Top 13 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Trà / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà / 2023

BGH luôn thực hiện đúng theo các văn bản chỉ đạo của ngành dọc cấp trên và sự chỉ đạo, lãnh đạo của HĐND, UBND huyện và UBND xã. BGH kết hợp với tổ chuyên môn (TCM) chỉ đạo giáo viên (GV) giảng dạy thực hiện đúng quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về chương trình, nội dung kế hoạch giảng dạy;

BGH xây dựng kế hoạch chung của nhà trường ngay từ đầu năm học trong đó xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục đại trà là nhiệm vụ quan trọng của toàn trường. Nhiệm vụ đó được đặt ra trong kế hoạch của nhà trường, của tổ chuyên môn cũng như của từng giáo viên bộ môn (GVBM);

BGH kết hợp với các TCM làm tốt công tác bồi dưỡng GV, đánh giá GV và quản lý toàn diện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của GV; tăng cường thanh tra chuyên môn đối với GV nhà trường, tổ chức tốt Hội nghị cán bộ công chức hàng năm nhằm động viên cán bộ giáo viên (CBGV) đăng ký các danh hiệu thi đua các cấp và làm sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu khoa học.

Chỉ đạo các TCM nghiêm túc thực hiện sinh hoạt tổ 2 đợt/tháng, tập trung vào đổi mới phương pháp giảng dạy, giảng dạy theo chuẩn kiến thức kỹ năng, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học, sử dụng đồ dùng nhằm làm cho HS hiểu bài, nắm bài dễ dàng hơn.

Phát động các đợt thi đua, hội giảng lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn như 26/3, 20/11, 22/12… đồng thời qua hội giảng giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tạo điều kiện thuận lợi cho CBGV tham gia học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị.

Chỉ đạo đánh giá xếp loại CBGV hàng tháng, theo học kỳ và năm học theo đúng quy định; làm tốt công tác công khai, dân chủ trong trường học, phát huy tính sáng tạo trong nhà trường, tạo sự phấn khởi cho GV trước công việc được giao; chỉ đạo GV ôn tập cho HS trước mỗi kỳ thi; tổ chức khảo sát định kỳ, coi thi, chấm thi nghiêm túc theo đúng quy định và đánh giá xếp loại học sinh theo đúng quy chế của ngành.

Với Tổ chuyên môn

TCM có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của BGH nhà trường; thường xuyên giám sát, kiểm tra GV việc giảng dạy thực hiện đúng quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về chương trình, nội dung kế hoạch giảng dạy; tham gia chỉ đạo và trực tiếp giám sát GV làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kém;

Giám sát GV nghiêm túc thực hiện việc dạy thêm theo đúng quy định, theo nguyện vọng của phụ huynh và HS; tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà và mũi nhọn, giáo dục đạo đức xây dựng nếp sống mới cho HS, góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

TCM chỉ đạo các thành viên duy trì nghiêm túc kỷ cương nề nếp cơ quan; xây dựng được tiêu chuẩn xếp loại thi đua hàng tháng đối với các tổ viên phù hợp.

Các tổ kết hợp với Công đoàn nhà trường làm tốt công tác chăm lo đời sống cho tổ viên, động viên GV hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thực hiện tốt quy định về đạo đức nhà giáo… nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, trau dồi đạo đức nghề nghiệp, rèn luyện lối sống, tác phong, giữ gìn bảo vệ truyền thống nhà giáo.

TCM chỉ đạo thực hiện và động viên GV tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng các giờ dạy hàng ngày; làm tốt công tác động viên, khích lệ GV tích cực tham gia phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, các đợt hội giảng do nhà trường phát động;

Chỉ đạo góp ý thiết kế bài dạy và rút kinh nghiệm cho đồng nghiệp trong các giờ hội giảng, các giờ thi giáo viên dạy giỏi các cấp, thi sử dụng thiết bị đồ dùng, thi sáng tạo… đạt kết quả tốt;

TCM hướng dẫn GV xây dựng nội dung chương trình ôn tập cho HS trước các kỳ thi; giám sát, kiểm tra GV thực hiện chấm thi nghiêm túc theo đúng quy định và đánh giá xếp loại HS theo đúng quy chế của ngành.

Với giáo viên bộ môn

GVBM xây dựng kế hoạch cá nhân trong nội dung chương trình môn mình giảng dạy đúng với quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT; thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, đổi mới cách soạn bài, áp dụng tốt các phương tiện và phương pháp dạy học tích cực để từng bước nâng cao hiệu quả giờ dạy.

Nâng cao chất lượng các giờ dạy bằng cách đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng lứa tuổi và từng đối tượng HS ở những lớp mình giảng dạy; thường xuyên bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ qua các khóa học, lớp học chuyên môn của ngành hoặc tự học qua các tài liệu, qua các giờ dạy của đồng nghiệp, qua các tiết dạy của bản thân được đồng nghiệp rút kinh nghiệm hoặc tự rút kinh nghiệm.

GVBM chuẩn bị kỹ nội dung bài trước khi lên lớp, xác định đúng mục đích yêu cầu, trọng tâm của bài để khắc sâu kiến thức cơ bản, các kĩ năng cần thiết cho HS.

Thường xuyên liên hệ với thực tế, ứng dụng CNTT vào các giờ dạy, kết hợp tốt các phương pháp dạy học để tăng tính hứng thú của học sinh, tạo sự phấn khởi và niềm yêu thích môn học.

Với các tiết luyện tập cần có phương pháp giải phù hợp, định hướng với từng loại bài tập, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra (tránh cách nghĩ chủ quan đơn giản chỉ chọn chữa bài khó bỏ qua bài dễ); hướng HS tìm ra các phương thức tổng quát, cách giải với từng kiểu đề bài giúp HS nắm vững lý thuyết, biết vận dụng vào thực hành và có hứng thú học tập.

GVBM cần nhớ từng đối tượng HS trong lớp mình giảng dạy, hiểu tâm lý, lực học từng em để có cách dạy, giao bài tập sao cho phù hợp. Trong bài giảng cần có cử chỉ, ánh mắt, giọng nói bộc lộ sự tự tin vào kiến thức, quan tâm đều đến tất cả các em tạo sức hút cho bài giảng và tạo được không khí học tập thân thiện, tích cực.

GVBM chủ động ôn tập cho HS trước các kỳ thi; cho HS tập dượt nhiều dạng bài bám sát với kiến thức cơ bản cũng như một phần nâng cao với đối tượng khá giỏi; cho HS nghiêm túc chấm điểm bài làm của mình hoặc chấm bài của bạn, dưới sự hướng dẫn của GV; cho HS đánh giá đúng thực chất lực học bản thân để tự rút ra kinh nghiệm và cố gắng trong những đợt kiểm tra, các kỳ thi.

GVBM nghiêm túc thực hiện việc ra đề, coi kiểm tra đến việc chấm, chữa bài cho HS; khi chấm chú ý chỉ ra những lỗi sai và hướng dẫn cho HS tự sửa từ các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết đến các bài thi định kỳ và kiểm tra học kỳ; không nên lấy điểm số làm áp lực với các em; tạo điều kiện thuận lợi để HS mạnh dạn thể hiện bản thân, sửa chữa nhược điểm; chấm và công bố điểm phải khách quan, công bằng tạo không khí thi đua trong học tập với HS.

GVBM luôn phối hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm (GVCN) và phụ huynh học sinh (PHHS) để trao đổi thông tin và có những phương pháp giáo dục hiệu quả; luôn biết động viên, khích lệ với những tiến bộ dù nhỏ của các em. Với những HS cá biệt phải có cách hướng dẫn, uốn nắn các em kịp thời.

Với giáo viên chủ nhiệm

GVCN làm tốt nhiệm vụ chủ nhiệm lớp (theo Điều lệ trường THCS ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Mỗi GVCN phải là một nhà tâm lý để hiểu, quan tâm, động viên, khích lệ kịp thời đối với những tiến bộ của HS trong lớp (từ những tiến bộ dù là nhỏ nhất); là một người bạn thực sự để HS chia sẻ những tâm sự; là một người thân luôn bên cạnh các em để có những lời khuyên giúp các em tháo gỡ và giải quyết những khó khăn, khúc mắc trong học tập cũng như trong cuộc sống. Từ đó sẽ tạo nên cơ sở nền tảng chất lượng giáo dục đại trà đi vào thực chất và bền vững.

GVCN hướng dẫn, khích lệ cho HS giúp đỡ bạn trong học tập; chỉ đạo HS học nhóm, cho HS chọn nhóm bạn, đôi bạn “cùng tiến” và phân công bạn có lực học khá giỏi giúp đỡ bạn yếu kém; luôn tạo không khí học tập vui vẻ, thân thiện, hiệu quả trong lớp.

Với học sinh

HS thực hiện nhiệm vụ của học sinh (Điều 38 – Điều lệ trường THCS ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

HS nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường; xác định rõ động cơ, mục đích học tập và luôn có ý thức phấn đấu; tiếp thu kiến thức tích cực; luôn tìm tòi, sáng tạo trong học tập; học tập chăm chỉ và yêu thích tất cả các môn học.

HS thực hiện nghiêm túc những quy định của GVBM về việc làm bài tập ở lớp và ở nhà; thực hiện những quy định về điểm kiểm tra miệng, các bài kiểm tra viết do GVMB yêu cầu; nghiêm túc thực hiện chống tiêu cực trong kiểm tra, thi cử… do nhà trường đề ra để có được những kết quả kiểm tra thực chất.

Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học / 2023

Những chuyển biến tích cực về chất lượng giáo dục đại học

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2017, cả nước có 235 trường đại học, bao gồm 170 trường công lập và 65 trường ngoài công lập. Mạng lưới các trường đại học phát triển rộng khắp cả nước, đa dạng về loại hình, cấp bậc, ngành nghề đào tạo.

quy mô đào tạo, trong 3 năm trở lại đây, số lượng sinh viên đại học có xu hướng giảm. Năm học 2017- 2018, số sinh viên đại học là 1,7 triệu người, giảm 72.000 người so với năm học 2016-2017. Năm học 2018- 2019, số lượng sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp (trong đó, chỉ tính sinh viên cao đẳng và trung cấp sư phạm) là 1,5 triệu người (giảm so với năm học 2017-2018 là 200.000 người). Số lượng sinh viên đại học giảm cho thấy đã có sự chuyển biến về nhận thức của sinh viên trong việc lựa chọn ngành nghề và sự hấp dẫn ngày càng lớn của các cơ sở đào tạo nghề khi học viên vừa học vừa thực hành tại doanh nghiệp được cam kết có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp.

Ngược lại với sự giảm sút về số lượng sinh viên đại học, chất lượng GDĐH được nâng lên, thể hiện qua số sinh viên tốt nghiệp ra trường tăng và tỷ lệ lao động có việc làm theo trình độ chuyên môn đại học trở lên tăng cao. Năm 2017, cả nước có 319,5 nghìn sinh viên tốt nghiệp đại học, tăng 4,6% so với năm 2016. Tỷ lệ lao động có việc làm theo trình độ chuyên môn đại học trở lên năm 2016 là 90% và năm 2017 là 93%.

Để nâng cao chất lượng đào tạo, những năm qua, ngành giáo dục đã chỉ đạo các cơ sở GDĐH chủ động đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực, tăng cường kỹ năng ứng dụng và thực hành… C ác cơ sở đào tạo thực hiện gắn đào tạo v ới thị trường lao độn g, chủ động nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp hoặc phát t r iển chương t r ình đào tạo có sự tham g ia của các doanh nghiệp bảo đảm chất lượng đầu ra.

Theo đó, các trường GDĐH đã triển khai chương trình tiên tiến, chương trình chất lượng cao chuyển giao từ các nước phát triển để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Năm 2018, các trường đại học trên cả nước triển khai được 37 chương trình tiên tiến và khoảng 250 chương trình đào tạo chất lượng cao. Đội ngũ giáo viên đại học tăng cả về số lượng và chất lượng. Theo Tổng cục Thống kê, trong 7 năm (từ năm 2010-2017), số lượng giáo viên đại học tăng thêm 24 nghìn người. Số lượng giáo viên có trình độ chuyên môn trên đại học tăng thêm 34 nghìn người. Việc giảm khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành trong đào tạo thông qua thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo sinh viên có nhiều chuyển biến về chất lượng sinh viên tốt nghiệp đại học. Tỷ lệ sinh viên khởi nghiệp trong các nhà trường hiện chiếm khoảng 15% và đang có chiều hướng tăng về số lượng, cải thiện về chất lượng.

Cùng với đào tạo, công tác nghiên cứu khoa học của các trường đại học cũng đạt nhiều kết quả tích cực. Theo Báo cáo Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2016, khu vực các trường đại học đóng góp hơn 50% tổng số nhân lực khoa học công nghệ trong cả nước. Năm 2017, trong các cơ sở GDĐH đã có 945 nhóm nghiên cứu. Số lượng các công bố, đặc biệt là công bố quốc tế và ảnh hưởng khoa học thể hiện qua mức độ được trích dẫn tăng mạnh. Chỉ tính riêng công bố quốc tế của 30 trường đại học hàng đầu Việt Nam từ năm 2017 đến tháng 6/2018 đã đạt 10,5 nghìn bài, bằng tất cả công bố trên toàn quốc giai đoạn 5 năm (từ năm 2011-2015).

Ngoài ra, hoạt động tự chủ đại học cũng đã được đẩy mạnh. Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết số 77/NQ-CP của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017 đã có 23 cơ sở GDĐH thí điểm thành công, có sự phát triển, lan tỏa giúp toàn hệ thống GDĐH chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chất lượng hoạt động, tiến tới tự chủ đại học.

tác kiểm định chất lượng được tăng cường. Số lượng các cơ sở GDĐH đạt tiêu chuẩn kiểm định quốc tế và trong nước tăng lên. Năm 2018, cả nước có khoảng 90 cơ sở GDĐH được công nhận bởi tổ chức kiểm định trong nước và 5 cơ sở GDĐH được công nhận bởi tổ chức đánh giá/kiểm định quốc tế. Bên cạnh đó, có 112 chương trình đào tạo đại học đã được đánh giá và công nhận, gồm 8 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước; 104 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

Có thể thấy, trong nhiều năm đổi mới, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học của Việt Nam đã có chuyển biến tích cực. Vị thế các trường đại học Việt Nam trong bảng xếp hạng châu Á được nâng cao. Theo Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2017-2018, Việt Nam xếp hạng 84/137 quốc gia về chất lượng hệ thống giáo dục đại học và 79/137 quốc gia về khả năng đổi mới. Chỉ có hai trường đại học V iệt Nam nằ m trong top 1.000 trường trên thế giới (ĐH Quốc gia Hà Nội; ĐH Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh).

Bên cạnh đó, các trường đại học nỗ lực nâng hạng. Theo kết quả xếp hạng 505 trường đại học tốt nhất châu Á năm 2019 do tổ chức giáo dục Quacquarelli Symonds (QS) của Anh thực hiện, Việt Nam có 7 trường đại học lọt top. Đó là Đại học Quốc gia Hà Nội (xếp hạng 124), Đại học Quốc gia TP HCM (144), Đại học Bách khoa Hà Nội (nhóm 261-270), Đại học Tôn Đức Thắng (nhóm 291-300), Đại học Cần Thơ (nhóm 351-400), Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng (nhóm 451-500).

Vẫn còn nhiều khó khăn

Mặc dù GDĐH thời gian qua đã có chuyển biến tích cực, song chất lượng GDĐH vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra. Nhiều cơ sở GDĐH chất lượng đào tạo chưa cao, nhất là đào tạo sau đại học, liên kết, liên thông… Hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phục vụ cộng đồng còn hạn chế khi số lượng công trình, bài báo, các phát minh, sáng chế chưa tương xứng với tiềm năng. Một số trường đại học sau thời gian hoạt động vẫn chưa đủ các điều kiện bảo đảm chất lượng theo đề án thành lập trường. Việc thành lập trường, mở ngành, xác định chỉ tiêu tuyển sinh… chủ yếu dựa trên năng lực của cơ sở đào tạo, chưa bám sát nhu cầu thị trường lao động… Cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, chất lượng đào tạo hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Việc triển khai đào tạo chất lượng cao trình độ đại học không đồng đều, chủ yếu tập trung ở những trường đại học lớn trong khi các trường đại học do địa phương quản lý còn chậm được triển khai.

Cơ sở pháp lý về tự chủ đại học chưa vững chắc và thiếu đồng bộ nên việc triển khai còn nhiều lúng túng, chưa thống nhất; một số nội dung cam kết của Chính phủ (theo tinh thần của Nghị quyết 77) chưa được thực hiện (như: Cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, hỗ trợ lãi suất vay) gây khó khăn cho nhiều cơ sở GDĐH. Tự chủ chưa gắn liền với đổi mới quản trị đại học và trách nhiệm giải trình xã hội.

Bên cạnh đó, nguồn tài chính chưa nhiều, chi phí thấp, cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm nghèo nàn, chưa tạo môi trường làm việc cho các nhà khoa học giỏi; Chính sách khuyến khích và thúc đẩy đầu tư từ khu vực tư nhân chưa đồng bộ, chưa đủ mạnh để tạo cơ chế thúc đẩy sự bình đẳng giữa các trường thuộc khối công lập và ngoài công lập cũng như đáp ứng yêu cầu cạnh tranh về chất lượng với các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn.

Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học

Để giải quyết những vấn đề đặt ra đối với GDĐH hiện nay, hệ thống GDĐH Việt Nam trong thời gian tới tập trung vào các giải pháp như:

hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển GDĐH, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học; các quy định tự chủ đối với các cơ sở GDĐH công lập; quy hoạch mạng lưới các cơ sở GDĐH và đào tạo giáo viên theo các quy chuẩn chất lượng, phù hợp với Nghị quyết 19-NQ/TW và Luật Quy hoạch; xây dựng Chiến lược tổng thể phát triển GDĐH giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2035; kế hoạch và giải pháp tăng cường số lượng các trường đại học Việt Nam có mặt trong các bảng xếp hạng quốc tế.

Nhà nước cần khuyến khích các doanh nghiệp liên kết, đầu tư, hỗ trợ các trường đại học theo hình thức đặt hàng; đẩy mạnh hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục với việc tập trung kiểm định chương trình đào tạo.

tăng cường đầu tư, đổi mới cơ chế tài chính GDĐH, các trường tự xác định mức học phí tương xứng với chất lượng đào tạo; ưu tiên đầu tư ngân sách để phát triển một số cơ sở GDĐH, ngành đào tạo mang tầm khu vực, quốc tế và cơ sở đào tạo giáo viên chất lượng cao; phát triển một số ngành, vùng đặc thù để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; có cơ chế phân bổ nguồn lực cho GDĐH theo nguyên tắc cạnh t r anh, bình đẳng, hiệu quả…

đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu của thị trường, phát triển tư duy sáng tạo của học viên; quản lý chất lượng tổng thể bao gồm: Quản lý các điều kiện đầu vào, quản lý quá trình đào tạo và quản lý chất lượng đầu ra phù hợp với khung trình độ quốc gia; triển khai các giải pháp nâng cao khả năng có việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp. Công bố các điều kiện đảm bảo chất lượng, tỷ lệ có việc làm của sinh viên tốt nghiệp, các sản phẩm khoa học công nghệ của trường.

nâng cao chất lượng hình thành đội ngũ giảng viên năng động, cập nhật kiến thức chuyên môn, khả năng ngoại ngữ và tin học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quá trình hội nhập quốc tế, tạo ra những”sản phẩm” có chất lượng, đáp ứng thị trường lao động trong và ngoài nước./.

Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà / 2023

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đại trà

Chất lượng giáo dục là chất lượng sản phẩm của giáo dục. Mà sản phẩm của giáo dục và đào tạo lại chính là học sinh. Nói cụ thể thì chất lượng của giáo dục là đào tạo ra các thế hệ học sinh vừa phải có đư ợ c các kiến thức kỹ năng cơ bản, có các chuẩn mực về thái độ sau một quá trình học.

* Để làm tốt công tác này cần phải phối hợp chặt chẻ của tất cả các bộ phận chức năng.

Với Tổ chuyên môn

TCM có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của BGH nhà trường; thường xuyên giám sát, kiểm tra GV việc giảng dạy thực hiện đúng quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về chương trình, nội dung kế hoạch giảng dạy; tham gia chỉ đạo và trực tiếp giám sát GV làm tốt công tác phụ đạo học sinh yếu, kém; giám sát GV nghiêm túc thực hiện việc dạy thêm theo đúng quy định, theo nguyện vọng của phụ huynh và HS; tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà và giáo dục đạo đức xây dựng nếp sống mới cho HS, góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

TCM chỉ đạo các thành viên duy trì nghiêm túc kỷ cương nề nếp dự giờ đồng nghiệp, thực tập thao giảng, Khuyến kích GV tự làm đồ dùng dạy học, thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học. thực hiện tốt quy định về đạo đức nhà giáo nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, trau dồi đạo đức nghề nghiệp, rèn luyện lối sống, tác phong, giữ gìn bảo vệ truyền thống nhà giáo.

TCM chỉ đạo thực hiện và động viên GV tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng các giờ dạy hàng ngày; làm tốt công tác động viên, khích lệ GV tích cực tham gia phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, các đợt hội giảng do nhà trường phát động; chỉ đạo góp ý thiết kế bài dạy và rút kinh nghiệm cho đồng nghiệp trong các giờ hội giảng.

Với giáo viên bộ môn

GVBM xây dựng kế hoạch cá nhân trong nội dung chương trình môn mình giảng dạy đúng với quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT; thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, đổi mới cách soạn bài, áp dụng tốt các phương tiện và phương pháp dạy học tích cực để từng bước nâng cao hiệu quả giờ dạy. Nâng cao chất lượng các giờ dạy bằng cách đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng lứa tuổi và từng đối tượng HS ở những lớp mình giảng dạy; thường xuyên bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ qua các khóa học, lớp học chuyên môn của ngành hoặc tự học qua các tài liệu, qua các giờ dạy của đồng nghiệp, qua các tiết dạy của bản thân được đồng nghiệp rút kinh nghiệm hoặc tự rút kinh nghiệm.

GVBM chuẩn bị kỹ nội dung bài trước khi lên lớp, xác định đúng mục đích yêu cầu, trọng tâm của bài để khắc sâu kiến thức cơ bản, các kĩ năng cần thiết cho HS. Thường xuyên liên hệ với thực tế, ứng dụng CNTT vào các giờ dạy, kết hợp tốt các phương pháp dạy học để tăng tính hứng thú của học sinh, tạo sự phấn khởi và niềm yêu thích môn học. Với các tiết luyện tập cần có phương pháp giải phù hợp, định hướng với từng loại bài tập, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra ( tránh cách nghĩ chủ quan đơn giản chỉ chọn chữa bài khó bỏ qua bài dễ); hướng HS tìm ra các phương thức tổng quát, cách giải với từng kiểu đề bài giúp HS nắm vững lý thuyết, biết vận dụng vào thực hành và có hứng thú học tập.

GVBM cần nhớ từng đối tượng HS trong lớp mình giảng dạy, hiểu tâm lý, lực học từng em để có cách dạy, giao bài tập sao cho phù hợp. Trong bài giảng cần có cử chỉ, ánh mắt, giọng nói bộc lộ sự tự tin vào kiến thức, quan tâm đều đến tất cả các em tạo sức hút cho bài giảng và tạo được không khí học tập thân thiện, tích cực.

GVBM chủ động ôn tập cho HS trước các kỳ thi; cho HS tập luyện nhiều dạng bài bám sát với kiến thức cơ bản cũng như một phần nâng cao với đối tượng khá giỏi; cho HS nghiêm túc chấm điểm bài làm của mình hoặc chấm bài của bạn, dưới sự hướng dẫn của GV; cho HS đánh giá đúng thực chất lực học bản thân để tự rút ra kinh nghiệm và cố gắng trong những đợt kiểm tra, các kỳ thi.

GVBM nghiêm túc thực hiện việc ra đề, coi kiểm tra đến việc chấm, chữa bài cho HS; khi chấm chú ý chỉ ra những lỗi sai và hướng dẫn cho HS tự sửa từ các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết đến các bài thi định kỳ và kiểm tra học kỳ; không nên lấy điểm số làm áp lực với các em; tạo điều kiện thuận lợi để HS mạnh dạn thể hiện bản thân, sửa chữa nhược điểm; chấm và công bố điểm phải khách quan, công bằng tạo không khí thi đua trong học tập với HS.

GVBM luôn phối hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh để trao đổi thông tin và có những phương pháp giáo dục hiệu quả; luôn biết động viên, khích lệ với những tiến bộ dù rất nhỏ của các em. Với những HS cá biệt phải động viên tâm tình gần gủi có cách hướng dẫn, uốn nắn các em kịp thời.

Đối với GV trẻ tuổi nghề còn ít phải tăng cương thường xuyên dự giờ đồng nghiệp để học hỏi kinh nghiệm.

Với giáo viên chủ nhiệm

GVCN làm tốt nhiệm vụ chủ nhiệm lớp .

Mỗi GVCN phải là một nhà tâm lý để hiểu, quan tâm, động viên, khích lệ kịp thời đối với những tiến bộ của HS trong lớp (từ những tiến bộ dù là nhỏ nhất); là một người bạn thực sự để HS chia sẻ những tâm sự; là một người thân luôn bên cạnh các em để có những lời khuyên giúp các em tháo gỡ và giải quyết những khó khăn, khúc mắc trong học tập cũng như trong cuộc sống. Từ đó sẽ tạo nên cơ sở nền tảng chất lượng giáo dục đại trà đi vào thực chất và bền vững.

GVCN hướng dẫn, khích lệ cho HS giúp đỡ bạn trong học tập; chỉ đạo HS học nhóm, cho HS chọn nhóm bạn, đôi bạn “cùng tiến” và phân công bạn có lực học khá giỏi giúp đỡ bạn yếu kém; luôn tạo không khí học tập vui vẻ, thân thiện, hiệu quả trong lớp.

GVCN áp dụng các tiết dạy hoạt động ngoài giờ lớp lớp để giáo dục đạo đức và dạy kỷ năng sống cho học sinh để khuyến khích học sinh tránh xa các tệ nạn xã hội. Đối với các học sinh hay trốn học đi đánh điện tử GVCN phải kết hợp với GVBM,TPTĐ, nhà trường,gia đình theo giỏi giờ giấc học buổi sáng và buổi chiều để kịp thời uốn nắn và ngăn chặn các em.

Với học sinh

HS thực hiện nhiệm vụ của học .

HS nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường; xác định rõ động cơ, mục đích học tập và luôn có ý thức phấn đấu; tiếp thu kiến thức tích cực; luôn tìm tòi, sáng tạo trong học tập; học tập chăm chỉ và yêu thích tất cả các môn học.

HS thực hiện nghiêm túc những quy định của GVBM về việc làm bài tập ở lớp và ở nhà; thực hiện những quy định về điểm kiểm tra miệng, các bài kiểm tra viết do GVMB yêu cầu; nghiêm túc thực hiện chống tiêu cực trong kiểm tra, thi cử do nhà trường đề ra để có được những kết quả kiểm tra thực chất.

Người viết Hoàng Thị Liên

7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học / 2023

Sinh viên trong lễ tốt nghiệp.

Thứ nhất: về việc chuẩn hóa hệ thống, Bộ GD-ĐT sẽ thực hiện từ tên gọi thống nhất của các cơ sở giáo dục đại học đến trình độ đào tạo phù hợp với khung năng lực tham chiếu Asean. Cụ thể, chuẩn hóa tên gọi các cơ sở giáo dục đại học bằng tiếng nước ngoài.Sắp xếp lại hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề. Trước mắt, thống nhất trình độ trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề thành trung cấp nghề nghiệp và trình độ đào tạo này đã được đưa vào dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp trình Quốc hội thông qua trong thời gian sắp tới.

Thực hiện Luật Giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục đại học nước ta cần phân thành 3 nhóm: Trường ĐH theo định hướng nghiên cứu, trường ĐH theo định hướng ứng dụng và các trường cao đẳng thực hành nghề nghiệp) và thực hiện xếp hạng trong từng nhóm.

Thứ hai:Kiểm định chất lượng đào tạo bao gồm kiểm định chất lượng chương trình và kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học. Bộ GD&ĐT đã thành lập 2 Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục trực thuộc 2 ĐHQG.

Để kiểm định chất lượng của tất cả các cơ sở giáo dục đại học trong cả nước, trong thời gian tới, Bộ GD&ĐT cho biết cần thành lập thêm một số trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục phân bố ở các vùng miền trong cả nước.

Thứ ba: Đổi mới chương trình đào tạo, phát triển chương trình chất lượng cao. Trước hết, các trường được tự chủ trong xây dựng chương trình đào tạo, chủ động lựa trong lựa chọn hệ thống giáo trình phục vụ giảng dạy.Các trường có thể xây dựng chương trình chất lượng cao với mức thu học phí tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo với chất lượng tương ứng.

Thứ tư: Đổi mới công tác tuyển sinh

Thực hiện Luật Giáo dục đại học và Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các trường thực hiện quyền tự chủ tuyển sinh. Các trường phải gửi Đề án tự chủ tuyển sinh cho Bộ GD&ĐT trước ngày 30/9/2014 để thực hiện tự chủ tuyển sinh trong năm tới. Dự kiến từ năm 2015 trở đi, Bộ GD&ĐT sẽ tập trung tổ chức kỳ thi quốc gia nhằm 2 mục đích: Xét tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ.

Dự thảo đề án kỳ thi quốc gia đã được đưa ra lấy ý kiến dư luận rộng rãi. Trên cơ sở thống nhất ý kiến về kỳ thi quốc gia, Bộ GD&ĐT yêu cầu các trường ĐH, CĐ cần xem việc tham gia tổ chức kỳ thi như là nhiệm vụ của mình để phối hợp với các Sở GD&ĐT thực hiện kỳ thi nghiêm túc.

Đồng thời, đề nghị các trường cũng cân nhắc, lựa chọn phương thức tuyển sinh vào các ngành nghề khác nhau của trường mình một cách phù hợp nhất để đảm bảo mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo.

Thứ năm:Củng cố hệ thống quản trị đại học. Hiện nay, Bộ GD&ĐT đang hoàn thiện phiên bản cuối cùng Điều lệ trường ĐH trên nền tảng của Luật GD ĐH và các quy định hiện hành.Luật GD ĐH quy định việc thành lập Hội đồng trường đối với các cơ sở GD ĐH công lập và đảm bảo quyền lực của Hội đồng này trong mọi hoạt động của nhà trường.

Đối với những cơ sở GD ĐH ngoài công lập, các quy định hiện hành phù hợp với điều kiện Việt Nam. Các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay tạo sự hài hòa giữa lợi ích của nhà đầu tư và mục tiêu giáo dục và đào tạo. Cơ sở giáo dục phi lợi nhuận theo đúng nghĩa là cơ sở giáo dục của xã hội tự sở hữu chính mình, không ai là chủ sở hữu. Vì vậy tất cả lợi nhuận có được sẽ được tái đầu tư để phát triển nhà trường.

Mô hình như vậy hiện nay khó hiện thực ở nước ta. Vì vậy Luật GD ĐH đã xác định trường đại học tư thục không vì lợi nhuận khi không chia lợi nhuận hay chia nhưng không quá mức lãi của trái phiếu chính phủ. Nhà đầu tư vẫn là chủ sở hữu của nhà trường. Khung pháp lý hiện nay đủ để các trường ngoài công lập hoạt động.

Việc bồi dưỡng kinh nghiệm quản trị đại học cũng cần được thực hiện thường xuyên và có hiệu quả. Quy hoạch bồi dưỡng cán bộ trẻ, năng động và cơ cấu dần vào các vị trí quản lý để thử thách.

Các trường cần xây dựng kế hoạch gửi cán bộ quản lý có năng lực đi học tập công tác quản lý các trường ĐH nước ngoài. Nên phân biệt rạch ròi mục đích của thực tập chuyên môn và học tập quản lý.

Thứ sáu:Đổi mới cơ chế tài chính, đầu tư tập trung, đồng bộ và hiệu quả. Nhân rộng mô hình tự chủ tài chính của các trường ĐH công lập để có thêm nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo. Khuyến khích các trường công lập có đủ điều kiện đăng ký thực hiện tự chủ tài chính, tự chủ thu học phí.

Các cơ sở GD ĐH chấm dứt tình trạng xây dựng dự án đầu tư mà không nhằm mục tiêu rõ ràng, không nhắm đến hướng lâu dài. Dự án đầu tư cần nằm trong kế hoạch phát triển tổng thể của nhà trường trong trung hạn và dài hạn.

Đổi mới công tác tài chính để tạo động lực cho các trường cạnh tranh lành mạnh nâng cao hiệu quả đầu tư toàn hệ thống. Đầu tư trang thiết bị phải đi kèm với việc đào tạo cán bộ sử dụng, khai thác, bảo dưỡng. Chấm dứt tình trạng mua sắm trang thiết bị rồi mà không có người sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực đầu tư của Nhà nước.

Thứ bảy: Xây dựng mục tiêu chiến lược phát triển nhà trường. Mặc dù mục tiêu chiến lược phát triển các cơ sở GD ĐH đã được Bộ GD&ĐT yêu cầu công bố từ lâu nhưng một số trường cho đến nay vẫn chưa có bản kế hoạch hoàn chỉnh hoặc có nhưng chưa thể hiện được mục tiêu dài hạn cũng như kế hoạch phát triển trong từng giai đoạn.

Trên cơ sở Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT lần này, các trường cần có bản kế hoạch phát triển cụ thể.

Trong bản kế hoạch cần nêu rõ mục tiêu đào tạo, chất lượng đào tạo qua từng giai đoạn thể hiện rõ qua chuẩn đầu ra, quy mô sinh viên đi kèm với kế hoạch phát triển đội ngũ và CSVC tương ứng.