỉ nhưng hình ảnh chú trâu vẫn in đậm trong lòng mỗi người Việt Nam chúng ta.

*Chú thích: Những câu in đậm được có sử dụng yếu tố miêu tả Những câu viết nghiêng và gạch dưới có sử dụng yếu tố nghệ thuật