Top 2 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém

Vấn đề mà ngành giáo dục cũng như toàn xã hội quan tâm hiện nay là nâng cao chất lượng học sinh (HS) yếu kém. Lăn lộn với phong trào giáo dục ở những vùng khó khăn, tôi thấy sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị quá lớn.

Ở nông thôn vừa thiếu thốn cơ sở vật chất vừa không có phong trào học tập. Với những người không thực sự tâm huyết với nghề thì việc phụ đạo HS yếu, kém chỉ mang tính hình thức chứ không có tác dụng gì. Việc dạy cho HS yếu, kém vất vả chẳng khác gì bồi dưỡng HS giỏi. Để một HS yếu kém hiểu được thực chất vấn đề rất khó khăn. Những em vì lơ là học tập mà học yếu thì “chữa” rất dễ nhưng những em có “chỉ số IQ” thấp thì một tiết dạy phải dành thời gian gấp đôi, gấp ba người thường.

Nhiều năm phụ đạo cho HS yếu kém, bản thân tôi đã rút ra một số điểm quan trọng. Trước hết giáo viên phải tìm hiểu hoàn cảnh của từng HS. Có em vì điều kiện mưu sinh nhưng cũng có em vì bạn bè rủ rê hàng quán, chơi điện tử, bi da… mà xa rời học tập. Có những em bố mẹ li dị, rượu trà, đánh đập nhau làm cho con cái chán học. Khi ta biết chia sẻ, giải quyết được tận gốc thì mới hòng vực dậy được các em đó. Người dạy lúc đó phải nắm xem HS hổng chỗ nào để bổ sung kiến thức. Có lúc phải hủy giáo án đã chuẩn bị để chuyển theo hướng khác cho phù hợp với kiến thức HS còn thiếu hoặc hiểu sai. Có khi ta phải quay lại dạy những kiến thức sơ đẳng từ tiểu học như cộng, trừ, nhân, chia hay bắt học thuộc lòng bản cửu chương.

HS yếu thường ngại học, ngại hỏi nên giáo viên phải chủ động đề ra kế hoạch kiểm tra mà mình nghi ngờ HS hiểu sai hoặc không hiểu. Ví dụ: Khi cộng các phân số khác mẫu số có nhiều em lấy tử cộng tử, mẫu cộng mẫu. Khi bình phương, lập phương, lũy thừa một số, có nhiều HS lấy số đó nhân với số mũ.

Trong việc phụ đạo HS yếu, giáo viên không nên đưa ra kiến thức cao quá, hoặc đòi hỏi mẹo mực làm ức chế học sinh. Những bài toán, bài văn đưa ra mang tính chất vận dụng khắc sâu lý thuyết. Ví dụ: Định lý Ta-lét thì giáo viên nên đưa ra bài toán áp dụng trực tiếp tìm một hạng tử khi biết sẵn 3 hạng tử trong tỷ lệ thức được thiết lập từ định lý chứ không nên lắt léo qua nhiều khâu trung gian. Khi HS trả lời đúng, giáo viên phải biết động viên khen ngợi, khi trả lời sai thì nhẹ nhàng gợi ý để tìm ra chân lý.

Giáo viên cho HS làm đi làm lại nhiều lần một dạng bài tập tại lớp để thuộc bài. Những kiến thức cần khắc sâu phải được lặp lại trong tiết học chính khóa và tiết tự chọn. Về dạy một trường miền núi của tỉnh Quảng Bình, tôi đã đề xuất với ban giám hiệu chọn HS yếu mỗi khối xếp vào một lớp cho giáo viên dạy khối đó trực tiếp phụ đạo, nhờ đó chất lượng bộ môn đã được cải thiện. Việc nâng cao chất lượng giáo dục vẫn còn gay cấn. Tiêu chí “hai không” tưởng chừng mâu thuẫn với tiêu chí “phổ cập” trong nhà trường. Đánh giá thực chất quá làm nhiều HS bỏ học nên một số nhà trường đã đặt ra mẹo này mẹo khác để đạt tiêu chí trường tiên tiến, trường chuẩn quốc gia. Nhiều nhà trường đã cho những HS bỏ học vào danh sách HS chuyển trường theo cha mẹ đi làm ăn nơi khác, hoặc “khai tử” cho HS.

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh Thcs

CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục. Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo. Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THCS I Mở đầu :

Mục tiêu của giáo dục THCS là giúp cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục ở Tiểu học; có học vấn phổ thông trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Trong thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là thực hiện các cuộc vận động lớn như : “Hai không”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Qua thực hiện các cuộc vận động này đã làm thay đổi khá nhiều về chất lượng giáo dục . Tuy có nhiều tiến bộ nhưng chất lượng thật sự của giáo dục hiện nay ở bậc THCS còn khá nhiều yếu kém . Yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phải tìm những nguyên nhân yếu kém một cách chính xác, phải nhìn thẳng vào sự thật một cách khách quan .Từ đó bình tỉnh đưa ra những giải pháp tích cực sát với thực tế để từng bước nâng cao chất lượng . Vấn đề này cần phải có thời gian, công sức của mọi người trong toàn xã hội.

Phụ đạo cho học sinh yếu là một hoạt động bình thường và không thể thiếu được trong bất kỳ trường THCS nào. Đây chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của người thầy, của nhà trường để góp phần giúp cho các học sinh không theo kịp bạn bè có thể nắm bắt được những kiến thức cơ bản nhằm lấp lỗ hổng kiến thức của bản thân. Trong đơn vị trường học việc tổ chức các lớp học phụ đạo cho học sinh yếu kém là việc làm thường xuyên chứ không phải chỉ là phong trào thi đua hoặc để đối phó với một đợt thi hoặc kiểm tra.

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin được trình bày một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy học còn yếu kém và một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS hiện nay .

II/ Nguyên nhân chất lượng học tập của học sinh yếu kém : 1/ Đối với học sinh:

Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập, chưa có quyết tâm học tập.

Mất căn bản kiến thức ngay từ lớp dưới .Nhiều học sinh đuối sức trong học tập, không theo kịp các bạn (thiếu kiến thức, kỹ năng, khả năng để học tập lớp đang học ( ngồi nhầm lớp), sinh ra chán học, sợ học ( hội chứng sợ học).

Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin. Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền, lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế, chưa biết phát huy khả năng của mình. Khả năng học tập của HS rất khác nhau, cùng một độ tuổi và 1 lớp nhưng trình độ các em có thể chênh nhau khá lớn . Đọc chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai đặc biệt là môn ngoại ngữ .Không biết làm tính, yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết .

Một số học sinh đi học thất thường, ham chơi, la cà quán xá .

Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là học thụ động, lệ thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng không hiểu gì cả ), học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức, trong thi cử thì quay cóp và tài liệu .

Học sinh yếu không chịu đi học phụ đạo .

2/ Phụ huynh :

Tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần thấp, thái độ học tập của học sinh, chất lượng học tập cho thấy nhận thức và thái độ của phụ huynh trong việc hợp tác với nhà trường là chưa chúng tôi đó cho thấy một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô. Việc phụ huynh vùng biển đi làm ăn trên biển lâu lâu mới về nên việc phối hợp giáo dục là rất hạn chế .Một số gia đình không hạnh phúc ảnh hưởng đến học tập của học sinh . Người lớn chưa làm gương về chuyện học .

3/ Giáo viên

Đa số đều tận tụy với công tác giảng dạy, chăm chút học sinh nhưng cũng có trường hợp chỉ thành công trong đối tượng là học sinh khá trở lên, còn đối với học sinh yếu kém thì chưa hiệu quả, hoặc ngược lại. Trong quá trình dạy học còn mắc phải :

Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng; có những tiết giáo viên còn nói lan man, ngoài lề chưa khắc sâu kiến thức trọng tâm .

Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của ĐDDH.- Chưa xử lý hết các tình huống trong tiết dạy, việc tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức chưa phù hợp.

Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế.

Chưa động viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực hay sáng tạo dù là rất nhỏ. Chưa quan tâm đến tất cả HS trong lớp, GV chỉ chú trọng vào các em HS khá, giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp.

Một số giáo viên không làm tròn trách niệm trong việc kiểm tra đánh giá học sinh, cho học sinh lên lớp khi các em chưa đủ chuẩn hậu quả các em phải gánh chịu khi học lên lớp trên .

Còn lúng túng, chưa mạnh dạn tìm các giải pháp mạnh giải quyết vấn đề chất lượng học tập của HS, còn tâm lí trông chờ chỉ đạo của cấp trên.Tinh thần trách nhiệm một số đồng chí chưa cao, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích vẫn còn, không đánh giá đúng thực chất của lớp mình giảng dạy.

Có đồng chí thì quá khắt khe làm các em lo sợ khi học giờ của mình, thậm chí còn làm các em thui chột tinh thần học tập .Một số giáo viên giảng dạy thiếu nhiệt tình do xã hội và các em xem nhẹ bộ môn mình đang dạy .

Một số GV còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, chưa nhiệt tình giảng dạy, chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học, chưa nắm chắc chuẩn kiến thức cần đánh giá nên nhiều lúc yêu cầu quá cao so với chuẩn, chưa đầu tư cho việc ra đề kiểm tra , chỉ dạy tốt những giờ thao gỉang .

Việc dạy cho học sinh tự học và sáng tạo hình như ít thực hiện, chỉ lo dạy hết nội dung đã qui định, lo cháy giáo án. Một số đồng chí còn lệ thuộc vào sách tham khảo, coi đây là “sách gối đầu giường” . Khi giảng bài trên lớp còn phụ thuộc quá nhiều vào SGK, giáo án , ít khi xuống gần học sinh, giọng nói một số giáo viên còn hạn chế .

4/ Đối với chương trình và sách giáo khoa:

Chương trình học quá ôm đồm nhiều thứ và nặng nề, thiếu thực hành, cung cấp kiến thức sự kiện là chính, một số nội dung chưa phù hợp với lứa tuôi học sinh, nhiều học sinh không theo kịp chương trình vì nặng kiến thức và nhiều môn , nội dung nhiều trong một tiết học nên giáo viên khó thực hiện đổi mới PP dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS vì sợ cháy giáo án .

5/ Đối với nhà trường :

Còn thiếu thốn quá nhiều về cơ sở vật chất và các trang thiết bị dạy học .Số học sinh trong một lớp còn quá nhiều nên làm cho giáo viên khó khăn trong việc quan tâm đầy đủ đến các đôí tượng HS và các em dễ quay cóp trong thi cử .

Chưa thực hiện tốt việc kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh (ngân hàng đề, bốc thăm đề kiểm tra, quản lý đề , duyệt đề ….).

Kế hoạch phụ đạo học sinh yếu còn chậm .

6/ Đối với Phòng vá Sở :

Lịch kiểm tra cuối HK chưa phù hợp. Chỉ đạo công tác kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh chưa được cụ thể . Cần xem xét lại mức độ khó của đề kiểm tra học kỳ .

7/ Đối với địa phương và các lực lượng xã hội :

Chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể để tham gia giáo dục học sinh ở địa phương .

Quản lý các quán Internet chưa tốt .

Nhiều biểu hiện tiêu cực trong xã hội, nhiều thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, sống thiếu lành mạnh vẫn chưa được xử lý đúng mức làm tác động xấu đến quá trình học tập và rèn luyện của các em . Nhiều quán xá còn lợi dụng học sinh để kinh doanh .

III/ Một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học : 1/ Đối với Nhà nước:

Cần có kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất giáo dục đảm bảo theo tiêu chuẩn qui định của Quốc gia cho tất cả các trường học để có điều kiện tổ chức tốt các hoạt động giáo dục theo mục tiêu GD&ĐT qui định, trang bị đủ các trang thiết bị để thực hiện chương trình giáo dục (có nơi dạy dỗ và học tập đường hoàn sẽ tổ chức dạy học có nền nếp và chất lượng hơn).

2/ Đối với các cấp quản lý giáo dục :

Cần xác định lại triết lý Giáo dục của ViệtNam.

Có kế họach nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý, giáo viên và nhân viên để đáp ứng yêu cầu của từng vị trí công tác một cách tốt nhất (ai không đảm bảo yêu cầu thì cho đi học lại, chuyển làm công tác khác hoặc cho nghỉ theo chế độ qui định, đừng để người yếu kém trong ngành GD)

Tập trung trí tuệ và nguồn lực để xây dựng một chương trình giáo dục mềm dẽo và phù hợp; biên soạn sách giáo khoa chuẩn mực và phù hợp với trình độ học sinh ViệtNam. Đừng để học sinh phải học quá sức mình !

Tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn các cơ sở giáo dục một cách nghiêm túc .Bồi dưỡng nghiệp vụ cho CBQL nhà trường (Tổ trưởng , HT, PHT) và có kế hoạch đánh giá đội ngũ quản lý các trường học mộtt cách nghiêm túc và thưòng xuyên .

3/ Đối giáo viên :

Giáo viên là người chủ đạo trong việc khắc phục học sinh yếu, thành hay bại là phần lớn do giáo viên. Vì vậy giáo viên là người hết sức quan trọng trong việc khắc phục học sinh yếu .

Đối tượng học sinh phải học phụ đạo là những học sinh có điểm kiểm tra không đạt trung bình và những học sinh tuy có đạt trung bình nhưng do chính giáo viên bộ môn lập danh sách đề nghị cho phụ đạo vì không chắc với kết quả ấy. Vì vậy giáo viên cần lưu ý một số biện pháp sau :

Lập danh sách học sinh yếu báo cáo cho Tổ trưởng theo mẫu :

Phân loại học sinh: học sinh mất căn bản hoàn toàn từ lớp dưới và học sinh có khả năng học được nhưng lười học, ít được sự quan tâm chăm sóc của phụ huynh nên mê chơi ít dành thời gian cho học tập để thuận lợi trong quá trình phụ đạo.

Phân tích nguyên nhân từ đâu? Để từ đó có biện pháp khắc phục hợp lý và có hiệu quả.

Đề xuất với Tổ Trưởng, nhà trường về cách khắc phụ để tất cả cùng tập trung giải quyết có hiệu quả tốt nhất.

Giáo viên lập kế hoạch phụ đạo học sinh yếu ngoài giờ học chính khóa có thể ở trường, ở nhà (đề xuất với Tổ trưởng, nhà trường, phụ huynh…) .Chủ động gặp phụ huynh trao đổi về việc học tập của HS, cùng với phụ huynh tìm biện pháp khắc phục.

Trong tiết dạy học bình thường giáo viên soạn bài nhất thiết phải có kế hoạch dạy học cho những học sinh yếu. Kế hoạch dạy học cho học sinh yếu phải phù hợp với trình độ học sinh đó.

Phân công HS khá, giỏi giúp đỡ bạn ở trường, ở nhà. Tạo ra các nhóm học tập, thi đua trong các nhóm có học sinh yếu. Động viên, tuyên dương kịp thời học sinh yếu có tiến bộ.

Trong quá trình giảng dạy giáo viên bộ môn cần hướng dẫn học sinh sắp xếp thời gian tự học, chuẩn bị bài trước khi đến lớp… Trong giảng dạy cần xác định trọng tâm bài học, nội dung chương trình, tránh tình trạng dạy tràn lan gây nặng nề cho học sinh, nắm chắc các đối tượng trong từng lớp đẻ có biện pháp giảng dạy phù hợp, tránh tình trạng dạy học theo kiểu cào bằng (em nào cũng như em đó), đặc biệt chú ý giúp đỡ các em học tập còn yếu kém để các em tiến bộ, sẵn sàng tham gia phụ đạo học sinh yếu theo phân công.Phải thự hiện tốt việc đổi mới phương pháp và ứng dụng CNTT vào dạy học, tăng cường giáo dục động cơ thái độ học tập bộ môn, thầy phải giỏi, dạy hay, đánh giá chất lượng học sinh phải đúng chuẩn kiến thức bộ môn, đề kiểm tra phải chính xác và khoa học .Cống hiến hết sức mình cho công việc mình phụ trách .Xây dựng tốt mối quan hệ thân thiện tích cực trong thầy trò để dạy và học tốt hơn .

Trong buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng giáo viên bộ môn báo cáo tiến độ tiếp thu bài của những học sinh yếu cho Tổ trưởng và giáo viên trong tổ , từ đó giáo viên nào còn vướn mắc thì được tập thể giáo viên trong tổ góp ý bổ sung.

4/Đối với Tổ trưởng

Tập hợp danh sách học sinh yếu báo cáo nhà trường.

Họp tổ, nhóm chuyên môn để phân tích nguyên nhân, bàn kế hoạch khắc phục học sinh yếu.

Đề xuất với nhà trường về cách khắc phục học sinh yếu. Tổ chức chuyên đề “khắc phục học sinh yếu”. Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra các biện pháp khắc phục HS yếu. Giao trách nhiệm cho từng giáo viên và báo cáo thường xuyên cho nhà trường .

Hàng tháng sinh hoạt chuyên môn với nhà trường Tổ trưởng báo cáo tiến độ tiếp thu của những em học sinh yếu .

5/Đối với lãnh đạo nhà trường :

Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn nghiệp .

Tổ chức thực hiện tốt phong trào ” xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, và các phong trào khác .

Lập kế hoạch và phân công dạy phụ đạo học sinh yếu ngay từ đầu mỗi năm học phù hợp với tình hình cơ sở vật chất và con người của nhà trường .

Việc chọn giáo viên phụ đạo rất quan trọng . Do đó lãnh đạo nhà trường phải thuyết phục cho được những thầy cô có kinh nghiệm, có tâm huyết theo dạy những đối tượng này. Có thể nói phải vừa dạy vừa dỗ các em đi từ những cái cơ bản nhất của bộ môn.

Thực tế có nhiều thầy rất giỏi nhưng khi dạy những đối tượng học sinh này thì không hiệu quả. Ngược lại có những thầy không phải siêu sao gì nhưng kỹ lưỡng, tỉ mỉ và kiên trì với học sinh thì mới hiệu quả hơn. Chính vì thế, việc chọn giáo viên phụ đạo cho học sinh yếu kém vừa trên cơ sở tự nguyện vừa trên cơ sở dựa vào tâm huyết, sự tận tụy, chu đáo, quan tâm của từng giáo viên và tổ trưởng bộ môn cũng không đứng ngoài việc này.

Phối hợp thật tốt với các tổ chức đoàn thể và ban đại diện cha mẹ học sinh, đặc biệt là những phụ huynh có con em thuộc diện phải phụ đạo. Phải trao đổi, giải thích rõ cho cha mẹ học sinh hiểu được sức học cụ thể của con em họ, biết được sự lo lắng, quan tâm và trách nhiệm của nhà trường để phối hợp, tạo điều kiện cho con em mình đi học đầy đủ. Làm thế nào để họ thấy rằng việc phụ đạo là việc làm giúp đỡ những học sinh yếu kém không theo kịp bạn bè, không theo kịp chương trình học.

Có những hình thức khen thưởng những học sinh tiến bộ như: có chế độ điểm thưởng cho học sinh tiến bộ, tìm nguồn bồi dưỡng cho giáo viên phụ đạo. Đồng thời cần quan tâm theo dõi và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của giáo viên và học sinh về phòng học, photo bài học, bài tập…

Nếu gặp trường hợp học sinh yếu không chịu học, ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm cần phải tiếp xúc với phụ huynh học sinh để giải thích, thuyết phục. Học sinh học phụ đạo được miễn phí hoàn toàn .

Tổng hợp danh sách học sinh yếu theo khối lớp báo cáo UBND xã, Ban đại diện phụ huynh, Phòng GD. Tổ chức hội thảo để tìm biện pháp tối ưu nhất khắc phục học sinh yếu.

Mời phụ huynh có học sinh yếu, Ban đại diện phụ huynh, đại diện UBND xã, các thôn trưởng, giáo viên có học sinh yếu, Tổ trưởng để bàn biện pháp khắc phục học sinh yếu, đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng không chỉ của nhà trường mà toàn xã hội.

Thường xuyên kiểm tra việc giáo viên phụ đạo ở trường, ở nhà. Thường xuyên họp với BĐDphụ huynh, UBND xã, thôn trưởng, giáo viên, phụ huynh có học sinh yếu để đánh giá kết quả đạt được, từ đó có kế hoạch điều chỉnh cho phù hợp.

Định kỳ báo cáo cho Phòng GD về tiến độ chất lượng học sinh yếu

6/ Đôí với học sinh :

Cần xác định việc học là học để có kiến thức cho mình, để làm người, để hoà nhập với cộng đồng, để chiếm lĩnh tri thức của loài người, biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức của mình, học để lập thân, lập nghiệp; học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân .

Đi học phải chuyên cần, nghỉ học phải có lý do chính đáng. Học bài, làm bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Trong giờ học tập trung nghe thầy cô giáo giảng bài, tích cực tham gia xây dựng bài.

Tham gia đầy đủ các buổi học phụ đạo do nhà trường tổ chức .

Thực hiện tốt đôi bạn cùng tiến .

7/ Đối với phụ huynh học sinh

Giúp đỡ HS trong quá trình học tập ở nhà, phải có thời gian biểu cho HS. Đôn đốc, động viên con em đi học chuyên cần. Nhắc nhở con đi học phụ đạo. Có sự kiểm tra và chuẩn bị cho con em trước khi đến trường.

Thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp để nắm được tình hình học tập của con em mình, từ đó giáo viên chủ nhiệm cùng trao đổi với phụ huynh để tìm biện pháp tốt nhất cho con em mình học tập.

Theo dõi và kiểm tra bài vở của con em mình.8/Đối với Ban đại diện phụ huynh Ban đại diện phụ huynh mời phụ huynh có con em học yếu họp bàn về cách khắc phục. Ban đại diện phụ huynh có biện pháp hỗ trợ về vật chất cho giáo viên, học sinh (nếu có). Ban đại diện phụ huynh thường xuyên trao đổi với phụ huynh có con em học yếu, với giáo viên, với nhà trường. Đặc biệt thường xuyên động viên, đôn đốc phụ huynh cho con đi học chuyên cần.

8/Đối với Đảng và chính quyền địa phương :

Cần quan tâm đúng mức đến sự nghiệp GD&ĐT của địa phương , chú ý đến diện tích sân trường, xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường các trang thiết bị, xây dựng tốt môi trường GD….

Huy động mọi nguồn lực của xã hội để chăm lo cho giáo dục . Cần phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình trong việc phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh .

Nhà trường thường xuyên báo cáo về những phụ huynh không quan tâm hoặc để con em ở nhà đi học không chuyên cần. Từ đó thôn, UBND xã có biện pháp nhắc nhở, động viên những phụ huynh này.

Cần có biện pháp hỗ trợ vật chất cho những gia đình gặp khó khăn. IV/ Kết luận :

Học sinh yếu là một tồn tại khách quan, một phần do giáo viên chưa quan tâm đúng mức, chưa giúp đỡ kịp thời để các em hổng kiến thức cơ bản. Một phần là do các em không thích học, không biết cách học dẫn đến ngày một tụt hậu so với trình độ chung của lớp…. Không kể nguyên nhân do đâu, giúp đỡ học sinh yếu là việc làm cần thiết, không nóng vội, có lộ trình hợp lý, có biện pháp hiệu quả và kịp thời, có kế hoạch riêng cho mỗi học sinh.

Phụ đạo cho học sinh yếu kém trong nhà trường là việc làm hết sức tế nhị và đòi hỏi có nhiều công sức, sự yêu thương tận tụy và cố gắng của thầy và trò.

Giáo viên là người chủ đạo trong việc khắc phục học sinh yếu, thành hay bại là phần lớn do giáo viên. Vì vậy giáo viên là người hết sức quan trọng trong việc khắc phục học sinh yếu.

Có thể nói giáo viên là yếu tố quyết định về kết quả phụ đạo học sinh yếu. Nếu có được những thầy cô tâm huyết, có kinh nghiệm dạy học sinh yếu, tận tụy với từng học sinh thì kết quả mới khả quan được.

Làm thế nào để Nâng cao chất lượng giáo dục?” là một câu hỏi đặt ra và suy nghĩ rất nhiều của những người thầy Tận Tâm với nghề giáo trong thời điểm hiện nay khi chúng ta đã làm nhiều biện pháp nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của nhà trường, của bộ môn.

Tùy vào hoàn cảnh cụ thể của từng năm ở từng khối lớp mà nhà trường có kế hoạch và biện pháp thích hợp để nâng cao được trình độ cho học sinh lỡ mất căn bản trong học tập – giúp các em có cơ hội hội nhập cùng với bạn bè. Kế hoạch phải được lập ngay từ đầu năm và phải tổ chức thực hiện thật chu đáo . Để thành công trong công tác phụ đạo học sinh yếu nhà trường phải biết huy động mọi nguồn lực của xã hội để cùng làm cho hiệu quả .

Phải xác định : Mỗi thầy cô giáo phải có trách nhiệm giúp đỡ học sinh yếu kém để các em này cải thiện tình hình học tập của mình một cách tốt nhất (Dạy học là dạy cho người chưa biết để họ được biết).

Làm gì thì làm kết quả cuối năm trường mình, môn học của mình phải đạt tỉ lệ cao và có chất lượng thật sự . Không thể để chất lượng yếu kém nhiều . Nếu để học sinh yếu kém nhiều là ta có lỗi với Đảng, Nhà nước và nhân dân .

Nguyễn Hạnh -HT THCS Trần Hưng Đạo

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Hát Cho Học Sinh Khối 6

ệ khá là phong phú và đa dạng, nổi bật như: "Hò sông mã"; Tổ khúc "Múa đèn"và nhiều bài khác nữa. Tổ khúc Múa đèn gồm 10 bài hát. Bài hát Đi cấy là một bài hát nằm trong tổ khúc "Múa đèn". Bài hát được hình thành dựa trên những câu thơ lục bát sau: "Lên chùa bẻ một cành sen. Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng. Ba bốn cô có bạn cùng chăng. Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm. Cầu cho trong ấm ngoài êm!" + Giáo viên treo bảng phụ có bài hát đã chép sẵn (chép cả phần nhạc). - Bước 2: Đàn và hát mẫu bài hát + Giáo viên hát hoàn chỉnh bài hát, hát giàu tính biểu cảm cho học sinh cảm nhận được nội dung và giai điệu bài hát. Giáo viên phải kết hợp đệm đàn khi hát. Nếu giáo viên không hát mẫu thì có thể cho học sinh nghe băng đĩa. Hoặc chúng ta có thể cho học sinh nghe bài hát theo cả 2 cách trên để làm sao cho học sinh cảm nhận được trọn vẹn bài hát. - Bước 3: Đàm thoại sau khi nghe + Giáo viên đặt câu hỏi: Cảm nhận của em về bài hát ( giai điệu, lời ca)như thế nào? + Giáo viên gọi một vài học sinh trả lời, sau đó giáo viên nhận xét, tổng hợp ý kiến và có thể cho học sinh nghe lại bài hát 1 lần nữa. + Giáo viên phân tích bài hát: Bài hát được viết ở giọng Son trưởng (G-Dur), nhịp hai bốn, viết dưới hình thức 1 đoạn đơn. Giới thiệu các kí hiệu có trong bài hát. Bài hát chia thành bốn câu: Câu 1: "Lên chùa sáng trăng" Câu 2: "Ba bốn cô cùng chăng" Câu 3: "Thắp đèn cầu cho" Câu 4: "Cầu cho ngoài êm" - Bước 4: Luyện thanh- khởi động giọng Giáo viên có thể cho học sinh luyện thanh một vài mẫu cơ bản như: Mì mi mí mi mì. Hoặc Mà ma má ma mà. - Bước 5: Dạy hát từng câu Câu 1: "Lên chùa bẻ một cành sen, lên chùa bẻ một cành sen ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng". + Giáo viên đánh đàn giai điệu cho học sinh nghe câu 1 hai đến ba lần, rồi cho học sinh thực hiện lại. + Lưu ý những chỗ khó như luyến ở các từ bẻ, bẻ, đi, sáng. + Giáo viên nhận xét, sửa sai, cho học sinh thực hiện lại cho hoàn chỉnh. + Gọi nhóm, cá nhân hát, cho học sinh nhận xét lẫn nhau. Giáo viên nhận xét, sửa sai. Khi học sinh hát hoàn chỉnh, giáo viên hướng dẫn tiếp câu 2. Câu 2: "Ba bốn cô có hẹn cùng chăng có bạn cùng chăng". + Giáo viên đánh đàn giai điệu cho học sinh nghe câu 2 hai đến ba lần, rồi cho học sinh thực hiện lại. + Lưu ý những chỗ khó: luyến ở từ bạn, giới thiệu các dấu hóa thăng bất thường có trong câu và thực hiện cho đúng. + Giáo viên nhận xét, sửa sai, cho học sinh thực hiện lại cho hoàn chỉnh. + Gọi nhóm, cá nhân hát, cho học sinh nhận xét lẫn nhau. Giáo viên nhận xét, sửa sai. Khi học sinh hát hoàn chỉnh, giáo viên cho học sinh ghép câu 1-2. Câu 1-2: "Lên chùa bẻ một cành sen, lên chùa bẻ một cành sen ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng. Ba bốn cô có hẹn cùng chăng có bạn cùng chăng". + Giáo viên đàn giai điệu câu 1-2 cho học sinh nghe, sau đó cho học sinh thực hiện lại hai câu. + Giáo viên nhận xét, sửa sai cho học sinh (nếu có). + Gọi nhóm, cá nhân hát, cho học sinh nhận xét lẫn nhau. Giáo viên nhận xét, sửa sai. Khi học sinh hát hoàn chỉnh câu 1-2 giáo viên hướng dẫn tiếp câu 3. + Lưu ý học sinh khi hát hết câu 1-2 ngắt ở chỗ có dấu lặng. Câu 3: "Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm chơi trăng ngoài thềm ý rằng cầu cho". + Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện tương tự câu 1. + Lưu ý học sinh khi hát hết câu 3 cuối câu ngân dài 2 phách. Ngắt hơi ở chỗ có dấu lặng cuối câu. Khi học sinh đã hát hoàn chỉnh giáo viên hướng dẫn tiếp câu 4. Câu 4: "Cầu cho trong ấm, êm êm lại ngoài êm". + Lưu ý những chỗ khó: luyến, đảo phách. + Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện tương tự câu 2. Khi học sinh đã hát hoàn chỉnh, giáo viên cho học sinh ghép câu 3-4. Câu 3-4: "Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm chơi trăng ngoài thềm ý rằng cầu cho. Cầu cho trong ấm, êm êm lại ngoài êm". + Giáo viên đàn giai điệu câu 3-4 cho học sinh nghe, sau đó cho học sinh thực hiện lại hai câu. + Giáo viên nhận xét, sửa sai cho học sinh (nếu có). + Gọi nhóm, cá nhân hát, cho học sinh nhận xét lẫn nhau. Giáo viên nhận xét, sửa sai. Khi học sinh hát hoàn chỉnh câu 3-4 giáo viên hướng dẫn học sinh ghép cả bài. Câu 1-2-3-4: "Lên chùa bẻ một cành sen, lên chùa bẻ một cành sen ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng. Ba bốn cô có hẹn cùng chăng có bạn cùng chăng. Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm chơi trăng ngoài thềm ý rằng cầu cho. Cầu cho trong ấm, êm êm lại ngoài êm. + Giáo viên đàn giai điệu cả bài cho học sinh nghe, sau đó cho học sinh thực hiện lại. Giáo viên đệm đàn cho học sinh hát cả bài. + Giáo viên nhận xét, sửa sai cho học sinh (nếu có). + Gọi nhóm, cá nhân hát, cho học sinh nhận xét lẫn nhau. Giáo viên nhận xét, sửa sai. - Bước 6: Luyện tập theo tổ,nhóm, cá nhân. + Giáo viên cho từng tổ thực hiện bài hát một lần. Yêu cầu các em hát thật hoàn chỉnh, thể hiện sắc thái tình cảm bài hát, hát có nhạc đệm của giáo viên. + Cho học sinh hát kết hợp vỗ tay theo nhịp hoặc phách. + Để học sinh mau thuộc lời bài hát, giáo viên cho học sinh thực hiện bài hát nhiều lần với nhiều hình thức khác nhau như : Đơn ca, song ca, tốp ca, Điều này sẽ không gây hiện tượng nhàm chán khi các em hát lặp đi lặp lại bài hát nhiều lần, mặt khác giúp các em hát đúng bài, nhanh thuộc bài tại lớp. - Bước 7: Đàm thoại và cũng cố bài hát. + Để học sinh hát sôi nổi hơn, giáo viên có thể cho các tổ hát thi đua với nhau với ban giám khảo gồm 4 học sinh đại diện cho từng tổ, tổ nào hát hay nhất sẽ được tuyên dương + Sau khi học xong bài hát giáo viên giới thiệu và cho học sinh nghe một vài bài hát dân ca ở các vùng miền khác nhau giúp học sinh có thêm hiểu biết về sự phong phú và đa dạng của dân ca Việt Nam, biết được dân ca là những sản phẩm tinh thần quý giá của cha ông để lại, dân ca mang đậm màu sắc văn hóa dân tộc. Từ đó giáo dục học sinh học sinh biết giữ gìn, học tập, và tiếp tục phát triễn vốn quý ấy. + Giáo viên cho cả lớp thực hiện lại hoàn chỉnh bài hát, yêu cầu các em phát biểu về nội dung giáo dục của bài. Giáo viên nhận xét và tổng hợp ý kiến. + Yêu cầu các em về nhà học thuộc bài hát, giáo viên nhận xét - kết thúc tiết dạy. * Về phía học sinh: Giáo viên cần tìm ra những nguyên nhân học sinh chưa hát tốt bài hát và không thích học phân môn này từ đó có hướng giải quyết khắc phục. Học sinh còn xem bộ môn âm nhạc là môn phụ. Học sinh chưa có phương pháp học tập tốt, chưa chuẩn bị bài ở nhà. Học sinh hát sai về cao độ, trường độ, tiết tấu bài hát. Chưa thể hiện được sắc thái của bài hát. Chưa mạnh dạn hát trước lớp. 3.Biện pháp giải quyết: Cũng như các môn học khác, môn học âm nhạc nhằm trang bị cho lớp trẻ một trình độ văn hoá âm nhạc trong một tổng thể của chương trình giáo dục toàn diện. Nội dung môn âm nhạc sẽ phải bao gồm một số kỹ năng tối thiểu về ca hát, những vấn đề về lí thuyết âm nhạc sơ giản, hướng dẫn nghe nhạc, tìm hiểu âm nhạc giúp các em nâng cao năng lực cảm thụ và yêu thích môn học này. Quan niệm và cảm xúc của mỗi người trước cái đẹp luôn khác nhau, từ quan niệm đó nảy sinh nhiều ý tưởng và trường phái khác nhau trong nghệ thuật. Trong quá trình giảng dạy âm nhạc ở trường THCS, GV cần tạo mọi điều kiện để HS phát huy được những cảm xúc nghệ thuật, những sáng tạo trong học tập. Muốn làm được điều đó HS cần có quá trình rèn luyện không chỉ ở môn âm nhạc. Sáng tạo giúp HS phát huy được những suy nghĩ tư tưởng và hành động của mình, nâng cao kết quả học tập và hình thành những năng lực riêng biệt của các em. Trong học tập, tìm tòi sáng tạo là hình thức cao nhất thể hiện tính tích cực của HS, hãy bắt đầu khuyến khích các em mạnh dạn nói lên những cảm nhận của mình về môn học, về bài hát. GV cần tạo điều kiện để HS tự nhận xét, tự đánh giá, tự cảm nhận để có thể điều chỉnh cách học theo hướng tích cực. Trong quá trình học hát, GV có thể yêu cầu HS hát và tự kiểm tra lẫn nhau, khuyến khích kỹ năng nghe và đánh giá của từng em. Ngoài ra, GV khơi gợi để HS nói lên cảm nhận của mình về bài hát, điều này bổ sung và làm giàu khả năng cảm thụ âm nhạc của các em. Qua việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến hạn chế khi học sinh học phân môn học hát. Đầu năm học 2013 - 2014 tôi đã áp dụng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học hát cho học sinh như: -Giáo viên chú ý soạn giảng, sử dụng và kết hợp tốt các phương pháp dạy học. -Giáo viên phải biết sử dụng đàn, đàn thành thục các bài hát mà mình dạy. -Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số kiến thức về tác giả, tác phẩm và những kiến thức về nhạc lí trong quá trình dạy hát như: Cao độ, trường độ, các kí hiệu thường gặp trong bản nhạc. -Giáo viên cần chú ý đến những học sinh còn yếu kém. -Ngoài các biện pháp trên bản thân tôi qua thời gian công tác giảng dạy đã đúc kết được thêm một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng học hát cho học sinh khối 6 như sau: FGiáo viên chú ý sửa sai khi dạy hát: -Khi học sinh hát sai giáo viên không nên phê bình thẳng thắn mà phải có biện pháp động viên để các em có hứng thú hơn, bằng cách giáo viên phải hát chuẩn xác, lưu ý những chỗ khó hát trong bài, đưa ra các bài tập phòng ngừa sai về cao độ, trường độ, -Khi học sinh hát sai, giáo viên phải so sánh giữa cái sai của học sinh với cái đúng của giáo viên, âm thanh phải được vang lên, giáo viên sửa sai chậm so với tốc độ hát bình thường của bài hát, giáo viên có thể thị phạm bằng giọng hát của mình hoặc đánh đàn nhiều lần ở chỗ sai, chủ yếu là thực hành tránh nói dài dòng, lí thuyết, cụ thể qua các ví dụ: + Khi học sinh hát bài: "Tiếng chuông và ngọn cờ" Nhạc và lời: Phạm Tuyên Học sinh thường hát sai ở câu: Và bạn nhỏ gần xa đấy chính gia đình của ta. Ở câu này học sinh thường ngân chữ "xa" cho nên kéo theo sai cả câu vì vậy để sửa sai chổ này giáo viên nên nói cho học sinh biết từ "và gia" phải hát trường độ giống nhau mà ngân chữ "đình". Và cũng có thể giáo viên vỗ tay theo tiết tấu để học sinh dễ nhận thấy, sau đó yêu cầu học sinh thực hiện nhiều lần ở chỗ khó này. + Khi học sinh hát bài: "Đi cấy" Dân ca Thanh Hóa Ở bài này học sinh thường hát sai ở chỗ có đảo phách: Cầu cho trong ấm, êm êm lại ngoài êm. Vì lớp 6 các em chưa học theo hình thức này do vậy khi học sinh hát sai giáo viên không diễn giải lí thuyết dài dòng mà chỉ thực hiện trực tiếp là giáo viên đàn mẫu nhiều lần ở chỗ khó này hoặc hát mẫu kết hợp động tác gõ đệm cho học sinh nghe rồi yêu cầu học sinh thực hiện, sau đó mới ghép vào bài. FCách giữ nhịp cho học sinh hát: -Khi tập hát giáo viên có thể gõ phách hay gõ nhịp bằng các nhạc khí như: phách tre, song loan, để giữ nhịp cho học sinh tập hát với tốc độ chậm. Khi học sinh tập hát xong giáo viên bắt nhịp cho học sinh hát theo đúng tốc độ của bài. FMột số trò chơi hỗ trợ khi học hát: *Trò chơi: "Tìm ẩn số trong ca khúc thiếu nhi": -Hình thức chơi: +Nêu tên tác giả để tìm tác phẩm: (Giáo viên nêu tên tác giả, học sinh kể một vài tác phẩm của tác giả) +Nêu tên tác phẩm để tìm tác giả: (Giáo viên nêu tên tác phẩm, học sinh nêu tên tác giả) -Hình thức thưởng: +Chấm điểm. +Tuyên dương (nếu trả lời đúng). Ví dụ: Nêu tên tác giả để tìm tác phẩm: Giáo viên: Nhạc sĩ Phạm Tuyên Học sinh: Tiếng chuông ngọn cờ, Chiếc đèn ông sao, Cánh én tuổi thơ, Ví dụ: Nêu tên tác phẩm để tìm tác giả Giáo viên: Tiếng chuông ngọn cờ, Chiếc đèn ông sao, Cánh én tuổi thơ, Học sinh: Nhạc sĩ Phạm Tuyên -Qua trò chơi giúp học sinh nhớ lại những kiến thức đã học, phát huy tính tích cực của học sinh. *Trò chơi: "Thi giọng hát hay" -Hình thức chơi: +Học sinh là ca sĩ. +Giáo viên vừa là người dẫn chương trình vừa là nhạc công và là ban giám khảo. -Hình thức thưởng: +Chấm điểm. +Tuyên dương (nếu trả lời đúng). Ví dụ: Giáo viên có thể chuẩn bị một nhành cây có đính nhiều hoa, trong mỗi bông hoa có tên một bài hát. Mời học sinh lên hái hoa và hát bài hát có tên trong bông hoa. Giáo viên chấm điểm - tuyên dương. -Qua trò chơi giúp học sinh mạnh dạn hơn khi đứng trước tập thể. *Trò chơi: "Ai là người nhanh nhất" -Hình thức chơi: +Cho học sinh nghe một đoạn nhạc không lời để đoán lời ca nhằm phát triển tay nghe cho học sinh. -Hình thức thưởng: +Chấm điểm. +Tuyên dương (nếu trả lời đúng). Ví dụ: Mỗi tổ đại diện một học sinh lên bảng. Giáo viên đánh đàn một đoạn bài hát: "Hành khúc tới trường" Học sinh nào ghi nhanh và chính xác nhất là thắng cuộc. Giáo viên chấm điểm - tuyên dương. -Qua trò chơi giúp học sinh phát triển tay nghe cho học sinh, giúp học sinh linh hoạt nhạy bén hơn. 4/ Kết quả, chuyển biến của đối tượng: Sau khi bổ sung và áp dụng các biện pháp này vào giảng dạy học sinh, trong quá trình dạy có một số học sinh hát sai về cao độ, trường độ, tôi đã thị phạm bằng giọng hát của mình và sử dụng đàn để so sánh cái sai của học sinh với cái đúng của giáo viên để học sinh nhận rõ sau đó giáo viên gọi học sinh hát cho hoàn chỉnh. Tổ chức một số trò chơi trong quá trình học hát giúp học sinh hứng thú hơn. Sau khi áp dụng một số biện pháp giảng dạy trên chất lượng học hát của học sinh có sự chuyển biến rõ rệt, cụ thể qua kết quả kiểm tra học kì I ở lớp 6A6 như sau: Sĩ số: 42 Giỏi Khá Trung bình Yếu kém Số lượng 16 12 9 3 2 Tỉ lệ (%) 38,1 28,6 21,4 7,1 4,8 Qua bảng khảo sát trên ta thấy tỉ lệ học sinh xếp loại Đạt là 37HS-tỉ lệ: 88,1%, học sinh xếp loại Chưa đạt là 5HS-tỉ lệ: 11,9%. HS yếu kém đã giảm từ 26,2% xuống còn 11,9%. Tỉ lệ trung bình - khá - giỏi được nâng lên. III. KẾT LUẬN: 1.Tóm lược giải pháp: Âm nhạc là một môn học không kém phần quan trọng đối với học sinh THCS, vì vậy nâng cao chất lượng học tập môn âm nhạc nói chung và phân môn học hát nói riêng là rất cần thiết. Muốn làm được điều này cần: -Có những biện pháp sửa sai thích hợp cho từng bài học cụ thể. -Giáo viên phải giữ nhịp để học sinh hát đúng tốc độ của bài hát. -Kết hợp một số trò chơi trong quá trình dạy hát giúp học sinh phát triển tay nghe, mạnh dạn khi đứng trước tập thể, nhớ lại những kiến thức đã học. -Sử dụng đồ dùng dạy học một cách có hiệu quả. 2.Phạm vi, đối tượng áp dụng: Đề tài sáng kiến kinh nghiệm này có thể dành cho tất cả các chị em đồng nghiệp phụ trách giảng dạy bộ môn âm nhạc ở khối 6 trường THCS trong thị xã, nơi có điều kiện để thực hiện. 3.Kiến nghị với các cấp về điều kiện thực hiện: Một số ý kiến đề xuất : - Cần tạo điều kiện, trang bị thêm về cơ sở vật chất, các trang thiết bị dạy học như đàn Organ (có chức năng sử dụng đĩa mềm), tranh ảnh các nhạc sĩ, đồ dùng hay mô hình nhạc cụ dân tộc Để giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập đạt hiệu quả hơn. - Tạo điều kiện, tổ chức cho giáo viên tham gia bồi dưỡng, tập huấn về nội dung, phương pháp, biện pháp giảng dạy, phổ biến những sáng kiến kinh nghiệm hay được đánh giá cao. Kiến Tường, ngày 15 tháng 4 năm 2014 Người viết Trần Thị Nghi Xuân I. Quy định về hình thức: - Viết trên một mặt khổ giấy 21x33, đánh máy hoặc viết tay. Nếu thiếu giấy (trong mẫu) thì gắn thêm giấy vào phần cần viết thêm. - Phải ghi đầy đủ tên đề tài, họ tên, đơn vị, tháng năm hoàn thành vào đúng chỗ quy định. II. Trình tự của bài viết: 1. Theo trình trình tự gợi ý ở trang 3, có thể thêm các phần khác nhưng không được thiếu các phần trong trình tự đã nêu. 2. Lưu ý ở các mục sau: Mục I. 1: Nêu lý do chọn đề tài: Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, Mục I. 2: Nêu rõ mục đích chọn đề tài để nhằm giải quyết vấn đề gì. Mục I. 3: Lịch sử đề tài: Nêu rõ quá trình hình thành đề tài: đề tài mới hay áp dụng đề tài đã có. Mục I. 4: Nêu khái quát kinh nghiệm, SKKN đã làm: từ lúc nào? Ở đâu? Đối tượng nào? Mục II: (1): Miêu tả, thống kê số liệu thực tế trước khi áp dụng kinh nghiệm, SKKN, (2): Từ thực tế, rút ra điều gì phải làm (cơ sở thực tế, cơ sở lý luận, ) (3): Miêu tả tiến trình thực hiện, các giải pháp, kinh nghiệm, SKKN (nêu rõ các phương pháp thực hiện đề tài) (4): Đánh giá kết quả đã đạt được: Thống kê số liệu cụ thể (nếu có), các mặt diễn biến của đối tượng. Mục III: (1): Tóm lược giải pháp, đút rút kinh nghiệm đã nêu (rõ ràng, dễ hiểu), có thể nâng lên về mặt lý luận. (2): Giá trị của kinh nghiệm, SKKN: Áp dụng được ở đâu? Đối tượng nào? (3): Nêu những kiến nghị là những yêu cầu tối thiểu để hỗ trợ cho việc thực hiện kinh nghiệm, SKKN đã nêu. III. Gợi ý cách chọn đề tài: 1. Loại đề tài mang tính chất chung: Giáo dục đạo đức HS; Giáo dục HS cá biệt; Rèn luyện HS yếu; Bồi dưỡng HS giỏi; Quản lý lao động cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường học; Tổ chức một lớp học, tổ chức học nhóm, học tổ; Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả; Quản lý dạy học đủ 9 môn học bắt buộc ở tiểu học có hiệu quả, 2. Loại đề tài mang tính chất phục vụ cho bộ môn: Nâng cao chất lượng môn học vần lớp 1; Rèn luyện kỹ năng qua tiết luyện tập môn toán 5; Để giúp nhớ lâu công thức toán ở lớp 6, 7, Kinh nghiệm trong hướng dẫn thành công tiết thực hành môn Sinh vật lớp 8; Rèn luyện chữ viết cho HS lớp 3; Làm thế nào để dạy tốt môn GDSK; Nâng cao chất lượng môn giáo dục âm nhạc; Rèn luyện kỹ năng tạo hình; 3. Loại đề tài sáng tạo đồ dùng dạy học các ngành học, cấp học. 4. Loại đề tài áp dụng SKKN của tác giả khác: Phải nêu lại sáng kiến đã có, sau đó trình bày quá trình thực hiện, phương pháp, giải pháp của cá nhân khi áp dụng SKKN đã có, kết quả đạt được. 5. Loại đề tài vận dụng SKKN của tác giả khác thì phải ghi rõ: Vận dụng SKKN của tác giả nào? Áp dụng vào đối tượng nào? 6. Đối với cá nhân nếu có đề tài tâm đắc, kiên trì áp dụng thì cũng được quyền viết lại, trong đó: - Có nêu giải pháp đã áp dụng trước đây (kinh nghiệm, SKKN cũ) - Hiện tại điều chỉnh, bổ sung phần nào, giải pháp nào? 7. Những sáng kiến kinh nghiệm của tập thể phải ghi rõ: Đồng tác giả và có bảng phân công cụ thể, kế hoạch thực hiện của từng tác giả. Đối với loại SKKN này, nội dung đề tài phải nhằm giải quyết những vấn đề lớn trong phạm vi rộng: trường, huyện, tỉnh và phải được Hội đồng khoa học cấp ngành tỉnh duyệt đồng ý mới được phép thực hiện. IV. Tổ chức xem xét, đánh giá kinh nghiệm, SKKN: (1) SKKN được xem xét, đánh giá từ Hội đồng KHGD của trường, phòng GD-ĐT, Sở GD-ĐT (có biên bản chung và có lời nhận xét đánh giá trên từng SKKN ở trang 2) (2) Dựa vào hình thức và nội dung bài viết, các bài viết (kinh nghiệm, SKKN) được đánh giá, xếp loại như sau: * Loại A: + Hình thức: Đảm bảo theo đúng mẫu quy định. + Nội dung: Là những sáng kiến giải quyết được những vấn đề đúng đường lối, quan điểm, giáo dục, đảm bảo tính khoa học, có những biện pháp cụ thể, thiết thực, sát đúng, có hiệu quả rõ rệt, có thể phổ biến cho ngành áp dụng rộng rãi trong tỉnh và có thể từ đó rút ra được một số vấn đề về lý luận giáo dục. * Loại C: + Hình thức: Đảm bảo theo đúng mẫu đã quy định. + Nội dung: Là những sáng kiến bình thường, giải quyết được một số vấn đề cần thiết với những biện pháp cụ thể, đạt kết quả vừa phải, có thể phổ biến trong phạm vi trường học hoặc huyện, không phổ biến được trong tỉnh. * Loại B: + Hình thức: Đảm bảo theo đúng mẫu quy định. + Nội dung: Là những sáng kiến chưa đạt loại A, nhưng cao hơn loại C. * Không xếp loại: Những SKKN không đạt yêu cầu: - Sai quan điểm, đường lối, phương pháp giáo dục. - Sáng kiến kinh nghiệm không có hiệu quả. - Sáng kiến kinh nghiệm không có tính khả thi.

Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU I.1. Lý do chọn đề tài Những năm gần đây, giáo dục nước ta đang ngày càng phát triển và từng bước hội nhập với thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục gắn liền với việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Quá trình đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ngày càng được chú trọng và quan tâm. Trong sự phát triển chung của nền giáo dục, bộ môn Toán cũng đang phát triển và đóng một vai trò quan trọng. Từ đó, mỗi giáo viên phải không ngừng nỗ lực phấn đấu để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ nhằm đáp ứng cho mục tiêu giáo dục ngày càng phát triển của nước nhà. Trong chương trình Tiểu học, môn Toán là một môn học không thể thiếu trong nhà trường. Thông qua việc học Toán các em bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng suy luận và diễn đạt ý đúng bằng lời. Thông qua việc học tập tốt môn Toán sẽ là chiếc cầu nối cho các em lĩnh hội và tiếp thu tốt các môn khoa học khác trong cuộc sống sau này. Nhận thức được vai trò quan trọng của môn học Toán, mỗi giáo viên khi giảng dạy phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để giúp các em học sinh tiếp thu đầy đủ kiến thức và biết vận dụng được vào trong cuộc sống hàng ngày. Việc dạy học tốt đối với mỗi giáo viên không chỉ là việc giúp các em nắm được các kiến thức học trong nhà trường mà thông qua học trên lớp các em còn biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, để các em trở thành những người có ích cho xã hội. Chính vì vậy môn Toán là một môn học đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình học ở Tiểu học. Năm học 2014 – 2015 tôi được phân công dạy lớp 2, qua một thời gian làm quen và nắm bắt tình hình học tập đầu năm của các em, bản thân nhận thấy

Lưu Thị Hạnh

1

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

đa số các em học sinh trong quá trình học còn thụ động, các em chưa khai thác hết khả năng tiềm ẩn trong nội dung bài học, vận dụng chưa linh hoạt và nhanh nhẹn trong một số trường hợp đơn giản trong thực tế cuộc sống. Một số giáo viên khi giảng dạy chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học, hạn chế việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Mặt khác trường Tiểu học Võ Thị Sáu là một trong những trường có tỷ lệ học sinh đồng bào đông nhất trong các trường Tiểu học trên toàn huyện, việc tiếp thu kiến thức của các em còn chậm. Từ đó, bản thân luôn suy nghĩ để tìm ra được một số phương pháp dạy học mới phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập cho các em và đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2. Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.” I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Phối hợp một số biện pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2 năm học 2014 – 2015. I.3. Đối tượng nghiên cứu Vận dụng và phối hợp một số biện pháp sư phạm trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2. I.4. Phạm vi nghiên cứu Áp dụng các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2A, trường Tiểu học Võ Thị Sáu, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk, năm học 2014 – 2015. I.5. Phương pháp nghiên cứu

Lưu Thị Hạnh

2

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

– Phương pháp 1 : Phương pháp trực quan. – Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp. – Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập. – Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại. – Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá. II. PHẦN NỘI DUNG II.1. Cơ sở lý luận Lứa tuổi học sinh Tiểu học chủ yếu ở vào khoảng từ 6 đến 11 tuổi, nhìn chung các em còn rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài. Khả năng phân tích của các em còn rất kém nên các em thường tri giác trên tổng thể. Về sau các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận thức khác nên nó chính xác dần. Sự chú ý không có chủ định chiếm ưu thế, trí nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lô-gic, những hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn là câu chữ khô khan, trừu tượng, khái quát. Trí tưởng tượng tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức và chịu tác động nhiều của hứng thú, các mẫu hình có sẵn. Dần dần tư duy và khả năng suy luận của các em sẽ thay đổi và phát triển theo chiều hướng khác nhau là do sự hướng dẫn của giáo viên. Nắm vững vấn đề này, tùy vào nội dung giảng dạy mà giáo viên lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp dạy học thích hợp để học sinh tiếp thu kiến thức tốt và phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của mình. Đối với học sinh lớp 2, tư duy của các em còn rất non nớt, các em vừa trải qua một năm học tập ở môi trường Tiểu học. Nhìn chung ở lứa tuổi này đã xuất hiện những tiến bộ mới song còn hạn chế, các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành tổng thể nhưng sự liên kết đó chưa mang tính tổng quát. Giáo viên Lưu Thị Hạnh

3

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

4

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

5

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

6

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

7

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Lưu Thị Hạnh

8

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

9

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

viên gọi học sinh lên quay thời gian đúng 7 giờ trên chiếc đồng hồ mà giáo viên chuẩn bị cho tiết học, tiếp theo cho các em quan sát và đọc thời gian đúng.

Từ cách cách dạy học vận dụng và liên hệ thực tế như vậy các em sẽ hiểu bài tốt hơn và vận dụng được cách xem thời gian đúng cho hoạt động trong ngày. Qua đó, giáo viên giáo dục các em thực hiện đúng nội quy trường, lớp và sử dụng quỹ thời gian trong ngày phù hợp, có hiệu quả. Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp Khi sử dụng phương pháp dạy học này, đối với việc hướng dẫn học sinh làm toán bản thân giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức ở dạng hoàn chỉnh mà gợi mở để các em tư duy, tự tìm ra những kiến thức mới, suy luận để hiểu được nội dung của bài học. Ví dụ : Đối với bài tập 4/ SGK trang 60: Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở. Hỏi cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ? Khi dạy bài tập này giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi như sau : – Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết : Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở. – Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi : Cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ? Lưu Thị Hạnh

10

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

– Để biết cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ta làm như thế nào ? Từ hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tư duy và trả lời được cách làm bài toán (lấy 63 – 48) thông qua đó sẽ hiểu và nắm được cách giải của bài toán. Hình thức hỏi – đáp giữa giáo viên – học sinh giúp giáo viên nhận biết được việc tiếp thu bài của các em trong lớp và kịp thời uốn nắn, có biện pháp hỗ trợ kịp thời để các em cùng tiến bộ. Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập Luyện tập có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt với môn Toán. Môn Toán là một môn học công cụ, được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học khác và trong đời sống. Học toán không chỉ để lĩnh hội một tri thức mà điều quan trọng hơn là phải biết vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và đặc biệt là những phương thức tư duy cần thiết. Phương pháp luyện tập được sử dụng rộng rãi trong hoạt động dạy học của giáo viên, luyện tập ngay cả trong quá trình truyền thụ tri thức ; vừa giảng, vừa rèn luyện chính là đặc điểm của bộ môn Toán. Vận dụng giải các bài tập sau khi học xong lý thuyết ; giải các bài tập có nội dung thực tế ; giải các bài tập toán tổng hợp đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo các tri thức, kĩ năng đã học, đã biết. Ví dụ : Đối với bài : Ngày, tháng (SGK/79). Sau khi dạy cho học sinh nắm ngày tháng trong một tờ lich của tháng 11 trong sách giáo khoa, giáo viên tiến hành cho các em là các bài tập vận dụng 1,2. Tiếp theo giáo viên cho học sinh luyện tập thêm bằng cách điền các ngày còn thiếu trong tháng 12 của bài tập 2, rồi đặt thêm hệ thống câu hỏi nâng cao hơn : “Thứ bảy tuần này là ngày 27 thì thứ bảy tuần trước là ngày bao nhiêu ?” Qua đó các em hiểu và vận dụng xem được ngày, tháng trên tờ lịch tháng 12 mà giáo viên đã chuẩn bị. Lưu Thị Hạnh

11

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

12

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

phép cộng – phép trừ, rồi vận dụng vào giải được bài toán có lời văn và nắm được cách tính độ dài đường gấp khúc. – Đối với đối tượng học sinh khá giỏi sau khi các em làm xong những bài tập theo chuẩn kiến thức, giáo viên cho các em làm thêm bài tập 2 hoặc có thể ra một số bài tập vận dụng nhằm phát triển từ duy nhận thức cho các em : + Tìm giá trị của M : 5 x 4 + 12 < 9 x 5 – M < 8 x 3 + 10 + Mẹ có 46 cái kẹo, mẹ cho em 12 cái và cho anh 10 cái. Hỏi mẹ còn lại bao nhiêu cái kẹo ? Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá Kiểm tra, đánh giá là một hình thức nhằm phát hiện những thiếu sót của học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học. Kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên trong mỗi tiết học, theo định kì. Từ đó, giúp giáo viên và học sinh có kế hoạch dạy – học phù hợp. Ví dụ : Vào đầu tiết học tôi thường gọi học sinh lên làm lại bài cũ để nắm bắt bắt tình hình tiếp thu bài ở tiết trước của các em. Sau mỗi tiết dạy giáo viên thường tổ chức cho học sinh củng cố lại kiến thức bằng cách gọi các em lên bảng làm bài tương tự hoặc nêu lại quy tắc, kiến thức trọng tâm của bài học. Việc làm như vậy sẽ giúp giáo viên kiểm tra, nhận xét, đánh giá được quá trình tiếp thu bài của các em. Qua đó, giúp các em khác hiểu sâu nội dung bài học và khắc phục những thiếu sót của bản thân. Từ đó, bản thân có hình thức tổ chức dạy học phù hợp hơn. Qua việc kiểm tra sẽ đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu phối hợp một số biện pháp để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh. Biện pháp thứ tư : Một số biện pháp cần làm giúp học sinh học tốt tuyến kiến thức Toán học lớp 2 : Lưu Thị Hạnh

13

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

* Tuyến kiến thức về số học : Nội dung chủ yếu về số học trong chương trình môn Toán lớp 2 chủ yếu là cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100 ; bảng nhân, chia trong phạm vi từ 2 đến 5. Giáo viên thực hiện đầy đủ các yêu cầu của mạch kiến thức thông qua việc dạy học và tăng cường luyện thực hành, kĩ năng tính toán cho học sinh, song cũng khuyến kích học sinh tính bằng nhiều cách, lựa chọn cách tính cho phù hợp. Học thuộc bảng cộng – trừ, bảng nhân – chia, nắm được các thuật tính sẽ giúp học sinh thực hiện nhanh, thành thạo các kiến thức của môn học và vận dụng vào đời sống thực tiễn có hiệu quả. Khi dạy học toán cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 cho học sinh lớp 2 giáo viên luôn yêu cầu các em tính bằng nhiều cách trong đó vận dụng tính nhẩm để tìm nhanh kết quả. Phép cộng : Các bài dạng 9 + 5 ; 29 + 5 ; 49 + 25 Ví dụ : Đối với bài 9 cộng với một số : 9 + 5 Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ trả lời được kết quả 9 + 5 = 14. Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau : Viết phép tính theo hàng dọc +

Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 5 = 4 + 1), sau đó lấy 9 + 1 = 10 viết 1 sang hàng chục, 0 + 4 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị. Với Lưu Thị Hạnh

14

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

cách làm như vậy các em sẽ nắm được quy luật của phép cộng 9 cộng với một số và lập được bảng cộng và học thuộc nhanh bảng cộng 9 cộng với một số như sau : 9+2= 9+3= 9+4= …… 9+9= Thông qua việc học thuộc bảng cộng học sinh khắc sâu được kiến thức, tránh lạm dụng đồ dùng trực quan và vận dụng kiến thức cơ bản đã học để làm bài tập. Giáo viên cần khuyến kích tìm kết quả bằng nhiều cách, nhận xét đưa ra cách giải nhanh nhất. Bài tập 1 (SGK/15) 9+3=

9+6=

9+8=

9+7=

9+4=

3+9=

6+9=

8+9=

7+9=

4+9=

Đối với bài tập này, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào dòng thứ nhất sau khi các em đã học thuộc bảng cộng 9 (9 + 3 = 12, 9 + 6 = 15 …). Dựa vào cách tính nhẩm ở dòng thứ nhất giáo viên hướng dẫn các em làm dòng thứ hai và điền ngay được 3 + 9 = 12 (vì khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không thay đổi). Bài tập 3 (SGK/ 15) 9+6+3=

9+9+1=

9+4+2=

9+5+3=

Sau khi các em làm đúng bài tập, giáo viên yêu cầu các em nêu cách làm và chọn cách giải nhanh nhất : 9 + 6 + 3 = 15 + 3 = 18 hay 9 + 9 = 18 Lưu Thị Hạnh

15

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Đối với bài 29 + 5 ; 49 + 25 giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng cộng 9 cộng với một số để làm tính cộng 29 + 5

* 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1. * 2 thêm 1 bằng 3, viết 3.

34

* 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

25

* 4 cộng 2 bằng 6, thêm 1 bằng 7, viết 7.

74

Với các bảng cộng khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó các em nắm được bảng cộng và vận dụng vào thực hiện tính cộng có nhớ trong phạm vi 100 nhanh nhất. Phép trừ : Các bài dạng 12 – 8 ; 32 – 8 ; 52 – 28 Ví dụ : Đối với bài 12 trừ đi một số : 12 – 8 Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ trả lời được kết quả 12 – 8 = 4. Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau : Viết phép tính theo cột dọc 12 –

Lưu Thị Hạnh

16

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 8 = 2 + 6), sau đó lấy 12 – 2 – 6 = 10 – 6 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện tính theo thao tác sau : 12 – 8 = (12 + 2) – (8 + 2) =

14

– 10 =

4

Đây là phát hiện cách trừ nhẩm giáo viên đưa ra để giúp học sinh tư duy nhanh : Muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ ; khi thêm vào số trừ bao nhiêu đơn vị để tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị. Với cách tính như vậy các em sẽ vận dụng vào làm được những bài tập khó hơn. Bài tập 1 (SGK/52) 9+3=

8+4=

7+5=

6+6=

3+9=

4+8=

5+7=

12 – 6 =

12 – 9 =

12 – 8 =

12 – 7 =

12 – 3 =

12 – 4 =

12 – 5 =

Trên cơ sở học thuộc bảng cộng và bảng trừ, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào phép tính. Thông qua đó các em điền đúng kết quả câu b. Dựa vào bảng trừ 12 trừ đi một số các em sẽ vận dụng và làm được các bài tập tiếp theo. Đối với bài 32 – 8 ; 52 – 28, giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng trừ 12 trừ đi một số để làm tính trừ Thực hiện 32 – 8 cách 1 : 32 –

* 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

Lưu Thị Hạnh

* 3 trừ 1 bằng 2, viết 2. 17

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Thực hiện 32 – 8 cách 2 nhẩm như sau : 32 – 8 = (32 + 2 ) – (8 + 2) =

34

10

= 24

* 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1. * 2 thêm 1 bằng 3, 5 trừ 3 bằng 2, viết 2.

Thực hiện 52 – 28 cách 2 nhẩm như sau : 52 – 28 = (52 + 2 ) – (28 + 2) =

54

30

= 24

Với các bảng trừ khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó các em nắm được bảng trừ và vận dụng vào thực hiện tính trừ có nhớ trong phạm vi 100 nhanh nhất. Phép nhân – chia: Trong chương trình môn Toán lớp 2, phép nhân và chia được học từ 2 đến 5. Đây là cơ sở ban đầu để các em tiếp cận với mạch kiến thức nhân – chia thông dụng trong tuyến kiến thức Toán học. Tôi chủ động cho các em nắm được quy luật của từng bài học rồi hướng dẫn các em cách học thuộc và nhớ lâu kiến thức của các bảng nhân – chia. Ví dụ : Bài bảng nhân 2 Trước tiên, giáo viên cho học sinh nắm 2 x 1 = 2 (2 được lấy 1 lần), tiếp đến là các phép nhân 2 x 2 = 4 ; 2 x 3 = 6. Từ kết quả của các phép nhân trên Lưu Thị Hạnh

18

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

giáo viên cho học sinh so sánh và nhận biết được tích của phép nhân liền kề hơn – kém nhau 2 đơn vị, rồi từ đó lập bảng nhân 2 thông qua cách trả lời câu hỏi 2 x 4 = 8 ; 2 x 5 = 10 ; …. 2 x 10 = 20. Sau đó, giáo viên cho học sinh làm các bài tập vận dụng : Bài 1,3 (SGK/95) Học sinh sẽ dễ dàng tính nhẩm nhanh kết quả sau khi các em đã học thuộc bảng nhân 2. Từ bảng nhân 2 học sinh sẽ điền đúng kết quả khi đếm thêm 2 đơn vị. Các bảng nhân khác, giáo viên cũng tiến hành hướng dẫn các em tương tự. Ví dụ : Bài bảng chia 2 Sau khi học sinh đã thuộc bảng nhân 2, giáo viên hướng dẫn các em lập bảng chia dựa vào bảng nhân. Khi các em đã nắm được phép nhân 2 x 6 = 12 thì các em sẽ trả lời được 12 : 2 = 6. Khi các em đã thuộc bảng chia 2 sẽ vận dụng vào làm được bài tập liên quan. * Tuyến kiến thức về giải toán có lời văn : Giải toán có lời văn được thực hiện chủ yếu là thực hành, luyện tập thường xuyên để ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong đời sống. Trong quá trình dạy giải toán cho học sinh tôi thường thực hiện như sau : – Gọi học sinh đọc đề bài 1, 2 lần. – Tìm hiểu đề bài toán thông qua hệ thống câu hỏi : Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ? Sau khi học sinh trả lời giáo viên tóm tắt bài toán lên bảng.

Lưu Thị Hạnh

19

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

– Trước khi giải bài toán giáo viên gọi 1,2 học sinh nêu lại các bước giải một bài toán. + Bước 1 : Ghi câu lời giải của bài toán + Bước 2 : Viết phép tính của bài toán + Bước 3 : Ghi đáp số bài toán – Tiếp theo, giáo viên gọi 1,2 học sinh lên bảng giải bài toán. Ví dụ : Bài 3 (SGK/30) Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu bạn trai ? – Sau khi gọi 2 em đọc lại đề bài, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp các em tìm hiểu đề bài toán. + Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. + Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai ? – Tiếp đến giáo viên tóm tắt bài toán bằng hình vẽ như sau : 15 học sinh Học sinh gái 3 học sinh Học sinh trai ? học sinh – Sau khi các em đã nắm được nội dung của bài toán, thông qua tóm tắt tôi hỏi học sinh 1 số câu hỏi gợi mở : + Bài toán này thuộc dạng toán nào đã học ? + Bài toán thuộc dạng toán ít hơn. Lưu Thị Hạnh

20

Trường Tiểu học Hà Huy Tập