Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trong Giảng Dạy Môn Toán Lớp 5

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 – Tiểu Học An Hòa A
  • Nâng Cao Chất Lượng Đọc, Viết Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 1
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học …
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Học Tin Học Ở Bậc Tiểu Học : Phòng Gd&đt Nam Trực
  • Nội dung

    Trang

    1

    MỞ ĐẦU

    2

    1.1

    Lí do chọn đề tài.

    2

    1.2.

    Mục đích nghiên cứu.

    3

    1.3

    Đối tượng nghiên cứu.

    3

    1.4

    Phương pháp nghiên cứu.

    3

    1.5

    Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.

    3

    2

    NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    4

    2.1

    Cơ sở lí luận.

    4

    2.2

    Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

    5

    2.3

    Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

    6

    2.3.1

    Giải pháp 1: Phân hóa đối tượng, khơi dậy lòng say mê và thích học toán ở học sinh.

    6

    2.3.2

    Giải pháp 2: Thiết kế bài và dạy học theo đối tượng để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.

    8

    2.3.3

    Giải pháp 3: Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học theo hướng đổi mới để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.

    10

    2.3.4

    Giải pháp 4: Lồng ghép tổ chức trò chơi trong giờ học toán.

    12

    2.4

    Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

    17

    3

    KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    17

    3.1

    Kết luận.

    17

    3.2

    Kiến nghị.

    18

    1. MỞ ĐẦU

    1.1. Lí do chọn đề tài.

    Trong công cuộc đổi mới kinh tế xã hội đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên khắp đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm thích ứng được với thực tiễn đời sống xã hội luôn phát triển. Nhu cầu này làm cho mục tiêu Giáo dục đào tạo phải được điều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sự thay đổi tất yếu về nội dung và phương pháp dạy học.

    Ở cấp Tiểu học môn Toán có vai trò đặc biệt quan trọng cùng với các môn học khác nó góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển tư duy của người học, đồng thời nó còn góp phần vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Ở trường tiểu học, việc dạy học toán cho học sinh tạo năng lực cho các em sử dụng toán trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày. Thông qua việc học toán ở nhà trường đã rèn cho các em năng lực tư duy, phát triển trí thông minh, kĩ năng tính toán. Chính vì thế, môn Toán luôn được chú trọng và được dành một thời lượng rất lớn trong chương trình Giáo dục phổ thông. Theo yêu cầu của Bộ giáo dục và Đào tạo về đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở cấp Tiểu học, ngoài việc tổ chức các hoạt động dạy học để học sinh nắm được kiến thức chuẩn thì tùy vào năng lực của học sinh, giáo viên cần phải phát triển, khai thác, mở rộng thêm kiến thức một cách phù hợp để đáp ứng nhu cầu học tập của các em.

    Hơn nữa, cấp Tiểu học là bậc học quan trọng, nó đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách ở học sinh, trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã hội, phát triển các năng lực nhận thức, trang bị các phương pháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng và phát huy các tình cảm, thói quen và đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam. Chính vì vậy mà cấp Tiểu học được coi là “nền móng vững chắc của toà nhà phổ thông”.

    Trong đó, môn Toán lớp 5 góp phần không nhỏ để tạo nên cái gọi là “nền móng” đó. Học sinh học tốt môn Toán sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển năng lực học toán ở các lớp tiếp theo. Và để đạt kết quả cao trong dạy học toán đòi hỏi giáo viên phải biết lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học dựa trên đặc điểm tâm lý của học sinh. Ở học sinh lớp 5, kiến thức toán không còn mới lạ đối với học sinh, khả năng nhận thức của các em đã được hình thành và phát triển ở các lớp trước, tư duy đã bắt đầu có chiều hướng bền vững và đang ở giai đoạn phát triển. Vốn sống, vốn hiểu biết thực tế đã bước đầu có những tích lũy nhất định.

    Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học toán là rất cần thiết. Một trong những đổi mới phương pháp dạy học đó là lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Quá trình dạy học phải đạt được yêu cầu, tạo ra động cơ học tập tốt nhất để phát triển trí tuệ, trí thông minh cho học sinh. Để có được điều đó, các em phải tích cực học tập biểu hiện ở chỗ: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề giáo viên nêu ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích những vấn đề chưa rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào những vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn.

    Trong khi đó, học sinh tiểu học vốn ưa hoạt động, khả năng tập trung chú ý chưa cao, các em thường chỉ chú ý tới những vấn đề mới lạ, hấp dẫn. Mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh không đồng đều. Trong một lớp học có nhiều đối tượng học sinh, nhu cầu hứng thú học tập của các em là khác nhau. Vì vậy làm thế nào để thu hút tất cả các em đều chú ý tập trung trong giờ học, tích cực hoạt động để lĩnh hội kiến thức là điều mà giáo viên cần quan tâm. Với những băn khoăn đó, tôi đã mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu và tìm ra “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Toán lớp 5”.

    1.2. Mục đích nghiên cứu.

    Xây dựng và áp dụng một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Toán lớp 5.

    1.3. Đối tượng nghiên cứu.

    – Giáo viên dạy toán và học sinh lớp 5 của nhà trường.

    – Các giải pháp nâng cao chất lượng trong giảng dạy môn Toán lớp 5.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu.

    – Phương pháp điều tra:

    + Trao đổi với giáo viên về những khó khăn, thuận lợi khi dạy toán lớp 5.

    + Tiếp cận, trò chuyện với học sinh về những hứng thú, khó khăn khi học toán.

    + Dự giờ để đánh giá thực trạng việc dạy và học ở lớp 5 để đề xuất giải pháp khắc phục.

    – Phương pháp thực nghiệm: Để kiểm tra tính khả thi của những vấn đề đã được nghiên cứu.

    – Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm.

    – Phương pháp thống kê toán học: Thu thập, xử lí, đánh giá số liệu

    1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.

    Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở tiểu học theo phương hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, tăng cường hoạt động cá thể phối hợp với học tập giao lưu. Hình thành và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

    Góp phần giúp học sinh hứng thú học tập môn Toán. Đó là một môn học được coi là khô khan và khó khăn. Do đó việc đưa ra những câu đố, trò chơi toán học nhằm giúp các em học mà chơi, chơi mà học. Đặc biệt trò chơi toán học không những giúp các em lĩnh hội được tri thức mà nó còn giúp các em củng cố và khắc sâu các tri thức đó.

    Tôi chọn đề tài nghiên cứu này nhằm giúp học sinh nắm kiến thức môn Toán ngày càng vững vàng hơn, hăng say trong các giờ học toán, nâng cao chất lượng giảng dạy và làm nền tảng vững chắc cho các lớp trên.

    Điểm mới trong việc nghiên cứu và áp dụng đề tài này là tạo dựng được lòng say mê và thích học toán, sự chủ động, tích cực của học sinh và các trò chơi dạy học toán phù hợp với đối tượng học sinh của lớp qua từng dạng bài, một sáng kiến mang tính mới mẻ mà từ trước tới nay ít được vận dụng hoặc có vận dụng thì cũng đang dừng lại mang tính hình thức, chưa thực sự mang lại hiệu quả cao.

    2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    2.1. Cơ sở lí luận.

    Môn Toán lớp 5 là một môn học luyện tập, thực hành nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực học toán cho học sinh. Năng lực của học sinh qua các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng sau:

    – Về số và phép tính:

    + Bổ sung những hiểu biết cần thiết về phân số thập phân, hỗn số để chuẩn bị học số thập phân.

    + Ôn tập củng cố, hệ thống hoá những kiến thức và kĩ năng cơ bản về số và phép tính với số tự nhiên, phân số và số thập phân.

    – Về đo lường:

    + Biết tên gọi, kí hiệu, quan hệ giữa một đơn vị đo diện tích, thể tích thông dụng.

    + Biết viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích, thời gian dưới dạng số thập phân.

    – Về hình học:

    + Nhận biết được hình thang, hình hộp chữ nhật, hình lập phương và một số dạng của hình tam giác.

    + Biết tính chu vi, diện tích hình tam giác, hình thang, hình tròn.

    + Biết tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương.

    – Về các yếu tố thống kê.

    + Biết đọc các số liệu trên biểu đồ hình quạt.

    + Bước đầu biết nhận xét về một số thông tin đơn giản thu thập trên biểu đồ.

    – Về phát triển ngôn ngữ, tư duy và góp phần nhân cách của học sinh.

    + Biết diễn đạt một số nhận xét, quy tắc, tính chất… bằng ngôn ngữ (nói, viết dưới dạng công thức…) ở dạng khái quát.

    + Tiếp tục phát triển năng lực phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, cụ thể hoá; bước đầu hình thành và phát triển tư duy phê phán và sáng tạo; phát triển trí tượng không gian…

    + Tiếp tục rèn luyện các đức tính: chăm học, cẩn thận, tự tin, trung thực, có tinh thần trách nhiệm… góp phần hình thành nhân cách ở học sinh.

    Các yêu cầu kiến thức, kĩ năng trên được hình thành trong quá trình giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học sinh. Vì thế trong dạy học toán ở tiểu học, phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Cốt lõi của vấn đề là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

    2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

    – Đối với giáo viên:

    Chúng ta đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, nhưng vẫn còn giáo viên còn gặp nhiều lúng túng, chủ yếu là giảng giải thuyết trình, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Trong một lớp, năng lực nhận thức của học sinh không đồng đều nhưng giáo viên thường chỉ thiết kế giáo án theo đường thẳng, chung cho mọi đối tượng học sinh. Trên lớp giáo viên chủ động thực hiện một mạch theo các bước đã chuẩn bị, giáo viên chưa vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học mới bằng hình thức giao việc cụ thể cho từng học sinh. Qua dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy một số tiết dạy còn nặng nề, gò bó không lôi cuốn được tất cả học sinh cùng tham gia. Phần đánh giá kết quả học tập giáo viên thường là người độc quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh. Không ít giáo viên chưa chú trọng đúng mức tới việc kích thích trí tò mò, lòng ham hiểu biết của lứa tuổi tiểu học trong giờ học toán.

    – Đối với học sinh:

    Ở cấp Tiểu học một bộ phận các em còn ngại khó, còn thụ động, chủ yếu là nghe giảng, ghi nhớ và làm theo bài mẫu. Chính vì vậy mà kiến thức của các em còn mang tính hời hợt, nhớ không lâu, thiếu sự linh hoạt, sáng tạo và khả năng phân tích của các em còn hạn chế.

    Năm học 2022-2019, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5A, kết quả khảo sát chất lượng đầu năm như sau:

    Tổng số học sinh

    Điểm 9 -10

    Điểm 7 – 8

    Điểm 5 – 6

    Điểm dưới 5

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    25

    4

    16

    7

    28

    8

    40

    6

    24

    Kết quả trên cho thấy: chất lượng môn Toán của lớp 5A còn thấp, thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu của trường chuẩn quốc gia. Tỉ lệ học sinh điểm dưới 5 còn nhiều. Tôi tiến hành điều tra, tìm hiểu nguyên nhân thì nhận thấy: phần lớn học sinh có tâm lí ngại học toán vì các em cảm thấy khó và nặng nề, sợ mỗi khi gặp dạng toán mới, lúng túng khi gặp bài toán khó, không đủ niềm tin để khẳng định bài toán mình làm đúng hay sai,

    Trước thực trạng trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu và mạnh dạn tổ chức thực hiện các giải pháp sau đây.

    2.3. Các giải pháp thực hiện.

    Qua thực tế giảng dạy và kinh nghiệm của bản thân, tôi rút ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Toán lớp 5 cụ thể như sau:

    2.3.1. Giải pháp 1: Phân hóa đối tượng, khơi dậy lòng say mê và thích học toán ở học sinh.

    a. Phân nhóm đối tượng học sinh.

    Ngay từ đầu năm học, dựa vào kết quả khảo sát và kết hợp dạy học hàng ngày trên lớp, tôi phân loại số học sinh trong lớp thành các nhóm đối tượng như sau:

    – Nhóm gồm các học sinh có khả năng hoàn thành tốt nội dung học tập: Nguyễn Hà Thảo Ly, Nguyễn Đình Phú, Mai Văn Chính, Hoàng Thị Thúy Nhi, Lê Xuân Hùng, Nguyễn Khắc Sáng.

    – Nhóm gồm các học sinh hoàn thành nội dung học tập: Lê Thị Ngọc Ánh, Lê Đình Việt Anh, Lê Thị Thủy, Lê Đình Văn, Vũ Thị Hà Vi, Nguyễn Thị Thùy Linh, Lê Thị Thùy Linh, Nguyễn Thị Anh Đào, Nguyễn Đình Đạt, Nguyễn Văn Hùng Dương, Nguyễn Viết Nhật, Lê Văn Sơn, Trịnh Đình Thanh.

    – Nhóm gồm các học sinh chưa hoàn thành: Lê Đình Đức, Lê Thế Hoàng, Lê Đình Trường Sơn, Ngô Tiến Thành, Vũ Đình Tùng, Lê Đình Hùng.

    b. Khơi dậy lòng say mê và thích học toán của học sinh:

    – Trong quá trình giảng dạy tôi đã thực hiện các giải pháp sau để giúp các

    em say mê và thích học môn Toán:

    Xem kỹ nội dung chương trình môn Toán, nội dung từng bài dạy và mục tiêu của mỗi bài để tránh việc truyền đạt quá tải cho học sinh; phối hợp nhịp nhàng giữa phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phát huy tính tích cực, chủ động, kích thích sự hứng thú của học sinh, tránh sự đơn điệu và tẻ nhạt

    ở mỗi tiết học.

    Tổ chức các hoạt động trong từng bài để giúp các em tự mình tìm tòi, chủ động phát hiện kiến thức mới, rèn thêm kỹ năng mới dựa trên các kiến thức và kỹ năng các em đã có.

    Luôn thay đổi không khí giờ học toán để tạo ra sự thoải mái, giảm bớt căng thẳng cho học sinh. Nhờ thế, các em sẽ tập trung sự chú ý, tiếp thu bài tốt hơn. Để thực hiện điều này, tôi tổ chức cho các em giải các câu đố vui toán học mà mình đã sưu tầm được. Hoạt động này sẽ kích thích sự tò mò và bồi dưỡng tính hài hước cho các em vì các câu đố thường được viết dưới dạng các câu thơ, các bài văn vần, các câu hò, vè quen thuộc rất dí dỏm, vui tươi, ngộ nghĩnh.

    Ví dụ: Khi dạy phần ôn tập phân số, số tự nhiên, dấu hiệu chia hết, tôi đã đưa ra các câu đố:

    Câu 1: Thân em gồm có hai phần.

    Càng thêm vào dưới, lại càng bé đi”.

    (là gi?)

    Câu 2: Đố em viết tiếp

    Vào dãy số sau: 0; 15; 30;

    5 số nối nhau

    Tìm mau kẻo lỡ

    Xong sau bạn cười.

    Câu 3: 2325; 3446; 4590; 1000.

    Những số đã viết

    Số nào chia hết

    Cho cả ba, năm?

    Số nào chia thêm

    Cho hai và chín?

    Các câu đố này sẽ biến những bài toán với các con số khô khan thành những bài toán vui, hóm hỉnh, gần gũi với học sinh giúp củng cố kiến thức và kỹ năng thực hành, góp phần rèn luyện tư duy sáng tạo, óc nhanh nhạy trước các tình huống toán học chứa đựng trong câu đố.

    – Ngoài ra trong các buổi ngoại khoá, trong những giờ ra chơi hay những buổi sinh hoạt tập thể, tôi luôn tìm cách khơi dậy tinh thần hăng say học tập, kích thích chí hướng phấn đấu vươn lên thành học sinh xuất sắc bằng những câu chuyện bổ ích, những tấm gương học tốt, những bài học về phương pháp học được rút ra từ các nhà khoa học hay đơn giản chỉ là những câu nói thể hiện niềm tin về sự cố gắng của một học sinh nào đó.

    Ví dụ: Kể về các gương học sinh trước đây có hoàn cảnh khó khăn nhưng nhờ chăm chỉ, chịu khó đã trở thành học sinh xuất sắc, đỗ đạt vào các trường đại học. Cụ thể như : Em Lê Hữu Hùng ở thôn 5, nhà nghèo, bố mẹ khuyết tật, ngoài giờ học em phải đi quấn kẹo thuê để kiếm thêm tiền đỡ cho bố mẹ. Nhưng nhờ sự kiên trì, cố gắng, say mê học tập đến nay Hùng đã thi đỗ vào Trường Học viện Kĩ thuật Quân sự Ngoài những câu chuyện thực tế trong trường, lớp, địa phương tôi còn sưu tầm các câu chuyện khác trên báo trí, mạng internet

    Những việc đơn giản đó đã giúp tôi hiểu rõ và tìm được phương pháp kích thích hứng thú học tập cho từng học sinh. Hầu hết các em luôn tin tưởng và gần gũi giáo viên. Sẵn sàng tham gia vào các hoạt động do giáo viên tổ chức trong giờ học toán.

    2.3.2. Giải pháp 2: Thiết kế bài và dạy học theo đối tượng để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.

    Trong quá trình chuẩn bị kế hoạch bài dạy, tôi thường chuẩn bị bài dựa vào thực tế năng lực và khả năng tiếp thu của học sinh mình phụ trách. Kế hoạch bài dạy được thiết kế bằng nhiều phương án theo kiểu phương án nhánh. Giáo viên linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến của tiết học với sự tham gia tích cực của học sinh. Dù ở loại bài nào thì việc lựa chọn câu hỏi, các bài tập có vai trò quan trọng nhất vì các câu hỏi, bài tập đưa ra phải phù hợp với các đối tượng để ba đối tượng đều được phát huy khả năng tích cực của mình mà không bị nhàm chán, không bị thừa thời gian cho học sinh hoàn thành tốt.

    Ở mỗi dạng bài tập, mỗi câu hỏi thì mỗi đối tượng học sinh có các yêu cầu khác nhau:

    Ví dụ 1: So sánh A và B biết:

    A = 3,54 + 2,17 + 6,46

    B = 2,54 + 6,17 + 3,46

    – Đối với đối tượng chưa hoàn thành chỉ yêu cầu học sinh tính kết quả theo thứ tự thực hiện phép tính, sau đó so sánh. (A = 12,17 ; B = 12,17. Vậy A = B)

    – Đối tượng học sinh hoàn thành, ngoài cách tính kết quả để so sánh, các em có thể sử dụng tính chất giao hoán và kết hợp đã học để tính nhanh kết quả rồi so sánh.

    A = (3,54 + 6,46) + 2,17

    = 10 + 2,17

    = 12,17

    B = (2,54 + 3,46) + 6,17

    = 6 + 6,17

    = 12,17

    Vậy A = B

    – Nhưng với đối tượng học sinh hoàn thành tốt, ngoài cách tính kết quả để so sánh, sử dụng tính chất giao hoán và kết hợp để tính nhanh kết quả rồi so sánh, các em còn phải suy nghĩ để tìm cách so sánh nhanh nhất (xét các chữ số hàng đơn vị, hàng phần mười, hàng phần trăm của A và B).

    Ví dụ 2: So sánh hai phân số và .

    – Đối với học sinh hoàn thành và chưa hoàn thành các em chỉ việc quy đồng mẫu số hai phân số để so sánh như sau:

    – Đối với học sinh hoàn thành tốt khuyến khích học sinh tìm ra cách so sánh nhanh hơn bằng cách so sánh với phân số trung gian như sau:

    Ví dụ 3: Phần củng cố tính chất kết hợp của phép nhân sau khi học nhân số thập phân.

    Hãy nêu tính chất kết hợp của phép nhân, hãy lấy ví dụ và thực hiện.

    – Với học sinh chưa hoàn thành: chỉ cần nêu được tính chất.

    – Với học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt: nêu được tính chất, lấy được ví dụ minh họa.

    Ví dụ 4: Phần bài tập 3,5 x 0,4 x 25

    – Với học sinh chưa hoàn thành và hoàn thành chỉ cần tính được giá trị biểu thức ví dụ như sau:

    3,5 x 0,4 x 25 = 1,4 x 25 = 35

    – Với học sinh hoàn thành tốt: Sử dụng tính chất giao hoán và kết hợp tính giá trị biểu thức theo các cách khác nhau như sau:

    Cách 1:

    3,5 x 0,4 x 25

    = 1,4 x 25

    = 35

    Cách 2;

    3,5 x 0,4 x 25

    = 3,5 x (0,4 x 25)

    = 3,5 x 10

    = 35

    Cách 3:

    3,5 x 0,4 x 25

    = 3,5 x 25 x 0,4

    = 87,5 x 0,4

    = 35

    Cuối cùng cả ba đối tượng đều phát huy được khả năng chủ động của mình trong việc thực hiện phép tính. Học sinh chưa hoàn thành sẽ không cảm thấy quá sức. Học sinh hoàn thành tốt không thấy nhàm chán.

    Ví dụ 5: Khi dạy bài ôn tập và bổ sung giải toán, phần “Bài toán về hai đại lượng cùng gấp lên hoặc giảm đi một số lần (tỉ lệ thuận). Phần củng cố giáo viên hỏi: Nêu cách giải bài toán về hai đại lượng cùng gấp lên hoặc giảm đi một số lần.

    – Với học sinh chưa hoàn thành và hoàn thành: Học sinh chỉ cần nêu cách giải bài toán về hai đại lượng cùng gấp lên hoặc giảm đi một số lần là giải bằng phương pháp rút về đơn vị hoặc tìm tỉ số.

    – Với học sinh hoàn thành tốt: Ngoài câu hỏi chung ở trên giáo viên còn hỏi thêm: Khi nào bài toán về hai đại lượng cùng gấp lên hoặc giảm đi một số lần giải được bằng phương pháp tìm tỉ số, khi nào giải được bằng phương pháp

    rút về đơn vị ?

    + Như bài toán sau đây ta chỉ có cách giải là tìm tỉ số:

    Bài 3 (trang19). Số dân của một xã hiện nay có 4000 người.

    a, Với mức tăng hằng năm là cứ 1000 người thì tăng thêm 21 người, hãy

    tính xem một năm sau số dân của xã đó tăng thêm bao nhiêu người.

    b, Nếu hạ mức tăng hằng năm là cứ 1000 người chỉ tăng thêm 15 người,

    thì sa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Q2 Tìm Hiểu Các Biện Pháp Bảo Vệ Độ…
  • Các Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Dễ Làm, Hiệu Quả
  • Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Nhiệm Vụ Cấp Bách Bảo Vệ Môi Trường Thủ Đô Hà Nội
  • Ô Nhiễm Môi Trường Ở Hà Nội: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Quảng Phương : Trường Thcs Quảng Phương
  • “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Vật Lý Theo Mô Hình Cdio”
  • Những Ai Không Nên Đặt Vòng Tránh Thai?
  • Quy Định An Toàn Làm Việc Trên Cao
  • Huấn Luyện An Toàn Lao Động Làm Việc Trên Cao
  • I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

    -Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS đang là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn,trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    -Tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau,có điều kiện hoàn cảnh và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau,môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập,khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác .

    -Có nhiều nguyên nhân làm học sinh học yếu môn toán,song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn,có nhiều lỗ hổng về kiến thức,kĩ năng.Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em ngày càng hổng kiến thức nhiều hơn.

    -Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em nên Tôi thiết nghĩ cần phải nghiên cứu,tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là môn Toán. Chính vì vậy nên Tôi chọn chuyên đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán”

    II. THỰC TRẠNG:

     * CHUNG

    – Học sinh phần đông sợ bộ môn toán vì phải đối mặt với những công thức, những định lí khô khan.

    -Học sinh ngại khó, thiếu kiên nhẫn trong quá trình học toán dẫn đến việc thường xuyên không học bài và làm bài tập ở nhà.

    -Đa số học sinh chưa biết cách học môn toán như thế nào cho hiệu quả.

    -Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức đến con em mình.

    -Đôi khi giáo viên cũng thiếu kiên nhẫn đối với học sinh học yếu.

    Đối với bộ môn toán:

    – Từ 5,0 điểm trở lên: 61 / 154 .Tỉ lệ: 39,61 % (giảm 24,2% so với năm học trước). Cụ thể:

          9/1 : 37 / 39 (94,87%). Trong đó có 8 học sinh 10 điểm

          9/2: 8 / 27 (29,63%)

          9/3 : 5 / 31 (16,13%)

          9/4: 6/ 28 (21,43%)

          9/5: 5 / 29  (17,24%)

    – Điểm bình quân môn toán là 4,78. Xếp hạng 10/12

    – Điểm yếu, kém: 93/ 154. Tỉ lệ: 60,39 %. Trong đó yếu: 41 hs. Kém: 52 hs. Không có hs điểm 0

     Cụ thể:  9/1 Yếu: 1; kém: 1

                   9/2: yếu: 12; kém: 7

                   9/3: yếu: 12; kém : 14

                   9/4: yếu: 8; kém: 14

                   9/5: yếu: 8; kém: 16

    III. NGUYÊN NHÂN

    -  Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình chưa cao, nuông chìu con, sợ con mình học mệt nên chưa động viên con mình trong vấn đề học tập

    – Học sinh học yếu mất căn bản sinh ra chán nãn, thiếu kiên nhẫn nên buông xuôi không hợp tác tới đâu thì tới

    – Một số học sinh do khả năng có hạn, học trước quên sau dẫn đến kiến thức bị hạn hẹp không đạt chuẩn quy định

    – Học sinh có quá nhiều quyền nên dẫn đến ỉ lại, chưa thật sự coi trọng việc học

    – Giáo viên cũng chưa mạnh dạn dùng hết những phương pháp để uốn nắn những học sinh cá biệt

    IV. GiẢI PHÁP

      1. GIẢI PHÁP TÂM LÝ

     - Để học sinh yêu thích môn học của mình,tôi đã tạo sự gần gũi với các em từ những tiết học đầu tiên,chú ý đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,động viên các em bằng cách kể những gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập.Luôn tạo cho các em niềm tin.

     -Có thể khiển trách khi các em chưa ngoan nhưng không quên dành lời khen khi các em có tiến bộ chút ít.

    – Việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng,khách quan và công tâm,công khai kết quả sau các giờ kiểm tra,cần phải có nhận xét bài làm của học sinh.

    - Để bài giảng hay, tiết học của mình thêm sinh động tôi luôn tìm ra cách giảng gần gũi nhất, dễ hiểu nhất để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng.

    Ví dụ: Khi học bài “Tỉ số lượng giác” để học sinh dễ thuộc công thức:

     Tôi dạy học sinh bài thơ: “Sin đi học  (nghĩa là đối chia huyền)

                                             Cosin không hư  (nghĩa là kề chia huyền)

                                             Tang đoàn kết  (nghĩa là đối chia kề)

                                             Cotang kết đoàn”  (nghĩa là kề chia đối)

    Học sinh vừa thuộc công thức toán mà còn học được bài học đạo đức khi đến lớp

    V. ĐỀ XUẤT:

    *Đối với giáo viên:

    -Tìm ra giải pháp hữu hiệu cho riêng mình để hạn chế học sinh yếu kém môn toán

    -Kiên trì, nhẫn nại và hy sinh thời gian cho những học sinh yếu

    -Có cái nhìn lạc quan hơn khi dạy những học sinh yếu kém

    -Hình thành nề nếp và kỷ cương trong các tiết dạy từ đầu năm học để quản lý học sinh tốt hơn.

    *Đối với phụ huynh:

    -Quan tâm con em mình nhiều hơn nữa trong việc học tập

    -Kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em

    *Đối với BGH:

    -Tư vấn và giúp đỡ giáo viên trong việc dạy học sinh yếu

    -Cảm thông, động viên, chia sẻ với những bức xúc của giáo viên khi dạy học sinh yếu.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Dạy Lịch Sử Lớp 4 Theo Hướng: Tích Cực Hóa Hoạt Động Học Tập Của Học Sinh
  • Đề Tài Nâng Cao Hiệu Quả Phương Pháp Trò Chơi Học Tập Trong Môn Khoa Học Lớp 5
  • An Toàn Lao Động Khi Thi Công Phần Hoàn Thiện Công Trình
  • Yêu Cầu Về An Toàn Lao Động Khi Đóng Cọc Và Khoan Cọc Nhồi
  • PHÒNG GD&ĐT YÊN ĐỊNH

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    DẠY – HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5

    Người thực hiện: Trịnh Thị Việt

    Chức vụ: Giáo viên

    Đơn vị công tác: Trường TH Thị trấn Quán Lào

    SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Lịch sử và Địa lí

    YÊN ĐỊNH, NĂM 2022

    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

    PHÒNG GD&ĐT YÊN ĐỊNH

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    DẠY – HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5

    Người thực hiện: Trịnh Thị Việt

    Chức vụ: Giáo viên

    Đơn vị công tác: Trường TH Thị trấn Quán Lào

    SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Lịch sử và Địa lí

    MỤC LỤC

    Nội dung

    Trang

    PHẦN 1:MỞ ĐẦU

    1

    1. Lý do chọn đề tài

    1

    2. Mục đích nghiên cứu

    1

    3. Đối tượng nghiên cứu

    2

    4. Phương pháp nghiên cứu

    2

    PHẦN 2: NỘI DUNG

    3

    1. Cơ sở lý luận

    3

    2. Thực trạng của việc dạy – học Địa lí lớp 5

    3

    2.1. Khi học địa lí, kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ của học sinh chưa tốt

    3

    2.2. Việc sử dụng tranh ảnh, thông tin,trong các tiết dạy đạt hiệu quả chưa cao

    4

    2.3. Việc lựa chon trò chơi học tập ở các tiết học địa lí chưa thật phong phú và phù hợp với bài dạy và đối tượng học sinh

    4

    3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí lớp 5

    5

    3.1. Rèn kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ cho học sinh

    5

    3.2. Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tranh ảnh, thông tin, sưu tầm được trong quá trình dạy học địa lí

    9

    3.3. Lựa chọn, tổ chức các trò chơi học tập Địa lí phù hợp với từng bài dạy và đối tượng học sinh

    14

    4. Hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí lớp 5

    17

    PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    18

    1. Kết luận

    18

    2. Kiến nghị

    18

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    20

    PHẦN 1: MỞ ĐẦU

    Lý do chọn đề tài

    Phần Địa lí (trong phân môn Lịch sử và Địa lí lớp 5) nhằm giúp cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường sống xung quanh, cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ Địa lí ở Việt Nam cũng như một số nước đại diện cho các châu lục trên thế giới. Học sinh đến với môn Địa lí là học sinh được hình thành kỹ năng quan sát sự vật, hiện tượng, thu thập tìm kiếm tư liệu Địa lí từ sách giáo khoa, trong cuộc sống gần gũi học sinh; học sinh biết trình bày kết quả học tập qua nhiều hình thức: lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ, bảng thống kê Để từ những giờ học trên lớp, các em biết đem về vận dụng vào cuộc sống phong phú, từ đó hình thành được ở các em thái độ ham học hỏi, tìm hiểu để biết về quê hương, đất nước, môi trường xung quanh, thêm yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu quê hương, đất nước và khát khao được học để trở nên con người có ích cho gia đình, xã hội, trở nên con người năng động, sáng tạo, đem hết sức mình để góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam văn minh giàu mạnh hơn.

    Muốn giáo dục cho học sinh lớp 5 có những hiểu biết về địa lí Việt Nam và thế giới thì trước hết phải tạo được tình cảm hứng thú học môn Địa lí ở mỗi em. Qua nhiều năm giảng dạy khối lớp 5, tôi thấy việc dạy và học địa lí còn khó với giáo viên và có phần tẻ nhạt với học sinh. Vì đa số phụ huynh và học sinh đều quan niệm Địa lý chỉ là môn phụ. Giáo viên cũng chưa thực sự đầu tư nhiều vào phân môn này để thu hút học sinh. Khi dạy giờ Địa lí, đa số giáo viên chỉ sử dụng các thiết bị dạy học địa lí để minh họa cho lời giảng mà ít chú ý đến chức năng nguồn tri thức của chúng, tức là không chú ý đến việc cho học sinh khai thác kiến thức từ các nguồn này. Bên cạnh đó, còn có giáo viên còn chưa vận dụng tổ chức các hình thức học tập cho các em học sinh.

    Vì vậy: Làm thế nào để dạy tốt phân môn Địa lí ở trường Tiểu học ? Làm thế nào để giáo viên truyền thụ hết kiến thức khai thác trong sách giáo khoa, khai thác trong thiết bị đồ dùng ? Làm thế nào để Địa lý không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản cần thiết mà còn là bộ môn khoa học hấp dẫn học sinh?……. là một vấn đề lớn đòi hỏi tâm huyết và sự sẻ chia của các nhà giáo, nhất là những người giáo viên trực tiếp giảng dạy ở Tiểu học.

    Chính vì những lí do trên, là một giáo viên được phân công giảng dạy nhiều năm ở lớp 5 tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:“ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí Lớp 5’’ – Một đề tài ít giáo viên đề cập đến.

    2. Mục đích nghiên cứu

    Tìm hiểu “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí Lớp 5’’ với hy vọng phần nào giúp bản thân, đồng nghiệp dạy tốt hơn phân môn Địa lí, để Địa lí không xa lạ chán nản với học sinh, để góp phần nhỏ bé xây dựng một nền móng vững chắc cho đất nước từ những lớp học sinh hoàn thiện về mặt trí thức và nhân cách. Vì có biết có hiểu, có quan tâm đến Địa lí thì các em mới yêu mến quê hương đất nước, yêu những gì mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Từ đó các em sẽ tích cực, tự nguyện tham gia xây dựng đất nước, tự hào làm rạng danh nước Việt, sánh vai với các cường quốc năm châu.

    3. Đối tượng nghiên cứu

    Nghiên cứu Sách giáo khoa Địa lí lớp 5; Quá trình dạy – học phân môn Địa lí lớp 5 ở Trường Tiểu học Thị trấn Quán Lào để tìm ra một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Địa lí Lớp 5.

    4. Phương pháp nghiên cứu

    Qua quá trình thực dạy tôi đưa ra một số phương pháp nghiên cứu là:

    – Phương pháp nghiên cứu tài liệu.

    – Phương pháp vấn đáp.

    – Phương pháp thực nghiệm.

    – Phương pháp tổ chức trò chơi.

    PHẦN 2 : NỘI DUNG

    1. Cơ sở lí luận

    Chức năng trọng yếu của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách con người toàn diện. Lực lượng chủ yếu đảm nhận và thực hiện chức năng ấy là đội ngũ giáo viên.

    Chương trình địa lí lớp 5 bao gồm 2 nội dung cơ bản:

    Địa lí Việt Nam: Học sinh học về địa lí Tổ quốc một cách có hệ thống. Từ địa lí tự nhiên đến dân cư, kinh tế nhằm giúp cho học sinh có được các kiến thức mang tính khái quát về đất nước Việt Nam, đồng thời có một số kĩ năng, phương pháp tìm hiểu về địa lí một quốc gia, một lãnh thổ cụ thể và tăng thêm tình yêu quê hương đất nước.

    Địa lí thế giới: Học sinh học về địa lí các châu lục, một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới. Phần nội dung này giúp học sinh mở rộng tầm nhìn ra thế giới bên ngoài và giúp các em biết được một số phương pháp, kĩ năng tìm hiểu địa lí một châu lục. Tuy nhiên còn có thêm bài học về các đại dương trên thế giới để học sinh có cái nhìn tổng thể về bề mặt Trái đất.

    Để học sinh nắm được nội dung của chương trình, hình thành được các kĩ năng địa lí thì đòi hỏi người giáo viên phải có vốn kiến thức địa lí vững vàng, nắm vững mục tiêu của chương trình, của mỗi bài dạy, phải chuẩn bị bài và đồ dùng dạy học chu đáo và quan trọng là biết lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với mỗi tiết dạy. Người giáo viên biết kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lí và khoa học các phương pháp sẽ làm học sinh thích thú và hào hứng tham gia học tập một cách tích cực. Như Hêghen đã nói : “ Phương pháp là sự vận động bên trong của nội dung”. Vì thế phương pháp dạy học là hệ thống những cách thức hoạt động bao gồm các hành động và thao tác của giáo viên, học sinh nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ học tập.

    Mặt khác như chúng ta đã biết đối với học sinh tiểu học việc ghi nhớ thì rất nhanh nhưng để nhớ một nội dung, một vấn đề nào đó thì lại rất khó cho nên các nhà khoa học đã nhận định rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi “Chóng nhớ, mau quên”. Muốn học sinh nhớ được vấn đề nào đó thì ngoài việc thường xuyên phải củng cố, ôn tập về nội dung cần nhất thì việc tạo cho các em cảm giác hứng thú và say mê với nội dung cần ghi nhớ, chắc chắn rằng các em sẽ dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn. Đồng thời lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi mang đặc điểm nhận thức, tư duy trực quan và cụ thể. Các em không những nhận thức tốt các vấn đề mang tính cụ thể mà còn rất có hứng thú khi khai thác, tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể, đồng thời các em cũng rất ưa thích các vấn đề trực quan mang tính bắt mắt mà các em có thể quan sát một cách dễ dàng.

    Trên cơ sở đó tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học đị lí lớp 5.

    2. Thực trạng của việc dạy – học Địa lí lớp 5

    2.1. Khi học địa lí, kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ của học sinh chưa tốt.

    Để hình thành,  khắc sâu các biểu tượng và khái niệm địa lí phải hướng dẫn cho học sinh có kĩ năng quan sát bản đồ, lược đồ. Hiện nay, do chưa thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng bản đồ, lược đồ nhiều giáo viên khi dạy phân môn Địa lí chỉ sử dụng bản đồ, lược đồ để minh họa cho lời giảng của mình, ít chú ý đến việc cho học sinh khai thác kiến thức từ các nguồn này. Còn học sinh – các em chủ yếu dựa vào kênh chữ để phát biểu, trình bày. Vì vậy, vấn đề kĩ năng thực hành Địa lí của học sinh không được thực hiện thường xuyên, các em nắm bài không sâu, không chắc chắn.

    2.2. Việc sử dụng tranh ảnh, thông tin,…. trong các tiết dạy đạt hiệu quả chưa cao.

    Hầu như trong các tiết dạy, giáo viên chỉ sử dụng tranh ảnh, thông tin có sẵn trong sách giáo khoa mà chưa chú ý đến việc sưu tầm, cập nhật thông tin, tranh ảnh trên các phương tiện thông tin đại chúng để đưa vào bài dạy,…. Bởi vậy chất lượng học tập ở các tiết học chưa cao, học sinh chỉ đọc thuộc nội dung phần ghi nhớ cuối bài, ít quan tâm đến khai thác kiến thức ở kênh hình để thấy được cái hay, cái đẹp, cái thực tế của môn học Tất cả những điều đó dẫn đến khi học tiết Địa lí các em không có sự liên hệ thực tế, không có sự hứng thú học tập, tiếp thu bài một cách thụ động.

    2.3. Việc lựa chon trò chơi học tập ở các tiết học địa lí chưa thật phong phú và phù hợp với bài dạy và đối tượng học sinh.

    Trong thực tế, một số giáo viên chưa đầu tư nhiều vào tiết dạy Địa lí, xem nhẹ phân môn này, coi Địa lí chỉ là môn phụ, dẫn đến việc lựa chọn trò chơi Địa lí chưa phù hợp với nội dung bài học hay chỉ tổ chức trò chơi một cách qua loa, chưa xác định rõ mục tiêu của trò chơi, cách tổ chức chơi gây ra sự nhàm chán cho học sinh.

    Bảng 1

    Nội dung

    Đạt

    Chưa đạt

    SL

    TL

    SL

    TL

    Chủ động tham gia các trò chơi học tập

    12em

    46,2%

    14em

    53,8%

    9em

    34,6%

    17em

    65,4%

    Biết khai thác nội dung từ bản đồ (lược đồ), bảng số liệu.

    14em

    53,8%

    12em

    46,2%

    Nắm vững các kiến thức Địa lí đã học

    14em

    53,8%

    12em

    46,2%

    3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí lớp 5

    3.1. Rèn kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ cho học sinh

    Về mặt kiến thức, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và mối quan hệ của các đối tượng địa lí trên bề mặt trái đất một cách cụ thể mà không một phương tiện nào khác có thể làm được.

    Về phương pháp, bản đồ được coi là phương tiện trực quan giúp cho học sinh khai thác, củng cố tri thức và phát triển tư duy trong quá trình học địa lí.

    Bản đồ vừa là phương tiện trực quan vừa là nguồn tri thức quan trọng, chiếm một số lượng nhiều nhất trong hệ thống kênh hình ở phần Địa lí lớp 5. Vì vậy, việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh là biện pháp phải thực hiện đầu tiên trong quá trình dạy học địa lí.

    Tôi đã chú trọng việc hình thành và phát triển ở học sinh một số kĩ năng sử dụng bản đồ như: xác định phương hướng trên bản đồ, đọc bản đồ, xác lập mối quan hệ Địa lí đơn giản giữa các yếu tố và các thành phần như: địa hình, khí hậu, sông ngòi; thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người,…

    3.1.1. Rèn luyện kĩ năng xác định phương hướng trên bản đồ.

    Việc xác định vị trí địa lí hoặc mô tả một đối tượng địa lí trên bản đồ sẽ khó khăn hoặc sai lệch nếu không nắm được cách xác định phương hướng trên bản đồ. Đầu tiên, tôi yêu cầu các em thuộc và nhớ các qui định về phương hướng trên bản đồ: Phía trên bản đồ là hướng Bắc, phía dưới là hướng Nam, bên phải là hướng Đông, bên trái là hướng Tây. Khi biết bốn hướng chính thì cũng tìm ra các hướng phụ khác trên bản đồ, ví dụ giữa Bắc và Đông là Đông Bắc, giữa Tây và Nam là Tây Nam,. Chính nhờ việc xác định được các hướng trên bản đồ sẽ giúp các em nắm được vị trí của các nước, các châu lục thể hiện trên bản đồ, lược đồ một cách dễ dàng.

    Ví dụ : Quan sát Lược đồ các châu lục và đại dương (Bài 17: Châu Á), nếu nắm vững phương hướng trên bản đồ các em dễ dàng biết được: Châu Á nằm ở bán cầu Bắc, phía Bắc giáp Bắc Băng Dương, phía Đông giáp Thái Bình Dương, phía Nam giáp Ấn Độ Dương, phía Tây Nam giáp châu Phi, phía Tây và Tây Bắc giáp châu Âu.

    3.1.2. Rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ.

    Tôi luôn luôn nhắc nhở học sinh trước hết phải đọc tên bản đồ (hoặc lược đồ) để biết bản đồ (hoặc lược đồ) đó thể hiện nội dung gì ?

    Ví dụ :

    – Bản đồ tự nhiên Việt Nam chủ yếu thể hiện các sự vật, hiện tượng tự nhiên của đất nước ta như: lãnh thổ, đồng bằng, sông, núi, biển, đảo,…

    – Lược đồ giao thông Việt Nam chủ yếu thể hiện các loại hình giao thông Việt Nam, biết loại đường nào đi từ đâu đến đâu,….

    Sau đó tìm hiểu kiến thức địa lí chứa đựng trong các kí hiệu ghi trên bản đồ.

    Ví dụ 1 : Khi cho học sinh quan sát Lược đồ một số khoáng sản Việt Nam,

    tôi đặt vấn đề: Em hãy chỉ trên lược đồ những nơi có mỏ sắt, mỏ thiếc, mỏ than,

    A-pa-tít, Bô- xít, dầu mỏ và khí tự nhiên?

    Học sinh sẽ phải đọc bảng chú giải để nắm được các kí hiệu khoáng sản, tên mỏ khoáng sản, nơi có mỏ sau đó quan sát trên lược đồ và thấy được: Sắt có ở Yên Bái, Thái nguyên, Hà Tĩnh; thiếc có ở Cao Bằng; than có ở Quảng Ninh; A-pa-tít có ở Lào Cai, Bô- xít có ở Tây Nguyên, dầu mỏ và khí tự nhiên ở Biển Đông,…

    Lược đồ một số khoáng sản Việt Nam

    Ví dụ 2: Khi cho học sinh quan sát Lược đồ phân bố rừng ở Việt Nam tôi đặt vấn đề: Dựa vào màu sắc của lược đồ, em hãy kể tên các loại rừng chính ở nước ta và xác định nơi phân bố của chúng?

    Học sinh đọc bảng chú giải và nắm được màu xanh lá cây đậm chỉ rừng rậm nhiệt đới, màu tím chỉ rừng ngập mặn. Từ đó quan sát trên lược đồ học sinh thấy được: Rừng rậm nhiệt đới phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi, còn rừng ngập mặn ở ven biển,….

    3.1.3. Xác lập mối quan hệ Địa lí đơn giản giữa các yếu tố và các thành phần như: địa hình, khí hậu, sông ngòi; thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người,…

    Ví dụ 1: Khi nêu lí do về sự khác biệt khí hậu giữa hai miền Nam – Bắc ở nước ta. Học sinh quan sát “Lược đồ khí hậu” của nước ta, phân tích và thấy được: Dãy núi Bạch Mã kéo dài ra đến biển nằm giữa hai thành phố Huế và Đà Nẵng tạo thành bức tường chắn gió. Khi gió mùa đông bắc thổi tới đây ít khi vượt qua được dãy núi này. Vì vậy phía bắc của núi (miền Bắc) có mùa đông lạnh còn phía Nam của dãy bạch Mã (miền Nam) khí hậu nóng quanh năm. Vì thế mà dãy Bạch Mã được coi là ranh giới khí hậu giữa hai miền Bắc – Nam.

    Lược đồ khí hậu

    Ví dụ 2 : Khi quan sát lược đồ tự nhiên châu Phi, qua màu sắc lược đồ học sinh thấy được: Đại bộ phận châu Phi có địa hình tương đối cao. Toàn bộ châu lục được coi như một cao nguyên khổng lồ trên các bồn địa lớn và với diện tích rộng lớn, nằm trong vòng đai nhiệt đới lại không có biển ăn sâu vào đất liền nên châu Phi có khí hậu nóng và khô bậc nhất thế giới. Và do khí hậu châu Phi như thế nên cả động vật, thực vật ở đây đều khó phát triển, phần lớn châu Phi là hoang mạc và xa-van.

    Lược đồ tự nhiên châu Phi

    *Cần chú ý: Khi học sinh thực hành chỉ các đối tượng Địa lí trên bản đồ, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chỉ đúng quy định. Chẳng hạn khi chỉ về một vùng lãnh thổ thì phải chỉ theo đường biên giới khép kín của vùng lãnh thổ đó. Khi chỉ vị trí của một thành phố thì chỉ vào kí hiệu thể hiện thành phố, chứ không chỉ vào chữ ghi tên thành phố. Khi chỉ vị trí một dòng sông học sinh phải chỉ xuôi theo dòng chảy từ thượng nguồn đến hạ nguồn.

    3.2. Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tranh ảnh, thông tin, sưu tầm được trong quá trình dạy học địa lí.

    Đối với thông tin, tranh ảnh về dân số trong nước, dân số địa phương, tỉ lệ gia tăng dân số ở địa phương:

    Thông tin

    * Theo điều tra về dân số năm 2022:

    – Dân số nước ta khoảng 93,4 triệu người, đứng thứ 3 trong khu vực và thứ 13 trên thế giới.

    – Dân số tỉnh Thanh Hóa là: 3,7 triệu người đứng thứ 3 sau TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội.

    – Dân số huyện Yên Định là: 158 256 người.

    – Từ năm 1993 đến 2003, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của Yên Định giảm từ 3,12% xuống còn 1,1%, đến cuối năm 2022 mức tăng dân số tự nhiên giảm còn 0,76%. Yên Định Luôn được xếp vào tốp hàng đầu của tỉnh về công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình.

    Hội thi Tuyên truyền viên Dân số – Kế hoạch hóa gia đình của huyện Yên Định

    Qua đó học sinh sẽ biết được dân số của nước ta và của địa phương đến thời điểm hiện tại đồng thời cũng nắm được tình hình gia tăng dân số của địa phương mình.

    Thông tin

    Số dân tăng thêm mỗi năm ở nước ta bằng số dân của một tỉnh có dân số trung bình như Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Thừa Thiên – Huế, Gia Lai, Bình Thuận, Vĩnh Long; gần gấp đôi số dân của một số tỉnh như Cao Bằng, Lào Cai, Ninh Thuận; gấp 3 lần số dân của một số tỉnh như Kon Tum, Lai Châu, Đắc Nông.

    Tranh ảnh về hậu quả của việc gia tăng dân số nhanh

    – Kinh tế: Khó khăn, thiếu ăn, thiếu mặc,

    – Xã hội: Trật tự xã hội có nguy cơ bị vi phạm cao.

    – Chỗ ở: Nhà ở chật chội thiếu tiện nghi.

    – Y tế: Bệnh viện quá tải.

    – Môi trường: Rác thải sinh hoạt tăng gây ô nhiễm.

    – Tài nguyên: Cạn kiệt vì bị sử dụng nhiều.

    Ví dụ 2: Khi giới thiệu về một số quốc gia tiêu biểu của các châu lục ở phần Địa lí thế giới nếu giáo viên cung cấp thêm các tranh ảnh về tự nhiên, danh lam thắng cảnh, của các quốc gia đó thì sẽ khắc sâu được kiến thức cho học sinh và bài học sẽ phong phú, mở rộng tầm hiểu biết của học sinh giúp các em yêu thích môn học hơn.

    Khi giới thiệu Ai Cập giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh như Kim tự tháp và Tượng nhân sư đồng thời sưu tầm các thông tin, câu chuyện về các công trình kiến trúc vĩ đại này. Giới thiệu Cam-pu-chia giáo viên giới thiệu đền Ăng – co Vát bằng hình ảnh, bài viết hay khi giới thiệu Trung Quốc giáo viên cung cấp thông tin, hình ảnh về Vạn Lí Trường Thành dài 6700 km và được xây dựng cách đây trên 2000 năm.

    Kim tự tháp và Tượng nhân sư ở Ai Cập

    Đền Ăng – co Vat ở Cam-pu-chia

    Vạn Lí Trường Thành (Trung Quốc)

    3.3. Lựa chọn, tổ chức các trò chơi học tập Địa lí phù hợp với từng bài dạy và đối tượng học sinh.

    Thực tế đổi mới chương trình và phương pháp ở tiểu học nói chung và

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Bộ Môn Tin Học 7
  • Đề Tài Một Số Giải Giáp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lập Trình Pascal Đối Với Môn Tin Học 8
  • Skkn Một Số Giải Pháp, Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Tiết Thực Hành Môn Tin Hoc Tại Trường Thpt
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Văn Đáp Ứng Kỳ Thi Thptqg
  • Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Chính Trị Trong Lực Lượng Vũ Trang Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 3
  • Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Giáo Dục Dinh Dưỡng Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ
  • Nâng cao chất lượng giảng dạy chính trị trong lực lượng vũ trang tỉnh

    Những năm qua, công tác giáo dục chính trị của lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh không ngừng được nâng lên. Qua đó đã định hướng đúng về tư tưởng, xác định ý chí quyết tâm, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, góp phần xây dựng LLVT vững mạnh về chính trị; sức mạnh chiến đấu, xứng đáng là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, chính quyền và nhân dân.

    Lớp bồi dưỡng chính trị cho dân quân, tự vệ các xã, thị trấn huyện Nghĩa Hưng.

    Đại tá Vũ Xuân Trường, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quân sự tỉnh, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh cho biết: “Những năm qua Đảng ủy Bộ CHQS tỉnh đã tập trung lãnh đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác giảng dạy chính trị trong LLVT tỉnh. Đội ngũ cán bộ giảng dạy chính trị được đào tạo cơ bản, trình độ, năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ”. Hàng năm, Đảng ủy Bộ CHQS tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch giáo dục chính trị, triển khai thực hiện trong LLVT tỉnh bảo đảm đúng, đủ nội dung, thời gian học tập. Phòng Chính trị phối hợp với Ban Tuyên giáo các huyện ủy, thành ủy chủ động chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị triển khai tổ chức thực hiện tốt nội dung giáo dục chính trị cho các đối tượng, nhất là việc tổ chức quán triệt, học tập các nghị quyết của Trung ương, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy các cấp về nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương (QP, QSĐP), các chuyên đề giáo dục chính trị, phổ biến, giáo dục pháp luật. Đồng thời thường xuyên kiểm tra rút kinh nghiệm kịp thời, đề ra các chủ trương, giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị trong LLVT tỉnh. Các cơ quan, đơn vị thường xuyên rà soát kiện toàn “Tổ cán bộ giảng dạy chính trị” cho các đối tượng bảo đảm đúng quy chế giáo dục chính trị. Kịp thời củng cố, bổ sung, nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, thống nhất về nội dung, tổ chức và phương pháp thực hiện. Hàng năm trước khi bước vào huấn luyện các cơ quan, đơn vị đã làm tốt việc tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp cho đội ngũ làm công tác giảng dạy chính trị. Từ năm 2022 đến nay, Bộ CHQS tỉnh tổ chức 6 lớp tập huấn cho cán bộ các cơ quan đơn vị; Ban CHQS các huyện, thành phố, Trung đoàn 180 tổ chức bồi dưỡng cán bộ giảng dạy chính trị 1 tháng/lần. Nội dung chủ yếu tập trung vào thống nhất phương pháp thực hành giảng bài chính trị; kỹ thuật soạn giáo án, bài giảng điện tử; kỹ năng giảng bài kết hợp giữa thuyết trình với trình chiếu; phương pháp tuyên truyền, thông báo thời sự; đồng thời cử cán bộ tham gia tập huấn do Quân khu, Tỉnh ủy tổ chức bảo đảm chất lượng tốt. Thực hiện Quy chế Giáo dục chính trị và chỉ đạo của Cục Chính trị Quân khu, Bộ CHQS tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong LLVT tỉnh làm công tác chuẩn bị và tổ chức thành công Hội thi cán bộ giảng dạy chính trị năm 2022, 2022; sơ kết 5 năm thực hiện Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới” ở cả hai cấp đúng hướng dẫn, đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Bộ CHQS tỉnh đã lựa chọn 2 đồng chí tham gia Hội thi cán bộ giảng dạy chính trị cấp Quân khu; tổ chức Hội giảng cấp Bộ CHQS tỉnh cho các đồng chí Chính ủy, Chính trị viên, Chính trị viên phó kiêm Chủ nhiệm chính trị, trợ lý chính trị các đơn vị; cán bộ chính trị các đơn vị dự bị động viên và chính trị viên, chính trị viên phó Ban CHQS các xã, phường, thị trấn. Qua đó, trình độ của đội ngũ cán bộ giảng dạy chính trị được nâng lên, qua đánh giá chất lượng hàng năm, 100% cán bộ giảng dạy chính trị hoàn thành nhiệm vụ được giao theo phân cấp, có trên 80% đạt khá, giỏi.

    Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng giảng dạy chính trị, Bộ CHQS tỉnh đã cơ bản bảo đảm vật chất, trang bị, phương tiện giảng dạy chính trị cho các đơn vị. Bộ CHQS tỉnh đã tiếp nhận, quản lý, phân bổ và sử dụng kinh phí theo đúng quy định; đầu tư mua, cấp phát 3 máy tính, 8 máy chiếu cho các cơ quan, đơn vị. Cùng với đó, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cơ quan chính trị trong tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chỉ huy các cấp nhằm tăng cường, bảo đảm kinh phí cho công tác giáo dục chính trị, phổ biến giáo dục pháp luật. Thường xuyên nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và đội ngũ cán bộ các cấp trong quản lý, sử dụng kinh phí, trang thiết bị. Một số đơn vị đã chủ động mua máy chiếu phục vụ học tập, huấn luyện, sinh hoạt tập trung như: Ban CHQS huyện Vụ Bản, Mỹ Lộc, thành phố Nam Định. Đến nay, 100% cán bộ giảng dạy chính trị biết soạn giảng bằng giáo án điện tử. Hàng năm, Đảng ủy Bộ CHQS tỉnh còn tổ chức hội thi giảng dạy chính trị nhằm rút kinh nghiệm nâng cao năng lực tổ chức, quản lý giáo dục chính trị của cấp ủy, chính trị viên. Năm 2022, Ban CHQS các huyện, thành phố đã tổ chức hội thi cấp cơ sở thu hút 327 đồng chí tham gia. Trong đó có 63 đồng chí là cán bộ thường trực, 221 đồng chí cán bộ dân quân, tự vệ; 43 đồng chí cán bộ chính trị lực lượng dự bị động viên. Kết quả hội thi cấp cơ sở đã có 72 đồng chí đạt loại giỏi; 205 đồng chí đạt loại khá. Kết quả hội thi cấp tỉnh năm 2022 có 100% thí sinh đạt khá, giỏi; trong đó 22 đồng chí đạt loại giỏi, chiếm 43,1%.

    Để tiếp tục nâng cao chất lượng giảng dạy chính trị trong LLVT tỉnh, thời gian tới, Đảng ủy Bộ CHQS tỉnh tiếp tục quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 124-CT/QUTW ngày 31-3-2011 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”; Nghị quyết số 280-NQ/ĐU ngày 10-4-2013 của Đảng ủy Quân khu về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo”; sự chỉ đạo, hướng dẫn của Cục Chính trị Quân khu và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, tạo sự chuyển biến rõ rệt về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tại đơn vị; nâng cao nhận thức chính trị của cán bộ, chiến sĩ trong LLVT tỉnh; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng; bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và nhân cách quân nhân, giữ vững, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.

    Bài và ảnh: Hoàng Tuấn

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người
  • Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng
  • 4 Nếu Thực Trạng Nguyên Nhân Và Hậu…
  • Kinh Nghiệm Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan
  • Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Chuẩn Quốc Gia Mức Độ 1 Ở Trường Tiểu Học Xuân Lộc
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh
  • Quản Lý Rủi Ro Không Thể Thiếu Với Bất Kỳ Dự Án Nào
  • Đồ Án Rủi Ro Tín Dụng Và Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng…
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Kinh Nghiệm Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    – Môn Tiếng Việt là môn có tầm quan trọng bậc nhất trong các môn học,

    có đọc thông, viết thạo, hiểu được nội dung văn bản thì mới nắm được thông tin, giải quyết những vấn đề mà văn bản nêu ra. Nghĩa là, học tốt môn Tiếng Việt thì mới có thể học tốt môn học khác.

    – Yêu cầu các em khi học xong lớp Một là phải đọc thông, viết thạo được hết các âm, vần, tiếng, từ, câu mà các em đã học (ở môn Tiếng Việt). Do đó, giai đoạn học âm và vần là nền tảng quan trọng trong việc học tập và tiếp thu những kiến thức cơ bản về sau. Nếu giai đoạn học vần các em chưa nắm vững thì sẽ dẫn đến sự tiếp thu khó khăn ở giai đoạn tập đọc.

    – Dạy tiếng Việt cho học sinh lớp Một không thể nào không chú trọng đến giai đoạn vần, có nắm được hết vần thì các em mới đọc được tiếng nếu mất căn bản từ giai đoạn này các em sẽ không ghép vần được, không đọc được tiếng hoặc ghép rất chậm, dẫn đến khó khăn cho việc học tập môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung . Chính vì thế chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần)” ở khối 1, trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân năm học 2010 – 2011.

    II- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

    – Ý thức học tập của học sinh khối 1 đối với môn Tiếng Việt.

    – Ý thức của giáo viên về tầm quan trọng của môn Tiếng Việt.

    – Sự quan tâm của phụ huynh học sinh đối với việc học của con em mình.

    – Sự giúp đỡ của ban giám hiệu đối với môn Tiếng Việt.

    – Cơ sở vật chất:

    + Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học trong nhà trường.

    + Đồ dùng học tập của học sinh.

    – Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần).

    III- PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

    Về không gian:

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) ở khối 1, trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân.

    2. Về thời gian:

    – Trong năm học 2010 – 2011, chúng tôi chia quá trình nghiên cứu ra làm 3 giai đoạn.

    + Từ đầu năm – giữa học kì I: điều tra, khảo sát thực trạng của học sinh.

    + Từ giữa học kì I – cuối học kì I: lập đề cương, đưa ra giải pháp, vận dụng thực tế, chỉnh sửa bản nháp.

    + Từ cuối học kì I – giữa học kì II: thống kê, so sánh, đối chiếu kết quả, hoàn chỉnh đề tài.

    + Từ giữa học kì II – cuối học kì II: tiếp tục vận dụng đề tài.

    IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

    Khi đi sâu vào nghiên cứu chúng tôi lựa chọn, vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.

    1-Phương pháp đọc tài liệu:

    – Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học (PTS Lê Phương Nga- Đỗ Xuân Thảo- Lê Hữu Tĩnh).

    – Để có một giờ dạy học nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, chất lượng hơn và hiệu quả hơn (Nguyễn Hữu Du- Sở GD&ĐT Vũng Tàu).

    – Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới (TS Nguyễn Trí).

    – Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa lớp Một chương trình Tiểu học mới (Đặng Huỳnh Mai).

    – Các tài liệu bồi dưỡng của dự án PEDC, hướng dẫn giáo viên về tăng cường Tiếng Việt.

    – Chỉ thị 40/2008/CT-BGD&ĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường học phổ thông giai đoạn 2008- 2013.

    – Thông tư 32/TT- BGD&ĐT về việc hướng dẫn đánh giá, xếp loại học sinh Tiểu học.

    – Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học lớp 1.

    – Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học.

    – Phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.

    – Tài liệu dạy học hòa nhập lấy HS làm trung tâm.

    – Tài liệu một số kĩ năng dạy học đặc thù trong lớp học hòa nhập.

    – Chuyên đề GDTH tập 42, 43, 44.

    – Tạp chí giáo dục Tiểu học của Bộ GD&ĐT.

    – Tài liệu về trò chơi học tập môn Tiếng Việt.

    – Tài liệu hướng dẫn tự làm đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt.

    * Qua các tài liệu trên chúng tôi tham khảo và vận dụng vào việc làm đề tài.

    2-Phương pháp điều tra

    2.1-Phương pháp đàm thoại:

    + Với phụ huynh học sinh mỗi giai đoạn 1 lần: 5 lần/ năm (đầu năm, giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II, cuối học kì II.)

    + Họp tổ chuyên môn: 2lần/ tháng.

    + Ban giám hiệu 1 tháng/ 1 lần.

    + Với học sinh trong các tiết dạy và trong các tiết hoạt động tập thể.

    2.2-Phương pháp dự giờ, thăm lớp :

    + Dự giờ minh họa chuyên đề.

    + Dự giờ đồng nghiệp: 2 tiết / 1 tháng.

    + Thao giảng: 1 tiết/ tháng.

    + Giáo án điện tử 1 tiết / HK.

    + Khối trưởng chịu trách nhiệm tổ chức hội thảo các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra việc thực hiện của giáo viên trong tổ để có sự điều chỉnh kịp thời.

    2.3- So sánh, đối chiếu kết quả:

    + Giáo viên điều tra kết quả đầu năm, phân loại học sinh để có biện pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.

    + So sánh kết quả qua từng giai đoạn: đầu năm, giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II, cuối học kỳ II (5 lần/ 1 năm).

    3- Các phương pháp khác:

    – Những phương pháp đặc biệt chú ý khi giảng dạy Tiếng Việt Một: miêu tả, hỏi đáp, quan sát, sử dụng đồ dùng trực quan, rèn luyện theo mẫu thực hành giao tiếp, trò chơi, nêu vấn đề.

    Tất cả các phương pháp trên sẽ giúp chúng tôi có một giải pháp mới, có một cái nhìn mới trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) ở lớp Một.

    B-NỘI DUNG:

    I- CƠ SỞ LÝ LUẬN:

    – Đối với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp Một nói riêng, các kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết” là những kĩ năng quan trọng hàng đầu. Như chúng ta đã biết: Đọc, viết là một dạng ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó.

    – Đọc, viết trở thành một yêu cầu cơ bản đầu tiên đối với những người đi học. Trước tiên, trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học.

    – Đọc, viết là công cụ để học các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học, nó là kĩ năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. Nếu đọc yếu (đọc sai chữ, tốc độ chậm) sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh.

    – Dạy tiếng Việt tức là dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh mà tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Lớp Một là lớp đầu cấp, mà giai đoạn học âm và vần lại là giai đoạn đầu tiên học sinh được làm quen ở môn Tiếng Việt, ở giai đoạn học vần học sinh được tiếp xúc một cách tỉ mỉ với từng con chữ để biết đọc, biết viết tiếng mẹ đẻ giúp các em học tốt môn Tiếng

    Việt. Vì thế, trẻ học tiếng Việt chính là học kĩ năng nghe – nói – đọc – viết tiếng mẹ đẻ, từ những lý luận nêu trên có thể khẳng định rằng giai đoạn học vần là giai đoạn quan trọng trong suốt quá trình học tiếng Việt của học sinh sau này.

    II- CƠ SỞ THỰC TIỄN:

    – Học sinh nắm được cấu tạo vần dẫn đến các em học tốt ở giai đoạn tập đọc.

    – Ở lớp Một rất quan trọng trong việc hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh trong từng tiết học.

    – Năm học 2010 – 2011 chúng tôi được giao nhiệm vụ dạy lớp 1 (2 buổi/ngày) với tổng số học sinh là: 203/ 101 nữ, trong đó:

    Mẫu giáo chính quy: 154/79

    Chưa qua mẫu giáo: 42/ 20

    Lưu ban: 7/ 2

    Hầu hết các em là con em gia đình làm nông, làm thuê nên phụ huynh ít có thời gian quan tâm đến việc học của con em mình. Thông qua việc giảng dạy và kiểm tra thường xuyên với từng học sinh từ đầu năm (sau 2 tuần thực dạy) chúng tôi đã nắm được thực trạng chung về chất lượng của các em như sau:

    TSHS

    Giỏi

    Khá

    Trung bình

    Yếu

    203

    SL

    TL%

    SL

    TL%

    SL

    TL%

    SL

    TL%

    40

    19,7

    58

    28,6

    65

    32,0

    40

    19,7

    Kết quả trên cho thấy là lớp 2 buổi/ngày mà tỉ lệ học sinh yếu còn nhiều. Nếu thực trạng này kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng không những cho môn Tiếng Việt mà còn ảnh hưởng đến các môn học khác. Kết quả đó là một sự khó khăn và trăn trở cho chúng tôi. Vì thế, chúng tôi đã tìm ra một số nguyên nhân của thực trạng đó là:

    1.Về học sinh:

    – Do các em đã quen với môi trường ở lớp mẫu giáo chơi nhiều hơn học và hôm nay đã sang với môi trường mới (lớp Một) học nhiều hơn chơi cho nên các em còn quá bỡ ngỡ khi đến lớp, đến trường.

    – Sự phát triển nhận thức của học sinh cùng lứa tuổi không đồng đều, việc lĩnh hội kiến thức thiếu vững chắc.

    – Sự tập trung chú ý chưa cao, tư duy chưa phát triển.

    – Đa số học sinh còn thụ động, nhút nhát, khó nhớ, mau quên.

    – Chưa nắm được quy tắc đánh vần, một số em đánh vần chưa đúng quy tắc do phụ huynh dạy trước ở nhà.

    – Nhận thức học tập của các em còn nhiều hạn chế.

    – Phần đông gia đình học sinh là dân ở nhiều nơi tập trung về sinh sống, do đó, cách phát âm ở các em có nhiều sai sót, lẫn lộn như: phát âm chưa rõ, thói quen nói theo tiếng địa phương.

    – Học sinh thường phát âm sai các vần dễ lẫn lộn.

    Ví dụ: ưi/ ươi, ai/ ay, ao/ au, ăc/ ăt, ui/ iu, ăn/ ăng, an/ anh, ơi/ ưi

    – Bên cạnh đó, một số em chưa có ý thức học tập, không tập trung trong giờ học dẫn đến không nắm chắc hết các vần sau khi kết thúc giai đoạn vần.

    2. Về giáo viên:

    – Chưa có trách nhiệm đối với việc rèn nền nếp học cho học sinh.

    – Chưa đi sâu vào cách tổ chức lớp học như thế nào cho sinh động để gây hứng thú và tính tích cực trong học tập của học sinh.

    – Chưa phát hiện kịp thời học sinh yếu để kèm cặp.

    – Dạy theo lối áp đặt và chạy theo thời gian, không dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.

    3. Về phụ huynh:

    – Do địa bàn ở đây là biên giới, dân cư số đông là Việt kiều Campuchia về, mặt bằng dân trí không đồng đều, đời sống vật chất gặp nhiều khó khăn, nhận thức còn hạn chế, có nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn giao phó cho giáo viên vì cho rằng “việc học ở trường là đủ” không cần phải bận tâm kể cả những buổi nghỉ thứ bảy, chủ nhật, hoặc có quan tâm thì dạy con chưa đúng quy tắc đánh vần. Từ những ý thức sai lầm ấy đã dẫn đến chất lượng học tập của con em mình chưa cao.

    4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học:

    III- NỘI DUNG VẤN ĐỀ:

    * Phân công thành viên trong tổ:

    – Mỗi giáo viên chủ nhiệm chịu trách nh … – Phân loại đối tượng HS từ đó có phương pháp phù hợp với từng đối tượng HS.

    – Vận dụng các phương pháp / kĩ thuật dạy học vào tiết học một cách hiệu quả.

    – Xây dựng nề nếp học tập, sử dụng hiệu quả 15 phút truy bài đầu giờ.

    + Kẻ bảng con, kẻ bảng lớp, khăn ẩm.

    + Sắp xếp ngăn nắp đồ dùng học tập.

    + Thực hiện các kí hiệu lấy đồ dùng dạy học.

    + Xây dựng góc ngôn ngữ.

    + Xây dựng đôi bạn cùng tiến; sắp xếp chỗ ngồi hợp lí.

    – Mỗi tháng hợp 2 lần gv đưa ra các giải pháp mới để rút kinh nghiệm triển khai toàn khối thực hiện các giải pháp, phương pháp rút kinh nghiệm kịp thời.

    – Tăng cường làm đồ dùng dạy học.

    – Tham mưu với BGH để có sự chỉ đạo kịp thời.

    1. Với giáo viên:

    – Khi dạy lớp Một người giáo viên cần chú ý coi trọng quan điểm dạy học, phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh, làm cho học sinh được đọc nhiều, viết nhiều.

    – Nội dung, phương pháp giảng dạy của giáo viên phải phù hợp với từng đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu.

    – Mặt khác giáo viên cần tăng cường những lời khen để động viên, khuyến khích các em nhằm tạo hứng thú học tập tốt cho các em.

    – Giáo viên phải chịu khó quan tâm đến từng cá nhân học sinh đặc biệt là học sinh yếu kém, đọc mẫu, viết mẫu đúng hướng dẫn.

    – Khi lên lớp giáo viên phải cố gắng khắc phục khó khăn để có đồ dùng trực quan, tranh ảnh, vật thật phục vụ cho bài dạy.

    Ví dụ: Những đồ dùng trực quan đơn giản:

    + Cái chổi dạy vần ôi.

    + Ngôi sao dạy vần ao.

    + Quả cam dạy vần am.

    + Cái bàn dạy vần an.

    + Cuộn len dạy vần en.

    + Cái bảng dạy vần ang.

    + Quả chanh dạy vần anh.

    + Cuốn sách dạy vần ach.

    + Thước kẻ dạy vần ươc.

    + Hộp sữa dạy vần ôp.

    + Tờ lịch dạy vần ich.

    – Trong giờ học, giáo viên phải đặc biệt chú ý cho học sinh sử dụng thật nhiều bộ chữ cái ghép tiếng Việt, giáo viên cần nghiên cứu, suy nghĩ để có thể phát huy tác dụng của bộ chữ ghép. Cần hướng dẫn tốt cho học sinh thực hành, luyện tập cá nhân ghép vần, ghép tiếng, hoặc tổ chức trò chơi, để học sinh được “học mà chơi, chơi mà học”.

    Ví dụ: Cho học sinh tìm vật có tên chứa vần vừa học trong số những vật mà giáo viên đã chuẩn bị để trên bàn, điều này góp phần không nhỏ trong việc gây hứng thú cho học sinh.

    – Ở mỗi tiết dạy Tiếng Việt (học vần) giáo viên cần nắm được những vần mà học sinh chưa nhớ, giáo viên ghi những vần đó vào bảng phụ để rèn học sinh vào 15 phút đầu giờ và các tiết buổi chiều để thuận lợi cho giáo viên kiểm tra học sinh yếu hằng ngày.

    – Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập, củng cố có thể thực hiện linh hoạt bằng nhiều hình thức khác nhau, cá nhân, nhóm đôi, nhóm bốn, tổ, cả lớp

    – Vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là: miêu tả, giảng giải, hỏi đáp, sử dụng đồ dùng trực quan, rèn luyện theo mẫu, trò chơi.

    – Trong tiết dạy, khi giáo viên hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên phải là người phát âm chuẩn xác.

    Ví dụ: ở bài học vần ong

    + Giáo viên phải đọc mẫu thật chuẩn.

    + Khi dạy, giáo viên cho học sinh ghép vần mới ở bộ chữ o ghép với n và g được vần ong.

    + Cho học sinh phân tích: o-ng-ong, đánh vần o ngờ ong.

    + Khi ghép tiếng mới học sinh chỉ thay phụ âm đầu để ghép, vần giữ nguyên, lúc này giáo viên đến giúp đỡ học sinh yếu, có thể gợi ý cho học sinh lấy âm đầu đã học để ghép với vần mới và nhẩm đánh vần thành tiếng mới.

    + Gọi học sinh đọc cá nhân.

    – Như vậy, giáo viên phải rèn cho học sinh yếu nắm được tất cả các âm, vần, trong lúc học giáo viên có thể ôn cho học sinh nhớ lại các âm, vần đã học.

    – Khi dạy vần mới, dạy theo nội dung sách giáo khoa, dạy đánh vần vần mới, hướng dẫn ghép âm, vần thành tiếng mới.

    – Hướng dẫn học sinh đọc từ ngữ, câu ứng dụng làm quen với cách đọc từ, cụm từ,câu ngắn, hướng dẫn học sinh viết vần mới vào bảng con. Cho học sinh luyện tập bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.

    – Ở giai đoạn âm giáo viên dạy cho học sinh nắm chắc tất cả các âm đã học (đọc được, viết được, ghép được tiếng).

    – Ở giai đoạn vần, đặc biệt là trong tiết học mới, giáo viên cần dạy cho học sinh cơ chế đánh vần đúng và chuẩn xác. Nếu học sinh chưa phát âm chuẩn ta so sánh để học sinh đọc đúng hơn.

    Vì vậy, giáo viên cần tìm tòi suy nghĩ dạy cho học sinh cách phát âm chuẩn để các em phát âm đúng và viết đúng chính tả ở môn Tiếng Việt và các môn học khác.

    Trao đổi kĩ với phụ huynh cơ chế đánh vần, tiếng.

    Ví dụ: đánh vần “ôi”: ô-i-ôi.

    Đánh vần tiếng “chổi”: chờ-ôi-chôi-hỏi-chổi.

    Giáo viên thường xuyên kiểm tra trong từng tiết dạy và truy bài 15 phút đầu giờ, học sinh đọc nhiều, viết nhiều, giáo viên đặt ra những câu văn ngắn có các vần dễ lẫn lộn để học sinh luyện đọc nhiều.

    – Giai đoạn vần giáo viên dạy cho học sinh nắm chắc tất cả các vần đã học (đọc được, viết được, ghép được tiếng).

    2. Với học sinh: Phân loại học sinh để có kế hoạch bồi dưỡng, phụ đạo cụ thể:

    Đối với học sinh khá giỏi:

    – Nâng cao hơn khi học sinh đã có được khả năng căn bản về nghe, nói, đọc, viết, tìm nhiều tiếng, từ có chứa vần vừa học.

    Ví dụ: bài vần im

    Tím, kim, mỉm, nhím, thím, phim

    Màu tím, kim chỉ, con nhím, mỉm cười, chú thím, bộ phim

    – Đối với phát triển lời nói tự nhiên thì giáo viên có thể hỏi để học sinh trả lời câu dài hơn và đảm bảo tròn câu, đủ ý, nói lưu loát hoặc khi viết không chỉ viết đúng mà phải đẹp sắc sảo từng nét viết, động viên khuyến khích học sinh có ý thức tự giác học ở mọi lúc, mọi nơi.

    Đối với học sinh khá:

    – Theo dõi sự chú ý của học sinh, kiểm tra kịp thời sự tiếp thu bài phân tích sai lầm và hướng dẫn sửa chữa.

    – Tìm cách nâng dần những kĩ năng, kiến thức đã đạt được, hoàn thiện hơn vốn tiếng Việt cho học sinh.

    Đối với học sinh trung bình-yếu:

    – Học sinh yếu phải được sắp xếp ngồi ở đầu bàn hai dãy để giáo viên lên xuống, tiện việc quan tâm và uốn nắn các em. Đồng thời, mỗi học sinh yếu sẽ ngồi với một học sinh khá giỏi, bởi vì có câu: “học thầy không tày học bạn” sẽ giúp các em thực hiện tốt phong trào “đôi bạn cùng tiến”.

    – Ngoài ra trong giờ học, mỗi học sinh có một tấm bìa cứng màu trắng kích thước 15 x 20cm dùng để kê tay trong khi viết và cũng là phương tiện học vần rất tốt: Giáo viên dạy bài nào thì khi phân tích vần xong học sinh sẽ tự tay mình viết vần đó vào tấm bìa theo thứ tự.

    Ví dụ:

    Hôm nay học vần “ui, ưi” thì tấm bìa của các em đã ghi: ia, ua, ưa, oi, ai, ôi, ơi, học sinh sẽ ghi tiếp vần ui, ưi vào sau vần “ơi” để các em khắc sâu, nhớ lâu hơn và một lần nữa tự khẳng định lại kiến thức mình vừa học.

    – Mỗi học sinh có một bộ chữ cái tiếng Việt để học sinh ghép tiếng sau khi giáo viên giới thiệu từ khóa.

    – Mặt khác, giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn cho học sinh thói quen tự học vần, tiếng, từ qua hình ảnh các con vật, truyện, sách, báo được trưng bày ở “Góc ngôn ngữ” vào các giờ chơi, các tiết hoạt động ngoài giờ để các em khắc sâu và ghi nhớ các vần đã học.

    – Bên cạnh đó giáo viên thường xuyên tổ chức cho các em tham gia vào các trò chơi như: hái quả tìm vần, bốc thăm tên các con vật có chứa vần đã học, chọn đồ vật được chuẩn bị sẵn ở “Góc ngôn ngữ” đọc tên và nói tên vần; tổ chức cho học sinh đọc truyện theo nhóm đôi để các em được tiếp xúc với mặt chữ nhiều và gây sự hứng thú trong học tập.

    3. Với phụ huynh:

    – Tăng cường các cuộc họp phụ huynh sau các giai đoạn (giữa học kì I- cuối học kì I- giữa học kì II- cuối học kì II) để báo cáo kết quả học tập của các em đồng thời vận động cha mẹ học sinh phối hợp chặt chẽ hơn trong việc giáo

    dục học sinh làm cho mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường ngày càng tốt đẹp.

    – Bên cạnh đó giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh về cơ chế đánh vần, tiếng, để phụ huynh có thể kèm thêm con em mình ở nhà.

    Ví dụ: đánh vần “ôi”: ô-i-ôi.

    Đánh vần tiếng: “chổi” chờ-ôi-chôi-hỏi-chổi.

    Đồng thời tự chọn những biện pháp mới giúp dạy và học có hiệu quả hơn.

    IV- KẾT QUẢ:

    Qua từng bước thực hiện những biện pháp mới vào thực tiễn khối 1, kết quả môn Tiếng Việt đạt được ở các giai đoạn như sau:

    Các giai

    đoạn

    Lớp

    Tổng số

    học sinh

    Giỏi

    Khá

    Trung bình

    Yếu

    SL

    TL %

    SL

    TL %

    SL

    TL %

    SL

    TL %

    GHKI

    1A

    70

    34,5

    60

    29,6

    53

    26,1

    20

    9,8

    1B

    74

    34,5

    58

    28,6

    54

    26,6

    17

    8,3

    1C

    1D

    1E

    1G

    TC

    203

    CHKI

    1A

    1B

    1C

    1D

    1E

    1G

    TC

    203

    GHKII

    1A

    1B

    1C

    1D

    1E

    1G

    TC

    203

    Bên cạnh những ưu điểm, đề tài vẫn còn những mặt hạn chế: một số học sinh còn thụ động, chưa hăng say trong học tập, vẫn còn học sinh yếu. Vì vậy, từ đây đến cuối năm chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm và bổ sung những biện pháp mới để tạo sự hứng thú học tập nhằm hạn chế số học sinh yếu.

    C- KẾT LUẬN:

    I-BÀI HỌC KINH NGHIỆM :

    Khi vận dụng đề tài vào thực tiễn, chúng tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) cho học sinh cần phải:

    + Vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là những ưu điểm lớn nhất của phương pháp dạy học Tiếng Việt Một (giai đoạn vần) do đó, giáo viên cần thực hiện tốt việc rèn học sinh yếu trong từng tiết dạy.

    + Sắp xếp một cách khoa học về chỗ ngồi của từng đối tượng học sinh, đồng thời có tính thực tế trong việc sử dụng phương pháp dạy học, vận dụng triệt để bộ chữ cái mà học sinh ghép vần và tiếng trong mỗi tiết dạy để học sinh nắm vững về vần hơn.

    + Tổ chức lớp học sinh động với vai trò: “thầy chủ đạo, trò chủ động” nhằm phát huy tính tích cực khả năng độc lập của học sinh.

    + Áp dụng đổi mới phương pháp dạy và học nâng cao năng lực của học sinh mà vẫn đảm bảo tiết học nhẹ nhàng, thoải mái, để học sinh“học mà chơi, chơi mà học”.

    + Giáo viên cần phải có sự chuẩn mực trong cách đọc: đọc đúng, phát âm chính xác, to, rõ ràng.

    + Giáo viên phải có sự kiên trì, nhẫn nại và dịu dàng khi rèn đọc, viết cho học sinh.

    + Phải có sự kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để hướng dẫn các em rèn luyện thêm khi ở nhà.

    III- HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP:

    Từ kết quả đã đạt được khi vận dụng những biện pháp nâng cao chất lượng giai đoạn vần, hướng nghiên cứu tiếp của chúng tôi là: “Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn tập đọc)” vào năm học tới 2010 – 2011.

    —— ****** ——

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Giáo Viên Thpt Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục
  • Skkn Một Số Biện Pháp Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Thông Qua Hoạt Động Tạo Hình Cho Trẻ 4
  • 20 Cách Làm Marketing Online Hiệu Quả Mà Không Phải Ai Cũng Biết
  • 5 Cách Marketing Hiệu Quả
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Với Chi Phí Cực Thấp
  • Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở
  • MỤC LỤC

                                                           Trang

    A. PHẦN MỞ ĐẦU.

    I. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………………….

    2

    II. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………………..

    3

    III. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………………..

    3

    IV. Đối tượng khảo sát…………………………………………………………………….

    3

    V. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu………………………………………………….

    3

    VI. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………

    4

    B. PHẦN NỘI DUNG.

     

    I. Cơ sở lí luận……………………………………………………………………………….

    4

    II. Cơ sở thực tiễn ………………………………………………………………………….

    5

    III. Thực trạng vấn đề nghiên cứu…………………………………………………….

    5

    IV. Nội dung nghiên cứu………………………………………………………………..

    7

    V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm……………………………………………

    26

    VI. Những bài học kinh nghiệm……………………………………………………….

    27

    C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.

     

    I. Kết luận……………………………………………………………………………………..

    28

    II. Những khuyến nghị……………………………………………………………………

    29

    D. TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………

    30

     

     

     

     

     

    ĐỀ TÀI:

                     MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG

         CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN LỊCH SỬ 7

    I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.                                                                                       

        Môn lịch sử trong nhà trường phổ thông nói chung ở lớp 7 nói riêng có chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ. Không chỉ ở nước ta mà ở các nước tiên tiến trên thế giới cũng chú trọng việc dạy môn lịch sử vì nó đào tạo con người có bản sắc dân tộc.

    Bộ giáo dục coi trọng việc dạy và học bộ môn lịch sử. Đúng như Hồ Chí Minh đã khẳng định trong hai câu thơ mở đầu trong cuốn lịch sử nước ta:

    “Dân ta phải biết sử ta                                                                                                       Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

    Nhưng trong thực tế cũng không ít người cho rằng, môn lịch sử là bộ môn học thuộc nặng về ghi nhớ những sự kiện năm tháng dài lê thê và xếp vào môn phụ, vì vậy ảnh hưởng không tốt vào mục tiêu đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ.

    Trong quá trình giảng dạy và kết quả học tập của học sinh, tôi đã xác định lịch sử là một bộ môn khoa học có ưu thế hình thành nhân sinh quan cho học sinh, rèn tư duy sáng tạo cho các em, đặc biệt giúp cho học sinh từ hiểu biết lịch sử mà rút ra kinh nghiệm quý giá để xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

     Để đạt được kết quả trên thì việc áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy vào tiết học lịch sử là rất quan trọng. Trong quá trình giảng dạy, ngoài các phương pháp thường dùng tôi chú trọng vào việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, kể chuyện lịch sử, sử dụng kênh hình, phương pháp hoạt động nhóm, liên hệ với thực tế để giáo dục tư tưởng cho học sinh.

               Các câu chuyện lịch sử, tranh ảnh, hoạt động nhóm… không chỉ có tác dụng làm nổi bật nội dung, mà còn là nguồn tri thức không thể thiếu được trong bài học. Nếu những câu chuyện lịch sử, tranh ảnh và hoạt động nhóm được sử dụng tốt, sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu với nhau:  tai nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát huy đựơc năng lực chú ý quan sát, hứng thú của học sinh. Với tính ưu việt đó, vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” để nghiên cứu và cùng chia sẻ.

    Với việc nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn sẽ góp phần nhỏ giúp giáo viên tiến hành một giờ dạy học lịch sử đạt hiệu quả hơn, học sinh tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức của bài học, từ đó nâng cao chất lượng dạy học lịch sử trong nhà trường. Đó là lý do tôi chọn đề tài này. 

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    1. Đối với giáo viên.

    Sáng tạo về phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, phát triển tư duy, tính tích cực, tự giác, tự học tập của học sinh.   

    Chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụng kiến thức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tế cuộc sống.

    Thiết kế tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động của bài học lịch sử lớp 7 với hình thức đa dạng, phong phú, có sự hấp dẫn, phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường.

    2. Đối với học sinh.

              Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập, tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.

    Thông qua nội dung bài học, lên hệ thực tế tạo cho học sinh biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày và có cuộc sống bình thường trong một xã hội hiện đại.

    III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

              Áp dụng “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” vào tổ chức dạy và học làm tăng hứng thú học môn lịch sử của học sinh, từ đó tạo cho học sinh ý thức muốn lĩnh hội cả về kiến thức, kĩ năng lẫn thái độ.

    IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT.

    Học sinh lớp 7A, 7B trung học cơ sở.

    V. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU.

    1. Phạm vi nghiên cứu.

              Để nâng cao quá trình tiếp thu và tạo hứng thú của các em trong quá trình học lịch sử, tôi tiến hành nghiên cứu “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7”. Đề tài tập trung giới thiệu và giải quyết những vấn đề về việc áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực như kể chuyện lịch sử, sử dụng tranh ảnh và tiến hành hoạt động nhóm trong việc tổ chức dạy và học.

    Trong đề tài này tôi tập trung nghiên cứu toàn bộ bộ môn lịch sử 7 và có thể áp dụng cho tất cả các khối 6,8,9 học lịch sử và có một số điểm áp dụng cho môn Văn, Giáo dục công dân…

    2. Kế hoạch nghiên cứu.

    VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

    – Tìm hiểu thực tế.

    – Nghiên cứu thực nghiệm.

    – Tổng hợp tư liệu, tài liệu.

    B. PHẦN NỘI DUNG.

    I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.

     Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công lớn trong học tập của các em ”, trước khi người ra đi trong di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn dặn:

    “ Phải giáo dục thế hệ trẻ để cho họ trở thành người vừa hồng vừa chuyên”

    Trong điều kiện khoa học kỉ thuật phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn, một nhiệm vụ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi là chiến lược của dân tộc mình.

    Vì thế đại hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam trong nghị quyết ghi rõ “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của một dân tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó. Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống vừa mang tính giáo dục,vừa mang tính giáo dưỡng cao hơn là giáo dưỡng hướng đến nguồn gốc cội nguồn của tổ tiên và trân trọng nó.

    Trong những năm gần đây, chương trình SGK mới của bộ GD-ĐT đã có rất nhiều những thay đổi về nội dung của bài học, về số lượng câu hỏi, bài tập, bài thực hành, sơ đồ, lược đồ…Những sự thay đổi đó nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục ở đối tượng học sinh, mà chất lượng của học sinh phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp dạy học của giáo viên.

    Nếu như trước đây việc truyền thụ kiến thức là nhiệm vụ quan trọng và đòi hỏi người dạy phải đóng vai trò chủ đạo tận dụng hết mọi năng lực của mình để giúp học sinh vấn đề bằng phương pháp thuyết giảng cho học sinh tiếp thu là chính. Thì nay phương pháp này không hợp lý trong chương trình sách giáo khoa mới từng bộ phận. Chương trình học ở các bậc học để áp dụng phương pháp dạy học mới lấy học sinh làm trung tâm, học sinh đóng vai trò chủ đạo trong tiết học thì người thầy, người giáo viên soạn giảng phải có những phương pháp dạy học mới.

    II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.

    Dạy học là một quá trình d­ưới sự hoạt động tổ chức, điều khiển của ng­ười giáo viên, còn ngư­ời học tự giác, tích cực, chủ động biết tự tổ chức điều khiển hoạt động  học tập của mình.

    Đặc thù học tập môn lịch sử của bậc trung học cơ sở là các em phải tiếp cận với nhiều sự kiện lịch sử, với những vị anh hùng, những danh nhân lịch sử vĩ đại không chỉ của dân tộc mà cả của thế giới từ cổ đến trung, từ cận đại đến hiện đại . Khi học lịch sử thì yêu cầu các em phải nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học một cách chính xác, đầy đủ. Vì thế bộ môn Lịch sử khó gây đ­ược hứng thú học tập ở các em.

    III. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

    Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, rất nhiều câu chuyện lịch sử đã được khám phá, tranh ảnh được đăng tải vì vậy giáo viên có thể dễ dàng tìm được những câu chuyện, tranh ảnh lịch sử hay, phù hợp và hỗ trợ nhiều cho nội dung mà bài học không đề cập hết.

    Giáo viên đã được đào tạo và tập huấn thường xuyên về đổi mới phương pháp dạy học.

    2. Khó khăn.   

    * Học sinh:  

    Chất lượng dạy học môn Lịch sử hiện nay đặt ra vấn đề cần suy nghĩ. Số lượng học sinh say mê yêu thích môn Lịch sử là rất ít.        

    Quan niệm của học sinh đối với môn lịch sử còn lệch lạc nên các em không đầu tư, không chú ý, xem thường hoặc học cho xong.

              Vì bộ môn Lịch sử lớp 7 với nhiệm vụ cung cấp một khối lượng kiến thức tương đối phong phú về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc cần đặt ra yêu cầu cao mới thực hiện được nhiệm vụ đó, mặt khác do đặc trưng của bộ môn Lịch sử nó gây ra nhiều khó khăn cho quá trình nhận thức của các em. Vì đối tượng của lịch sử là quá khứ đã diễn ra, không thể tái hiện, không thể “ trực quan sinh động”, cũng không thể trực tiếp quan sát được.

    * Phụ huynh:

    Gia đình là môi trường đầu tiên giúp học sinh có ý thức học tập đối với môn Lịch sử, nhưng hiện nay không có nhiều gia đình, các bậc cha mẹ khuyến khích con em yêu thích lịch sử và tạo điều kiện cho con em học tốt, học giỏi môn này, vì một tâm lý “thực dụng”.

    * Giáo viên:

    Giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường một phần nào đó chưa gây được sự hứng thú, tìm tòi và khám phá cho học sinh trong việc học bộ môn, cho nên nhiều học sinh chán ghét bộ môn và học chỉ để đối phó dẫn đến chất lượng kiểm tra một số em ở một số lớp còn thấp.

    Tôi đã tiến hành khảo sát trước khi vận dụng dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 và thu được kết quả như sau:

    Năm học 2022 – 2022

    Sĩ số

    HS ( Giỏi )

    HS ( Khá )

    HS (Trung bình)

    HS ( Yếu )

    62

    16

    9

    30

    7

    Tỷ lệ

    26 %

    15 %

    48 %

    11 %

     

    IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

              Qua thực tế, chúng ta (những người trực tiếp đứng lớp, những nhà quản lý giáo dục) đều hiểu rằng: Hiện đang có tình trạng học sinh không yêu môn lịch sử, một trong những lí do là bởi phương pháp dạy còn nhàm chán. Để học sinh yêu và có hứng thú hơn với môn lịch sử, tôi xin đưa ra một số phương pháp nhằm nâmg cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 nói riêng và lịch sử trung học cơ sở nói chung.

    1. Phương pháp kể chuyện lịch sử.

    1.1. Khái niệm về phương pháp kể chuyện lịch sử.

    1.2. Nguyên tắc kể chuyện lịch sử.

    Có thể nói rằng, bất cứ nơi nào, ở đâu những câu chuyện kể luôn luôn mang lại hiệu quả. Đặc biệt là tính giáo dục của các câu chuyện, môn lịch sử cũng không là ngoại lệ. Điếu quan trọng là ta phải biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ để nó phát huy giá trị và không làm mất thời gian của tiết học.

    Khi sử dụng giáo viên phải biết chắt lọc, kể ngắn gọn và sau mỗi câu chuyện phải biết đặt những câu hỏi hoặc gợi ý cho học sinh nêu lên suy nghĩ của mình, từ đó học sinh tiếp nhận kiến thức một cách chủ động.

    1.3. Ứng dụng cụ thể phương pháp kể chuyện lịch sử trong giờ dạy.

    Ví dụ 1: Khi dạy bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê, ở mục I­2­   giáo viên có thể kể về thái hậu Dương Vân Nga:

               ( Theo: Các triều đại Việt Nam)

    Kể chuyện này giáo viên chú ý bỏ qua những đoạn đánh giá nhận xét mà tập trung vào đoạn Dương Vân Nga lấy áo bào khoác lên người Lê Hoàn, cách đối xử của mọi người đối với bà. Từ đó đặt câu hỏi để học sinh thể hiện ý kiến của mình đối với thái hậu Dương Vân Nga, qua đó giáo dục tư tưởng cho học sinh.

    Ví dụ 2. Khi dạy bài 14 – Ba lần kháng chiến chống quan xâm lược Mông – Nguyên, ở mục IV – Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử,  có thể kể về Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, …

    HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

    Hơn bảy trăm năm trước, cả Á – Âu đang trong cơn kinh hoàng, khiếp đảm về cái hoạ Tác – ta (giặc Mông ), khi chúng lướt trên vó ngựa viễn chinh tàn phá hết nước này sang nước khác. Từ Thái Bình Dương sang tận bên bờ  Địa Trung Hải, khắp Á – Âu chưa có một danh tướng nào ngăn cản được. Giáo hoàng La Mã sợ hãi đến nỗi “… tuỷ khô, thân gầy, sức kiệt”. Người Đức hàng ngày cầu nguyện: “ Xin chúa cứu vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ Tác – ta !”, vó ngựa của chúng đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó. Vậy mà ở miền Đông Nam châu Á, lũ giặc Tác – ta phải kinh hồn, lạc phách trước ý chí chiến đấu và tài nghệ quân sự tuyệt vời của quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy thiên tài của Quốc Công Tiết chế, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.

            Công lao to lớn của Người, ba lần tổng chỉ huy quân dân Đại Việt cả phá quân Nguyên – Mông hung bạo, đánh cho chúng thất điên bát đảo, Trấn Nam Vương Thoát Hoan chui vào ống đồng có người kéo qua biên ải mới thoát chết.

    Với tài thao lược, trí dũng song toàn, luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, Trần Hưng Đạo không chỉ sống mãi trong lòng mọi người dân đất Việt mà còn vang danh khắp năm châu bốn biển. Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300) là một anh hùng kiệt xuất của dân tộc ta đồng thời là danh nhân quân sự cổ kim của thế giới.

    Người sinh ngày 10-12-1228 (Mậu tý), là con của An sinh vương Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông – Trần Cảnh).

    Người dung mạo hùng vĩ, thông minh hơn người, đủ tài văn võ, chuyên tâm nghiên cứu lục tam thao lược của người xưa và dành cả tâm huyết, hiểu biết của mình để viết: Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ  để dạy các tướng cầm quân đánh giặc, khích lệ lòng yêu nước của quân dân Đại Việt.

    Trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần hai, thấy rõ nếu để ngành trưởng và ngành thứ xích mích, nghi kị lẫn nhau thì chỉ có lợi cho kẻ thù. Người đã chủ động giao lưu hoà hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự đoàn kết nhất trí trong Vương triều, bảo đám đánh thắng quân thù .

              Chuyện kể rằng: Một hôm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ở bến Bình Than sai người mời Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ rồi sai người nấu nước thơm tự mình tắm rửa với Trần Quang Khải, từ đó vĩnh viễn xoá bỏ hiềm khích giữa hai chi họ (Quốc Tuấn là con của Trần Liễu ngành trưởng , Quang Khải con  của Trần Cảnh ngành thứ ). Lần khác, Quốc Tuấn đem việc xích mích hỏi các con, Trần Quốc Tảng  có ý khích ông nến cướp ngôi của chi thứ.

    Ông nổi giận rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. May nhờ các con và những người tâm phúc van xin, ông mới bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng:

    Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn thằng nghịch tử, phản thầy này nữa.

    Trong kháng chiến ông luôn hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt .dư luận xì xào sợ ông giết vua. Ong liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm nghi, làm yêu lòng dân quân.

    Ba lần chống giặc Nguyên – Mông, các vua Trần đều giao cho ông chức Tiết chế(tổng tư lệnh quân đội ), vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính vì vậy tướng sĩ hết lòng thương yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đạo quân bách chiến bách thắng.

    Trần Quốc Tuấn là vị tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược Vạn Khiếp tổng bí truỵền thư để răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc.khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, ông viết “ Hịch tướng sĩ”, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng bại, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn chương của một bậc đại bút.

    Trần Quốc Tuấn là một bậc đại tướng gồm đủ đức và tài. Là tướng nhân oâng thương dân như quân, chỉ cho họ con đường sáng. Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều nghĩa. Là tướng trí, ông xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh giặc, tạo nên những trận Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời. Là tướng tín, ông bày tỏ trước quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông sẽ gặp hoạ. Cho nên cả ba lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọg trách điều sát binh mã và đều la[65 được công lớn.

    Hai tháng trước khi mất, vua Anh tông đến thăm và hỏi:

    – Nếu chẳng may khanh mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao ?

    Ông đã trăng trối những lới tâm huyết ,sâu sắc, đúng cho mọi thời đại:

    – Thời bình phải khoan thứ sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.

    Mùa thu tháng tám, ngày 20 năm Canh tý (1300) “Bình Bắc đại nguyên soái” Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn qua đời. Theo lới ông dặn, thi hài ông được hoả tảng thu vào bình đồngvà chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng , trồng cây như cũ. Vua gia phong cho ông chức Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông lúc sinh thời.

    ( Theo: Các triều đại Việt Nam )         

              Lúc kể những câu chuyện lịch sử chính là lúc HS tập trung chú ý lắng nghe, đó là cơ hội tốt để giáo dục tư tưởng cho HS, làm cho HS càng thêm yêu dân tộc mình, biết thêm những điều mà trong SGK chưa cung cấp nhưng lại rất cần thiết trong cuộc sống, trong quá trình học tập của mỗi con người.

    Có một điều chắc chắn rằng HS sẽ nhớ nội dung của mỗi bài nhiều hơn nhờ những câu chuyện này. Đặc biệt HS sẽ biết nhiều hơn về mỗi triều đại, biết nhiều nhân vật lịch sử hơn. Từ đó môn lịch sử có giá trị cao hơn trong lòng các em. Điều này có thể được chứng thực ở lớp 7A­,7B.

    Nguyên tắc khi kể chuyện trong giờ học lịch sử là không kể tràn lan và phải thông qua câu chuyện để làm nổi bật nội dung bài, giáo dục tư tưởng cho học sinh.

    2. Phương pháp khai thác kênh hình.

    2.1. Phân loại kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử.

    Tranh, ảnh lịch sử: Là kênh hình có khả năng khôi phục lại hình ảnh của những con người, đồ vật, sự kiện lịch sử, biến cố một cách cụ thể sinh động và khá xác thực.

    Lược đồ lịch sử: Là kênh hình nhằm xác định địa điểm của những sự kiện trong thời gian và không gian nhất định. Đồng thời giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các hiện tượng Lịch sử về mối quan hệ liên hệ nhân quả, có tính quy luật và trình độ phát triển của quá trình Lịch sử, giúp các em học sinh ghi nhớ những kiến thức đã học.

     Biểu đồ: Là kênh hình dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện Lịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học. Biểu đồ thường được biểu diễn trên trục hoành ( Ghi thời gian) và trục tung ( Ghi sự kiện).

    2.2. Kỹ năng khai thác kênh hình.

    Để khai thác tốt kênh hình phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn lịch sử, cần đảm bảo một số kĩ năng cơ bản sau:

    Phải biết và hiểu được kiến thức cơ bản của kênh hình. Xác định mục đích cần hướng đến khi khai thác kênh hình. Thiết kế câu hỏi hợp lý, trọng tâm.

    2.3. Nguyên tắc khai thác kênh hình.

    Giáo viên đứng lớp cần phải có sự chuẩn bị chu đáo cẩn thận, nghiên cứu kỹ trước nội dung các kênh hình trước khi lên lớp. Chuẩn bị lời nói ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu và gây hứng thú cho học sinh. Chính yêu cầu đó sẽ giúp người giáo viên nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm trong các giờ lên lớp.

    Bên cạnh đó học sinh học sinh phải tự giác tìm hiểu kênh hình dưới sự hướng dẫn gợi mở của giáo viên, tiếp nhận kiến thức một cách chủ động.

    Để nâng cao hiệu qủa sử dụng kênh hình cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

    Một là: Sử dụng đúng mục đích.

    Hai là: Sử dụng đúng lúc.

    Ba là: Sử dụng đúng mức độ, cường độ.

    Bốn là: Kết hợp sử dụng kênh hình sách giáo khoa với các đồ dùng được trang bị.

    Năm là: Nội dung thuyết minh kênh hình phải sinh động, hấp dẫn.

    Sáu là: Hướng dẫn học sinh quan sát (từ tổng thể đến chi tiết), kết hợp

    miêu tả, phân tích, đàm thoại thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở của giáo viên để học sinh tự rút ra được ý nghĩa của kênh hình đó. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm, cá nhân hoặc toàn lớp.

    2.4. Ứng dụng cụ thể phương pháp sử dụng kênh hình trong giờ dạy.

    Ví dụ 1: Khi dạy bài 10 – Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước, ở mục 1 – Sự thành lập nhà Lý, có thể sử dụng hình ảnh:

    Hình 1: Tượng Lý Thái Tổ ở Hà Nội

    Khi HS đọc xong mục 1 giáo viên có thể cho HS xem hình và đặt câu hỏi để HS xác định tượng trong hình là ai. Khi xác định được giáo viên lại hỏi về thân thế của họ. Từ đó giáo viên dựa vào hình để tổng kết, nêu lên công lao của Lý Công Uẩn.

              Ví dụ 2. khi dạy bài 12 – Đời sống kinh tế, văn hóa, ở mục II2  giáo viên có thể sử dụng hình chùa Một Cột trong SGK trang 48 hoặc hình sau (mặt sau của chùa):

    Hình 2: Chùa Một Cột ở thủ đô Hà Nội

    Ngoài chùa Một Cột, thời Lý còn có nhiều ngôi chùa nổi tiếng khác có thể dùng để làm nổi bật kiến trúc thời Lý như: chùa Keo, chùa Phật Tích( Bắc Ninh), chúa Thầy(Hà Tây)

    Ví dụ 3. Ngoài ra giáo viên có thể sử dụng một số hình ảnh sau đề làm cho mục II 2 được rõ hơn (Những ngôi chùa được xây dựng hoặc đại tu dưới thời Lý):

     

    Hình 3: Bố cục của Văn miếu Quốc tử giám

    Hình 4: Tượng A –di – đà (chùa Phật Tích – Bắc Ninh

    Hình 5: Chùa Trấn Quốc (được trùng tu dưới thời Lý)

    2.5. Cung cấp tư liệu cho học sinh.

              Sách giáo khoa thường cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản. Đó là một việc làm hết sức cần thiết, không cần phải bàn cải. Nhưng bây giờ thử hỏi, học xong lịch sử lớp 7 mà HS không biết nhà Lý có những vị vua nào, nhà Trần có những vị vua nào? Lý Thường Kiệt là ai? Chu Văn An là ai? Thì đã thực sự hợp lý hay chưa. Vì vậy để HS của mình có cái nhìn khái quát hơn, cụ thể hơn thì giáo viên nên cung cấp cho HS những tư liêu cần thiết.

              Tư liệu cung cấp cho HS phải phục vụ cho việc học của HS, tư liệu đó HS có thể sử dụng lâu dài trong cuộc sống.

              Khi cung cấp tư liệu giáo viên không được bắt ép HS phải có nó mà phải để cho HS hoàn toàn tự nguyện sử dụng. Giáo viên chỉ cố gắng động viên cho HS có được nó và sử dụng.

              Ví dụ: Khi dạy bài 8 – Nước ta buổi đầu độc lập, giáo viên có thể hỏi: từ trước đến nay nước ta có những tên gọi nào?

              HS sẽ trả lời nhưng chắc chắn không đầy đủ. Từ đó giáo viên cho HS thấy sự cần thiết phải biết các quốc hiệu của nước mình (như đặt ra trường hợp một người nước ngoài hỏi chẳng hạn, nếu không trả lời được thì sẽ như thế nào). Bây giờ giáo viên có thể cung cấp cho HS tư liệu về Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kì:

    Quốc hiệu Việt Nam

    1. Văn Lang.

    Văn Lang là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam. Quốc gia này có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ gồm khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ.

    2. Âu Lạc.

    Năm 257 TCN, nước Âu Lạc được dựng lên, từ liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán – An Dương Vương. Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm lãnh thổ của Văn Lang trước đây và một phần đông nam Quảng Tây.

    Khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN, đầu thế kỷ thứ 2 TCN (năm 208 TCN hoặc 179 TCN), Triệu Đà (quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị diệt vong.

    3. Vạn Xuân.

    Vạn Xuân là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi. Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy tiêu diệt.

    4. Đại Cồ Việt.

    Đại Cồ Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968. Quốc hiệu này tồn tại 86 năm đến năm 1054, đời vua Lý Thánh Tông đổi sang quốc hiệu khác.

    5. Đại Việt

    Đại Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý, bắt đầu từ năm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi. Quốc hiệu này tồn tại không liên tục (gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh), đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 743 năm.

    6. Đại Ngu.

    Đại Ngu (nghĩa là Niềm vui lớn) là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ. Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau khi nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt.

    7. Việt Nam.

    Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long sử dụng từ năm 1804.

     

    8. Đại Nam.

    Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam, ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.

    9. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là tên gọi của cả nước Việt Nam từ 1945 đến  đến 1976. Nhà nước được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày quốc khánh của Việt Nam ta ngày nay).

    10. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa 6 nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hiệu này được sử dụng từ đó đến nay.

              Các tư liệu, trong quá trình dạy học giáo viên cần cho HS vận dụng để các em thấy kiến thức đó là bổ ích. Có như vậy thì HS mới chịu đọc, còn không dù có các em cũng bỏ đó mà không dùng tới.

              Ví dụ: Khi gọi HS lên bảng ngoài các câu hỏi trong chương trình giáo viên có thể sử dụng câu hỏi phụ để hỏi HS về những kiến thức bổ sung như: Hãy kể tên các vua thời Lý. Làm như vậy HS sẽ tích cực đọc để biết thêm, từ đó rèn văn hóa đọc cho học sinh.

    Mang tính tích cực, tự lực, tự giác rất cao và có tính chất chủ thể.

    Đòi hỏi người học phải có kiến thức, kinh nghiệm, có đủ tài liệu tham khảo.

    Người học tìm ra kiến thức mới, nhìn vấn đề nhiều góc cạnh khác nhau.

    Về mặt giáo dục: Phát triển tính dân chủ, hợp tác ở học sinh.

    3.3. Mục đích sư phạm của phương pháp.

    Tạo cho học sinh có cơ hội lập luận bảo vệ ý kiến của mình.

    Tạo cho học sinh có cơ hội lắng nghe ý kiến của bạn và điều chỉnh quan điểm của mình.

    Đưa ra một ý kiến quyết định chung của một nhóm hoặc một tập thể từ nhiều ý kiến kinh nghiệm khác nhau.

    3.5. Ưu điểm và hạn chế.

    a. Ưu điểm:

    Tăng khả năng giao tiếp học sinh và giáo viên hoặc học sinh và học sinh.

    Nhiều người trình bày được nhiều ý kiến dưới góc nhìn khác nhau.Với thái độ hiểu biết và chấp nhận.

    Có khả năng xử lý thông tin,nhạy bén với các quyết định.

    Phát huy tính tự giác tích cực,tự lực của học sinh.

    Tăng tinh thần hợp tác,tổ chức của học sinh.

    b. Hạn chế:

    Tốn nhiều thời gian chuẩn bị,tiến hành, đúc kết.

    Người tham gia phải có kinh nghiệm và đủ tài liệu tham khảo.

    Người học khó chịu vì phải suy nghĩ,chú ý nhiều,góp ý kiến nhiều.

    Một số người còn chủ quan,thành kiến dẫn đến bảo thủ,ngụy biện lạc đề.

    a. Chuẩn bị:

    Tùy theo số lượng học sinh trong lớp, nội dung học tập mà giáo viên chia thành bao nhiêu nhóm ,số lương thành viên trong nhóm. Tùy theo mục tiêu và yêu cầu vấn đề học tập mà mà các nhóm được phân ngẫu nhiên hoặc mặc định, được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi theo từng hoạt động của tiết học. Các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hoặc khác nhiệm vụ.

     Để chia theo chủ định, giáo viên nên chú ý đặc điểm của học sinh (trình độ, thái độ, tính cách, giới tính…) để cơ cấu nhóm cho phù hợp.

    * Các hình thức nhóm cụ thể:

              Nhóm ghép đội: dùng để nghiên cứu , phân tích , trao đổi vê một số vấn đề phức tạp đòi hỏi có sự cộng tác cao.

    * Các bước tiến hành:  

    Bước 3: Học sinh cử đại diện báo cáo kết quả của nhóm, góp ý và bổ sung cho nhau.

    Bước 4: Giáo viên đánh giá, nhận xét, bổ sung, kết luận.

    Từ đó HS ý thức được yêu cầu nội dung của đề tài, các nguồn tài liệu chính, kế hoạch thực hiện và nhiệm vụ của tập thể cũng như của từng cá nhân…

    GV tổng kết những ý kiến phát biểu, nêu lên một cách súc tích và có hệ thống những ý kiến thống nhất và chưa thống nhất.

    GV cần đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận xét tinh thần thái độ làm việc chung của tập thể, của nhóm và cá nhân HS.

    Giao nhiệm vụ phải rõ ràng, cụ thể, đảm bảo mỗi học sinh đều hiểu nhiệm vụ.

    Trong quá trình học sinh làm việc, giáo viên phải theo dõi từng nhóm, có sự giúp đỡ, hướng dẫn kịp thời, đảm bảo tất cả học sinh đều làm việc.

    Trong mỗi nhóm cần có sự phân công ràng nhiệm vụ cụ thể trong đó đề cao vai trò hợp tác.

    Cần tao không khí thi đua giưa các nhóm để khuyến khích học tập.

     

    3.7. Các phương pháp, biện pháp tiến hành thực nghiệm.

    a. Về chuẩn bị dụng cụ để hoạt động nhóm:

    Theo tôi đặc thù các lớp 7 ở trường Trung học cơ sở thì mỗi lớp có 16 bàn nên chia thành 4 nhóm (để tránh di chuyển nhiều tốn thời gian và ồn ào mất trật tự, chỉ 2 bàn quay mặt lại là được).

    Mỗi nhóm phải có 2 bảng phụ, kích thước không nhỏ và cũng không quá to, quy định cỡ 50cm x 70cm là vừa + bút lông xóa được, 1 cây màu đỏ và 1 cây màu xanh hoặc đen. Nếu vùng khó khăn giáo viên có thể làm bảng phụ bằng giấy A4 và bút chì màu.

    Giáo viên phân nhóm và có nhóm trưởng, nhóm phó,thư kí (phòng khi nhóm trưởng vắng) để điều hành chung và chuẩn bị dụng cụ cho tốt.

    b. Về phương pháp cách thức hoạt động.

    * Về phía giáo viên:

    Chọn nội dung hoạt động nhóm thường là nội dung có nhiều ý, nội dung trọng tâm, có tính tư duy học sinh trung bình và yếu khó giải quyết.

    Xây dựng trong giáo án hệ thống câu hỏi, tình huống vấn đề phải cụ thể rõ ràng có dàn ý hệ thống chi tiết, giúp HS dễ biết cách thức nhanh chóng và có hệ thống (vì thời gian có hạn).

    * Về phía học sinh:

    Phải chuẩn bị nội dung trước ở nhà.

    Nhóm trưởng phải tôn trọng tất cả các ý kiến của các thành viên trong nhóm, phải làm sao ( giảng giải, phân tích…) cho các học sinh trung bình, yếu trong  nhóm hiểu được vấn đề và có thể thay mặt nhóm lên trình bày trước lớp.

     

    * Ví dụ 1:

    Bài 4: Trung Quốc thời phong kiến

    1. Sự hình thành xã hội phong kiến ở Trung Quốc.

    – Câu 1 ( Nhóm 1, 2): Những điều kiện nào đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Trung Quốc thời cổ đại?

    – Câu 2( Nhóm 3, 4): Xã hội Trung Quốc đã bị phân hoá như thế nào?

    * Đáp án:

    – Những điều kiện đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Trung Quốc thời cổ đại:

    + Những tiến bộ trong sản xuất đã tác động đến xã hội, làm cho xã hội có sự biến đổi.

     - Xã hội Trung Quốc đã bị phân hoá như thế nào?

      + Giai cấp địa chủ xuất hiện    

    (Hoặc giáo viên có thể khái quát trên sơ đồ)

    2. Xã hội Trung Quốc thời Tần- Hán.

    Câu 1( Nhóm 1, 2): Em trình bày tổ chức bộ máy nhà nước thời Tần?

    Câu 2 ( Nhóm 3, 4): Các chính sách của ông đã gây ra hậu quả gì?

     

     

     

    3. Sự thịnh vượng của Trung Quốc dưới thời Đường.

     

     *  Ví dụ 2:

    Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân Tống ( 1075- 1077)

      I. Giai đoạn thứ nhất.

       1. Nhà Tống âm mưu xâm lược nước ta.

       2. Nhà Lý chủ động tiến công để phòng vệ.

     - Câu 1(nhóm 1, 2): Cuộc tấn công vào đất Tống của nhà Lý có phải là hành động xâm lược không? Vì sao?

     - Câu 2(nhóm 3, 4): Việc nhà Lý chủ động tấn công vào đất Tống có ý nghĩa như thế nào?

     * Đáp án:

     Câu 1: Cuộc tấn công vào đất Tống của nhà Lý không phải là hành động xâm lược, vì nhà Lý chỉ tấn công các căn cứ quân sự, kho lương thảo, đó là những nơi quân Tống tập trung lực lượng, vũ khí để chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Hơn nữa, khi hoàn thành được mục đích thì nhà Lý đã cho rút quân ngay.

    Câu 2: Việc chủ động tấn công quân Tống có ý nghĩa:

             – Tiêu diệt lực lượng mà quân Tống chuẩn bị để xâm lược nước ta.

             – Làm quân Tống hoang mang, bị động, thêm khó khăn cho việc xâm lược nước ta.

             – Buộc quân Tống phải có thời gian để củng cố lực lượng và quân ta cũng có thời gian để chuẩn bị tốt cho cuộc kháng chiến chống Tống mà biết trước không thể tránh khỏi.

      * Ví dụ 3:

    Bài 13: Nước Đại Việt thế kỉ XVIII

     I. Nhà Trần thành lập.

      1. Nhà Lý sụp đổ.

      2. Nhà Trần củng cố chế độ phong kiến tập quyền.

    Sau khi giáo viên cho học sinh tìm hiểu tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần có thể cho các em hoạt động nhóm bằng sơ đồ tư duy  theo hai yêu cầu sau:

    Câu 1( nhóm 1, 2): Hãy vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước cấp trung ương thời nhà Trần?

    Câu 2( nhóm 3, 4): Hãy vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước cấp trung gian và cấp cơ sở thời nhà Trần?

              Sau khi học sinh trình bày, nhận xét, giáo viên đưa ra sơ đồ đã chuẩn bị:

     - Học sinh quan sát, rút kinh nghiệm.

    *  Ví dụ 4:

    Bài 20: Nước Đại Việt thời Lê sơ ( 1428- 1527)

    II. Tình hình kinh tế- xã hội.

    1. Kinh tế.

    ? Để nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế, nhà nước Lê sơ đã thực hiện những biện pháp gì? Nhận xét về những biện pháp đó?

              Sau phần báo cáo và nhận xét của học sinh, giáo viên đưa ra nội dung đáp án của câu hỏi đã chuẩn bị:

    – Về nông nghiệp:

      + Xóm làng điêu tàn, ruộng đồng bỏ hoang đời sống nhân dân khổ                             cực.

             + Cho lính về quê làm rộng.

             + Kêu gọi dân phiêu tán về quê làm ruộng..

             + Đặt các chức quan chuyên lo sản xuất nông nghiệp.

             + Thực hiện chính sách quân điền.

             + Cấm giết trâu bò.

    – Về thủ công nghiệp:  

               + Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời.

               + Thăng Long là nơi tập trung nhiều nghành nghề thủ công nhất.

               + Quản lý, đẩy mạnh các xưởng thủ công nhà nước.

    – Về thương nghiệp:  

    + Khuyến khích lập chợ mới và họp chợ.

              + Đúc tiền đồng.

              + Buôn bán với nước ngoài phát triển.

    ( trò chơi ô chữ, ai nhanh hơn ai cho nhóm 2 học sinh, trò chơi ngôi sao may mắn, theo dòng lịch sử cho nhóm 4- 6 học sinh . . .), nhất là ở các bài dạy có áp dụng công nghệ thông tin. Trong phạm vi hạn hẹp của một đề tài nên tôi không thể đưa hết tất cả các ví dụ minh hoạ được.

    – Phân nhóm và quy định nội dung cho từng nhóm hoạt động.

    – Lắng nghe và gợi ý cho học sinh.

    – Động viên, khích lệ các nhóm còn yếu, chưa mạnh dạn.

    – Tất cả các đối tượng học sinh đều tham gia bàn bạc và đóng góp ý kiến.

             + Thư kí  nhóm ghi nội dung đã thống nhất vào bảng phụ.

              + Các đối tượng còn lại trong nhóm ghi nội dung đã thống nhất vào phiếu học tập( hoặc vở ghi).

    – Giáo viên cho các nhóm khác góp ý bổ sung nội dung của nhóm vừa trình bày cho đầy đủ.

    – Giáo viên nhận xét và cho học sinh chỉnh sửa những nội dung còn thiếu sót.

    V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

              Qua khảo sát, tôi nhận thấy học sinh rất yêu thích, say mê môn sử. Mặc dù những tiết học đầu còn bỡ ngỡ, chưa quen, nhưng với nỗ lực, sự say mê học hỏi, phần lớn học sinh đều bày tỏ thái độ đồng tình, hợp tác với giáo viên.

                Phân tích từ góc độ quan sát thực tế thì các phương pháp mà tác giả thực nghiệm là phù hợp với năng lực của học sinh, cần thiết trong quá trình giảng dạy môn lịch sử, tạo sự hứng thú, tìm tòi, kích thích khả năng sáng tạo, khơi dậy nguồn cảm hứng học môn lịch sử ở mỗi học sinh, giúp học sinh có cơ hội được trải nghiệm, được thực hành trong quá trình tiếp thu những kiến thức và kỹ năng mới.

               Thực tế sau khi áp dụng “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” đã thúc đẩy phát triển một số năng lực cần phải có cho HS như năng lực xã hội gồm: năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất; Năng lực quan hệ xã hội gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác; Năng lực công cụ: năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông.

    VI. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

    1. Đối với giáo viên:

    Trong quá trình vận dụng những biện pháp trên vào bài giảng tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:

    Đối với phương pháp kể chuyện, sử dụng kênh hình:

              Người giáo viên phải biết kết hợp hài hòa mục tiêu cần đạt với nội dung cách làm mới. Có như vậy tiết dạy mới bảo đảm nội dung.

              Khi vận dụng người giáo viên phải sếp xếp thời gian hợp lí, nếu không sẽ không đủ thời gian cho mỗi tiết dạy.

              Giáo viên phải tìm mọi cách cho HS tự nêu lên thắc mắc của mình khi nghe câu chuyện hay nhìn vào một kênh hình, có như vậy mới để lại ấn tượng sâu sắc trong trí nhớ của các em.

              Một số học sinh chưa có ý thức cao vẫn còn lơ là làm ảnh hưởng đến các học sinh khác và một số em khác còn nhút nhát, chưa mạnh dạn nên mặc dù có ý kiến và nắm được vấn đề nhưng không tự tin phát biểu... Nên việc quản lí, lôi cuốn các em vào hoạt động tập thể là vấn đề quan trọng mà giáo viên cần phải làm được để hoạt động nhóm thành công.

    2. Đối với phụ huynh:

    Điều cần làm trước hết là người lớn phải là tấm gương sáng, nhìn nhận đối xử công bằng môn sử so với các bộ môn khác.Việc học môn sử của học sinh phải luôn được người lớn khuyến khích, chia sẻ.

     

    C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.

    I. KẾT LUẬN.

    Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc giúp giáo viên và học sinh trường chúng tôi nói riêng, các đồng nghiệp và học sinh trường bạn nói chung thực hiện việc dạy và học môn lịch sử tốt hơn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong chương trình đổi mới của Bộ giáo dục. Về phía bản thân, tôi xin hứa sẽ tiếp tục kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của việc thực hiện đề tài. Trong thời gian tới tôi sẽ tiếp tục tìm tòi, học hỏi để đưa ra những phương pháp mới nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục.

    Sau khi áp dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 tôi đã thu được kết quả khả quan, cụ thể như sau:

    Bản tổng hợp số liệu kết quả khảo sát trước khi vận dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7.

                                            Năm học 2022 - 2022

    Sĩ số

    HS ( Giỏi )

    HS ( Khá )

    HS (Trung bình)

    HS ( Yếu )

    62

    16

    9

    30

    7

    Tỷ lệ

    26 %

    15 %

    48 %

    11 %

     

     

     

    Bản tổng hợp số liệu kết quả khảo sát sau khi vận dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7.

    Học kì I năm học 2022 - 2022

    Sĩ số

    HS ( Giỏi )

    HS ( Khá )

    HS ( Trung bình )

    HS ( Yếu )

    62

    50

    9

    3

    0

    Tỷ lệ

    80.5 %

    14.5 %

    5 %

    0%

     

    Kết quả xếp loại trung bình môn lịch sử 7

    năm học 2022- 2022 và học kì I năm học 2022- 2022

     

    III. NHỮNG KHUYẾN NGHỊ.

              Với kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy, tôi xin được đưa ra sáng kiến “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” để các đồng chí tham khảo, đóng góp ý kiến bổ sung để cùng nhau đưa chất lượng giáo dục môn lịch sử 7 nói riêng và các môn lịch sử lớp 6,8,9 nói chung đạt kết quả cao hơn.

              Đề nghị phòng Giáo dục, hằng năm các sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại cần được biên soạn lại và phổ biến về các cơ sở trường học để giáo viên tham khảo và vận dụng nhằm tăng tính khả thi của các đề tài nghiên cứu.

    Hàng năm phòng Giáo dục cần thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, chuyên đề để giáo viên được học hỏi kinh nghiệm.

     Một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học là cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, công nghệ thông tin. Vì vậy nhà trường cần thu hút các nguồn đầu tư xây dựng, cung cấp phương tiện, công nghệ và có biện pháp sử dụng hợp lí để góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

     

     

    Xin chân thành cm ơn!

     

     

    D. TÀI LIỆU THAM KHẢO.

     

    1. Các triều đại Việt Nam (Nhà xuất bản giáo dục)
    2. Giáo trình Đại cương lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản giáo dục)

    3.Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử - Phan Ngọc Liên, Trịnh

    Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường ( Nhà xuất bản đại học Quốc Gia Hà Nội)

    4.  Phương pháp dạy học lịch sử, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2003

    5.  Tư duy học sinh tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội

    6.  Những vấn đề cơ bản giáo dục hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội 1999

    7.  Sách giáo viên, sách hướng dẫn lịch sử 7 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Đạo Đức Lớp 5 Trường Tiểu Học Trần Quốc Toản
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tập Làm Văn Lớp 3
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy – Học Môn Toán Lớp 3 Theo Các Dạng Cơ Bản Nhằm Giúp Học Sinh Tích Cực Hóa Hoạt Động Học Tập
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Lớp 8
  • Sáng Kiến Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Skkn Một Số Giải Pháp, Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Tiết Thực Hành Môn Tin Hoc Tại Trường Thpt

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Giải Giáp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lập Trình Pascal Đối Với Môn Tin Học 8
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Bộ Môn Tin Học 7
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Đề Tài Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH II

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP, NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TIẾT THỰC HÀNH MÔN TIN HOC TẠI TRƯỜNG THPT

    Người thực hiện: Nguyễn Việt Bắc

    Chức vụ: Giáo viên

    SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tin Học

    THANH HOÁ NĂM 2022

    MỤC LỤC

    I. MỞ ĐẦU

    Lí do chọn đề tài

    Mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo đề ra trong Nghị quyết 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa XI xác định “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”. Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lí và giảng dạy là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mang tính đột phá của ngành Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

    Những năm gần đây, sở Giáo dục và Đào tạo, nhà trường đã tập trung đầu tư trang thiết bị, phòng máy… phục vụ việc giảng dạy bộ môn Tin học trong các trường THPT nói chung và trường THPT Thạch Thành 2 nói riêng một cách mạnh mẽ, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh việc đầu tư trang thiết bị dạy học, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã chú trọng đầu tư các phần mềm, các phương tiện hỗ trợ, tổ chức tập huấn, tổ chức các cuộc thi nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên Tin học. Nhờ đó, chất lượng bộ môn Tin học ngày càng được nâng cao.

    Tuy nhiên, nhu cầu phòng máy đối với một ngôi trường có gần 1000 học sinh như trường THPT Thạch Thành 2 là rất lớn, với điều kiện hiện tại, phòng máy nhà trường không đủ đáp ứng nhu cầu thực hành, học tập của học sinh cả ba khối lớp.

    Hơn nữa, nhiều em học sinh cũng rất hay nghịch hay phá chuột hoặc gỡ các phím trên bàn phím Nếu quản lý phòng máy không chặt không những làm ảnh hưởng đến việc học tập mà còn có thể dẫn đến tình trạng mất một số thiết bị máy tính như Ram, ổ cứng, chuột Và việc tổ chức, quản lí học sinh học thực hành một cách hiệu quả là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học thực hành cho các em. Và trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên, học sinh có kỹ năng khá tốt sử dụng máy vi tính để tự nghiên cứu, học tập, tự nâng cao kiến thức. Vì thế, trách nhiệm của giáo viên, của người quản lí phòng máy là phải lập kế hoạch cụ thể, đề ra các giải pháp mang tính khả thi cao để vừa đảm bảo nhu cầu thực hành của học sinh vừa nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Tin học.

    Với những lí do trên, từ thực tiễn, kinh nghiệm và kết quả triển khai tại phòng máy nhà trường, tôi chọn đề tài cho sáng kiến của mình được biểu đạt dưới tên gọi: “ Một số giải pháp quản lý, nhằm nâng cao chất lượng tiết thực hành môn Tin học tại trường THPT ”

    Mục đích nghiên cứu

    2.1. Đề xuất các giải pháp mang tính khả thi nhằm phục vụ việc quản lí và điều hành phòng máy tại các trường học một cách hiệu quả nhất.

    2.2. Đảm bảo giờ thực hành, nâng cao chất lượng giảng dạy Tin học tại trường.

    2.3. Góp phần tích cực vào việc giảm áp lực, giảm tải cho giáo viên trong giờ thực hành môn Tin học tại phòng máy.

    Đối tượng nghiên cứu

    – Một số phần mềm ứng dụng phục vụ cho việc giảng dạy và kiểm tra kiến thức của học sinh trong môn tin học.

    – Các giải pháp tối ưu cho việc quản lí và cài đặt một phòng máy có hiệu quả; các phần mềm quản lí và điều khiển máy trạm, máy giáo viên; phần mềm ứng dụng khác.

    Phương pháp nghiên cứu

    4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

    Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; phân loại và hệ thống hóa lý thuyết trong phân tích các văn bản nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.

    4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

    * Phương pháp quan sát: quan sát cách dạy và học thực hành, các phần mềm đã cài đặt trên máy tính của trường cũng như một số trường, trung tâm trên địa bàn Huyện.

    * Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

    Chúng tôi sử dụng phương pháp này để lấy ý kiến của các chuyên gia công nghệ thông tin về tính hiệu quả và tính khả thi của các giải pháp và phần mềm đã đề xuất.

    * Nhóm các phương pháp xử lý thông tin

    Các phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý các kết quả nghiên cứu về định lượng và định tính.

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    Cơ sở lí luận của đề tài

    – Chỉ thị số 58-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    – Quyết định số 1982/QĐ-TTg, ngày 31/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt đề án Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, hoạt động dạy và học nghề đến năm 2022.

    – Chỉ thị 29 nêu rõ: “Ứng dụng và phát triển CNTT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập và quản lí giáo dục”, “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập ở tất cả các môn học”.

    Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

    Lí luận và thực tiễn của quá trình dạy học đã khẳng định thực hành là hoạt động tối ưu nhất để học sinh thông hiểu, vận dụng vào thực tiễn để nâng cao kiến thức đã lĩnh hội. Với bộ môn Tin học, thực hành trên máy tính là sự cụ thể hóa những ngôn ngữ máy trừu tượng, là thao tác quan trọng có tính chất quyết định và là “minh chứng”, là kết quả thực tiễn quá trình dạy – học của giáo viên và học sinh. Mục đích cuối cùng của bộ môn Tin học là ứng dụng, thực hành và sáng tạo bằng ngôn ngữ máy, thao tác trực tiếp trên máy tính.

    Thực hành trên máy tính là bắt buộc và là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của bài giảng lí thuyết. Giờ dạy – học môn Tin học sẽ không đạt hiệu quả nếu giáo viên hoàn toàn không sử dụng máy tính để minh họa, thực hành các thao tác mẫu của bài học. Nếu thầy và trò trên lớp được học tập hoàn toàn với phấn và bảng (học chay) thì kết quả tiếp thu kiến thức bài học của học sinh có thể suy giảm đến 90%.

    Mặc dù thiết kế của chương trình tác giả sách giáo khoa đã trình bày các kiến thức của bài học một cách độc lập tối đa với các thao tác cụ thể trên máy tính nhưng phương pháp dạy học hiện đại buộc giáo viên phải phụ thuộc rất nhiều vào việc minh họa hay trình diễn trên máy tính, nhiều kiến thức và bài học được diễn đạt thông qua các bước thực hành và thao tác cụ thể trên máy tính thì vẫn tốt hơn.

    * Cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng máy trường THPT Thạch Thành 2

    Nhờ sự quan tâm, đầu tư mạnh mẽ của lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, trong những năm qua, nhà trường được trang bị thêm máy tính, máy chiếu, máy in, Trường cũng hợp đồng kết nối internet, hệ thống Wifi để phục vụ công tác quản lí và hoạt động chuyên môn, hoạt động học tập của học sinh.

    Nhà trường có ba phòng máy với 60 máy phục vụ cho hoạt động học tập và thực hành của học sinh và một phòng tra cứu thông tin điện tử tại thư viện. Nhà trường được trang bị nhiều projector, máy chiếu vật thể, Tivi, đầu đĩa phục vụ đắc lực việc ứng dụng CNTT trong quản lí và dạy học.

    So với các trường trong Huyện thì số lượng máy tính trên số học sinh ở trường chưa đáp ứng yêu cầu theo các văn bản chi đạo. Vì thế việc thực hành của học sinh cũng gặp không ít khó khăn. Để khắc phục những khó khăn chung của ngành, trường, đảm bảo được chất lượng dạy và học môn tin học tôi đã thực hiện một số giải pháp:

    3. Một số giải pháp quản lý, nhằm nâng cao chất lượng tiết thực hành môn Tin học tại trường THPT

    Từ thực tiễn còn nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu thực hành của học sinh, nhằm giảm chi phí cho việc mua sắm, nâng cấp thiết bị một cách tốt nhất, chi phí tuyển dụng nhân việc phụ trách phòng máy, chi phí hợp đồng các cơ quan tổ chức bên ngoài tham gia bảo trì, bảo dưỡng máy tính cho nhà trường. Đặc biệt là quyết tâm đảm bảo việc thực hành của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Tin học tại nhà trường. Trong những năm qua, bản thân tôi cùng với một số thầy cô trong tổ Lý – Tin đã nghiên cứu, tìm tòi áp dụng thành công một số giải pháp trong công tác quản lí, cài đặt phòng máy. Cụ thể:

    3.1. Lập kế hoạch mua sắm trang thiết bị

    Lập kế hoạch là khâu rất quan trọng, giúp cho bản thân, lãnh đạo và đồng nghiệp nhận thức rõ mục đích của việc ứng dụng CNTT, nắm được những thiết bị máy tính đang có và cần bổ sung mua sắm những thiết bị nào để chuẩn bị cho một năm học. Ngay từ đầu năm học, tôi phải kiểm tra toàn bộ trang thiết bị, máy tính hiện có, số máy hoạt động được và không hoạt động được để có ý kiến với lãnh đạo nhà trường và lên kế hoạch mua sắm, sửa chữa.

    3.2. Lắp đặt, thay thế, sửa chữa, quản lý giờ thực hành

    – Bản thân tôi phụ trách công tác thay thế, sửa chữa cài đặt lại tất cả các máy tính đảm bảo hoạt động tốt.

    – Tiến hành lập sổ theo dõi giờ dạy của giáo viên tại phòng máy. Mỗi giáo viên dạy phòng máy phải đăng kí vào sổ, ghi chép lại sự cố các máy theo từng tiết học.

    Ngày

    Tiết

    Lớp

    Giáo viên dạy

    Số máy

    Sự cố

    Khắc phục

    Mẫu sổ theo dõi máy tính gặp sự cố

    – Trong buổi họp tổ chuyên môn đầu năm, cán bộ giáo viên phụ trách phòng máy có trách nhiệm nhắc giáo viên ghi sổ đăng kí và theo dõi giờ dạy, quán triệt, giáo dục học sinh ý thức bảo quản tài sản nhà trường.

    – Kịp thời sửa chữa, thay thế khi gặp sự cố hư hỏng phần cứng và phần mềm.

    – Phòng máy phải lắp đặt mạng cục bộ (chỉ cần mạng ngang hàng) và phải có một máy dành cho giáo viên. Nhờ hệ thống mạng, chúng ta khai thác nhiều ứng dụng giúp việc dạy và học hiệu quả hơn rất nhiều.

    – Mỗi máy tính đặt một tên phân biệt (Ví dụ: May11, may12,) và cùng chung một nhóm (workgroup) tại một phòng.

    3.3. Phân công giáo viên phụ trách phòng Tin học

    – Đội ngũ giáo viên chuyên ngành Tin học của nhà trường không nhiều. Tuy nhiên, để tiết kiệm biên chế nhân sự, quan trọng hơn là cùng nhau trao đổi kinh nghiệm, tạo điều kiện để giáo viên Tin học thường xuyên thực hành các thao tác bảo trì, sửa chữa, cài đặt các phần mềm ứng dụng

    – Trách nhiệm của giáo viên phụ trách phòng máy phải thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin từ sổ theo dõi giờ dạy của giáo viên để kịp thời xử lí, sửa chữa, cài đặt, đảm bảo tốt nhất cho giờ thực hành của học sinh.

    3.4. Cài đặt hệ điều hành và các ứng dụng

    Hiện nay, hầu hết máy tính ở các trường phổ thông cấu hình còn thấp và việc dạy và học cũng chưa đòi hỏi nhiều kiến thức sâu. Do đó, chúng ta có thể cài đặt những phần mềm sau:

    3.4.1. Cài đặt hệ điều hành

    – Đối với máy tính dành cho giáo viên phải cài hệ điều hành mạng (Windows server 2003 hay Windows server 2008) và chia sẻ một tài nguyên để làm ổ đĩa ảo dùng chung cho cả phòng. Nhờ ổ đĩa ảo này, chúng ta sẽ quản lí được toàn bộ bài thực hành của học (học sinh thực hành đều lưu bài vào đây), học sinh muốn lấy dữ liệu từ máy giáo viên cũng nhanh và dễ dàng nhất. Nhờ khả năng phân quyền khi chia sẻ tài nguyên trong Windows server 2003 (2008) mà chúng ta quản lý dữ liệu của học sinh một cách tốt nhất.

    – Đối với các máy tính của học sinh thì cài hệ điều hành windows XP. Chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng bộ ghost Windows XP đa cấu hình tương đối nhẹ, đạt chuẩn trên internet.

    3.4.2. Cài đặt các phần mềm ứng dụng

    – Cài chương trình đóng băng cho các máy (kể cả máy giáo viên): Chương trình đóng băng giúp ta bảo vệ máy tính một cách tốt nhất, tránh virus làm hỏng phần mềm, tránh xóa dữ liệu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của máy. Hiện nay, có rất nhiều phần mềm đóng băng nhưng phần mềm dễ sử dụng và có hiệu quả nhất là phần mềm shadow defender. Phần mềm này chạy được trên Windows server. Xem hướng dẫn sử dụng và tải tại:

    Giao diện và chức năng theo dõi học sinh làm bài

    Vì dữ liệu của học sinh lưu hết trên ổ đĩa ảo nên ta đóng băng tất cả phân vùng của ổ đĩa trên máy học sinh (có thể không đóng băng một phân vùng).

    – Cài chương trình Netop School 6.0: Đây là một phần mềm rất hay, hỗ trợ giáo viên dạy học và quản lý phòng máy hiệu quả nhất. Thông qua mạng cục bộ, nó tạo nên sự tương tác qua lại giữa máy tính của giáo viên và máy của học sinh. Nhờ phần mềm này, giúp cho việc giảng dạy hiệu quả hơn, truyền đạt kiến thức trở nên sinh động, trực quan và dễ hiểu hơn.

    Phần mềm cơ bản giúp giáo viên quản lí, điều khiển, theo dõi lớp học, quản lí và chia sẻ dữ liệu nhanh chóng và hiệu quả. Để tìm hiểu cài đặt và hướng dẫn sử dụng, chúng ta tham khảo tại:

    – Cài đặt một số phần mềm khác như: bộ Office 2003, Unikey, Turbo Pascal (Free Pascal), Fonts, Adobe Presenter

    3.4.3. Chia sẻ tài nguyên và ánh xạ ổ đĩa mạng (ổ đĩa ảo)

    Đăng nhập vào ổ đĩa ảo trên máy giáo viên

    Chia sẻ một thư mục để làm ổ đĩa dùng chung

    3.4.4. Khóa các chức năng học sinh thường hay thay đổi ảnh hưởng đến giờ thực hành.

    Trong giờ thực hành, với bản tính thích khám phá, tinh nghịch… Các em thường thay đổi hình nền, chơi game của Windows, thay đổi hình trạng chuột làm ảnh hưởng nhiều đến giờ thực hành, mất tập trung Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi tiến hành khóa các chức năng đó bằng thao tác sau:

    Từ Start à Run à gõ chúng tôi Từ cửa sổ đang mở, nhấn đúp vào dòng Administrative Templates à chọn Control Panel à nhấn đúp vào dòng Prohibit Access to the control panel à chọn Enabled à chọn OK.

    3.5. Chia thời khóa biểu phù hợp

    Giờ học thực hành của học sinh

    Tại trường THPT Thạch Thành 2, số lớp và số học sinh tương đối đông nhưng chỉ có ba phòng máy nên bản thân đã tham mưu Ban giám hiệu chia thời khóa biểu sao cho mỗi lớp có một buổi thực hành (4 tiết) trên tuần, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các em được học thực hành.

    3.6. Bố trí vị trí ngồi của học sinh tại từng máy

    Hàng năm, dựa vào danh sách lớp, giáo viên phân chia 2 học sinh/1 máy theo hai ca học. Việc này tưởng chừng như đơn giản nhưng thật ra rất có hiệu quả. Một khi ta giao trách nhiệm cho hai em học sinh một máy từ đầu cho đến hết năm học, các em chịu trách nhiệm theo dõi hư hỏng và bảo quản máy đó trong cả tiết học, năm học. Điều này giúp các em có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ tài sản nhà trường. Nhờ đó, phòng máy nhà trường không khi nào xảy ra trường hợp mất, hỏng chuột, gỡ đổi phím và nhiều thiết bị khác

    Những kết quả đạt được

    Trong những năm học qua, với sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của lãnh đạo ngành; lãnh đạo các cấp và Ban giám hiệu nhà trường, đội ngũ giáo viên Tin học của nhà trường và bản thân đã cụ thể hóa những văn bản chỉ đạo bằng những giải pháp nêu trên đã phần nào phát huy hết công năng của phòng máy; giáo viên, học sinh không phải dạy – học “chay” nữa và chất lượng dạy học bộ môn Tin học tại trường được nâng lên rõ rệt cùng với đó là một số kết quả khác cũng được chú trọng như:

    – Đảm bảm đúng, đủ giờ thực hành của học sinh theo phân phối chương trình.

    – Chi phí nâng cấp, thay thế, sửa chữa được hạn chế thấp nhất.

    – Tổ chức được các lớp học và thi nghề tin học cho học sinh của trường và rất nhiều em trong số đó có kết quả xếp loại khá, giỏi, phần nào góp phần nâng cao những thành tích chung của nhà trường.

    – Tổ chức được các lớp tập huấn E-Learning cho cán bộ giáo viên.

    – Nhiều tiết thao giảng, tiết kiểm tra định kỳ của các khối lớp cũng được tổ chức tại phòng thực hành, đảm bảo được yêu cầu môn học.

    PHẦN III: KẾT LUẬN

    Phải khẳng định rằng, môn Tin học có đặc thù khác với các môn học khác, để tiếp thu kiến thức thì cần rất nhiều thời gian cho việc thực hành. Thực hành trên máy tính là bắt buộc và là một cấu thành của bài giảng lý thuyết. Đối với môn tin học rất khó dạy khi giáo viên hoàn toàn không được dùng máy tính để minh họa hay thực hành các thao tác mẫu của bài học. Nếu thầy và trò trên lớp được học tập hoàn toàn với phấn và bảng (học chay), việc tiếp thu kiến thức bài học có thể suy giảm. Và rồi bao nhiêu kiến thức các em sẽ quên theo thời gian

    Trong hoàn cảnh thực tế của các trường trên toàn quốc nói chung và tại trường Thạch Thành 2 nói riêng rất khó để có được một mô hình lý tưởng về điều kiện thực hành trên máy tính để học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất.

    Thực tế, trong nhiều năm trở lại đây, chính nhờ sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo ngành, lãnh đạo nhà trường đã quyết tâm đầu tư trang thiết bị máy móc cho phòng Công nghệ thông tin của trường ngày một nhiều hơn, ngày một hoàn thiện, khang trang hơn nhưng so với số học sinh của trường thì nó vẫn còn khá khiêm tốn, tổng số máy trên tổng số học sinh quá nhỏ (60 máy /1000 học sinh) .

    Tuy nhiên, nhu cầu phòng máy đối với một ngôi trường có gần 1000 học sinh như trường THPT Thạch Thành 2 là rất lớn, với điều kiện hiện tại thì còn nhiều việc phải làm, phải đầu tư thêm. Hy vọng một ngày nào đó nó được khang trang, đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của học sinh nhà trường./.

    XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

    Thanh Hóa, ngày 15 tháng 05 năm 2022

    Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.

    Nguyễn Việt Bắc

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Quản trị mạng Microsoft Windows server 2003 (sưu tầm trên Internet)

    Một số bài viết trên các diễn đàn (Forums) như: Vn-zoom, phienbanmoi…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Văn Đáp Ứng Kỳ Thi Thptqg
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Bằng Cách Rèn Kỹ Năng Giải Các Dạng Toán Về Số Nguyên Tố Cho Học Sinh Lớp 6 Trường Thcs Hà Dương
  • Đa Dạng Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Ứng Dụng Kh&cn Vào Bảo Vệ Môi Trường
  • Kỹ Thuật Cải Tạo Vườn Tạp
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh.

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Lớp 8
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy – Học Môn Toán Lớp 3 Theo Các Dạng Cơ Bản Nhằm Giúp Học Sinh Tích Cực Hóa Hoạt Động Học Tập
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tập Làm Văn Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Đạo Đức Lớp 5 Trường Tiểu Học Trần Quốc Toản
  • Thứ năm – 24/01/2019 20:20

    •  
    •  
    •  

    I. THỰC TRẠNG CỦA BỘ MÔN TIẾNG ANH.

    1. Các mặt tích cực.

     -Từ khi triển khai dạy học bộ môn này cho đến nay trường thu được nhiều kết quả và tiến bộ rõ rệt:

    – Về phía giáo viên: Chất lượng dạy và học Tiếng Anh đã có sự tiến bộ. Chất lượng và số lượng đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn này cơ bản đáp ứng được yêu cầu nội dung chương trình giảng dạy. Đội ngũ giáo viên trẻ, yêu nghề, nhiệt tình trong công tác, luôn cố gắng đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp hơn với các đối tượng học sinh.

    – Về cơ sở vật chất: đã có phòng học Tiếng Anh.

    2Các mặt hạn chế. 

    Bên cạnh những kết quả đạt được, tuy nhiên trong thực tế hiện nay chất lượng, hiệu quả việc dạy học Tiếng Anh vẫn còn là một vấn đề cần phải tiếp tục đầu tư tìm giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học đối với bộ môn này. Tôi xin đưa ra một vài nguyên nhân để tham khảo, trao đổi:

    Trước hết về phía giáo viên: Giáo viên tuy có nhiều cố gắng trong việc vận dụng phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa các hoạt động của học sinh, nhưng giáo viên chỉ có thể áp dụng được đối với một số bài, một số tiết và một số bộ phận học sinh. Nguyên nhân một phần là do sĩ số học sinh đông trong một lớp, một phần do một số giáo viên tuổi nghề còn ít nên chưa có kinh nghiệm giảng dạy nên chất lượng, hiệu quả dạy học của bộ môn này chưa thật sự như mong muốn.

    Về phía học sinh: Bên cạnh những học sinh yêu thích học ngoại ngữ vẫn còn không ít học sinh cảm thấy không thích học hoặc cảm thấy khó khăn trong việc học bộ môn này. Đối với học sinh lớp 3 bắt đầu học Tiếng Anh theo chương trình thí điểm 10 năm thì hơi khó vì các em giờ mới làm quen. Đa phần học sinh ở nông thôn ít có điều kiện tiếp cận với sách tham khảo, các phần mềm học tiếng Anh hay Internet để học Tiếng Anh tốt hơn.

      –  Chất lượng đại trà còn thấp so với các trường trong huyện, chưa có nhiều HS đạt giải cao trong các kì thi Học sinh giỏi Tiếng Anh hay cuộc thi qua mạng

      - Ngoài ra: Chương trình, sách giáo khoa còn nặng, có nhiều bài quá sức học sinh, nhất là đối với các khối 4,5 trở lên. Vì vậy, để truyền tải hết nội dung sách giáo khoa theo phân phối chương trình, giáo viên không thể đi sâu giảng kỹ. Thêm nữa, do môi trường ở nông thôn nên việc vận dụng ngoại ngữ còn rất hạn chế, vì vậy học sinh không có điều kiện để rèn luyện các kỹ năng. Vì thế tôi đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh như sau:

    II. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG ANH:

       Trên các cơ sở đã trình bày, tôi xin đưa ra một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng dạy – học Tiếng Anh như sau:

    -Về phía giáo viên: Cần phải yêu cầu giáo viên năng động, tích cực đổi mới phương pháp hơn để tìm ra các cách dạy hay, sáng tạo để làm cho các tiết học sinh động, HS tiếp thu một cách tích cực vì đặc trưng của bộ môn này ở TH là HS học thông qua hoạt động chơi, thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ dạy học của mình. Giáo viên cần tích cực dự giờ thăm lớp, học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp của môn TA và các môn học khác. GV phải sử dụng công nghệ thông tin thành thạo để soạn powerpoint or phần mềm sách tiếng anh dạy vì dạy pp này hs sẽ thích học hơn. Mỗi bài học gv phải cho hs luyện nói nhiều để hs tự tin hơn trong giao tiếp và yêu cầu hs viết thuộc từ mới mẫu câu và chuẩn bị bài mới trước khi lên lớp. Gv tham khảo sách báo và các phần mềm học tiếng anh để dạy và hướng dẫn hs học. Đặc biệt hơn là gv cần tăng cường việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nắm chắc kiến thức để đáp ứng yêu cầu giảng dạy theo Đề án dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 cũng như chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiếng Anh Tiểu học. Cụ thể: đối với giáo viên dạy Tiểu học phải có trình độ năng lực Tiếng Anh tương đương B1 và (B2) của Khung Tham chiếu năng lực ngoại ngữ châu Âu.

    Đối với hs.

    Thứ nhất các em phải học thuộc từ mới mẫu câu và làm bài tập đầy đủ.

    – Khuyến khích hs học qua các phần mềm tiếng anh qua mạng như học tiếng anh 123. Monkey Junier…

    – Yêu cầu hs lập nhiều nick để hs luyện thi ioe ở nhà hoặc ở trường mỗi tuần tuyên dương hs nhiều nick điểm cao dưới cờ.

    – Khuyến khích các em tham gia CLB Tiếng Anh.

    Đối với các nhà trường: Cần quan tâm hơn nữa đến chất lượng môn TA cũng như đội ngũ GV.

     

    Nguồn tin: Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Thể Dục Và Các Hoạt Động Thể Dục Thể Thao Ở Trường Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Học Tin Học Ở Bậc Tiểu Học : Phòng Gd&đt Nam Trực
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học …
  • Nâng Cao Chất Lượng Đọc, Viết Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 – Tiểu Học An Hòa A
  • “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Vật Lý Theo Mô Hình Cdio”

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Ai Không Nên Đặt Vòng Tránh Thai?
  • Quy Định An Toàn Làm Việc Trên Cao
  • Huấn Luyện An Toàn Lao Động Làm Việc Trên Cao
  • Biện Pháp An Toàn Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Biện Pháp An Toàn: Trong Tiếng Anh, Bản Dịch, Nghĩa, Từ Đồng Nghĩa, Phản Nghiả, Ví Dụ Sử Dụng
    • Thứ Bảy, 13:10 13/01/2018

    Tags:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Quảng Phương : Trường Thcs Quảng Phương
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …
  • Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Quảng Phương : Trường Thcs Quảng Phương
  • Chất lượng giáo dục luôn luôn là điều trăn trở đối với các nhà quản lý giáo dục nói chung cũng như đối với người giáo viên nói riêng. Trong thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là thực hiện các cuộc vận động lớn như : “Hai không”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

    Qua thực hiện các cuộc vận động này đã làm thay đổi khá nhiều về chất lượng giáo dục. Tuy có nhiều tiến bộ nhưng chất lượng thật sự của giáo dục hiện nay  còn có một số tồn tại chưa giải quyết được. Yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phải tìm những nguyên nhân yếu kém một cách chính xác, phải nhìn thẳng vào sự thật một cách khách quan.Từ đó bình tĩnh đưa ra những giải pháp tích cực sát với thực tế để từng bước nâng cao chất lượng.

    Trong những năm qua, một thực trạng là càng ngày tính đa dạng về trình độ học sinh trong các lớp càng tăng. Do đó, làm cách nào để có thể giúp cho học sinh khai thác tối đa bài giảng của thầy, nhất là đối với học sinh yếu. Ở các em có sự khác biệt về: khả năng tiếp thu bài, phong cách nhận thức,… so với những học sinh khác. Cần xem xét những học sinh này với những đặc điểm vốn có của các em để tìm ra những biện pháp nhằm dẫn dắt các em đạt đến kết quả tối đa, tránh cho các em bị rơi vào những khó khăn thường trực trong học tập. Đó chính là điều mà bản thân tôi muốn trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để giúp đỡ đối tượng học sinh yếu.Để giải quyết vấn đề đó tôi xin nêu lên một số nguyên nhân và đề ra một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng trên như sau:

    1. NGUYÊN NHÂN:
    2. Từ học sinh:

    – Học sinh không hứng thú học tập bộ môn: Khác với các môn khác, môn Hóa học có nhiều khái niệm trừu tượng, khó, học sinh rỗng kiến thức cơ bản, do đó học sinh tiếp thu kiến thức ngày càng khó khăn và thiếu hụt.

    – Chất lượng đầu vào thấp, học sinh học yếu môn toán, lý khó có khả năng tiếp thu kiến thức môn Hóa học do đó sợ môn Hóa và không ham thích học Hóa.

    – Một số em lười học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ học tập dẫn tới không nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giải quyết các dạng bài tập Hóa học.

    – Một số em thiếu  tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải sẵn trong sách giải một cách thụ động.

    1. Từ giáo viên:

    – Chưa thực sự quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong cả lớp mà chỉ chú trọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động viên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ.

    – Chưa cân đối giữa việc truyền thụ kiến thức với rèn luyện kỹ năng thực hành Hóa học.

    – Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề quá cao hoặc quá thấp đối với học sinh.

    – Chưa tạo được không khí học tập thân thiện. Giáo viên chưa phối kết hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh.

    – Phương pháp dạy học chậm đổi mới: Nhiều giáo viên chưa chú ý đến phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn:

    – Việc kiểm tra, đánh giá chưa nghiêm túc, chưa có tác dụng khích lệ học sinh trong học tập, thậm chí còn tạo điều kiện cho học sinh chây lười.

    – Chưa tổ chức được các buổi ngoại khóa, những hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh tham gia.

    1. Từ phụ huynh học sinh và xã hội:

    – Một số phụ huynh không quan tâm đến việc học của con em, khoán trắng việc học tập của con em họ cho nhà trường.

    – Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em.

    1. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP:

    Từ những nguyên nhân trên tôi xin đề ra các biện pháp cụ thể như sau:

    1. Tạo động cơ, gây lòng tin, hứng thú say mê, yêu thích học tập bộ môn cho học sinh.

    – Động cơ trong (động cơ hoàn thiện tri thức) và động cơ bên ngoài (động cơ quan hệ xã hội ), cho học sinh thấy được vai trò, tầm quan trọng của bộ môn, tạo cho học sinh có nhu cầu nâng cao tri thức môn học. Nắm vững tâm lí lứa tuổi của các em học sinh tạo động cơ quyết tâm phấn đấu vươn lên để tự khẳng định mình. “ Động cơ học tập không có sẵn, không thể áp đặt, phải hình thành dần dần trong quá trình học sinh chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và điều khiển của thầy ”.

    – Cần giúp học sinhxác định đúng động cơ thái độ học tập: Học là để có kiến thức, để làm người, để chiếm lĩnh tri thức của loài người, biến kiến thức đó thành kiến thức của mình, học để lập thân, lập nghiệp nhằm phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Có như vậy  học sinh mới tự giác học tập, chăm chỉ học tập, cố gắng vươn lên.

    – Vậy phải làm gì để gây lòng tin, tạo hứng thú, sự say mê, yêu thích bộ môn Hóa học?

    – Tạo hứng thú sự yêu thích bộ môn qua việc cho học sinh thấy được vai trò, tầm quan trọng của môn Hóa học trong chương trình phổ thông; vai trò tầm quan trọng của Hóa học trong đời sống, trong thực tiễn khoa học kĩ thuật…Qua việc sử dụng kiến thức bộ môn giải quyết các bài tập thực tiễn, giải thích các hiện tượng tự nhiên xảy ra xung quoanh đời sống và trong sản xuất.

    – Tạo cho học sinh hứng thú bằng sự thay đổi phương pháp, hình thức dạy học : Linh hoạt đa dạng trong mỗi giờ, mỗi phần, chú ý hoạt động đặc trưng bộ môn ( thí nghiệm Hóa học biểu diễn, thí nghiệm thực hành), sử dụng phương tiện kĩ thuật dạy học. Học sinh rất hào hứng khi được tham gia thí nghiệm trong giờ hay phòng thí nghiệm, bài học sẽ có kết quả tốt hơn khi sử dụng các phương tiện như máy vi tính, máy chiếu đa năng, các phần mềm Hóa học,…

    – Tạo hứng thú từ phong cách làm việc của thầy qua từng bài giảng trong quá trình nghiên cứu bộ môn; từ sự gần gũi, sự nhìn nhận của thầy trong sự cố gắng, nỗ lực của học sinh. Tạo không khí vui vẻ, thoải mái trong mỗi giờ học (yêu cầu nghiêm túc nhưng nhẹ nhàng , không căng thẳng ), đây chính là nghệ thuật sư phạm của người thầy nhờ sự nắm vững kiến thức khoa học của bộ môn, hiểu và nắm vững quy luật nhận thức, tâm lý học lứa tuổi, tâm lí sư phạm…, hiểu rõ và đồng cảm với đối tượng học sinh mà mình dạy.

    1. Thường xuyên gần gũi chăm lo, động viên học sinh, chỉ dẫn, kèm cặp học sinh trong quá trình thực hiện. Tránh sự nóng vội, buông trôi, phó mặc.
    2. Bù lấp kiến thức cơ bản cho học sinh yếu kém để các em kịp thời hòa nhập với lớp, bên cạnh việp giúp đỡ các em trong giờ học chính khóa cần phân loại để tổ chức giúp đỡ riêng ngoài giờ theo nhóm học sinh. Những lớp có những học sinh tích cực, có phương pháp học và tự học tốt có thể xây dựng nhóm bạn giúp đỡ. Để tổ chưc có hiệu quả, giáo viên phải hướng dẫn cụ thể cách thức hoạt động của nhóm, của mỗi thành viên trong nhóm, phải thường xuyên theo dõi uấn nắn, điều chỉnh kịp thời.
    3. Đổi mới phương pháp dạy học.

    – Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động học tập của học sinh. Việc đổi mới cần gắn với khai thác, sử dụng thiết bị giáo dục trên cơ sở bám sát nội dung sách giáo khoa, yêu cầu bộ môn về chuẩn kiến thức kĩ năng.

    – Đổi mới phương pháp dạy học, phải đổi mới từ khâu soạn giảng, quá trình lên lớp, đến kiểm tra đánh giá. Bài soạn thực sự là bản thiết kế để giáo viên thực hiện trong giờ dạy, kèm theo bản thiết kế là sự chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết cho giờ dạy.Ở mỗi bài dạy cần:

    + Xác định đúng, đủ mục tiêu bài học theo đặc điểm từng dạng bài.

    + Cải tiến hình thức tổ chức hoạt động để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh.

    + Hệ thống kiến thức phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức, cần giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài

    + Mỗi bài học cần xây dựng một số câu hỏi then chốt nhằm khai thác những kiến thức trọng tâm của bài.

    + Tăng cường sử dụng dồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả tiết dạy.

    + Đối với các tiết thực hành cần chuẩn bị đồ dùng, Hóa chất và thực hiện các thí nghiệm trước khi lên lớp để bảo đảm các thí nghiêm thành công. Đồng thời dự kiến trước các tình huống thí nghiệm thất  bại xảy ra đối với học sinh để hướng dẫn cho các em làm tốt.

    – Trong giờ học sinh phải được làm việc tham gia chiếm lĩnh kiến thức mới. Để thực hiện tốt vấn đề này giáo viên cần quan tâm tới các đối tượng học sinh, đặc biệt với học sinh yếu kém. Dạy học sinh cách học trong đó có phương pháp tự học là yêu cầu bắt buộc luôn phải đặt ra trong mỗi giờ lên lớp.

    – Lồng ghép dạy kiến thức với bù lấp kiến thức hổng cho học sinh và dùng kiến thức mới để soi sáng, củng cố kiến thức mà học sinh đã học trước đó.

    – Xây dựng hệ thống bài tập trong giờ phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau. Có câu hỏi phát hiện dấu hiệu bên ngoài, có câu hỏi về bản chất , cần có tư duy , so sánh, khái quát tổng hợp cao…

    1. Dạy học sinh trong đó có tự học:

    Học ⇒Hỏi ⇒Hiểu ⇒Hành

    – Biết cách học từng phần, từng nội dung, từng bài. Biết cách ghi nhớ, ghi nhớ có chon lọc, nhớ để hiểu và hiểu giúp ghi nhớ dễ hơn, sâu hơn lâu hơn.

    – Hiểu mấu chốt, vì vậy học sinh phải biết cách xây dựng câu hỏi để tự trả lời và nhờ người khác trả lời, luôn đặt ra câu hỏi “tại sao ?” để tự trả lời, trước một vấn đề mới, vấn đề nghiên cứu, trước một lời giải hay cách giải quyết của bản thân và người khác.

    – Nâng cao năng lực khái quát hóa, tổng hợp trong học và tự học, biết sử dụng phương pháp xây dựng “ Cây kiến thức ” để củng cố, hoàn thiện kiến thức kĩ năng.

    – Cho học sinh làm việc nhiều hơn, tăng cường bài tập vận dụng kiến thức, bài tập rèn luyện kiến thức, bài tập rèn luyện kĩ năng thích hợp cho các đối tượng. “Hiểu” để “Hành” và “Hành” để sáng tỏ kiến thức đã “Hiểu”. Học trước hết để hiểu, hiểu trên cơ sở đó mà hành. Hiểu là điểm tựa, hành để phát triển.

    1. Thường xuyên kiểm tra đánh giá học sinh.

    Trong kiểm tra đánh giá cần:

    – Ra đề theo hướng đòi hỏi người học phải hiểu bài, vận dụng kiến thức, hạn chế học vẹt, ghi nhớ máy móc nhưng phải phù hợp với đối tượng

    – Thực hiện nghiêm túc qui trình kiểm tra, trả bài kiểm tra và thời hạn trả bài kiểm tra cho học sinh

    – Kiểm tra là thước đo sự chuyển biến vừa là sự nhắc nhở , động viên trong quá trình học tập.

    – Kiểm tra thường xuyên với nhiều dạng bài, nhiều hình thức khác nhau: Bài tập trắc nghiệm khách quan, tự luận, kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết, kiểm tra việc ghi chép, kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà, kiểm tra trong giờ dạy lí thuyết, kiểm tra trong giờ thực hành…Đổi mới hình thức và nội dung kiểm tra theo tinh thần của Bộ GD & ĐT, “ Kiểm tra theo hướng đòi hỏi người học phải hiểu bài, vận dụng kiến thức, hạn chế lối học vẹt, ghi nhớ máy móc ”.

    – Kiểm tra đánh giá sự tiến bộ của từng học sinh, lấy sự chuyển biến của học sinh để động viên khích lệ học sinh nỗ nực phấn đấu vươn lên trong học tập. Quan trọng hơn là kiểm tra những sai xót, những lỗi mắc phải của học sinh để tìm ra nguyên nhân dẫn đến sai xót và biện pháp khắc phục, bài học kinh nghiệm rút ra từ sai lầm đó. (Lưu ý khi học sinh mắc lỗi, kết quả không như mong muốn, tuyệt đối không biểu hiện bi quan, thất vọng hoặc dùng kết quả để lăng mạ, chỉ trích, mỉa mai học sinh)

    1. Phối hợp chặt trẽ giữa gia đình và nhà trường.

    – Giúp các bậc phụ huynh xác định rõ mục đích cho con đi học: Tạo cho con một nền móng vững chắc để bước vào đời, để lập nghiệp, để con em mình hoà nhập được với xu thế phát triển của xã hội và hơn thế là để con em mình có đủ khả năng để tự tách ra khỏi vòng tay của bố mẹ để tạo dựng một sự nghiệp vững chắc vàcó một gia đình độc lập.

    – Không nên tận dụng sức lao động của con em mình quá sớm. Ngoài ra các bậc phụ huynh còn phải quan tâm quản lý nghiêm giờ giấc học tập của con em mình, thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn để tìm hiểu việc học tập của con em mình.

    III. KẾT LUẬN:

    Để đạt được kết quả tốt trong giảng dạy người thầy phải có niềm say mê, tình yêu thương đối với mọi học trò, tính kiên nhẫn , có niềm tin và không ngại khó. Là giáo viên đứng lớp, được tiếp xúc với các em hàng ngày, hiểu được tâm lí của lứa tuổi học trò, luôn tạo cho các em niềm tin: “ Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”. Khi các em đã yêu thích môn học rồi thì việc hạn chế được tỉ lệ học sinh yếu kém là không khó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử 7
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Đạo Đức Lớp 5 Trường Tiểu Học Trần Quốc Toản
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tập Làm Văn Lớp 3
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy – Học Môn Toán Lớp 3 Theo Các Dạng Cơ Bản Nhằm Giúp Học Sinh Tích Cực Hóa Hoạt Động Học Tập
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100