Top 8 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Thcs Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm Nhạc Thcs

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật sử dụng âm thanh để thể hiện tâm tư tình cảm của con người. Ngay từ xa xưa Âm nhạc đã gắn bó hoà quyện với đời sống con người từ lúc cất tiếng khóc chào đời tới khi lìa xa cuộc sống. Trong những năm qua, môn Âm nhạc đã tạo nên những bước thành công trong cải cách giáo dục và trong quá trình đổi mới giáo dục cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Âm nhạc được coi là môn học cần thiết để giáo dục con người phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách. Môn Âm nhạc trong thường THCS không nhằm đào tạo những người làm nghề âm nhạc, diễn viên, những nhạc sĩ, ca sĩ… Mà chính là thông qua môn học để tác động vào đời sống tinh thần của các em, góp phần cùng với các môn khác thực hiện mục tiêu của bậc Trung học cơ sở. Giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường phổ thông là một trong bốn mặt giáo dục quan trọng nhất: ” Đức – Trí – Thể – Mỹ “. Cái đẹp trong nghệ thuật âm nhạc xuất phát từ tác phẩm, từ nghệ thuật trình diễn tạo nên những hình tượng âm nhạc có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ làm rung động lòng người, hướng con người tới ” Chân – Thiện – Trí “. Cần phải giáo dục thị hiếu âm nhạc tốt cho học sinh để các em biết yêu thích âm nhạc lành mạnh, giàu tính nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc. Giáo dục thị hiếu âm nhạc tốt sẽ góp phần làm trong sáng tình cảm đạo đức, và làm phong phú đời sống tinh thần của các em trong hiện tại và tương lai. Ở nước ta ngày nay, giáo dục đã trở thành một hệ thống được tổ chức rộng khắp. Chúng ta đã đưa giáo dục nên hàng đầu, vì giáo dục đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Mở đường cho sự phát triển của kinh tế, trường học công nghệ, văn hoá, chính trị của đất nước. Đại học Đảng lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định : ” Phát triển giáo dục và trường học – công nghệ là quốc sách hàng đầu và xây dựng chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, xây dựng xã hội công bằng văn minh “. II. LỊCH SỬ ĐỀ TÀI :

H¹nh

Trang 1

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

PHẦN NỘI DUNG I. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA GIÁO DỤC ÂM NHẠC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI VÀ ĐỐI VỚI HỌC SINH THCS.

1.1. Vai trò của giáo dục Âm nhạc đối với đời sống con người. Âm nhạc là một môn nghệ thuật có sức mạnh vô cùng to lớn và phong phú trong việc thể hiện một cách tinh tế thế giới nội tâm của con người và đời sống xã hội. Nó phản ánh hiện thực khách quan bằng những hiện tượng có sự biểu cảm của âm thanh, âm nhạc vui hay buồn, hùng tráng hay sâu lắng … sẽ dấy lên những cảm xúc tương ứng ở con người. Âm nhạc có những nét đặc trưng riêng, không giống với các loại hình nghệ thuật khác. Hình tượng âm thanh của âm nhạc không mang ý nghĩa cụ thể rõ ràng như từ ngữ trong nghệ thuật văn chương, cũng không tái hiện tại thế giới khách quan bằng những bức tranh có đường nét bố cục chặt chẽ, có mảng màu phong phú trong hội hoạ. Âm nhạc có thế mạnh ở khả năng thể hiện rõ nội tâm của con người, những suy cảm hết sức tế nhị của nỗi đau, niềm vui, day dứt, suy tư, nghi ngờ, thất vọng, tin tưởng… đối với các sự vật hiện tượng và các mối quan hệ trong đời sống một cách đầy đủ và đa dạng, ý nghĩa tình cảm của Âm nhạc thực chất cũng chứa đựng cả ý nghĩa tư tưởng. Khi tác động trực tiếp vào lĩnh vực tình cảm của con người, âm nhạc có khả năng thống nhất con người cùng nỗi xúc động và trở thành phương tiện giao tiếp hết sức nhạy cảm giữa con người mà không cần tới ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ biểu cảm đặc biệt của Âm nhạc mà những con người từ khắp các phương trời, không cùng ngôn ngữ có thể có những hiểu biết về nhau. Âm nhạc tác động tới con người ngay từ khi mới sinh ra trong tiếng hát ầu ơ của mẹ tới khi giã từ cuộc đời. Tuy không trực tiếp nuôi dưỡng con người như : cơm ăn, nước uống, khí trời, cũng không làm ra của cải vật chất, nhưng Âm nhạc có sức mạnh làm cho con người nhận thức cuộc sống, giáo dục tâm hồn tình cảm và đem lại cho con người những rung cảm về cái đẹp. Sau mỗi ngày lao động mệt mỏi căng thẳng, Âm nhạc có tác động giải trí lành mạnh làm cho con người vui tươi thoải mái, phục hồi sức khoẻ nhanh chóng… Chính vì vậy mà Phu Xích người lãnh tụ của nhân dân lao động đã nói : ” Cuộc sống thiếu âm nhạc thì khác nào trái đất thiếu ánh nắng mặt trời “.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 2

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c 1.2. Vai trò của Âm nhạc đối với học sinh THCS. Âm nhạc giáo dục thẩm mĩ cho các em, giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp của sự vật hiện tượng xung quanh. Giáo dục thẩm mĩ Âm nhạc với nhiều thể loại nội dung khác nhau. Âm nhạc gợi cho các em tình yêu quê hương đất nước, tình yêu thương gắn bó quan tâm tới người thân, thầy cô và bạn bè, lòng biết ơn cho những người cống hiến cho Tổ quốc, cho dân tộc đem lại cho các em cảm xúc trữ tình và niềm tự hào dân tộc. Các em được hiểu biết về các dân tộc khác nhau nhen nhóm trong lòng trẻ tình hữu nghị quốc tế cộng đồng qua những giai điệu của một số bài hát hoặc trích đoạn tác phẩm Âm nhạc nước ngoài. Khi hoạt động Âm nhạc các em cùng nhau chia sẻ hình tượng Âm nhạc tính đồng cảm, tinh thần kỷ luật, ý thức tập thể hình thành rõ rệt. Sự phấn khởi tươi vui khi biểu diễn bài hát, sự tự tin trong các hoạt động hoà nhập cộng đồng. Khi tập hát học sinh tiếp thu đường nét giai điệu, tiết tấu, lời ca giản dị dễ hiểu gần gũi với cuộc sống. Qua đó giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, phát âm chính xác tiếng mẹ đẻ, nói biểu cảm và mở rộng vốn từ. Tóm lại : Giáo dục Âm nhạc tạo điều kiện phát triển chung cho nhân cách của học sinh, tạo điều kiện cho hoạt động tri thức cùng phát triển và hoàn thiện nhân cách và thể chất của học sinh. 1.3. Đặc điểm khả năng Âm nhạc của học sinh trường THCS. Âm nhạc trong xã hội chúng ta được nuôi dưỡng bằng cội nguồn vĩ đại của văn hoá Âm nhạc dân gian các dân tộc Việt Nam. Âm nhạc là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dục – thẩm mĩ cho học sinh, tạo cơ sở hình thành nhân cách con người mới Việt Nam. Tuy nhiên Âm nhạc trong nhà trường THCS với tư cách một môn học, có mức độ nhất định về mục đích và nội dung. Mục đích của việc dạy học Âm nhạc trong nhà trường THCS là nhằm giáo dục ” Văn hoá Âm nhạc ” cho các em, cung cấp những kiến thức cơ bản, các kỹ năng, tạo điều kiện cho khả năng cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật Âm nhạc, khơi dậy trong các em khả năng sáng tạo tình cảm đạo đức và niềm tin, thị hiếu nghệ thuật trong hoạt động Âm nhạc. Giáo dục thẩm mĩ thông qua dạy học Âm nhạc nhằm phát triển thẩm mĩ toàn vẹn của nhân cách học sinh, làm giàu nhân cách bằng trình độ thẩm mỹ nghệ thuật nói chung trong đó có Âm nhạc. Với sự hỗ trợ của dạy học Âm nhạc giúp học sinh phát triển những đặc trưng tâm lý của nhân cách : Tai nghe Âm

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 3

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 4

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY ÂM NHẠC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.

Âm nhạc ngày nay đã đi vào nhà trường phổ thông với tư cách một môn học độc lập. Nó là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho học sinh. Tạo cơ sở hình thành nhân cách cho các em. Mục đích của việc dạy học Âm nhạc trong nhà trường phổ thông là nhằm giáo dục văn hoá âm nhạc cho các em. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học Âm nhạc trong nhà trường là một vấn đề quan trọng để truyền tải tốt những nội dung văn hoá âm nhạc đến với học sinh. Đó là : + Những kiến thức cơ bản, các kỹ năng kỹ sảo, tạo điều kiện cho khả năng cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật Âm nhạc. + Khơi dậy các em khả năng sáng tạo trong hoạt động Âm nhạc. + Tình cảm đạo đức và niềm tin thị hiếu nghệ thuật và nhu cầu Âm nhạc của học sinh. Tinh thần cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học là lấy học sinh làm nhân vật trung tâm, người thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn bằng những câu hỏi có tính dẫn dắt, gợi mở học sinh chủ động, tích cực tham gia xây dựng bài sao cho nhiều học sinh được làm việc tốt nhất trong tiết học. Trong thực tế giảng dạy ở trường tôi nhận thấy có một số vấn đề cần quan tâm để thực hiện tốt phương pháp đổi mới dạy học là : 1. Nội dung bài soạn, kỹ năng truyền thụ kiến thức. * Chuẩn bị giáo án cần làm rõ : – Mục đích chuẩn bị giáo cần làm được của bài. – Những công việc cần chuẩn bị của giáo viên, của học sinh trước bài giảng – Những hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp. – Hệ thống câu hỏi kiểm tra kiến thức. – Hệ thống câu hỏi gợi mở phát huy trí lực. – Sắp xếp đồ dùng dạy học hợp lý. – Hệ thống câu hỏi luyện tập và củng cố kiến thức. – Hướng dẫn học sinh học bài ở nhà, chuẩn bị bài sau. Đề thực hiện tốt phương pháp dạy học, giáo viên cần chú trọng hơn về : – Hệ thống câu hỏi dẫn dắt, kiểm tra kiến thức. – Câu hỏi gợi mở, phát huy trí lực.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 5

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c – Lấy kiến thức đã học, đã biết để dạy cái chưa biết. Không nên dùng phương pháp diễn giải mà chủ yếu dùng phương pháp quy nạp để dạy lý thuyết âm nhạc. Thực tế của việc đổi mới phương pháp dạy học Âm nhạc là gây sự hứng thú say mê học tập của học sinh. Muốn lôi cuốn nhiều em tham gia vào bài học thì hệ thống câu hỏi trong bài giảng phải được coi trọng, dẫn dắt gợi mở, có sự sáng tạo giúp các em hiểu bài, nhạy cảm với Âm nhạc hơn. VD : Khi giới thiệu bài ” Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng” của Phạm Tuyên có thể có hệ thống câu hỏi như sau : + Bài hát này ra đời trong hoàn cảnh nào ? + Nó gắn bó với sự kiện lịch sử nào ? + Nội dung của bài hát nói lên điều gì ? + Em có nhận xét gì về tiết tấu của bài hát ? + Nhạc sĩ Phạm Tuyên viết những bài hát nào cho thiếu nhi mà em biết ? Hãy kể tên và hát một bài mà em thuộc. Khi các em trả lời tốt giáo viên cho điểm, khen ngợi … làm cho các em hào hứng hơn trong giờ học. Cần chú ý rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh với phương châm từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Không đọc chép nhiều. Đa dạng hoá không gian, hình thức các hoạt động dạy học như : xem biểu diễn nghệ thuật, học hát tập thể ngoài trời, thi văn nghệ trong trường, dạy học sinh sử dụng nhạc cụ và giới thiệu tranh ảnh Âm nhạc. Khi dạy không nhất thiết theo trình tự đề mục ở SGK, cần nhấn mạnh nội dung trọng tâm. Người thầy cần hiểu rõ đối tượng học sinh : học sinh ở thành phố thường nhạy cảm âm nhạc nhiều hơn. Để tránh nhàm chán người thầy cần lựa chọn nội dung, khối lượng và phương pháp truyền thụ thích hợp. Trong bài giảng cần có những ví dụ minh hoạ thật chọn lọc, mới lạ gây hứng phấn học tập cho các em. * Các bước của quy trình dạy giờ học hát. – Giáo viên chép nhạc và lời bài hát (hoặc treo bảng phụ có ghi sẵn), học sinh ghi vào vở. – Giáo viên giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung lời ca, đặc điểm âm nhạc, giá trị nghệ thuật của tác phẩm một cách ngắn gọn, dí dỏm và dùng tranh ảnh để minh hoạ.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 6

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c – Giáo viên đàn cho học sinh nghe hoặc mở băng 1 đến 2 lần toàn bộ bài để học sinh làm quen với tiết tấu, giai điệu cao độ, … của bài hát. – Giáo viên đàn hát mẫu. – Giáo viên phân đoạn, phân câu, đánh dấu lấy hơi, nhả lời rõ ràng. – Giáo viên lấy giọng theo tầm giọng của học sinh và cho học sinh luyện giọng, khởi động. Sau khi luyện giọng, khởi động đọc gam giáo viên bắt đầu dạy học sinh học hát. – Cho học sinh tập từng câu ngắn theo lối móc xích, hết câu này đến câu khác. Trong khi tập từng câu, giáo viên chú ý đến nhịp hoặc hát mẫu cho học sinh nghe giai điệu giáo viên chú ý vào chỗ khó trong bài để cho học sinh luyện tập nhiều. Chú ý sửa sai cho học sinh về cao độ, tiết tấu, về phát âm ngọng, luyến láy sai để đạt được yêu cầu chính xác về tiết tấu, giai điệu, lời ca. – Giáo viên tập cho học sinh nghe nhạc để bắt vào đúng nhịp, ngân nghỉ đúng chỗ. Giáo viên cho ghép từng câu thành từng đoạn, rồi cả bài yêu cầu vừa ghép, vừa gõ nhịp. Tiếp đó nâng yêu cầu phải thể hiện đúng sắc thái, tình cảm của bài hát. Tập cho học sinh các động tác minh hoạ và tập biểu diễn bài hát trước lớp. Sau khi học sinh đã chép thành bài, giáo viên tổ chức hát theo nhóm, tổ hoặc cá nhân. Xây dựng các bè hát đuổi, tạo nên một không khí thi đua sôi nổi trong giờ dạy học nói chung, giáo viên phải hát nói riêng và dạy học nói chung, giáo viên phải luôn động viên khích lệ học sinh bằng những lời khen, bằng điểm số. Tóm lại : Khi dạy phân môn này các giáo viên như trên, song có nên có chút thay đổi về giờ dạy học hiệu quả hơn và tích cực hơn. Thay vì giáo viên phân tích các ký hiệu Âm nhạc có trong bài, phân tích nhịp phách, … nên gợi ý để học sinh tự suy nghĩ và phát biểu. Thay việc giáo viên hát mẫu trước, hoặc cho nghe đài trước thì nên để học sinh tự phá bài. Việc hát mẫu của giáo viên hoặc cho nghe đài cuối giờ khi học sinh đã phá được bài. Lúc này nghe mẫu để sửa giọng hát, thể hiện sắc thái bài một cách trau chuốt và chính xác hơn.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 7

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c THIẾT KẾ BÀI DẠY CỤ THỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH ÂM NHẠC LỚP 9 BÀI 2 – TIẾT 4 HỌC HÁT : BÀI NỤ CƯỜI I. MỤC TIÊU.

+ Về kiến thức : Học sinh biết một bài hát của thiếu nhi nước Nga. + Về kỹ năng : Thể hiện được giai điệu rộn ràng trong sáng, tươi vui của bài hát ” Nụ Cười “. + Thái độ : Giáo dục tình cảm lạc quan, sự tin yêu cuộc sống và tình thân ái hữu nghị giữa thiếu nhi hai nước Việt – Nga. II. CHUẨN BỊ.

* Giáo viên : – Bản đồ thế giới, vị trí nước Nga trên bản đồ. – Một vài hình ảnh nước Nga (thủ đô Mát-xcơ-va, cung điện Krem-li, Quảng trường đỏ…) – Hát và đàn bài hát thành thạo. – Băng nhạc bài hát ” Nụ Cười “. * Học sinh : – Nghiên cứu nội dung bài hát trước. III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC. Nội dung

Hoạt động của giáo viên

1. Ổn định lớp. Nội dung 1 : Bài 2. Kiểm tra bài cũ (5 phút) ” Nụ Cười ” H : Hãy cho biết 1 vài bài hát phổ thơ Nhạc : Nga viết cho người lớn mà em biết ? Lời: Phạm Tuyên 3. Bài mới. * Hoạt động 1 : Giáo viên hướng dẫn Giới thiệu bài (10 Giáo viên thuyết trình : Chỉ bản đồ nước phút) Nga là một đất nước rộng lớn, có vị trí quan trọng trên thế giới. Thủ đô là Mátxcơ-va. Nước Nga là quê hương của cuộc cách mạng tháng mười vĩ đại với vị

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Hoạt động của học sinh

– Học sinh lên bảng trình bày.

– Học sinh khởi động giọng bằng một bài hát

Trang 8

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c lãnh tụ thiên tài Lê-Nin. Đây cũng là đất nước có một nền văn hoá cao với những tên tuổi lẫy lừng thế giới : Về văn học có Pus-Kin, Sê-Khốp, Lép Tôn – Xtôi, Goóc-Ki ; Về mĩ thuật có Lê-vi-tan ; Về âm nhạc có Trai-cốpxki, Prô-cô-phi-ep và nhiều danh nhân văn hoá nổi tiếng Việt Nam và Nga đã có quan hệ hữu nghị từ nhiều năm nay và ngày càng phát triển tốt đẹp. – Bài hát được viết ở nhịp 2/2 – Giáo viên giải thích rõ nhịp 2/2 H : Bài hát chia làm mấy đoạn ? – Giáo viên chia câu : Đ1 gồm 4 câu hát viết ở giọng đô trưởng. Đ2 gồm 4 câu hát chuyển sang giọng đô thứ. Đ1 giai điệu như một sự khẳng định, tin tưởng vào cuộc sống tốt đẹp, tính chất âm nhạc rộn ràng, lạc quan. Đ2 âm nhạc đi vào chiều sâu tình cảm, êm nhẹ hơn nhưng rõ ràng, dứt khoát song không kém phần tha thiết, như muốn nói lên lòng tin yêu cuộc sống, luôn hướng tới tương lai tươi đẹp, hạnh phúc. * Hoạt động 2: – Giáo viên đàn câu 1 (2 lần) Học hát từng câu (17 phút) – Giáo viên hát mẫu câu 1 – Giáo viên nhận xét, sửa sai – GV chú ý phần ngân nghỉ của kết từng câu hát. – Hướng dẫn học hát tương tự như câu 1 sau đó hát lối các câu theo lối móc xích.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

– Học sinh nhắc lại nhịp 2/2 – Chia làm 2 đoạn Đ1 : Từ đầu đến “cùng cất tiếng cười” Đ2 : Từ “để làn mây” đến “xoá nhoà”.

– Học sinh nghe và nhẩm theo. – HS cả lớp hát câu 1

Trang 9

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c * Hoạt động 3: – GV bắt nhịp. Ôn luyện bài hát (10 phút) – GV nhận xét, sửa sai. – GV chỉ định.

– Cá nhân hát. – Học sinh nhận xét. – HS thực hiện

– Giáo viên đàn giai điệu bài hát – HS hát hoàn chỉnh bài hát (lời 1) – HS sửa sai – HS tổ nhóm hát bài hát (lời 1) – HS nhận xét, sửa sai 4. Củng cố – dặn dò (3 phút) GV cho học sinh cả lớp hát hoàn chỉnh bài hát kết hợp vỗ tay theo phách. – H : Em rút ra điều gì cho mình qua bài hát này ? – Bài tập về nhà : + Chép bài hát vào vở. + Làm bài tập số 1 và 2 trong SGK

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

– HS nhẩm lời 2 – HS hát lời 2 – Hát hoàn chỉnh bài hát.

– Sống vui tươi chan hoà với mọi người, đoàn kết hữu nghị với các nước.

Trang 10

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

KẾT LUẬN Trong quá trình dạy học thì nội dung dạy học đã được quy định trong chương trình sách giáo khoa, còn phương pháp dạy học lại phụ thuộc nhiều vào khả năng, điều kiện cụ thể. Hoạt động sáng tạo của người giáo viên chủ yếu tìm tòi những phương pháp dạy học thích cho mỗi nội dung, phù hợp với từng lứa tuổi học sinh. Theo quan điểm trên, chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp thích hợp để có thể giải quyết được những vấn đề bất cập mà đề tài đề cập đến. Những giải pháp và một số ý kiến trên còn mang tính cá nhân, giải pháp được tôi thực hiện tại trường đã đạt kết quả tốt, nhưng cũng có ý kiến chỉ là ý tưởng, mong muốn sự đề xuất đó sẽ góp phần đạt được mục tiêu của đề tài đề ra. Cổ Am, ngày 17 tháng 11 năm 2008

Người thực hiện

§ç ThÞ H¹nh

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 11

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BẢN CAM KẾT I – TÁC GIẢ :

Họ và tên

:

§ç ThÞ H¹nh

Ngày 10 tháng 11 năm 1979. Đơn vị công tác : Trường THCS Cổ Am. Điện thoại

: 0904.811017.

II – SẢN PHẨM :

Tên sản phẩm : ” Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c ” III – CAM KẾT :

Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân tôi. Nếu có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ sản phẩm sáng kiến kinh nghiệm, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Sở GD & ĐT về tính trung thực của bản cam kết này. Ngày 17 tháng 11 năm 2008

Người cam kết

§ç ThÞ H¹nh

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 12

Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy

Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cáo Sơ Kết Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Chỉ Thị Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ , Đề án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nâng Cao Chất Lượng Chương Trình Cho Vay, Nâng Cao Chât Lượng Quản Lý Cấp Phòng, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn, Chỉ Thị Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bao Cao Ve Nang Cao Chat Luong Sinh Hjoat Chi Bo, Báo Cáo Sơ Kết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cao Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Đổi Mới Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Phương Pháp Quản Trị Chất Lượng, Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Chỉ Thị Mới Nhất Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tiếp Tục Đổi Mới Và Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục, Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Hướng Dẫn 12 Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Báo Cáo Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Doi Moi Va Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo Thon, Hướng Dẫn Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dcj, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoạt Chi Doan, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Mạng Lõi, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thpt, Phương Pháp 5s Trong Quản Lý Chất Lượng, Biên Bản Xác Định Tỷ Lệ Chất Lượng Còn Lại, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Nông Thôn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Mua ô Tô Dành Cho Khách Hàng Cá Nhân, Bài Tham Luận Tại Đại Hội Chi Bộ Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ,

Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học,

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Giáo Dục Thể Chất

Tìm hiểu sức khỏe và tâm lý của từng lứa tuổi

Theo những chuyên gia giảng dạy bộ môn này thì đây là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động thể dục thể thao , giúp hoạt động thể chất đạt hiệu quả cao . Đồng thời cũng tránh những tác dụng xấu có thể xảy ra.

Cần căn cứ vào đặc điểm giải phẫu, sinh lý của từng lứa tuổi, giới tính, hệ vận động, nội tạng, hệ thần kính… để có phương pháp hữu hiệu khi giảng dạy. Bên cạnh đó là đặc điểm phát triển tố chất cơ thể như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, linh hoạt, khéo léo của học sinh để có những bài tập, lượng vận động phù hợp…

Những yếu tố này sẽ giúp người học đã thay đổi nhận thức, tích cực tập luyện thể dục thể thao hơn, hứng thú và say mê hơn với môn thể dục vì đã có điều kiện học đúng với khả năng cũng như lượng vận động phù hợp với bản thân.

Nghiên cứu nội dung bài học

Nội dung chính là sự tổ chức quá trình dạy học , là yếu tố thể hiện sự thống nhất giữa quá trình dạy và quá trình học. Quá trình dạy là người giáo viên cung cấp những kiến thức mới cho học sinh , qua đó thực hiện nhiệm vụ giáo dục và phát triển cho học sinh. Đối với học sinh, giáo viên cần phải chủ động điều khiển, hướng dẫn để học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động cũng như nắm vững kiến thức một cách có hệ thống .

Đảm bảo cơ sở vật chất luyện tập

Để có thể nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao , bên cạnh phương pháp dạy thì cũng cần đảm bảo những điều kiện cơ sở vật chất cũng như kinh phí phục vụ giảng dạy .

Có thể cải tạo và nâng cấp sân bãi , tận dụng tối đa điều kiện của nhà trường phục vụ giảng dạy và tập luyện. Đặc biệt, cần đảm bảo mua sắm trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và tập luyện đủ số lượng và đảm bảo về chất lượng.

Bên cạnh đó, tổ chức những hoạt động ngoại khóa cho sinh viên, góp phần hoàn thiện các nội dung học tập của giờ học chính khóa và các tiêu chuẩn rèn luyện thể thao. Đồng thời, tổ chức xây dựng các câu lạc bộ thể thao, các hoạt động thể thao quần chúng.

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : “Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh.”

Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm:

1) Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học)

2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học

3) Kết thúc bài học (củng cố bài)

Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học.

Phßng gi¸o dôc&®µo t¹o mü ®øc Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn ®Ò tµi S¸ng kiÕn kinh nghiÖm Tªn ®Ò tµi: Mét sè biÖn ph¸p NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP 4 Ng­êi thùc hiÖn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga §¬n vÞ: Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn- Mü §øc- Hµ Néi §Ò tµi thuéc lÜnh vùc: M"n To¸n N¨m häc: 2010- 2011 Phòng GD& ĐT Mỹ Đức CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM Trường TH §èc TÝn Độc lập -Tự do- Hạnh phúc **************** ĐỀ TÀI s¸ng kiÕn kinh nghiÖm I- SƠ YẾU LÝ LỊCH Hä vµ tªn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga Ngµy, th¸ng, n¨m sinh: 1966 N¨m vµo ngµnh : 1989 Chøc vô: Gi¸o viªn §¬n vÞ c"ng t¸c: Trường Tiểu học §èc TÝn - Mü §øc - Hµ Néi Tr×nh ®é chuyªn m"n: Đại học HÖ ®µo t¹o: Từ xa Bé m"n gi¶ng d¹y: Chủ nhiệm lớp 4A Tr×nh ®é chÝnh trÞ : Khen thưởng: Gi¸o viªn giái cÊp tr­êng II- TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP4 NĂM HỌC: 2010-2011 A. LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI Lời Bác dạy: " Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : "Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh." Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm: Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học) 2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học 3) Kết thúc bài học (củng cố bài) Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học. B. NỘI DUNG I. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM: 1/Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 4A Trường tiểu học §èc TÝn. 2/ Thời gian khảo sát: Ngày 16 tháng 9 năm 2010. 3/ Cách tiến hành: Ra đề kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm. 4/ Kết quả: Lớp Sĩ số G K TB Y SL % SL % SL % SL % 4A 20 3 15 6 30 10 50,0 1 5 5/ Nguyên nhân: Từ kết quả trên so với môn Toán mà bản thân các em đạt được ở lớp 1,2,3. Quả thật, đây là điều đáng lo ngại. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi phát hiện ra những nguyên nhân cơ bản sau: -Việc tiếp thu nội dung, kiến thức bài học của học sinh còn hạn chế, nhanh quên. -Việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên chưa được hợp lý. -Đồ dùng dạy học để phục vụ minh họa còn ít, chưa phong phú. Giáo viên lựa chọn và sử dụng còn lúng túng, khai thác chưa khoa học. - Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh còn dài dòng. -Những bài mà nội dung, kiến thức cần ghi nhớ không có trong sách giáo khoa nên giáo viên tự soạn còn chưa chuẩn, sát, chưa tập trung vào mục tiêu chính. II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Từ tình hình thực tế ở khối lớp 4 nói chung, lớp 4A nói riêng, với những nguyên nhân nêu trên. Nhiệm vụ đặt ra cho bản thân tôi là: Làm thế nào để học sinh học tập có hiệu quả hơn? Từ đó tôi áp dụng 3 biện pháp để thực hiện như sau: BIỆN PHÁP 1:GIỚI THIỆU BÀI Giới thiệu bài là khâu quan trọng trong tiến trình dạy học. Việc giới thiêu bài một cách hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của học sinh, tạo hứng thú học tập và khêu gợi sự nỗ lực ở các em trong việc suy nghĩ, tìm tòi khái niệm. Như các môn học khác, môn Toán cũng có nhiều cách để giới thiệu bài học. Giáo viên lựa chọn biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài học mới sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kì, kéo dài thời gian: gợi mở bằng tranh ảnh, bằng vật thật; cho học sinhthực hiện một ví dụ; diễn giải bằng lời hoặc bằng cách nêu tình huống có vấn đề sẽ lôi cuốn các em vào bài giảng một cách thoải mái. Ví dụ 1: Ví dụ về giới thiệu bằng cách cho học sinh làm ví dụ: Khi dạy bài " Thương có chữ số 0"- Toán 4 -Giáo viên nêu: 9450: 35=? -Học sinh thực hiện phép chia vào bảng con (chia như chia cho số có 2 chữ số) sau đó nhận xét về lượt chia cuối cùng của số bị chia (là 0) và thương( có 0 ở tận cùng: 270). -Giáo viên nhấn mạnh về thương của phép chia này và giới thiệu bài. Cách giới thiệu này phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh học tập tự giác mà có hiệu quả. Ví dụ 2: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu tình huống có vấn đề: Khi dạy bài "Phân số và phép chia số tự nhiên"-Toán 4. - Giáo viên nêu tình huống: Có 3 cái bánh, chia đều cho 4 bạn. Vậy em có những cách chia nào? Ví dụ 3: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu yêu cầu. Khi dạy bài "So sánh các số có nhiều chữ số"- Toán 4. - Giáo viên ghi bảng: 99578100000 rồi yêu cầu học sinh điền dấu thích hợp váo chỗ trống và giải thích. Ví dụ 4: Ví dụ về giới thiệu bằng cách bắt đầu bài học một cách trực tiếp bằng một câu hỏi. Khi dạy bài: "Viết số tự nhiên trong hệ thập phân"- Toán 4. - Giáo viên nêu câu hỏi: Khi viết số, tự nhiên ở mỗi hàng có thể viết được mấy chữ số? Cứ mười đơn vị ở một hàng hợp thành mấy đơn vị ở hàng trên tiếp liền nó? -Học sinh trả lời rồi giáo viên dẫn dắt vào bài học. Ví dụ 5: Ví dụ về giới thiệu bằng tranh ảnh hoặc vật thật. Khi dạy bài "Yến, tạ, tấn"- Toán 4. - Giáo viên chuẩn bị cân đồng hồ cân được 100 kg. - Học sinh lần lượt cân xem mình nặng bao nhiêu( một số học sinh đại diện cân) Từ đơn vị ki-lô- gam giáo viên giới thiệu sang đơn vị yến Như vậy, việc giới thiệu bài học tốt rất có ý nghĩa trong tiến trình tổ chức và kết quả giờ dạy Toán 4. BIỆN PHÁP 2:TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI DẠY Để tìm hiểu nội dung bài học đạt kết quả cao. Trong tiết học Toán người giáo viên phải đảm bảo được các nội dung sau: - Biết lựa chọn phương pháp dạy học. - Biết cách đặt câu hỏi, cách nhận xét câu trả lời của học sinh. - Thông báo nội dung dạy học. - Tổ chức dạy học theo nhóm. - Lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học. - Tổ chức trò chơi trong tiết dạy học Toán. - Đánh giá, ghi điểm. 1)Việc lựa chọn phương pháp dạy học. Khi tiến hành dạy học, người giáo viên có năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh là người biết lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cách hợp lý. Trước sự thay đổi về nội dung dạy học, bám sát mức độ cần đạt được về nội dung, kiến thức chứa đựng bài học. Ví dụ: Khi dạy bài "Giây, thế kỷ"- Toán 4. Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập, thực hành là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp khác (đàm thoại, quan sát, hướng dẫn, giảng giải) để hiểu được mối quan hệ giữa giờ và phút, phút và giây, giữa thế kỷ và năm. Từ đó rút ra kết luận: Dựa vào các đơn vị đo thời gian con người tính được khoảng thời gian từ trước cho đến nay. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp cần phải căn cứ vào lứa tuổi của học sinh, đặc thù của môn học, tính chất của từng bài và điều kiện về cơ sở vật chất và khả năng hướng dẫn của giáo viên. Đối với Toán 4, tôi sử dụng phương pháp dạy học chủ yếu là: a) Phương pháp dạy học bài mới: Khi dạy bài mới tôi hướng dẫn học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học rồi giúp học sinh sử dụng kinh nghiệm của bản thân hoặc của bạn cùng nhóm để tìm mối quan hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết. Từ đó tự tìm cách giải quyết. Ví dụ: Khi dạy bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. - Giáo viên nêu: Trong hai phân số và phân số nào lớn hơn? - Học sinh nhận xét đặc điểm của và để nhận ra đó là hai phân số khác mẫu số cần phải so sánh - Vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết tôi cho học sinh trao đổi theo nhóm, có thể theo hai phương án: Phương án 1: Lấy hai băng giấy như nhau. Chia băng giấy thứ nhất thành 3 phần bằng nhau, lấy hai phần( tức băng giấy). Chai băng giấy thứ hai thành 4 phần bằng nhau, lấy 3 phần ( tức băng giấy). So sánh độ dài của hai phần lấy đi của hai băng giấy. Phương án 2: Quy đồng mẫu số hai phân số2/3 và 3/4(học sinh đã học quy đồng) = = ; = = . Ví dụ : Sau khi học bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. Học sinh đã thực hành làm các bài tập. Tôi cho các em làm bài toán đố vui: Lan và Hoa cùng quét lớp. Lan quét được lớp học, Hoa quét được lớp học. Vậy bạn nào quét được nhiều hơn? Để tìm kết quả, học sinh phải phát hiện rồi tự giải quyết vấn đề của bài học là: " so sánh hai phân số và " vấn đề này nêu gián tiếp dưới dạng xem ai quét nhiều hơn? b) Phương pháp dạy học các bài luyện tập, luyện tập chung, ôn tập thực hành. - Với các dạng bài này tôi giúp học sinh nhận ra các kiến thức đã học hoặc một số kiến thức mới trong nội dung các bài tập đa dạng và phong phú. Ví dụ: Khi học sinh thực hành tính 2457 x 306. Nếu học sinh quên cách thực hiện, tôi nêu câu hỏi để học sinh nhớ lại đặc điểm của phép nhân dạng: nhân với số có ba chữ số, thừa số thứ hai có hàng chục là 0. Khi đặt tính không viết tích riêng thứ hai, tích riêng thứ ba viết lùi sang trái hai chữ số so với tích riêng thứ nhất. - Giúp học sinh tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng học sinh. Ở phương pháp này tôi quan tâm giúp học sinh làm bài đúng, trình bày gọn, rõ ràng và cố gắng tìm được cách giải hợp lí. - Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh. Thông qua việc giúp đỡ bạn, bản thân các em càng nắm chắc, hiểu sâu kiến thức của bài học, càng có điều kiện hoàn thiện các năng lực của bản thân. - Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập, thực hành; có thói quen tìm nhiều phương án và lựa chọn phương án hợp lí nhất để giải quyết vấn đề của bài tập, không nên thỏa mãn với các kết quả đã đạt được. Ví dụ: Khi giải bài toán: Thương của phép chia 67200: 80 là số có mấy chữ số? A. 5chữ số B. 4chữ số C. 3chữ số D. 2chữ số Đối với dạy số học trong Toán 4 phương pháp chủ yếu đối với các bài bổ sung, hoàn thiện, tổng kết về số tự nhiên. Tôi sử dụng phương pháp tổ chức hướng dẫn học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài: "Phép cộng phân số" (tiếp theo)- Toán 4. Cho học sinh nêu ví dụ rồi tôi ghi bảng + sau đó yêu cầu học sinh thực hiện. Học sinh sẽ lúng túng. Lúc này tôi hướng dẫn cho học sinh nhận ra mẫu số của hai phân số này khác nhau, để cộng thì cần phải quy đồng. Đến đây học sinh có thể thực hiện dễ dàng theo trình tự: Quy đồng mẫu số rồi cộng hai phân số. Đối với các bài toán có lời văn tôi để học sinh cố gắng tự tìm ra phương pháp giải bài toán với các bước: Bước 1: Phân tích đề toán, tóm tắt đề. Bước 2: Phân tích các mối quan hệ giữa các " dữ kiện" đã cho với "kết luận" để tìm ra cách giải bài toán. Bước 3: Trình bày bài giải bài toán đầy đủ, rõ ràng. Để tránh nhàm chán khi giải bài toán có lời văn tôi thay đổi phương pháp cho học sinh đóng vai người bán hàng để giải toán. Ví dụ: Cô cần may 5 cái áo, mỗi cái áo may hết 1m 2dm. Hãy bán số vải cô cần để may số áo đó. Cô đưa 3 tờ giấy bạc mỗi tờ là 50000 đồng. Tính và trả lại số tiền dư (biết rằng1m vải giá 20000đồng) - Dành cho học sinh khá, giỏi Hoặc cho học sinh đóng vai bác nông dân. Ví dụ: Ba bác nông dân cấy lúa trên một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 54m, chiều rộng kém chiều dài 18m. Hỏi trung bình một bác nông dân cấy được bao nhiêu mét vuông ruộng? - Dành cho học sinh trung bình, khá. Vậy: Để tổ chức cho học sinh học tập trong một tiết Toán thật tốt, giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng dạy học để từ đó lựa chọn phượng pháp dạy học phù hợp nhằm đạt mục tiêu đó. 2)Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh. a/ Trong quá trình dạy học, giáo viên thường đặt nhiều câu hỏi cho học sinh. Đó là những câu hỏi mà giáo viên không phải để biết mà là để thực hiện việc dạy học của mình. Mục đích của việc đặt câu hỏi này là gây hứng thú, gợi trí tò mò khoa học của học sinh để tóm tắt những điểm chính hoặc để đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Vì vậy, mặc dù hằng ngày giáo viên đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi nhưng không phải ai cũng nắm được kĩ thuật và có nghệ thuật đặt câu hỏi. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán: Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi bằng 240m, chiều rộng bằng chiều dài. Tính diện tích mảnh vườn đó? Tôi dùng hệ thống câu hỏi như sau: Câu hỏi tìm dữ kiện: -Bài toán cho ta biết gì? -Bài toán yêu cầu ta phải làm gì ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm như thế nào ? Câu hỏi đòi hỏi suy luận : -Muốn tính chiều rộng hoặc chiều dài của mảnh vườn ta làm cách nào ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Nêu những đặc điểm giống nhau của hình chữ nhật và hình bình hành ? Câu hỏi yêu cầu so sánh : -Viết các phân số; ;; ; theo thứ tự từ bé đến lớn? Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân: -Viết một phân số lớn hơn 1, một phân số bằng 1, giải thích vì sao? Câu hỏi yêu cầu học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức: -Tìm 3 số tự nhiên khác nhau, biết số trung bình cộng của ba số là 2. Câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức đã học: -Để tính nhanh bài toán sau: 24 x 46 + 38 x 41+ 46 x 48 + 5 x 38. Em đã sử dụng tính chất gì của phép tính? b/ Khi nhận xét câu trả lời của học sinh tôi không nhận xét những câu trả lời của học sinh phát biểu mà không được chỉ định mà xác định một cách rõ ràng những câu trả lời đúng để tất cả học sinh đều biết. Có thể xác nhận bằng điệu bộ, cử chỉ mà không cần dùng ngôn ngữ nói. Khi học sinh trả lời chưa đúng, cần uốn nắn chỗ sai một cách cặn kẽ hoặc hướng dẫn học sinh tìm ra chỗ chưa đúng. Khi học sinh trả lời đúng không nên gọi nhiều học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn. 3)Thông báo nội dung học tập. Trong khi tổ chức và hướng dẫn học sinh học tâp, giáo viên sử dụng nhiều dạng ngôn ngữ khác nhau: ngôn ngữ nói; ngôn ngữ viết; ngôn ngữ "ẩn"Ngôn ngữ tự nhiên được dùng để phát biểu vấn đề, diễn đạt suy luận ( khi cần thiết), bằng lời nói hay chữ viết. Đặc biệt ở tiểu học, khái niệm toán học có thể diễn đạt bằng nhiều cách. Ví dụ: Khái niệm mét vuông có thể diễn đạt: - Bằng kí hiệu: "m2". - Bằng chữ viết: " mét vuông". - Bằng kí hiệu âm thanh: "đọc: mét vuông" Tuy nhiên ngôn ngữ nói có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc dạy học của giáo viên. Cách dùng từ chính xác, cách phát âm rõ ràng, chuẩn xác tiếng phổ thông có tác dụng lớn trong việc thông báo nội dung học tập cho học sinh. Ngôn từ dễ nghe, dễ hiểu của giáo viên sẽ giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu nhiều điều mà giáo viên truyền đạt. Việc thông báo nội dung học tập cho học sinh của giáo viên được tiến hành bằng nhiều hình thức: - Ghi lên bảng những nội dung học tập chính. - Giảng giải một vấn đề phức tạp. - Nhấn mạnh những điểm quan trọng. - Đưa ra những ví dụ để nhận xét. - Giải thích, hướng dẫn học sinh từng bước lĩnh hội nội dung cần thông báo. - Bổ sung, sửa đổi những câu trả lời của học sinh Trong các hình thức thông báo trên, ghi bảng là hình thức thể hiện rõ trình độ hiểu biết và việc làm khoa học của giáo viên. Những gì mà giáo viên ghi lên bảng thì đó là nội dung học tập chính mà học sinh cần lĩnh hội và cần được khắc sâu. Ví dụ: Khi dạy bài: "Thương có chữ số 0" tôi ghi bảng như: Thứngày.tháng . năm Toán: Thương có chữ số 0 a) Thương có chữ số 0 ở tận cùng. 9450 : 35 = ? 9450 35 245 270 000 9450 : 35 = 270 b)Thương có chữ số 0 xen giữa. 2448 : 24 = ? 2448 24 0048 102 00 2448 : 24 = 102 * L ưu ý: VD(b ) Mỗi lần hạ một chữ số ở số bị chia xuống để chia mà nhỏ hơn số chia thì ghi 0 vào thương rồi hạ chữ số tiếp theo xuống để chia. 4)Tổ chức dạy học theo nhóm - Trong tiết học Toán việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm là rất cần thiết.Hoạt động nhóm trong tiết Toán giúp các em tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới, có tác dụng gợi mở học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán mà các em đã được lĩnh hội và rèn luyện để diễn đạt những ý kiến của mình, tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được khuyến khích để trao đổi các kinh nghiệm và được tạo cơ hội làm việc hợp tác với nhau. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là ham hiểu biết, ưa hoạt động, giàu trí tưởng tượng cho nên khi dạy học tôi luôn gợi trí tò mò, tránh đơn điệu về hình thức hoạt động. Còn đặc điểm nhận thức của học sinh là đi từ tư duy cụ thể đến tư duy trừu tượng, cho nên khi tổ chức dạy học theo nhóm trong môn Toán tôi chia thành các nhóm từ 2 đến 6 học sinh: theo tổ, dãy, bàn, cặpTùy theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập. Ví dụ: -Tiết dạy về kiến thức mới tôi chia theo nhóm : Bàn. -Tiết dạy luyện tập tôi chia theo nhóm: 4 học sinh. -Tiết dạy thực hành tôi chia theo nhóm: Tổ. -Tiết dạy ôn tập tôi chia theo nhóm:2; 4 học sinh. Chia nhóm cũng có nhiều cách khác nhau. Trong tiết Toán tôi thường chia theo các cách: Cách 1: Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định( nhóm cùng trình độ, nhóm theo sở trường) Ví dụ: - Nhóm chia ngẫu nhiên, nhiều trình độ: Cho học sinh đếm từ 1 đến 6 vòng quanh lớp. Các nhóm được thành lập bởi các em có cùng số hoặc lập một bộ từ 1 đến 6. Hoặc phát cho mỗi học sinh một tấm bìa có vẽ biểu tượng, học sinh tìm bạn có cùng biểu tượng hợp thành một nhóm. - Nhóm hình thành có chủ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm. Giáo viên chia nhóm cố định và đặt tên cho mỗi nhóm. Khi có lệnh của giáo viên, các em tự giác thành lập nhóm như nhóm tổ, dãy. - Chia nhóm tình bạn: Học sinh được phép chọn bạn lập thành một nhóm với số người do giáo viên định trước. Cách 2: Các nhóm hoạt động trong