Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tiếng Anh

--- Bài mới hơn ---

  • Dạy Và Học Môn Tiếng Anh: Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng?
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Phân Môn Hát Ở Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn Cho Giáo Viên Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trong Trường Mầm Non
  • Thật khó tin khi mà trong thời đại hội nhập toàn cầu, vẫn còn những học sinh coi môn tiếng Anh là “môn phụ” và học theo kiểu uể oải, đối phó. Chỉ đến khi lên đến đại học, ra làm việc, họ mới biết nhìn ra vấn đề, nhưng nhiều khi đã muộn.

    Đã đến lúc cần gióng lên một hồi chuông cảnh báo về chất lượng dạy và học môn tiếng Anh trong trường phổ thông .Hiện nay, môn tiếng Anh đã được đưa vào dạy ở bậc phổ thông, từ THCS đến THPT, một số nơi đã đưa vào chương trình bậc Tiểu học. Môn Ngoại ngữ là một môn thi tốt nghiệp bắt buộc hàng năm. Một số trường đại học sau khi tuyển sinh đã tiến hành khảo sát chất lượng môn Ngoại ngữ, nếu học sinh nào không đạt yêu cầu sẽ không được tiếp nhận vào học. Tuy nhiên, một thực tế là chất lượng dạy học môn Ngoại ngữ trong trường phổ thông trong t æ nh noùi chung vaø ôû tröôøng THPT Nguyeãn Thoâng noùi rieâng coøn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ hội nhập.

    V aäy ñaâu laø nguyeân nhaân cuûa thöïc traïng treân ?

    – CT-SGK môn TA được xây dựng theo quan điểm giao tiếp với các định hướng cơ bản là hình thành kĩ năng giao tiếp là mục tiêu cuối cùng quá trình dạy học và thể hiện tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong rèn luyện và vận dụng kĩ năng giao tiếp bằng TA.

    – Nội dung chủ điểm gần gủi với cuộc sống, hoạt động thường ngàycủa HS, giúp cho HS có sự hiểu biết tương đối khái quát về đất nước, con người và nến văn hoá của một số nước sử dụng TA.

    – Tuy nhiên, nội dung CT mới, lượng kiến thức nhiều, dàn trãi và nặng đối với đối tượng HS trung bình yếu, và HS vùng nông thôn nhö tröôøng chuùng ta . Nội dung kiến thức trong 1 tiết ( 45 phút ) tương đối nhiều, GV thường phải chạy đua với thời gian để hoàn thành các phần trong tiết dạy và do đó không có thời gian để rèn luyện, củng cố và khắc sâu kiến thức cho HS; Thậm chí có tiết GV phại chạy theo CT, tạo áp lực cho HS, không gây được hứng thú học tập bộ môn cho HS.

    – Bài tập rèn luyện trong SGK phần nhiều được thiết kế theo hình thức tự luận ( TL ) nhưng phần lớn kiểm tra 1 tiết và học kỳ theo hình thức trắc nghiệm khách quan; Điều này thể hiện sự không đồng bộ và bất cập trong giảng dạy và kiểm tra.

    – Một số nội dung chủ điểm còn xa lạ đối với HS vùng nông thôn ( các bài nói về nội dung chiến lược kinh tế trừu tượng trong SGK lớp 12-Economic Reforms sa mạc( Unit 9 – 12 các môn thể thao dưới nước – unit 12- 12 các tổ chức quốc tế, . . . . ) , ñoâi khi đó còn là vấn đề mới mẽ đối với GV, tạo ra một thử thách lớn đối với GV khi thực hiện CT-SGK mới.

    * Đa số giáo viên còn trẻ , tận tâm với nghề , với học sinh .

    * Có 100% giáo viên đạt chuẩn đào tạo và có 2 GV trên chuẩn .

    * Đoàn kết nội bộ cao , nhất trí cao trong mọi công tác .

    * Vận dụng và kết hợp đổi mới PPGD bộ môn , nhiệt tình trao đổi chuyên môn cùng đồng nghiệp để tìm phương hướng giảng dạy coù hiệu quả .

    * Đa số GV nhiệt tình trong giảng dạy , song do chương trình mới nên còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng trong soạn giảng . Chưa truyền thụ hết kiến thức cho học sinh do chưa có kinh nghiệm dạy SGK mới

    * 100 % Gv trong tổ là nữ , hầu hết đều có con nhỏ nên bận bịu với công việc gia đình , không có đủ thời gian học hỏi từ đồng nghiệp trong và ngoài trường dù có thiện chí.

    *Dạy ngôn ngữ nhưng GV Anh văn chuùng toâi gần như bị tách rời giao tiếp, môi trường văn hóa tiếng Anh, chỉ loay hoay với công việc do áp lực thành tích, chỉ tiêu thi đua.

    * Theo thạc sĩ Phạm Tấn, Phó Trưởng khoa Anh văn Trường Đại học Sư phạm chúng tôi trong giảng dạy tiếng Anh cần đảm bảo nguyên tắc 4 L: Học – Sống – Yêu – Cười (Learn – Live – Love – Laugh) thì việc học tiếng Anh mới đạt hiệu quả. Để làm được điều này, GV phải gia công rất nhiều cho bài học nhưng trước những áp lực với GV hiện nay, nguyên tắc 4 L bao giờ mới được áp dụng?.

    * Một số GV chưa đầu tư thoả đáng cho chuyên môn , chưa thật sự chịu khó tự rèn , chưa tạo được sự say mê học tập bộ môn cho học sinh cũng như chưa có biện pháp hữu hiệu trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh . Chưa chú trọng phân hoá đối tượng .

    * Một số Gv còn quá dễ dãi trong việc quản lý , nhắc nhở kiểm tra học sinh , tạo cơ hội chểnh mảng trong học tập cho các em .

    * Tổ trưởng chưa có kinh nghiệm quản lý CM , xử lý vấn đề đôi khi chưa khoa học . Chưa có kinh nghiệm trong công tác ôn thi TN .

    * Trường nằm ở vùng ven thành phố Vl , học sinh đa phần xuất thân từ tầng lớp nông dân , chưa có môi trường và cơ hội thực hành tiếng , chưa vận dụng được nội dung đã học vào thực tế cuộc sông .

    * Chất lượng đầu vào hàng năm của trường thường quá thấp .

    * Nội dung đề kiểm tra một tiết và học kỳ THCS thừờng quá dễ , học sinh đầu cấp chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm tra ở đầu năm học khi chuyển từ THCS sang THPT , từ đó tạo ra sự bất mãn , chán và sợ học tiêng Anh , thụ động học tập để đối phó với GV qua những lần KT .

    + Cấu trúc đề KT THCS ( KT 45 phút và thi học kỳ 60 phút , cấu trúc đề , số lượng câu hỏi như nhau .)

    * Chưa thấy được tầm quan trọng của tiếng Anh trong phát triển nghề nghiệp sau này .

    * Đa phần mất kiến thức căn bản từ cấp dưới , ý thức học tập chưa cao , thiếu động cơ , mục đích học tập, chưa tự giaùc học tập , còn trông chờ vào gv và lệ thuộc vào sách học tốt quá nhiều .

    * Học sinh ban KHXH & NV không có , đa số học sinh chọn các môn Toán , lý hoá để thi ĐH nên còn xem nhẹ môn tiếng Anh , chủ trương học sao cho không bị điểm quá thấp khi thi TN là đủ .

    * Kỹ năng làm bài kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan còn yếu . Kỹ năng phân tích đề và nhận dạng cấu trúc chưa cao . Thái độ làm bài kiểm tra chưa nghiem túc , thể hiện qua việc chọn ngẫu nhiên , không đọc kỹ đề để lựa chọn phương án đúng .

    II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2009- 2010

    1. Giáo dục học sinh nhận thức vị trí và tầm quan trong của việc học tập bộ môn tiếng Anh trên lớp và trong tương lai.

    2. Giáo dục học sinh về ý thức và thái độ học tập bộ môn đúng đắn, nhất là thái độ làm bài thi nghiêm túc và cố gắng hết mình để đạt kết quả khả quan hơn. Thường xuyên rèn luyện kỹ năng làm bài trắc nghiệm,kỹ năng phân tích đề thông qua các bài kiểm tra.

    3. Phân hoá đối tượng học sinh để tổ chức nâng kém hiệu quả hơn, thường xuyên kiểm tra bài các học sinh yếu và lười bằng những biện pháp hữu hiệu, tạo hứng thứ học tập bằng những hình thức khen thưởng, khích lệ các em học chăm hơn. Động viên các em yếu, kém học chăm chỉ và tích cực hơn trong các hoạt động trên lớp.

    4 .Cho các dạng bài tập trắc nghiệm vừa sức học sinh, rèn luyện các dạng bài tập cơ bản lặp đi lặp lại để khắc sâu kiến thức và đảm bảo cho học sinh đạt điểm 5 trở lên. Tranh thủ quỹ thời gian ở nhà của các em giao bài tập về nhà cho các em tự luyện tập thêm.

    5. Tăng cường củng cố kiến thức cho học sinh yếu kém, trao đổi cùng đồng nghiệp những nội dung cô đñong , dễ hiểu và tìm ra PP giúp các em khắc sâu bài học hơn.

    6. Khuyến khích và tổ chức nhóm học tập trên lớp và ở nhà. Rèn luyện nề nếp tự học và tự đánh giá mức độ tiếp thu bài học của mình. Xây dựng môi trường học tập bộ môn tự nhiên và không gây áp lực cho các em.

    7. Kết hợp cả hai chương trình chuẩn và nâng cao để rút ra kiến thức chuẩn truyền đạt cho học sinh ngay từ lớp 10. Giáo viên giảng dạy lớp 12 cần cung cấp và rền luyện cho học sinh kiến thức toàn cấp học để có thể đáp ứng đề kiểm tra trên lớp và học kỳ.

    9. Giáo viên luôn tự rèn luyện, học hỏi thêm về chuyên môn, đầu tư nhiều trong soạn giảng, vận dụng PPDH hiệu quả, tạo sự hứng thú học tập và tích cực hoạt động của học sinh. Học hỏi kinh nghiệm từ các trường có chất lượng cao để từng bước đưa chất lượng của trường đi lên. Giao lưu trao đổi tài liệu, sách tham khảo về bộ môn giữa các trường.

    1. Duy trì việc thông bài nhóm , chú ý đến những tiết khó trong CT .
    2. Tiếp tục thao giảng , dự giờ , chân tình góp ý , rút kinh nghiệm lẫn nhau để cùng nhau nâng cao chất lượng BM .
    3. Hướng dẫn một số GV trong tổ sử dung Internet có hiệu quả để truy cập thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy .Giới thiệu những trang WEB học tiếng Anh trực tuyến các kỹ năng , giúp Gv trao dồi trình độ chuyên môn , và có thể tải các bài tập có chất lương phục vụ cho tiết dạy trên lớp – Thực hiện trong những lần họp nhóm CM .
    4. Tổ chức ngoại khoá nâng cao chất lượng cho học sinh 10, 11 vào tuần thứ 2 tháng 12( chuẩn bị kiến thức , rèn kỹ năng làm bài trắc nhghiệm – kế hoạch đính kèm ) – Nhóm trưởng phụ trách
    5. Tổ chức ngoại khóa nâng cao chất lượng cho học sinh khối 12 trong tuần thứ 3 của tháng 2 , và tuần thứ 2 trong tháng 5 . ?( hệ thống hoá chuẩn kiến thức thi TN , rèn kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm ) TT và các GV 12 .
    6. Tổ chức CLB Tiếng Anh , sinh hoạt lần 1 trong tháng 12 – sau khi thi HKI – và 2 lần trong học kỳ II .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Internet…
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy ⋆ Nam Phát Construction
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Đạt Chuẩn
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Hiệu Quả Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Qua Kỹ Năng Dạy Nghe Đối Với Học Sinh Trung Học Cơ Sở
  • Chuyên Gia “bật Mí” Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Âm Nhạc Ở Trường Thcs Hòa Hiệp
  • Skkn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Phân Môn Học Hát Tại Trường Thcs
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm Nhạc Thcs
  • – Câu (sentence) là sự kết hợp của một nhóm từ (a group of words). Nó được chia làm 2 phần: chủ ngữ (subject) và vị ngữ (pdicate).

    – Động từ trong câu (verb) luôn phải hoà hợp với chủ ngữ về giống (gender), số (number), thời/thì (tense), cách (case)…

    – Nó phải là một sự thông báo hoàn chỉnh (cả về mặt ý nghĩa và ngôn từ).

    – Nó thường được bắt đầu bằng chữ cái in hoa (capital letter) và kết thúc bằng một dấu chấm câu (a full stop).

    Về mặt định nghĩa, giúp học sinh nhận biết đó chính là một câu đơn hay câu cơ bản (a basic sentence).

    Tập trung vào cá nhân / chủ thể cụ thể. Nó phải là câu trả lời cho các dạng câu hỏi:

    Who does what? / What does what?

    What does what →When/Where/How/Why ?

    Who does what → When/Where/How/Why ?

    Dựa trên sự có mặt của 5 yếu tố cơ bản trong câu có thể giúp học sinh nắm được 7 loại câu đơn, bao gồm:

    (4) S + V + O I + Od → My mother buys me a new bike (O I = indirect object: tân ngữ gián tiếp) S V O I O d

    (5) S + V + C SThey are beautiful (C S = subject complement: bổ ngữ cho chủ từ) S V C S

    S V O A

    Giáo viên cần phân tích rõ vị trí, chức năng của từng thành phần trong mỗi loại câu, đặc biệt lưu ý học sinh về vị trí của các trạng từ tần suất trong câu bởi lẽ phần lớn các trạng từ nằm ở cuối hoặc đầu câu, riêng trạng từ tần suất thường được đặt sau động từ “tobe” và trước động từ thường.

    Qua phân tích, nhận định các loại câu cơ bản, chúng ta có thể nhận thấy rằng hai yếu tố chủ ngữ và động từ là thành phần không thể thiếu trong một câu. (Ngoại trừ câu mệnh lệnh, hoặc dạng câu tỉnh lược)

    Vậy giữa chủ ngữ, động từ và các yếu tố khác trong câu sự hòa hợp như thế nào ? Có phải cứ có đủ 5 yếu tố cơ bản đã nêu trên là cấu tạo thành 1 câu hoàn chỉnh không ? Có thể xét ví dụ sau:

    → Đây không phải là 1 câu hoàn chỉnh vì động từ “be” chưa phù hợp với chủ ngữ ” He”.

    → Câu hoàn chỉnh phải là: He is a doctor.

    Như vậy , từ định nghĩa về câu và sự phân tích cấu tạo của câu thì giữa động từ và chủ ngữ nhất thiết phải có sự hoà hợp về giống, số, thời, thể, cách. Ngoài ra, động từ còn phải phù hợp với các yếu tố khác, đặc biệt là các trạng từ trong câu. Dựa vào sự dung hoà này giáo viên có thể thiết kế một số dang bài tập luyện tập cho học sinh như:

    Exercise 1: Correct mistake for there sentences(Sửa lỗi câu cho các câu sau)

    a/ Ba have two sisters. → has (động từ không phù hợp )

    b/ This is my father. Her name’s Ba. → His (giống không phù hợp)

    c/ They are student. → students (Số không phù hợp)

    d/ I am going to visit my grand parents now → tomorrow…. (Trạng từ không phù hợp)

    e/ She is a teacher good. → Đảo good trước teacher (vị trí từ loại không phù hợp)

    Reoder the following words to make full sentences. ( Sắp xếp các từ cho sẵn thành câu hoàn chỉnh).

      Phong / plays / in / soccer / the / usually / afternoon

    → Phong usually plays soccer in the afternoon.

    → Thu lives in the countryside.

    Exercise 3: Complete these sentences with the correct form of word in the parentheses (Hoàn thành các câu sau dùng dạng đúng của từ trong ngoặc)

    a/They are…………….(farm) .They work very hard everyday

    b/ The city is very………………(beauty)

    → The city is very beautiful.

    c/ Mr Lam chúng tôi car to work now. (drive).

    → Mr Lam is driving his car to work now.

    Với các dạng bài tập này có thể giúp học sinh nắm vững cấu trúc cơ bản của một câu đơn cũng như vị trí, chức năng và sự hoà hợp của các yếu tố cấu thành câu.Và khi được luyện tập nhiều, học sinh sẽ dần dần cải thiện và nâng cao kỹ năng viết của mình, các em sẽ viết được một câu văn hay, chính xác cả về văn phong lẫn ý nghĩa.

    Đối với học sinh khối lớp đầu cấp, việc ghi chép lại những gì đã học có thể giúp học sinh củng cố và ghi nhớ được bài học đôi khi nhiều hơn ta tưởng. Đồng thời qua việc ghi chép lại, học sinh có thể hạn chế việc mắc lỗi trong quá trình viết, từng bước cải thiện, nâng cao kỹ năng viết của mình.

    * Complete the dialogue: Một một học sinh sẽ chép lại một lời thoại từ đoạn hội thoại đã cho ( có chứa vốn ngữ liệu đã học ), sau đó chuyền cho bạn kế bên chép lại một câu đáp phù hợp với lời thoại trước. Quá trình luyện tập có thể cho học sinh đổi vai để nắm bắt hết toàn bộ nội dung của đoạn hội thoại. Hình thức này tương tự như cách thực hiện một bài hội thoại dây chuyền (chain dialogue).

    Lan: Good afternoon, Nga. Nga: … …, … .

    Lan: How are you? Nga: … … …, … .

    Lan: Fine, thanks. Nga: Goodbye.

    * Complete the sentences: Một học sinh chỉ chép lại phần đầu của một câu, sau đó chuyền cho bạn bên cạnh chép tiếp phần cuối để hoàn thành câu (hoặc ngược lại). Câu được hoàn thành phải đảm bảo cả về cấu trúc và ý nghĩa (dựa trên ngữ liệu đã được cung cấp).

    – When it’s hot, I ……………………………..

    – When it’s cold, I …………………………….

    – When it’s cool, I ……………………………

    – When it’s warm, I …………………………….

    * Reoder sentences to make a complete dialogue: Giáo viên đưa ra một số câu để cấu thành đoạn hội thoại nhưng được sắp xếp một cách lộn xộn và yêu cầu học sinh tái tạo lại đoạn hội thoại bằng cách sắp xếp và chép lại những mẫu câu đó thành đoạn hội thoại hoàn chỉnh.

    Chép chính tả cũng là một hình thức chép lại có hiệu quả. Ở dạng bài tập này học sinh vừa được luyện tập khả năng nghe hiểu, vừa được củng cố cấu trúc ngữ pháp và từ vựng đã học bằng việc ghi lại đúng chính tả các từ, câu, đoạn văn vừa được nghe. Có nhiều cách chép chính tả khác nhau với mức độ từ dễ đến khó:

    * Nghe, chép lại các từ hoặc các câu đơn giản: cách chép này thường chú trọng vào các từ có âm hoặc chính tả khó, dễ gây nhầm lẫn đối với học sinh.

    * Nghe, chép lại các từ hoặc cụm từ quan trọng trong văn cảnh (spot dictation): Học sinh được đưa cho một đoạn văn chưa hoàn chỉnh, sau đó được yêu cầu vừa theo dõi bài đọc vừa nghe và ghi lại các từ còn thiếu ở chỗ trống.

    Ở phần này, giáo viên thiết kế lại một đoạn văn đã hoàn chỉnh trong sách giáo khoa bằng cách bỏ bớt một số từ quan trọng để giới thiệu cho học sinh (viết lên bảng hoặc dùng bảng phụ), sau đó yêu cầu học sinh gấp sách, theo dõi lên bảng kết hợp nghe và viết lại các từ còn thiếu).

    * Nghe, chép lại toàn bài: Đối với học sinh lớp 6 thì giáo viên nên thiết kế những đoạn văn ngắn có câu, từ đơn giản, nội dung phù hợp với vốn ngữ liệu mới vừa được cung cấp để tránh gây áp lực cho học sinh, đặc biệt là những học sinh yếu.

    Giáo viên đưa ra một bài hội thoại mẫu đồng thời cung cấp một số từ, cụm từ chủ chốt. Học sinh dựa vào bài mẫu và dùng những từ đã cho để viết thành một bài hội thoại mới tương tự như bài mẫu. Với dạng bài tập này nên cho học sinh đọc kỹ bài hội thoại mẫu để các em có thể vừa nắm được nội dung vừa nhận biết những từ, ý văn cần thay thế.

    Step 1: Read this dialogue

    What do you want? → I want a hot drink.

    Step 2: Now use the key words and make the similar dialogues

    Hình thức bài tập này cũng tương tự với dạng bài xây dựng hội thoại có hướng dẫn. Học sinh được đưa cho một đoạn văn, một câu chuyện hay một bài học. Dựa vào bài mẫu đó, yêu cầu học sinh viết lại một đoạn văn với một số thay đổi theo yêu cầu.

    Every morning, I get up. Then I get dressed. I brush my teeth and wash my face. I have breakfast. Then I go to shool

    → Every morning, Ba gets up. He ……………………………………………………………….

    Get up / 5.30. / brush teeth / wash face. / have breakfast / 6.00. / After breakfast / school / 6.30. / go home / lunch / 11.30. / afternoon / homework / play sports. / have dinner / 6.30. /evening / watch TV. / bed / 10.00.

    * Writing messages (viết lời nhắn): Học sinh có thể viết và chuyền cho nhau những yêu cầu, đề nghị đơn giản qua mẫu giấy nhỏ.

    – How about………………?

    – Why don’t we…………………?

    * Writing letters (viết thư): Viết thư là một trong những hình thức giao tiếp qua viết phổ biến. Có nhiều hình thức viết thư khác nhau như: thư mời, xin lỗi, cám ơn, chúc mừng, đề nghị, thăm hỏi, hướng dẫn,…

    * Interviews(viết bài phỏng vấn ngắn): Thông thường phỏng vấn là một thủ thuật phổ biến dành cho luyện tập giao tiếp bằng ngôn ngữ nói( speaking), tuy nhiên giáo viên vẫn có thể sử dụng hình thức này như một dạng bài tập luyện tập phối hợp để rèn kỹ năng viết cho học sinh. Trước khi phỏng vấn, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh soạn ra một bảng câu hỏi (questionare) và định hướng cách trả lời (các câu hỏi nên có nội dung đơn giản để học sinh có thể thu được kết quả phỏng vấn cao), cho học sinh tiến hành phỏng vấn (theo cặp hoặc theo nhóm nhỏ), sau khi phỏng vấn xong yêu cầu các em ghi lại các câu trả lời ở dạng đầy đủ sau đó sắp xếp các câu trả lời sao cho có logic và viết lại thành một bài phỏng vấn hoàn chỉnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Không Thể Chậm Trễ Hơn !
  • Điểm Tiếng Anh Thấp: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ
  • Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ Mầm Non
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Thực Hành Môn Tin Học 4
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Vĩnh Thới
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs Mot So Bien Phap Nang Cao Chat Luong Giang Day Mon Am Nhac O Truong Thcs Doc
  • “một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 4
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Giúp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    – Hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế. Song song với nó là kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ của văn hóa, trong đó lĩnh vực âm nhạc nói riêng:

    – Thứ nhất vấn đề âm nhạc, tôi thấy âm nhạc hiện nay rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ về: số lượng tác phẩm âm nhạc, ca sĩ, băng đĩa, nhạc sĩ trẻ; về phong cách biẻu diễn…tất cả đều mang đậm “ý thích thời thượng của giới trẻ hiện đại”. Nó ra đời như một cơn sóng, nó cuốn theo lớp thanh thiếu niên và có cả các em thiếu nhi. Trong đó, dẫn đến sự xuất hiện của một số “ca sĩ nhí” hát những ca khúc của “giới trẻ thời thượng” không phù hợp với lứa tuổi và tâm hồn trẻ thơ.

    – Thứ hai, âm nhạc là một phần thiết yếu không thể thiếu với cuộc sống của mỗi người chúng ta. Và làm thế nào để con người Việt Nam có được tâm hồn “thật Việt Nam”. Điều đó phải được dung dưỡng khi còn nằm trên nôi đến khi trưởng thành. Nhưng thực tế hiện nay đa số các bà mẹ trẻ chỉ biết hát nhạc trẻ chứ không biết hát ru, bằng những giai điệu mượt mà, truyền cảm với tình yêu quê hương truyền thống của dân tộc từ lâu đời sẽ dễ nuôi dạy trẻ thơ hơn.

    – Chính những điều cảnh báo trên đặt cho giáo dục một trọng trách quan trọng, mà hiện nay giáo dục được Đảng và Nhà nước coi là mục tiêu hàng đầu trong con đường phát triển đất nước, trong đó giáo dục THCS giữ trọng trách của cấp học thứ 3: Mẫu giáo, Tiểu học và THCS. Vì thế, môn Giáo dục Âm nhạc trong THCS giữ vị trí đặc biệt quan trọng – là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn học sinh ở nấc thang cuối cùng của cuộc đời học sinh khi còn ngồi ở ghế nhà trường.

    Chính những lý do trên mà tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn Âm nhạc ở trường THCS Hòa Hiệp”.

    II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    – Căn cứ vào cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giảng dạy bộ môn âm nhạc có đầu tư vào chất lượng giàng dạy trong nhà trường phổ thông.

    – Đề ra một số biện pháp về áp dụng tình cảm khi thể hiện bài hát, bài TĐN của bộ môn âm nhạc.

    III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

    – Đối tượng học sinh lớp 6, 7, 8

    – Theo dõi và kiểm tra việc tiếp thu bài của học sinh trên lớp.

    – Dự giờ các bạn đồng nghiệp ở một số trường phổ thông khác.

    – Đối chiếu với các tiết học chưa có đầu tư về chuyên môn.

    IV. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    – Giáo dục âm nhạc ở trường THCS là thông qua âm nhạc để giáo dục học sinh về đạo đức, thẩm mĩ, tâm hồn học sinh trong sáng, yêu quê hương, đất nước, con người, thiên nhiên, phát triển trí tuệ và thể chất; để có được “tâm hồn Việt Nam” của con người Việt Nam. Giáo viên là người dạy học sinh hát, hiểu nội dung tác phẩm âm nhạc, cảm nhận được giai điệu của tác phẩm, vận động phù hợp với nội dung của tác phẩm, học sinh hiểu đúng hoặc sai được phản ánh trong tác phẩm và tỏ thái độ đúng hoặc sai phù hợp với cuộc sống.

    – Với những yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có kiến thức, kĩ năng Giáo dục âm nhạc vững vàng, có tâm hồn, đạo đức trong sáng, lành mạnh, gương mẫu hay nói cách khác hơn là phải có “tâm hồn Việt Nam”.

    – Giờ học âm nhạc ở THCS là phải thoải mái, sôi động, thu hút học sinh chú ý hào hứng thích hát, thích vận động, thích nghe hát và thích chơi trò chơi âm nhạc. Điều đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có nhiều thủ thuật hấp dẫn lôi cuốn chú ý của học sinh, sử dụng đồ dùng một cách hợp lý, đúng cách, phòng nhạc sạch sẽ, đầy đủ trang thiết bị dạy học như: Đàn Ghitar, Organ, Máy Casset,… thoáng mát, xung quanh yên tĩnh, giọng nói ấm áp, trầm bổng thu hút học sinh, kĩ năng hát và vận động phù hợp với nội dung bài hát và đúng với nội dung – phương pháp của chương trình GD – ĐT của Bộ giáo dục.

    – Âm nhạc còn là một bộ phận không thể thiếu trong các môn học khác đặc biệt là các môn học khô cứng như thể dục, toán, tạo hình, môi trường xung quanh…Nó giúp cho các môn học này thêm hấp dẫn, sinh động và kiến thức được truyền thụ cho học sinh một cách nhẹ nhàng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Dạy Môn Âm Nhạc Tại Trường Thcs Trần Bình Trọng, Hay
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Thời Kỳ Mới
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý Các Cách Tăng Doanh Số Bán Hàng Online Cho Website
  • Bí Quyết Tăng Doanh Thu Và Lợi Nhuận Cho Doanh Nghiệp
  • Giải Pháp Tăng Doanh Thu Và Lợi Nhuận Cho Mọi Doanh Nghiệp
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phục Vụ Của Nhà Hàng, Điểm Cao!
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phục Vụ Tại Nhà Hàng Chiều Sài Gòn
  • Giải pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh

    Phòng GD & ĐT Bắc Sơn Trường THCS TT Bắc Sơn CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Thị trấn Bắc Sơn, ngày 14 tháng 10 năm 2010 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN tiÕng ANH THCS I .Khái quát tình hình chung 1.Đánh giá chung: Mục tiêu chung của giáo dục bậc phổ thông là : Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc . 2,Kết quả giáo dục 3 năm gần đây. – Năm học 2008-2009 : Giỏi : 11% Khá : 17% TB :57% Yếu : 15% – Năm học 2009-2010 : Giỏi : 12% Khá : 18% TB :59% Yếu : 11% – Năm học 2010-2011 : Giỏi : 12,5% Khá : 21,5% TB :56% Yếu : 10% II,Nguyên nhân chất lượng học tập của học sinh còn thấp a/ Đối với học sinh : -Học sinh chưa nhận thức đúng động cơ và mục đích học tập, chưa có quyết tâm và nhiệt tình học tập, môi trường học tập chưa tốt . -Nhiều học sinh học yếu, không theo kịp các bạn trong các môn học tiếng việt chưa đọc thông viết thạo vì thế đọc và viết môn Tiếng Anh càng khó khăn hơn nhiều. (Thiếu kiến thức, kỹ năng, khả năng để học tập lớp đang học : ngồi nhầm lớp) sinh ra chán học, lười học. 1 -Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là học thụ động, lệ thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng không hiểu gì cả)thi cử thì hay quay cóp. – Chưa có phong trào học nhóm, học tổ do đó không có thời gian nghiên cứu để biến kiến thức của SGK thành kiến thức cho mình, nên khi bị trật bài mẫu, bài tủ thì điểm yếu kém . b/Đối với cha mẹ học sinh: Một bộ phận lớn cha mẹ học sinh xác định mục đích cho con đi học còn lơ mơ, thiếu quan tâm hoặc quan tâm không đúng mức đến học tập của con cái, còn khoán trắng cho nhà trường , sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh chưa tốt vì bố mẹ các em chủ yếu là nông dân. c/ Đối với chương trình và sách giáo khoa Tiếng Anh: Chương trình học còn nặng nề, cung cấp kiến thức sự kiện là chính, nhiều học sinh không theo kịp chương trình, nội dung nhiều trong một tiết học nên giáo viên khó thực hiện đổi mới PP dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS vì sợ cháy giáo án. Đề kiểm tra của phòng thì phù hợp với nội dung sách giáo khoa mà các em đã được học còn đề của sở chưa được bám sát trương trình sách giáo khoa nhất là đề thi vào 10 chỉ có những em khá …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Chăm Sóc Sức Khỏe Cho Người Cao Tuổi
  • Vẫn Thiếu Các Biện Pháp Chăm Sóc Sức Khỏe Người Cao Tuổi Tại Cộng Đồng
  • Chia Sẻ Những Giải Pháp Chăm Sóc Sức Khỏe Người Cao Tuổi Hữu Hiệu
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Huy Vai Trò Người Cao Tuổi Trên Địa Bàn Xã
  • Giải Pháp Tưới Cây Tự Động Thông Minh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh.

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Lớp 8
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy – Học Môn Toán Lớp 3 Theo Các Dạng Cơ Bản Nhằm Giúp Học Sinh Tích Cực Hóa Hoạt Động Học Tập
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tập Làm Văn Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Đạo Đức Lớp 5 Trường Tiểu Học Trần Quốc Toản
  • Thứ năm – 24/01/2019 20:20

    •  
    •  
    •  

    I. THỰC TRẠNG CỦA BỘ MÔN TIẾNG ANH.

    1. Các mặt tích cực.

     -Từ khi triển khai dạy học bộ môn này cho đến nay trường thu được nhiều kết quả và tiến bộ rõ rệt:

    – Về phía giáo viên: Chất lượng dạy và học Tiếng Anh đã có sự tiến bộ. Chất lượng và số lượng đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn này cơ bản đáp ứng được yêu cầu nội dung chương trình giảng dạy. Đội ngũ giáo viên trẻ, yêu nghề, nhiệt tình trong công tác, luôn cố gắng đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp hơn với các đối tượng học sinh.

    – Về cơ sở vật chất: đã có phòng học Tiếng Anh.

    2Các mặt hạn chế. 

    Bên cạnh những kết quả đạt được, tuy nhiên trong thực tế hiện nay chất lượng, hiệu quả việc dạy học Tiếng Anh vẫn còn là một vấn đề cần phải tiếp tục đầu tư tìm giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học đối với bộ môn này. Tôi xin đưa ra một vài nguyên nhân để tham khảo, trao đổi:

    Trước hết về phía giáo viên: Giáo viên tuy có nhiều cố gắng trong việc vận dụng phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa các hoạt động của học sinh, nhưng giáo viên chỉ có thể áp dụng được đối với một số bài, một số tiết và một số bộ phận học sinh. Nguyên nhân một phần là do sĩ số học sinh đông trong một lớp, một phần do một số giáo viên tuổi nghề còn ít nên chưa có kinh nghiệm giảng dạy nên chất lượng, hiệu quả dạy học của bộ môn này chưa thật sự như mong muốn.

    Về phía học sinh: Bên cạnh những học sinh yêu thích học ngoại ngữ vẫn còn không ít học sinh cảm thấy không thích học hoặc cảm thấy khó khăn trong việc học bộ môn này. Đối với học sinh lớp 3 bắt đầu học Tiếng Anh theo chương trình thí điểm 10 năm thì hơi khó vì các em giờ mới làm quen. Đa phần học sinh ở nông thôn ít có điều kiện tiếp cận với sách tham khảo, các phần mềm học tiếng Anh hay Internet để học Tiếng Anh tốt hơn.

      –  Chất lượng đại trà còn thấp so với các trường trong huyện, chưa có nhiều HS đạt giải cao trong các kì thi Học sinh giỏi Tiếng Anh hay cuộc thi qua mạng

      - Ngoài ra: Chương trình, sách giáo khoa còn nặng, có nhiều bài quá sức học sinh, nhất là đối với các khối 4,5 trở lên. Vì vậy, để truyền tải hết nội dung sách giáo khoa theo phân phối chương trình, giáo viên không thể đi sâu giảng kỹ. Thêm nữa, do môi trường ở nông thôn nên việc vận dụng ngoại ngữ còn rất hạn chế, vì vậy học sinh không có điều kiện để rèn luyện các kỹ năng. Vì thế tôi đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh như sau:

    II. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG ANH:

       Trên các cơ sở đã trình bày, tôi xin đưa ra một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng dạy – học Tiếng Anh như sau:

    -Về phía giáo viên: Cần phải yêu cầu giáo viên năng động, tích cực đổi mới phương pháp hơn để tìm ra các cách dạy hay, sáng tạo để làm cho các tiết học sinh động, HS tiếp thu một cách tích cực vì đặc trưng của bộ môn này ở TH là HS học thông qua hoạt động chơi, thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ dạy học của mình. Giáo viên cần tích cực dự giờ thăm lớp, học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp của môn TA và các môn học khác. GV phải sử dụng công nghệ thông tin thành thạo để soạn powerpoint or phần mềm sách tiếng anh dạy vì dạy pp này hs sẽ thích học hơn. Mỗi bài học gv phải cho hs luyện nói nhiều để hs tự tin hơn trong giao tiếp và yêu cầu hs viết thuộc từ mới mẫu câu và chuẩn bị bài mới trước khi lên lớp. Gv tham khảo sách báo và các phần mềm học tiếng anh để dạy và hướng dẫn hs học. Đặc biệt hơn là gv cần tăng cường việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nắm chắc kiến thức để đáp ứng yêu cầu giảng dạy theo Đề án dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 cũng như chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiếng Anh Tiểu học. Cụ thể: đối với giáo viên dạy Tiểu học phải có trình độ năng lực Tiếng Anh tương đương B1 và (B2) của Khung Tham chiếu năng lực ngoại ngữ châu Âu.

    Đối với hs.

    Thứ nhất các em phải học thuộc từ mới mẫu câu và làm bài tập đầy đủ.

    – Khuyến khích hs học qua các phần mềm tiếng anh qua mạng như học tiếng anh 123. Monkey Junier…

    – Yêu cầu hs lập nhiều nick để hs luyện thi ioe ở nhà hoặc ở trường mỗi tuần tuyên dương hs nhiều nick điểm cao dưới cờ.

    – Khuyến khích các em tham gia CLB Tiếng Anh.

    Đối với các nhà trường: Cần quan tâm hơn nữa đến chất lượng môn TA cũng như đội ngũ GV.

     

    Nguồn tin: Giáo viên: Nguyễn Thị Thủy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Thể Dục Và Các Hoạt Động Thể Dục Thể Thao Ở Trường Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Học Tin Học Ở Bậc Tiểu Học : Phòng Gd&đt Nam Trực
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học …
  • Nâng Cao Chất Lượng Đọc, Viết Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 – Tiểu Học An Hòa A
  • 2 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Anh Vùng Khó

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Anh Ở Trường Thcs Đan Trường Hội
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Theo Mô Hình Trường Học Mới Vnen
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp Ghép Trong Trường Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số, Miền Núi
  • Tọa Đàm Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp Ghép
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Hóa Học Trung Học Phổ Thông (Chương 3 Cacbon
  • Với việc chỉ đạo các trường tích cực sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đã giúp cho giáo viên củng cố bổ sung thêm cách thức, phương pháp tổ chức hiệu quả tiết học, từ đó phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh, nâng cao chất lượng giờ học.

    Giáo viên có thể cụ thể hóa thành các bước sau: Giáo viên hoặc nhóm giáo viên chủ động lựa chọn 1 tiết dạy tiếng Anh trên cơ sở thực tế tài liệu hướng dẫn học và trình độ học sinh trong lớp để có điều chỉnh bổ sung phù hợp.

    Từ việc thiết kế tài liệu theo năng lực học sinh, giáo viên Tiếng Anh thực hiện dạy minh họa. Sau đó, giáo viên trong tổ, nhóm chuyên môn hoặc toàn trường dự giờ để quan sát việc học của học sinh. Đây là một công đoạn rất quan trọng trong tổ chức sinh hoạt chuyên môn.

    Quan sát thế nào cho hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào ý thức, thái độ và năng lực của người quan sát. Nếu người quan sát có sự quan sát tinh tế và phán đoán đúng các tình huống sư phạm trong tiết dạy thì sẽ có giúp ích rất nhiều cho người dạy cũng như những người cùng quan sát.

    Để làm được điều đó, phải xây dựng được văn hoá trong dự giờ. Tất cả cán bộ, giáo viên đều biết cách quan sát có chủ định (quan sát đến từng học sinh hoặc nhóm học sinh để xem học sinh hoặc nhóm học sinh đó học thế nào, hoạt động nào hiệu quả, chỗ nào chưa hiệu quả, nguyên nhân tại sao…) và trong quan sát hoạt động học của học sinh đảm bảo quan sát rất chi tiết, ghi chép (có thể chụp hình) nhưng tuyệt đối không can thiệp vào việc học của học sinh, không làm ảnh hưởng đến giáo viên và học sinh.

    Trao đổi sau tiết dạy: Không khí của buổi trao đổi rất quan trọng: Việc trao đổi, chia sẻ sau tiết dạy phải cùng hướng đến mục tiêu cho cả người thiết kế và người dự giờ: Nội dung điều chỉnh đã thực sự hiệu quả chưa? Vì sao? Có thể thay đổi nội dung nào, hoạt động nào? Vì sao? Học sinh có được học thực sự không, có được tương tác với tài liệu, với bạn, với thầy cô không?…

    Đây là yếu tố rất quan trọng trong sinh hoạt chuyên môn Tiếng Anh, đòi hỏi có được mối quan hệ giao tiếp tốt, biết lắng nghe tích cực, biết làm việc cùng nhau.

    Sau tiết học đó, mỗi người đều phải rút ra cho mình một bài học về điều chỉnh tài liệu hướng dẫn học và tổ chức dạy học không phải chỉ với tiết học đó, môn học đó mà là sự vận dụng linh hoạt với các tiết học khác, môn học khác.

    Thứ hai: Tăng cường đảm bảo liên thông, liên môn trong từng lớp học

    Từ việc nhân rộng các lớp điển hình cấp tiểu học, phòng GD&ĐT đã xây dựng các lớp điển hình ở cấp mầm non và THCS thông qua việc tổ chức các chuyên đề để giáo viên cùng xây dựng khung kiến thức đồng tâm và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp.

    Mỗi cấp học thành lập một tổ cốt cán và xây dựng các câu lạc bộ, thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt để bàn các giải pháp nâng cao chất lượng.

    Chỉ đạo các trường làm tốt công tác phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn để hiểu rõ cấu trúc nội dung chương trình môn học, lớp học, cấp học để tích hợp kiến thức nhằm phát huy năng lực học tập cho học sinh như: Giải toán bằng Tiếng Anh qua mạng; vẽ tranh và thuyết trình bằng Tiếng Anh; tích hợp qua các hoạt động trong tiết học và tích hợp qua bài học; đặc biệt là trong các giờ học ngoại khóa. Các bài tập bổ trợ nâng cao đều tích hợp môn Tiếng Anh để học sinh có cơ hội trao đổi, chia sẻ và đảm bảo sự tương tác đa chiều.

    Việc đảm bảo tính liên thông, liên môn trong từng lớp học, các lớp học đã tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa các giáo viên bộ môn trong trường, giữa giáo viên Tiếng Anh ở các cấp học. Giáo viên và học sinh (đặc biệt là học sinh) sử dụng tiếng Anh như là công cụ để tìm kiếm thông tin, tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy và giải quyết các môn học khác.

    Số lượng và chất lượng học sinh tham gia thi giao lưu tài năng Tiếng Anh (OTE) , cuộc thi Tiếng Anh qua mạng, giải toán bằng Tiếng Anh qua mạng các cấp tăng cao so với năm học trước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Ngoại Khóa Môn Gdcd Ở Thcs
  • Hướng Dẫn Cách Giúp Học Sinh Hứng Thú Với Môn Giáo Dục Công Dân
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Nội Dung Pháp Luật Trong Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 9 Ở Trường
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học Cac Giai Phap Nang Cao Chat Luong Day Hoc Doc
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Cấp Thcs
  • Dạy Và Học Môn Tiếng Anh: Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Phân Môn Hát Ở Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn Cho Giáo Viên Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trong Trường Mầm Non
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Vẽ Cho Trẻ Mầm Non
  • Các trường đang dần tăng cường cho học sinh rèn luyện kỹ năng nói tiếng Anh.

    Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Nguyễn Kiên: “Bồi dưỡng nâng cao năng lực giảng dạy của giáo viên tiếng Anh”

    Tỉnh ta đang thực hiện Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2022. Bộ GD&ĐT hiện đang tiếp tục điều chỉnh đề án để phù hợp với thực tiễn. Thời gian qua, Sở GD&ĐT đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn tập trung bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên (GV).

    Sắp tới, Sở sẽ tổ chức hội nghị chuyên đề đánh giá thực trạng chất lượng dạy và học môn tiếng Anh, từ đó sẽ có giải pháp phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn này. Sở cũng sẽ tăng cường tổ chức các sân chơi, tạo điều kiện cho học sinh nâng cao kỹ năng học tiếng Anh như: Thi hùng biện, phát triển các câu lạc bộ, hoạt động trải nghiệm… Đồng thời, chỉ đạo các cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch giảng dạy môn tiếng Anh phù hợp với điều kiện ở địa phương. Theo đó, GV phải có kế hoạch giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.

    Hiệu trưởng Trường THCS Nghĩa Thắng (Tư Nghĩa) Nguyễn Phúc Lộc: “Kỹ năng nghe, nói của GV tiếng Anh còn hạn chế…”

    Hiện nay, đội ngũ GV chưa đáp ứng với chương trình đào tạo tiếng Anh hệ 10 năm. Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy tiếng Anh còn thiếu. Kỹ năng giao tiếp của học sinh còn hạn chế. Nhiều em không có cơ hội để giao tiếp với người nước ngoài. Đối với các trường phổ thông, GV chỉ mới thực hiện tốt kỹ năng đọc, viết; đối với kỹ năng nghe, nói vẫn còn hạn chế. Một số GV đổi mới phương pháp giảng dạy, chưa khai thác triệt để các thiết bị phục vụ cho việc dạy học môn tiếng Anh.

    Muốn nâng cao chất lượng dạy và học môn tiếng Anh, trong thời gian tới, các trường cần tăng cường công tác quản lý, chăm lo phát triển đội ngũ GV đạt trình độ chuẩn theo quy định, đồng thời tăng cường cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu; có giải pháp thu hút sự quan tâm, đầu tư của các tầng lớp xã hội, nhất là phụ huynh học sinh tham gia vào việc hỗ trợ con em học tốt môn tiếng Anh.

    Giám đốc Trung tâm Anh ngữ AMA Quảng Ngãi Võ Tiến Dũng: “Đưa GV bản ngữ về giảng dạy tại các trường”

    Những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh ngày càng có nhiều trung tâm dạy tiếng Anh nhằm đáp ứng nhu cầu của phụ huynh và học sinh. Theo quy luật, trung tâm nào không đảm bảo chất lượng sẽ tự đào thải. Vì vậy, các trung tâm phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy.

    Thế mạnh của các trung tâm ngoại ngữ là học sinh được tiếp xúc với GV người nước ngoài và phương pháp giảng dạy chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, các trung tâm còn sử dụng giáo trình được các nước tiên tiến áp dụng. Nhờ vậy, các em được rèn luyện 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Theo tôi, các trường cần có sự liên kết với các trung tâm để đưa GV bản ngữ về giảng dạy tại trường, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh.

    Cô Nguyễn Thị Hữu Vương, giáo viên tiếng Anh Trường THPT chuyên Lê Khiết: “Để học tốt tiếng Anh đòi hỏi phải có một quá trình rèn luyện”

    Trình độ ngoại ngữ của học sinh trên toàn tỉnh không đồng đều. Để nâng cao chất lượng dạy và học môn tiếng anh ở các trường đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của GV. Nhiều trường bước đầu đưa GV bản ngữ về giảng dạy nhằm tăng kỹ năng nghe, nói cho học sinh. Về cấu trúc ngữ pháp, thì GV bản ngữ còn những hạn chế nhất định.

    Trong khi đó, ngữ pháp lại là thế mạnh của GV người Việt, nhưng một số thầy, cô giáo phát âm chưa chuẩn. Vì vậy, trước khi lên lớp, GV cần tra lại từ điển để phát âm chuẩn hơn, đáp ứng nhu cầu dạy và học. Bên cạnh đó, học sinh cần được học một cách căn bản từ nhỏ. Học ngoại ngữ là một quá trình, không thể lên THPT các em mới có thể học tốt, nếu cấp dưới không được đào tạo, rèn luyện. Dù GV có giỏi đến đâu, nhưng học sinh không đam mê ngoại ngữ, thì không thể nâng cao chất lượng.

    Em Võ Thị Diên Quỳnh, lớp 9A Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng (Nghĩa Hành): “Học sinh cần thường xuyên giao tiếp bằng tiếng Anh”

    Để học tốt môn tiếng Anh, ngoài việc học ở trường, em thường xuyên nghe những bản tin bằng tiếng Anh trên truyền hình, đọc sách và xem phim có phụ đề bằng tiếng Anh để luyện khả năng nghe, nói, đọc. Sở dĩ các bạn còn hạn chế về kỹ năng giao tiếp vì không có điều kiện để tiếp cận với người nước ngoài; thời gian học tiếng Anh trong trường quá ít, chỉ 2 tiết/tuần.

    Mỗi học sinh cần được giao tiếp bằng tiếng Anh thường xuyên với thầy, cô giáo để chỉnh sửa cách phát âm, tăng cường vốn từ vựng. Bên cạnh đó, các bạn phải có ý thức tự học, tự rèn luyện để nắm vững vốn ngữ pháp của mình.

    Học sinh học tiếng anh tại Trung tâm Anh ngữ AMA Quảng Ngãi.

    Nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2022 – 2022

    Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, nhất là môn tiếng Anh là 1 trong 9 nhiệm vụ trọng tâm được Bộ GD&ĐT chỉ đạo thực hiện trong năm học 2022 – 2022. Theo đó, các cơ sở giáo dục cần đổi mới phương pháp dạy và học ngoại ngữ. Đối với miền núi, việc học tiếng Anh càng thêm khó khăn hơn. Bên cạnh đó, GV dạy tiếng Anh ở miền núi ít có cơ hội để tiếp cận, học hỏi lẫn nhau dẫn đến chất lượng giảng dạy chưa đảm bảo. Đây là “bài toán” khó đối với ngành giáo dục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tiếng Anh
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Internet…
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy ⋆ Nam Phát Construction
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Đạt Chuẩn
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm Nhạc Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Hát Cho Học Sinh Khối 6
  • Đổi Mới Đào Tạo Nghề, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực
  • Đánh Giá Hiệu Quả Công Tác Đào Tạo Nghề Tại Tỉnh An Giang
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ Tuyên Giáo Ở Cơ Sở Hiện Nay
  • Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật sử dụng âm thanh để thể hiện tâm tư

    tình cảm của con người. Ngay từ xa xưa Âm nhạc đã gắn bó hoà quyện với đời

    sống con người từ lúc cất tiếng khóc chào đời tới khi lìa xa cuộc sống.

    Trong những năm qua, môn Âm nhạc đã tạo nên những bước thành công

    trong cải cách giáo dục và trong quá trình đổi mới giáo dục cho phù hợp với xu

    thế phát triển của xã hội. Âm nhạc được coi là môn học cần thiết để giáo dục con

    người phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách. Môn Âm nhạc trong thường

    THCS không nhằm đào tạo những người làm nghề âm nhạc, diễn viên, những

    nhạc sĩ, ca sĩ… Mà chính là thông qua môn học để tác động vào đời sống tinh

    thần của các em, góp phần cùng với các môn khác thực hiện mục tiêu của bậc

    Trung học cơ sở.

    Giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường phổ thông là một trong bốn mặt giáo

    dục quan trọng nhất: ” Đức – Trí – Thể – Mỹ “. Cái đẹp trong nghệ thuật âm nhạc

    xuất phát từ tác phẩm, từ nghệ thuật trình diễn tạo nên những hình tượng âm

    nhạc có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ làm rung động lòng người, hướng con

    người tới ” Chân – Thiện – Trí “.

    Cần phải giáo dục thị hiếu âm nhạc tốt cho học sinh để các em biết yêu

    thích âm nhạc lành mạnh, giàu tính nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc. Giáo dục

    thị hiếu âm nhạc tốt sẽ góp phần làm trong sáng tình cảm đạo đức, và làm phong

    phú đời sống tinh thần của các em trong hiện tại và tương lai.

    Ở nước ta ngày nay, giáo dục đã trở thành một hệ thống được tổ chức rộng

    khắp. Chúng ta đã đưa giáo dục nên hàng đầu, vì giáo dục đào tạo nguồn nhân

    lực cho xã hội. Mở đường cho sự phát triển của kinh tế, trường học công nghệ,

    văn hoá, chính trị của đất nước. Đại học Đảng lần thứ XIII của Đảng Cộng sản

    Việt Nam đã khẳng định :

    ” Phát triển giáo dục và trường học – công nghệ là quốc sách hàng đầu và

    xây dựng chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá

    đất nước, xây dựng xã hội công bằng văn minh “.

    II. LỊCH SỬ ĐỀ TÀI :

    H¹nh

    Trang 1

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    PHẦN NỘI DUNG

    I. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA GIÁO DỤC ÂM NHẠC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG

    CON NGƯỜI VÀ ĐỐI VỚI HỌC SINH THCS.

    1.1. Vai trò của giáo dục Âm nhạc đối với đời sống con người.

    Âm nhạc là một môn nghệ thuật có sức mạnh vô cùng to lớn và phong phú

    trong việc thể hiện một cách tinh tế thế giới nội tâm của con người và đời sống

    xã hội. Nó phản ánh hiện thực khách quan bằng những hiện tượng có sự biểu

    cảm của âm thanh, âm nhạc vui hay buồn, hùng tráng hay sâu lắng … sẽ dấy lên

    những cảm xúc tương ứng ở con người.

    Âm nhạc có những nét đặc trưng riêng, không giống với các loại hình nghệ

    thuật khác. Hình tượng âm thanh của âm nhạc không mang ý nghĩa cụ thể rõ

    ràng như từ ngữ trong nghệ thuật văn chương, cũng không tái hiện tại thế giới

    khách quan bằng những bức tranh có đường nét bố cục chặt chẽ, có mảng màu

    phong phú trong hội hoạ. Âm nhạc có thế mạnh ở khả năng thể hiện rõ nội tâm

    của con người, những suy cảm hết sức tế nhị của nỗi đau, niềm vui, day dứt, suy

    tư, nghi ngờ, thất vọng, tin tưởng… đối với các sự vật hiện tượng và các mối

    quan hệ trong đời sống một cách đầy đủ và đa dạng, ý nghĩa tình cảm của Âm

    nhạc thực chất cũng chứa đựng cả ý nghĩa tư tưởng.

    Khi tác động trực tiếp vào lĩnh vực tình cảm của con người, âm nhạc có

    khả năng thống nhất con người cùng nỗi xúc động và trở thành phương tiện giao

    tiếp hết sức nhạy cảm giữa con người mà không cần tới ngôn ngữ. Nhờ ngôn

    ngữ biểu cảm đặc biệt của Âm nhạc mà những con người từ khắp các phương

    trời, không cùng ngôn ngữ có thể có những hiểu biết về nhau.

    Âm nhạc tác động tới con người ngay từ khi mới sinh ra trong tiếng hát ầu

    ơ của mẹ tới khi giã từ cuộc đời. Tuy không trực tiếp nuôi dưỡng con người

    như : cơm ăn, nước uống, khí trời, cũng không làm ra của cải vật chất, nhưng

    Âm nhạc có sức mạnh làm cho con người nhận thức cuộc sống, giáo dục tâm

    hồn tình cảm và đem lại cho con người những rung cảm về cái đẹp. Sau mỗi

    ngày lao động mệt mỏi căng thẳng, Âm nhạc có tác động giải trí lành mạnh làm

    cho con người vui tươi thoải mái, phục hồi sức khoẻ nhanh chóng… Chính vì vậy

    mà Phu Xích người lãnh tụ của nhân dân lao động đã nói : ” Cuộc sống thiếu âm

    nhạc thì khác nào trái đất thiếu ánh nắng mặt trời “.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 2

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    1.2. Vai trò của Âm nhạc đối với học sinh THCS.

    Âm nhạc giáo dục thẩm mĩ cho các em, giúp các em cảm nhận được cái

    hay, cái đẹp của sự vật hiện tượng xung quanh. Giáo dục thẩm mĩ Âm nhạc với

    nhiều thể loại nội dung khác nhau. Âm nhạc gợi cho các em tình yêu quê hương

    đất nước, tình yêu thương gắn bó quan tâm tới người thân, thầy cô và bạn bè,

    lòng biết ơn cho những người cống hiến cho Tổ quốc, cho dân tộc đem lại cho

    các em cảm xúc trữ tình và niềm tự hào dân tộc. Các em được hiểu biết về các

    dân tộc khác nhau nhen nhóm trong lòng trẻ tình hữu nghị quốc tế cộng đồng

    qua những giai điệu của một số bài hát hoặc trích đoạn tác phẩm Âm nhạc nước

    ngoài. Khi hoạt động Âm nhạc các em cùng nhau chia sẻ hình tượng Âm nhạc

    tính đồng cảm, tinh thần kỷ luật, ý thức tập thể hình thành rõ rệt. Sự phấn khởi

    tươi vui khi biểu diễn bài hát, sự tự tin trong các hoạt động hoà nhập cộng đồng.

    Khi tập hát học sinh tiếp thu đường nét giai điệu, tiết tấu, lời ca giản dị dễ

    hiểu gần gũi với cuộc sống. Qua đó giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, phát âm

    chính xác tiếng mẹ đẻ, nói biểu cảm và mở rộng vốn từ.

    Tóm lại : Giáo dục Âm nhạc tạo điều kiện phát triển chung cho nhân cách

    của học sinh, tạo điều kiện cho hoạt động tri thức cùng phát triển và hoàn thiện

    nhân cách và thể chất của học sinh.

    1.3. Đặc điểm khả năng Âm nhạc của học sinh trường THCS.

    Âm nhạc trong xã hội chúng ta được nuôi dưỡng bằng cội nguồn vĩ đại của

    văn hoá Âm nhạc dân gian các dân tộc Việt Nam.

    Âm nhạc là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm

    vụ giáo dục – thẩm mĩ cho học sinh, tạo cơ sở hình thành nhân cách con người

    mới Việt Nam. Tuy nhiên Âm nhạc trong nhà trường THCS với tư cách một

    môn học, có mức độ nhất định về mục đích và nội dung.

    Mục đích của việc dạy học Âm nhạc trong nhà trường THCS là nhằm giáo

    dục ” Văn hoá Âm nhạc ” cho các em, cung cấp những kiến thức cơ bản, các kỹ

    năng, tạo điều kiện cho khả năng cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật Âm nhạc,

    khơi dậy trong các em khả năng sáng tạo tình cảm đạo đức và niềm tin, thị hiếu

    nghệ thuật trong hoạt động Âm nhạc.

    Giáo dục thẩm mĩ thông qua dạy học Âm nhạc nhằm phát triển thẩm mĩ

    toàn vẹn của nhân cách học sinh, làm giàu nhân cách bằng trình độ thẩm mỹ

    nghệ thuật nói chung trong đó có Âm nhạc. Với sự hỗ trợ của dạy học Âm nhạc

    giúp học sinh phát triển những đặc trưng tâm lý của nhân cách : Tai nghe Âm

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 3

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 4

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY ÂM

    NHẠC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.

    Âm nhạc ngày nay đã đi vào nhà trường phổ thông với tư cách một môn

    học độc lập. Nó là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện

    nhiệm vụ giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho học sinh. Tạo cơ sở hình thành nhân

    cách cho các em.

    Mục đích của việc dạy học Âm nhạc trong nhà trường phổ thông là nhằm

    giáo dục văn hoá âm nhạc cho các em. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học Âm

    nhạc trong nhà trường là một vấn đề quan trọng để truyền tải tốt những nội dung

    văn hoá âm nhạc đến với học sinh. Đó là :

    + Những kiến thức cơ bản, các kỹ năng kỹ sảo, tạo điều kiện cho khả năng

    cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật Âm nhạc.

    + Khơi dậy các em khả năng sáng tạo trong hoạt động Âm nhạc.

    + Tình cảm đạo đức và niềm tin thị hiếu nghệ thuật và nhu cầu Âm nhạc

    của học sinh.

    Tinh thần cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học là lấy học sinh làm

    nhân vật trung tâm, người thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn bằng những câu

    hỏi có tính dẫn dắt, gợi mở học sinh chủ động, tích cực tham gia xây dựng bài

    sao cho nhiều học sinh được làm việc tốt nhất trong tiết học.

    Trong thực tế giảng dạy ở trường tôi nhận thấy có một số vấn đề cần quan

    tâm để thực hiện tốt phương pháp đổi mới dạy học là :

    1. Nội dung bài soạn, kỹ năng truyền thụ kiến thức.

    * Chuẩn bị giáo án cần làm rõ :

    – Mục đích chuẩn bị giáo cần làm được của bài.

    – Những công việc cần chuẩn bị của giáo viên, của học sinh trước bài giảng

    – Những hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp.

    – Hệ thống câu hỏi kiểm tra kiến thức.

    – Hệ thống câu hỏi gợi mở phát huy trí lực.

    – Sắp xếp đồ dùng dạy học hợp lý.

    – Hệ thống câu hỏi luyện tập và củng cố kiến thức.

    – Hướng dẫn học sinh học bài ở nhà, chuẩn bị bài sau.

    Đề thực hiện tốt phương pháp dạy học, giáo viên cần chú trọng hơn về :

    – Hệ thống câu hỏi dẫn dắt, kiểm tra kiến thức.

    – Câu hỏi gợi mở, phát huy trí lực.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 5

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    – Lấy kiến thức đã học, đã biết để dạy cái chưa biết. Không nên dùng

    phương pháp diễn giải mà chủ yếu dùng phương pháp quy nạp để dạy lý thuyết

    âm nhạc.

    Thực tế của việc đổi mới phương pháp dạy học Âm nhạc là gây sự hứng

    thú say mê học tập của học sinh.

    Muốn lôi cuốn nhiều em tham gia vào bài học thì hệ thống câu hỏi trong

    bài giảng phải được coi trọng, dẫn dắt gợi mở, có sự sáng tạo giúp các em hiểu

    bài, nhạy cảm với Âm nhạc hơn.

    VD : Khi giới thiệu bài ” Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng” của Phạm

    Tuyên có thể có hệ thống câu hỏi như sau :

    + Bài hát này ra đời trong hoàn cảnh nào ?

    + Nó gắn bó với sự kiện lịch sử nào ?

    + Nội dung của bài hát nói lên điều gì ?

    + Em có nhận xét gì về tiết tấu của bài hát ?

    + Nhạc sĩ Phạm Tuyên viết những bài hát nào cho thiếu nhi mà em biết ?

    Hãy kể tên và hát một bài mà em thuộc.

    Khi các em trả lời tốt giáo viên cho điểm, khen ngợi … làm cho các em hào

    hứng hơn trong giờ học.

    Cần chú ý rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh với phương châm từ

    dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Không đọc chép nhiều. Đa dạng hoá

    không gian, hình thức các hoạt động dạy học như : xem biểu diễn nghệ thuật,

    học hát tập thể ngoài trời, thi văn nghệ trong trường, dạy học sinh sử dụng nhạc

    cụ và giới thiệu tranh ảnh Âm nhạc.

    Khi dạy không nhất thiết theo trình tự đề mục ở SGK, cần nhấn mạnh nội

    dung trọng tâm.

    Người thầy cần hiểu rõ đối tượng học sinh : học sinh ở thành phố thường

    nhạy cảm âm nhạc nhiều hơn. Để tránh nhàm chán người thầy cần lựa chọn nội

    dung, khối lượng và phương pháp truyền thụ thích hợp. Trong bài giảng cần có

    những ví dụ minh hoạ thật chọn lọc, mới lạ gây hứng phấn học tập cho các em.

    * Các bước của quy trình dạy giờ học hát.

    – Giáo viên chép nhạc và lời bài hát (hoặc treo bảng phụ có ghi sẵn), học

    sinh ghi vào vở.

    – Giáo viên giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung lời ca, đặc điểm âm nhạc,

    giá trị nghệ thuật của tác phẩm một cách ngắn gọn, dí dỏm và dùng tranh

    ảnh để minh hoạ.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 6

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    – Giáo viên đàn cho học sinh nghe hoặc mở băng 1 đến 2 lần toàn bộ bài để

    học sinh làm quen với tiết tấu, giai điệu cao độ, … của bài hát.

    – Giáo viên đàn hát mẫu.

    – Giáo viên phân đoạn, phân câu, đánh dấu lấy hơi, nhả lời rõ ràng.

    – Giáo viên lấy giọng theo tầm giọng của học sinh và cho học sinh luyện

    giọng, khởi động. Sau khi luyện giọng, khởi động đọc gam giáo viên bắt

    đầu dạy học sinh học hát.

    – Cho học sinh tập từng câu ngắn theo lối móc xích, hết câu này đến câu

    khác.

    Trong khi tập từng câu, giáo viên chú ý đến nhịp hoặc hát mẫu cho học

    sinh nghe giai điệu giáo viên chú ý vào chỗ khó trong bài để cho học sinh luyện

    tập nhiều. Chú ý sửa sai cho học sinh về cao độ, tiết tấu, về phát âm ngọng,

    luyến láy sai để đạt được yêu cầu chính xác về tiết tấu, giai điệu, lời ca.

    – Giáo viên tập cho học sinh nghe nhạc để bắt vào đúng nhịp, ngân nghỉ

    đúng chỗ.

    Giáo viên cho ghép từng câu thành từng đoạn, rồi cả bài yêu cầu vừa ghép,

    vừa gõ nhịp. Tiếp đó nâng yêu cầu phải thể hiện đúng sắc thái, tình cảm của bài

    hát. Tập cho học sinh các động tác minh hoạ và tập biểu diễn bài hát trước lớp.

    Sau khi học sinh đã chép thành bài, giáo viên tổ chức hát theo nhóm, tổ

    hoặc cá nhân. Xây dựng các bè hát đuổi, tạo nên một không khí thi đua sôi nổi

    trong giờ dạy học nói chung, giáo viên phải hát nói riêng và dạy học nói chung,

    giáo viên phải luôn động viên khích lệ học sinh bằng những lời khen, bằng điểm

    số.

    Tóm lại : Khi dạy phân môn này các giáo viên như trên, song có nên có

    chút thay đổi về giờ dạy học hiệu quả hơn và tích cực hơn.

    Thay vì giáo viên phân tích các ký hiệu Âm nhạc có trong bài, phân tích

    nhịp phách, … nên gợi ý để học sinh tự suy nghĩ và phát biểu. Thay việc giáo

    viên hát mẫu trước, hoặc cho nghe đài trước thì nên để học sinh tự phá bài. Việc

    hát mẫu của giáo viên hoặc cho nghe đài cuối giờ khi học sinh đã phá được bài.

    Lúc này nghe mẫu để sửa giọng hát, thể hiện sắc thái bài một cách trau chuốt và

    chính xác hơn.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 7

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    THIẾT KẾ BÀI DẠY CỤ THỂ

    TRONG CHƯƠNG TRÌNH ÂM NHẠC LỚP 9

    BÀI 2 – TIẾT 4

    HỌC HÁT : BÀI NỤ CƯỜI

    I. MỤC TIÊU.

    + Về kiến thức : Học sinh biết một bài hát của thiếu nhi nước Nga.

    + Về kỹ năng : Thể hiện được giai điệu rộn ràng trong sáng, tươi vui của

    bài hát ” Nụ Cười “.

    + Thái độ : Giáo dục tình cảm lạc quan, sự tin yêu cuộc sống và tình thân ái

    hữu nghị giữa thiếu nhi hai nước Việt – Nga.

    II. CHUẨN BỊ.

    * Giáo viên :

    – Bản đồ thế giới, vị trí nước Nga trên bản đồ.

    – Một vài hình ảnh nước Nga (thủ đô Mát-xcơ-va, cung điện Krem-li,

    Quảng trường đỏ…)

    – Hát và đàn bài hát thành thạo.

    – Băng nhạc bài hát ” Nụ Cười “.

    * Học sinh :

    – Nghiên cứu nội dung bài hát trước.

    III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC.

    Nội dung

    Hoạt động của giáo viên

    1. Ổn định lớp.

    Nội dung 1 : Bài 2. Kiểm tra bài cũ (5 phút)

    ” Nụ Cười ”

    H : Hãy cho biết 1 vài bài hát phổ thơ

    Nhạc : Nga

    viết cho người lớn mà em biết ?

    Lời: Phạm Tuyên 3. Bài mới.

    * Hoạt động 1 : Giáo viên hướng dẫn

    Giới thiệu bài (10 Giáo viên thuyết trình : Chỉ bản đồ nước

    phút)

    Nga là một đất nước rộng lớn, có vị trí

    quan trọng trên thế giới. Thủ đô là Mátxcơ-va. Nước Nga là quê hương của

    cuộc cách mạng tháng mười vĩ đại với vị

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Hoạt động

    của học sinh

    – Học sinh lên

    bảng trình bày.

    – Học sinh khởi

    động giọng bằng

    một bài hát

    Trang 8

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    lãnh tụ thiên tài Lê-Nin.

    Đây cũng là đất nước có một nền văn

    hoá cao với những tên tuổi lẫy lừng thế

    giới : Về văn học có Pus-Kin, Sê-Khốp,

    Lép Tôn – Xtôi, Goóc-Ki ; Về mĩ thuật

    có Lê-vi-tan ; Về âm nhạc có Trai-cốpxki, Prô-cô-phi-ep và nhiều danh nhân

    văn hoá nổi tiếng Việt Nam và Nga đã

    có quan hệ hữu nghị từ nhiều năm nay

    và ngày càng phát triển tốt đẹp.

    – Bài hát được viết ở nhịp 2/2

    – Giáo viên giải thích rõ nhịp 2/2

    H : Bài hát chia làm mấy đoạn ?

    – Giáo viên chia câu :

    Đ1 gồm 4 câu hát viết ở giọng đô

    trưởng.

    Đ2 gồm 4 câu hát chuyển sang giọng đô

    thứ.

    Đ1 giai điệu như một sự khẳng định, tin

    tưởng vào cuộc sống tốt đẹp, tính chất

    âm nhạc rộn ràng, lạc quan.

    Đ2 âm nhạc đi vào chiều sâu tình cảm,

    êm nhẹ hơn nhưng rõ ràng, dứt khoát

    song không kém phần tha thiết, như

    muốn nói lên lòng tin yêu cuộc sống,

    luôn hướng tới tương lai tươi đẹp, hạnh

    phúc.

    * Hoạt động 2: – Giáo viên đàn câu 1 (2 lần)

    Học hát từng câu

    (17 phút)

    – Giáo viên hát mẫu câu 1

    – Giáo viên nhận xét, sửa sai

    – GV chú ý phần ngân nghỉ của kết từng

    câu hát.

    – Hướng dẫn học hát tương tự như câu 1

    sau đó hát lối các câu theo lối móc xích.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    – Học sinh nhắc

    lại nhịp 2/2

    – Chia làm 2 đoạn

    Đ1 : Từ đầu đến

    “cùng cất tiếng

    cười”

    Đ2 : Từ “để làn

    mây” đến “xoá

    nhoà”.

    – Học sinh nghe

    và nhẩm theo.

    – HS cả lớp hát

    câu 1

    Trang 9

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    * Hoạt động 3: – GV bắt nhịp.

    Ôn luyện bài hát

    (10 phút)

    – GV nhận xét, sửa sai.

    – GV chỉ định.

    – Cá nhân hát.

    – Học sinh nhận

    xét.

    – HS thực hiện

    – Giáo viên đàn giai điệu bài hát

    – HS hát hoàn

    chỉnh bài hát (lời

    1)

    – HS sửa sai

    – HS tổ nhóm hát

    bài hát (lời 1)

    – HS nhận xét,

    sửa sai

    4. Củng cố – dặn dò (3 phút)

    GV cho học sinh cả lớp hát hoàn chỉnh

    bài hát kết hợp vỗ tay theo phách.

    – H : Em rút ra điều gì cho mình qua bài

    hát này ?

    – Bài tập về nhà :

    + Chép bài hát vào vở.

    + Làm bài tập số 1 và 2 trong SGK

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    – HS nhẩm lời 2

    – HS hát lời 2

    – Hát hoàn chỉnh

    bài hát.

    – Sống vui tươi

    chan hoà với mọi

    người, đoàn kết

    hữu nghị với các

    nước.

    Trang 10

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình dạy học thì nội dung dạy học đã được quy định trong

    chương trình sách giáo khoa, còn phương pháp dạy học lại phụ thuộc nhiều vào

    khả năng, điều kiện cụ thể. Hoạt động sáng tạo của người giáo viên chủ yếu tìm

    tòi những phương pháp dạy học thích cho mỗi nội dung, phù hợp với từng lứa

    tuổi học sinh.

    Theo quan điểm trên, chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp thích hợp để có

    thể giải quyết được những vấn đề bất cập mà đề tài đề cập đến. Những giải pháp

    và một số ý kiến trên còn mang tính cá nhân, giải pháp được tôi thực hiện tại

    trường đã đạt kết quả tốt, nhưng cũng có ý kiến chỉ là ý tưởng, mong muốn sự đề

    xuất đó sẽ góp phần đạt được mục tiêu của đề tài đề ra.

    Cổ Am, ngày 17 tháng 11 năm 2008

    Người thực hiện

    §ç ThÞ H¹nh

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 11

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    BẢN CAM KẾT

    I – TÁC GIẢ :

    Họ và tên

    :

    §ç ThÞ H¹nh

    Ngày 10 tháng 11 năm 1979.

    Đơn vị công tác : Trường THCS Cổ Am.

    Điện thoại

    : 0904.811017.

    II – SẢN PHẨM :

    Tên sản phẩm :

    ” Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c ”

    III – CAM KẾT :

    Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân tôi.

    Nếu có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ sản

    phẩm sáng kiến kinh nghiệm, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn

    vị, lãnh đạo Sở GD & ĐT về tính trung thực của bản cam kết này.

    Ngày 17 tháng 11 năm 2008

    Người cam kết

    §ç ThÞ H¹nh

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Phân Môn Học Hát Tại Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Âm Nhạc Ở Trường Thcs Hòa Hiệp
  • Chuyên Gia “bật Mí” Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Qua Kỹ Năng Dạy Nghe Đối Với Học Sinh Trung Học Cơ Sở
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ Tại Trường Chính Trị Trần Phú
  • Xây Dựng Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Lái Xe Trên Địa Bàn Tỉnh Nghệ An.
  • Bắc Ninh: Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Sát Hạch Lái Xe
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Cấp Giấy Phép Lái Xe
  • Phối Hợp Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Lái Xe
  • Thống kê điểm thi trung bình môn tiếng Anh tại kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 của các trường trên địa bàn TPHCM cho thấy, có sự chênh lệch khá lớn giữa các trường ở khu vực nội và ngoại thành. Trong đó, đơn vị có điểm thi trung bình môn tiếng Anh cao nhất là Trường phổ thông Năng khiếu (Đại học Quốc gia TPHCM) với 8,58 điểm, gần gấp đôi điểm thi trung bình cả nước và cao hơn 2,74 điểm so với điểm trung bình của thành phố. Kế đến là các trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (bình quân tiếng Anh 8,46 điểm), THPT chuyên Lê Hồng Phong (bình quân tiếng Anh 8,31 điểm).

    Ở chiều ngược lại, đơn vị có điểm thi trung bình môn tiếng Anh thấp nhất là một trường THPT ở huyện Cần Giờ với 2,69 điểm. Ngoài ra, thành phố có 15 trường THPT có điểm thi trung bình tiếng Anh dưới 4, tập trung ở các huyện ngoại thành và khối năng khiếu thể dục thể thao. Lý giải thực tế này, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn một trường THPT ở huyện Cần Giờ cho biết, phần lớn học sinh ở ngoại thành không chọn các tổ hợp môn xét tuyển đại học có môn tiếng Anh.

    Do đó, các em hầu như chỉ cần đạt điểm “chống liệt” để đủ điều kiện xét tốt nghiệp. Ngoài ra, nhà giáo này cũng thừa nhận chất lượng dạy và học môn tiếng Anh ở ngoại thành hiện nay nhiều hạn chế. Nhiều trường 2-3 năm liền không tuyển được giáo viên tiếng Anh, điều kiện dạy học với các thiết bị nghe nhìn, phần mềm hỗ trợ còn khiêm tốn.

    Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, kỳ thi tốt nghiệp THPT đợt 1 năm nay, TPHCM là địa phương dẫn đầu cả nước về điểm thi trung bình tiếng Anh với 5,84 điểm, cao hơn 0,06 điểm so với điểm trung bình năm 2022 và tăng 0,78 điểm so với năm 2022. Tuy nhiên, so với 8 môn còn lại, điểm trung bình tiếng Anh vẫn “đội sổ”. Đáng chú ý, bài thi tiếng Anh bị điểm liệt (dưới 1 điểm) tăng 1,3 lần so với năm 2022. Đây là thực tế trăn trở nhiều năm qua của ngành giáo dục.

    Còn nhớ năm 2022, ngay sau khi công bố kết quả thi tốt nghiệp THPT quốc gia, Bộ GD-ĐT đã tổ chức tọa đàm tìm giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn tiếng Anh. Theo đó, các chuyên gia cho rằng, nguyên nhân khiến môn học này có điểm trung bình thấp nhất trong các môn thi là do cả nước đang tồn tại song song hai chương trình đào tạo ngoại ngữ là hệ 7 năm (học sinh học tiếng Anh từ lớp 6) và hệ 10 năm (học tiếng Anh từ lớp 3).

    Chất lượng giáo viên không đồng đều giữa các địa phương, giáo viên có xu hướng đổ dồn về các quận trung tâm, trường điểm nên xảy ra tình trạng “vùng trũng” giáo viên. Mặt khác, dạy và học các môn ngoại ngữ trong trường phổ thông hiện nay đang theo hướng chú trọng năng lực, tăng cường khả năng nghe – nói, giao tiếp cho học sinh, đề thi tốt nghiệp với yêu cầu từ vựng, ngữ pháp nên chưa phản ảnh hết năng lực người học.

    Tăng đãi ngộ để thu hút giáo viên

    Mới đây, tại buổi làm việc giữa Đoàn ĐBQH TPHCM và Sở GD-ĐT TPHCM về triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, ông Nguyễn Văn Hiếu, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT, cho biết, trong chương trình hiện hành, 2 môn tiếng Anh và Tin học theo hình thức tự chọn ở bậc tiểu học (TH). Tuy nhiên, khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, 2 môn này sẽ bắt buộc từ lớp 3 và tự chọn với hai khối 1 và 2. Do đó, khó khăn lớn nhất hiện nay với các trường TH – bậc học mang tính chất nền tảng là khó tuyển giáo viên tiếng Anh do chưa có quy định trong đề án vị trí việc làm. Ngoài ra, theo các quy định hiện hành, giáo viên tiếng Anh phải có bằng cử nhân sư phạm (không chấp nhận chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm như trước) mới đủ điều kiện dạy ở bậc TH.

    Quy định này khiến nhiều quận huyện gặp khó trong tuyển dụng giáo viên. Đơn cử năm học 2022-2020, quận 11 có nhu cầu tuyển 21 giáo viên tiếng Anh nhưng không có ứng viên nộp hồ sơ, quận Bình Tân chỉ có một ứng viên trúng tuyển nhưng từ bỏ nhiệm sở. Đối với bậc trung học, nguồn tuyển giáo viên tiếng Anh cũng khan hiếm, một phần do thu nhập từ các trường ngoài công lập cao hơn nhiều lần trường công nên không đủ sức giữ chân giáo viên. Trước thực tế này, lãnh đạo nhiều trường THPT cho biết, nếu chỉ trông chờ vào việc mở rộng đối tượng tuyển dụng (không bắt buộc hộ khẩu TPHCM) mà không có chính sách hỗ trợ thì bức tranh tuyển dụng vẫn gặp khó.

    Tại hội nghị tổng kết năm học 2022-2020 và triển khai nhiệm vụ năm học 2022-2021, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ khẳng định, một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm học mới là nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học và trình độ đào tạo. Mục tiêu được bộ này đặt ra là đảm bảo 100% học sinh lớp 3 được học ngoại ngữ vào năm học 2022-2023, triển khai dạy một số môn học khác bằng ngoại ngữ theo quyết định của Thủ tướng.

    Để thực hiện mục tiêu đó, ngành giáo dục sẽ đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ và năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên. Song song đó, các trường cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học tiếng Anh, tiếp tục thực hiện Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2022-2025”.

    MINH QUÂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Nguồn Lực Xã Hội Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển
  • Học Viện Chính Sách Và Phát Triển
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đào Tạo Và Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại Công Ty Cổ Phần Giáo Dục Và Công Nghệ Tp Thông Minh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ Ở Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
  • Giai Phap Nang Cao Chat Luong Mon Tieng Anh Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • 7 Biện Pháp Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Với xu thế phát triển của xã hội hiện nay, môn Tin học ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với học sinh mọi cấp học. Tuy nhiên, việc giảng dạy môn học này hiện nay chưa đạt hiệu quả cao. Vì thế, cần có những giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tin học. Nâng cao đổi mới phương pháp giảng dạy

    Với xu hướng giáo dục 4.0 như hiện nay thì việc nâng cao nhận thức đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, cần có cái nhìn cũng như cách hiểu đúng đắn về đổi mới phương thức dạy học. Theo những chuyên gia giáo dục của Bộ Giáo dục và đào tạo : Việc đổi mới phương pháp dạy học không đồng nghĩa với việc đào tạo hoàn toàn theo phương pháp mới. Đổi mới ở đây được hiểu là vận dụng sáng tạo phương pháp và những kỹ năng giảng dạy truyền thống, kết hợp với phương pháp và phương tiện công nghệ hiện đại. Sự kết hợp này cần sự thống nhất và hài hòa, phù hợp với đối tượng cũng như nội dung chương trình.

    Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học là việc đổi mới quan niệm dạy học, từ thụ động tiếp nhận sang chủ động nắm bắt kiến thức, từ dạy học bằng thuyết trình sang tự khám phá và chủ động, từ dạy học tập trung vào việc dạy sang dạy học tập trung vào việc học.. Phương pháp này cũng thể hiện sự tôn trọng học sinh cũng như vốn hiểu biết và kinh nghiệm của các em.

    Với phương pháp mới, học sinh có cơ hội để tự phát hiện vấn đề, tự thực hành những thao tác trên máy tính. Từ đó giúp học sinh dễ nắm bắt và nhớ lâu hơn. Đồng thời, nó cũng khiến học sinh mạnh dạn và tự tin hơn khi tham gia thực hành.

    Phát huy tính tích cực của học sinh

    Trong phương thức dạy học mới, học sinh là chủ thể của hoạt động dạy học, có tính tực giác tích cực để chủ động tiếp nhận kiến thức. Về vấn đề này, những chuyên gia giáo dục cho rằng, người học là chủ thể chiếm lĩnh kiến thức cũng như rèn luyện kỹ năng. Điều này giúp học sinh phát huy tính tích cực chứ không phải người bị đông trong tiếp nhận những kiến thức mà thầy giáo truyền đạt.

    Với phương pháp mới này, thầy giáo chỉ giữ vai trò trong viêc điều khiển và định hướng hoạt động học của học sinh. Qua việc định hướng này, giáo viên cũng hình thành động cơ cũng như bồi dưỡng thêm kiến thức mới cho mình.

    Cụ thể, với việc giảng dạy môn Tin học, giáo viên nên đưa ra một hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó. Lúc đầu sẽ đưa ra những câu hỏi dễ để tạo hứng thú học tập. Tiếp đó là hệ thống câu hỏi khó để phát huy tư duy tích cực, để học sinh tham gia ý kiến cũng như chủ động tìm hiểu kiến thức.

    Kết hợp dạy lý tuyết với thực hành

    Theo những tư vấn của chuyên gia giáo dục, việc kết hợp lý thuyết và thực hành là xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục để có thể đáp ứng nhu cầu chất lượng nguồn lao động hiện nay. Đây cũng được xem là phương pháp dạy học Tin học hiệu quả. Thực tế, do học sinh phải học quá nhiều môn, nên Tin học được xem là môn học phụ, lượng kiến thức của chương trình vì thế cũng bị dồn nén. Nếu chỉ học lý thuyết chung chung thì học sinh sẽ không thể nắm bắt và sẽ nhanh quên. Bên cạnh đó thì Tin học cũng là môn học đòi hỏi kỹ năng sử dụng máy tính thành thạo. Chính vì thế, cần kết hợp đào tạo lý thuyết và thực hành . Đây được xem là yếu tố cần thiết đối với giảng dạy môn Tin học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100