Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học

--- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • 7 Biện Pháp Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Với xu thế phát triển của xã hội hiện nay, môn Tin học ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với học sinh mọi cấp học. Tuy nhiên, việc giảng dạy môn học này hiện nay chưa đạt hiệu quả cao. Vì thế, cần có những giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tin học. Nâng cao đổi mới phương pháp giảng dạy

    Với xu hướng giáo dục 4.0 như hiện nay thì việc nâng cao nhận thức đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, cần có cái nhìn cũng như cách hiểu đúng đắn về đổi mới phương thức dạy học. Theo những chuyên gia giáo dục của Bộ Giáo dục và đào tạo : Việc đổi mới phương pháp dạy học không đồng nghĩa với việc đào tạo hoàn toàn theo phương pháp mới. Đổi mới ở đây được hiểu là vận dụng sáng tạo phương pháp và những kỹ năng giảng dạy truyền thống, kết hợp với phương pháp và phương tiện công nghệ hiện đại. Sự kết hợp này cần sự thống nhất và hài hòa, phù hợp với đối tượng cũng như nội dung chương trình.

    Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học là việc đổi mới quan niệm dạy học, từ thụ động tiếp nhận sang chủ động nắm bắt kiến thức, từ dạy học bằng thuyết trình sang tự khám phá và chủ động, từ dạy học tập trung vào việc dạy sang dạy học tập trung vào việc học.. Phương pháp này cũng thể hiện sự tôn trọng học sinh cũng như vốn hiểu biết và kinh nghiệm của các em.

    Với phương pháp mới, học sinh có cơ hội để tự phát hiện vấn đề, tự thực hành những thao tác trên máy tính. Từ đó giúp học sinh dễ nắm bắt và nhớ lâu hơn. Đồng thời, nó cũng khiến học sinh mạnh dạn và tự tin hơn khi tham gia thực hành.

    Phát huy tính tích cực của học sinh

    Trong phương thức dạy học mới, học sinh là chủ thể của hoạt động dạy học, có tính tực giác tích cực để chủ động tiếp nhận kiến thức. Về vấn đề này, những chuyên gia giáo dục cho rằng, người học là chủ thể chiếm lĩnh kiến thức cũng như rèn luyện kỹ năng. Điều này giúp học sinh phát huy tính tích cực chứ không phải người bị đông trong tiếp nhận những kiến thức mà thầy giáo truyền đạt.

    Với phương pháp mới này, thầy giáo chỉ giữ vai trò trong viêc điều khiển và định hướng hoạt động học của học sinh. Qua việc định hướng này, giáo viên cũng hình thành động cơ cũng như bồi dưỡng thêm kiến thức mới cho mình.

    Cụ thể, với việc giảng dạy môn Tin học, giáo viên nên đưa ra một hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó. Lúc đầu sẽ đưa ra những câu hỏi dễ để tạo hứng thú học tập. Tiếp đó là hệ thống câu hỏi khó để phát huy tư duy tích cực, để học sinh tham gia ý kiến cũng như chủ động tìm hiểu kiến thức.

    Kết hợp dạy lý tuyết với thực hành

    Theo những tư vấn của chuyên gia giáo dục, việc kết hợp lý thuyết và thực hành là xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục để có thể đáp ứng nhu cầu chất lượng nguồn lao động hiện nay. Đây cũng được xem là phương pháp dạy học Tin học hiệu quả. Thực tế, do học sinh phải học quá nhiều môn, nên Tin học được xem là môn học phụ, lượng kiến thức của chương trình vì thế cũng bị dồn nén. Nếu chỉ học lý thuyết chung chung thì học sinh sẽ không thể nắm bắt và sẽ nhanh quên. Bên cạnh đó thì Tin học cũng là môn học đòi hỏi kỹ năng sử dụng máy tính thành thạo. Chính vì thế, cần kết hợp đào tạo lý thuyết và thực hành . Đây được xem là yếu tố cần thiết đối với giảng dạy môn Tin học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4.
  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn
  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Văn Bậc Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán
  • Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : “Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh.”

    Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm:

    1) Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học)

    2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học

    3) Kết thúc bài học (củng cố bài)

    Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học.

    Phßng gi¸o dôc&®µo t¹o mü ®øc Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn ®Ò tµi S¸ng kiÕn kinh nghiÖm Tªn ®Ò tµi: Mét sè biÖn ph¸p NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP 4 Ng­êi thùc hiÖn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga §¬n vÞ: Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn- Mü §øc- Hµ Néi §Ò tµi thuéc lÜnh vùc: M"n To¸n N¨m häc: 2010- 2011 Phòng GD& ĐT Mỹ Đức CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM Trường TH §èc TÝn Độc lập -Tự do- Hạnh phúc **************** ĐỀ TÀI s¸ng kiÕn kinh nghiÖm I- SƠ YẾU LÝ LỊCH Hä vµ tªn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga Ngµy, th¸ng, n¨m sinh: 1966 N¨m vµo ngµnh : 1989 Chøc vô: Gi¸o viªn §¬n vÞ c"ng t¸c: Trường Tiểu học §èc TÝn - Mü §øc - Hµ Néi Tr×nh ®é chuyªn m"n: Đại học HÖ ®µo t¹o: Từ xa Bé m"n gi¶ng d¹y: Chủ nhiệm lớp 4A Tr×nh ®é chÝnh trÞ : Khen thưởng: Gi¸o viªn giái cÊp tr­êng II- TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP4 NĂM HỌC: 2010-2011 A. LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI Lời Bác dạy: " Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : "Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh." Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm: Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học) 2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học 3) Kết thúc bài học (củng cố bài) Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học. B. NỘI DUNG I. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM: 1/Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 4A Trường tiểu học §èc TÝn. 2/ Thời gian khảo sát: Ngày 16 tháng 9 năm 2010. 3/ Cách tiến hành: Ra đề kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm. 4/ Kết quả: Lớp Sĩ số G K TB Y SL % SL % SL % SL % 4A 20 3 15 6 30 10 50,0 1 5 5/ Nguyên nhân: Từ kết quả trên so với môn Toán mà bản thân các em đạt được ở lớp 1,2,3. Quả thật, đây là điều đáng lo ngại. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi phát hiện ra những nguyên nhân cơ bản sau: -Việc tiếp thu nội dung, kiến thức bài học của học sinh còn hạn chế, nhanh quên. -Việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên chưa được hợp lý. -Đồ dùng dạy học để phục vụ minh họa còn ít, chưa phong phú. Giáo viên lựa chọn và sử dụng còn lúng túng, khai thác chưa khoa học. - Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh còn dài dòng. -Những bài mà nội dung, kiến thức cần ghi nhớ không có trong sách giáo khoa nên giáo viên tự soạn còn chưa chuẩn, sát, chưa tập trung vào mục tiêu chính. II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Từ tình hình thực tế ở khối lớp 4 nói chung, lớp 4A nói riêng, với những nguyên nhân nêu trên. Nhiệm vụ đặt ra cho bản thân tôi là: Làm thế nào để học sinh học tập có hiệu quả hơn? Từ đó tôi áp dụng 3 biện pháp để thực hiện như sau: BIỆN PHÁP 1:GIỚI THIỆU BÀI Giới thiệu bài là khâu quan trọng trong tiến trình dạy học. Việc giới thiêu bài một cách hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của học sinh, tạo hứng thú học tập và khêu gợi sự nỗ lực ở các em trong việc suy nghĩ, tìm tòi khái niệm. Như các môn học khác, môn Toán cũng có nhiều cách để giới thiệu bài học. Giáo viên lựa chọn biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài học mới sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kì, kéo dài thời gian: gợi mở bằng tranh ảnh, bằng vật thật; cho học sinhthực hiện một ví dụ; diễn giải bằng lời hoặc bằng cách nêu tình huống có vấn đề sẽ lôi cuốn các em vào bài giảng một cách thoải mái. Ví dụ 1: Ví dụ về giới thiệu bằng cách cho học sinh làm ví dụ: Khi dạy bài " Thương có chữ số 0"- Toán 4 -Giáo viên nêu: 9450: 35=? -Học sinh thực hiện phép chia vào bảng con (chia như chia cho số có 2 chữ số) sau đó nhận xét về lượt chia cuối cùng của số bị chia (là 0) và thương( có 0 ở tận cùng: 270). -Giáo viên nhấn mạnh về thương của phép chia này và giới thiệu bài. Cách giới thiệu này phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh học tập tự giác mà có hiệu quả. Ví dụ 2: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu tình huống có vấn đề: Khi dạy bài "Phân số và phép chia số tự nhiên"-Toán 4. - Giáo viên nêu tình huống: Có 3 cái bánh, chia đều cho 4 bạn. Vậy em có những cách chia nào? Ví dụ 3: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu yêu cầu. Khi dạy bài "So sánh các số có nhiều chữ số"- Toán 4. - Giáo viên ghi bảng: 99578100000 rồi yêu cầu học sinh điền dấu thích hợp váo chỗ trống và giải thích. Ví dụ 4: Ví dụ về giới thiệu bằng cách bắt đầu bài học một cách trực tiếp bằng một câu hỏi. Khi dạy bài: "Viết số tự nhiên trong hệ thập phân"- Toán 4. - Giáo viên nêu câu hỏi: Khi viết số, tự nhiên ở mỗi hàng có thể viết được mấy chữ số? Cứ mười đơn vị ở một hàng hợp thành mấy đơn vị ở hàng trên tiếp liền nó? -Học sinh trả lời rồi giáo viên dẫn dắt vào bài học. Ví dụ 5: Ví dụ về giới thiệu bằng tranh ảnh hoặc vật thật. Khi dạy bài "Yến, tạ, tấn"- Toán 4. - Giáo viên chuẩn bị cân đồng hồ cân được 100 kg. - Học sinh lần lượt cân xem mình nặng bao nhiêu( một số học sinh đại diện cân) Từ đơn vị ki-lô- gam giáo viên giới thiệu sang đơn vị yến Như vậy, việc giới thiệu bài học tốt rất có ý nghĩa trong tiến trình tổ chức và kết quả giờ dạy Toán 4. BIỆN PHÁP 2:TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI DẠY Để tìm hiểu nội dung bài học đạt kết quả cao. Trong tiết học Toán người giáo viên phải đảm bảo được các nội dung sau: - Biết lựa chọn phương pháp dạy học. - Biết cách đặt câu hỏi, cách nhận xét câu trả lời của học sinh. - Thông báo nội dung dạy học. - Tổ chức dạy học theo nhóm. - Lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học. - Tổ chức trò chơi trong tiết dạy học Toán. - Đánh giá, ghi điểm. 1)Việc lựa chọn phương pháp dạy học. Khi tiến hành dạy học, người giáo viên có năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh là người biết lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cách hợp lý. Trước sự thay đổi về nội dung dạy học, bám sát mức độ cần đạt được về nội dung, kiến thức chứa đựng bài học. Ví dụ: Khi dạy bài "Giây, thế kỷ"- Toán 4. Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập, thực hành là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp khác (đàm thoại, quan sát, hướng dẫn, giảng giải) để hiểu được mối quan hệ giữa giờ và phút, phút và giây, giữa thế kỷ và năm. Từ đó rút ra kết luận: Dựa vào các đơn vị đo thời gian con người tính được khoảng thời gian từ trước cho đến nay. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp cần phải căn cứ vào lứa tuổi của học sinh, đặc thù của môn học, tính chất của từng bài và điều kiện về cơ sở vật chất và khả năng hướng dẫn của giáo viên. Đối với Toán 4, tôi sử dụng phương pháp dạy học chủ yếu là: a) Phương pháp dạy học bài mới: Khi dạy bài mới tôi hướng dẫn học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học rồi giúp học sinh sử dụng kinh nghiệm của bản thân hoặc của bạn cùng nhóm để tìm mối quan hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết. Từ đó tự tìm cách giải quyết. Ví dụ: Khi dạy bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. - Giáo viên nêu: Trong hai phân số và phân số nào lớn hơn? - Học sinh nhận xét đặc điểm của và để nhận ra đó là hai phân số khác mẫu số cần phải so sánh - Vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết tôi cho học sinh trao đổi theo nhóm, có thể theo hai phương án: Phương án 1: Lấy hai băng giấy như nhau. Chia băng giấy thứ nhất thành 3 phần bằng nhau, lấy hai phần( tức băng giấy). Chai băng giấy thứ hai thành 4 phần bằng nhau, lấy 3 phần ( tức băng giấy). So sánh độ dài của hai phần lấy đi của hai băng giấy. Phương án 2: Quy đồng mẫu số hai phân số2/3 và 3/4(học sinh đã học quy đồng) = = ; = = . Ví dụ : Sau khi học bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. Học sinh đã thực hành làm các bài tập. Tôi cho các em làm bài toán đố vui: Lan và Hoa cùng quét lớp. Lan quét được lớp học, Hoa quét được lớp học. Vậy bạn nào quét được nhiều hơn? Để tìm kết quả, học sinh phải phát hiện rồi tự giải quyết vấn đề của bài học là: " so sánh hai phân số và " vấn đề này nêu gián tiếp dưới dạng xem ai quét nhiều hơn? b) Phương pháp dạy học các bài luyện tập, luyện tập chung, ôn tập thực hành. - Với các dạng bài này tôi giúp học sinh nhận ra các kiến thức đã học hoặc một số kiến thức mới trong nội dung các bài tập đa dạng và phong phú. Ví dụ: Khi học sinh thực hành tính 2457 x 306. Nếu học sinh quên cách thực hiện, tôi nêu câu hỏi để học sinh nhớ lại đặc điểm của phép nhân dạng: nhân với số có ba chữ số, thừa số thứ hai có hàng chục là 0. Khi đặt tính không viết tích riêng thứ hai, tích riêng thứ ba viết lùi sang trái hai chữ số so với tích riêng thứ nhất. - Giúp học sinh tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng học sinh. Ở phương pháp này tôi quan tâm giúp học sinh làm bài đúng, trình bày gọn, rõ ràng và cố gắng tìm được cách giải hợp lí. - Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh. Thông qua việc giúp đỡ bạn, bản thân các em càng nắm chắc, hiểu sâu kiến thức của bài học, càng có điều kiện hoàn thiện các năng lực của bản thân. - Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập, thực hành; có thói quen tìm nhiều phương án và lựa chọn phương án hợp lí nhất để giải quyết vấn đề của bài tập, không nên thỏa mãn với các kết quả đã đạt được. Ví dụ: Khi giải bài toán: Thương của phép chia 67200: 80 là số có mấy chữ số? A. 5chữ số B. 4chữ số C. 3chữ số D. 2chữ số Đối với dạy số học trong Toán 4 phương pháp chủ yếu đối với các bài bổ sung, hoàn thiện, tổng kết về số tự nhiên. Tôi sử dụng phương pháp tổ chức hướng dẫn học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài: "Phép cộng phân số" (tiếp theo)- Toán 4. Cho học sinh nêu ví dụ rồi tôi ghi bảng + sau đó yêu cầu học sinh thực hiện. Học sinh sẽ lúng túng. Lúc này tôi hướng dẫn cho học sinh nhận ra mẫu số của hai phân số này khác nhau, để cộng thì cần phải quy đồng. Đến đây học sinh có thể thực hiện dễ dàng theo trình tự: Quy đồng mẫu số rồi cộng hai phân số. Đối với các bài toán có lời văn tôi để học sinh cố gắng tự tìm ra phương pháp giải bài toán với các bước: Bước 1: Phân tích đề toán, tóm tắt đề. Bước 2: Phân tích các mối quan hệ giữa các " dữ kiện" đã cho với "kết luận" để tìm ra cách giải bài toán. Bước 3: Trình bày bài giải bài toán đầy đủ, rõ ràng. Để tránh nhàm chán khi giải bài toán có lời văn tôi thay đổi phương pháp cho học sinh đóng vai người bán hàng để giải toán. Ví dụ: Cô cần may 5 cái áo, mỗi cái áo may hết 1m 2dm. Hãy bán số vải cô cần để may số áo đó. Cô đưa 3 tờ giấy bạc mỗi tờ là 50000 đồng. Tính và trả lại số tiền dư (biết rằng1m vải giá 20000đồng) - Dành cho học sinh khá, giỏi Hoặc cho học sinh đóng vai bác nông dân. Ví dụ: Ba bác nông dân cấy lúa trên một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 54m, chiều rộng kém chiều dài 18m. Hỏi trung bình một bác nông dân cấy được bao nhiêu mét vuông ruộng? - Dành cho học sinh trung bình, khá. Vậy: Để tổ chức cho học sinh học tập trong một tiết Toán thật tốt, giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng dạy học để từ đó lựa chọn phượng pháp dạy học phù hợp nhằm đạt mục tiêu đó. 2)Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh. a/ Trong quá trình dạy học, giáo viên thường đặt nhiều câu hỏi cho học sinh. Đó là những câu hỏi mà giáo viên không phải để biết mà là để thực hiện việc dạy học của mình. Mục đích của việc đặt câu hỏi này là gây hứng thú, gợi trí tò mò khoa học của học sinh để tóm tắt những điểm chính hoặc để đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Vì vậy, mặc dù hằng ngày giáo viên đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi nhưng không phải ai cũng nắm được kĩ thuật và có nghệ thuật đặt câu hỏi. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán: Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi bằng 240m, chiều rộng bằng chiều dài. Tính diện tích mảnh vườn đó? Tôi dùng hệ thống câu hỏi như sau: Câu hỏi tìm dữ kiện: -Bài toán cho ta biết gì? -Bài toán yêu cầu ta phải làm gì ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm như thế nào ? Câu hỏi đòi hỏi suy luận : -Muốn tính chiều rộng hoặc chiều dài của mảnh vườn ta làm cách nào ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Nêu những đặc điểm giống nhau của hình chữ nhật và hình bình hành ? Câu hỏi yêu cầu so sánh : -Viết các phân số; ;; ; theo thứ tự từ bé đến lớn? Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân: -Viết một phân số lớn hơn 1, một phân số bằng 1, giải thích vì sao? Câu hỏi yêu cầu học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức: -Tìm 3 số tự nhiên khác nhau, biết số trung bình cộng của ba số là 2. Câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức đã học: -Để tính nhanh bài toán sau: 24 x 46 + 38 x 41+ 46 x 48 + 5 x 38. Em đã sử dụng tính chất gì của phép tính? b/ Khi nhận xét câu trả lời của học sinh tôi không nhận xét những câu trả lời của học sinh phát biểu mà không được chỉ định mà xác định một cách rõ ràng những câu trả lời đúng để tất cả học sinh đều biết. Có thể xác nhận bằng điệu bộ, cử chỉ mà không cần dùng ngôn ngữ nói. Khi học sinh trả lời chưa đúng, cần uốn nắn chỗ sai một cách cặn kẽ hoặc hướng dẫn học sinh tìm ra chỗ chưa đúng. Khi học sinh trả lời đúng không nên gọi nhiều học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn. 3)Thông báo nội dung học tập. Trong khi tổ chức và hướng dẫn học sinh học tâp, giáo viên sử dụng nhiều dạng ngôn ngữ khác nhau: ngôn ngữ nói; ngôn ngữ viết; ngôn ngữ "ẩn"Ngôn ngữ tự nhiên được dùng để phát biểu vấn đề, diễn đạt suy luận ( khi cần thiết), bằng lời nói hay chữ viết. Đặc biệt ở tiểu học, khái niệm toán học có thể diễn đạt bằng nhiều cách. Ví dụ: Khái niệm mét vuông có thể diễn đạt: - Bằng kí hiệu: "m2". - Bằng chữ viết: " mét vuông". - Bằng kí hiệu âm thanh: "đọc: mét vuông" Tuy nhiên ngôn ngữ nói có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc dạy học của giáo viên. Cách dùng từ chính xác, cách phát âm rõ ràng, chuẩn xác tiếng phổ thông có tác dụng lớn trong việc thông báo nội dung học tập cho học sinh. Ngôn từ dễ nghe, dễ hiểu của giáo viên sẽ giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu nhiều điều mà giáo viên truyền đạt. Việc thông báo nội dung học tập cho học sinh của giáo viên được tiến hành bằng nhiều hình thức: - Ghi lên bảng những nội dung học tập chính. - Giảng giải một vấn đề phức tạp. - Nhấn mạnh những điểm quan trọng. - Đưa ra những ví dụ để nhận xét. - Giải thích, hướng dẫn học sinh từng bước lĩnh hội nội dung cần thông báo. - Bổ sung, sửa đổi những câu trả lời của học sinh Trong các hình thức thông báo trên, ghi bảng là hình thức thể hiện rõ trình độ hiểu biết và việc làm khoa học của giáo viên. Những gì mà giáo viên ghi lên bảng thì đó là nội dung học tập chính mà học sinh cần lĩnh hội và cần được khắc sâu. Ví dụ: Khi dạy bài: "Thương có chữ số 0" tôi ghi bảng như: Thứngày.tháng . năm Toán: Thương có chữ số 0 a) Thương có chữ số 0 ở tận cùng. 9450 : 35 = ? 9450 35 245 270 000 9450 : 35 = 270 b)Thương có chữ số 0 xen giữa. 2448 : 24 = ? 2448 24 0048 102 00 2448 : 24 = 102 * L ưu ý: VD(b ) Mỗi lần hạ một chữ số ở số bị chia xuống để chia mà nhỏ hơn số chia thì ghi 0 vào thương rồi hạ chữ số tiếp theo xuống để chia. 4)Tổ chức dạy học theo nhóm - Trong tiết học Toán việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm là rất cần thiết.Hoạt động nhóm trong tiết Toán giúp các em tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới, có tác dụng gợi mở học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán mà các em đã được lĩnh hội và rèn luyện để diễn đạt những ý kiến của mình, tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được khuyến khích để trao đổi các kinh nghiệm và được tạo cơ hội làm việc hợp tác với nhau. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là ham hiểu biết, ưa hoạt động, giàu trí tưởng tượng cho nên khi dạy học tôi luôn gợi trí tò mò, tránh đơn điệu về hình thức hoạt động. Còn đặc điểm nhận thức của học sinh là đi từ tư duy cụ thể đến tư duy trừu tượng, cho nên khi tổ chức dạy học theo nhóm trong môn Toán tôi chia thành các nhóm từ 2 đến 6 học sinh: theo tổ, dãy, bàn, cặpTùy theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập. Ví dụ: -Tiết dạy về kiến thức mới tôi chia theo nhóm : Bàn. -Tiết dạy luyện tập tôi chia theo nhóm: 4 học sinh. -Tiết dạy thực hành tôi chia theo nhóm: Tổ. -Tiết dạy ôn tập tôi chia theo nhóm:2; 4 học sinh. Chia nhóm cũng có nhiều cách khác nhau. Trong tiết Toán tôi thường chia theo các cách: Cách 1: Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định( nhóm cùng trình độ, nhóm theo sở trường) Ví dụ: - Nhóm chia ngẫu nhiên, nhiều trình độ: Cho học sinh đếm từ 1 đến 6 vòng quanh lớp. Các nhóm được thành lập bởi các em có cùng số hoặc lập một bộ từ 1 đến 6. Hoặc phát cho mỗi học sinh một tấm bìa có vẽ biểu tượng, học sinh tìm bạn có cùng biểu tượng hợp thành một nhóm. - Nhóm hình thành có chủ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm. Giáo viên chia nhóm cố định và đặt tên cho mỗi nhóm. Khi có lệnh của giáo viên, các em tự giác thành lập nhóm như nhóm tổ, dãy. - Chia nhóm tình bạn: Học sinh được phép chọn bạn lập thành một nhóm với số người do giáo viên định trước. Cách 2: Các nhóm hoạt động trong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8
  • Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Hóa Ở Thcs Skkn 2014 Hoa Nhung Doc
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Hóa Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Hóa Học Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học!
  • Biện Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Về Môn Mĩ Thuật Với Loại Bài “vẽ Trang Trí”

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Mĩ Thuật Ở Tiểu Học Theo Chủ Đề Đan Mạch
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phép Chia Cho Học Sinh Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn “tập Đọc” Lớp 3 Theo Hướng Tích Cực Hóa Hoạt Động Của Học Sinh
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tập Làm Văn Cho Học Sinh Lớp 3 Trường Tiểu Học Ninh Xá
  • Ngoài việc tổ chức cho học sinh quan sát bài vẽ, quan sát họa tiết (vật thật tranh ảnh .) trước khi vẽ giáo viên cần có những thao tác hướng dẫn học sinh vẽ cho học sinh cảm thấy đơn giản, dễ vẽ mà không xa rời với con vật, hoa, lá . cảnh vật thực tế.

    Để có thể hướng dẫn vẽ một cách tự tin, thuần thục thì đòi hỏi giáo viên phải biết cách vẽ, nét bút gọn gàng. Vì vậy giáo viên phải tu luyện kỹ năng vẽ cho mình nhiều hơn. Ngoài ra giáo viên cần phải gợi ý, gợi mở cho học sinh tìm ra hình ảnh phụ, chi tiết phụ để thêm vào bài vẽ sinh động hơn.

    A- Đặt vấn đề: I- Mở đầu: Chúng ta đang sống trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cùng với sự phát triển rực rỡ với nhiều thành tựu to lớn của nền khoa học tự nhiên - xã hội. Đưa con người đến với những cái nhìn mới, cảm nhận mĩ quan mới về thế giới xung quanh. Con người nâng dần con mắt thẩm mĩ, óc sáng tạo để có thể mô tả được thiên nhiên, đất nước và cuộc sống con người bằng cái nhìn sâu sắc về thế giới đầy cái đẹp mà mình đang sống. Vì vậy ngay từ ban đầu con người được học cái chữ thì cũng được học mĩ thuật để cảm nhận được vẻ đẹp nghệ thuật. Bởi vậy môn Mĩ thuật đã và đang được quan tâm và được đề cao sự phát triển, tầm quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển tư duy trí tuệ cho trẻ, đồng thời đáp ứng được nhu cầu nhận thức và nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao của con người. Dạy Mĩ thuật cho các em không nhằm đào tạo tất cả các em trở thành họa sĩ mà thông qua môn học này các em được khêu gợi và phát huy khiếu thẩm mĩ vốn có của các em. Các em có thể vẽ, nặn, xé, dán ... giúp các em luôn hướng tới cái đẹp, không những đẹp ở hình thức mà đẹp ngay trong tâm hồn ngây thơ của trẻ. Cho nên đòi hỏi những người giáo viên đặc biệt là giáo viên chuyên trách môn này cần phải nâng cao chất lượng nghệ thuật nói chung và dạy mĩ thuật nói riêng để góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng học sinh, giúp học sinh có cơ sở nền tảng kiến thức về mọi mặt, đưa các em lên được tiếp nhận được chương trình học của cấp học cao hơn nữa, trở thành những người lao động mới. II- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1- Nội dung: Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học về môn Mĩ thuật với loại bài "Vẽ trang trí". 2- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hải Thanh B. B- Giải quyết vấn đề: Nhận thức được vị trí quan trọng của phân môn Mĩ thuật trong chương trình học mới hiện nay và việc giảng dạy của giáo viên Tiểu học trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Tôi luôn xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của mình để giảng dạy, dạy có chất lượng cao. Bởi vậy ngoài kiến thức kỹ năng, phương pháp dạy cơ bản, tôi đã tìm tòi, học hỏi thêm ở đồng nghiệp, ở tài liệu để nâng cao năng lực giảng dạy cho mình. Bên cạnh đó tôi tìm hiểu đến đối tượng học sinh trong lớp và đã tìm ra nguyên nhân, giải pháp để giải quyết những khó khăn còn vướng mắc trong dạy học về loại bài "Vẽ trang trí". Giúp tôi có hướng giảng dạy phân môn của mình được tốt hơn. I- Thực trạng của vấn đề nghiên cứu: 1- Thực trạng: Những năm trước đây trường chúng tôi chưa có giáo viên chuyên trách dạy Mĩ thuật, giáo viên chủ nhiệm kiêm dạy tất cả các môn, nên việc chuyên sâu về dạy một môn là khó khăn, nhất là môn mang tính nghệ thuật. Bên cạnh đó điều kiện học sinh tiếp cận với nghệ thuật còn hạn chế. Hai năm lại đây tôi mới được phân dạy môn này những học sinh mới chỉ tập làm quen nên việc chú tâm vào học môn này và lại là lớp thay sách năm trước bởi thế học sinh rất bỡ ngỡ về nhiều mặt. 2- Kết quả, hiệu quả thực trạng trên: Từ những thực trạng trên, ngay từ đầu năm tôi đã lấy lớp 4A làm đối tượng nghiên cứu của tôi. Nên tiết đầu tiên bài 1: Vẽ trang trí: Màu sắc và cách pha màu. Khi giáo viên dạy học sinh không chú tâm nhiều vào học môn này, các em chỉ tiếp thu một cách lơ mơ, học không sáng tạo, không biết pha màu sao cho phù hợp và hợp lý. Sáng bài 4: Vẽ trang trí: "Chép họa tiết trang trí dân tộc". - Học sinh vẽ rập khuôn theo cô hoặc theo sách giáo khoa, không sắp xếp bố cục, họa tiết hợp lý, màu sắc dùng theo ý thích tô lung tung không theo nguyên tắc nào. Dẫn đến kết quả bài vẽ chưa cao cụ thể thi khảo sát chất lượng bài vẽ ở Tuần 4 - Bài 4: Vẽ trang trí "Chép họa tiết trang trí dân tộc". Kết quả khảo sát: Mẫu 1 (đối chứng) Bài hoàn thành tốt Bài hoàn thành Bài chưa hoàn thành Số học sinh SL % SL % SL % 31 3 9,7 16 51,6 12 38,7 Kết quả đạt được ở trên thực sự chưa đáp ứng được mục tiêu bài dạy, tôi đã tìm hiểu và rút ra nguyên nhân. II- Nguyên nhân: * Đối với học sinh: Những năm về trước thời gian giành cho môn học này còn hạn chế do: - Không chú tâm đến môn học snày xem nó là môn phụ. - Đồ dùng học tập của học sinh chưa đủ. - Đôi khi chỉ vẽ nhưng lại không tô màu dẫn đến bài vẽ chưa được hoàn thành như mục tiêu bài học. Phần nhiều học sinh chưa có sự sáng tạo, chưa tưởng tượng chỉ nhìn mầu vẽ theo một cách rập khuôn nhưng sơ sài và đơn điệu. * Đối với giáo viên: Những năm về trước chưa sử dụng biện pháp giảng dạy triệt để, còn coi nhẹ môn này, nên sự chuẩn bị đồ dùng cho một bài dạy. Ví dụ như: Bài vẽ mẫu của giáo viên, bài vẽ đẹp của học sinh năm trước một số tranh, hạ tiết sưu tầm ... chưa có đầy đủ không đáp ứng được nhu cầu quan sát của học sinh. Hơn nữa, phần gợi ý để gợi mở ý tưởng, trí tưởng tượng, óc sáng tạo chưa cao chưa dẫn dắt các em cảm nhận hết vẻ đẹp về họa tiết, màu sắc và bố cục của một bài vẽ. Nên chất lượng chuyển tải cho học sinh chưa đạt kết quả cao. III/- Giải pháp: Từ nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng học môn Mỹ thuật nói chung và vẽ tranh trang trí nói riêng chưa đạt kết quả cao như đã nêu trên. Đi sâu vào vấn đề này, nhằm có một giải pháp cụ thể để giúp học sinh quan sát và vẽ bài được tốt hơn, bài vẽ chất lượng cao hơn. Nên tôi thấy: 1- Đối với học sinh: Phải yêu thích môn học, học sinh phải có đủ đồ dùng phục vụ cho môn Mỹ thuật như vỡ vẽ, bút chì, màu các loại giúp các em chủ dộng trong khi vẽ bài. Học sinh phải biết cách quan sát và tìm ra cái đẹp của hình ảnh trong bài vẽ như: Màu sắc, hoạ tiết, bố cục ... Biết liên hệ thực tế, phải có trí nhớ, trí tưởng tưởng và óc sáng tạo, đặc biệt là phải biết tự chọn ý tưởng cho mình thì có thể vẽ được bức tranh đẹp đúng với nội dung của bài vẽ và vẽ một cách sáng tạo. Nắm được các bước vẽ như: Vẽ họa tiết chính trước, họa tiết phụ sau, bố cục hình vẽ cân đối phù hợp với khổ giấy, biết sắp xếp họa tiết hợp với hình vẽ và biết tô màu sao cho mảng chính trong tranh được nổi bật, màu sắc hài hòa. 2- Đối với giáo viên: a) Khi hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét, giáo viên cần phải biết khai thác hết cho học sinh biết nội dung bài vẽ, họa tiết nào đưa làm mảng chính, họa tiết nào đưa vào làm mảng phụ. Màu sắc là màu làm cho nổi bật mảng chính trong bài, các mảng phụ, hình ảnh phụ được vẽ, được tô màu như thế nào? Màu sắc, bố cục toàn bộ bức tranh ra sao? Để hiểu được điều đó thì đòi hỏi giáo viên khi hướng dẫn học sinh cần phải biết kết hợp hệ thống các câu hỏi, gợi ý, gợi mở để học sinh suy nghĩ, tưởng tượng tìm ra hinhd ảnh và chọn nội để vẽ. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh Bài 13: Vẽ tranh trí "Tranh trí đường diềm" giáop viên cho học sinh quan sát đồng thời gợi mở bằng các câu hỏi: ? Em thấy đường diềm được trang trí ở những đồ vật nào. ? Ngoài những đồ vật ở hình trang 32 (SGK) em còn biết những đồ vật nào được trang trí đường diềm nữa. ? Những họa tiết nào thường được sử dụng để trang trí đường diềm. ? Cách sắp xếp họa tiết ở đường diềm như thế nào. ? Em có nhận xét gì về màu sắc của các đường diềm ở hình 1 trang 32 SGK. Các biện pháp để tổ chức thực hiện: Khi hướng dẫn học sinh quan sát không nhất thiết là phải cả lớp cùng quan sát bài vẽ mẫu. Mà giáo viên vận dụng thay đổi hình thức dạy học một cách linh hoạt sáng tạo hơn như: Ví dụ: Bài 9: Vẽ trang trí Vẽ đơn giản hoa - lá Giáo viên làm 2 nhóm: Nhóm 1: Quan sát lá Nhóm 2: Quan sát hoa Sau đối đổi chéo lại quan sát: Giáo viên có thể gợi ý bằng những câu hỏi như: ? Cho biết tên các loại hoa, lá. ? Hình dáng và mầu sắc của chúng có gì khác nhau. ? Kể tên một số loại hoa, lá mà em biết. ? So sánh hình dáng của lá hoa hồng và hoa cúc. ? Lá trầu, lá bàng có hình dáng như thế nào? Từ đó học sinh có thể thấy được những đặc điểm giống và khác nhau của các loại hoa, lá và tạo cho các em định hướng vẽ một cách rõ ràng hơn về "Vẽ đơn giản hoa, lá". Giáo viên có thể vận dụng hình thức tổ chức cho học sinh tham quan để học sinh quan sát trước khi vào vẽ. Ví dụ: Bài 28: Vẽ trang trí "Trang trí lọ hoa" - Tổ chức cho học sinh đi tham quan phòng trang trí của nhà trường (nếu có) có nhiều kiểu dáng lọ hoa. Hay bài 32: Vẽ trang trí "Tạo dáng và trang trí chậu cảnh" Giáo viên cho học sinh ra sân trường quan sát các chậu cảnh hay vườn cây cảnh nhà cạnh trường 4 - 5 phút. Khi học sinh quan sát giáo viên gợi ý bằng các câu hỏi: ? Chậu cảnh có mấy loại hình dáng. ? Có mấy cách trang trí. ? Dùng những màu gì để trang trí. b) Hướng dẫn vẽ: Ngoài việc tổ chức cho học sinh quan sát bài vẽ, quan sát họa tiết (vật thật tranh ảnh ....) trước khi vẽ giáo viên cần có những thao tác hướng dẫn học sinh vẽ cho học sinh cảm thấy đơn giản, dễ vẽ mà không xa rời với con vật, hoa, lá .... cảnh vật thực tế. Để có thể hướng dẫn vẽ một cách tự tin, thuần thục thì đòi hỏi giáo viên phải biết cách vẽ, nét bút gọn gàng. Vì vậy giáo viên phải tu luyện kỹ năng vẽ cho mình nhiều hơn. Ngoài ra giáo viên cần phải gợi ý, gợi mở cho học sinh tìm ra hình ảnh phụ, chi tiết phụ để thêm vào bài vẽ sinh động hơn. Ví dụ: Bài 28: Vẽ trang trí "Trang trí lọ hoa" Tìm họa tiết và vẽ vào các mảng (Hoa, lá, côn trùng, chim, thú, phong cảnh ...). Sau khi đã hướng dẫn vẽ một cách chi tiết, cụ thể ngắn gọn nhưng dễ hiểu, giáo viên thâu tóm các bước vẽ cơ bản để khắc sâu vào trí nhớ cho các em. Trước khi thực hành cho các em quan sát nhận xét một số bài năm trước. c) Ngoài ra giáo viên phải biết tổ chức trò chơi vào trong giờ học có thể ở đầu, cuối, hoặc giữa tiết học để tạo không khí hứng khởi trong học tập cho học sinh. Bài 9: Vẽ trang trí "Vẽ đơn giản hoa lá" - Cho học sinh chơi trò chơi đố lá, đố hoa ở đầu giờ 2 - 3 phút. Bài 17: Vẽ trang trí "Trang trí hình vuông" - Chơi trò chơi "Chung sức" cuối giờ 3 - 4 phút. IV- Kết quả nghiên cứu: Sau khi tiến hành vận dụng về tự đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học vào dạy Mĩ thuật nói chung và dạy vẽ trang trí nói riêng mà tôi đã tiến hành như trên. Qua khảo sát kết quả thực nghiệm như sau: Bảng thống kê điều tra (thực trạng 2) So sánh (mẫu 1) lớp 4A và (mẫu 2) lớp 4A ta thấy: Mẫu 2 (đối chứng) 31 em (31 bài) Bài hoàn thành tốt Bài hoàn thành Bài chưa hoàn thành SL % SL % SL % Bài 9: Vẽ trang trí "Vẽ đơn giản hoa, lá" (Mới dùng đổi mới phương pháp và hình thức dạy học) 7 22,6 16 51,6 8 25,8 Bài 32: Vẽ trang trí "Tạo dáng và trang trí chậu cảnh" (Dùng đổi mới phương pháp và hình thức dạy học) 13 41,9 19 54,8 01 3,3 Từ kết quả điều tra mẫu 1 so với kết quả của mẫu 2 đồng thời so sánh thời gian suốt thời gian 28 tuần tôi đã áp dụng tự đổi mới phương pháp và hình thức dạy học thì kết quả bài có chất lượng cao hơn, chất lượng tăng lên rõ rệt. Hầu hết học sinh đã hoàn thành bài ngay tại lớp. Những kết quả đạt được của học sinh như nêu trên đã góp phần không nhỏ vào sự thành công trong dạy môn Mỹ thuật nói chung và dạy loại bài "Vẽ trang trí" nói riêng. C- Phần kết luận: Qua việc thực hiện biện pháp tự đổi mới phương pháp và hình thức dạy học trong quá trình dạy chuiyên môn Mỹ thuật nói chung và dạy loại bài "Vẽ trang trí" nói riêng. Bước đầu tôi đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Không những dạy cho các em có thể hiểu và nắm chắc bài ngay tại lớp mà học sinh còn sáng tạo vẽ được vẽ trang trí sinh động, hài hòa màu sắc hơn. Mỗi em có một bài vẽ với vẽ đẹp riêng vừa ngộ nghĩnh vừa hấp dẫn đó là kết quả của sự đầu tư suy nghĩ tìm ra biện pháp tổ chức dạy học phù hợp, cùng với sự chuản bị chu đáo của giáo viên nên tạo cho học sinh hứng thú học tập. Từ kết quả đạt được tôi đã tự rút ra một số kinh nghiệm sau: 1- Lòng yêu nghề mến trẻ tận tụy trong giảng dạy, tự nghiên cứutìm tòi tài liệu học hỏi dồng nghiệp, sưu tầm bài vẽ, tranh ảnh. 2- Biết vạn dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. 3- Giáo viên phải biết cách vẽ (tốt nhất là có năng khiếu) về môn này. 4- Biết tổ chức vận dụng trò chơi vào tiết học. Tôi xin chân thành cảm ơn! Tĩnh Gia, ngày tháng năm 2007 Người viết sáng kiến Lê Thị Hương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Mĩ Thuật Ở Tiểu Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Sinh Học Lớp 8 Cho Học Sinh Ở Trường Thcs Lâm Xa
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Trong Giờ Dạy Môn Sinh Học Lớp 9
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Sinh Học Ở Việt Nam
  • Hội Nghị Chuyên Đề “đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lƣợng Môn Sinh Học Cấp Thpt_10393812092019
  • Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Giáo Dục Thể Chất Báo Cáo Seminar Khoa Học: “các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Thể Chất”
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên Thông Qua Hoạt Động Dự Giờ Thăm Lớp Của Cán Bộ Quản Lý Ở Trường Thcs Văn Nho
  • Tiểu Luận Cuối Khóa Cán Bộ Quản Lý Thcs”biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Thcs Tân Công Sính”
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh Trong Giờ Dạy Lịch Sử
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Tiểu Học Bình An
  • Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cáo Sơ Kết Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Chỉ Thị Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ , Đề án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nâng Cao Chất Lượng Chương Trình Cho Vay, Nâng Cao Chât Lượng Quản Lý Cấp Phòng, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn, Chỉ Thị Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bao Cao Ve Nang Cao Chat Luong Sinh Hjoat Chi Bo, Báo Cáo Sơ Kết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cao Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Đổi Mới Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Phương Pháp Quản Trị Chất Lượng, Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Chỉ Thị Mới Nhất Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tiếp Tục Đổi Mới Và Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục, Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Hướng Dẫn 12 Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Báo Cáo Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Doi Moi Va Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo Thon, Hướng Dẫn Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dcj, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoạt Chi Doan, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Mạng Lõi, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thpt, Phương Pháp 5s Trong Quản Lý Chất Lượng, Biên Bản Xác Định Tỷ Lệ Chất Lượng Còn Lại, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Nông Thôn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Mua ô Tô Dành Cho Khách Hàng Cá Nhân, Bài Tham Luận Tại Đại Hội Chi Bộ Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ,

    Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tóm Tắt Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1
  • Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả
  • Giải Pháp Marketing Hiệu Quả
  • Biện Pháp Marketing Hiệu Quả
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Với Chi Phí Thấp
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs Mot So Bien Phap Nang Cao Chat Luong Giang Day Mon Am Nhac O Truong Thcs Doc
  • “một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 4
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Giúp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    – Hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế. Song song với nó là kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ của văn hóa, trong đó lĩnh vực âm nhạc nói riêng:

    – Thứ nhất vấn đề âm nhạc, tôi thấy âm nhạc hiện nay rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ về: số lượng tác phẩm âm nhạc, ca sĩ, băng đĩa, nhạc sĩ trẻ; về phong cách biẻu diễn…tất cả đều mang đậm “ý thích thời thượng của giới trẻ hiện đại”. Nó ra đời như một cơn sóng, nó cuốn theo lớp thanh thiếu niên và có cả các em thiếu nhi. Trong đó, dẫn đến sự xuất hiện của một số “ca sĩ nhí” hát những ca khúc của “giới trẻ thời thượng” không phù hợp với lứa tuổi và tâm hồn trẻ thơ.

    – Thứ hai, âm nhạc là một phần thiết yếu không thể thiếu với cuộc sống của mỗi người chúng ta. Và làm thế nào để con người Việt Nam có được tâm hồn “thật Việt Nam”. Điều đó phải được dung dưỡng khi còn nằm trên nôi đến khi trưởng thành. Nhưng thực tế hiện nay đa số các bà mẹ trẻ chỉ biết hát nhạc trẻ chứ không biết hát ru, bằng những giai điệu mượt mà, truyền cảm với tình yêu quê hương truyền thống của dân tộc từ lâu đời sẽ dễ nuôi dạy trẻ thơ hơn.

    – Chính những điều cảnh báo trên đặt cho giáo dục một trọng trách quan trọng, mà hiện nay giáo dục được Đảng và Nhà nước coi là mục tiêu hàng đầu trong con đường phát triển đất nước, trong đó giáo dục THCS giữ trọng trách của cấp học thứ 3: Mẫu giáo, Tiểu học và THCS. Vì thế, môn Giáo dục Âm nhạc trong THCS giữ vị trí đặc biệt quan trọng – là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn học sinh ở nấc thang cuối cùng của cuộc đời học sinh khi còn ngồi ở ghế nhà trường.

    Chính những lý do trên mà tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn Âm nhạc ở trường THCS Hòa Hiệp”.

    II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    – Căn cứ vào cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giảng dạy bộ môn âm nhạc có đầu tư vào chất lượng giàng dạy trong nhà trường phổ thông.

    – Đề ra một số biện pháp về áp dụng tình cảm khi thể hiện bài hát, bài TĐN của bộ môn âm nhạc.

    III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

    – Đối tượng học sinh lớp 6, 7, 8

    – Theo dõi và kiểm tra việc tiếp thu bài của học sinh trên lớp.

    – Dự giờ các bạn đồng nghiệp ở một số trường phổ thông khác.

    – Đối chiếu với các tiết học chưa có đầu tư về chuyên môn.

    IV. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    – Giáo dục âm nhạc ở trường THCS là thông qua âm nhạc để giáo dục học sinh về đạo đức, thẩm mĩ, tâm hồn học sinh trong sáng, yêu quê hương, đất nước, con người, thiên nhiên, phát triển trí tuệ và thể chất; để có được “tâm hồn Việt Nam” của con người Việt Nam. Giáo viên là người dạy học sinh hát, hiểu nội dung tác phẩm âm nhạc, cảm nhận được giai điệu của tác phẩm, vận động phù hợp với nội dung của tác phẩm, học sinh hiểu đúng hoặc sai được phản ánh trong tác phẩm và tỏ thái độ đúng hoặc sai phù hợp với cuộc sống.

    – Với những yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có kiến thức, kĩ năng Giáo dục âm nhạc vững vàng, có tâm hồn, đạo đức trong sáng, lành mạnh, gương mẫu hay nói cách khác hơn là phải có “tâm hồn Việt Nam”.

    – Giờ học âm nhạc ở THCS là phải thoải mái, sôi động, thu hút học sinh chú ý hào hứng thích hát, thích vận động, thích nghe hát và thích chơi trò chơi âm nhạc. Điều đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có nhiều thủ thuật hấp dẫn lôi cuốn chú ý của học sinh, sử dụng đồ dùng một cách hợp lý, đúng cách, phòng nhạc sạch sẽ, đầy đủ trang thiết bị dạy học như: Đàn Ghitar, Organ, Máy Casset,… thoáng mát, xung quanh yên tĩnh, giọng nói ấm áp, trầm bổng thu hút học sinh, kĩ năng hát và vận động phù hợp với nội dung bài hát và đúng với nội dung – phương pháp của chương trình GD – ĐT của Bộ giáo dục.

    – Âm nhạc còn là một bộ phận không thể thiếu trong các môn học khác đặc biệt là các môn học khô cứng như thể dục, toán, tạo hình, môi trường xung quanh…Nó giúp cho các môn học này thêm hấp dẫn, sinh động và kiến thức được truyền thụ cho học sinh một cách nhẹ nhàng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Dạy Môn Âm Nhạc Tại Trường Thcs Trần Bình Trọng, Hay
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Thời Kỳ Mới
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Và Học Môn Tiếng Anh: Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng?
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Phân Môn Hát Ở Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn Cho Giáo Viên Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trong Trường Mầm Non
  • Thật khó tin khi mà trong thời đại hội nhập toàn cầu, vẫn còn những học sinh coi môn tiếng Anh là “môn phụ” và học theo kiểu uể oải, đối phó. Chỉ đến khi lên đến đại học, ra làm việc, họ mới biết nhìn ra vấn đề, nhưng nhiều khi đã muộn.

    Đã đến lúc cần gióng lên một hồi chuông cảnh báo về chất lượng dạy và học môn tiếng Anh trong trường phổ thông .Hiện nay, môn tiếng Anh đã được đưa vào dạy ở bậc phổ thông, từ THCS đến THPT, một số nơi đã đưa vào chương trình bậc Tiểu học. Môn Ngoại ngữ là một môn thi tốt nghiệp bắt buộc hàng năm. Một số trường đại học sau khi tuyển sinh đã tiến hành khảo sát chất lượng môn Ngoại ngữ, nếu học sinh nào không đạt yêu cầu sẽ không được tiếp nhận vào học. Tuy nhiên, một thực tế là chất lượng dạy học môn Ngoại ngữ trong trường phổ thông trong t æ nh noùi chung vaø ôû tröôøng THPT Nguyeãn Thoâng noùi rieâng coøn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ hội nhập.

    V aäy ñaâu laø nguyeân nhaân cuûa thöïc traïng treân ?

    – CT-SGK môn TA được xây dựng theo quan điểm giao tiếp với các định hướng cơ bản là hình thành kĩ năng giao tiếp là mục tiêu cuối cùng quá trình dạy học và thể hiện tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong rèn luyện và vận dụng kĩ năng giao tiếp bằng TA.

    – Nội dung chủ điểm gần gủi với cuộc sống, hoạt động thường ngàycủa HS, giúp cho HS có sự hiểu biết tương đối khái quát về đất nước, con người và nến văn hoá của một số nước sử dụng TA.

    – Tuy nhiên, nội dung CT mới, lượng kiến thức nhiều, dàn trãi và nặng đối với đối tượng HS trung bình yếu, và HS vùng nông thôn nhö tröôøng chuùng ta . Nội dung kiến thức trong 1 tiết ( 45 phút ) tương đối nhiều, GV thường phải chạy đua với thời gian để hoàn thành các phần trong tiết dạy và do đó không có thời gian để rèn luyện, củng cố và khắc sâu kiến thức cho HS; Thậm chí có tiết GV phại chạy theo CT, tạo áp lực cho HS, không gây được hứng thú học tập bộ môn cho HS.

    – Bài tập rèn luyện trong SGK phần nhiều được thiết kế theo hình thức tự luận ( TL ) nhưng phần lớn kiểm tra 1 tiết và học kỳ theo hình thức trắc nghiệm khách quan; Điều này thể hiện sự không đồng bộ và bất cập trong giảng dạy và kiểm tra.

    – Một số nội dung chủ điểm còn xa lạ đối với HS vùng nông thôn ( các bài nói về nội dung chiến lược kinh tế trừu tượng trong SGK lớp 12-Economic Reforms sa mạc( Unit 9 – 12 các môn thể thao dưới nước – unit 12- 12 các tổ chức quốc tế, . . . . ) , ñoâi khi đó còn là vấn đề mới mẽ đối với GV, tạo ra một thử thách lớn đối với GV khi thực hiện CT-SGK mới.

    * Đa số giáo viên còn trẻ , tận tâm với nghề , với học sinh .

    * Có 100% giáo viên đạt chuẩn đào tạo và có 2 GV trên chuẩn .

    * Đoàn kết nội bộ cao , nhất trí cao trong mọi công tác .

    * Vận dụng và kết hợp đổi mới PPGD bộ môn , nhiệt tình trao đổi chuyên môn cùng đồng nghiệp để tìm phương hướng giảng dạy coù hiệu quả .

    * Đa số GV nhiệt tình trong giảng dạy , song do chương trình mới nên còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng trong soạn giảng . Chưa truyền thụ hết kiến thức cho học sinh do chưa có kinh nghiệm dạy SGK mới

    * 100 % Gv trong tổ là nữ , hầu hết đều có con nhỏ nên bận bịu với công việc gia đình , không có đủ thời gian học hỏi từ đồng nghiệp trong và ngoài trường dù có thiện chí.

    *Dạy ngôn ngữ nhưng GV Anh văn chuùng toâi gần như bị tách rời giao tiếp, môi trường văn hóa tiếng Anh, chỉ loay hoay với công việc do áp lực thành tích, chỉ tiêu thi đua.

    * Theo thạc sĩ Phạm Tấn, Phó Trưởng khoa Anh văn Trường Đại học Sư phạm chúng tôi trong giảng dạy tiếng Anh cần đảm bảo nguyên tắc 4 L: Học – Sống – Yêu – Cười (Learn – Live – Love – Laugh) thì việc học tiếng Anh mới đạt hiệu quả. Để làm được điều này, GV phải gia công rất nhiều cho bài học nhưng trước những áp lực với GV hiện nay, nguyên tắc 4 L bao giờ mới được áp dụng?.

    * Một số GV chưa đầu tư thoả đáng cho chuyên môn , chưa thật sự chịu khó tự rèn , chưa tạo được sự say mê học tập bộ môn cho học sinh cũng như chưa có biện pháp hữu hiệu trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh . Chưa chú trọng phân hoá đối tượng .

    * Một số Gv còn quá dễ dãi trong việc quản lý , nhắc nhở kiểm tra học sinh , tạo cơ hội chểnh mảng trong học tập cho các em .

    * Tổ trưởng chưa có kinh nghiệm quản lý CM , xử lý vấn đề đôi khi chưa khoa học . Chưa có kinh nghiệm trong công tác ôn thi TN .

    * Trường nằm ở vùng ven thành phố Vl , học sinh đa phần xuất thân từ tầng lớp nông dân , chưa có môi trường và cơ hội thực hành tiếng , chưa vận dụng được nội dung đã học vào thực tế cuộc sông .

    * Chất lượng đầu vào hàng năm của trường thường quá thấp .

    * Nội dung đề kiểm tra một tiết và học kỳ THCS thừờng quá dễ , học sinh đầu cấp chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm tra ở đầu năm học khi chuyển từ THCS sang THPT , từ đó tạo ra sự bất mãn , chán và sợ học tiêng Anh , thụ động học tập để đối phó với GV qua những lần KT .

    + Cấu trúc đề KT THCS ( KT 45 phút và thi học kỳ 60 phút , cấu trúc đề , số lượng câu hỏi như nhau .)

    * Chưa thấy được tầm quan trọng của tiếng Anh trong phát triển nghề nghiệp sau này .

    * Đa phần mất kiến thức căn bản từ cấp dưới , ý thức học tập chưa cao , thiếu động cơ , mục đích học tập, chưa tự giaùc học tập , còn trông chờ vào gv và lệ thuộc vào sách học tốt quá nhiều .

    * Học sinh ban KHXH & NV không có , đa số học sinh chọn các môn Toán , lý hoá để thi ĐH nên còn xem nhẹ môn tiếng Anh , chủ trương học sao cho không bị điểm quá thấp khi thi TN là đủ .

    * Kỹ năng làm bài kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan còn yếu . Kỹ năng phân tích đề và nhận dạng cấu trúc chưa cao . Thái độ làm bài kiểm tra chưa nghiem túc , thể hiện qua việc chọn ngẫu nhiên , không đọc kỹ đề để lựa chọn phương án đúng .

    II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2009- 2010

    1. Giáo dục học sinh nhận thức vị trí và tầm quan trong của việc học tập bộ môn tiếng Anh trên lớp và trong tương lai.

    2. Giáo dục học sinh về ý thức và thái độ học tập bộ môn đúng đắn, nhất là thái độ làm bài thi nghiêm túc và cố gắng hết mình để đạt kết quả khả quan hơn. Thường xuyên rèn luyện kỹ năng làm bài trắc nghiệm,kỹ năng phân tích đề thông qua các bài kiểm tra.

    3. Phân hoá đối tượng học sinh để tổ chức nâng kém hiệu quả hơn, thường xuyên kiểm tra bài các học sinh yếu và lười bằng những biện pháp hữu hiệu, tạo hứng thứ học tập bằng những hình thức khen thưởng, khích lệ các em học chăm hơn. Động viên các em yếu, kém học chăm chỉ và tích cực hơn trong các hoạt động trên lớp.

    4 .Cho các dạng bài tập trắc nghiệm vừa sức học sinh, rèn luyện các dạng bài tập cơ bản lặp đi lặp lại để khắc sâu kiến thức và đảm bảo cho học sinh đạt điểm 5 trở lên. Tranh thủ quỹ thời gian ở nhà của các em giao bài tập về nhà cho các em tự luyện tập thêm.

    5. Tăng cường củng cố kiến thức cho học sinh yếu kém, trao đổi cùng đồng nghiệp những nội dung cô đñong , dễ hiểu và tìm ra PP giúp các em khắc sâu bài học hơn.

    6. Khuyến khích và tổ chức nhóm học tập trên lớp và ở nhà. Rèn luyện nề nếp tự học và tự đánh giá mức độ tiếp thu bài học của mình. Xây dựng môi trường học tập bộ môn tự nhiên và không gây áp lực cho các em.

    7. Kết hợp cả hai chương trình chuẩn và nâng cao để rút ra kiến thức chuẩn truyền đạt cho học sinh ngay từ lớp 10. Giáo viên giảng dạy lớp 12 cần cung cấp và rền luyện cho học sinh kiến thức toàn cấp học để có thể đáp ứng đề kiểm tra trên lớp và học kỳ.

    9. Giáo viên luôn tự rèn luyện, học hỏi thêm về chuyên môn, đầu tư nhiều trong soạn giảng, vận dụng PPDH hiệu quả, tạo sự hứng thú học tập và tích cực hoạt động của học sinh. Học hỏi kinh nghiệm từ các trường có chất lượng cao để từng bước đưa chất lượng của trường đi lên. Giao lưu trao đổi tài liệu, sách tham khảo về bộ môn giữa các trường.

    1. Duy trì việc thông bài nhóm , chú ý đến những tiết khó trong CT .
    2. Tiếp tục thao giảng , dự giờ , chân tình góp ý , rút kinh nghiệm lẫn nhau để cùng nhau nâng cao chất lượng BM .
    3. Hướng dẫn một số GV trong tổ sử dung Internet có hiệu quả để truy cập thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy .Giới thiệu những trang WEB học tiếng Anh trực tuyến các kỹ năng , giúp Gv trao dồi trình độ chuyên môn , và có thể tải các bài tập có chất lương phục vụ cho tiết dạy trên lớp – Thực hiện trong những lần họp nhóm CM .
    4. Tổ chức ngoại khoá nâng cao chất lượng cho học sinh 10, 11 vào tuần thứ 2 tháng 12( chuẩn bị kiến thức , rèn kỹ năng làm bài trắc nhghiệm – kế hoạch đính kèm ) – Nhóm trưởng phụ trách
    5. Tổ chức ngoại khóa nâng cao chất lượng cho học sinh khối 12 trong tuần thứ 3 của tháng 2 , và tuần thứ 2 trong tháng 5 . ?( hệ thống hoá chuẩn kiến thức thi TN , rèn kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm ) TT và các GV 12 .
    6. Tổ chức CLB Tiếng Anh , sinh hoạt lần 1 trong tháng 12 – sau khi thi HKI – và 2 lần trong học kỳ II .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Internet…
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy ⋆ Nam Phát Construction
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Đạt Chuẩn
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Hiệu Quả Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Trường Tiểu Học Định Công: Một Số Giải Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch Ở Lớp 4 Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mĩ Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Chi Tiết Về Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích
  • Thủ Tục Đăng Kí Giải Pháp Hữu Ích Tại Hà Nội
  • Thủ Tục Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích
  • Thủ Tục Đăng Ký Bảo Hộ Giải Pháp Hữu Ích 2022
  • Thủ Tục Sửa Đổi Đơn Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích
  • A. ĐẶT VẤN ĐỀ

    I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

    Trong công tác dạy và học, người thầy giáo có tâm huyết bao giờ cũng tập trung vào việc đổi mới cách dạy và học. Bởi mục tiêu của người thầy luôn chú trọng vào đối tượng người học, giúp người học hiểu và nhận thức ra vấn đề cần chuyển tải một cách hiệu quả. “Khổng Tử ” đã có câu nói rất hay: Thầy dạy không biết mỏi, trò học không biết chán. Đạt được như vậy có nghĩa là người thầy đã đổi mới cách dạy – trò đã đổi mới cách học.

    Có thể nói ưu điểm của phương pháp dạy học mới theo dự án SAEPS là tích cực, mà ở đó học sinh chủ động, tự lực khai thác tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Các phương pháp dạy học mới được triển khai trong dự án đã kích thích sự say mê, hứng thú trong học tập, bồi dưỡng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tư duy và trí tưởng tượng của học sinh.Chính từ tính ưu việt của phương pháp này, tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Một số Biện pháp dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch ở khối lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mĩ thuật.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

    – Giúp học sinh lớp 4 thêm yêu thích môn học thông qua các hoạt động học tập.

    – Giúp học sinh phát huy được trí tưởng tượng, sáng tạo, khả năng tư duy, rèn luyện cho các em có khả năng biểu đạt, phân tích và tăng cường kỹ năng giao tiếp.

    Mặt khác, qua việc đúc kết những kinh nghiệm cũng chính là một trong những cách để ghi nhận và xem xét lại quá trình thực hành giảng – dạy, để hoàn thiện kỹ năng sư phạm của bản thân, để chọn lọc ra những gì đã làm tốt, cái gì cần phải làm tốt hơn và nghĩ cách khắc phục những gì chưa tốt. Việc tự phân tích thiết yếu này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nghề nghiệp của mỗi giáo viên, đồng thời giúp cho mỗi giáo viên có cơ hội để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau nhằm hướng tới mục tiêu giáo dục đạt kết quả cao hơn.

    III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

    Chủ thể: Biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 4 theo phương pháp Đan Mạch.

    Khách thể: Học sinh 4A5 trường Tiểu học Định công- Q.Hoàng Mai- Hà Nội

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    1. Nghiên cứu lí luận

    – Những định hướng và mục tiêu giáo dục Mĩ thuật bậc Tiểu học.

    – Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 4.

    – Một số vấn đề về giải pháp dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới (thuộc dự án do Đan Mạch hỗ trợ).

    2. Nghiên cứu thực trạng

    – Khái quát tình hình chung về nhà trường.

    – Thực trạng việc dạy và học bộ môn Mĩ thuật lớp 4 trường Tiểu học Định Công.

    3. Đề xuất biện pháp mới

    Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học chi tiết, khoa học và đảm bảo đúng tinh thần đổi mới theo phương pháp của Đan Mạch

    Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.

    Biện pháp 4: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các hoạt động thi đua, trò chơi.

    Biện pháp 5: Tăng cường nhận xét, đánh giá học sinh

    4. Tổ chức thử nghiệm hoặc khảo nghiệm.

    Tổ chức dạy thực nghiệm với lớp 4A5

    V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    2. Vấn đáp:

    3. Quan sát:

    4. Thực nghiệm:

    5. Phân tích, tổng hợp:

    VI. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

    – Tìm hiểu quá trình dạy và học bộ môn Mĩ thuật ở lớp 4.

    – Tìm hiểu những vấn đề cơ bản thường gặp, những tình huống, ưu điểm, hạn chế qua quá trình dạy và học bộ môn mĩ thuật học sinh khối 4 trường Tiểu học Định công- Q.Hoàng Mai- Hà

    Thời gian nghiên cứu từ đầu năm học 2022- 2022 đến nay

    B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

    1. Khái niệm: Giáo dục mĩ thuật là giúp học sinh có khả năng cảm nhận, khám phá ra nặng lực của mình thông qua các phương tiện khác nhau cũng như trải nghiệm những niềm vui thích khi tạo ra những sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc sắc của mình. Điều này giúp học sinh có thể sử dụng và ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để có thể biểu đạt kinh nghiệm và thái độ của các em bằng nhiều cách khác nhau. Trong các quy trình dạy – học mĩ thuật sáng tạo, giáo viên phải luôn chỉ ra cho học sinh thấy rằng sẽ có vô vàn cách thức biểu đạt khác nhau chứ không phải chỉ có một cách duy nhất.

    Môn học Mỹ thuật trong trường tiểu học không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ mà thông qua các hoạt động tạo hình để khơi gợi và phát huy khiếu thẩm mỹ vốn có ở trẻ, gây hứng thú cho các em trước cái đẹp tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mỹ của riêng mình trong cuộc sống hàng ngày.

    Điểm nổi bật của phương pháp dạy học mới môn Mỹ thuật là giáo viên có thể chủ động theo từng nội dung của từng tiết dạy mà kết hợp nhiều kỹ thuật trong một bài như: Vẽ biểu cảm- Vẽ cùng nhau- Vẽ theo nhạc- Xây dựng cốt chuyện, so với phương pháp truyền thống, phương pháp mới phát huy khả năng sang tạo cao của học sinh, tiết học thoải mái, sinh động hơn. Từ môn học này tạo cơ hội cho học sinh thực hành, ứng dụng trong học tập và cuộc sống.

    2. Về mục tiêu của dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch

    Mục tiêu chính của phương pháp này nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực:

    + Năng lực kỹ năng và kỹ thuật thông qua các hoạt động : Vẽ cùng nhau, chân dung biểu đạt, vẽ theo nhạc, tạo hình từ vật tìm được, nặn hoặc uốn tạo dáng, xây dựng cốt truyện(xây dựng bối cảnh câu chuyện).

    + Năng lực biểu đạt: Có nghĩa là học sinh ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để diễn đạt sự trải nghiệm và thái độ của bản thân.

    + Năng lực phân tích và trình bày: Thông qua các hoạt động trình bày về tác phẩm của mình, tham gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện tác phẩm.

    3. Ý nghĩa của dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch

    Ý nghĩa của vấn đề chính là dựa trên nền tảng của Luật Giáo dục điều 24.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Đồng thời còn nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp cho học sinh những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách một con người, chuẩn bị tốt cho các em về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và lao động để học sinh tiếp tục học lên trung học hoặc đi vào cuộc sống tùy theo nhu cầu và nguyện vọng bằng những hình thức thích hợp”. Điều này khẳng định giáo dục thẩm mĩ trong trường Tiểu học là một nội dung có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các mặt giáo dục khác, tạo nên sự hoàn thiện trong việc phát triển nhân cách của học sinh. Chính vì vậy việc giáo dục và bồi dưỡng cho học sinh có trình độ văn hoá thẩm mĩ phổ thông là hết sức cần thiết.

    4. Nội dung của dạy học theo phương pháp Đan Mạch

    Tóm lại: Qua quá trình áp dụng hiệu quả như thế nào, chúng ta cùng tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Mĩ thuật 4 tại trường Tiểu học.

    II.THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

    1. Nhận xét thực trạng dạy và học mĩ thuật ở trường tiểu học

    Dựa trên những bất cập đó có thể tóm tắt một số thuận lợi và khó khăn khi áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy bộ môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 4 như sau.

    2. Thuận lợi và khó khăn:

    a. Thuận lợi:

    * Về phía giáo viên:

    – Giáo viên dạy Mĩ thuật luôn được sự quan tâm của Ngành cấp trên, đặc biệt là Ban Giám hiệu nhà trường thường xuyên động viên, khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

    – Cơ sở vật chất của nhà trường khang trang, sạch đẹp.

    – Nội dung chương trình Mĩ thuật Tiểu học có một số bài không phù hợp vì mang yếu tố đặc thù vùng miền, nhưng theo phương pháp mới thì giáo viên có thể điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế địa phương, khả năng nhận thức của học sinh mà không quá phụ thuộc vào khuôn khổ của chương trình hiện hành.

    * Về phía học sinh:

    – Có thể nói việc giảng dạy bộ môn Mĩ thuật rất hiện hành rất tốt, học sinh rất yêu thích môn học vì là một giờ học không gò bó, không có nhiều áp lực. Đó chính là một lợi thế, không phải môn học nào cũng có được.

    b. Khó khăn:

    * Về phía giáo viên:

    – Trang thiết bị phục vụ môn học chưa nhiều, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho dạy – học Mĩ thuật.

    Nhà trường chưa có phòng học chức năng. Đối với phương pháp mới này ĐDDH cho giáo viên là không có sẵn, hầu hết giáo viên phải tự chuẩn bị vật mẫu cho giáo viên và học sinh, phương tiện, đồ dùng trực quan..

    * Về phía học sinh:

    Bảy quy trình dạy học Mĩ thuật chủ yếu là đề cao khả năng tự học của học sinh, nhưng để thực hiện được một quy trình các em phải chuẩn bị rất nhiều vật dụng như : giấy A0, A4, giấy bồi, kẽm, băng keo, hộp giấy, vật dụng tìm được. Điều này quả là khó khăn cho cả giáo viên và học sinh, vì bản thân các em chưa thể tự chuẩn bị được mà phải có sự hỗ trợ từ phía phụ huynh. Với “vị trí” của môn học như hiện nay thì sự nhiệt tình của phụ huynh có được như mong muốn? Nhiều em hoàn cảnh khó khăn có được hộp màu và giấy vẽ đã là may mắn.

    III. NỘI DUNG THỰC HIỆN

    1. Điều tra cơ bản.

    Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 4A5, tôi thấy hầu hết các em đều thích học vẽ, các em học tập với tinh thần hăng say, cảm nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện từ nội dung và hình thức mỗi khi các em vẽ một bức tranh. Bên cạnh đó còn một số học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình, một số em còn chán nản không thích học vẽ, dẫn đến chất lượng bài vẽ hưa tốt. Tất cả những vấn đề trên rất đáng lo ngại, ảnh hưởng lớn đến việc học Mĩ thuật của học sinh cho nên tôi đã tiến hành điều tra đầu năm Tại lớp 4A5 năm học 2022 – 2022, xem các em đạt ở mức độ nào từ đó tìm ra biện pháp khắc phục và kết quả như sau:

    2. Biện pháp thực hiện

    Từ thực tế giảng dạy ở giai đoạn đầu, phần đông học sinh yêu thích môn học. Tuy nhiên vẫn có một số em rất thờ ơ, thậm chí chán nản mỗi khi đến giờ học, điều này khiến cho tiết học trở nên nặng nề, không hứng thú. Vì vậy việc khắc phục tâm lý cho học sinh quả là khó khăn và hết sức cần thiết. Dựa vào tâm lý của học sinh là thích khen ngợi, động viên và hay tò mò nên trước thời gian thực hành, tôi giới thiệu cho các em một số tác phẩm vẽ tiêu biểu của những hoạ sĩ nhí để các em xem và tự học tập theo cách vẽ, cách thể hiện tranh. Phân tích cho các em thấy được cái hay, cái đẹp được thể hiện qua các tác phẩm, động viên các em ai cũng có thể vẽ đẹp. Vì thế sự căng thẳng và chán nản trong mỗi giờ học được giảm bớt đi, các em đã có hứng thú hơn với các tiết học. Sau đó trong những bài học vẽ tranh tôi khuyến khích các em vẽ nhiều và vẽ đẹp cho học sinh tự nhận xét, tự đánh giá tác phẩm của bạn có đẹp hay không đẹp và vì sao? Như vậy tôi đã hướng dẫn cho các em biết tự nhận xét, đánh giá được bài vẽ của bạn và mình.

    Môn học Mĩ thuật Đan Mạch không chỉ đòi hỏi các em vẽ phải có tính sáng tạo, vẽ đẹp mà các bài tập thực hành còn đòi hỏi các em có sự cảm nhận giá trị nghệ thuật, nắm được mục tiêu giáo dục ở trong mỗi bài học. Vì thế trong quá trình giảng dạy tôi đã đưa ra một số biện pháp sau đây nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mĩ thuật.

    IV. CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC MĨ THUẬT THEO PHƯƠNG PHÁP ĐAN MẠCH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MĨ THUẬT

    1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học thực hiện bảy quy trình mĩ thuật theo phương pháp mới

    1.1. Mục tiêu: Lập kế hoạch dạy chi tiết từng hoạt động giúp giáo viên chủ động và ứng phó kịp thời, đúng đắn các tình huống sư phạm có thể xảy ra trên lớp.

    1.2. Cách thực hiện:

    Khi dạy học dưới bất cứ phương pháp nào đều yêu cầu giáo viên phải lập được kế hoạch dạy học hoàn chỉnh. Đó không chỉ là đơn thuần thực hiện cho đúng nhiệm vụ khi lên lớp mà nó còn thể hiện tinh thần trách nhiệm của mỗi giáo viên đối với học sinh. Có thể nói việc lập kế hoạch giảng dạy tốt là đã thành công một nửa của quá trình dạy học. Giáo viên là người điều khiển quá trình và tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy bằng các câu hỏi mở và khuyến khích các em chia sẻ những kinh nghiệm sẵn có của mình. Điều này tạo ra nền tảng cần thiết để giúp các em kiến tạo được quy trình học tập của mình bằng cách liên hệ những điều đã biết với những điều sẽ học. Khi lập kế hoạch giáo viên phải căn cứ vào tình hình thực tế của lớp để điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp và sát với khả năng tiếp thu của học sinh. Kế hoạch cho từng hoạt động hoặc cho toàn bộ quy trình theo phương pháp Đan Mạch có thể ngắn, dài và kết nối, liên kết, xâu chuỗi các hoạt động quy trình với nhau, kết thúc hoạt động này sẽ là mở đầu cho hoạt động tiếp theo… Cụ thể khi xây dựng kế hoạch dạy học theo phương pháp mới, giáo viên cần phải chú ý tới:

    + Mục tiêu bài học: Mỗi bài học, tiết học đều có mục tiêu chung là hướng tới hình thành cho học sinh phát huy khả năng tưởng tượng, sáng tạo và năng lực diễn đạt bằng lời nói, học sinh tưởng tượng và sáng tạo được một câu chuyện bằng ngôn ngữ mĩ thuật. Tuy nhiên, giáo viên vẫn cần xác định rõ mục tiêu cụ thể của bài học đó là học sinh hiểu được gì? Thực hiện như thế nào và làm được gì?

    1.3. Ví dụ minh họa:

    1.3.1. Chủ đề Em sáng tạo cùng những con chữ

    + Nội dung tiết 1 là: Tìm hiểu về kiểu chữ nét đều, chữ nét thanh nét đậm

    – Mục tiêu tiết 1là:Hs nêu được đặc điểm của kiểu chữ nét đều, nét thanh nét đậm và kiểu chữ trang trí.

    -Tạo dáng chữ tên mình hoặc người thân theo ý thích.

    – Biết giới thiệu và nhận xét sản phẩm

    + Nội dung tiết 2 là: Sáng tạo cùng những con chữ (cá nhân)

    + Mục tiêu tiết 2 là – Trang trí và vẽ màu sản phẩm tiết 1.

    – Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm.

    + Nội dung tiết 3 là:Sáng tạo cùng những con chữ (theo nhóm)

    + Mục tiêu tiết 3 là : – Biết sắp xếp sản phẩm của cá nhân trang trí tạo thành sản phẩm nhóm.

    – Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm.

    – Điều kiện tiên quyết: Đó là những yêu cầu thiết yếu để quá tình giảng dạy có hiệu quả, bao gồm: Tạo điều kiện để học sinh học qua nhiều kênh; chú ý khả năng, phong cách học của từng học sinh; kết hợp kiến thức của bản thân học sinh và chiến lược học tập;xây dựng môi trường học tập thân thiện, truyền cảm hứng cho các em.

    – Môi trường học tập: Học tại lớp, học ở phòng chức năng hay sân trường. Môi trường học tập thoải mái sẽ hỗ trợ rất nhiều cho quá trình dạy và học.

    – Quá trình đánh giá học: Mỗi quá trình học là một sâu chuỗi các hoạt động diễn ra.

    – Đánh giá: giá từng giai đoạn và đánh giá cả quá trình thực hiện.

    a. Dự kiến các hoạt động dạy-học diễn ra theo trình tự hợp lý và nối tiếp nhau.

    Mỗi tiết dạy, mỗi giai đoạn của một quy trình đều có những hoạt động và mục tiêu giáo dục khác nhau, do đó đòi hỏi giáo viên phải xây dựng và đề ra những nội dung công việc cụ thể, hình thức học tập, cách thực hiện… Ví dụ ở

    – Tổ chức trò chơi: Ai nhanh hơn. Luật chơi: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên vẽ cây. Học sinh dưới lớp hát 1 bài. Khi hát hết bài thì các đội thi vẽ phải ngừng tay. Đội nào có học sinh vẽ nhanh, vẽ được nhiều hình cây nhất là đội thắng cuộc.

    – Giáo viên cùng học sinh nhận xét phần thi đua của các đội.

    *Em quan sát thấy những hình ảnh gì? Đó là những hoạt động nào? diễn ra ở đâu, khi nào?

    *Không khí, cảnh vật, màu sắc trong hình như thế nào?

    *Em hãy kể tên những lễ hội mà em biết?

    *Em hãy kể một số hoạt động khác trong dịp tết cổ truyền của dân tộc ngoài những hoạt động em thấy trong hình?

    *Em yêu thích nhất hoạt động nào trong ngày tết, lễ hội và mùa xuân?

    * Em thích sản phẩm tạo hình nào nhất? đó là hoạt động gì của ngày tết, lễ hội và mùa xuân?

    *Hình ảnh nào là hình ảnh chính? Hình ảnh nào là hình ảnh phụ trong mỗi sản phẩm?

    *Hình ảnh phụ có phù hợp với hình ảnh chính không?

    *Sản phẩm em thích được tạo hình bằng chất liệu gì? Các hình ảnh được sắp xếp như thế nào?

    – Giáo viên tóm tắt :

    – Một số học sinh kể trước lớp..

    – Giáo viên và học sinh cùng nhận xét, rút ra cách vẽ.

    – Học sinh hát một bài kết hợp vận động để kết thúc tiết học.

    b. Dự kiến cách giới thiệu bài phong phú, đa dạng để lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào tiết học.

    + Cách 1:

    – Hiệu quả: Học sinh nắm được tên bài học. Không khí lớp học không thay đổi, học sinh chăm chú nghe nhưng chưa nắm được thêm bất cứ kiến thức gì ngoài tên bài.

    + Cách 2:

    – Hiệu quả: học sinh nắm được tên bài học, biết được những con vật nuôi và nhưng con vật sống trong tự nhiên, không khí lớp học sinh động, học sinh thích thú khi được tham gia trò chơi. Vậy nên giáo viên cần chú ý giới thiệu bài thông qua nhiều hình thức như: thông qua trò chơi, kể một câu chuyện nhỏ, một tình huống hay đóng vai, tạo dáng, trải nghiệm thực tế…vừa tạo hứng thú học tập cho học sinh vừa cung cấp kiện thức một cách dễ hiểu nhất.

    Chính vì vậy khi giới thiệu bài, giáo viên nên tạo không khí phấn khởi cho giờ học, thu hút sự chú ý, gây tâm lý chờ đón, hồi hộp cho học sinh, không nên “đi ngay” vào nội dung.

    c. Xây dựng các nội dung giúp học sinh trải nghiệm.

    d. Tổ chức hình thức học tập theo quy trình hiệu quả nhất.

    – Tiết 2: Học sinh thể hiện ý tưởng thông qua việc tạo hình 2D (vẽ biểu đạt, tạo ngân hàng hình ảnh)

    – Tiết 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm (vẽ cùng nhau, vẽ theo nhạc, tạo hình 3D…)

    – Tiết 4 trưng bày, giới thiệu sản phẩm.

    1.3.2. Chủ đề Chúng em với thế giới động vật – thực hiện 4tiết.

    Tiết 2: Vẽ cùng nhau. Học sinh vẽ theo nhóm, kết hợp xé dán những con vật nuôi em thích (được lựa chọn từ những con vật các em đã vẽ ở tiết trước). Có thể chọn những con vật cùng môi trường sống, nhóm gia súc, nhóm gia cầm, nhóm con vật sống dưới nước, ở rừng…

    Tiết 3:Tạo hình 3D.Học sinh nặn kết hợp xé dán hình các con vật theo nhóm, Trưng bày sản phẩm.

    Tiết 4:Xây dựng và chia sẻ nội dung các câu chuyện

    2.1. Mục tiêu: Giúp học có thể khám phá, suy nghĩ, thể hiện về các trải nghiệm, quan điểm, cảm xúc và khả năng tưởng tượng của bản thân.

    2.3. Ví dụ minh họa:

    3. Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.

    3.2. Cách thực hiện: Bảy quy trình mĩ thuật theo phương pháp mới bao gồm:

    1. Quy trình Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu chuyện.

    2. Quy trình Vẽ biểu cảm.

    3. Quy trình Trang trí và vẽ tranh qua âm nhạc.

    4. Quy trình Xây dựng cốt truyện.

    5. Quy trình Tạo hình từ dây thép và vật tìm được.

    6. Quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không gian.

    7. Quy trình Tạo hình con rối và biểu diễn nghệ thuật.

    – Năng lực đánh giá được phát triển qua quá trình quan sát,trải nghiệm và thưởng thức các sản phẩm mĩ thuật do chính các em tạo nên. Tuy nhiên, do cơ sở vật chất, không gian học tập, khả năng nhận thức của học sinh lớp Một chưa thể đáp ứng được yêu cầu khi dạy theo phương pháp mới nên giáo viên chỉ có thể áp dụng 5 quy trình, còn 2 quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không gian, Tạo hình con rối và biểu diễn nghệ thuật chỉ có thể thực hiện ở các khối lớp lớn hơn.

    Một số lưu ý khi thực hiện 7 quy trình

    – Giáo viên cũng cần phối hợp tích cực với phụ huynh, đồng nghiệp, Ban giám hiệu để phối hợp huy động nguồn lực dạy học Mĩ thuật hiệu quả; yêu cầu học sinh chuẩn bị các học liệu, đồ dùng học tập cho buổi học sau.

    – Giáo viên cũng cần cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành góc Mĩ thuật ở gia đình; nhà trường có thể tổ chức triển lãm, trưng bày sản phẩm của học sinh vào các ngày sinh hoạt tập thể.

    – Họa phẩm và vật liệu phục vụ cho phương pháp dạy Mĩ thuật Đan Mạch, Sở yêu cầu tận dụng tối đa các phương tiện, đồ dùng học tập sẵn có, sử dụng linh hoạt các chất liệu học sinh đã có, hướng dẫn học sinh sưu tầm các chất liệu sẵn có ở địa phương, những vật dụng bỏ đi để tạo ra nhiều chất liệu phong phú trong các hoạt động dạy học Mĩ thuật.

    * Kết quả sau khi áp dụng: Hầu hết học sinh đều biết chủ động trong quá trình học tập, tự tin trước lớp, giao tiếp tiến bộ, năng lực sáng tạo, biểu đạt có tiến bộ rõ rệt.

    4. Biện pháp 4: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các hoạt động thi đua, trò chơi.

    4.1. Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo. Học sinh cảm nhận được sự thoải mái khi việc học của mình vừa gắn với kiến thức trong sách vở, vừa thông qua sự trải nghiệm của chính bản thân trong các hoạt động tập thể.

    4.2. Cách thực hiện:

    a. Xây dựng bầu không khí học tập thân thiện:

    Để các học sinh tự tin hơn khi thực hiện các sản phẩm của mình thì rất cần một môi trường học tập thân thiện. Phong trào này cũng đã được Bộ Giáo dục-Đào tạo triển khai trong toàn ngành từ những năm gần đây, được xác định gồm 5 nội dung. Đó là:

    – Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn.

    – Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập.

    – Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.

    – Tổ chức các hoạt động tập thể, vui tươi, lành mạnh.

    – Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương.

    Do đó muốn xây dựng môi trường học tập thân thiện thì cũng phải thực hiện tốt các nội dung trên, nhưng ở phạm vi lớp học và tùy tình hình học sinh, cơ sở vật chất…mà giáo viên tổ chức cho phù hợp. Trước hết giáo viên cần thể hiện phong cách giao tiếp thực sự tôn trọng học sinh. Tất cả bề ngoài hình thức như dáng đi, đứng, cử chỉ, điệu bộ, thái độ, ngôn ngữ đều phải thể hiện được sự thân thiện.Luôn giao tiếp thân thiện với học sinh trong mọi tình huống.

    Khi học sinh thực hành, giáo viên cần phải theo dõi, quán xuyến chung, điều chỉnh, bổ sung những gì mà đa số học sinh chưa rõ hoặc còn lúng túng. Theo dõi giúp học sinh kém, động viên khích lệ học sinh khá, cụ thể là:

    + Gợi ý học sinh nhận ra những thiếu sót ở bài vẽ để học sinh rút kinh nghiệm và tự sửa chữa.

    + Động viên, khích lệ học sinh khá, giỏi tạo điều kiện cho các em suy nghĩ tìm tòi thêm, nâng cao hiệu quả sáng tạo ở bài vẽ.

    Ví dụ như khi học sinh vẽ biểu đạt : Tùy điều kiện thực tế, giáo viên khuyến khích học sinh lựa chọn chất liệu, màu sắc phù hợp để vẽ nhằm tăng tính biểu cảm. Giáo viên nên đi và quan sát cả lớp, đặt câu hỏi để giúp các em lựa chọn được màu sắc và nội dung đạt chất lượng. sau hoạt động này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh dùng khung tự tạo để xác định bố cục bức tranh trong Vẽ chân dung, và cả những bức tranh khác được sáng tạo trong suốt quá trình học mĩ thuật, tạo cho các em cách nhìn thẩm mĩ và phương pháp trình bày tác phẩm khi trưng bày bằng những câu hỏi gợi ý như:

    – Em muốn thể hiện điều gì và em thể hiện nội dung đó như thế nào trong bức tranh này?

    – Tại sao em sử dụng màu này?

    – Hình ảnh trong tranh của em có theo những gì em muốn thể hiện không?

    – Trong bài vẽ của mình, em muốn thêm hay bỏ chi tiết nào? Lí do?…

    Mặt khác, dù dạy theo phương pháp cũ hay mới, giáo viên chuyên trách Mĩ thuật luôn gặp khó khăn chung với đối tượng học sinh lớp Một đó là : Các em không dám vẽ, sợ vẽ xấu các bạn chê cười, hay sao chép hoặc bắt chước ý tưởng của bạn. Khi vẽ các em hay tẩy xóa, thường vẽ hình quá nhỏ. Đây là hạn chế mà các em thường mắc phải nhiều. Nhất là giai đoạn đầu năm, các em còn bỡ ngỡ do chưa quen, thậm chí có em chưa một lần cầm bút vẽ, chưa nhận biết được tên các màu. Giáo viên phải biết cách phát huy các mặt mạnh của học sinh, luôn khen ngợi những học sinh có nét vẽ ngộ nghĩnh, động viên, khích lệ học sinh còn yếu. Động viên khích lệ kịp thời một tiến bộ dù nhỏ nhất của các em. Điều này sẽ giúp các em bớt mặc cảm tự ti và có tinh thần học tập hơn. Có em vẽ hình rất đẹp nhưng lại hay tẩy xoá vì các em sợ sai, vì các em chưa nhìn thấy được cái đẹp trong tranh của mình. Ngoài việc giải thích, giáo viên cần so sánh bài vẽ đẹp và chưa đẹp để học sinh hiểu thêm. Đồng thời nên tuyên dương thường xuyên những nỗ lực dù rất nhỏ của các em để các em tự tin hơn trong học tập.

    b. Tăng cường tổ chức các trò chơi lồng ghép vào quá trình học tập:

    Bên cạnh hoạt động học là chủ đạo thì nhu cầu chơi, giao tiếp với bạn bè của các em học sinh lớp Một cũng không thể thiếu. Nếu giáo viên biết phối hợp nhịp nhàng giữa nhiệm vụ của hoạt động học với sự thỏa mãn nhu cầu chơi, giao tiếp của các em “Học mà chơi, chơi mà học” thì các em sẽ hăng hái, say mê học tập và một điều tất yếu là kết qủa học tập của các em sẽ được nâng lên. Đây cũng là một phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trên cơ sở khai thác đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Khi tổ chức trò chơi,giáo viên cần lưu ý:

    + Tổ chức vào thời điểm thích hợp. Trong thực tế dạy học, giáo viên thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để giới thiệu bài hay hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. Do đó giáo viên nên linh hoạt tổ chức ở những thời điểm khác nhau nhằm tạo sự bất ngờ và giảm căng thẳng của giờ học.

    + Lôi cuốn tất cả học sinh của lớp cùng tham gia. Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn học sinh nên duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học. Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, do đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức mới. Trò chơi có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho học sinh, tăng cường khả năng giao tiếp và giúp các em rèn kỹ năng hợp tác. Có thể nói điều khiển tiến trình một cuộc chơi với học sinh lớp Một sao cho sôi nổi, sinh động, hấp dẫn lôi cuốn được tất cả các em tham gia chơi một cách thích thú nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu tiết học là không dễ. Vì nếu tổ chức sơ sài hoặc mang tính chất hình thức thì học sinh tham gia một cách miễn cưỡng, có em còn nhân dịp này để làm việc riêng, đùa giỡn gây mất trật tự lớp học. Còn nếu tổ chức quá chú trọng vào phần chơi mà quên đi phần học thì giáo viên sẽ khó mà quản lý lớp học đi đúng hướng.

    Một số trò chơi có thể áp dụng như: thi vẽ nhanh, vẽ đẹp, tưởng tượng từ hình có sẵn vào đầu, cuối tiết học hoặc trước khi thực hành. Đây chính là thời gian để các em luyện vẽ và tăng cường khả năng vẽ nhanh, vẽ đẹp và giúp các em phấn chấn tinh thần,hăng hái học tập hơn. Cách tiến hành như sau:

    Từ những hình này, học sinh vẽ tiếp thành hình các con vật mà em thích như: con trâu, con heo, con mèo, con thỏ…

    – Trò chơi : Ai nhanh hơn. Luật chơi: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên vẽ nhiều con vật nuôi ( hoặc vẽ một tranh). HS dưới lớp hát 1 bài. Khi hát hết bài thì các đội thi vẽ phải ngừng tay. Đội nào có học sinh vẽ nhanh, vẽ nhiều con vật (hoặc tranh đẹp nhất) là đội thắng cuộc…

    Khi tổ chức trò chơi, giáo viên cần đánh giá cao phần tham gia của các đội, không làm qua loa đại khái, có khen thưởng, tuyên dương kịp thời cũng là một biện pháp làm cho học sinh thêm tích cực vì em nào cũng thích được khen, được thầy cô quan tâm đến việc làm của mình. Bên cạnh đó cần động viên những đội còn lại để các em cố gắng hơn ở lần sau. Sau mỗi lần chơi giáo viên cần nhận xét đánh giá kết quả của học sinh. Dựa vào yêu cầu, nội quy chơi, kết quả cuộc chơi giáo viên đánh gía cuộc chơi và phân loại thắng thua thật công bằng, rõ ràng. Giáo viên phải hết sức lưu ý vấn đề này vì đôi khi có giáo viên nêu yêu cầu và luật chơi rất khắt khe nhưng khi đánh giá kết quả lại đại khái, không chính xác hoặc không công bằng vì vậy sẽ làm cho học sinh mất phấn khởi, đôi khi các em biểu lộ sự phản đối với sự đánh giá đó và không chấp nhận kết luận của giáo viên. Để đánh giá đúng thực chất của cuộc chơi, giáo viên phải thống kê ra được những ưu điểm, nhược điểm của từng đội tham gia chơi. Tuy nhiên vẫn cần sự đánh giá nhẹ nhàng mang tính chất động viên, khích lệ là chính, tránh tình trạng đánh giá để các em buồn và xấu hổ với bạn bè khi không thắng trò chơi.

    Việc tăng cường nhận xét, đánh giá học sinh nhằm giúp nhận biết được điểm mạnh, điểm yếu của học sinh để có biện pháp cải thiện, hoàn thiện phương thức dạy và học để phát triển năng lực của học sinh.

    – Sự phân công trong nhóm.

    – Tinh thần thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình thực hiện.

    – Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

    – Thời gian hoàn thành sản phẩm.

    – Kĩ năng trình bày nội dung tranh vẽ trước lớp.

    Việc đánh giá kết quả không chỉ dựa trên thành tích chung của cả nhóm mà còn dựa trên sự đóng góp của từng thành viên trong nhóm. Để thực hiện việc đánh giá đảm bảo công bằng, đúng thực tế, giáo viên cần có sổ tay theo dõi ghi nhận ngay những cá nhân tích cực, cá nhân thụ động hay sáng tạo, những nhóm làm việc hiệu quả…Khi thực hiện việc đánh giá, giáo viên cần nêu rõ những mặt được và chưa được để học sinh nắm và thực hiện tốt hơn. Bên cạnh việc tuyên dương những học sinh tích cực, chăm chỉ, giáo viên cũng cần nghiêm khắc nhắc nhở những học sinh chưa tập trung, lơ là, hay nói chuyện, làm việc riêng để các em có trách nhiệm và ý thức hơn.

    Khi đánh giá hoạt động của một nhóm, giáo viên cũng cần lưu ý tới những tiến bộ của các em. Bởi vì sự tiến bộ đó thể hiện tinh thần, thái độ tiếp thu bài học có hiệu quả mà các em đạt được. Sản phẩm của một nhóm thường là hoàn thành tốt thì không có gì phải bàn, nhưng có nhiều trường hợp ở hoạt động trước các em chỉ hoàn thành hoặc chưa hoàn chỉnh, ở hoạt động sau lại có sản phẩm nổi trội hoặc xuất sắc thì rất cần sự ghi nhận của giáo viên. Đó chính là động lực để các em có tinh thần học tập tốt hơn ở các hoạt động sau.

    Hiện tại việc đánh giá môn học được thực hiện theo thông tư 22, do đó đánh giá hoạt động nhóm là một phần quan trọng để làm căn cứ cho giáo viên thực hiện đúng thực chất, công bằng và khách quan. Nhất là đối với nội dung năng lực và phẩm chất, nếu giáo viên chỉ dựa trên cơ sở là sản phẩm mĩ thuật của các em là chưa đủ, chưa chính xác, mà phải dựa trên nhiều yếu tố như: Khả năng kết hợp với bạn, khả năng giao tiếp, tính tích cực, sáng tạo…Chính vì vậy, giáo viên cần coi trọng khâu đánh giá hoạt động nhóm của học sinh trong các giờ học, để đảm bảo các yêu cầu về chuyên môn, đạt mục tiêu giáo dục của môn học Mĩ thuật trong trường Tiểu học.

    IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

    Tính tới thời điểm hiện tại, học sinh đã quen và thực hiện tương đối tốt mô hình học tập mới này, áp lực học tập không còn là vấn đề với các em. Đây chính là hình thức dạy học theo phương pháp mở (kết thúc bài học này là mở ra một bài học mới), tăng cường dạy học hợp tác nhưng vẫn coi trọng cá thể hóa học sinh. Tạo cơ hội cho học sinh thực hành các bài tập ứng dụng thiết thực, phục vụ cho học tập và cuộc sống.

    Qua việc học tập theo phương pháp mới giúp cho học sinh có được những trải nghiệm để gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và phát triển sức sáng tạo và biểu đạt, vì vậy học sinh sẽ có được những hình ảnh và động lực mang tính tinh thần. Hạn chế được cảm giác lo sợ vì không biết vẽ của các em. Học sinh biết bảo vệ ý thức chủ quan của bản thân khi vẽ tranh, không bị ảnh hưởng bởi lời chê bai của các bạn khác. Học sinh được bồi dưỡng rèn luyện óc quan sát, cách so sánh sự vật hiện tượng, giúp các em tìm tòi thể hiện để vươn tới cái đẹp. Các em cảm nhận được cái đẹp và chưa đẹp một cách rõ ràng qua việc nhận xét hình ảnh, tranh vẽ. Biết tạo ra các sản phẩm làm đẹp phục vụ cho sinh hoạt như: trang trí đồ vật, trang trí góc học tập. Một điều không thể không nhắc tới đó là học sinh yêu thích môn học hơn, vẽ một cách say sưa hơn, hứng thú với nhiều sáng tạo, khiến cho tiết học trở nên thoải mái, nhẹ nhàng. Quan trọng hơn cả là các em đã thấy tự tin khi vẽ, tạo được những câu chuyện ngộ nghĩnh mang hiệu quả bất ngờ, đẹp mắt.

    Với kết quả như trên, tôi thấy việc dạy học Mĩ thuật muốn có kết quả giảng dạy cao thì người thầy phải không ngừng tìm tòi và đổi mới phương pháp dạy học. Để tạo được cách dạy lấy học sinh làm trung tâm cho bài dạy, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, gợi mở, thì ngoài việc sử dụng một số phương pháp dạy truyền thống còn cần kết hợp nhiều phương pháp khác để tiết học sinh động lôi cuốn học sinh tham gia hơn. Với kết quả này, mỗi chúng ta cũng không lấy đó làm bằng lòng để rồi dừng ở đó. Theo tôi đã là giáo viên thì việc học hỏi, tìm tòi và sáng tạo trong cách dạy là một nhiệm vụ mỗi ngày của người thầy, hoạt động đó phải được diễn ra thường xuyên có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao đối với tri thức, và đặc biệt có thể tạo điều kiện cho học sinh vững vàng bước vào chương trình Mĩ thuật ở bậc Trung học cơ sở.

    Vì vậy tôi sẽ áp dụng những biện pháp này vào trong việc giảng dạy của mình để chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật của trường Tiểu học Định Công được tốt hơn và tôi mạnh dạn đưa ra những biện pháp này cho các bạn đồng nghiệp trong huyện tham khảo và góp ý để cùng nâng cao chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật ở Tiểu học .

    I. KẾT LUẬN

    1. Những kết luận được rút ra từ SKKN

    Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, kết quả của nó là kết quả của cảm xúc, chứ không đơn giản là kỹ thuật hay kỹ năng. Muốn tạo ra cái đẹp, học sinh phải có cảm xúc. Cảm xúc phải xuất phát từ sự rung động của học sinh trước vẻ đẹp của đối tượng cùng với phương pháp giảng dạy hấp dẫn, lôi cuốn của giáo viên. Cái đẹp phù hợp với cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của mỗi học sinh. Trẻ em có cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận riêng, không giống cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của người lớn.

    2. Bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tế và thử nghiệm

    Qua quá trình áp dụng phương pháp dạy học Mĩ thuật mới chúng tôi nhận thấy cái hay của phương pháp này là đặt người học vào vị trí chủ động phải tìm hiểu vấn đề và tìm ra cách giải quyết hiệu quả, sáng tạo nhất. Việc đánh giá học sinh cũng không còn bị đặt quá nặng vào sản phẩm của các em mà nó được đánh giá dựa trên cả quá trình mà các em tham gia. Đây là một chương trình giáo dục Mĩ thuật Tiểu học năng động, phát huy, rèn luyện được nhiều kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng sống.Giáo viên cần cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành góc Mĩ thuật ở gia đình, nhà trường có thể tổ chức triển lãm, trưng bày sản phẩm của học sinh vào các ngày sinh hoạt tập thể. Tập cho học sinh thói quen sưu tầm và cất giữ những vật dụng, vỏ hộp, chai nhựa..không còn sử dụng để khi cần có thể sử dụng. Làm tốt công tác tư tưởng với phụ huynh để phụ huynh tham gia chuẩn bị tốt họa phẩm và vật liệu phục vụ cho phương pháp dạy Mĩ thuật Đan Mạch, có thể tận dụng tối đa các phương tiện, đồ dùng học tập sẵn có, sử dụng linh hoạt các chất liệu học sinh đã có, hướng dẫn học sinh sưu tầm các chất liệu sẵn có ở địa phương, những vật dụng bỏ đi để tạo ra nhiều chất liệu phong phú trong các hoạt động dạy học Mĩ thuật.

    II. KHUYẾN NGHỊ

    Với mong muốn là làm thế nào để áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy môn Mĩ thuật Tiểu học ngày càng hiệu quả và giúp giáo viên tháo gỡ những khó khăn, tôi xin kiến nghị một số ý như sau:

    1. Đối với trường:

    + Rất mong BGH nhà trường tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thêm tài liệu nghiên cứu giảng dạy và đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học.

    + Như lời thầy Nguyễn Hữu Hạnh, chuyên viên chính Vụ Giáo dục Tiểu học, BGD&ĐT : “Cái gì đổi mới, thời gian đầu cũng sẽ không tránh khỏi khó khăn, điều quan trọng chính là ở chỗ, người giáo viên phải biết lấy học sinh làm trung tâm của quá trình giảng dạy, hiểu trình độ từng em, từ đó có những hành động thiết thực để cải thiện điều kiện học tập và kết quả học tập của các em”. Vâng, khó khăn nào giáo viên cũng sẽ cố gắng vượt qua, nhưng khó khăn do cơ sở vật chất nhà trường, do kinh tế gia đình học sinh thì có cố mấy cũng không hiệu quả. Vậy nên kính mong ngành cấp trên sẽ có những điều chỉnh phù hợp để giáo viên chuyên trách Mĩ thuật không còn quá lo lắng, băn khoăn và an tâm công tác, nhằm huy động nguồn lực dạy học Mĩ thuật hiệu quả, giúp học sinh có cơ sở vật chất để học tập một cách tốt nhất.

    Tổ chức tập huấn rút kinh nghiệm qua quá trình áp dụng để giáo viên nắm vững thêm về phương pháp mới. Cần xây dựng nội dung thành các tiết dạy minh họa nhằm định hướng tổ chức dạy học và chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên chuyên.

    3. Đối với Sở GD&ĐT: Cần tổ chức lớp học nâng cao việc giảng dạy môn Mĩ thuật.

    4. Đối với Bộ GD& ĐT: Cần có một số đồ dùng dạy phân môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch cụ thể hơn, nhiều hơn

    Hướng phổ biến đề tài: Đề tài này có thể áp dụng phổ biến cho giáo viên chuyên trách trong toàn quận và có thể làm tài liệu tham khảo để trao đổi kinh nghiệm giữa các đồng nghiệp có nhu cầu.

    Hướng nghiên cứu tiếp: Hướng tới tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu đề ra các giải pháp thực hiện việc giảng dạy Mĩ thuật Tiểu học nói chung theo phương pháp mới có hiệu quả hơn. Những vấn đề mà tôi đã nêu chắc chắn không tránh khỏi hạn chế và thiếu xót. Song đó là những kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã rút ra được trong quá trình nghiên cứu và dạy thử nghiệm. Tôi rất mong được sự tham khảo, nhận xét, góp ý bổ sung của đồng nghiệp, của cấp trên để giải pháp này được hoàn thiện nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật ở khối lớp 4.

    Quận Hoàng Mai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Phát Huy Tính Tích Cực Của Phương Pháp Đan Mạch
  • Skkn Một Số Phương Pháp Dạy Và Học Môn Mĩ Thuật Đan Mạch Ở Tiểu Học
  • Đổi Mới Dạy Học Môn Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Áp Dụng Phương Pháp Mới Đan Mạch Vào Giảng Dạy Môn Mĩ Thuật Lớp 1
  • Mẫu Đơn Đăng Ký Sáng Chế Và Giải Pháp Hữu Ích
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Giáo Dục Thể Chất

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Biện Pháp Giúp Giáo Viên, Nhà Trường Giáo Dục Kỉ Luật Tích Cực Học Sinh
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Giáo Dục
  • Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Khi Xử Lý Hành Chính
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Mầm Non
  • Tìm hiểu sức khỏe và tâm lý của từng lứa tuổi

    Theo những chuyên gia giảng dạy bộ môn này thì đây là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động thể dục thể thao , giúp hoạt động thể chất đạt hiệu quả cao . Đồng thời cũng tránh những tác dụng xấu có thể xảy ra.

    Cần căn cứ vào đặc điểm giải phẫu, sinh lý của từng lứa tuổi, giới tính, hệ vận động, nội tạng, hệ thần kính… để có phương pháp hữu hiệu khi giảng dạy. Bên cạnh đó là đặc điểm phát triển tố chất cơ thể như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, linh hoạt, khéo léo của học sinh để có những bài tập, lượng vận động phù hợp…

    Những yếu tố này sẽ giúp người học đã thay đổi nhận thức, tích cực tập luyện thể dục thể thao hơn, hứng thú và say mê hơn với môn thể dục vì đã có điều kiện học đúng với khả năng cũng như lượng vận động phù hợp với bản thân.

    Nghiên cứu nội dung bài học

    Nội dung chính là sự tổ chức quá trình dạy học , là yếu tố thể hiện sự thống nhất giữa quá trình dạy và quá trình học. Quá trình dạy là người giáo viên cung cấp những kiến thức mới cho học sinh , qua đó thực hiện nhiệm vụ giáo dục và phát triển cho học sinh. Đối với học sinh, giáo viên cần phải chủ động điều khiển, hướng dẫn để học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động cũng như nắm vững kiến thức một cách có hệ thống .

    Đảm bảo cơ sở vật chất luyện tập

    Để có thể nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao , bên cạnh phương pháp dạy thì cũng cần đảm bảo những điều kiện cơ sở vật chất cũng như kinh phí phục vụ giảng dạy .

    Có thể cải tạo và nâng cấp sân bãi , tận dụng tối đa điều kiện của nhà trường phục vụ giảng dạy và tập luyện. Đặc biệt, cần đảm bảo mua sắm trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và tập luyện đủ số lượng và đảm bảo về chất lượng.

    Bên cạnh đó, tổ chức những hoạt động ngoại khóa cho sinh viên, góp phần hoàn thiện các nội dung học tập của giờ học chính khóa và các tiêu chuẩn rèn luyện thể thao. Đồng thời, tổ chức xây dựng các câu lạc bộ thể thao, các hoạt động thể thao quần chúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Cập Nhật Ob22 Mới: Thanh Trừng
  • Rules Of Survival Đề Biện Pháp Chống Hack Mới, Có File Lạ Can Thiệp Là Không Khởi Động Được Game
  • Những Câu Hỏi Thường Gặp Về Hack
  • Nghị Luận Chống Nghiện Facebook
  • Nghiện Game: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Mĩ Thuật Ở Tiểu Học Theo Chủ Đề Đan Mạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phép Chia Cho Học Sinh Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn “tập Đọc” Lớp 3 Theo Hướng Tích Cực Hóa Hoạt Động Của Học Sinh
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tập Làm Văn Cho Học Sinh Lớp 3 Trường Tiểu Học Ninh Xá
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Văn Miêu Tả Lớp 4.
  • Mĩ thuật là một trong những môn nghệ thuật. Nếu dạy học là khó thì dạy nghệ thuật càng khó, cần phải mang tính nghệ thuật cao hơn. Vì học mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi người, làm cho mọi người nhìn ra cái đẹp, thấy cái đẹp có ở trong mình, xung quanh mình, gần gũi và đáng yêu. Đồng thời mĩ thuật giúp mọi người tự tạo ra cái đẹp theo ý mình và biết thưởng thức nó ngay trong sinh hoạt thường ngày của mình, làm cho cuộc sống thêm hài hoà hạnh phúc. Nếu muốn có những tiết học hay, muốn có những bài vẽ đẹp của các em thì những yếu tố quyết định chất lượng của việc dạy và học chính là khả năng dẫn dắt, truyền đạt kiến thức của mỗi giáo viên. Để có được điều đó ngoài năng khiếu sư phạm, mỗi giáo viên cần phải có những kinh nghiệm qua cả một quá trình giảng dạy. Nhưng làm thế nào để rút ra được những kinh nghiệm lại là cả một vấn đề. Giáo viên có thể tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, nhưng cái chính là phải tự thân vận động của mỗi cá nhân, có như thế mới xử lý linh hoạt các tình huống sư phạm, không rập khuôn, lý thuyết.

    MỤC LỤC I. MỤC LỤC Trang 01 I. MỞ ĐẦUTrang 02 1. Lí do chọn đề tài......Trang 02 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài. Trang 03 3. Đối tượng nghiên cứu..........Trang 03 4. Phương pháp nghiên cứu.....Trang 03 II. NỘI DUNG SKKN........Trang 04 1. Cơ sở lí luận......Trang 04 2. Thực trạng.....Trang 05 2.1. Thực trạng chung .....................................................................Trang 05 2.2. Thực trạng về giáo viên và học sinh.Trang 05 3. Các giải pháp thực hiện.. Trang 07 3.1. Lập kế hoạch bài học theo phương pháp mới của Đan Mạch. .Trang 07 3.3. Vận dụng 7 quy trình mĩ thuật mới phù hợp với HS tiểu học .....Trang 09 3.4.Tạo không khí lớp học............................................................... Trang 10 3.5. Việc nhận xét, đánh giá sản phẩm của học sinh.............................. Trang 11 4. Hiệu quả của SKKN ............Trang 12 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trang 13 1. Kết luận . ...... Trang 13 2. Kiến nghị . ..... Trang 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO .... Trang 15 I. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Mĩ thuật là một trong những môn nghệ thuật. Nếu dạy học là khó thì dạy nghệ thuật càng khó, cần phải mang tính nghệ thuật cao hơn. Vì học mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi người, làm cho mọi người nhìn ra cái đẹp, thấy cái đẹp có ở trong mình, xung quanh mình, gần gũi và đáng yêu. Đồng thời mĩ thuật giúp mọi người tự tạo ra cái đẹp theo ý mình và biết thưởng thức nó ngay trong sinh hoạt thường ngày của mình, làm cho cuộc sống thêm hài hoà hạnh phúc. Nếu muốn có những tiết học hay, muốn có những bài vẽ đẹp của các em thì những yếu tố quyết định chất lượng của việc dạy và học chính là khả năng dẫn dắt, truyền đạt kiến thức của mỗi giáo viên. Để có được điều đó ngoài năng khiếu sư phạm, mỗi giáo viên cần phải có những kinh nghiệm qua cả một quá trình giảng dạy. Nhưng làm thế nào để rút ra được những kinh nghiệm lại là cả một vấn đề. Giáo viên có thể tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, nhưng cái chính là phải tự thân vận động của mỗi cá nhân, có như thế mới xử lý linh hoạt các tình huống sư phạm, không rập khuôn, lý thuyết. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Tìm ra những cơ sở lí luận, các phương pháp dạy học, tìm ra những cái hay, cái đẹp những vấn đề thường gặp, những tình huống và những cái còn hạn chế để có những biện pháp khắc phục những gì chưa làm được. 3. Đối tượng nghiên cứu: 4. Phương pháp nghiên cứu: Để việc nghiên cứu đạt được kết quả tốt tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là các phương pháp: 1. Phương pháp vấn đáp: Là phương pháp mà giáo viên sẽ dùng một hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời bằng miệng nhằm thu được những thông tin nói lên nhận thức hoặc thái độ của cá nhân đối với vấn đề học bộ môn Mĩ thuật theo phương pháp mới. 2. Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo dục trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động dạy - học cho ta những tài liệu về thực tiễn để có thể nắm bắt một cách hiệu quả và chính xác. Thông qua quá trình quan sát, giáo viên ghi nhận lại tình hình học tập của học sinh, những vấn đề nảy sinh trong quá trình giảng dạy nhằm tìm ra biện pháp giải quyết thích hợp nhất. 3. Phương pháp trải nghiệm: Giáo viên giúp cho HS có những trải nghiệm để gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và phát triển khả năng sáng tạo và biểu đạt . Giáo viên phải chủ động tác động vào học sinh và quá trình dạy - học để hướng theo mục tiêu dự kiến của mình. Nếu giáo viên biết cách vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tế thì sẽ không còn gặp khó khăn gì. II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Cơ sở lí luận: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Đồng thời còn nêu rõ: "Mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp cho học sinh những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách một con người, chuẩn bị tốt cho các em về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và lao động để học sinh tiếp tục học lên trung học hoặc đi vào cuộc sống tùy theo nhu cầu và nguyện vọng bằng những hình thức thích hợp". Điều này khẳng định giáo dục thẩm mĩ trong trường Tiểu học là một nội dung có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các mặt giáo dục khác, tạo nên sự hoàn thiện trong việc phát triển nhân cách của học sinh. Chính vì vậy việc giáo dục và bồi dưỡng cho học sinh có trình độ văn hoá thẩm mĩ là hết sức cần thiết. Ở løa tuæi häc sinh tiÓu häc c¸c em cßn qu¸ nhá v× vËy c¸c em thÝch vÏ theo ý cña m×nh h¬n lµ vÏ theo sù hưíng dÉn cña gi¸o viªn. NghÜ g× lµ vÏ nÊy, ®ặt bót lµ vÏ kh"ng theo tr×nh tù, khu"n khæ c¸c bưíc vÏ. ThËm chÝ trong qu¸ tr×nh lµm bµi, c¸c em cßn kh"ng muèn cho gi¸o viªn hay c¸c b¹n nh×n thÊy sî c¸c b¹n hay c" gi¸o nh×n thÊy l¹i chª. ChÝnh v× vËy mµ người gi¸o viªn cÇn hiÓu vµ hướng dÉn c¸c em dÇn dÇn, ®Ó c¸c em n¾m b¾t vµ thÊy được t¸c dông cña viÖc vÏ tranh ®óng ®em l¹i cho bµi vÏ cña m×nh cã mét kÕt qu¶ tèt. Để tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục mĩ thuật ở trường tiểu học người giáo viên có thể thấy vai trò của mình là cầu nối giữa phương pháp, nhà trường với học sinh, tạo thành một hệ thống liền mạch, chặt chẽ, tác động qua lại với nhau. Phải biết xây dựng kế hoạch, tạo điều kiện cho HS học qua nhiều kênh hình, kênh chữ, xây dựng được môi trường học tập thân thiện. Quá trình học chính là sự tích lũy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Dự án này nhằm truyền cảm hứng cho giáo viên dạy Mĩ thuật để hỗ trợ học sinh phát triển khả năng tiếp thu thẩm mĩ và sáng tạo, bằng cách khuyến khích các em trải nghiệm, sáng tạo, bày tỏ, hợp tác và giao tiếp với nhau qua các hoạt động mĩ thuật thực tế. Thông qua hoạt động thực tế, học sinh tự mình làm giàu cách biểu đạt, phân tích, đánh giá, lựa chọn và nhận thức để hình thành, phát triển những năng lực ở cá nhân. Cùng lúc với việc phát triển những năng lực này, học sinh cũng có thể phát triển các giác quan, các kĩ năng sống, kinh nghiệm và khả năng giải quyết vấn đề, các năng lực hợp tác, khả năng tự học và tự đánh giá, phân tích, trình bày. Mục tiêu bài học: Mỗi bài học, tiết học đều có mục tiêu chung là hướng tới hình thành cho học sinh phát huy khả năng tưởng tượng, sáng tạo và năng lực diễn đạt bằng lời nói, học sinh tưởng tượng và sáng tạo được một câu chuyện bằng ngôn ngữ mĩ thuật. Điều kiện tiên quyết: Đó là những yêu cầu thiết yếu để quá tình giảng dạy có hiệu quả, bao gồm: Tạo điều kiện để học sinh học qua nhiều kênh; chú ý khả năng, phong cách học của từng học sinh; kết hợp kiến thức của bản thân học sinh và chiến lược học tập;xây dựng môi trường học tập thân thiện, truyền cảm hứng cho các em. Đánh giá: Đánh giá từng giai đoạn và đánh giá cả quá trình thực hiện.[1] S TT CHỦ ĐỀ SỐ TIẾT MỤC TIÊU GIÁO DỤC QUY TRÌNH THỰC HIỆN TUẦN 1 Mùa hè của em 3 - Kể ra được các hoạt động đặc trưng của các em trong mùa hè. Lựa chọn các hoạt động yêu thích và tạo hình được dáng người phù hợp với hoạt động đó. - Giới thiệu nhận xét và nêu cảm nhận về sản phẩm của nhóm mình, nhóm bạn. Vẽ cùng nhau, tạo hình 3D 1,2,3 2 Những con vật sống dưới nước 2 - Nhận ra và nêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Về Môn Mĩ Thuật Với Loại Bài “vẽ Trang Trí”
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Mĩ Thuật Ở Tiểu Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Sinh Học Lớp 8 Cho Học Sinh Ở Trường Thcs Lâm Xa
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Trong Giờ Dạy Môn Sinh Học Lớp 9
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Sinh Học Ở Việt Nam
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Âm Nhạc Ở Trường Thcs Hòa Hiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Phân Môn Học Hát Tại Trường Thcs
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm Nhạc Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Hát Cho Học Sinh Khối 6
  • Đổi Mới Đào Tạo Nghề, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực
  • Đánh Giá Hiệu Quả Công Tác Đào Tạo Nghề Tại Tỉnh An Giang
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS Năm học: 2010 – 2011

    PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO HUYỆN XUYÊN MỘC

    TRƯỜNG THCS HÒA HIỆP

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY

    MÔN “GIÁO DỤC ÂM NHẠC” Ở TRƯỜNG THCS HÒA HIỆP

    Người viết: Dương Hoàng Trung

    Người thực hiện: Dương Hoàng Trung 1

    Năm học : 2010 – 2011

    Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS Năm học: 2010 – 2011

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    – Hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát

    triển. Dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế. Song song với nó là kéo

    theo sự thay đổi mạnh mẽ của văn hóa, trong đó lĩnh vực âm nhạc nói riêng:

    – Thứ nhất vấn đề âm nhạc, tôi thấy âm nhạc hiện nay rất đa dạng,

    muôn hình, muôn vẻ về: số lượng tác phẩm âm nhạc, ca sĩ, băng đĩa, nhạc sĩ

    trẻ; về phong cách biẻu diễn…tất cả đều mang đậm “ý thích thời thượng của

    giới trẻ hiện đại”. Nó ra đời như một cơn sóng, nó cuốn theo lớp thanh thiếu

    niên và có cả các em thiếu nhi. Trong đó, dẫn đến sự xuất hiện của một số

    “ca sĩ nhí” hát những ca khúc của “giới trẻ thời thượng” không phù hợp với

    lứa tuổi và tâm hồn trẻ thơ.

    – Thứ hai, âm nhạc là một phần thiết yếu không thể thiếu với cuộc sống

    của mỗi người chúng ta. Và làm thế nào để con người Việt Nam có được

    tâm hồn “thật Việt Nam”. Điều đó phải được dung dưỡng khi còn nằm trên

    nôi đến khi trưởng thành. Nhưng thực tế hiện nay đa số các bà mẹ trẻ chỉ

    biết hát nhạc trẻ chứ không biết hát ru, bằng những giai điệu mượt mà,

    truyền cảm với tình yêu quê hương truyền thống của dân tộc từ lâu đời sẽ dễ

    nuôi dạy trẻ thơ hơn.

    – Chính những điều cảnh báo trên đặt cho giáo dục một trọng trách quan

    trọng, mà hiện nay giáo dục được Đảng và Nhà nước coi là mục tiêu hàng

    đầu trong con đường phát triển đất nước, trong đó giáo dục THCS giữ trọng

    trách của cấp học thứ 3: Mẫu giáo, Tiểu học và THCS. Vì thế, môn Giáo dục

    Âm nhạc trong THCS giữ vị trí đặc biệt quan trọng – là môi trường nuôi

    Người thực hiện: Dương Hoàng Trung 2

    Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS Năm học: 2010 – 2011

    dưỡng tâm hồn học sinh ở nấc thang cuối cùng của cuộc đời học sinh khi

    còn ngồi ở ghế nhà trường.

    Chính những lý do trên mà tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao

    chất lượng giảng dạy môn Âm nhạc ở trường THCS Hòa Hiệp”.

    II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    – Căn cứ vào cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giảng dạy bộ môn âm

    nhạc có đầu tư vào chất lượng giàng dạy trong nhà trường phổ thông.

    – Đề ra một số biện pháp về áp dụng tình cảm khi thể hiện bài hát, bài TĐN

    của bộ môn âm nhạc.

    III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

    – Đối tượng học sinh lớp 6, 7, 8

    – Theo dõi và kiểm tra việc tiếp thu bài của học sinh trên lớp.

    – Dự giờ các bạn đồng nghiệp ở một số trường phổ thông khác.

    – Đối chiếu với các tiết học chưa có đầu tư về chuyên môn.

    IV. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    – Giáo dục âm nhạc ở trường THCS là thông qua âm nhạc để giáo dục

    học sinh về đạo đức, thẩm mĩ, tâm hồn học sinh trong sáng, yêu quê hương,

    đất nước, con người, thiên nhiên, phát triển trí tuệ và thể chất; để có được

    “tâm hồn Việt Nam” của con người Việt Nam. Giáo viên là người dạy học

    sinh hát, hiểu nội dung tác phẩm âm nhạc, cảm nhận được giai điệu của tác

    phẩm, vận động phù hợp với nội dung của tác phẩm, học sinh hiểu đúng

    hoặc sai được phản ánh trong tác phẩm và tỏ thái độ đúng hoặc sai phù hợp

    với cuộc sống.

    – Với những yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có kiến thức, kĩ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Gia “bật Mí” Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Qua Kỹ Năng Dạy Nghe Đối Với Học Sinh Trung Học Cơ Sở
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Không Thể Chậm Trễ Hơn !
  • Điểm Tiếng Anh Thấp: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100